Skip to content

Bhikkhu Sujato (en) [link]

Thích Minh Châu [link]

Linked Discourses on the Unknowable Beginning

15. TƯƠNG ƯNG VÔ THỈ

(Anamatagga)

Chapter One

SN 15.1 Grass and Sticks Tiṇakaṭṭhasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Suppose a person was to strip all the grass, sticks, branches, and leaves in the Black Plum Tree Land, gather them together into one pile, and chop them each into four inch pieces. They’d lay them down, saying: ‘This is my mother, this is my grandmother.’ The grass, sticks, branches, and leaves of the Black Plum Tree Land would run out before that person’s mothers and grandmothers.

Why is that? Transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Cỏ Và Củi (Tạp, Ðại 2, 24b) (Biệt Tạp, Ðại 2, 486c) (S.ii,178)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêmphù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêmphù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

6. Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

7. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.2 The Earth Pathavīsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Suppose a person was to make the whole earth into clay balls the size of jujube seeds. They’d lay them down, saying: ‘This is my father, this is my grandfather.’ The whole earth would run out before that person’s fathers and grandfathers.

Why is that? Transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

II. Quả Ðất (Tạp, Ðại 2, 241b) (S.ii,179) (Biệt Tạp 16.5, Ðại 2, 486c)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: “Ðây là cha tôi, đây là cha của cha tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

5. Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày càng lớn lên.

6. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.3 Tears Assusutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. What do you think? Which is more: the flow of tears you’ve shed while roaming and transmigrating for such a very long time—weeping and wailing from being united with the unloved and separated from the loved—or the water in the four oceans?”

“As we understand the Buddha’s teaching, the flow of tears we’ve shed while roaming and transmigrating is more than the water in the four oceans.”

"Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. The flow of tears you’ve shed while roaming and transmigrating is indeed more than the water in the four oceans. For a long time you’ve undergone the death of a mother … father … brother … sister … son … daughter … loss of relatives … loss of wealth … or loss through illness. From being united with the unloved and separated from the loved, the flow of tears you’ve shed while roaming and transmigrating is indeed more than the water in the four oceans.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

III. Nước Mắt (Tạp, Ðại 2, 240c) (S.ii,179) (Biệt Tạp 16.2 Ðại 2, 486a) (Tăng 51,I, Ðại 2, 814a)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?

4. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

5. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

6. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

7. Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

8. … các Ông chịu đựng con chết. …

9. … các Ông chịu đựng con gái chết…

10. … các Ông chịu đựng tai họa về bà con…

11. … các Ông chịu đựng tai họa về tiền của…

12. Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.

13. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… bị tham ái trói buộc.

14. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.4 Mother’s Milk Khīrasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

What do you think? Which is more: the mother’s milk you’ve drunk while roaming and transmigrating for such a very long time, or the water in the four oceans?"

“As we understand the Buddha’s teaching, the mother’s milk we’ve drunk while roaming and transmigrating is more than the water in the four oceans.”

"Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. The mother’s milk you’ve drunk while roaming and transmigrating for such a very long time is more than the water in the four oceans.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

IV. Sữa (Tạp, Ðại 2, 241a) (Biệt Tạp 16.3, Ðại 2, 486b) (S.ii,180)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

4. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!

5. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

6. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.

7. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.5 A Mountain Pabbatasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and asked him, “Sir, how long is an eon?”

“Mendicant, an eon is long. It’s not easy to calculate how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.”

“But sir, is it possible to give a simile?”

“It’s possible,” said the Buddha.

"Suppose there was a huge stone mountain, a league long, a league wide, and a league high, with no cracks or holes, one solid mass. And as each century passed someone would stroke it once with a fine cloth from Kāsi. By this means the huge stone mountain would be worn away before the eon comes to an end. That’s how long an eon is. And we’ve transmigrated through many such eons, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

V. Núi (Tạp, Ðại 2, 242c) (Biệt Tạp, Ðại 2, 487c) (S.ii,181)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

4. − Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.

5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6. − Có thể được, này Tỷ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỷ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỷ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

7. Như vậy dài, này các Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỷ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này… vừa đủ để giải thoát.

SN 15.6 A Mustard Seed Sāsapasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, how long is an eon?”

“Mendicant, an eon is long. It’s not easy to calculate how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.”

