So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you dependent origination. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what is dependent origination? Ignorance is a condition for choices. Choices are a condition for consciousness. Consciousness is a condition for name and form. Name and form are conditions for the six sense fields. The six sense fields are conditions for contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates. This is called dependent origination.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases."
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói:
− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi.
4. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là đoạn diệt.
5. Thế Tôn nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach and analyze for you dependent origination. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what is dependent origination? Ignorance is a condition for choices. Choices are a condition for consciousness. Consciousness is a condition for name and form. Name and form are conditions for the six sense fields. The six sense fields are conditions for contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death.
And what is rebirth? The rebirth, inception, conception, reincarnation, manifestation of the aggregates, and acquisition of the sense fields of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called rebirth.
And what is continued existence? There are these three states of existence. Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm. This is called continued existence.
And what is grasping? There are these four kinds of grasping. Grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self. This is called grasping.
And what is craving? There are these six classes of craving. Craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called craving.
And what is feeling? There are these six classes of feeling. Feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called feeling.
And what is contact? There are these six classes of contact. Contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called contact.
And what are the six sense fields? The sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. These are called the six sense fields.
And what are name and form? Feeling, perception, intention, contact, and application of mind. This is called name. The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Such is name and such is form. These are called name and form.
And what is consciousness? There are these six classes of consciousness. Eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness.
And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices.
And what is ignorance? Not knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called ignorance.
And so, ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ).
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.
7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là thủ.
8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái thân này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái.
9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc thân này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.
11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.
12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.
13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.
14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
15. Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.
16. Như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you the wrong practice and the right practice. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what’s the wrong practice? Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. This is called the wrong practice.
And what’s the right practice? When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. This is called the right practice."
1.. … Trú ở Sàvatthi… (như trên).
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về tà đạo và chánh đạo. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà đạo? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà đạo.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh đạo? Do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh đạo.
At Sāvatthī.
"Mendicants, Vipassī the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha had this thought before his awakening, when he was still unawakened but intent on awakening: ‘Alas, this world has fallen into trouble. It’s born, grows old, dies, passes away, and is reborn, yet it doesn’t understand how to escape from this suffering, from old age and death. Oh, when will an escape be found from this suffering, from old age and death?’
Then Vipassī, the one intent on awakening, thought: ‘When what exists is there old age and death? What is a condition for old age and death?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When rebirth exists there’s old age and death. Rebirth is a condition for old age and death.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there rebirth? What is a condition for rebirth?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When continued existence exists there’s rebirth. Continued existence is a condition for rebirth.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there continued existence? What is a condition for continued existence?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When grasping exists there’s continued existence. Grasping is a condition for continued existence.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there grasping? What is a condition for grasping?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When craving exists there’s grasping. Craving is a condition for grasping.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there craving? What is a condition for craving?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When feeling exists there’s craving. Feeling is a condition for craving.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there feeling? What is a condition for feeling?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When contact exists there’s feeling. Contact is a condition for feeling.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there contact? What is a condition for contact?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When the six sense fields exist there’s contact. The six sense fields are a condition for contact.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists are there the six sense fields? What is a condition for the six sense fields?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When name and form exist there are the six sense fields. Name and form are a condition for the six sense fields.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists are there name and form? What is a condition for name and form?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When consciousness exists there are name and form. Consciousness is a condition for name and form.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists is there consciousness? What is a condition for consciousness?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When choices exist there’s consciousness. Choices are a condition for consciousness.’
Then Vipassī thought: ‘When what exists are there choices? What is a condition for choices?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When ignorance exists there are choices. Ignorance is a condition for choices.’
And so, ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. ‘Origination, origination.’ While Vipassī was intent on awakening, such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in him regarding teachings not learned before from another.
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no old age and death? When what ceases do old age and death cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When rebirth doesn’t exist there’s no old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no rebirth? When what ceases does rebirth cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When continued existence doesn’t exist there’s no rebirth. When continued existence ceases, rebirth ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no continued existence? When what ceases does continued existence cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When grasping doesn’t exist there’s no continued existence. When grasping ceases, continued existence ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no grasping? When what ceases does grasping cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When craving doesn’t exist there’s no grasping. When craving ceases, grasping ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no craving? When what ceases does craving cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When feeling doesn’t exist there’s no craving. When feeling ceases, craving ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no feeling? When what ceases does feeling cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When contact doesn’t exist there’s no feeling. When contact ceases, feeling ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no contact? When what ceases does contact cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When the six sense fields don’t exist there’s no contact. When the six sense fields cease, contact ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist are there no six sense fields? When what ceases do the six sense fields cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When name and form don’t exist there are no six sense fields. When name and form cease, the six sense fields cease.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist are there no name and form? When what ceases do name and form cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When consciousness doesn’t exist there are no name and form. When consciousness ceases, name and form cease.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist is there no consciousness? When what ceases does consciousness cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When choices don’t exist there’s no consciousness. When choices cease, consciousness ceases.’
Then Vipassī thought: ‘When what doesn’t exist are there no choices? When what ceases do choices cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī comprehended with wisdom: ‘When ignorance doesn’t exist there are no choices. When ignorance ceases, choices cease.’
And so, when ignorance ceases, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. ‘Cessation, cessation.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in Vipassī, the one intent on awakening, regarding teachings not learned before from another."
(Tell in full for each of the seven Buddhas.)
1. Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trước khi Ngài giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, đã khởi lên tư tưởng sau đây: “Thật sự thế giới này đang lâm nguy, bị sanh, bị già, bị chết, đoạn diệt và tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly, thoát khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào biết đến xuất ly, thoát khỏi già và chết”.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết (sanh khởi)?”. Sau khi như lý tư duy, này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt, già chết có mặt. Do duyên sanh, già chết (sanh khởi)”.
4. Rồi Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, sanh có mặt? Do duyên gì, sanh sanh khởi?”. Sau khi như lý tư duy, này các Tỷ- kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do hữu có mặt nên sanh có mặt. Do duyên hữu, sanh (sanh khởi)”.
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu có mặt? Do duyên gì, hữu (sanh khởi)?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thủ có mặt, nên hữu có mặt. Do duyên thủ, hữu sanh khởi”.
6. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thủ có mặt? Do duyên gì, thủ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do ái có mặt nên thủ có mặt. Do duyên ái, thủ sanh khởi”.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, ái có mặt? Do duyên gì, ái sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thọ có mặt nên ái có mặt. Do duyên thọ, nên ái sanh khởi”.
8. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thọ có mặt? Do duyên gì, thọ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ phát sinh minh kiến như sau: “Do xúc có mặt nên thọ có mặt. Do duyên xúc, thọ sanh khởi”.
9. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, xúc có mặt? Do duyên gì, xúc sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sáu xứ có mặt nên xúc có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi”.
10. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, sáu xứ có mặt? Do duyên gì, sáu xứ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc có mặt nên sáu xứ có mặt. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi”.
11. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, danh sắc có mặt? Do duyên gì, danh sắc sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc có mặt. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi”.
12. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức có mặt? Do duyên gì, thức sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do hành có mặt nên thức có mặt. Do duyên hành, thức sanh khởi”.
13. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hành có mặt? Do duyên gì, hành sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”.
14. Như vậy, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
15. “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, với Bồ-tát Vipassì, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
16. Và này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên già, chết không có mặt? Do cái gì diệt, già, chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già chết không có mặt. Do sanh diệt nên già chết diệt”.
17. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên sanh không có mặt? Do cái gì diệt nên sanh diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do hữu không có mặt nên sanh không có mặt. Do hữu diệt nên sanh diệt”.
18. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên hữu không có mặt? Do cái gì diệt nên hữu diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thủ không có mặt nên hữu không có mặt. Do thủ diệt nên hữu diệt”.
19. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên thủ không có mặt? Do cái gì diệt nên thủ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do ái không có mặt nên thủ không có mặt. Do ái diệt nên thủ diệt”.
20. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên ái không có mặt? Do cái gì diệt nên ái diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thọ không có mặt nên ái không có mặt. Do thọ diệt nên ái diệt”.
21. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên thọ không có mặt? Do cái gì diệt nên thọ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do xúc không có mặt nên thọ không có mặt. Do xúc diệt nên thọ diệt”.
22. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên xúc không có mặt? Do cái gì diệt nên xúc diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do sáu xứ không có mặt nên xúc không có mặt. Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt”.
23. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên sáu xứ không có mặt? Do cái gì diệt nên sáu xứ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt nên sáu xứ không có mặt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt”.
24. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên danh sắc không có mặt? Do cái gì diệt nên danh sắc diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt nên danh sắc không có mặt. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.
25. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên thức không có mặt? Do cái gì diệt nên thức diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do hành không có mặt nên thức không có mặt. Do hành diệt nên thức diệt”.
26. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên hành không có mặt? Do cái gì diệt nên hành diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do vô minh diệt nên hành diệt”.
27. Như vậy, do vô minh diệt nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
28. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, trong các pháp từ trước chưa từng được nghe, đối với Bồ tát Vipassì, nhãn khởi nên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
“Sikhī, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha …”
− Này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…
“Vessabhū, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha …”
− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Vessabhu, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…
“Kakusandha, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha …”
− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…
“Koṇāgamana, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha …”
− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…
“Kassapa, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha …”
− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…
"Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘Alas, this world has fallen into trouble. It’s born, grows old, dies, passes away, and is reborn, yet it doesn’t understand how to escape from this suffering, from old age and death. Oh, when will an escape be found from this suffering, from old age and death?’
Then it occurred to me: ‘When what exists is there old age and death? What is a condition for old age and death?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When rebirth exists there’s old age and death. Rebirth is a condition for old age and death.’
Then it occurred to me: 'When what exists is there rebirth? … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … ‘When what exists are there choices? What is a condition for choices?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When ignorance exists there are choices. Ignorance is a condition for choices.’
And so, ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. ‘Origination, origination.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.
Then it occurred to me: ‘When what doesn’t exist is there no old age and death? When what ceases do old age and death cease?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When rebirth doesn’t exist there’s no old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease.’
Then it occurred to me: 'When what doesn’t exist is there no rebirth? … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … ‘When what doesn’t exist are there no choices? When what ceases do choices cease?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When ignorance doesn’t exist there are no choices. When ignorance ceases, choices cease.’
And so, when ignorance ceases, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. ‘Cessation, cessation.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another."
1. Tại Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết”.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi”.
4-13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt…hữu… thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc…thức… hành… do duyên gì hành sanh khởi?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
14. Như vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức…(như trên)…hữu duyên sanh, sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
15. “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
16. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Do cái gì diệt, nên già chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già chết không có mặt. Do sanh diệt nên già chết diệt”.
17. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, sanh không có mặt. …hữu. …thủ. …ái. …thọ. …xúc. …sáu xứ…danh sắc. …thức. …hành… Do cái gì diệt, hành diệt?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do duyên vô minh diệt nên hành diệt”.
27. Như vậy, vô minh diệt hành diệt; hành diệt, thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
28. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. …
"Mendicants, there are these four fuels. They maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born. What four? Solid food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. These are the four fuels that maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born.
What is the source, origin, birthplace, and inception of these four fuels? Craving. And what is the source, origin, birthplace, and inception of craving? Feeling. And what is the source of feeling? Contact. And what is the source of contact? The six sense fields. And what is the source of the six sense fields? Name and form. And what is the source of name and form? Consciousness. And what is the source of consciousness? Choices. And what is the source of choices? Ignorance.
And so, ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Thắng Lâm) trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc )
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực. Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
3. Và này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.
4. Ái này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Ái do thọ làm nhân, do thọ tập khởi, do thọ tác sanh, do thọ làm cho hiện hữu.
5. Thọ này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Thọ do xúc làm nhân, do xúc tập khởi, do xúc tác sanh, do xúc làm cho hiện hữu.
6. Xúc này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Xúc do sáu xứ làm nhân, do sáu xứ tập khởi, do sáu xứ tác sanh, do sáu xứ làm cho hiện hữu.
7. Sáu xứ này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Sáu xứ do danh sắc làm nhân, do danh sắc tập khởi, do danh sắc tác sanh, do danh sắc làm cho hiện hữu.
8. Danh sắc này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Danh sắc do thức làm nhân, do thức tập khởi, do thức tác sanh, do thức làm cho hiện hữu.
9. Thức này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Thức do hành làm nhân, do hành tập khởi, do hành tác sanh, do hành làm cho hiện hữu.
10. Những hành này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu?Các hành này do vô minh làm nhân, do vô minh tập khởi, do vô minh tác sanh, do vô minh làm cho hiện hữu.
11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức…(như trên )…như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
12. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt…(như trên)…như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these four fuels. They maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born. What four? Solid food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. These are the four fuels that maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born.”
When he said this, Venerable Phagguna of the Top-Knot said to the Buddha, “But sir, who consumes the fuel for consciousness?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha.
“I don’t speak of one who consumes. If I were to speak of one who consumes, then it would be fitting to ask who consumes. But I don’t speak like that. Hence it would be fitting to ask: ‘Consciousness is a fuel for what?’ And a fitting answer to this would be: ‘Consciousness is a fuel that conditions rebirth into a new state of existence in the future. When that which has been reborn is present, there are the six sense fields. The six sense fields are a condition for contact.’”
“But sir, who contacts?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha.
“I don’t speak of one who contacts. If I were to speak of one who contacts, then it would be fitting to ask who contacts. But I don’t speak like that. Hence it would be fitting to ask: ‘What is a condition for contact?’ And a fitting answer to this would be: ‘The six sense fields are a condition for contact. Contact is a condition for feeling.’”
“But sir, who feels?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha.
“I don’t speak of one who feels. If I were to speak of one who feels, then it would be fitting to ask who feels. But I don’t speak like that. Hence it would be fitting to ask: ‘What is a condition for feeling?’ And a fitting answer to this would be: ‘Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving.’”
“But sir, who craves?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha.
“I don’t speak of one who craves. If I were to speak of one who craves, then it would be fitting to ask who craves. But I don’t speak like that. Hence it would be fitting to ask: ‘What is a condition for craving?’ And a fitting answer to this would be: ‘Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping.’”
“But sir, who grasps?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha.
"I don’t speak of one who grasps. If I were to speak of one who grasps, then it would be fitting to ask who grasps. But I don’t speak like that. Hence it would be fitting to ask: ‘What is a condition for grasping?’ And a fitting answer to this would be: ‘Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence.’ … That is how this entire mass of suffering originates.
When the six fields of contact fade away and cease with nothing left over, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases."
1.…Trú Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực. Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
3. Khi được nói vậy, Tôn giả Moliya-Phagguna bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, ai ăn thức thực?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có ai ăn”. Nếu Ta nói: “Có kẻ ăn”, thời câu hỏi: “Có ai ăn” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, thức thực là cho ai?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Thức thực là duyên cho sự sanh thành, cho sự tái sanh trong tương lai. Khi cái ấy hiện hữu, có mặt thời sáu xứ có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc có mặt”.
4. − Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ cảm xúc”. Nếu Ta nói: “Có kẻ cảm xúc”, thời câu hỏi: “Ai cảm xúc” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, xúc sanh khởi?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi”.
5. − Bạch Thế Tôn, ai cảm thọ?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có người cảm thọ”. Nếu ta có nói: “Có người cảm thọ”, thời câu hỏi: “Ai cảm thọ?” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, thọ sanh khởi?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên thọ, ái sanh khởi”.
6. − Bạch Thế Tôn, ai khát ái?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ khát ái”. Nếu Ta nói: “Có kẻ khát ái”, thời câu hỏi: “Ai khát ái” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, ái sanh khởi”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên ái, thủ sanh khởi”.
7. −Bạch Thế Tôn, ai chấp thủ?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ chấp thủ”. Nếu Ta nói: “Có kẻ chấp thủ”, thời câu hỏi: “Ai chấp thủ” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, thủ sanh khởi”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên ái, thủ sanh khởi. Do duyên thủ, hữu sanh khởi”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
8. Nhưng này Phagguna, do ly tham, đoạn diệt một cách hoàn toàn sáu xứ nên xúc diệt. Do xúc diệt, nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.
There are ascetics and brahmins who do understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."
1. Trú ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ già, chết, không biết rõ già, chết tập khởi, không biết rõ già, chết đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt; không biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… không biết rõ các hành, không biết rõ các hành tập khởi, không biết rõ các hành đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-lamôn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
3. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào biết rõ già chết, biết rõ già chết tập khởi, biết rõ già chết đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt… biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… biết rõ các hành, biết rõ các hành tập khởi, biết rõ các hành đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại có thể với thắng trí tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. What things don’t they understand?
They don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.
There are ascetics and brahmins who do understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. What things do they understand?
They understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."
1.. … Trú ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào không biết rõ những pháp này, không biết rõ những pháp này tập khởi, không biết rõ những pháp này đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
3. Những pháp gì họ không được biết rõ? Những pháp gì họ không được biết rõ tập khởi? Những pháp gì họ không được biết rõ đoạn diệt? Những pháp gì họ không được biết rõ con đường đưa đến đoạn diệt?
4. Họ không biết rõ già chết. Họ không biết rõ già chết tập khởi. Họ không biết rõ già chết đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Họ không biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức…Họ không biết rõ các hành. Họ không biết rõ các hành tập khởi. Họ không biết rõ các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ những pháp này. Họ không biết rõ những pháp này tập khởi. Họ không biết rõ pháp này đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
5. Này các Tỷ-kheo, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Samôn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
6. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ được những pháp này, biết rõ được những pháp này tập khởi, biết rõ được những pháp này đoạn diệt, biết rõ được con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
7. Họ biết rõ pháp gì? Họ biết rõ những pháp gì tập khởi? Họ biết rõ những pháp gì đoạn diệt? Họ biết rõ con đường đưa đến những pháp gì đoạn diệt?
8. Họ biết rõ già chết. Họ biết rõ già chết tập khởi. Họ biết rõ già chết đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt… sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… Họ biết rõ các hành. Họ biết rõ các hành tập khởi. Họ biết rõ các hành đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ biết rõ những pháp này. Họ biết rõ những pháp này tập khởi. Họ biết rõ những pháp này đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến của những pháp này đoạn diệt.
9. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Samôn, hay là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
Then Venerable Kaccānagotta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of this thing called ‘right view’. How is right view defined?”
"Kaccāna, this world mostly relies on the dual notions of existence and non-existence.
But when you truly see the origin of the world with right understanding, the concept of non-existence regarding the world does not occur. And when you truly see the cessation of the world with right understanding, the concept of existence regarding the world does not occur.
The world is for the most part shackled by attraction, grasping, and insisting.
But if—when it comes to this attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency—you don’t get attracted, grasp, and commit to the thought, ‘my self’, you’ll have no doubt or uncertainty that what arises is just suffering arising, and what ceases is just suffering ceasing. Your knowledge about this is independent of others.
This is how right view is defined.
‘All exists’: this is one extreme.
‘All does not exist’: this is the second extreme.
Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way:
'Ignorance is a condition for choices. Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
1. Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ)…
2. Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
− “Chánh kiến, chánh kiến”, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?
4. − Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
5. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.
6. Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Ðây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến.
7. “Tất cả là có”, này Kaccàyana, là một cực đoan. “Tất cả là không có” là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
8. Vô minh duyên hành. Hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of a ‘Dhamma speaker’. How is a Dhamma speaker defined?”
"If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping, by disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.
If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment regarding rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … choices … If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping, by disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’."
1. Tại Sàvatthi.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− “Thuyết pháp, thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến.
4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.
5. Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.
6. Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.
7. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… hành… (như trên)… Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.
8. Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.
9. Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. The naked ascetic Kassapa saw the Buddha coming off in the distance. He went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side and said to the Buddha,
“I’d like to ask the worthy Gotama about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Kassapa, it’s the wrong time for questions. We’ve entered an inhabited area.”
A second time, and a third time, Kassapa spoke to the Buddha and the Buddha replied. When this was said, Kassapa said to the Buddha,
“I don’t want to ask much.”
“Ask what you wish, Kassapa.”
“Well, worthy Gotama, is suffering made by oneself?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Then is suffering made by another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Well, is suffering made by both oneself and another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Then does suffering arise by chance, not made by oneself or another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Well, is there no such thing as suffering?”
“It’s not that there’s no such thing as suffering. Suffering is real.”
“Then does the worthy Gotama not know or see suffering?”
“It’s not that I don’t know or see suffering. I do know suffering, I do see suffering.”
“Worthy Gotama, when asked these questions, you say ‘not so’. Yet you say that there is such a thing as suffering. And you say that you do know suffering, and you do see suffering. Sir, explain suffering to me! Teach me about suffering!”
"Suppose that the person who does the deed experiences the result. Then for one who has existed since the beginning, suffering is made by oneself. This statement leans toward eternalism. Suppose that one person does the deed and another experiences the result. Then for one stricken by feeling, suffering is made by another. This statement leans toward annihilationism. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: 'Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
When this was said, Kassapa said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
“Kassapa, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I have recognized individual differences.”
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.”
And the naked ascetic Kassapa received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Kassapa, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Kassapa became one of the perfected.
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực.
3. Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.
4. Ðứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
− Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
− Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
5. Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
− Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
− Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
6. Lần thứ ba, lõa thể Kassapa… (như trên)… Chúng ta đã vào trong làng.
Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
− Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.
− Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như Ông muốn.
7. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Kassapa.
8. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Kassapa.
9. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Kassapa.
10. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Kassapa.
11. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?
− Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.
12. − Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ.
− Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.
13. − Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?”, Ngài trả lời: “Không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Như vậy Tôn giả Gotama, không biết, không thấy khổ?”, Ngài trả lời: “Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ”. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ.
14. − Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu “khổ do tự mình làm ra”, như vậy có nghĩa là thường kiến.
Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: “Khổ do người khác làm ra”, như vậy có nghĩa là đoạn kiến.
15. Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo. Vô minh duyên hành, hành duyên thức… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham và đoạn diệt hoàn toàn vô minh, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
16. Khi được nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
17. − Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.
18. − Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
19. Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.
20. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến; đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: “Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
21. Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
At Sāvatthī.
Then the wanderer Timbaruka went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Well, worthy Gotama, are pleasure and pain made by oneself?”
“Not so, Timbaruka,” said the Buddha.
“Then are pleasure and pain made by another?”
“Not so, Timbaruka,” said the Buddha.
“Well, are pleasure and pain made by both oneself and another?”
“Not so, Timbaruka,” said the Buddha.
“Then do pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another?”
“Not so, Timbaruka,” said the Buddha.
“Well, is there no such thing as pleasure and pain?”
“It’s not that there’s no such thing as pleasure and pain. Pleasure and pain are real.”
“Then does the worthy Gotama not know or see suffering?”
“It’s not that I don’t know or see pleasure and pain. I do know pleasure and pain, I do see pleasure and pain.”
“Worthy Gotama, when asked these questions, you say ‘not so’. Yet you say that there is such a thing as pleasure and pain. And you say that you do know pleasure and pain, and you do see pleasure and pain. Sir, explain pleasure and pain to me! Teach me about pleasure and pain!”
"Suppose that the feeling and the one who feels it are the same thing. Then for one who has existed since the beginning, pleasure and pain is made by oneself. I don’t say this. Suppose that the feeling is one thing and the one who feels it is another. Then for one stricken by feeling, pleasure and pain is made by another. I don’t say this. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: 'Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
When he said this, the wanderer Timbaruka said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Trú ở Sàvatthi…
2. Rồi du sĩ Timbaruka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, du sĩ Timbaruka bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ tự mình làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Timbaruka.
4. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải lạc khổ do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Timbaruka.
5. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải lạc khổ do tự mình làm ra và do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Timbaruka.
6. − Thưa Tôn giả Gotama, lạc khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra; vậy có phải lạc khổ do tự nhiên sanh?
Thế Tôn đáp:
− Không phải vậy, này Timbaruka.
7. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải không có lạc khổ?
8. − Này Timbaruka, không phải không có lạc khổ. Này Timbaruka, có lạc khổ.
− Nếu vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy lạc khổ.
9. − Này Timbaruka, không phải Ta không biết, không thấy lạc khổ. Này Timbaruka, Ta biết lạc khổ. Này Timbaruka, Ta thấy lạc khổ.
10. − Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do tự mình làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: " Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do người khác làm ra?", Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do tự mình làm ra và do người khác làm ra?”, Ngài đáp: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, không phải do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, có phải lạc khổ do tự nhiên sanh?”, Ngài đáp: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ không có?”, Ngài đáp: “Này Timbaruka, không phải không có lạc khổ, này Timbaruka, có lạc khổ”. Ðược hỏi: “Như vậy Tôn giả Gotama không biết, không thấy lạc khổ?”, Ngài đáp: “Này Timbaruka, không phải Ta không biết, không thấy lạc khổ. Này Timbaruka, Ta biết lạc khổ. Này Timbaruka, Ta thấy lạc khổ”. Vậy Tôn giả Gotama hãy nói lên cho con về lạc khổ. Vậy Tôn giả Gotama hãy thuyết cho con về lạc khổ.
11. − Sự cảm thọ và người cảm thọ là cùng một người. Này Timbaruka, như Ông nói ban đầu: “Lạc khổ do tự mình làm ra”, Ta nói không phải vậy.
12. Cảm thọ và người cảm thọ là khác nhau, này Timbaruka, như vậy đối với người bị cảm thọ, “lạc khổ do người khác làm ra”, Ta nói không phải vậy.
13. Này Timbaruka, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo.
Vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Do ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
14. Khi được nói vậy, du sĩ Timbaruka bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn… (như trên)… Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
At Sāvatthī.
"Mendicants, for a fool shrouded by ignorance and fettered by craving, this body has been produced. So there is the duality of this body and external name and form. Contact depends on this duality. When contacted through one or other of the six sense fields, the fool experiences pleasure and pain.
For an astute person shrouded by ignorance and fettered by craving, this body has been produced. So there is the duality of this body and external name and form. Contact depends on this duality. When contacted through one or other of the six sense fields, the astute person experiences pleasure and pain.
What, then, is the difference between the foolish and the astute?"
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"For a fool shrouded by ignorance and fettered by craving, this body has been produced. But the fool has not given up that ignorance or finished that craving. Why is that? The fool has not completed the spiritual journey for the complete ending of suffering. Therefore, when their body breaks up, the fool is reborn in another body. When reborn in another body, they’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.
For an astute person shrouded by ignorance and fettered by craving, this body has been produced. But the astute person has given up that ignorance and finished that craving. Why is that? The astute person has completed the spiritual journey for the complete ending of suffering. Therefore, when their body breaks up, the astute person is not reborn in another body. Not being reborn in another body, they’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say. This is the difference here between the foolish and the astute, that is, leading the spiritual life."
1.. … Trú Tại Sàvatthi.
2. − Ðối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người ngu cảm thọ lạc khổ.
3. Ðối với bậc Hiền, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị phạm ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người Hiền cảm thọ lạc khổ.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?
5. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho chúng con ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
6. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
7. Thế Tôn nói như sau:
− Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy không thoát khỏi đau khổ”.
8. Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Vị ấy thoát khỏi đau khổ”.
9. Này các Tỷ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you dependent origination and dependently originated phenomena. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what is dependent origination? Rebirth is a condition for old age and death. Whether Realized Ones arise or not, this law of nature persists, this regularity of natural principles, this invariance of natural principles, specific conditionality. A Realized One understands this and comprehends it, then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it. ‘Look,’ he says, ‘Rebirth is a condition for old age and death.’
Continued existence is a condition for rebirth … Grasping is a condition for continued existence … Craving is a condition for grasping …
Feeling is a condition for craving … Contact is a condition for feeling … The six sense fields are a condition for contact … Name and form are conditions for the six sense fields …
Consciousness is a condition for name and form …
Choices are a condition for consciousness … Ignorance is a condition for choices. Whether Realized Ones arise or not, this law of nature persists, this regularity of natural principles, this invariance of natural principles, specific conditionality. A Realized One understands this and comprehends it, then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it. ‘Look,’ he says, ‘Ignorance is a condition for choices.’ So the fact that this is real, not unreal, not otherwise; the specific conditionality of it: this is called dependent origination.
And what are the dependently originated phenomena? Old age and death are impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease. Rebirth … Continued existence … Grasping … Craving …
Feeling … Contact … The six sense fields … Name and form …
Consciousness …
Choices … Ignorance is impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease. These are called the dependently originated phenomena.
When a noble disciple has clearly seen with right wisdom this dependent origination and these dependently originated phenomena as they are, it is quite impossible for them to turn back to the past, thinking: ‘Did I exist in the past? Did I not exist in the past? What was I in the past? How was I in the past? After being what, what did I become in the past?’ Or to turn forward to the future, thinking: ‘Will I exist in the future? Will I not exist in the future? What will I be in the future? How will I be in the future? After being what, what will I become in the future?’ Or to be undecided about the present, thinking: ‘Am I? Am I not? What am I? How am I? This sentient being—where did it come from? And where will it go?’ Why is that? Because that noble disciple has clearly seen with right wisdom this dependent origination and these dependently originated phenomena as they are."
1. Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông lý duyên khởi và các pháp duyên sanh. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Do duyên sanh, này các Tỷ-kheo, già, chết khởi lên. Dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt định lý ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị.
4. Do duyên sanh, này các Tỷ-kheo, nên có già, chết. Do duyên hữu, này các Tỷ-kheo, nên có sanh. Do duyên thủ, này các Tỷ-kheo, nên có hữu. Do duyên ái, này các Tỷ-kheo, nên có thủ. Do duyên thọ, này các Tỷ-kheo, nên có ái. Do duyên xúc, này các Tỷ-kheo, nên có thọ. Do duyên sáu xứ, này các Tỷ-kheo, nên có xúc. Do duyên danh sắc, này các Tỷ-kheo, nên có sáu xứ. Do duyên thức, này các Tỷ-kheo, nên có danh sắc. Do duyên các hành, này các Tỷ-kheo, nên có thức. Do duyên vô minh, này các Tỷ-kheo, nên có hành. Dầu cho Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt tánh ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị.
5. Do duyên vô minh, này các Tỷ-kheo, có các hành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là như tánh, bất hư vọng tánh, bất dị như tánh, y duyên tánh ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lý duyên khởi.
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là duyên sanh pháp? Già, chết, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.
7. Sanh, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.
8. Hữu, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.
9. − 16) Thủ, này các Tỷ-kheo… ái, này các Tỷ-kheo… Thọ, này các Tỷ-kheo… Xúc, này các Tỷ-kheo… Sáu xứ, này các Tỷ-kheo… Danh sắc, này các Tỷ-kheo… Thức, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…
17. Vô minh, này các Tỷ-kheo, là vô thường hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là duyên sanh pháp.
18. Do vì, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ lý duyên khởi này và các pháp duyên sanh này, nên chắc chắn vị ấy không chạy theo quá khứ (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt không quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Hay trước ta đã là gì, và nay trong quá khứ ta là gì?”
19. Hay không chạy theo tương lai (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong tương lai? Ta không có mặt trong tương lai? Ta sẽ làm gì trong tương lai? Ta có mặt như thế nào trong tương lai? Hay trước ta là gì, và nay trong tương lai ta sẽ là gì?”
20. Hay nay các vị ấy sẽ khởi lên những nghi ngờ về tự mình trong hiện tại như sau: “Ta hiện có mặt? Ta hiện không có mặt? Ta hiện là gì? Ta hiện có mặt như thế nào?” Sự kiện như vậy không xảy ra.
21. Vì sao? Vì rằng vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đã khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ, định lý duyên khởi này với các pháp duyên sanh này.
At Sāvatthī.
"Mendicants, a Realized One has ten powers and four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the ending of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the ending of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the ending of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.
When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is:
Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1.. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, đầy đủ bốn vô sở úy, tự nhận vị trí Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa hội chúng, chuyển Pháp luân và nói rằng: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”.
Như vậy do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt.
3. Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
4. Do ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"Mendicants, a Realized One has ten powers and four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the ending of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the ending of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the ending of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.
When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is:
Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
So the teaching has been well explained by me, made clear, opened, illuminated, and stripped of patchwork. Just this much is quite enough for a gentleman who has gone forth out of faith to rouse up his energy. ‘Gladly, let only skin, sinews, and tendons remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
A lazy person lives in suffering, mixed up with bad, unskillful qualities, and ruins a great deal of their own good. An energetic person lives happily, secluded from bad, unskillful qualities, and fulfills a great deal of their own good.
The best isn’t reached by the worst. The best is reached by the best. This spiritual life is the cream, mendicants, and the Teacher is before you.
So you should rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized, thinking: ‘In this way our going forth will not be wasted, but will be fruitful and fertile. And our use of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick shall be of great fruit and benefit for those who offered them.’ That’s how you should train.
Considering what is good for yourself, mendicants, is quite enough for you to persist with diligence. Considering what is good for others is quite enough for you to persist with diligence. Considering what is good for both is quite enough for you to persist with diligence."
1.. … Trú Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
3-4… …
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.
7. Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!
8. Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
9. Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.
10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.
At Sāvatthī.
"Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’ The ending of the defilements is for one who knows and sees this.
I say that this knowledge of ending has a vital condition, it doesn’t lack a vital condition. And what is it? You should say: ‘Freedom.’ I say that freedom has a vital condition, it doesn’t lack a vital condition. And what is it? You should say: ‘Dispassion.’ I say that dispassion has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Disillusionment.’ I say that disillusionment has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Truly knowing and seeing.’ I say that truly knowing and seeing has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Immersion.’ I say that immersion has a vital condition.
And what is it? You should say: ‘Bliss.’ I say that bliss has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Tranquility.’ I say that tranquility has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Rapture.’ I say that rapture has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Joy.’ I say that joy has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Faith.’ I say that faith has a vital condition.
And what is it? You should say: ‘Suffering.’ I say that suffering has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Rebirth.’ I say that rebirth has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Continued existence.’ I say that continued existence has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Grasping.’ I say that grasping has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Craving.’ I say that craving has a vital condition.
And what is it? You should say: ‘Feeling.’ … You should say: ‘Contact.’ … You should say: ‘The six sense fields.’ … You should say: ‘Name and form.’ … You should say: ‘Consciousness.’ … You should say: ‘Choices.’ … I say that choices have a vital condition, they don’t lack a vital condition. And what is the vital condition for choices? You should say: ‘Ignorance.’
So ignorance is a vital condition for choices. Choices are a vital condition for consciousness. Consciousness is a vital condition for name and form. Name and form are vital conditions for the six sense fields. The six sense fields are vital conditions for contact. Contact is a vital condition for feeling. Feeling is a vital condition for craving. Craving is a vital condition for grasping. Grasping is a vital condition for continued existence. Continued existence is a vital condition for rebirth. Rebirth is a vital condition for suffering. Suffering is a vital condition for faith. Faith is a vital condition for joy. Joy is a vital condition for rapture. Rapture is a vital condition for tranquility. Tranquility is a vital condition for bliss. Bliss is a vital condition for immersion. Immersion is a vital condition for truly knowing and seeing. Truly knowing and seeing is a vital condition for disillusionment. Disillusionment is a vital condition for dispassion. Dispassion is a vital condition for freedom. Freedom is a vital condition for the knowledge of ending.
It’s like when the heavens rain heavily on a mountain top, and the water flows downhill to fill the hollows, crevices, and creeks. As they become full, they fill up the pools. The pools fill up the lakes, the lakes fill up the streams, and the streams fill up the rivers. And as the rivers become full, they fill up the ocean.
In the same way, ignorance is a vital condition for choices. … Freedom is a vital condition for the knowledge of ending."
1.… Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, đối với người biết, này các Tỷ-kheo, đối với người thấy, Ta nói các lậu hoặc được đoạn diệt, không phải đối với người không biết, không phải đối với người không thấy.
3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào đối với người biết, đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người biết, như vậy đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt.
4. Này các Tỷ-kheo, trong đoạn diệt ấy, trí về đoạn diệt, Ta nói rằng trí ấy có duyên, không phải không có duyên.
5. Và này các Tỷ-kheo, duyên của trí về đoạn diệt là gì? Giải thoát là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng giải thoát có duyên, không phải không có duyên.
6. Và này các Tỷ-kheo, duyên của giải thoát là gì? Ly tham là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ly tham có duyên, không phải không có duyên.
7. Và này các Tỷ-kheo, duyên của ly tham là gì? Yếm ly là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng yếm ly có duyên, không phải không có duyên.
