So I have heard. At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Āḷavī, at the Aggāḷava Tree-shrine, together with his mentor, Venerable Nigrodhakappa.
Now at that time Vaṅgīsa was junior, recently gone forth. He had been left behind to look after the dwelling.
Then several women dressed in all their finery went to the monastery at Aggāḷava in order to inspect the dwelling. When Vaṅgīsa saw them he became dissatisfied, with lust infecting his mind.
Then he thought, “It’s my loss, my misfortune, that I’ve become dissatisfied, with lust infecting my mind. How is it possible for someone else to dispel my discontent and give rise to satisfaction? Why don’t I do it myself?”
Then, on the occasion of dispelling his own discontent and giving rise to satisfaction, he recited these verses:
"Now that I’ve renounced
the home life for homelessness
I’m overrun
by the rude thoughts of the Dark One.Even if a thousand mighty princes and great archers,
well trained, with strong bows,
were to completely surround me;
I would never flee.And even if women come,
many more than that,
they won’t scare me,
for I stand firm in the teaching.I heard this with my own ears
from the Buddha, kinsman of the Sun,
about the path going to extinguishment;
that’s what delights my mind.Wicked One, if you come near me
as I meditate like this,
I’ll make sure that you, Death,
won’t even see the path I take."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Vangìa trú ở Alavi, tại ngôi đền ở Aggàlava, cùng với Tôn giả Nigrodha Kappa, là vị giáo thọ sư.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa là tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa bao lâu, được ở lại để coi ngôi tịnh xá.
3. Rồi một số đông phụ nữ, sau khi trang điểm, đi đến khu vườn để xem tịnh xá.
4. Tôn giả Vangìsa thấy các phụ nữ ấy, tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá.
5. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?”
6. Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm cho thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Với ta đã xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Tâm tư nay chạy loạn,
Khởi lên từ đen tối.
Con nhà bậc thượng lưu,
Thiện xảo trong cung pháp,
Ngàn người bắn tứ phía,
Vẫn không bỏ chạy loạn.
Nếu phụ nữ có đến,
Dầu nhiều hơn, đông hơn,
Sẽ không não loạn ta,
Vì ta trú Chánh pháp,
Chính ta từng được nghe,
Phật, dòng họ mặt trời,
Thuyết giảng Niết-bàn đạo,
Ở đây ta ưa thích.
Nếu ta trú như vậy,
Ác ma, Ông có đến,
Sở hành ta là vậy,
Ông đâu thấy đường ta,
At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Āḷavī, at the Aggāḷava Tree-shrine, together with his mentor, Venerable Nigrodhakappa.
Now at that time after Venerable Nigrodhakappa had finished his meal, on his return from almsround, he would enter his dwelling and not emerge for the rest of that day, or the next.
And at that time Venerable Vaṅgīsa became dissatisfied, as lust infected his mind.
Then he thought, “It’s my loss, my misfortune, that I’ve become dissatisfied, with lust infecting my mind. How is it possible for someone else to dispel my discontent and give rise to satisfaction? Why don’t I do it myself?”
Then, on the occasion of dispelling his own discontent and giving rise to satisfaction, he recited these verses:
"Giving up discontent and desire,
along with all thoughts of domestic life,
they wouldn’t get entangled in anything;
unentangled, undesiring: that’s a real mendicant.Whether here on earth or in the air,
whatever in the world is included in form
wears out, it is all impermanent;
the thoughtful live having comprehended this truth.People are bound to their attachments,
to what is seen, heard, felt, and thought.
Unstirred, dispel desire for these things;
for one called ‘a sage’ does not cling to them.Attached to the sixty wrong views,
- and full of their own opinions,
ordinary people are fixed in wrong principles.
But that mendicant wouldn’t join a sectarian group,
still less would they utter lewd speech.Clever, long serene,
free of deceit, alert, without envy,
the sage has reached the state of peace;
quenched, he awaits his time."
1. Một thời…,…
2. Tôn giả Vangìsa trú ở Alavi, tại ngôi đền ở Aggàvi cùng với giáo thọ sư Tôn giả Nigrodha Kappa.
3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nigrodha Kappa sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá và không ra khỏi tịnh xá cho đến chiều hay ngày mai.
4. Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá.
5. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng tâm sanh bất mãn nơi ta, và ta bị lòng dục quấy phá. Làm thế nào ngay hiện tại có người khác có thể đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm khởi lên thỏa mãn cho ta? Hay là ta tự mình đoạn trừ bất mãn nơi ta và làm cho thỏa mãn khởi lên cho ta?”
6. Rồi Tôn giả Vangìsa sau khi tự mình đoạn trừ bất mãn và làm thỏa mãn khởi lên, liền ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Ta bỏ lạc, bất lạc,
Mọi tâm tư gia sự,
Không tạo một chỗ nào,
Thành cơ sở tham dục.
Ai thoát khỏi rừng tham,
Thoát ly mọi tham dục,
Ly tham không đắm trước,
Xứng danh chơn Tỷ-kheo.
Phàm địa giới, không giới,
Cả sắc giới trong đời,
Mọi vật đều biến hoại,
Mọi sự đều vô thường.
Ai hiểu biết như vậy,
Sở hành sẽ chân chính.
Chúng sanh thường chấp trước,
Ðối với các sanh y,
Ðối vật họ thấy, nghe
Họ ngửi, nếm, xúc chạm.
Ở đây, ai đoạn dục,
Tâm tư không nhiễm ô,
Không mắc dính chỗ này,
Vị ấy danh Mâu-ni.
Ðối với sáu mươi pháp,
Thuộc vọng tưởng phi pháp,
Phàm phu thường chấp trước,
Chấp thủ và tham đắm.
Tỷ-kheo không phiền não,
Không nói lời ác ngữ,
Sáng suốt, tâm thường định,
Không dối trá, thận trọng,
Thoát ly mọi tham ái.
Vị Mâu-ni chứng đạt,
Cảnh Niết-bàn tịch tịnh,
Chờ đón thời mệnh chung,
Với tâm tư vắng lặng,
Thanh thoát nhập Niết-bàn.
At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Āḷavī, at the Aggāḷava Tree-shrine, together with his mentor, Venerable Nigrodhakappa.
Now at that time Venerable Vaṅgīsa looked down upon other good-hearted mendicants because of his own poetic virtuosity.
Then he thought, “It’s my loss, my misfortune, that I look down on other good-hearted mendicants because of my own poetic virtuosity.”
Then, on the occasion of arousing remorse in himself, he recited these verses:
"Give up conceit, Gotama!
Completely abandon the different kinds of conceit!
Besotted with the different kinds of conceit,
you’ve had regrets for a long time.Smeared by smears and slain by conceit,
people fall into hell.
When people slain by conceit are reborn in hell,
they grieve for a long time.But a mendicant who practices rightly,
winner of the path, never grieves.
They enjoy happiness and a good reputation,
and they rightly call him a ‘Seer of Truth’.So don’t be hard-hearted, be energetic,
with hindrances given up, be pure.
Then with conceit given up completely,
use knowledge to make an end, and be calmed."
1. Một thời Tôn giả Vangìsa trú ở Alavi, tại đền Aggàlavi, cùng với giáo thọ sư là Tôn giả Nigrodha Kappa.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa thường hay khinh miệt các vị Tỷ- kheo ôn hòa khác vì khả năng biệt tài của mình.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng ta khinh miệt các vị Tỷ-kheo ôn hòa khác vì khả năng biện tài của ta”.
4. Rồi Tôn giả Vangìsa, tự hối trách mình, liền ngay khi ấy, nói lên những bài kệ này:
Ðệ tử Gotama,
Hãy từ bỏ kiêu mạn,
Và cũng tự bỏ luôn,
Con đường đến kiêu mạn.
Nếu hoàn toàn đắm say,
Trong con đường kiêu mạn,
Sẽ tự mình hối trách,
Trong thời gian lâu dài.
Những ai khinh khi người,
Với khinh khi kiêu mạn,
Ði con đường kiêu mạn,
Sẽ đọa lạc địa ngục.
