So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
"Possessions, honor, and popularity are brutal, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi… tại vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:
3. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
Suppose a fisherman was to cast a baited hook into a deep lake. Seeing the bait, a fish would swallow it. And so the fish that swallowed the hook would meet with tragedy and disaster, and the fisherman can do what he wants with it.
‘Fisherman’ is a term for Māra the Wicked. ‘Hook’ is a term for possessions, honor, and popularity. Whoever enjoys and likes arisen possessions, honor, and popularity is called a mendicant who has swallowed Māra’s hook. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
So brutal are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
4. Người câu cá, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
5. Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo đã nuốt lưỡi câu của (ác) ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
6. Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải học tập như sau: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Once upon a time in a certain lake there was a large family of turtles that had lived there for a long time. Then one of the turtles said to another, ‘My dear turtle, don’t you go to that place.’
But that turtle did go to that place, and a hunter pierced her with a harpoon.
Then that turtle went back to the other turtle. When the other turtle saw her coming off in the distance, he said, ‘My dear turtle, I hope you didn’t go to that place!’
‘I did.’
‘But my dear turtle, I hope you’re not hurt or injured!’
‘I’m not hurt or injured. But this cord keeps dragging behind me.’
‘Indeed, my dear turtle, you’re hurt and injured! Your father and grandfather met with tragedy and disaster because of such a cord. Go now, you are no longer one of us.’
‘Hunter’ is a term for Māra the Wicked.
‘Harpoon’ is a term for possessions, honor, and popularity.
‘Cord’ is a term for greed and relishing.
Whoever enjoys and likes arisen possessions, honor, and popularity is called a mendicant who has been pierced with a harpoon. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
3. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trong một hồ nước có một gia đình con rùa sống tại đấy đã lâu ngày.
4. Rồi này các Tỷ-kheo, một con rùa nói với một con rùa khác:
" − Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy".
5. Con rùa này, này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
6. Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
7. Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
" − Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?"
" − Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia".
8. " − Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?"
" − Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi".
9. " − Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!"
10. Người thợ săn, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, này các Tỷ-kheo, chỉ cho hỷ tham.
11. Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
12. Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
13. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Suppose a fleecy sheep was to enter a briar patch. She’d get caught, snagged, and trapped at every turn, coming to ruin.
In the same way, take a certain mendicant whose mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity. They robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter the village or town for alms. They get caught, snagged, and trapped at every turn, coming to ruin.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con dê cái lông dài, đi vào một khóm cây gai gốc; chỗ này, chỗ kia, nó bị mắc dính vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị mắc vướng vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị trói buộc vào; chỗ này, chỗ kia, nó bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
4. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị mắc dính vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị mắc vướng vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị trói cột vào; chỗ này, chỗ kia, vị ấy bị rơi vào bất hạnh, tai họa.
5. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Suppose there was a dung-eating beetle full of dung, stuffed with dung, and before her was a huge pile of dung. She’d look down on other beetles, thinking: ‘For I am a dung-eating beetle full of dung, stuffed with dung, and before me is a huge pile of dung.’
In the same way, take a certain mendicant whose mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity. They robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter the village or town for alms. There they eat as much as they like, get invited back tomorrow, and have plenty of almsfood. When they get back to the monastery, they boast in the middle of a group of mendicants: ‘I ate as much as I liked, got invited back tomorrow, and had plenty of almsfood. I get robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. But these other mendicants have little merit or significance, so they don’t get these things.’ With a mind overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity, they look down on other good-hearted mendicants. This will be for their lasting harm and suffering.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
4. Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: “Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này”.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
6. Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỷ-kheo khoe khoang như sau: “Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”.
7. Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
8. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Who should be struck by lightning? A trainee who comes into possessions, honor, and popularity before they achieve their heart’s desire.