8. Và này các Tỷ-kheo, duyên của yếm ly là gì? Tri kiến như chân là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tri kiến như chân có duyên, không phải không có duyên.
9. Và này các Tỷ-kheo, duyên của tri kiến như chân là gì? Ðịnh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng định có duyên, không phải không có duyên.
10. Và này các Tỷ-kheo, duyên của định là gì? Lạc là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lạc có duyên, không phải không có duyên.
11. Này các Tỷ-kheo, duyên của lạc là gì? Khinh an là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khinh an có duyên, không phải không có duyên.
12. Và này các Tỷ-kheo, duyên của khinh an là gì? Hỷ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ có duyên, không phải không có duyên.
13. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.
14. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.
15. Và này các Tỷ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên.
16. Và này các Tỷ-kheo, duyên của khổ là gì? Sanh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng sanh có duyên, không phải không có duyên.
17. Và này các Tỷ-kheo, duyên của sanh là gì? Hữu là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hữu có duyên, không phải không có duyên.
18. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hữu là gì? Thủ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng thủ có duyên, không phải không có duyên.
19. Và này các Tỷ-kheo, duyên của thủ là gì? Ái là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ái có duyên, không phải không có duyên.
20-25. Và này các Tỷ-kheo, duyên của ái là gì? Thọ là câu trả lời… (như trên)…
Xúc là câu trả lời…
Sáu xứ là câu trả lời… Danh sắc là câu trả lời…
Thức là câu trả lời…
Hành là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hành có duyên, không phải không có duyên.
26. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hành là gì? Vô minh là câu trả lời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
27. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy.
28. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
Near Rājagaha, in the Bamboo Grove. Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the monastery of the wanderers of other religions?”
Then he went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The wanderers said to him:
“Reverend Sāriputta, there are ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. Some of them declare that suffering is made by oneself. Some of them declare that suffering is made by another. Some of them declare that suffering is made by both oneself and another. Some of them declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another. What does the ascetic Gotama say about this? How does he explain it? How should we answer so as to repeat what the ascetic Gotama has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
"Reverends, the Buddha said that suffering is dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. If you said this you would repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth. You would explain in line with his teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that suffering is made by oneself, that’s conditioned by contact. In the case of those who declare that suffering is made by another, that’s also conditioned by contact. In the case of those who declare that suffering is made by oneself and another, that’s also conditioned by contact. In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, that’s also conditioned by contact.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that suffering is made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who declare that suffering is made by another, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who declare that suffering is made by oneself and another, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact."
Venerable Ānanda heard this discussion between Venerable Sāriputta and those wanderers of other religions. Then Ānanda wandered for alms in Rājagaha. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
"Good, good, Ānanda! It’s just as Sāriputta has so rightly explained. I have said that suffering is dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. Saying this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that suffering is made by oneself, that’s conditioned by contact. … In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, that’s also conditioned by contact.
In the case of those who declare that suffering is made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.
Ānanda, this one time I was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then I thought: ‘It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the monastery of the wanderers of other religions?’
Then I went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side. …"
(The wanderers asked the Buddha the very same questions, and he gave the same answers.)
“It’s incredible, sir, it’s amazing, how the whole matter is stated with one phrase. Could there be a detailed explanation of this matter that is both deep and appears deep?”
“Well then, Ānanda, clarify this matter yourself.”
"Sir, suppose they were to ask me: ‘Reverend Ānanda, what is the source, origin, birthplace, and inception of old age and death?’ I’d answer like this: ‘Reverends, rebirth is the source, origin, birthplace, and inception of old age and death.’ That’s how I’d answer such a question.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of rebirth?’ I’d answer like this: ‘Continued existence is the source of rebirth.’ That’s how I’d answer such a question.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of continued existence?’ I’d answer like this: ‘Grasping is the source of continued existence.’ That’s how I’d answer such a question.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of grasping?’ … craving … feeling … Suppose they were to ask me: ‘What is the source of contact?’ I’d answer like this: ‘The six sense fields are the source, origin, birthplace, and inception of contact.’ ‘When the six fields of contact fade away and cease with nothing left over, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.’ That’s how I’d answer such a question."
1.… Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).
2. Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực.
3. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ: “Thật là quá sớm để vào Vương Xá khất thực. Ta hãy đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
4. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Tôn giả liền ngồi xuống một bên.
Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
5. − Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.
6. Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Sa-môn Gotama thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Sa-môn Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Sa-môn Gotama không đúng sự thực. Pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
7. Chư Hiền giả, Thế Tôn đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, pháp được trả lời là thuận pháp, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
8. Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc… Những Sa-môn, Bà-lamôn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
9. Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
10. Tôn giả Ananda nghe câu chuyện giữa Tôn giả Sàriputta với các du sĩ ngoại đạo ấy.
11. Rồi Tôn giả Ananda, đi khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda đem tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Sàriputta và các du sĩ ngoại đạo trình bày lên Thế Tôn.
12. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ananda, Ta nói rằng khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn, cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
13. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-lamôn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
14. Ở đây, nàyAnanda, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
15. Này Ananda, một thời Ta trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
16. Rồi này Ananda, vào buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát đi vào Vương Xá để khất thực.
17. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm đi vào Vương Xá để khất thực. Vậy Ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”.
18. Rồi này Ananda, Ta đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến Ta nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Ta ngồi xuống một bên.
Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Ta đang ngồi một bên:
19. "− Này Hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Nay Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-lamôn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.
20. Ở đây, Tôn giả Gotama thuyết như thế nào? Chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Tôn giả Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Tôn giả Gotama không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích?"
21. Khi được nói vậy, này Ananda, Ta nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
“− Này chư Hiền, Ta đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích”.
22. Ở đây, chư Hiền giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Có những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Có những Samôn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
23. Ở đây, chư Hiền giả, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ do tự mình làm; họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
24. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Làm sao tất cả nghĩa được nói chỉ trong một câu. Bạch Thế Tôn, nếu nghĩa này được nói rộng ra, nghĩa này sẽ sâu thẳm và có vẻ được xem là sâu thẳm.
25. − Vậy này Ananda, Ông hãy trình bày nghĩa ấy ở đây.
26. − Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, già, chết lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Già, chết, thưa các Tôn giả, lấy sanh làm nhân, lấy sanh tập khởi, lấy sanh tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
27. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: “Sanh, thưa các Tôn giả, lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
28. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Hữu, thưa các Tôn giả, lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
29-31. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, thủ lấy gì làm nhân… ái lấy gì làm nhân… thọ lấy gì làm nhân… (như trên)…”. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, xúc lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Xúc, thưa các Hiền giả, lấy sáu xứ làm nhân, lấy sáu xứ tập khởi, lấy sáu xứ tác sanh, lấy sáu xứ làm hiện hữu. Thưa các Hiền giả, do sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn các xúc xứ, xúc được đoạn diệt. Do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
At Sāvatthī.
Then in the late afternoon, Venerable Bhūmija came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him:
“Reverend Sāriputta, there are ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. Some of them declare that pleasure and pain are made by oneself. Some of them declare that pleasure and pain are made by another. Some of them declare that pleasure and pain are made by both oneself and another. Some of them declare that pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another. What does the Buddha say about this? How does he explain it? How should we answer so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
"Reverend, the Buddha said that pleasure and pain are dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. If you said this you would repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth. You would explain in line with his teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that pleasure and pain are made by oneself, that’s conditioned by contact. … In the case of those who declare that pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another, that’s also conditioned by contact.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that pleasure and pain are made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who declare that pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact."
Venerable Ānanda heard this discussion between Venerable Sāriputta and Venerable Bhūmija. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
"Good, good, Ānanda! It’s just as Sāriputta has so rightly explained. I have said that pleasure and pain are dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. Saying this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that pleasure and pain are made by oneself, that’s conditioned by contact. … In the case of those who declare that pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another, that’s also conditioned by contact.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who declare that pleasure and pain are made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who declare that pleasure and pain arise by chance, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.
Ānanda, as long as there’s a body, the intention that gives rise to bodily action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a voice, the intention that gives rise to verbal action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a mind, the intention that gives rise to mental action causes pleasure and pain to arise in oneself. But these only apply when conditioned by ignorance.
By oneself one instigates the choice that gives rise to bodily, verbal, and mental action, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself. Or else others instigate the choice … One consciously instigates the choice … Or else one unconsciously instigates the choice …
Ignorance is included in all these things. But when ignorance fades away and ceases with nothing left over, there is no body and no voice and no mind, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself. There is no field, no ground, no scope, no basis, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself."
1.…Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Bhùmija, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng đậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhùmija thưa Tôn giả Sàriputta:
3. − Hiền giả Sàruputta, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm. Hiền giả Sàruputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm. Hiền giả Sariputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do người khác làm. Hiền giả Sàriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh.
4. Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn không tìm được lý do để chỉ trích?
5. − Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói lạc khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp, và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng tìm được lý do để chỉ trích.
6. Ở đây, này Hiền giả, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm; lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố là lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh; lạc khổ ấy chính do duyên xúc.
7. Ở đây, này Hiền giả, các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Các Sa-môn, Bàla-môn nào…(như trên)… Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
8. Tôn giả Ananda được nghe chuyện này giữa Tôn giả Sàriputta với Tôn giả Bhùmija.
9. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda đem tất cả câu chuyện xảy ra như thế nào giữa Tôn giả Sàriputta với Tôn giả Bhùmija bạch lên Thế Tôn.
10. − Lành thay, lành thay! Này Ananda, Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ananda, Ta nói rằng khổ là do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào cật vấn Ta không có thể tìm được lý do để chỉ trích.
11. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Samôn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh; khổ lạc ấy chính do duyên xúc.
12. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra.
13. Này Ananda, chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có lời nói, này Ananda, do nhân khẩu tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có ý, này Ananda, do nhân ý tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ.
14. Do duyên vô minh, hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
15. Hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác này Ananda làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
16. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda… (như trên)… Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
17. Hoặc tự mình, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
18. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda… (như trên)… Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
19. Này Ananda, trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối. Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Khẩu ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Chúng không phải là đồng ruộng, chúng không phải là căn cứ, chúng không phải là xứ, chúng không phải là luận sự; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
At Sāvatthī.
Then Venerable Upavāna went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
"Sir, there are some ascetics and brahmins who declare that suffering is made by oneself. There are some who declare that suffering is made by another. There are some who declare that suffering is made by both oneself and another. There are some who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another.
What does the Buddha say about this? How does he explain it? How should we answer so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?"
"Upavāna, I have said that suffering is dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. Saying this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
In the case of those ascetics and brahmins who declare that suffering is made by oneself, that’s conditioned by contact. … In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, that’s also conditioned by contact.
In the case of those ascetics and brahmins who declare that suffering is made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who declare that suffering arises by chance, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact."
1.. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:
3. − Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm. Bạch Thế Tôn lại có những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do người khác làm. Bạch Thế Tôn, lại có những Sa-môn, Bà-lamôn tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Bạch Thế Tôn, lại có những Sa-môn, Bà-lamôn tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.
4. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng con trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng con không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thực; pháp chúng con trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích?.
5. − Này Upavàna, Ta đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thực; pháp được trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
6. Ở đây, này Upavàna, những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm ra; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ không do mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
7. Ở đây, này Upavàna, những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
At Sāvatthī.
"Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death. Rebirth is the origin of old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease. The practice that leads to the cessation of old age and death is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
And what is rebirth? … And what is continued existence? … And what is grasping? … And what is craving? … And what is feeling? … And what is contact? … And what are the six sense fields? … And what are name and form? … And what is consciousness? …
And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices. Ignorance is the origin of choices. When ignorance ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
A noble disciple understands conditions, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. Such a noble disciple is one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pushing open the door to freedom from death’."
1.… Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, hủ bại, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vứt bỏ; đây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
4. Do sanh khởi, già chết khởi. Do sanh diệt, già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết đoạn diệt tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?..
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?..
7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?..
8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?..
9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?..
10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?..
11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?..
12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?..
13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?.. (xem như trên, chương Một, phẩm Một, II. 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13)
14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Do vô minh khởi, hành khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến sự đoạn diệt các hành. Tức là chánh tri kiến… chánh định.
15. Này các Tỷ-kheo, do vị Thánh đệ tử biết duyên như vậy, duyên tập khởi như vậy, duyên đoạn diệt như vậy; biết rõ con đường đưa đến đoạn diệt như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là đạt tri kiến, đạt kiến, đã đạt đến diệu pháp này, thấy được diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
At Sāvatthī.
"A mendicant understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death. Rebirth is the origin of old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease. The practice that leads to the cessation of old age and death is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
And what is rebirth? … And what is continued existence? … And what is grasping? … And what is craving? … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness …
And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices. Ignorance is the origin of choices. When ignorance ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
A mendicant understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. Such a mendicant is one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pushing open the door to freedom from death’."
1.. … Trú ở Sàvatthi.
2. Tại đây…
3. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hiểu rõ già chết, hiểu rõ già chết tập khởi, hiểu rõ già chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt…(như trên)…
4.… Hiểu rõ sanh…
5.… Hiểu rõ hữu…
6.… Hiểu rõ thủ…
7.… Hiểu rõ ái…
8.… Hiểu rõ thọ…
9.… Hiểu rõ xúc…
10.… Hiểu rõ sáu xứ…
11.… Hiểu rõ danh sắc…
12.… Hiểu rõ thức…
13.… Hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt.
14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vứt bỏ; đây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
15. Do sanh khởi, già chết khởi. Do sanh diệt, già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.
16-24. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh… (như trên)… Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu… Này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ… Này các Tỷ-kheo, thế nào là ái… là thọ… là xúc… là sáu xứ… là danh sắc… là thức?..
25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo: thân hành, khẩu hành, ý hành. Ba hành này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành.
Do vô minh khởi nên hành khởi. Do vô minh diệt nên hành diệt. Ðây chính là Thánh đạo tám ngành đưa đến hành đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến…(như trên)…chánh định.
26. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết rõ già chết như vậy, biết rõ già chết tập khởi như vậy, biết rõ già chết đoạn diệt như vậy, biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt như vậy.
27-36. Do biết rõ sanh như vậy… hữu… thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc… thức… Do biết rõ hành như vậy, biết rõ hành tập khởi như vậy, biết rõ hành đoạn diệt như vậy, do biết rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt như vậy.
37. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy được diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
At Sāvatthī.
"There are ascetics and brahmins who don’t completely understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t completely understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t completely understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.
There are ascetics and brahmins who completely understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They completely understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They completely understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."
1.…Trú ở Sàvatthi.
2-12. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không hiểu rõ già chết, không hiểu rõ già chết tập khởi, không hiểu rõ già chết đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt, không hiểu rõ sanh…(như trên)… Hữu…thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc…thức… không hiểu rõ hành, không hiểu rõ hành tập khởi, không hiểu rõ hành đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt;
13. Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bàla-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy cũng không có thể ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.
14-24. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào hiểu rõ già chết, hiểu rõ già chết tập khởi, hiểu rõ già chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt, hiểu rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt;
25. Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. It’s impossible that they will abide having transcended old age and death. They don’t understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. It’s impossible that they will abide having transcended choices.
There are ascetics and brahmins who do understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. It’s possible that they will abide having transcended old age and death. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. It’s possible that they will abide having transcended choices."
1.… Trú ở Sàvatthi.
2. Ở đây…
3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua già chết và an trú; sự kiện như vậy không xảy ra.
4-12. Không biết sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức…
13. Không biết hành, không biết hành tập khởi, không biết hành đoạn diệt, không biết con đường đưa đến hành đoạn diệt, họ chắc chắn vượt qua các hành và an trú; sự kiện như vậy không xảy ra.
14. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua già chết và an trú, sự kiện như vậy có xảy ra.
15-23. Biết sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… biết hành, biết hành tập khởi, biết hành đoạn diệt; biết con đường đưa đến hành đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua các hành và an trú; sự kiện như vậy có xảy ra.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī.
Then the Buddha said to Venerable Sāriputta, "Sāriputta, this was said in ‘The Way to the Far Shore’, in ‘The Questions of Ajita’:
‘There are those who have appraised the teaching,
and many kinds of trainees here.
Tell me about their behavior, good fellow,
when asked, for you are alert.’
How should we see the detailed meaning of this brief statement?"
When he said this, Sāriputta kept silent.
For a second time …
For a third time …
Sāriputta kept silent.
“Sāriputta, do you see that this has come to be?”
"Sir, one truly sees with right wisdom that this has come to be. Seeing this, one is practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding what has come to be. One truly sees with right wisdom that it originated with that as fuel. Seeing this, one is practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the fuel for its origination. One truly sees with right wisdom that when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease. Seeing this, one is practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding what is liable to cease. In this way one is a trainee.
And what, sir, is one who has appraised the teaching? Sir, one truly sees with right wisdom that this has come to be. Seeing this, one is freed by not grasping through disillusionment, dispassion, and cessation regarding what has come to be. One truly sees with right wisdom that it originated with that as fuel. Seeing this, one is freed by not grasping through disillusionment, dispassion, and cessation regarding the fuel for its origination. One truly sees with right wisdom that when that fuel ceases, what has come to be is liable to cease. Seeing this, one is freed by not grasping through disillusionment, dispassion, and cessation regarding what is liable to cease. In this way one has appraised the teaching.
Sir, regarding what was said in ‘The Way to the Far Shore’, in ‘The Questions of Ajita’:
‘There are those who have appraised the teaching,
and many kinds of trainees here.
Tell me about their behavior, good fellow,
when asked, for you are alert.’
This is how I understand the detailed meaning of what was said in brief."
“Good, good, Sāriputta!” (The Buddha repeated all of Sāriputta’s explanation, concluding:)
This is how to understand the detailed meaning of what was said in brief."
1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi.
I
2. Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:
− Này Sàriputta, trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
3. Lần thứ hai, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta… (như trên)… Lần thứ hai, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
4. Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:
− Này Sàriputta, trong kinh Karàyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
II
5. − Này Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành? Này Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành?
6. − Cái này được sinh thành. Bạch Thế Tôn, vị ấy với chánh trí tuệ thấy như chơn cái này được sinh thành. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy thấy với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị sự đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt. Sau khi thấy như chơn với chánh tri tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt. Như vậy, bạch Thế Tôn là bậc hữu học.