“But sir, is it possible to give a simile?”

“It’s possible,” said the Buddha.

"Suppose there was an iron city, a league long, a league wide, and a league high, full of mustard seeds pressed into balls. And as each century passed someone would remove a single mustard seed. By this means the huge heap of mustard seeds would be used up before the eon comes to an end. That’s how long an eon is. And we’ve transmigrated through many such eons, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

VI. Hột Cải (Tạp, Ðại 2, 242b) (S.ii,182) (Tăng 52.3, Ðại 2, 825b) (Biệt Tạp 16.12, Ðại 2, 487c)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

4. − Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.

5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6. − Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỷ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

7. Như vậy dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này Tỷ-kheo… vừa đủ để giải thoát.

SN 15.7 Disciples Sāvakasutta

At Sāvatthī.

Then several mendicants went up to the Buddha … and asked him, “Sir, how many eons have passed?”

“Mendicants, many eons have passed. It’s not easy to calculate how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.”

“But sir, is it possible to give a simile?”

“It’s possible,” said the Buddha.

"Suppose there were four disciples with a lifespan of a hundred years. And each day they would each recollect a hundred thousand eons. Those four disciples would pass away after a hundred years and there would still be eons that they haven’t recollected. That’s how many eons have passed. It’s not easy to calculate how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

VII. Các Ðệ Tử (Tạp, Ðại 2, 242c) (Biệt Tạp 16.14, Ðại 2, 488a) (S.ii,182)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?

4. − Rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6. − Có thể được, này các Tỷ-kheo. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỷ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.

7. Nhiều như vậy, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.

SN 15.8 The Ganges Gaṅgāsutta

Near Rājagaha, in the Bamboo Grove. Then a certain brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and asked the Buddha, “Worthy Gotama, how many eons have passed?”

“Brahmin, many eons have passed. It’s not easy to calculate how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.”

“But worthy Gotama, can you give a simile?”

“I can,” said the Buddha.

"Consider the Ganges river from where it originates to where it meets the ocean. Between these places it’s not easy to calculate how many grains of sand there are, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of grains of sand. The eons that have passed are more than this. It’s not easy to calculate how many eons have passed, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of eons.

Why is that? Transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

When he said this, the brahmin said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

VIII. Sông Hằng (Tạp, Ðại 2, 242) (Biệt Tạp 16.10, Ðại 2, 487b) (S.ii,183)

1. … Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).

2. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?

4. − Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

5. − Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?

6. − Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.

7. Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.

8. Ví sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

9. Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

10. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

SN 15.9 A Stick Daṇḍasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Suppose a stick was tossed up in the air. Sometimes it’d fall on its bottom, sometimes the middle, and sometimes the end. It’s the same for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Sometimes they go from this world to the other world, and sometimes they come from the other world to this world.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

IX. Cây Gậy (Tạp, Ðại 2,242a. Tạp, Ðại 2,112b, Biệt Tạp, Ðại 2,488b) (S.ii,184)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được ném lên trên hư không, khi thì rơi trên đầu gốc, khi thì rơi chặng giữa, khi thì rơi đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi, khi thì từ thế giới này đi thế giới khác, khi thì từ thế giới khác đến thế giới này.

4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.

SN 15.10 A Single Person Puggalasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, transmigration has no known beginning. … One person roaming and transmigrating for an eon would amass a heap of bones the size of this Mount Vepulla, if they were gathered together and not lost.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"If the bones of a single person
for a single eon were gathered up,
they’d make a pile the size of a mountain:
so said the great seer.

And this is declared to be
as huge as Mount Vepulla,
higher than the Vulture’s Peak
in the Magadhan mountain range.

But then, with right understanding,
a person sees the noble truths—
suffering, suffering’s origin,
suffering’s transcendence,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.

After roaming on seven times at most,
that person
makes an end of suffering,
with the ending of all fetters."

X. Người (Tạp, Ðại 2,242a. Biệt Tạp. Ðại 2,487b. Ðơn tạp 11, Ðại 2,496b) (S.ii,185)

1. … Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

2. Tại đấy Thế Tôn…

3. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

4. Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.

5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

6. Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.

Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.

Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.

Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.

Chapter Two

SN 15.11 In a Sorry State Duggatasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī.

“Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. When you see someone in a sorry state, in distress, you should conclude: ‘In all this long time, we too have undergone the same thing.’ Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”

II. Phẩm Thứ Hai

I. Khốn Cùng (Tạp, Ðại 2, 241c. Biệt Tạp 16.7, 487a) (S.ii,186)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi…

2. Tại đấy…

3. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.

5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.12 In a Good Way Sukhitasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. … When you see someone in a good way, in a happy state, you should conclude: ‘In all this long time, we too have undergone the same thing.’

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

II. An Lạc (Tạp, Ðại 2, 241c) (Biệt Tạp 16.6, Ðại 2, 486c) (S.ii, 186).

1. … Trú ở Sàvatthi…

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy an lạc, may mắn, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.

4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.13 Thirty Mendicants Tiṁsamattasutta

Near Rājagaha, in the Bamboo Grove. Then thirty mendicants from Pāvā went to the Buddha. All of them lived in the wilderness, ate only almsfood, wore rag robes, and owned just three robes; yet they all still had fetters. They bowed to the Buddha and sat down to one side.

Then it occurred to the Buddha, “These thirty mendicants from Pāvā live in the wilderness, eat only almsfood, wear rag robes, and own just three robes; yet they all still have fetters. Why don’t I teach them the Dhamma in such a way that their minds are freed from defilements by not grasping while sitting in this very seat?”

Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

What do you think? Which is more: the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off while roaming and transmigrating for such a very long time, or the water in the four oceans?"

“As we understand the Buddha’s teaching, the flow of blood we’ve shed when our head was chopped off while roaming and transmigrating is more than the water in the four oceans.”

"Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. The flow of blood you’ve shed when your head was chopped off while roaming and transmigrating is indeed more than the water in the four oceans. For a long time you’ve been cows, and the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off as a cow is more than the water in the four oceans. For a long time you’ve been buffalo … rams … goats … deer … chickens … pigs … For a long time you’ve been bandits, arrested for raiding villages, highway robbery, or adultery. And the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off as a bandit is more than the water in the four oceans.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of the thirty mendicants from Pāvā were freed from defilements by not grasping.

III. Khoảng Ba Mươi (Tạp, Ðại 2, 240b) (S.ii,187)

1. … Trú ở Vương Xá, Trúc Lâm.

2. Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.

4. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

5. Thế Tôn nói như sau:

− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

6. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?

7. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

8. Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!

9. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

10. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các Ông bị thương tích khi các Ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?

11. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài…

12. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài…

13. … khi các Ông là dê, sanh ra làm dê…

14. … khi các Ông là nai, sanh ra làm nai…

15. … khi các Ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm…

16. … khi các Ông là heo, sanh ra làm heo…

17. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng bị bắt trong thời gian dài…

18. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài…

19. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn.

20. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành…

21. Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

22. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 15.14 Mother Mātusutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. … It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your mother.

Why is that? Transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

IV. Mẹ (Tạp, Ðại 2,241c) (Biệt Tạp 16.9, Ðại 2,487a) (S.ii,189)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ…

4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.15 Father Pitusutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, transmigration has no known beginning. … It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your father. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”

V. Cha (S.ii,189)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm cha…

SN 15.16 Brother Bhātusutta

At Sāvatthī.

“It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your brother. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”

VI. Anh (S.ii,189)

1. … Trú tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm anh…

SN 15.17 Sister Bhaginisutta

At Sāvatthī.

“It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your sister. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”

VII. Chị (S.ii,189)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm chị…

SN 15.18 Son Puttasutta

At Sāvatthī.

“It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your son. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”

VIII. Con Trai (S.ii,190)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con trai…

SN 15.19 Daughter Dhītusutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. It’s not easy to find a sentient being who in all this long time has not previously been your daughter.

Why is that? Transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

IX. Con Gái (Tạp, Ðại 2,241c) (Biệt Tạp 16,9, Ðại 2,487a) (S.ii,190)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con gái.