Những người ấy sầu khổ,
Trong thời gian lâu dài,
Do kiêu mạn dắt dẫn,
Phải sanh vào địa ngục.
Tỷ-kheo không bao giờ
Phải sầu muộn buồn thảm,
Thắng lợi trên chánh đạo,
Sở hành được chân chánh,
Vị ấy được thọ hưởng,
Danh dự và an lạc,
Chơn thực được danh xưng,
Là bậc hưởng Pháp lạc.
Do vậy ở đời này,
Không thô lậu, tinh tấn
Ðoạn trừ mọi triền cái,
Sống thanh tịnh trong sạch,
Và đoạn tận kiêu mạn,
Hoàn toàn, không dư thừa,
Chấm dứt (mọi phiền não),
Với trí tuệ quang minh,
Ngài được xem là bậc
Sống tịch tịnh an lạc.
At one time Venerable Ānanda was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms with Venerable Vaṅgīsa as his second monk.
And at that time Venerable Vaṅgīsa became dissatisfied, as lust infected his mind. Then he addressed Ānanda in verse:
“I’ve got a burning desire for pleasure;
My mind is on fire!
Please, out of compassion, Gotama,
tell me how to quench the flames.”"Your mind is on fire
because of a perversion of perception.
Turn away from the feature of things
that’s attractive, provoking lust.See all conditioned phenomena as other,
as suffering and not-self.
Extinguish the great fire of lust,
don’t burn up again and again.With mind unified and serene,
meditate on the ugly aspects of the body.
With mindfulness immersed in the body,
be full of disillusionment.Meditate on the signless,
give up the underlying tendency to conceit;
and when you comprehend conceit,
you will live at peace."
1. Một thời Tôn giả Ananda trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anàthapinkika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực với Tôn giả Vangìsa là Sa-môn thị giả.
3. Lúc bây giờ Tôn giả Vangìsa tâm sanh bất mãn, bị lòng dục quấy phá.
4. Rồi Tôn giả Vangìsa nói lên bài kệ với Tôn giả Ananda:
Dục ái đốt cháy tôi,
Tâm tôi bị thiêu cháy.
Thật là điều tốt lành,
Ðệ tử Gotama,
Vì lòng từ thương tưởng,
Nói pháp tiêu lửa hừng.
5. (Ananda):
Chính vì điên đảo tưởng,
Tâm Ông bị thiêu đốt,
Hãy từ bỏ tịnh tướng,
Hệ lụy đến tham dục,
Nhìn các hành vô thường,
Khổ đau, không phải ngã,
Dập tắt đại tham dục,
Chớ để bị cháy dài;
Hãy tu tâm bất tịnh,
Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Tu tập thân niệm trú,
Hành nhiều hạnh yểm ly;
Hãy tập hạnh vô tướng,
Ðoạn diệt mạn tùy miên,
Nhờ quán sâu kiêu mạn,
Hạnh Ông được an tịnh.
At Sāvatthī.
There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, speech that has four factors is well spoken, not poorly spoken. It’s blameless and is not criticized by sensible people. What four? It’s when a mendicant speaks well, not poorly; they speak on the teaching, not against the teaching; they speak pleasantly, not unpleasantly; and they speak truthfully, not falsely. Speech with these four factors is well spoken, not poorly spoken. It’s blameless and is not criticized by sensible people.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Good people say well-spoken words are foremost;
second, speak on the teaching, not against it;
third, speak pleasantly, not unpleasantly;
and fourth, speak truthfully, not falsely.”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
"Speak only such words
as do not hurt yourself
nor harm others;
such speech is truly well spoken.Speak only pleasing words,
words gladly welcomed.
Pleasing words are those
that bring nothing bad to others.Truth itself is the undying word:
this is an ancient teaching.
Good people say that the teaching and its meaning
are grounded in the truth.The words spoken by the Buddha
for finding the sanctuary, extinguishment,
for making an end of suffering:
this really is the best kind of speech."
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
− Này các Tỷ-kheo.