7. Và bạch Thế Tôn, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Bạch Thế Tôn, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ cái này được sinh thành. “Cái này được sinh thành”; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ. Như vậy, bạch Thế Tôn, là thuần thục pháp hữu vi.
8. Như vậy, bạch Thế Tôn, như đã được nói trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Bạch Thế Tôn, lời nói tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
III
9. − Lành thay, lành thay! Cái này được sinh thành, này Sàriputta, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, đối với cái được sinh thành. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt với một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.
Như vậy, này Sàriputta, là bậc hữu học.
10. Và này Sàriputta, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Này Sàriputta, cái này được sinh thành, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ.
Như vậy, này Sàriputta, là thuần thục pháp hữu vi.
11. Như vậy, này Sàriputta, như đã được nói trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này cần hiểu ý nghĩa một cách, rộng rãi như vậy.
At Sāvatthī.
Then the mendicant Kaḷāra the Aristocrat went up to Venerable Sāriputta and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him, “Reverend Sāriputta, the mendicant Phagguna of the Top-Knot has resigned the training and returned to a lesser life.”
“That venerable mustn’t have got any satisfaction in this teaching and training.”
“Well then, has Venerable Sāriputta found satisfaction in this teaching and training?”
“Reverend, I have no uncertainty.”
“But what of the future?”
“I have no doubt.”
Then Kaḷāra the Aristocrat went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, Venerable Sāriputta has declared enlightenment: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell Sāriputta that the teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Sāriputta and said to him, “Reverend Sāriputta, the teacher summons you.”
“Yes, reverend,” replied Sāriputta. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Sāriputta, is it really true that you have declared enlightenment: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place”’?”
“Sir, I did not state the matter in these words and phrases.”
“Sāriputta, no matter how a gentleman declares enlightenment, what he has declared should be regarded as such.”
“Sir, did I not also say that I did not state the matter in these words and phrases?”
“Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘But Reverend Sāriputta, how have you known and seen so that you’ve declared enlightenment: “I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”’ How would you answer?”
“Sir, if they were to ask me this, I would answer: ‘Reverends, because of the ending of the source of rebirth, when it ended, I knew “it is ended”. Knowing this, I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’ That’s how I’d answer such a question.”
“But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘But what is the source, origin, birthplace, and inception of rebirth?’ How would you answer?”
“Sir, if they were to ask me this, I would answer: ‘Continued existence is the source, origin, birthplace, and inception of rebirth.’ That’s how I’d answer such a question.”
“But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘What is the source of continued existence?’ How would you answer?”
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer: ‘Grasping is the source of continued existence.’ That’s how I’d answer such a question.”
“But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘What is the source of grasping?’ … But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘What is the source of craving?’ How would you answer?”
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer: ‘Feeling is the source of craving.’ That’s how I’d answer such a question.”
“But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘But how have you known and seen so that the relishing of feelings is no longer present?’ How would you answer?”
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer: ‘Reverends, there are three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling. These three feelings are impermanent, and what’s impermanent is suffering. When I understood this, the relishing of feelings was no longer present.’ That’s how I’d answer such a question.”
"Good, good, Sāriputta! The same point may also be briefly explained in this way: ‘Suffering includes whatever is felt.’
But Sāriputta, suppose they were to ask you: ‘But Reverend, how have you been released that you declare enlightenment: “I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”?’ How would you answer?"
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer: ‘Because of an inner release with the ending of all grasping, I live mindfully so that defilements don’t defile me and I don’t look down on myself.’ That’s how I’d answer such a question.”
“Good, good, Sāriputta! The same point may also be briefly explained in this way: ‘I have no uncertainty regarding the defilements spoken of by the ascetic. I have no doubt that I’ve given them up.’”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One got up from his seat and entered his dwelling.
Then soon after the Buddha left, Venerable Sāriputta said to the mendicants, “Reverends, the first question that the Buddha asked me was something that I’d not previously considered, so I hesitated. But when the Buddha agreed with my answer, I thought: ‘If the Buddha were to question me all day on this matter in different words and ways, I could answer all day with different words and ways. If he were to question me all night, all day and night, for two days and nights, for three, four, five, six, or seven days and nights, I could answer in different words and ways for seven days and nights.’”
Then Kaḷāra the Aristocrat went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, Venerable Sāriputta has roared his lion’s roar!” (And he told the Buddha all that Sāriputta had said.)
“Mendicant, Sāriputta has clearly comprehended the principle of the teachings, so that he could answer any questions I might ask him in different words and ways up to the seventh day and night.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
I
2. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya (dòng Sát-đế-lỵ) đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya nói với Tôn giả Sàriputta:
− Này Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo Moliyaphagguna đã từ bỏ học tập và hoàn tục.
− Vậy vị Tôn giả ấy, không tìm được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
4. − Vậy Tôn giả Sàriputta đã đạt được sự an ủi trong Pháp và Luật này?
− Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì!
5. − Này Hiền giả, còn đối với tương lai?
− Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.
6. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
7. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:
− Con được biết, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta tuyên bố được chánh trí như sau: “Sanh đã tận; Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm; không còn trở lại trạng thái này nữa”.
8. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
− Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Sàriputta: “Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
9. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta: "Bậc
Ðạo Sư cho gọi Hiền giả".
10. − Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
II
11. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi một bên:
− Này Sàriputta, có đúng sự thật chăng là Ông có tuyên bố đã chứng được chánh trí: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
− Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy.
12. − Vậy với pháp môn nào, này Sàriputta, Thiện nam tử nói đến sự chứng đắc trí, lời tuyên bố cần phải được xem đúng như lời tuyên bố.
13. − Bạch Thế Tôn, chính con đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy”.
14. − Nếu họ có hỏi Ông, này Sàriputta: “Ông biết như thế nào, này Sàriputta, Ông thấy như thế nào mà Ông tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa’ ?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
15. − Nếu họ có hỏi con, bạch Thế Tôn: “Hiền giả biết như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả thấy như thế nào mà tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta đã biết, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
16. "Vì rằng này Hiền giả, trong (danh từ) tận diệt, ta hiểu được là sự tận diệt của nhân, chính do nhân ấy sanh sanh khởi. Sau khi hiểu được nghĩa tận diệt trong (danh từ) tận diệt, ta mới biết: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ "
Ðược hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
17. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi như vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
18. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, sanh lấy gì làm nhân… (như trên)… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Sanh lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
19. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
20. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, hữu lấy gì làm nhân… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Hữu lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
21. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, thủ lấy gì làm nhân… (như trên)…”.
22-23. − Và này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
24. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Này Hiền giả, ái lấy thọ làm nhân, lấy thọ tập khởi, lấy thọ tác sanh, lấy thọ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
25. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Làm sao, này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
26. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn con trả lời như sau:
27. “Này Hiền giả, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này Hiền giả, ba cảm thọ này vô thường, khi biết được cái gì vô thường là khổ, thời cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn con trả lời như vậy.
28. − Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.
29. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
30. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
31. “Do tự giải thoát, chư Hiền giả, do đoạn diệt tất cả chấp thủ, ta sống an trú chánh niệm như vậy. Nhờ sống an trú chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy, và ta không chấp nhận tự ngã”.
Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
32. − Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Những cái gì được vị Sa-môn gọi là lậu hoặc, ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được ta diệt tận. Ta không còn phân vân gì nữa.
33. Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
III
34. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi Thế Tôn đi chẳng lao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:
35. − Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ (trả lời câu) hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau:
36. "Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
37. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
38. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
39. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn hai đêm hai ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn hai đêm hai ngày.
40. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn ba đêm ba ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn ba đêm ba ngày.
41. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bốn đêm bốn ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn bốn đêm bốn ngày.
42. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày.
43. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày.
44. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác".
IV
45. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
46. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta đã rống lên tiếng rống con sư tử như sau: Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất, mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ (trả lời câu) hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau: “Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác. Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm… cho đến trọn đêm và trọn ngày… cho đến trọn ba… trọn bốn…, cho đến trọn năm… trọn sáu… trọn bảy đêm ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác”.
47. − Này các Tỷ-kheo, pháp giới ấy (Dhammadhàtu) được Sàriputta khéo thành đạt. Do khéo thành đạt pháp giới ấy, nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn ngày, với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Saụriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm và hai ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm hai ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả ba đêm ba ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến cả ba đêm ba ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn bốn đêm bốn ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến bốn đêm bốn ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác, Sàriputta có thể trả lời cho Ta về ý nghĩa ấy cho đến trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach forty-four grounds for knowledge. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what are the forty-four grounds for knowledge? Knowledge of old age and death, knowledge of the origin of old age and death, knowledge of the cessation of old age and death, and knowledge of the practice that leads to the cessation of old age and death. Knowledge of rebirth … Knowledge of continued existence … Knowledge of grasping … Knowledge of craving … Knowledge of feeling … Knowledge of contact … Knowledge of the six sense fields … Knowledge of name and form … Knowledge of consciousness … Knowledge of choices, knowledge of the origin of choices, knowledge of the cessation of choices, and knowledge of the practice that leads to the cessation of choices. These are called the forty-four grounds for knowledge.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death.
Rebirth is the origin of old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease. The practice that leads to the cessation of old age and death is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
A noble disciple understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. This is their knowledge of the present phenomenon. With this present phenomenon that is seen, known, immediate, attained, and fathomed, they infer to the past and future.
Whatever ascetics and brahmins in the past directly knew old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them directly knew these things in exactly the same way that I do now.
Whatever ascetics and brahmins in the future will directly know old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them will directly know these things in exactly the same way that I do now. This is their inferential knowledge.
A noble disciple has purified and cleansed these two knowledges—knowledge of the present phenomena, and inferential knowledge. When a noble disciple has done this, they’re one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pushing open the door to freedom from death’.
And what is rebirth? … And what is continued existence? … And what is grasping? … And what is craving? … And what is feeling? … And what is contact? … And what are the six sense fields? … And what are name and form? … And what is consciousness? … And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices.
Ignorance is the origin of choices. When ignorance ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
A noble disciple understands choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. This is their knowledge of the present phenomenon. With this present phenomenon that is seen, known, immediate, attained, and fathomed, they infer to the past and future.
Whatever ascetics and brahmins in the past directly knew choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them directly knew these things in exactly the same way that I do now.
Whatever ascetics and brahmins in the future will directly know choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them will directly know these things in exactly the same way that I do now. This is their inferential knowledge.
A noble disciple has purified and cleansed these two knowledges—knowledge of the present phenomena, and inferential knowledge. When a noble disciple has done this, they’re one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pushing open the door to freedom from death’."
1.… Ở Sàvatthi.
2.. … Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản của trí cho các Ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của trí?
4. Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí về con đường đưa đến già chết diệt.
5. Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa đến sanh diệt.
6. Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường đưa đến hữu diệt.
7. Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường đưa đến thủ diệt.
8. Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa đến ái diệt.
9. Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường đưa đến thọ diệt.
10. Xúc trí…
11. Sáu xứ trí…
12. Danh sắc trí…
13. Thức trí…
14. Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường đưa đến hành diệt.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.
15. Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ; đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
16. Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
17. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.
18. Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập (pariyogathena) hướng dẫn thái độ (nayam) của mình đối với quá khứ và tương lai.
19. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
20. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ (abhijanissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí (anvaye nànam) của vị ấy.
21. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến, (dithisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ (nibbedhi kapanno), đã đứng gõ vào cửa bất tử.
22. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?..
23. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?..
24. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?..
25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?..
26. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?..
27. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?..
28. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?..
29. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?..
30. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?..
31. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
32. Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh tập khởi diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
33. Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy, biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập, hướng dẫn thái độ (nayam) của mình đối với quá khứ, tương lai.
34. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
35. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.
36. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh, thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này, đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach seventy-seven grounds for knowledge. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what are the seventy-seven grounds for knowledge? The knowledge that rebirth is a condition for old age and death, and the knowledge that when rebirth doesn’t exist, there is no old age and death. Also regarding the past: the knowledge that rebirth is a condition for old age and death, and the knowledge that when rebirth doesn’t exist, there is no old age and death. Also regarding the future: the knowledge that rebirth is a condition for old age and death, and the knowledge that when rebirth doesn’t exist, there is no old age and death. And also their knowledge that even this knowledge of the stability of natural principles is liable to end, vanish, fade away, and cease.
The knowledge that continued existence is a condition for rebirth … The knowledge that ignorance is a condition for choices, and the knowledge that when ignorance doesn’t exist, there are no choices. Also regarding the past: the knowledge that ignorance is a condition for choices, and the knowledge that when ignorance doesn’t exist, there are no choices. Also regarding the future: the knowledge that ignorance is a condition for choices, and the knowledge that when ignorance doesn’t exist, there are no choices. And also their knowledge that even this knowledge of the stability of natural principles is liable to end, vanish, fade away, and cease. These are called the seventy-seven grounds for knowledge."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy mươi bảy căn bản của trí. Hãy nghe và khéo tư niệm… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy mươi bảy căn bản của trí?
3. Trí biết rằng già chết do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời không có già. Trí biết rằng trong quá khứ già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời không có già chết. Trí biết rằng trong tương lai già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời sẽ không có già chết. Phàm khi nào có trí về trú pháp, chỗ ấy cũng có trí tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.
4. Trí biết rằng sanh do duyên hữu…
5. Trí biết rằng hữu do duyên thủ…
6. Trí biết rằng thủ do duyên ái…
7. Trí biết rằng ái do duyên thọ…
8. Trí biết rằng thọ do duyên xúc…
9. Trí biết rằng xúc do duyên sáu xứ…
10. Trí biết rằng sáu xứ do duyên danh sắc…
11. Trí biết rằng danh sắc do duyên thức…
12. Trí biết rằng thức do duyên hành…
13. Trí biết rằng hành do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời không có hành. Trí biết rằng trong quá khứ hành cũng do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời không có hành. Trí biết rằng trong tương lai hành cũng sẽ do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời sẽ không có hành. Phàm khi nào có trí về trú pháp, thời cũng có trí về tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.
14. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bảy mươi bảy căn bản của trí.
At Sāvatthī.
"Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates."
When this was said, one of the mendicants asked the Buddha, “What are old age and death, sir, and who do they belong to?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha. “You might say, ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Old age and death are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are the same thing, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Rebirth is a condition for old age and death.’”
“What is rebirth, sir, and who does it belong to?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha. “You might say, ‘What is rebirth, and who does it belong to?’ Or you might say, ‘Rebirth is one thing, who it belongs to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are the same thing, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Continued existence is a condition for rebirth.’”
“What is continued existence, sir, and who is it for?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha. “You might say, ‘What is continued existence, and who does it belong to?’ Or you might say, ‘Continued existence is one thing, who it belongs to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are identical, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Grasping is a condition for continued existence.’ … ‘Craving is a condition for grasping.’ … ‘Feeling is a condition for craving.’ … ‘Contact is a condition for feeling.’ … ‘The six sense fields are conditions for contact.’ … ‘Name and form are conditions for the six sense fields.’ … ‘Consciousness is a condition for name and form.’ … ‘Choices are a condition for consciousness.’”
“What are choices, sir, and who do they belong to?”
“That’s not a fitting question,” said the Buddha. "You might say, ‘What are choices, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Choices are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are the same thing, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a condition for choices.’
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ or ‘old age and death are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are the same thing’, or ‘the soul and the body are different things.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is rebirth, and who does it belong to?’ or ‘rebirth is one thing, who it belongs to is another’, or ‘the soul and the body are the same thing’, or ‘the soul and the body are different things.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are choices, and who do they belong to?’ or ‘choices are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are the same thing’, or ‘the soul and the body are different things.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future."
1. … Trú ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có thức… như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
3. − Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là già chết, và già chết này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Già chết là khác và người già và chết là khác”, hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên sanh nên có già chết”.
4. − Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Sanh là khác và người sanh là khác”, hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên hữu nên có sanh”.
5. − Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?
Thế Tôn nói:
− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể hỏi: “Thế nào là hữu và hữu này của ai?”, hay Ông có thể nói: “Hữu khác và người có hữu này khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên thủ nên có hữu”.
6. − Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?.. (như trên)… Do duyên ái nên có thủ.
7.… Do duyên thọ nên có ái…
8.… Do duyên xúc nên có thọ…
9.… Do duyên sáu xứ nên có xúc…
10.… Do duyên danh sắc nên có sáu xứ…
11.… Do duyên thức nên có danh sắc…
12.… Do duyên hành nên có thức…
13. − Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là của ai?
Thế Tôn đáp:
− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên vô minh nên có các hành”. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).
14. Như câu hỏi: “Thế nào là già chết và già chết này là của ai?”. Hay “Già chết là khác và người có già chết là khác?” hay “Sinh mạng và thân thể này là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).
15. Như câu hỏi: “Thế nào là sanh và sanh này là của ai?”. Hay “Sanh là khác và người có sanh là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).
16. Thế nào là hữu…
17. Thế nào là thủ…
18. Thế nào là ái…
19. Thế nào là thọ…
20. Thế nào là xúc…
21. Thế nào là sáu xứ…
22. Thế nào là danh sắc…
23. Thế nào là thức… Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).
24. Như câu hỏi: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”. Hay “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
At Sāvatthī.
"Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.
Mendicants, you might say, ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Old age and death are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. If you have the view that the soul and the body are the same thing, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Rebirth is a condition for old age and death.’
‘What is rebirth …’ ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’ You might say, ‘What are choices, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Choices are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. If you have the view that the soul and the body are identical, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul and the body are different things, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a condition for choices.’
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ or ‘old age and death are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are identical’, or ‘the soul and the body are different things’. These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is rebirth …’ ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’ ‘What are choices, and who do they belong to?’ or ‘choices are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are identical’, or ‘the soul and the body are different things’. These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh nên có các hành. Do duyên hành nên có thức… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
3. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Thế nào là già chết và già chết này của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Già chết là khác và người có già chết là khác” hai câu này đồng một nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng là khác, thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng: “Do duyên sanh có già chết…”…
4. Thế nào là sanh?..
5. Thế nào là hữu?..
6. Thế nào là thủ?..
7. Thế nào là ái?..
8. Thế nào là thọ?..
9. Thế nào là xúc?..
10. Thế nào là sáu xứ?..
11. Thế nào là danh sắc?..
12. Thế nào là thức?..
13. − Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Các hành và người có các hành này khác”, hai câu hỏi ấy đồng nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo nói rằng: “Do duyên vô minh, có các hành”.