‘Lightning strike’ is a term for possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, sét đánh (được ví như) một người hữu học với tâm nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
4. Này các Tỷ-kheo, sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
5. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Who should be pierced by a poisoned arrow? A trainee who comes into possessions, honor, and popularity before they achieve their heart’s desire.
‘Arrow’ is a term for possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị mũi tên độc bắn trúng (được ví như) một người hữu học với tâm trí nhiệt thành, khi bị các lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
4. Mũi tên, này các Tỷ-kheo, chỉ cho các lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Mendicants, did you hear an old jackal howling at the crack of dawn?"
“Yes, sir.”
"That old jackal has the disease called mange. He’s not happy in his den, or at the root of a tree, or out in the open. Wherever he goes, stands, sits, or lies down he meets with tragedy and disaster.
In the same way, take a certain mendicant whose mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity. They’re not happy in an empty hut, at the root of a tree, or out in the open. Wherever they go, stand, sit, or lie down they meet with tragedy and disaster.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm, khi trời gần sáng, có con giả can đang tru lớn tiếng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
4. − Ðó là con giả can già, này các Tỷ-kheo, bị mắc bệnh ghẻ lở, không thoải mái trong những chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên; chỗ nào nó đi, chỗ nào nó đứng, chỗ nào nó ngồi, chỗ nào nó nằm, tại các chỗ ấy, nó cảm thấy bất hạnh, tai họa.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, không thoải mái trong những chỗ hoang vắng, không thoải mái dưới những gốc cây, không thoải mái tại những chỗ lộ thiên; chỗ nào vị ấy đi, chỗ nào vị ấy đứng, chỗ nào vị ấy ngồi, chỗ nào vị ấy nằm, tại các chỗ ấy, vị ấy cảm thấy bất hạnh, tai họa.
6. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
High in the atmosphere there are gale-force winds blowing. Any bird that flies there is flung about by those gale-force winds. Their feet go one way, their wings another, their head another, and their body another.
In the same way, take a certain monk whose mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters the village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There he sees a female scantily clad, with revealing clothes. Lust infects his mind. He rejects the training and returns to a lesser life. Some take his robe, others his bowl, others his sitting cloth, others his needle case, just like the bird flung about by the gale-force winds.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Trên thượng tầng hư không, này các Tỷ-kheo, có gió thổi mạnh gọi là cuồng phong. Con chim đi đến chỗ ấy, bị cuồng phong thổi bạt đi; bị cuồng phong thổi bạt đi, các chân đi một ngả, các cánh đi một ngả, đầu đi một ngả, thân đi một ngả.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực,thân không chế ngự, lời nói không chế ngự, tâm không chế ngự, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
5. Vị ấy thấy các phụ nữ, mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy. Vị ấy thấy các phụ nữ mặc y phục không đứng đắn, không khéo che đậy, bị tham dục công phá tâm vị ấy. Do tham dục công phá tâm, vị ấy từ bỏ học tập, trở lại hoàn tục. Rồi có người lấy y phục, có người lấy bình bát, có người lấy tọa cụ, có người lấy ống kim của vị ấy, chẳng khác gì con chim bị cuồng phong thổi bạt.
6. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Take a case where I see a certain person whose mind is overcome and overwhelmed by honor. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
Take another case where I see a certain person whose mind is overcome and overwhelmed by lack of honor. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
And take another case where I see a certain person whose mind is overcome and overwhelmed by both honor and lack of honor. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"Whether they’re honored
or not honored, or both,
their immersion doesn’t waver
as they live diligently.They persistently meditate
with subtle view and discernment.
Rejoicing in the ending of grasping,
they’re said to be a true person."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta thấy có người bị cả hai cung kính và không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
6. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định, không lay chuyển;
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập Thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Không còn lạc chấp thủ,
Ðược gọi bậc Chơn nhơn.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
When I’ve comprehended the mind of a certain person, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of a gold cup filled with silver powder.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau: “Dầu cho vì một bình bát vàng đựng đầy phấn bạch ngân, vị này cũng không cố ý nói láo”.
4. Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiến, đã cố ý nói láo.
5. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
When I’ve comprehended the mind of a certain person, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of a silver pot filled with gold powder.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau: “Dầu cho vì một bình bát bạc đựng đầy phấn vàng, vị này cũng không có cố ý nói láo”.
4. Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, đã cố ý nói láo.
5. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when I’ve comprehended the mind of a certain person, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of a gold ingot.’ …”
“‘… for the sake of a hundred gold ingots.’ …”
“‘… for the sake of a mountain of gold.’ …”
“‘… for the sake of a hundred mountains of gold.’ …”
“‘… for the sake of the whole earth full of gold.’ …”
“‘… for any kind of material reward.’ …”
“‘… for the sake of life.’ …”
"‘… for the sake of the finest lady in the land.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết có người có tâm như sau:
"Dầu cho vì một đồng tiền vàng Nikkha…
"Dầu cho vì một trăm đồng tiền vàng Nikkha…
"Dầu cho vì một đồng tiền vàng ròng Nikkha…
"Dầu cho vì một trăm đồng tiền vàng ròng Nikkha…
"Dầu cho vì quả đất đầy những vàng…
"Dầu cho vì mọi lợi ích vật chất…
"Dầu cho vì mạng sống…
“Dầu cho vì người mỹ nhân địa phương, vị ấy cũng không cố ý nói láo.”
3. Trong một thời gian khác, Ta lại thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị chinh phục, đã cố ý nói láo.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng.
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Even if you’re alone with a female she might not occupy your mind, but possessions, honor and popularity would still occupy your mind.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Với ai, này các Tỷ-kheo, tâm bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chinh phục và ngự trị, thời không một nữ nhân nào, với tâm của mình chinh phục và ngự trị tâm của người ấy.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Even if you’re alone with the finest lady in the land she might not occupy your mind, but possessions, honor and popularity would still occupy your mind.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
… không một mỹ nhân nào…
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
A faithful laywoman with a dear and beloved only son would rightly appeal to him, ‘My darling, please be like the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.’
These are a standard and a measure for my male lay disciples, that is, the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.
‘But my darling, if you go forth from the lay life to homelessness, please be like Sāriputta and Moggallāna.’
These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.
‘And my darling, may you not come into possessions, honor, and popularity while you’re still a trainee and haven’t achieved your heart’s desire.’
If a trainee who hasn’t achieved their heart’s desire comes into possessions, honor, and popularity it’s an obstacle for them.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Một tín nữ, này các Tỷ-kheo, chơn chánh khuyên dạy đứa con độc nhất, đáng yêu, đáng mến, sẽ khuyên dạy như sau: “Này Con thân yêu, hãy giống như gia chủ Citta, hãy giống như Hattaka ở Alava!”
4. Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka ở Alava.
5. “Này Con thân yêu, nếu con xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này Con thân yêu, hãy giống như Sàriputta và Moggalàna!”
6. Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggalàna.
7. “Này Con thân yêu, chớ để cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến người, kẻ hữu học với tâm đầy nhiệt tình”. Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo hữu học với tâm đầy nhiệt tình, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến, như vậy là chướng ngại cho vị ấy.
8. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
A faithful laywoman with a dear and beloved only daughter would rightly appeal to her, ‘My darling, please be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.’
These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.
‘But my darling, if you go forth from the lay life to homelessness, please be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.’
These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.
‘And my darling, may you not come into possessions, honor, and popularity while you’re still a trainee and haven’t achieved your heart’s desire.’ If a trainee who hasn’t achieved their heart’s desire comes into possessions, honor, and popularity it’s an obstacle for them.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Một tín nữ, này các Tỷ-kheo, chơn chánh khuyên dạy đứa con gái độc nhất, đáng yêu, đáng mến, sẽ khuyên dạy như sau: “Này Con thân yêu, hãy giống như nữ cư sĩ Khujjutarà và Velu-kandakiyà, mẹ của Nanda!”
4. Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjutarà và Velukandakiyà.
5. “Này Con thân yêu, nếu Con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; này Con thân yêu, hãy giống như Tỷ-kheo-ni Khema và Uppàlavanna!”
6. Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppàlavanna.
7. “Này Con thân yêu, chớ để cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến người, kẻ hữu học với tâm đầy nhiệt tình!”
8. Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo-ni hữu học, với tâm đầy nhiệt tình, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến, như vậy là chướng ngại cho vị ấy.
9. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand the gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.
There are ascetics and brahmins who do truly understand the gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, như Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, không có thể tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Samôn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
3. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, đuợc chấp nhận là vị Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
"There are ascetics and brahmins who don’t truly understand the origin, ending, gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity …
There are ascetics and brahmins who do truly understand …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không tự mình với thắng trì chứng ngộ, chứng đạt và an túc mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
3. Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt… của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với ta được chấp nhận là Samôn giữa các Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình giác ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
"There are ascetics and brahmins who don’t truly understand possessions, honor, and popularity, their origin, their cessation, and the path that leads to their cessation …
There are ascetics and brahmins who do truly understand …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không biết sự tập khởi của lợi đắc, cung kính, danh vọng, không biết sự đoạn diệt của lợi đắc, cung kính, danh vọng, không biết con đường đưa đến sự đoạn diệt của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta không được chấp nhận… và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
3. Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết được sự tập khởi của lợi đắc, cung kính, danh vọng… và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
They cut through the outer skin, the inner skin, the flesh, sinews, and bones, until they reach the marrow and keep pushing.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỷ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
They cut through the outer skin, the inner skin, the flesh, sinews, and bones, until they reach the marrow and keep pushing.
Suppose a strong man was to twist a tough horse-hair rope around your shin and tighten it. It would cut through the outer skin, the inner skin, the flesh, sinews, and bones, until it reached the marrow and kept pushing.
In the same way, possessions, honor, and popularity cut through the outer skin, the inner skin, the flesh, sinews, and bones, until they reach the marrow and keep pushing.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỷ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một lực sĩ lấy dây ngựa cứng chắc, vấn xung quanh cổ chân và siết chặt lại. Dây ấy cắt đứt da ngoài, cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
5. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt giây gân. Sau khi cắt đứt giây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại.
6. Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
7. Như vậy này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
“Mendicants, possessions, honor, and popularity are an obstacle even for a mendicant who is perfected, with defilements ended.”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, what do possessions, honor, and popularity obstruct for a mendicant with defilements ended?”
"Ānanda, I don’t say that possessions, honor, and popularity obstruct the unshakable freedom of heart. But I do say that possessions, honor, and popularity obstruct the achievement of blissful meditations in this life for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
So brutal are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Vị Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, là bậc Ứng Cúng, đã đoạn tận các lậu hoặc; Ta nói, lợi đắc, cung kính, danh vọng vẫn là pháp chướng ngại cho vị Tỷ-kheo ấy.
3. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, với vị Tỷ-kheo, lậu hoặc nào được đoạn tận thì các lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp?
4. − Ðối với vị đã chứng bất động tâm giải thoát, Ta không nói rằng, các lợi đắc, cung kính, danh vọng trở thành một chướng ngại pháp cho vị ấy.
5. Và này Ananda, đối với những ai sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần; những người chứng được hiện tại lạc trú; đối với những người ấy, Ta nói rằng, lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp.