3. − Thưa vâng, Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
4. Thế Tôn nói như sau:
− Ðầy đủ bốn đức tánh, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết, nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp, nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ, nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn. Ðầy đủ bốn đức tính này, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
6. Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Ðạo Sư lại nói thêm:
Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
Thứ nhất là thiện thuyết,
Thứ hai nói đúng pháp,
Chớ nói lời phi pháp,
Thứ ba nói ái ngữ,
Chớ nói lời ác ngữ,
Thứ tư, nói chơn thực,
Chớ nói lời phi chơn.
7. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
8. Thế Tôn nói:
− Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng!
9. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỷ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Từ thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time Venerable Sāriputta was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk. His words were polished, clear, articulate, and expressed the meaning. And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.
Then Venerable Vaṅgīsa thought, “This Venerable Sāriputta is educating the mendicants. … And those mendicants are paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening. Why don’t I extoll him in his presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward Sāriputta, and said, “I feel inspired to speak, Reverend Sāriputta! I feel inspired to speak, Reverend Sāriputta!”
“Then speak as you feel inspired,” said Sāriputta.
Then Vaṅgīsa extolled Sāriputta in his presence with fitting verses:
"Deep in wisdom, intelligent,
expert in what is the path
- and what is not the path;
Sāriputta, so greatly wise,
teaches Dhamma to the mendicants.He teaches in brief,
or he speaks at length.
His call, like a myna bird,
overflows with inspiration.While he teaches
the mendicants listen to his sweet voice,
sounding attractive,
clear and graceful.
They listen joyfully,
their hearts elated."
1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỷ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Tôn giả Sàriputta với bài pháp thoại đang tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch. Và các vị Tỷ-kheo ấy chú ý, chú tâm, tập trung tâm lực, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Tôn giả Sàriputta, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích đáng”.
4. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Sàriputta:
− Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi. Hiền giả Sàriputta, một vấn đề đến với tôi.
5. − Mong rằng Hiền giả Vangìsa nói lên vấn đề ấy!
6. Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Tôn giả Sàriputta, nói lên những lời kệ tán thán thích đáng:
Trí tuệ thâm, trí giải,
Thiện xảo đạo, phi đạo,
Ngài Sàriputta,
Là bậc Ðại trí tuệ.
Chính Ngài đang thuyết pháp,
Cho các vị Tỷ-kheo.
Ngài giảng cách tóm tắt,
Ngài cũng thuyết rộng rãi.
Như âm thanh vi diệu,
Của loại chim Sàli,
Lời Ngài giảng tuôn trào,
Tiếng Ngài nghe ngọt lịm.
Với giọng điệu ái luyến,
Êm tai, và mỹ diệu,
Chúng lắng tai nghe pháp,
Tâm phấn khởi hoan hỷ,
Này các vị Tỷ-kheo.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, together with a large Saṅgha of around five hundred monks, all of whom were perfected ones. Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks for the invitation to admonish.
Then the Buddha looked around the Saṅgha of monks, who were silent. He addressed them: “Come now, monks, I invite you all: Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
When he had spoken, Venerable Sāriputta got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said: “There is nothing, sir, that you’ve done by way of body or speech that we would criticize. For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later. And sir, I invite the Blessed One. Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
“There is nothing, Sāriputta, that you’ve done by way of body or speech that I would criticize. Sāriputta, you are astute. You have great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, penetrating wisdom. A wheel-turning monarch’s oldest son rightly keeps wielding the power set in motion by his father. In the same way, Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by me.”
“Since it seems I have done nothing worthy of the Blessed One’s criticism, is there anything these five hundred monks have done by way of body or speech that you would criticize?”
“There is nothing, Sāriputta, that these five hundred monks have done by way of body or speech that I would criticize. For of these five hundred monks, sixty have the three knowledges, sixty have the six direct knowledges, sixty are freed both ways, and the rest are freed by wisdom.”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
"Today, on the fifteenth day sabbath,
five hundred monks have gathered together
- to purify their precepts.
These untroubled sages
- have cut off their fetters and bonds,
they will not be reborn again.Just as a wheel-turning monarch
surrounded by ministers
travels all around this
land that’s girt by sea.So disciples with the three knowledges,
conquerors of death,
revere the winner of the battle,
the unsurpassed caravan leader.All are sons of the Blessed One—
there is no rubbish here.