4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, này các Tỷ-kheo, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

5. Như vậy, trong thời gian này, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, mộ phần càng ngày càng lớn lên. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

SN 15.20 Mount Vepulla Vepullapabbatasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Once upon a time, mendicants, this Mount Vepulla was known as Pācīnavaṁsa. And at that time people were known as Tivaras. The lifespan of the Tivaras was 40,000 years. It took them four days to climb Mount Vepulla, and four days to descend. At that time Kakusandha, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha arose in the world. Kakusandha had a fine pair of chief disciples named Vidhura and Sañjīva. See, mendicants! This mountain’s name has vanished, those people have passed away, and that Buddha has become fully quenched. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.

Once upon a time this Mount Vepulla was known as Vaṅkaka. And at that time people were known as Rohitassas. The lifespan of the Rohitassas was 30,000 years. It took them three days to climb Mount Vepulla, and three days to descend. At that time Koṇāgamana, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha arose in the world. Koṇāgamana had a fine pair of chief disciples named Bhiyyosa and Uttara. See, mendicants! This mountain’s name has vanished, those people have passed away, and that Buddha has become fully quenched. So impermanent are conditions …

Once upon a time this Mount Vepulla was known as Supassa. And at that time people were known as Suppiyas. The lifespan of the Suppiyas was 20,000 years. It took them two days to climb Mount Vepulla, and two days to descend. At that time Kassapa, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha arose in the world. Kassapa had a fine pair of chief disciples named Tissa and Bhāradvāja. See, mendicants! This mountain’s name has vanished, those people have passed away, and that Buddha has become fully quenched. So impermanent are conditions …

These days this Mount Vepulla is known as Vepulla. And these people are known as Magadhans. The lifespan of the Magadhans is short, brief, and fleeting. A long life is a hundred years or a little more. It takes the Magadhans an hour to climb Mount Vepulla, and an hour to descend. And now I am the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha who has arisen in the world. I have a fine pair of chief disciples named Sāriputta and Moggallāna. There will come a time when this mountain’s name will vanish, those people will die, and I will be fully extinguished. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"For the Tivaras it was Pācīnavaṁsa,
for the Rohitassas, Vaṅkaka,
Supassa for the Suppiyas,
and Vepulla for the Magadhans.

Oh! Conditions are impermanent,
their nature is to rise and fall;
having arisen, they cease;
their stilling is blissful."

X. Núi Vepulla (Tạp, Ðại 2,243b) (Biệt Tạp 16.21, Ðại 2,488c) (S.ii,190)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

2. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…

3. Thế Tôn nói như sau:

− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Pàcìnavamsa. Lúc bấy giờ, dân chúng được biết với tên là Tivàrà. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà có tuổi thọ đến 40.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà phải bốn ngày để leo lên núi Pàcìnavamsa, phải bốn ngày để leo xuống.

5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Vidhura và Sajìva.

6. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

7. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

8. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vànkaka. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Rohita. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita có tuổi thọ đến 30.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita phải ba ngày để leo lên núi Vànkaka, phải ba ngày để leo xuống.

9. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Bhìyya và Suttara.

10. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

11. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Supassa. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Suppiya. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya có tuổi thọ đến 20.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya phải hai ngày để leo núi Supassa, phải hai ngày để leo xuống.

12. Lúc bấy giờ, Thế Tôn Kassapa, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Tissa và Bhàradvàja.

13. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

14. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.

15. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vepulla. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, dân chúng ấy được biết với tên là Magadhaka. Tuổi thọ dân chúng Magadhaka ấy, này các Tỷ-kheo, là ít, nhẹ, không bao nhiêu, họ sống lâu cho đến 100 tuổi hay hơn một chút. Dân chúng Magadhaka, này các Tỷ-kheo, leo lên núi Vepulla này trong một thời gian ngắn, leo xuống trong một thời gian ngắn.

16. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, Ta, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Ta có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Sàriputta và Moggallàna.

17. Một thời sẽ đến, này các Tỷ-kheo, tên của ngọn núi này sẽ biến mất, dân chúng sẽ mệnh chung, và Ta sẽ nhập diệt.

18. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để được nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

19. Thế Tôn nói như vậy, bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Pacinavamsa,
Với dân Tivàra.

Tên núi Vankaka

Với dân Rohita.
Tên núi Supassa
Với dân Suppiyà.
Tên núi Vepulla
Với dân Magadha,

Chư hành là vô thường,
Phải sanh rồi phải diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Chúng tịnh là an lạc.

-ooOoo-