6. Như vậy khổ lụy, này Ananda, là lợi đắc, cung kính, danh vọng, đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
7. Do vậy, này Ananda, cần phải học tập như vầy: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
8. Như vậy, này Ananda, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Devadatta split the Saṅgha because his mind was overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, Devadatta, phá hoại Tăng chúng.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Devadatta cut off his skillful root because his mind was overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, thiện căn của Devadatta bị cắt đứt.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Devadatta cut off his skillful quality because his mind was overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, thiện pháp của Devadatta bị cắt đứt.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal …
Devadatta cut off his bright quality because his mind was overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
3. Bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối và tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, bạch pháp của Devadatta bị cắt đứt.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain, not long after Devadatta had left. There the Buddha spoke to the mendicants about Devadatta:
"Possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
It’s like a banana tree … or a bamboo … or a reed, all of which bear fruit to their own ruin and downfall …
It’s like a mule, which becomes pregnant to its own ruin and downfall. In the same way, possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
So brutal are possessions, honor, and popularity. That’s how you should train."
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“The banana tree is destroyed by its own fruit,
as are the bamboo and the reed.
Honor destroys a sinner,
as pregnancy destroys a mule.”
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.
2. Rồi Thế Tôn nhân vì Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
3. − Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
4. Ví như cây chuối, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
5. Ví như cây tre, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
6. Ví như cây lau, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
7. Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
8. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
10. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói như sau:
Như cây chuối sanh quả,
Sanh quả đem tự hại,
Cũng vậy, quả cây tre,
Cũng vậy, quả cây lau,
Cũng vậy với kẻ ngu,
Cung kính đem tự hại,
Như con lừa mang thai,
Mang thai đem tự hại.
Near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time Prince Ajātasattu was going with five hundred carts in the morning and the evening to attend on Devadatta, presenting him with an offering of five hundred servings of food.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, Prince Ajātasattu is going with five hundred carts in the morning and the evening to attend on Devadatta, presenting him with an offering of five hundred servings of food.”
"Mendicants, don’t envy Devadatta’s possessions, honor, and popularity. As long as Prince Ajātasattu goes with five hundred carts in the morning and the evening to attend on Devadatta, presenting him with an offering of five hundred servings of food, Devadatta can expect decline, not growth, in skillful qualities.
If they were to pop a boil on a wild dog’s nose, it would get even wilder. In the same way, as long as Prince Ajātasattu goes with five hundred carts in the morning and the evening to attend on Devadatta, presenting him with an offering of five hundred servings of food, Devadatta can expect decline, not growth, in skillful qualities.
So brutal are possessions, honor, and popularity. …"
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.
2. Lúc bấy giờ, hoàng tử Ajàtasattu (A-xà-thế) sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.
3. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch với Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.
5. − Này các Tỷ-kheo, chớ có thèm lợi đắc, cung kính, danh vọng của Devadatta. Chừng nào, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều còn đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn; thời này các Tỷ-kheo, đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.
6. Ví như, này các Tỷ-kheo, đem bóp nát lá gan trước lỗ mũi một con chó dữ. Như vậy, con chó ấy lại càng dữ tợn bội phần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chừng nào hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều còn đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe, và còn cúng dường các món đồ ăn trong năm trăm chiếc mâm bàn; thời này các Tỷ-kheo, đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.
7. Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng…
8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
"Possessions, honor, and popularity are brutal, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke. When I’ve comprehended the mind of a certain person, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of their mother.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau: “Dầu cho vì bà mẹ đáng kính cũng không cố ý nói láo”. Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, đã cố ý nói láo.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc,cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm”.
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are brutal, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke. When I’ve comprehended the mind of a certain person, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of their father.’ …”
(Tell in full as in SN 17.37.)
“‘… brother.’ …”
“‘… sister.’ …”
“‘… son.’ …”
“‘… daughter.’ …”
"‘… wife.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So brutal are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train."
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật tà đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
“Dầu cho vì người cha đáng kính…”.
“Dầu cho vì người anh…”.
“Dầu cho vì người chị…”.
“Dầu cho vì con trai…”.
“Dầu cho vì con gái…”.
“Dầu cho vì người vợ, cũng không cố ý nói láo”. Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm đã cố ý nói láo.
4. Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp do sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm”.
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
-ooOoo-