I bow to the kinsman of the Sun,
destroyer of the dart of craving."
1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Pubbàràma (Ðông Viên), Migara - màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
3. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo các Tỷ-kheo:
4. − Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
5. Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?
6. − Này Sàriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận.
7. − Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
8. − Này Sàriputta, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sàriputta, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ- kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.
9. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
10. − Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
11. Thế Tôn nói:
− Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
12. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỷ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery, together with a large Saṅgha of 1,250 mendicants.
Now at that time the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about extinguishment. And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.
Then Venerable Vaṅgīsa thought, “The Buddha is educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about extinguishment. And those mendicants are paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening. Why don’t I extoll him in his presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
"Over a thousand mendicants
revere the Holy One
as he teaches the immaculate Dhamma,
extinguishment, fearing nothing from any quarter.They listen to the immaculate Dhamma
taught by the fully awakened Buddha;
the Buddha is so brilliant,
at the fore of the mendicant Saṅgha,Blessed One, your name is ‘Giant’,
seventh of the sages.
You are like a great cloud
that rains on your disciples.I’ve left my day’s meditation,
out of desire to see the teacher.
Great hero, your disciple Vaṅgīsa
bows at your feet."
“Vaṅgīsa, had you previously composed these verses, or did they spring to mind in the moment?”
“They sprang to mind in the moment, sir.”
“Well then, Vaṅgīsa, speak some more spontaneously inspired verses.”
“Yes, sir,” replied Vaṅgīsa. Then he extolled the Buddha with some more spontaneously inspired verses, not previously composed:
"Having overcome Māra’s devious path,
you wander with hard-heartedness dissolved.
See him, the liberator from bonds, unattached,
analyzing the teaching.You have explained in many ways
the path to cross the flood.
The Seers of Truth stand unfaltering
in the freedom from death you’ve explained.As the bringer of light who has pierced the truth,
you’ve seen what lies beyond all realms.
When you saw and realized this for yourself,
you taught it first to the group of five.When the Dhamma has been so well taught,
how could those who know it be negligent?
That’s why, being diligent, we should always train
respectfully in the Buddha’s teaching."
1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) cùng đại chúng Tỷ-kheo 1.250 vị.
2. Lúc bấy giờ Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Nay Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, đang thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng.”
4. Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
5. Thế Tôn đáp:
− Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
6. Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Hơn một ngàn Tỷ-kheo,
Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
Ngài thuyết pháp vô cấu,
Niết-bàn, không sợ hãi.
Họ nghe pháp vô cấu,
Bậc Chánh Giác thuyết giảng.
Thượng thủ chúng Tỷ-kheo,
Bậch Chánh Giác chói sáng.
Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
Ngài thật bậc Long Tượng,
Bậc Ẩn Sĩ thứ bảy,
Trong các vị Ẩn Sĩ.
Ngài trở thành mây lớn,
Mưa móc ban đệ tử.
Con từ nghỉ trưa đến,
Muốn yết kiến Ðạo Sư.
Ôi bậc Ðại Anh hùng!
Con là đệ tử Ngài,
Con tên Vangìsa,
Ðảnh lễ dưới chân Ngài.
7. − Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?
8. − Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con không phải suy nghĩ từ trước, chính được khởi lên tại chỗ.
9. − Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.
10. − Thưa vâng bạch Thế Tôn.
Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn và nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn; những bài kệ chưa được suy nghĩ từ trước:
Thắng ác ma, tà đạo,
Ngài sống chướng ngại đoạn.
Hãy thấy bậc Giải Thoát,
Thoát ly mọi hệ phược,
Phân tích thành từng phần,
Hắc, bạch pháp phân minh.
Ngài nói lên con đường,
Nhiều pháp môn khác biệt,
Mục đích giúp mọi người,
Vượt qua dòng bộc lưu,
Chính trên pháp bất tử,
Ðược Ngài (thường) tuyên thuyết.