14. Do sự đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào…
15. Thế nào là sanh?..
16. Thế nào là hữu?..
17. Thế nào là thủ?..
18. Thế nào là ái?..
19. Thế nào là thọ?..
20. Thế nào là xúc?..
21. Thế nào là sáu xứ?..
22. Thế nào là danh sắc?..
23. Thế nào là thức?..
24. “Thế nào là hành và những hành này là của ai?” Hay “Các hành là khác và có ai có những hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả những loại liên hệ này được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
At Sāvatthī.
"Mendicants, this body doesn’t belong to you or to anyone else. It’s old deeds, and should be seen as produced by choices and intentions, as something to be felt.
A learned noble disciple carefully and rationally applies the mind to dependent origination itself: 'When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is: Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thân thể này không phải của các Ông, không phải của người khác.
3. Thân này, này các Tỷ-kheo, phải được xem là do hành động, do sắp đặt, do sự cố ý, do sự cảm thọ trong quá khứ.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đa văn khéo léo chân chánh suy nghiệm định lý duyên khởi như sau:
5. "Cái này có mặt cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. "Tức là do duyên vô minh có các hành. Do duyên hành có thức… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
At Sāvatthī.
"Mendicants, what you intend or plan, and what you have underlying tendencies for become a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, there is rebirth into a new state of existence in the future. When there is rebirth into a new state of existence in the future, future rebirth, old age, and death come to be, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan, but still have underlying tendencies, this becomes a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, there is rebirth into a new state of existence in the future. When there is rebirth into a new state of existence in the future, future rebirth, old age, and death come to be, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan or have underlying tendencies, this doesn’t become a support for the continuation of consciousness. With no support, consciousness is not established. When consciousness is not established and doesn’t grow, there’s no rebirth into a new state of existence in the future. When there is no rebirth into a new state of existence in the future, future rebirth, old age, and death cease, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, cái chúng ta tư niệm, tư lường, có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
3. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường nhưng nếu có thầm ý, (canuseti), cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không có tư niệm, không có tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên không có mặt thời thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng, nên trong tương lai tái hữu không sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu không có mặt trong tương lai, nên sanh, già chết, sầu, bi, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
At Sāvatthī.
"Mendicants, what you intend or plan, and what you have underlying tendencies for become a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established, name and form are conceived. Name and form are conditions for the six sense fields. The six sense fields are conditions for contact. Contact is a condition for feeling. … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan, but still have underlying tendencies, this becomes a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established, name and form are conceived. Name and form are conditions for the six sense fields. … That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan or have underlying tendencies, this doesn’t become a support for the continuation of consciousness. With no support, consciousness is not established. When consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, chúng ta tư lường, chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành (sở duyên) cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
3. Do duyên danh sắc nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ… ái… thủ… hữu… sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường nhưng có thầm ý, thời cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
5. Do duyên danh sắc nên có sáu xứ… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
6. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng nên danh sắc không hạ sanh. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
At Sāvatthī.
"Mendicants, what you intend or plan, and what you have underlying tendencies for become a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, there is an inclination. When there is an inclination, there is coming and going. When there is coming and going, there is passing away and reappearing. When there is passing away and reappearing, future rebirth, old age, and death come to be, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan, but still have underlying tendencies, this becomes a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, there is an inclination. When there is an inclination, there is coming and going. When there is coming and going, there is passing away and reappearing. When there is passing away and reappearing, future rebirth, old age, and death come to be, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering originates.
If you don’t intend or plan or have underlying tendencies, this doesn’t become a support for the continuation of consciousness. With no support, consciousness is not established. When consciousness is not established and doesn’t grow, there’s no inclination. When there’s no inclination, there’s no coming and going. When there’s no coming and going, there’s no passing away and reappearing. When there’s no passing away and reappearing, future rebirth, old age, and death cease, as do sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an trú.
3. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về (hệ trước: nati). Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường, nhưng chỉ có thầm ý, thời cái ấy là sở duyên cho thức an trú. Do sự có mặt của sở duyên nên thức an trú.
5. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi, nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
6. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không có an trú.
7. Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
At Sāvatthī.
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Seated to one side, the Buddha said to the householder Anāthapiṇḍika:
"Householder, when a noble disciple has quelled five dangers and threats, has the four factors of stream-entry, and has clearly seen and comprehended the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am bound for awakening.’
What are the five dangers and threats they have quelled? Anyone who kills living creatures creates dangers and threats both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. That danger and threat is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
Anyone who steals creates dangers and threats both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. That danger and threat is quelled for anyone who refrains from stealing.
Anyone who commits sexual misconduct creates dangers and threats both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. That danger and threat is quelled for anyone who refrains from committing sexual misconduct.
Anyone who lies creates dangers and threats both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. That danger and threat is quelled for anyone who refrains from lying.
Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants creates dangers and threats both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. That danger and threat is quelled for anyone who refrains from consuming beer, wine, and liquor intoxicants. These are the five dangers and threats they have quelled.
What are the four factors of stream-entry that they have? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
They have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, sincere, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individuals. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.’
And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. These are the four factors of stream-entry that they have.
And what is the noble system that they have clearly seen and comprehended with wisdom? A noble disciple carefully and rationally applies the mind to dependent origination itself: 'When this exists, that is; when this doesn’t exist, that is not. Due to the arising of this, that arises; due to the cessation of this, that ceases. Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.’ This is the noble system that they have clearly seen and comprehended with wisdom.
When a noble disciple has quelled five dangers and threats, has the four factors of stream-entry, and has clearly seen and comprehended the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am bound for awakening.’"
1. Trú ở Sàvatthi…
2. Rồi Gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên :
3. − Khi nào, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi, hận thù, khi nào được đầy đủ bốn dự lưu chi, khi nào Thánh lý (nàya) nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy, vị ấy nếu muốn có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định, Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu (của ta)”.
4. Thế nào là năm sợ hãi, hận thù được nhiếp phục?
5. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sát sinh, vì duyên sát sinh đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt sát sanh, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
6. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho, vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt lấy của không cho, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
7. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh trong các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt sống tà hạnh trong các dục vọng, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
8. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người nói láo, và duyên nói láo đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt nói láo, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
9. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu men, rượu nấu, và duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt đắm say rượu men rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Năm sự sợ hãi oán thù này được nhiếp phục.
II
10. − Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?
11. Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử đầy đủ lòng tin bất động, đối với đức Phật: “Ðây là vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Tượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
12. Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu”.
13. Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời”.
14. Vị ấy đầy đủ các giới đức, được bậc Thánh quý mến, không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến tự do, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định, bốn Dự lưu chi này được đầy đủ.
15. Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập?
16. Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy định lý Duyên khởi như sau: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này diệt, cái kia diệt”.
17. Tức là do duyên vô minh có hành. Do duyên hành có thức… (như trên)… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Ðây là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập.
18. Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù này, khi nào đầy đủ bốn Dự lưu chi này, khi nào Thánh lý này nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định; Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.
At Sāvatthī.
"Mendicants, when a noble disciple has quelled five dangers and threats, has the four factors of stream-entry, and has clearly seen and comprehended the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am bound for awakening.’
What are the five dangers and threats they have quelled? Killing living creatures … stealing … sexual misconduct … lying … consuming beer, wine, and liquor intoxicants … These are the five dangers and threats they have quelled.
What are the four factors of stream-entry that they have? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … and their ethical conduct is loved by the noble ones. These are the four factors of stream-entry that they have.
And what is the noble system that they have clearly seen and comprehended with wisdom? A noble disciple carefully and rationally applies the mind to dependent origination itself … This is the noble system that they have clearly seen and comprehended with wisdom.
When a noble disciple has quelled five dangers and threats, has the four factors of stream-entry, and has clearly seen and comprehended the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am bound for awakening.’"
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… (như trên)… Thế Tôn nói như sau:
3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù, đầy đủ bốn Dự lưu chi, và khi nào Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục… (như trên)… Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.
Thế nào là năm sợ hãi hận thù được nhiếp phục?
Này các Tỷ-kheo, sợ hãi hận thù do người sát sanh… này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho…
Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh trong các dục…
Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người nói láo…
Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu men, rượu nấu.
Năm sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.
4. Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đối với Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Ðầy đủ các giới đức được bậc Thánh quý mến…
Bốn Dự lưu chi này được đầy đủ.
5. Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy định lý Duyên khởi như sau:… Ðây là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập.
6. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù, được đầy đủ bốn Dưu lưu chi, Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, vị ấy nếu muốn có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn điệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định, Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you the origin and ending of suffering. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what, mendicants, is the origin of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. This is the origin of suffering.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. … Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. … Body consciousness arises dependent on the body and touches. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. This is the origin of suffering.
And what is the ending of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of suffering.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. … Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. … Body consciousness arises dependent on the body and touches. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of suffering."
1. … Trú Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sự tập khởi và sự đoạn diệt của khổ. Hãy nghe…
I
3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?
4. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội nên xúc khởi. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.
5. Do duyên tai và các tiếng…
6. Do duyên mũi và các hương…
7. Do duyên lưỡi và các vị…
8. Do duyên thân và các xúc…
9. Do duyên ý và các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.
II
10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
11. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.
12. Do duyên lỗ tai và các tiếng, nên nhĩ thức sanh khởi…
13. Do duyên mũi và các hương, nên tỷ thức sanh khởi…
14. Do duyên lưỡi và các vị nên thiệt thức sanh khởi…
15. Do duyên thân và các xúc nên thân xúc sanh khởi…
16. Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
17. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you the origin and ending of the world. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"And what, mendicants, is the origin of the world? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. This is the origin of the world.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. … Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. … Body consciousness arises dependent on the body and touches. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. … Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. This is the origin of the world.
And what is the ending of the world? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of the world.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. … Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. … Body consciousness arises dependent on the body and touches. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of the world."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế giới. Hãy nghe…
I
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?
4. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ họp, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh, nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.
5. Do duyên lỗ tai và các tiếng…
6. Do duyên lỗ mũi và các hương…
7. Do duyên lưỡi và các vị…
8. Do duyên thân và các xúc…
9. Do duyên ý với các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ… Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, đây là sự tập khởi của thế giới.
10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?
11. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Ðây là sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này. Ðây là thế giới đoạn diệt.
12. Do duyên lỗ tai và các tiếng…
13. Do duyên lỗ mũi và các hương…
14. Do duyên lưỡi và các vị…
15. Do duyên thân và các xúc…
16. Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Ðây là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
17. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt.
So I have heard. At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. Then while the Buddha was in private retreat he spoke this exposition of the teaching:
"Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. … Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. … Body consciousness arises dependent on the body and touches. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. … Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
Now at that time a certain monk was standing listening in on the Buddha. The Buddha saw him and said, “Monk, did you hear that exposition of the teaching?”
“Yes, sir.”
“Learn that exposition of the teaching, memorize it, and remember it. That exposition of the teaching is beneficial and relates to the fundamentals of the spiritual life.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Nàtika, trong căn nhà gạch.
2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tọa tuyên thuyết pháp môn này:
3. − Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4. Do duyên lỗ tai và các tiếng…
5. Do duyên lỗ mũi và các hương…
6. Do duyên lưỡi và các vị…
7. Do duyên thân và các xúc…
8. Do duyên ý và các pháp nên ý thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
9. Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
10. Do duyên lỗ tai và các tiếng…
11. Do duyên lỗ mũi và các hương…
12. Do duyên lưỡi và các vị…
13. Do duyên thân và các xúc…
14. Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
II
15. Lúc bấy giờ một vị Tỷ-kheo đang đứng nghe trộm Thế Tôn.
16. Thế Tôn thấy vị Tỷ-kheo đang đứng nghe trộm.
17. Sau khi thấy, Thế Tôn nói với vị Tỷ-kheo ấy:
− Này Tỷ-kheo, Ông có nghe pháp môn này không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
18. − Này Tỷ-kheo, Ông hãy học pháp môn này. Này Tỷ-kheo, Ông hãy học thuộc lòng pháp môn này. Này Tỷ-kheo, pháp môn (này) liên hệ đến mục đích và căn bản Phạm hạnh.
At Sāvatthī.
Then a certain brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, does the person who does the deed experience the result?”
“‘The person who does the deed experiences the result’: this is one extreme, brahmin.”
“Then does one person do the deed and another experience the result?”
"‘One person does the deed and another experiences the result’: this is the second extreme.
Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: 'Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
When he said this, the brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. … Trú Tại Sàvatthi.
2. Rồi một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động là người cảm thọ?
− Này Bà-la-môn, người hành động là người cảm thọ, ấy là một cực đoan.
4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động khác, người cảm thọ khác?
− Người hành động khác, và người cảm thọ khác, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Thế Tôn thuyết pháp theo trung đạo.
5. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
6. Khi được nói vậy, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
At Sāvatthī.
Then the brahmin Jānussoṇi went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. Seated to one side he said to the Buddha:
“Worthy Gotama, does all exist?”
“‘All exists’: this is one extreme, brahmin.”
“Then does all not exist?”
"‘All does not exist’: this is the second extreme.
Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: 'Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
When he said this, the brahmin Jānussoṇi said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm…
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
3. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?
− Này Bà-la-môn, tất cả đều có, ấy là một cực đoan.
4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?
− Này Bà-la-môn tất cả đều không có, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
5. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức… (như trên)… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh ấy một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
6. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!..
At Sāvatthī.
Then a brahmin cosmologist went up to the Buddha … Seated to one side he said to the Buddha:
“Worthy Gotama, does all exist?”
“‘All exists’: this is the oldest cosmology, brahmin.”
“Then does all not exist?”
"‘All does not exist’: this is the second cosmology.
“Well, is all a unity?”
"‘All is a unity’: this is the third cosmology.
“Then is all a plurality?”
"‘All is a plurality’: this is the fourth cosmology.
Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: 'Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'"
When he said this, the brahmin cosmologist said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi một Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế đi đến Thế Tôn…
Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:
3. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?
− Này Bà-la-môn, tất cả đều có, là chấp kiến thứ nhất của thế gian.
4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?
− Tất cả đều không có, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ hai của thế gian.
5. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là một?
− Tất cả đều là một, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ ba của thế gian.
6. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là nhiều?
− Tất cả đều là nhiều, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ tư của thế gian.
Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo.
7. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
8. Khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!.. con xin trọn đời quy ngưỡng.
At Sāvatthī.
"Mendicants, a learned noble disciple doesn’t think: ‘When what exists, what is? Due to the arising of what, what arises? When what exists do name and form come to be? When what exists do the six sense fields … contact … feeling … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death come to be?’
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When ignorance exists choices come to be. When choices exist consciousness comes to be. When consciousness exists name and form come to be. When name and form exist the six sense fields come to be. When the six sense fields exist contact comes to be. When contact exists feeling comes to be. When feeling exists craving comes to be. When craving exists grasping comes to be. When grasping exists continued existence comes to be. When continued existence exists rebirth comes to be. When rebirth exists old age and death come to be.’ They understand: ‘This is the origin of the world.’
A learned noble disciple doesn’t think: ‘When what doesn’t exist, what is not? Due to the cessation of what, what ceases? When what doesn’t exist do choices not come to be? When what doesn’t exist do name and form not come to be? When what doesn’t exist do the six sense fields … contact … feeling … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death not come to be?’
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. When ignorance doesn’t exist choices don’t come to be. When choices don’t exist consciousness doesn’t come to be. When consciousness doesn’t exist name and form don’t come to be. When name and form don’t exist the six sense fields don’t come to be. … continued existence doesn’t come to be … rebirth doesn’t come to be … When rebirth doesn’t exist old age and death don’t come to be.’ They understand: ‘This is the cessation of the world.’
A noble disciple comes to understand the world, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. Such a noble disciple is one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands knocking at the door to freedom from death’."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”
3. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Do duyên sanh nên có già chết. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này”.
4. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, danh sắc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sáu xứ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, xúc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thọ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, ái không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thủ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, hữu không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”.
5. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên theo người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không không có mặt, sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu. Do xúc không có mặt, thọ không hiện hữu. Do thọ không có mặt, ái không hiện hữu. Do ái không có mặt, thủ không hiện hữu. Do thủ không có mặt, hữu không hiện hữu. Do hữu không có mặt, sanh không hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.
6. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế gian như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử này được gọi là kiến đạt… (như trên)… đã đứng gõ cửa bất tử.
At Sāvatthī.
"Mendicants, a learned noble disciple doesn’t think: ‘When what exists, what is? Due to the arising of what, what arises? When what exists do choices come to be? When what exists does consciousness come to be? When what exists do name and form … the six sense fields … contact … feeling … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death come to be?’
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When ignorance exists, choices come to be. When choices exist consciousness comes to be. When consciousness exists name and form come to be. When name and form exist the six sense fields come to be. When the six sense fields exist contact comes to be. When contact exists feeling comes to be. When feeling exists craving comes to be. When craving exists grasping comes to be. When grasping exists continued existence comes to be. When continued existence exists rebirth comes to be. When rebirth exists old age and death come to be.’ They understand: ‘This is the origin of the world.’
A learned noble disciple doesn’t think: ‘When what doesn’t exist, what is not? Due to the cessation of what, what ceases? When what doesn’t exist do choices not come to be? When what doesn’t exist does consciousness not come to be? When what doesn’t exist do name and form … the six sense fields … contact … feeling … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death not come to be?’
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is: When ignorance doesn’t exists, choices don’t come to be. When choices don’t exist consciousness doesn’t come to be. When consciousness doesn’t exist name and form don’t come to be. When name and form don’t exist the six sense fields don’t come to be. … When rebirth doesn’t exist old age and death don’t come to be.’ They understand: ‘This is the cessation of the world.’
A noble disciple comes to understand the world, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. Such a noble disciple is one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pushing open the door to freedom from death’."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Có phải do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, thức hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do vô minh có mặt, hành hiện hữu. Do hành có mặt, thức hiện hữu. Do thức có mặt, danh sắc hiện hữu. Do danh sắc có mặt, sáu xứ hiện hữu. Do sáu xứ có mặt, xúc hiện hữu. Do xúc có mặt, thọ hiện hữu. Do thọ có mặt, ái hiện hữu. Do ái có mặt, thủ hiện hữu. Do thủ có mặt, hữu hiện hữu. Do hữu có mặt, sanh hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này.
4. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không suy nghĩ như sau: “Có phải, do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, các hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu… (như trên)… Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
5. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu? Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không có mặt,sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu… (như trên)… Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.
6. Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế giới này như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là kiến đạt, vị ấy thấy diệu pháp này, vị ấy đầy đủ trí của bậc hữu học, vị ấy đầy đủ minh của bậc hữu học, đã nhập được Pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, là vị đã đứng gõ cửa bất tử.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, when a mendicant is inquiring, how do you define when they are inquiring for the complete ending of suffering?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"Mendicants, take a mendicant who makes an inquiry: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. What is the source, origin, birthplace, and inception of this suffering? When what exists do old age and death come to be? When what does not exist do old age and death not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. The source of this suffering is rebirth. When rebirth exists, old age and death come to be. When rebirth doesn’t exist, old age and death don’t come to be.’
They understand old age and death, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of old age and death.
Then they inquire further: ‘But what is the source of this rebirth? When what exists does rebirth come to be? And when what does not exist does rebirth not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘Continued existence is the source of rebirth. When continued existence exists, rebirth comes to be. When continued existence does not exist, rebirth doesn’t come to be.’
They understand rebirth, its origin, its cessation, and the fitting practice for its cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of rebirth.
Then they inquire further: ‘But what is the source of this continued existence? …’ … ‘But what is the source of this grasping? …’ … ‘But what is the source of this craving? …’ … ‘But what is the source of this feeling? …’ … ‘But what is the source of this contact? …’ … ‘But what is the source of these six sense fields? …’ … ‘But what is the source of this name and form? …’ … ‘But what is the source of this consciousness? …’ … ‘But what is the source of these choices? When what exists do choices come to be? When what does not exist do choices not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘Ignorance is the source of choices. When ignorance exists, choices come to be. When ignorance does not exist, choices don’t come to be.’
They understand choices, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of choices.
If an ignorant individual makes a good choice, their consciousness enters a good realm. If they make a bad choice, their consciousness enters a bad realm. If they make an imperturbable choice, their consciousness enters an imperturbable realm. When a mendicant has given up ignorance and given rise to knowledge, they don’t make a good choice, a bad choice, or an imperturbable choice. Not choosing or intending, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
If they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a pleasant feeling, they feel it detached. If they feel a painful feeling, they feel it detached. If they feel a neutral feeling, they feel it detached.
Feeling the end of the body approaching, they understand: ‘I feel the end of the body approaching.’ Feeling the end of life approaching, they understand: ‘I feel the end of life approaching.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here. Only bodily remains will be left.’
Suppose a person were to remove a hot clay pot from a potter’s kiln and place it down on level ground. Its heat would dissipate right there, and the shards would be left behind.
In the same way, feeling the end of the body approaching, they understand: ‘I feel the end of the body approaching.’ Feeling the end of life approaching, they understand: ‘I feel the end of life approaching.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here. Only bodily remains will be left.’
What do you think, mendicants? Would a mendicant who has ended the defilements still make good choices, bad choices, or imperturbable choices?"
“No, sir.”
“And when there are no choices at all, with the cessation of choices, would consciousness still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no consciousness at all, would name and form still be found?”
“No, sir.”
“And when there are no name and form at all, would the six sense fields still be found?”
“No, sir.”
“And when there are no six sense fields at all, would contact still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no contact at all, would feeling still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no feeling at all, would craving still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no craving at all, would grasping still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no grasping at all, would continued existence still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no continued existence at all, would rebirth still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no rebirth at all, would old age and death still be found?”
“No, sir.”
“Good, good, mendicants! That’s how it is, not otherwise. Trust me on this, mendicants; be convinced. Have no doubts or uncertainties in this matter. Just this is the end of suffering.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tư lường, phải tư lường như thế nào để chơn chánh diệt khổ một cách trọn vẹn?
− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
4. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
5. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đang tư lường, tư lường như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết; sự đau khổ này lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
6. Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết, sự đau khổ này lấy sanh làm nhân, lấy sanh làm tập khởi, lấy sanh làm tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”.
7. Và vị ấy biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành.
8. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt già chết.
9. Tư lường thêm nữa, vị ấy tư lường như sau: “Còn hữu này, do cái gì làm nhân? Còn thủ này, do cái gì làm nhân? Còn ái này, do cái gì làm nhân? Còn thọ này, do cái gì làm nhân? Còn xúc này… Còn sáu xứ này… Còn danh sắc này… Còn thức này… Còn các hành này, do cái gì làm nhân, cái gì tập khởi, cái gì tác sanh, cái gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì không có mặt các hành không hiện hữu?”
10. Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt, các hành hiện hữu. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu”.
11. Và vị ấy biết các hành, biết các hành tập khởi, biết các hành đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến các hành đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành. Này các Tỷ kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt các hành.
12. Này các Tỷ-kheo, nếu người nào bị vô minh chi phối, dự tính làm phước hành, thức (của người ấy) đi đến phước. Nếu người ấy dự tính làm phi phước hành, thức (của người ấy) đi đến phi phước. Nếu người ấy dự tính làm bất động hành, thức (của người ấy) đi đến bất động.
13. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước hành, không dự tính làm bất động hành.
14. Không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
15. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.
16. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (visannutto).
17. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
18. Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
19. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
20. − Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
21. − Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
22. − Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
23. − Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
24. − Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
25. − Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
26. − Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
27. − Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
28. − Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
29. − Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
30. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.
At Sāvatthī.
"There are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose a great mass of fire was burning with ten, twenty, thirty, or forty loads of wood. And from time to time someone would toss in dry grass, cow dung, or wood. Fed and fuelled by that, the bonfire would burn for a long time.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
There are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose a great mass of fire was burning with ten, twenty, thirty, or forty loads of wood. And no-one would toss in dry grass, cow dung, or wood from time to time. As the original fuel is used up and no more is added, the great mass of fire would be extinguished due to not being fed.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniyadhammà), ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỷ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
6. Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. And from time to time someone would pour oil in and adjust the wick. Fed and fuelled by that, the oil lamp would burn for a long time.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. And no-one would pour oil in and adjust the wick from time to time. As the original fuel is used up and no more is added, the oil lamp would be extinguished due to not being fed.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng rót dầu thêm và khơi tim lên. Này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
6. Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng rót thêm dầu vào và không khơi tim lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngọn đèn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt và do (nhiên liệu) khác không được đem thêm, không được nuôi dưỡng, sẽ bị tắt.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"Mendicants, suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. And from time to time someone would pour oil in and adjust the wick. Fed and fuelled by that, the oil lamp would burn for a long time.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. And no-one would pour oil in and adjust the wick from time to time. As the original fuel is used up and no more is added, the oil lamp would be extinguished due to not being fed.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ví như duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy có người thỉnh thoảng rót thêm dầu và khơi tim lên. Này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Này các Tỷ-kheo, ví như duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng rót thêm dầu và khơi tim lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy do chính (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem thêm, không được nuôi dưỡng, sẽ bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. … (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"There are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
There are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. They’d cut the tree down at the roots, dig it up, and pull the roots out, down to the fibers and stems. They’d cut the tree apart, cut up the parts, and chop it into splinters. They’d dry the splinters in the wind and sun, burn them with fire, and reduce them to ashes. Then they’d winnow the ashes in a strong wind, or float them away down a swift stream. In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm sâu xuống dưới và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều đem lên nhựa sống cho cây ấy. Này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
4. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
5. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có một người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ các rễ lớn cho đến các rễ con, các rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc. Sau khi chặt cây thành từng khúc, người ấy bửa, sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi vun thành đống tro, người ấy sàng tro ấy giữa gió lớn hay đổ tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy được sự nguy hiểm trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"Mendicants, suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. They’d cut the tree down at the roots, dig them up, and pull them out, down to the fibers and stems. They’d cut the tree apart, cut up the parts, and chop it into splinters. They’d dry the splinters in the wind and sun, burn them with fire, and reduce them to ashes. Then they’d winnow the ashes in a strong wind, or float them away down a swift stream. In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ví như có một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm sâu xuống dưới và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều đem lên nhựa sống cho cây ấy. Này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
4. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ các rễ lớn… (như trên)… hay đổ tro vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho cây ấy không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a sapling. And from time to time someone would clear around the roots, supply soil, and water it. Fed and fuelled by that, the sapling would grow, increase, and mature.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose there was a sapling. Then a person comes along with a spade and basket. … They’d cut the sapling apart, cut up the parts, and chop it into splinters. They’d dry the splinters in the wind and sun, burn them with fire, and reduce them to ashes. Then they’d winnow the ashes in a strong wind, or float them away down a swift stream. In this way the sapling is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ được sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây non, có người thỉnh thoảng vun xới các rễ, thỉnh thoảng bỏ thêm phân, thỉnh thoảng tưới thêm nước. Này các Tỷ-kheo, cây non ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây non, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy, sau khi chặt đứt, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc. Sau khi chặt từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa nắng và gió, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi vun thành đống tro, người ấy sàng tro ấy giữa gió lớn hay đổ tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây non ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, name and form are conceived. Name and form are conditions for the six sense fields. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, name and form are conceived. …
There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. … In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. … Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm thẳng xuống dưới và đâm ngang ra, tất cả rễ ấy đem lên nhựa sống. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể được đứng vững trong một thời gian dài.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi…
(như trên)…
5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có một người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ… (như trên)… Trong tương lai không thể sống lại được.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At Sāvatthī.
"There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, consciousness is conceived.
Consciousness is a condition for name and form. … That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. …
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the gratification provided by these things, consciousness is conceived. …
There are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, consciousness is not conceived. When consciousness ceases, name and form cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. … In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that are prone to being fettered. When you concentrate on the drawbacks of these things, consciousness is not conceived. When consciousness ceases, name and form cease. … That is how this entire mass of suffering ceases."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, thức được sanh khởi. Do duyên thức, nên danh sắc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, rễ của các cây ấy… (như trên)…
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, thức được sanh khởi. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, thức không sanh. Do thức diệt nên danh sắc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ… (như trên)… trong tương lai không thể sống lại được.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, thức không có sanh khởi. Do thức diệt nên danh sắc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kurus, near the Kuru town named Kammāsadamma. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the Buddha:
“It’s incredible, sir! It’s amazing, in that this dependent origination is deep and appears deep, yet to me it seems as plain as can be.”
"Not so, Ānanda! Not so, Ānanda! This dependent origination is deep and appears deep. It is because of not understanding and not penetrating this teaching that this population has become tangled like string, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, and it doesn’t escape the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.
There are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
Suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. … That is how this entire mass of suffering originates.
There are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. They’d cut the tree down at the roots, dig them up, and pull them out, down to the fibers and stems. Then they’d split the tree apart, cut up the parts, and chop it into splinters. They’d dry the splinters in the wind and sun, burn them with fire, and reduce them to ashes. Then they’d winnow the ashes in a strong wind, or float them away down a swift stream. In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases."
1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammàsadamma.
2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
4. − Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Sâu xa thay, này Ananda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ananda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập (pháp này) mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
5. Này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn khổ uẩn này tập khởi.
6. Này Ananda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ananda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
7. Cũng vậy, này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
8. Này Ananda, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
9. Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.
10. Như vậy, này Ananda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. …
"Mendicants, when it comes to this body made up of the four principal states, an unlearned ordinary person might become disillusioned, dispassionate, and freed. Why is that? This body made up of the four principal states is seen to accumulate and disperse, to be taken up and laid to rest. That’s why, when it comes to this body, an unlearned ordinary person might become disillusioned, dispassionate, and freed.
But when it comes to that which is called ‘mind’ and also ‘sentience’ and also ‘consciousness’, an unlearned ordinary person is unable to become disillusioned, dispassionate, or freed. Why is that? Because for a long time they’ve been attached to it, thought of it as their own, and mistaken it: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ That’s why, when it comes to this mind, an unlearned ordinary person is unable to become disillusioned, dispassionate, and freed.
But an unlearned ordinary person would be better off taking this body made up of the four principal states to be their self, rather than the mind. Why is that? This body made up of the four principal states is seen to last for a year, or for two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, or a hundred years, or even longer.
But that which is called ‘mind’ and also ‘sentience’ and also ‘consciousness’ arises as one thing and ceases as another all day and all night. It’s like a monkey moving through the forest. It grabs hold of one branch, lets it go, and grabs another; then it lets that go and grabs yet another. In the same way, that which is called ‘mind’ and also ‘sentience’ and also ‘consciousness’ arises as one thing and ceases as another all day and all night.
In this case, a learned noble disciple carefully and rationally applies the mind to dependent origination itself: 'When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is: Ignorance is a condition for choices.
Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.’
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.
3. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.
Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.
4. Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
5. Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
6. Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.
7. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
8. Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống, nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức sanh khởi… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
10. Do đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
11. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết được: “Ta giải thoát”, vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
"Mendicants, when it comes to this body made up of the four principal states, an unlearned ordinary person might become disillusioned, dispassionate, and freed. Why is that? This body made up of the four principal states is seen to accumulate and disperse, to be taken up and laid to rest. That’s why, when it comes to this body, an unlearned ordinary person might become disillusioned, dispassionate, and freed. But when it comes to that which is called ‘mind’ and also ‘sentience’ and also ‘consciousness’, an unlearned ordinary person is unable to become disillusioned, dispassionate, or freed. Why is that? Because for a long time they’ve been attached to it, thought of it as their own, and mistaken it: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ That’s why, when it comes to this mind, an unlearned ordinary person is unable to become disillusioned, dispassionate, and freed.
But an unlearned ordinary person would be better off taking this body made up of the four principal states to be their self, rather than the mind. Why is that? This body made up of the four principal states is seen to last for a year, or for two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, or a hundred years, or even longer. But that which is called ‘mind’ and also ‘sentience’ and also ‘consciousness’ arises as one thing and ceases as another all day and all night.
In this case, a learned noble disciple carefully and rationally applies the mind to dependent origination itself: 'When this exists, that is; due to the arising of this, that arises. When this doesn’t exist, that is not; due to the cessation of this, that ceases. That is: Pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. With the cessation of that contact to be experienced as pleasant, the corresponding pleasant feeling ceases and stops. Painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful. With the cessation of that contact to be experienced as painful, the corresponding painful feeling ceases and stops. Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral. With the cessation of that contact to be experienced as neutral, the corresponding neutral feeling ceases and stops.
When you rub two sticks together, heat is generated and fire is produced. But when you part the sticks and lay them aside, any corresponding heat ceases and stops. In the same way, pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. With the cessation of that contact to be experienced as pleasant, the corresponding pleasant feeling ceases and stops. Painful feeling … Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral. With the cessation of that contact to be experienced as neutral, the corresponding neutral feeling ceases and stops.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, có thể viễn ly, có thể giải thoát đối với cái thân do bốn đại tạo thành này.
3. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả. Do vậy, ở đây, kể vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.
4. Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
5. Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
6. Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này, xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.
7. Vì sao? này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”.
9. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt.
10. Này các Tỷ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt.
11. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.
12. Ví như, này các Tỷ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt.
13. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ nên lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy chấm dứt.
14. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ…
15. Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ ấy được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.
16. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên, biết rằng: “Ta đã giải thoát”, vị ấy biết rõ : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are these four fuels. They maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born. What four? Solid food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. These are the four fuels that maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born.
And how should you regard solid food? Suppose a couple who were husband and wife set out to cross a desert, taking limited supplies. They had an only child, dear and beloved. As the couple were crossing the desert their limited quantity of supplies would run out, and they’d still have the rest of the desert to cross. Then it would occur to that couple: ‘Our limited quantity of supplies has run out, and we still have the rest of the desert to cross. Why don’t we kill our only child, so dear and beloved, and prepare dried and spiced meat? Then we can make it across the desert by eating our child’s flesh. Let not all three perish.’ Then that couple would kill their only child, so dear and beloved, and prepare dried and spiced meat. They’d make it across the desert by eating their child’s flesh. And as they’d eat their child’s flesh, they’d beat their breasts and cry: ‘Where are you, our only child? Where are you, our only child?’
What do you think, mendicants? Would they eat that food for fun, indulgence, adornment, or decoration?"
“No, sir.”
“Wouldn’t they eat that food just so they could make it across the desert?”
“Yes, sir.”
"I say that this is how you should regard solid food. When solid food is completely understood, desire for the five kinds of sensual stimulation is completely understood. When desire for the five kinds of sensual stimulation is completely understood, a noble disciple is bound by no fetter that might return them again to this world.
And how should you regard contact as fuel? Suppose there was a flayed cow. If she stands by a wall, the creatures on the wall bite her. If she stands under a tree, the creatures in the tree bite her. If she stands in some water, the creatures in the water bite her. If she stands in the open, the creatures in the open bite her. Wherever that flayed cow stands, the creatures there would bite her. I say that this is how you should regard contact as fuel. When contact as fuel is completely understood, the three feelings are completely understood. When the three feelings are completely understood, a noble disciple has nothing further to do, I say.
And how should you regard mental intention as fuel? Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, filled with glowing coals that neither flamed nor smoked. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. Two strong men would grab them by the arms and drag them towards the pit of glowing coals. Then that person’s intention, aim, and wish would be to get far away. Why is that? Because that person would think: ‘If I fall in that pit of glowing coals, that will result in my death or deadly pain.’ I say that this is how you should regard mental intention as fuel. When mental intention as fuel is completely understood, the three cravings are completely understood. When the three cravings are completely understood, a noble disciple has nothing further to do, I say.
And how should you regard consciousness as fuel? Suppose they were to arrest a bandit, a criminal and present him to the king, saying: ‘Your Majesty, this is a bandit, a criminal. Punish him as you will.’ The king would say: ‘Go, my men, and strike this man in the morning with a hundred spears!’ The king’s men did as they were told. Then at midday the king would say: ‘My men, how is that man?’ ‘He’s still alive, Your Majesty.’ The king would say: ‘Go, my men, and strike this man in the middle of the day with a hundred spears!’ The king’s men did as they were told. Then late in the afternoon the king would say: ‘My men, how is that man?’ ‘He’s still alive, Your Majesty.’ The king would say: ‘Go, my men, and strike this man in the late afternoon with a hundred spears!’ The king’s men did as they were told.