Chúng con bậc pháp kiến,
Vững trú không thối chuyển,
Bậc tạo dựng quang minh,
Ngài thâm nhập (các pháp),
Thấy được chỗ vượt qua,
Tất cả mọi kiến xứ.
Sau khi biết và chứng,
Ngài thuyết tối thượng xứ,
Pháp như vậy khéo giảng.
Ai có thể phóng dật,
Khi được biết pháp ấy,
Pháp khéo giảng như vậy?
Do vậy trong giáo pháp,
Ðức Thế Tôn, Thiện Thệ.
Luôn luôn không phóng dật,
Hãy đảnh lễ, tu học.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then Venerable Koṇḍañña Who Understood approached the Buddha after a very long absence. He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: “I am Koṇḍañña, Blessed One! I am Koṇḍañña, Holy One!”
Then Venerable Vaṅgīsa thought, “This Venerable Koṇḍañña Who Understood has approached the Buddha after a very long absence. He bowed with his head at the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: ‘I am Koṇḍañña, Blessed One! I am Koṇḍañña, Holy One!’ Why don’t I extoll him in the Buddha’s presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled Koṇḍañña in the Buddha’s presence with fitting verses:
"The senior monk who was awakened
- right after the Buddha,
Koṇḍañña, is keenly energetic.
He regularly gains blissful meditative states,
and the three kinds of seclusion.Whatever can be attained by a disciple
who does the Teacher’s bidding,
he has attained it all,
through diligently training himself.With great power and the three knowledges,
expert in comprehending the minds of others,
Koṇḍañña, the heir to the Buddha,
bows at the Teacher’s feet."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvanna (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Tôn giả Annàsi Kondanna, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:
− Bạch Thế Tôn, con là Kondanna. Bạch Thiện Thệ, con là Kondanna.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Tôn giả Annàsi Kondanna này, sau một thời gian khá dài, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa bóp chân Thế Tôn và nói lên tên của mình: ‘Bạch Thế Tôn, con là Kondanna. Bạch Thiện Thệ, con là Kondanna’. Vậy ta hãy ở trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Annàsi Kondanna”.
4. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y về một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
5. Thế Tôn đáp:
− Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
6. Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Kondanna:
Sau đức Phật hiện tại,
Trưởng lão được chánh giác,
Chính là Kondanna,
Nhiệt tâm và tinh cần,
Chứng được an lạc trú,
Sống viễn ly liên tục,
Thực hành lời Sư dạy.
Ðệ tử chứng được gì,
Tất cả Ngài chứng được,
Nhờ tu học tinh tấn,
Ðại uy lực Ba minh,
Thiện xảo tâm tư người.
Phật tử Kondanna,
Ðảnh lễ chân Ðạo Sư.
At one time the Buddha was staying on the slopes of Isigili at the Black Rock, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants, all of whom were perfected ones. Thereupon, with his mind, Venerable Mahāmoggallāna checked to see whose mind was liberated and free of attachments.
Then Venerable Vaṅgīsa thought, “The Buddha is staying on the slopes of Isigili … with five hundred perfected ones. Mahāmoggallāna is checking to see whose mind is liberated and free of attachments. Why don’t I extoll him in the Buddha’s presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled Mahāmoggallāna in his presence with fitting verses:
"As the sage, who has gone beyond suffering,
sits upon the mountain slope,
he is revered by disciples with the three knowledges,
conquerors of death.Moggallāna, of great psychic power,
comprehends with his mind,
scrutinizing their minds,
liberated, free of attachments.So they revere Gotama,
the sage gone beyond suffering,
who is endowed with all path factors,
and with a multitude of attributes."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên sườn núi Isigili, tại núi Hắc Sơn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo Tăng khoảng năm trăm vị, tất cả là bậc A-la-hán. Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của mình biết được tâm các vị ấy đã được giải thoát, không có sanh y.
2. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thế Tôn nay trú ở Ràjagaha, trên sườn núi Isigili, tại Hắc Sơn cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả là bậc A-la-hán. Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của mình được biết tâm các vị ấy đã được giải thoát, không có sanh y. Vậy ta hãy trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Mahà Moggallàna”.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
4. Thế Tôn đáp:
− Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
5. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ thích ứng tán thán Tôn giả Mahà Moggallàana:
Cao trên sườn đồi núi,
Những vị chứng Ba minh,
Những vị đoạn tử thần,
Các đệ tử hầu hạ,
Bậc Thánh giả, Mâu-ni,
Ðã vượt qua đau khổ.
Ðại thần lực Mục-liên,
Quán tâm các vị ấy,
Biết họ được giải thoát,
Không còn có sanh y.
Như vậy họ hầu hạ,
Mâu-ni Gotama,
Ngài vượt qua đau khổ,
Mọi sở hành đầy đủ,
Mọi đức tánh vẹn toàn.
At one time the Buddha was staying near Campā on the banks of the Gaggarā Lotus Pond, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants, seven hundred male and seven hundred female lay followers, and many thousands of deities. But the Buddha outshone them all in beauty and glory.
Then Venerable Vaṅgīsa thought, “The Buddha is staying near Campā on the banks of the Gaggarā Lotus Pond, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants, seven hundred male and seven hundred female lay followers, and many thousands of deities. And he outshines them all in beauty and glory. Why don’t I extoll him in his presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
“Like the moon on a cloudless night,
like the shining immaculate sun,
so too Aṅgīrasa, O great sage,
your glory outshines the entire world.”
1. Một thời Thế Tôn ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, với bảy trăm nam cư sĩ, với bảy trăm nữ cư sĩ và vài ngàn chư Thiên. Giữa đại chúng ấy, Thế Tôn chói sáng vượt bậc về quang sắc và danh xưng.
2. Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Nay Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, với bảy trăm nam cư sĩ, với bảy trăm nữ cư sĩ và vài ngàn chư Thiên. Giữa đại chúng ấy, Thế Tôn chói sáng vượt bậc về quang sắc và danh xưng. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng”.
3. Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch:
− Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
4. Thế Tôn đáp:
− Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
5. Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ thích ứng tán thán:
Như mặt trăng giữa trời,
Mây mù được quét sạch,
Chói sáng như mặt trời,
Thanh tịnh, không cấu uế.
Cũng vậy Ngài thật là
Ðại Mâu-ni Hiền Thánh,
Danh xưng Ngài sáng chói,
Vượt qua mọi thế giới.
At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time Vaṅgīsa had recently attained perfection. While experiencing the bliss of freedom, on that occasion he recited these verses:
"We used to wander, drunk on poetry,
village to village, town to town.
Then we saw the Buddha,
and faith arose in us.He taught me Dhamma:
the aggregates, sense fields, and elements.
When I heard his teaching
I went forth to homelessness.It was truly for the benefit of many
that the sage achieved awakening—
for the monks and for the nuns
who see that they’ve reached certainty.It was so welcome for me
to be in the presence of the Buddha.
I’ve attained the three knowledges,
and fulfilled the Buddha’s instructions.I know my past lives,
my clairvoyance is purified,
I am master of three knowledges,
- attained in psychic power,
expert in comprehending the minds of others."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Lúc bấy giờ Tôn giả Vangìsa, chứng quả A-la-hán không bao lâu, thọ hưởng giải thoát lạc, ngay trong lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Thuở trước ta mê thơ,
Bộ hành khắp mọi nơi,
Từ làng này, thành này,
Qua làng khác, thành khác,
Ta thấy bậc Chánh Giác,
Tín thành ta sanh khởi.
Ngài thuyết pháp cho ta,
Về uẩn, xứ và giới,
Sau khi nghe Chánh pháp,
Ta bỏ nhà xuất gia.
Vì hạnh phúc số đông,
Vì thấy đạo hành đạo,
Cho Tỷ-kheo Tăng-Ni,
Bậc Mâu-ni giác ngộ,
Ngài đã chấp nhận con,
Ðược thành đạo với Ngài,
Con chứng đạt Ba minh,
Hành trì theo Phật dạy.
Con biết được đời trước,
Chứng thiên nhãn thanh tịnh,
Ba minh, thần thông lực,
Chứng đạt tha tâm thông.
-ooOoo-