What do you think, mendicants? Would that man experience pain and distress from being struck with three hundred spears a day?"
“Sir, that man would experience pain and distress from being struck with one spear, let alone three hundred spears!”
“I say that this is how you should regard consciousness as fuel. When consciousness as fuel is completely understood, name and form is completely understood. When name and form are completely understood, a noble disciple has nothing further to do, I say.”
1. …Ở Sàvatthi.
2. …Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
3. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc; thứ ba là tư niệm; thứ tư là thức.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
4. Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
5. Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
6. Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị chết hại”.
8. Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực (than khóc): “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”
9. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
− Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
10. − Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
11. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.
12. Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
13. Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.
14. Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
15. Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
16. Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố than hừng ấy).
17. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
18. Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
19. Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?
20. Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.
21. Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” − “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
22. Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” − “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.
23. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?
− Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
24. − Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.
25. Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are these four fuels. They maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born. What four? Solid food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. These are the four fuels that maintain sentient beings that have been born and help those that are about to be born.
If there is desire, relishing, and craving for solid food, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is rebirth into a new state of existence in the future. Where there is rebirth into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
If there is desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is rebirth into a new state of existence in the future. Where there is rebirth into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
Suppose an artist or painter had some dye, red lac, turmeric, indigo, or rose madder. And on a polished plank or a wall or a canvas they’d create the form of a woman or a man, whole in its major and minor limbs.
In the same way, if there is desire, relishing, and craving for solid food, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is rebirth into a new state of existence in the future. Where there is rebirth into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
If there is desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is rebirth into a new state of existence in the future. Where there is rebirth into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
If there is no desire, relishing, and craving for solid food, consciousness does not become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no rebirth into a new state of existence in the future. Where there is no rebirth into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress.
If there is no desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness doesn’t become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no rebirth into a new state of existence in the future. Where there is no rebirth into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress.
Suppose there was a bungalow or a hall with a peaked roof, with windows on the northern, southern, or eastern side. When the sun rises and a ray of light enters through a window, where would it land?"
“On the western wall, sir.”
“If there was no western wall, where would it land?”
“On the ground, sir.”
“If there was no ground, where would it land?”
“In water, sir.”
“If there was no water, where would it land?”
“It wouldn’t land, sir.”
"In the same way, if there is no desire, relishing, and craving for solid food, consciousness does not become established there and doesn’t grow. …
If there is no desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness doesn’t become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no rebirth into a new state of existence in the future. Where there is no rebirth into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress."
1. …Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
3. Thế nào là bốn? Ðoàn thực thô hoặc tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm là thứ ba, thức thực là thứ tư.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
4. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
5. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực… (như trên)…
6. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…
7. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
8. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một người thợ vẽ. Nếu có thuốc nhuộm hay sơn màu nghệ, màu xanh, hay màu đỏ, có một tấm bảng khéo đánh bóng, một bức tường hay tấm vải, có thể phác họa hình người đàn bà hay người đàn ông có đầy đủ chân tay.
9. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
10. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
11. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với niệm thực…
12. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
13. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
14. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
15. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực …
16. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
17. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có mái hay một dãy hành lang có mái, có cửa sổ phía Bắc, phía Nam, hay phía Ðông. Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng ngang qua cửa sổ chiếu vào, thời chiếu vào chỗ nào?
− Bạch Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.
18. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào?
− Bạch Thế Tôn, chiếu trên đất.
19. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có đất, thời chiếu vào chỗ nào?
− Bạch Thế Tôn, chiếu trên nước.
20. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có nước, thời chiếu vào chỗ nào?
− Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.
21. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái…
22. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
23. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…
24. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú. Chỗ nào không có thức an trú, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
At Sāvatthī.
"Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘Alas, this world has fallen into trouble. It’s born, grows old, dies, passes away, and is reborn, yet it doesn’t understand how to escape from this suffering, from old age and death. Oh, when will an escape be found from this suffering, from old age and death?’ Then it occurred to me: ‘When what exists is there old age and death? What is a condition for old age and death?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When rebirth exists there’s old age and death. Rebirth is a condition for old age and death.’
Then it occurred to me: ‘When what exists is there rebirth? … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … What is a condition for name and form?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When consciousness exists there are name and form. Consciousness is a condition for name and form.’ Then it occurred to me: ‘When what exists is there consciousness? What is a condition for consciousness?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When name and form exist there’s consciousness. Name and form are a condition for consciousness.’
Then it occurred to me: This consciousness turns back from name and form, and doesn’t go beyond that. This is the extent to which one may be reborn, grow old, die, pass away, or reappear. That is: name and form are conditions for consciousness. Consciousness is a condition for name and form. Name and form are conditions for the six sense fields. The six sense fields are conditions for contact. … That is how this entire mass of suffering originates. ‘Origination, origination.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.
Then it occurred to me: ‘When what doesn’t exist is there no old age and death? When what ceases do old age and death cease?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When rebirth doesn’t exist there is no old age and death. When rebirth ceases old age and death cease.’ Then it occurred to me: ‘When what doesn’t exist is there no rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … six sense fields … name and form? When what ceases do name and form cease?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When consciousness doesn’t exist there is no name and form. When consciousness ceases name and form cease.’
Then it occurred to me: ‘When what doesn’t exist is there no consciousness? When what ceases does consciousness cease?’ Then, through rational application of mind, I comprehended with wisdom: ‘When name and form don’t exist, there is no consciousness. When name and form cease, consciousness ceases.’
Then it occurred to me: I have discovered the path to awakening. That is: When name and form cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases. ‘Cessation, cessation.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.
Suppose a person was walking through a forest. They’d see an ancient path, an ancient route traveled by humans in the past. Following it along, they’d see an ancient city, an ancient capital, inhabited by humans in the past. It was lovely, complete with parks, groves, lotus ponds, and embankments. Then that person would inform a king or their chief minister: ‘Please sir, you should know this. While walking through a forest I saw an ancient path, an ancient route traveled by humans in the past. Following it along I saw an ancient city, an ancient capital, inhabited by humans in the past. It was lovely, complete with parks, groves, lotus ponds, and embankments. Sir, you should rebuild that city!’ Then that king or their chief minister would have that city rebuilt. And after some time that city was successful and prosperous, populous, full of people, attained to growth and expansion. In the same way, I saw an ancient path, an ancient route traveled by fully awakened Buddhas in the past.
And what is that ancient path, the ancient route traveled by fully awakened Buddhas in the past? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is that ancient path, the ancient route traveled by fully awakened Buddhas in the past.
Following it along, I directly knew old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. Following it along, I directly knew rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … Following it along, I directly knew choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation.
Having directly known this, I told the monks, nuns, laymen, and laywomen. And that’s how this spiritual life has become successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and well proclaimed wherever there are gods and humans."
1. …Tại Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?"
4. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi”.
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? thọ Hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?”
6. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?”
8. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau : “Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi”.
9. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi…”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
10. “Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
11. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?”
12. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?"
14. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.
15. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt ?”
16. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt”.
17. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. …(như trên)…Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.
18. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
19. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
20. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: “Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy”.
21. Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.
22. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
23-31. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh… Ta thấy rõ hữu… Ta thấy rõ thủ… Ta thấy rõ ái… Ta thấy rõ thọ… Ta thấy rõ xúc… Ta thấy rõ sáu xứ… Ta thấy rõ danh sắc… Ta thấy rõ thức…
32. Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
33. Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Kurus, near the Kuru town named Kammāsadamma. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, do you perform inner self-examination?”
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, I perform inner self-examination.”
“But mendicant, how do you perform inner self-examination?” Then that mendicant answered, but the Buddha was not happy with the answer.
When he had spoken, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha speak of the inner self-examination. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
"Take a mendicant who performs inner self-examination: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. But what is the source of this suffering? When what exists do old age and death come to be? And when what does not exist do old age and death not come to be?’ While examining they know: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. The source of this suffering is attachment. When attachments exist old age and death come to be. And when attachments do not exist old age and death don’t come to be.’ They understand old age and death, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of old age and death.
They perform further inner self-examination: ‘But what is the source of this attachment? When what exists does attachment come to be? And when what does not exist does attachment not come to be?’ While examining they know: ‘The source of this attachment is craving. When craving exists attachments come to be. And when craving doesn’t exist attachments don’t come to be.’ They understand attachments, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of attachments.
They perform further inner self-examination: ‘But where does that craving arise and where does it settle?’ While examining they know: ‘That craving arises and settles on whatever in the world seems nice and pleasant. And what in the world seems nice and pleasant? The eye in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles. The ear … nose … tongue … body … mind in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.’
There were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grew. As their craving grew, their attachments grew. As their attachments grew, their suffering grew. And as their suffering grew, they were not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were not freed from suffering, I say.
There will be ascetics and brahmins in the future who will see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving will grow. As their craving grows, their attachments will grow. As their attachments grow, their suffering will grow. And as their suffering grows, they will not be freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They will not be freed from suffering, I say.
There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grows. As their craving grows, their attachments grow. As their attachments grow, their suffering grows. And as their suffering grows, they are not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are not freed from suffering, I say.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then along comes a man struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d say to him: ‘Here, worthy man, this bronze goblet of beverage has a nice color, aroma, and flavor. But it’s mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be appetizing, but it will result in death or deadly pain.’ He wouldn’t reject that beverage. Hastily, without reflection, he’d drink it, resulting in death or deadly pain.
In the same way, there are ascetics and brahmins of the past … future … There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grows. As their craving grows, their attachments grow. As their attachments grow, their suffering grows. And as their suffering grows, they are not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are not freed from suffering, I say.
There were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They gave up craving. Giving up craving, they gave up attachments. Giving up attachments, they gave up suffering. Giving up suffering, they were freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were freed from suffering, I say.
There will be ascetics and brahmins in the future who will see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They will give up craving. Giving up craving … they will be freed from suffering, I say.
There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They give up craving. Giving up craving, they give up attachments. Giving up attachments, they give up suffering. Giving up suffering, they are freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are freed from suffering, I say.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then along comes a man struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d say to him: ‘Here, worthy man, this bronze goblet of beverage has a nice color, aroma, and flavor. But it’s mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, its nice color, aroma, and flavor will refresh you. But drinking it will result in death or deadly pain.’ Then that man might think: ‘I could quench my thirst with water, whey, seasoned drink, or broth. But I shouldn’t drink that beverage, for it would be for my lasting harm and suffering.’ He’d reject that beverage. After appraisal, he wouldn’t drink it, and it wouldn’t result in death or deadly pain.
In the same way, there were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They gave up craving. Giving up craving, they gave up attachments. Giving up attachments, they gave up suffering. Giving up suffering, they were freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were freed from suffering, I say.
There will be ascetics and brahmins in the future … There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They give up craving. Giving up craving, they give up attachments. Giving up attachments, they give up suffering. Giving up suffering, they are freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are freed from suffering, I say."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn dân chúng Kuru tên là Kammàsadhamma.
2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: − “Này các Tỷ-kheo”. − “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Này các Tỷ-kheo, các Ông có nắm giữ với nội xúc hay không?
4. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.
5. − Này các Tỷ-kheo, nhưng Ông nắm giữ nội xúc như thế nào?
6. Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.
7. Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
8. − Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
9. Thế Tôn nói như sau:
− Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.
10. Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”. Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.
11. Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.
12. … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…
13. … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
14. … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
15. … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…
16. … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
17. Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
18. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
19. Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.
20. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.
21. Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
22. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
23. Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
24. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…
25. … Những ai trong tương lai…
26. Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
27. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
28. Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.
29. Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.
30. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.
31. Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
32. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.
33. Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy : “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.
34. Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
35. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
36. Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
37-38. Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…
39. Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
40. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.
At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana.
Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
“Well, Reverend Sāriputta, are old age and death made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or do they arise by chance, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, old age and death are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise by chance, not made by oneself or another. Rather, rebirth is a condition for old age and death.”
“Well, Reverend Sāriputta, is rebirth made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or does it arise by chance, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, rebirth is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise by chance, not made by oneself or another. Rather, continued existence is a condition for rebirth.”
“Well, Reverend Sāriputta, is continued existence made by oneself? …” … “Is grasping made by oneself? …” … “Is craving made by oneself? …” … “Is feeling made by oneself? …” … “Is contact made by oneself? …” … “Are the six sense fields made by oneself? …” … “Well, Reverend Sāriputta, are name and form made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or do they arise by chance, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, name and form are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise by chance, not made by oneself or another. Rather, consciousness is a condition for name and form.”
“Well, Reverend Sāriputta, is consciousness made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or does it arise by chance, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, consciousness is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise by chance, not made by oneself or another. Rather, name and form are conditions for consciousness.”
"Just now I understood you to say: ‘No, Reverend Koṭṭhita, name and form are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise by chance, not made by oneself or another. Rather, consciousness is a condition for name and form.’
But I also understood you to say: ‘No, Reverend Koṭṭhita, consciousness is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise by chance, not made by oneself or another. Rather, name and form are conditions for consciousness.’
How then should we see the meaning of this statement?"
"Well then, reverend, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose there were two bundles of reeds leaning up against each other.
In the same way, name and form are conditions for consciousness. Consciousness is a condition for name and form. Name and form are conditions for the six sense fields. The six sense fields are conditions for contact. … That is how this entire mass of suffering originates. If the first of those bundles of reeds were to be pulled away, the other would collapse. And if the other were to be pulled away, the first would collapse.
In the same way, when name and form cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases."
"It’s incredible, Reverend Sāriputta, it’s amazing! How well spoken this was by Venerable Sāriputta! And we can express our agreement with Venerable Sāriputta’s statement on these thirty-six grounds.
If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’. If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment regarding rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … choices … If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’."
1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàkotthita trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migàdàya (rừng nai).
2. Rồi Tôn giả Mahàkotthita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả
Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:
− Này Hiền giả Sàriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?
4. − Này Hiền giả Kotthita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.
5. − Này Hiền giả Sàriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
6. − Này Hiền giả Kotthita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, sanh cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.
7-18. − Này Hiền giả Sàriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…
19. … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
20. − Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.
21. − Này Hiền giả Sàriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
22. − Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.
23. − Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như sau: “Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không do tự mình làm ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức”.
24. Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như sau: “Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc”.
25. Này Hiền giả Sàriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?
− Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
26. Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua (một bên), bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua (một bên), bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
27. − Thật vi diệu thay, Hiền giả Sàriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sàriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sàriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sàriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.
28. − Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là pháp tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.
At one time the venerables Musīla, Saviṭṭha, Nārada, and Ānanda were staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then Venerable Saviṭṭha said to Venerable Musīla:
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you know for yourself that rebirth is a condition for old age and death?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that rebirth is a condition for old age and death.”
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberateation, do you know for yourself that continued existence is a condition for rebirth … grasping is a condition for continued existence … craving is a condition for grasping … feeling is a condition for craving … contact is a condition for feeling … the six sense fields are conditions for contact … name and form are conditions for the six sense fields … consciousness is a condition for name and form … choices are a condition for consciousness … ignorance is a condition for choices?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that ignorance is a condition for choices.”
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you know for yourself that when rebirth ceases, old age and death cease?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that when rebirth ceases, old age and death cease.”
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you know for yourself that when continued existence ceases, rebirth ceases … when grasping ceases, continued existence ceases … when craving ceases, grasping ceases … when feeling ceases, craving ceases … when contact ceases, feeling ceases … when the six sense fields cease, contact ceases … when name and form cease, the six sense fields cease … when consciousness ceases name and form cease … when choices cease consciousness ceases … when ignorance ceases, choices cease?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that when ignorance ceases, choices cease.”
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you know for yourself that the cessation of continued existence is extinguishment?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that the cessation of continued existence is extinguishment.”
“Then Venerable Musīla is a perfected one, with defilements ended.” When he said this, Musīla kept silent.
Then Venerable Nārada said to Venerable Saviṭṭha, “Reverend Saviṭṭha, please let me answer these questions. Ask me and I will answer them for you.”
“By all means, Venerable Nārada, try these questions. I’ll ask you and you can answer them for me.”
(Saviṭṭha repeats exactly the same series of questions, and Nārada answers just as Musīla did.)
“Reverend Nārada, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you know for yourself that the cessation of continued existence is extinguishment?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that the cessation of continued existence is extinguishment.”
“Then Venerable Nārada is a perfected one, with defilements ended.”
"I have truly seen clearly with right wisdom that the cessation of continued existence is extinguishment. Yet I am not a perfected one. Suppose there was a well on a desert road that had neither rope nor bucket. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d know that there was water, but they couldn’t physically touch it.
In the same way, I have truly seen clearly with right wisdom that the cessation of continued existence is extinguishment. Yet I am not a perfected one."
When he said this, Venerable Ānanda said to Venerable Saviṭṭha, “Reverend Saviṭṭha, what do you have to say to Venerable Nārada when he speaks like this?”
“Reverend Ānanda, I have nothing to say to Venerable Nārada when he speaks like this, except what is good and wholesome.”
1. Một thời Tôn giả Musìla, Tôn giả Sàvittha, Tôn giả Nàrada, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, vườn Ghosità.
I
2. Rồi Tôn giả Sàvittha nói với Tôn giả Musìla:
− Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng (àkàraparivitakkà), ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm (ditthinijjhànakhanti), Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”.
3. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi có biết được, tôi có thấy được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”.
4. − Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: "Do duyên hữu, nên sanh sinh khởi… (như trên)…
5. … “Do duyên thủ nên hữu sanh khởi”.
6. … “Do duyên ái nên thủ sanh khởi”.
7. … “Do duyên thọ nên ái sanh khởi”.
8. … “Do duyên xúc nên thọ sanh khởi”.
9. … “Do duyên sáu xứ nên xúc sanh khởi”.
10. … “Do duyên danh sắc nên sáu xứ sanh khởi”.
11. … “Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.
12. … “Do duyên hành nên thức sanh khởi”.
13. … “Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
14. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết được, tôi thấy được: “Do duyên vô minh, các hành sanh khởi”.
15. − Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài sự thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
16. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
17. − Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do hữu diệt, nên sanh diệt”.
18-24… “Do thủ diệt, nên hữu diệt… Do ái diệt, nên thủ diệt… Do thọ diệt, nên ái diệt… Do xúc diệt nên thọ diệt… Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt… Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt… Do thức diệt, nên danh sắc diệt… Do hành diệt, nên thức diệt… Do vô minh diệt, nên hành diệt”.
25. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do vô minh diệt, nên hành diệt”
26. − Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: " Do hữu diệt là Niết-bàn".
27. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự, các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niếtbàn”.
28. − Như vậy, Tôn giả Musìla là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc?.
29. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Musìla giữ im lặng.
II
30. Rồi Tôn giả Nàrada nói với Tôn giả Sàvittha:
− Này Hiền giả Sàvittha, lành thay nếu tôi được hỏi câu này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này, và tôi sẽ trả lời cho Hiền giả câu hỏi này.
31. − Tôn giả Nàrada hãy lấy câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn giả Nàrada câu hỏi này. Và Tôn giả Nàrada hãy trả lời cho tôi câu hỏi này.
32-57… − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin… tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.
58. − Như vậy, Tôn giả Nàrada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc?
59. − Này Hiền giả, “Do hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ. Nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
60. Ví như trên một con đường hoang vắng có một giếng nước. Tại đấy không có dây, không có gàu nước. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Người ấy ngó xuống giếng và biết được: “Giếng này có nước”, nhưng đứng chịu, thân thể không chạm nước.
61. Cũng vậy, này Hiền giả, “Hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ, nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
III
62. Khi được nói vậy,Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàvittha:
− Này Hiền giả Sàvittha, nói như vậy thời Hiền giả nói gì về Tôn giả Nàrada?
63. − Này Hiền giả Ananda, nói như vậy, tôi không nói gì về Tôn giả Nàrada, ngoài sự tốt lành, ngoài sự tốt đẹp.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
"Mendicants, when the ocean surges it makes the rivers surge. When the rivers surge they make the streams surge. When the streams surge they make the lakes surge. When the lakes surge they make the ponds surge.
In the same way, when ignorance surges it makes choices surge. When choices surge they make consciousness surge. When consciousness surges it makes name and form surge. When name and form surge they make the six sense fields surge. When the six sense fields surge they make contact surge. When contact surges it makes feeling surge. When feeling surges it makes craving surge. When craving surges it makes grasping surge. When grasping surges it makes continued existence surge. When continued existence surges it makes rebirth surge. When rebirth surges it makes old age and death surge.
When the ocean recedes it makes the rivers recede. When the rivers recede they make the streams recede. When the streams recede they make the lakes recede. When the lakes recede they make the ponds recede.
In the same way, when ignorance recedes it makes choices recede. When choices recede they make consciousness recede. When consciousness recedes it makes name and form recede. When name and form recede they make the six sense fields recede. When the six sense fields recede they make contact recede. When contact recedes it makes feeling recede. When feeling recedes it makes craving recede. When craving recedes it makes grasping recede. When grasping recedes it makes continued existence recede. When continued existence recedes it makes rebirth recede. When rebirth recedes it makes old age and death recede."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong vườn ông Anàthapindika.
2. Tại đây…
3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào biển lớn dâng lên thời các sông lớn dâng lên; khi nào các sông lớn dâng lên thời các sông nhỏ dâng lên; khi nào các sông nhỏ dâng lên thời các hồ lớn dâng lên; khi nào các hồ lớn dâng lên thời các hồ nhỏ dâng lên.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào vô minh dâng lên thời các hành dâng lên; khi nào các hành dâng lên thời thức dâng lên; khi nào thức dâng lên thời danh sắc dâng lên; khi nào danh sắc dâng lên thời sáu xứ dâng lên; khi nào sáu xứ dâng lên thời xúc dâng lên; khi nào xúc dâng lên thời thọ dâng lên; khi nào thọ dâng lên thời ái dâng lên; khi nào ái dâng lên thời thủ dâng lên; khi nào thủ dâng lên thời hữu dâng lên; khi nào hữu dâng lên thời sanh dâng lên; khi nào sanh dâng lên thời già chết dâng lên.
5. Này các Tỷ-kheo, biển lớn không dâng lên thời sông lớn không dâng lên; sông lớn không dâng lên thời sông nhỏ không dâng lên; sông nhỏ không dâng lên thời hồ lớn không dâng lên; hồ lớn không dâng lên thời hồ nhỏ không dâng lên.
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh không dâng lên thời các hành không dâng lên; các hành không dâng lên thời thức không dâng lên; thức không dâng lên thời danh sắc không dâng lên; danh sắc không dâng lên thời sáu xứ không dâng lên; sáu xứ không dâng lên thời xúc không dâng lên; xúc không dâng lên thời thọ không dâng lên; thọ không dâng lên thời ái không dâng lên; ái không dâng lên thời thủ không dâng lên; thủ không dâng lên thời hữu không dâng lên; hữu không dâng lên thời sanh không dâng lên; sanh không dâng lên thời già chết không dâng lên.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time the Buddha was honored, respected, revered, venerated, and esteemed. And he received robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And the mendicant Saṅgha was also honored, respected, revered, venerated, and esteemed. And they received robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. But the wanderers who followed other religions were not honored, respected, revered, venerated, and esteemed. And they didn’t receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
Now at that time the wanderer Susīma was residing at Rājagaha together with a large community of wanderers.
Then his community said to Susīma, “Reverend Susīma, please lead the spiritual life with the ascetic Gotama. Memorize that teaching and have us recite it with you. When we’ve memorized it we’ll recite it to the laity. In this way we too will be honored, respected, revered, venerated, and esteemed. And we’ll receive robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.”
“Yes, reverends,” replied Susīma. Then he went to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda, “Reverend Ānanda, I wish to lead the spiritual life in this teaching and training.”
Then Ānanda took Susīma to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, this wanderer Susīma says that he wishes to lead the spiritual life in this teaching and training.”
“Well then, Ānanda, give Susīma the going forth.” And the wanderer Susīma received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
Now at that time several mendicants had declared their enlightenment in the Buddha’s presence: “We understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Venerable Susīma heard about this. He went up to those mendicants, and exchanged greetings with them. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to those mendicants, “Is it really true that the venerables have declared enlightenment in the Buddha’s presence?”
“Yes, reverend.”
“But knowing and seeing thus, do you wield the many kinds of psychic power? That is, multiplying yourselves and becoming one again; appearing and disappearing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful. Do you control the body as far as the realm of divinity?”
“No, reverend.”
“Well, knowing and seeing thus do you, with clairaudience that is purified and superhuman, hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far?”
“No, reverend.”
“Well, knowing and seeing thus, do you understand the minds of other beings and individuals, having comprehended them with your mind? Do you understand mind with greed as ‘mind with greed’, and mind without greed as ‘mind without greed’? Do you understand mind with hate as ‘mind with hate’, and mind without hate as ‘mind without hate’? Do you understand mind with delusion as ‘mind with delusion’, and mind without delusion as ‘mind without delusion’? Do you understand constricted mind as ‘constricted mind’, and scattered mind as ‘scattered mind’? Do you understand expansive mind as ‘expansive mind’, and unexpansive mind as ‘unexpansive mind’? Do you understand mind that is not supreme as ‘mind that is not supreme’, and mind that is supreme as ‘mind that is supreme’? Do you understand mind immersed in samādhi as ‘mind immersed in samādhi’, and mind not immersed in samādhi as ‘mind not immersed in samādhi’? Do you understand freed mind as ‘freed mind’, and unfreed mind as ‘unfreed mind’?”
“No, reverend.”
“Well, knowing and seeing thus, do you recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding? Do you remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ Do you recollect your many kinds of past lives, with features and details?”
“No, reverend.”
“Well, knowing and seeing thus, do you, with clairvoyance that is purified and superhuman, see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place—and understand how sentient beings are reborn according to their deeds? ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, do you see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. And do you understand how sentient beings are reborn according to their deeds?”
“No, reverend.”
“Well, knowing and seeing thus, do you have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form?”
“No, reverend.”
“Well now, venerables, how could there be such a declaration when these things are not attained?”
“Reverend Susīma, we are freed by wisdom.”
“I don’t understand the detailed meaning of what you have said in brief. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
“Reverend Susīma, whether you understand or not, we are freed by wisdom.”
Then Susīma went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all he had discussed with those mendicants.
“Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”
“Sir, I don’t understand the detailed meaning of what you have said in brief. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
"Susīma, whether you understand or not, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.
What do you think, Susīma? Is form permanent or impermanent?"
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is perception permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Are choices permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
"So, Susīma, you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of feeling at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all feeling—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of perception at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all perception—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of choices at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all choices—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Susīma, do you see that rebirth is a condition for old age and death?"
“Yes, sir.”
“Do you see that continued existence is a condition for rebirth?”
“Yes, sir.”
“Do you see that grasping is a condition for continued existence?”
“Yes, sir.”
“Do you see that craving is a condition for grasping?”
“Yes, sir.”
“Do you see that feeling is a condition for craving … contact is a condition for feeling … the six sense fields are conditions for contact … name and form are conditions for the six sense fields … consciousness is a condition for name and form … choices are a condition for consciousness … ignorance is a condition for choices?”
“Yes, sir.”
“Do you see that when rebirth ceases old age and death cease?”
“Yes, sir.”
“Do you see that when continued existence ceases rebirth ceases?”
“Yes, sir.”
“Do you see that when grasping ceases continued existence ceases … when craving ceases, grasping ceases … when feeling ceases, craving ceases … when contact ceases, feeling ceases … when the six sense fields cease, contact ceases … when name and form cease, the six sense fields cease … when consciousness ceases name and form cease … when choices cease consciousness ceases … when ignorance ceases choices cease?”
“Yes, sir.”
“But knowing and seeing thus, do you wield the many kinds of psychic power? …”
“No, sir.”
“Well, knowing and seeing thus do you, with clairaudience that is purified and superhuman, hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far?”
“No, sir.”
“Well, knowing and seeing thus, do you understand the minds of other beings and individuals, having comprehended them with your mind? …”
“No, sir.”
“Well, knowing and seeing thus, do you recollect many kinds of past lives, with features and details?”
“No, sir.”
“Well, knowing and seeing thus, do you, with clairvoyance that is purified and superhuman, see sentient beings passing away and being reborn … according to their deeds?”
“No, sir.”
“Well, knowing and seeing thus, do you have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form?”
“No, sir.”
“Well now, Susīma, how could there be such a declaration when these things are not attained?”
Then Venerable Susīma bowed with his head at the Buddha’s feet and said, “I have made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to go forth as a thief in such a well-explained teaching and training. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, Susīma, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to go forth as a thief in such a well-explained teaching and training. Suppose they were to arrest a bandit, a criminal and present him to the king, saying: ‘Your Majesty, this is a bandit, a criminal. Punish him as you will.’ The king would say: ‘Go, my men, and tie this man’s arms tightly behind his back with a strong rope. Shave his head and march him from street to street and from square to square to the beating of a harsh drum. Then take him out the south gate and there, to the south of the city, chop off his head.’ The king’s men would do as they were told. What do you think, Susīma? Wouldn’t that man experience pain and distress because of that?”
“Yes, sir.”
“Although that man would experience pain and distress because of that, going forth as a thief in such a well-explained teaching and training has a more painful and bitter result. And it even leads to the underworld. But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
1. Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng con sóc.
I
2. Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
3. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
4. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường, không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
II
5. Lúc bấy giờ du sĩ Susìma trú ở Ràjagaha cùng với đại chúng du sĩ.
6. Rồi hội chúng du sĩ của Susìma nói với du sĩ Susìma:
− Thưa Hiền giả Susìma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
7. − Thưa vâng, các Hiền giả.
Du sĩ Susìma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ananda; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
III
8. Ngồi xuống một bên, du sĩ Susìma nói với Tôn giả Ananda:
− Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này.
9. Rồi Tôn giả Ananda đưa du sĩ Susìma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
10. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, du sĩ Susìma này nói như sau: “Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này”.
11. − Vậy Ananda, hãy cho Susìma xuất gia.
12. Và du sĩ Susìma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn và được thọ đại giới.
13. Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: "Chúng tôi biết rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ "
IV
14. Tôn giả Susìma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”
15. Rồi Tôn giả Susìma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
16. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma nói với các Tỷ-kheo ấy:
− Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng con biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’”?
− Thưa có vậy, này Hiền giả.
17. − Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
18. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
19. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác, các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
20. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
21. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói, làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh. Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
22. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới, an trú vào tịch tịnh giải thoát?
− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
23. − Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy, vừa không chứng được các pháp này?
24. −Này Hiền giả, không có chứng được gì.
25. − Như thế nào?
− Thưa Hiền giả Susìma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
26. − Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư
Tôn giả!
27. − Này Hiền giả Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
V
28. Rồi Tôn giả Susìma từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
29. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma trình bày lên Thế Tôn tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.
30. − Này Susìma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.
31. − Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn!
32. − Này Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không có biết, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn?
33. − Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
34. − Thọ là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
35. − Tưởng là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
36. − Các hành là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
37. − Thức là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
38. − Do vậy, này Susìma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
39. Cái gì thuộc thọ quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
40. Cái gì thuộc tưởng quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
41. Cái gì thuộc hành quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
42. Cái gì thuộc thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
43. Này Susìma, thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
44. …
45. − “Do duyên thủ, hữu sanh khởi?” Này Susìma, Ông có thấy chăng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
46. − Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên ái, thủ sanh khởi”?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
47. − “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên hành thức sanh khởi. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
48. − “Do sanh diệt, già chết diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
49. − “Do hữu diệt, nên sanh diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
50. − “Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
51. − Nhưng này, biết như vậy, thấy như vậy, Ông có chứng được các thần thông nhiều loại sai khác: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
52. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể nghe hai loại tiếng, tiếng chư Thiên và tiếng loài Người, tiếng xa và tiếng gần?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
53. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của chúng sanh sai khác, của loài Người sai khác. Với tâm có tham, Ông biết được tâm có tham… với tâm không giải thoát, Ông biết được là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, Ông biết được là tâm giải thoát?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
54. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác. Như một đời… (như trên)… Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
55. − Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể thấy các chúng sanh chết đi sanh lại… Ông có thể biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
56. − Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, có phải sau khi vượt khỏi các sắc pháp, với thân cảm thọ vô sắc pháp Ông an trú với tịch tịnh giải thoát?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
57. − Nay ở đây, này Susìma, với câu trả lời như vậy, với những pháp này không chứng được, này Susìma, có phải Ông không làm được điều này?
VI
58. Rồi Tôn giả Susìma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
− Một tội lỗi con đã vi phạm, bạch Thế Tôn, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Con đã xuất gia như một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!
59. − Này Susìma, thật sự Ông đã phạm tội, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện, Ông đã xuất gia như người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.
60. Ví như, này Susìma, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào như Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các Ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt về phía sau, cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngả ba này đến ngả ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”.
Những người kia vâng theo lời vua dạy, lấy dây thật chắc trói cánh tay người ấy thật chặt về phía sau, cạo trọc đầu, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngả ba này tới ngả ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và chặt đầu người ấy tại thành phía Nam.
61. Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Người ấy do nhân duyên như vậy có cảm thọ khổ ưu hay không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
62. − Này Susìma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ khổ ưu, hay không cảm thọ khổ ưu, thời sự xuất gia với tư cách ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy phải rơi vào và chịu đựng khổ báo còn kịch liệt hơn và quả báo còn đau đớn hơn.
63. Này Susìma, Ông thấy phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên chúng ta chấp nhận tội ấy cho Ông. Này Susìma, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi thấy được phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.
There are ascetics and brahmins who do understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở vườn ông Anàthapindika.
2. Ở đây Thế Tôn…
3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bàla-môn không được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
4. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết… (như trên)… biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
“… they don’t understand rebirth …”
“… continued existence …”
“… grasping …”
“… craving …”
“… feeling …”
“… contact …”
“… the six sense fields …”
“… name and form …”
“… consciousness …”
"… choices …
… they understand …"
consecutive repetitions
… Trú ở Sàvatthi.
Họ không biết sanh…
Họ không biết hữu…
Họ không biết thủ…
Họ không biết ái…
Họ không biết thọ…
Họ không biết xúc…
Họ không biết sáu xứ…
Họ không biết danh sắc…
Họ không biết thức…
XI. (S.ii,130)
Họ không biết hành… Họ không biết hành tập khởi, họ không biết hành đoạn diệt, họ không biết con đường đưa đến hành đoạn diệt… … tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
“Mendicants, one who does not truly know or see old age and death should seek the Teacher so as to truly know old age and death. One who does not truly know or see the origin of old age and death should seek the Teacher so as to truly know the origin of old age and death. One who does not truly know or see the cessation of old age and death should seek the Teacher so as to truly know the cessation of old age and death. One who does not truly know or see the practice that leads to the cessation of old age and death should seek the Teacher so as to truly know the practice that leads to the cessation of old age and death.”
(All the abbreviated texts should be told in full.)
…Trú ở Sàvatthi.
1. − Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến già chết đoạn diệt.
“Mendicants, one who does not truly know or see rebirth …”
“… continued existence …”
“… grasping …”
“… craving …”
“… feeling …”
“… contact …”
“… the six sense fields …”
“… name and form …”
“… consciousness …”
“… choices …”
(All should be treated according to the four truths.)
2. Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy sanh…
3. Này các Tỷ-kheo,. … không như thật biết và thấy hữu…
4. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thủ…
5. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy ái…
6. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thọ…
7. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy xúc…
8. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy sáu xứ…
9. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy danh sắc…
10. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thức…
11. Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy hành, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến các hành đoạn diệt.
“Mendicants, one who does not truly know or see old age and death should train so as to truly know old age and death. …”
“… practice meditation …”
“… rouse up enthusiasm …”
“… try vigorously …”
“… persevere …”
“… be keen …”
“… rouse up energy …”
“… persist …”
“… be mindful …”
“… use situational awareness …”
“… be diligent …”
… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải học tập để có như thật trí đối với già chết…(I.11)
… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tu tập để có như thật trí đối với già chết…(I.11)
… Dục cần phải thực hành…(I.11)
… Nỗ lực cần phải thực hành…(I.11)
… Bất thối chuyển cần phải thực hành…(I.11)
… Nhiệt tâm cần phải thực hành…(I.11)
… Tinh tấn cần phải thực hành…(I.11)
… Kiên trì cần phải thực hành…(I.11)
… Chánh niệm cần phải thực hành…(I.11)
… Chánh tri cần phải thực hành…(I.11)
… Không phóng dật cần phải thực hành… (I.11)
-ooOoo-