So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“What do you think, Rāhula? Is the eye permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is the ear permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Is the nose permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Is the tongue permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Is the body permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Is the mind permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, the ear, the nose, the tongue, the body, and the mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
(The ten discourses of this series should be told in full the same way.)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràahula bạch Thế Tôn:
− Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con để sau khi nghe, con có thể sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần!
4.− Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
5. − Tai là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
6. − Mũi là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
7. − Lưỡi là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
8. Thân là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
9. Ý là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
10. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.
11. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Are sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” … “… sounds … smells … tastes … touches … Are ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Being disillusioned, desire fades away. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6. Thanh… Hương… Vị… Xúc…
7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Pháp là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc… nhàm chán pháp.
9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is eye consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… ear consciousness … nose consciousness … tongue consciousness … body consciousness … Is mind consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with eye consciousness, ear consciousness, nose consciousness, tongue consciousness, body consciousness, and mind consciousness. Being disillusioned, desire fades away. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
3-6. − Nhĩ thức… Tỷ thức…Thiệt thức… Thân thức…
7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ý thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán nhãn thức, nhàm chán nhĩ thức, nhàm chán tỷ thức, nhàm chán thiệt thức, nhàm chán thân thức, nhàm chán ý thức.
9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is eye contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… ear contact … nose contact … tongue contact … body contact … Is mind contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with eye contact, ear contact, nose contact, tongue contact, body contact, and mind contact. Being disillusioned, desire fades away. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn xúc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
3-7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhĩ xúc… Tỷ xúc… Thiệt xúc… Thân xúc… Ý xúc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán nhãn xúc, nhàm chán nhĩ xúc, nhàm chán tỷ xúc, nhàm chán thiệt xúc, nhàm chán thân xúc, nhàm chán ý xúc…
9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is feeling born of eye contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… feeling born of ear contact … feeling born of nose contact … feeling born of tongue contact … feeling born of body contact … Is feeling born of mind contact permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with feeling born of eye contact, ear contact, nose contact, tongue contact, body contact, and mind contact. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Thọ do nhãn xúc sanh là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6. − Thọ do nhĩ xúc sanh… Thọ do tỷ xúc sanh… Thọ do thiệt xúc sanh… Thọ do thân xúc sanh… Thọ do ý xúc sanh là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
7-8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán thọ do nhãn xúc sanh, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán thọ do tỷ xúc sanh, nhàm chán thọ do thiệt xúc sanh, nhàm chán thọ do thân xúc sanh, nhàm chán thọ do ý xúc sanh…
Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is perception of sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… perception of sounds … perception of smells … perception of tastes … perception of touches … Is perception of ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the perception of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tưởng là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7. − Thanh tưởng… Hương tưởng… Vị tưởng… Xúc tưởng… Pháp tưởng là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc tưởng, nhàm chán thanh tưởng, nhàm chán hương tưởng, nhàm chán vị tưởng, nhàm chán xúc tưởng, nhàm chán pháp tưởng…
Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is intention regarding sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… intention regarding sounds … intention regarding smells … intention regarding tastes … intention regarding touches … Is intention regarding ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tư là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7. − Thanh tư… Hương tư… Vị tư… Xúc tư… Pháp tư là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc tư, nhàm chán thanh tư, nhàm chán hương tư, nhàm chán vị tư, nhàm chán xúc tư, nhàm chán pháp tư.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is craving for sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… craving for sounds … craving for smells … craving for tastes … craving for touches … Is craving for ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc ái là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7. − Thanh ái… Hương ái… Vị ái… Xúc ái… Pháp ái là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc ái, nhàm chán thanh ái, nhàm chán hương ái, nhàm chán vị ái, nhàm chán xúc ái, nhàm chán pháp ái.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is the earth element permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… the water element … the fire element … the air element … the space element … Is the consciousness element permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the earth element, water element, fire element, air element, space element, and consciousness element …”
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ðịa giới là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
3-7. − Thủy giới… Hỏa giới… Phong giới… Thức giới là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán địa giới, nhàm chán thủy giới, nhàm chán hỏa giới, nhàm chán phong giới, nhàm chán không giới, nhàm chán thức giới.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… feeling … perception … choices … Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
1. … Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6. − Thọ… Tưởng… Hành… Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
7. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành, nhàm chán thức.
8. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī. Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“What do you think, Rāhula? Is the eye permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“… the ear … the nose … the tongue … the body … Is the mind permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, the ear, the nose, the tongue, the body, and the mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
(The ten discourses of this series should be told in full the same way.)
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi Tôn giả Ràhula, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:
3. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
4. − Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
5. − Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
6-17. − Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…
18. − Ý là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
19. − Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
20. − Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
21. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử có trí nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.
22. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Are sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” … “… sounds … smells … tastes … touches … ideas …”
“… eye consciousness … ear consciousness … nose consciousness … tongue consciousness … body consciousness … mind consciousness …”
“… eye contact … ear contact … nose contact … tongue contact … body contact … mind contact …”
“… feeling born of eye contact … feeling born of ear contact … feeling born of nose contact … feeling born of tongue contact … feeling born of body contact … feeling born of mind contact …”
“… perception of sights … perception of sounds … perception of smells … perception of tastes … perception of touches … perception of ideas …”
“… intention regarding sights … intention regarding sounds … intention regarding smells … intention regarding tastes … intention regarding touches … intention regarding ideas …”
“… craving for sights … craving for sounds … craving for smells … craving for tastes … craving for touches … craving for ideas …”
“… the earth element … the water element … the fire element … the air element … the space element … the consciousness element …”
“… form … feeling … perception … choices … Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
1. Tại Sàvatthi.
2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
(2) Sắc:
− Sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
(6-20. − Thanh… Hương… Vị… Xúc… Pháp…
(3-20. − Nhãn thức… Nhĩ thức… Tỷ thức… Thiệt thức… Thân thức… Ý thức…
(3-20. − Nhãn xúc… Nhĩ xúc… Tỷ xúc… Thiệt xúc… Thân xúc… Ý xúc…
(3-20. − Thọ do nhãn xúc sanh… Thọ do nhĩ xúc sanh… Thọ do tỷ xúc sanh… Thọ do thiệt xúc sanh… Thọ do thân xúc sanh… Thọ do ý xúc sanh…
(3-20. − Sắc tưởng… Thanh tưởng… Hương tưởng… Vị tưởng… Xúc tưởng… Pháp tưởng…
(3-20. − Sắc tư… Thanh tư… Hương tư… Vị tư… Xúc tư… Pháp tư…
(3-20. − Sắc ái… Thanh ái… Hương ái… Vị ái… Xúc ái… Pháp ái…
(3-20. − Ðịa giới… Thủy giới… Hỏa giới… Phong giới… Không giới… Thức giới…
(3-17. − Sắc… Thọ… Tưởng… Hành… Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn…
(21-22. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.
At Sāvatthī.
Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli?”
"Rāhula, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli."
1. … Tại Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
3. − Bạch Thế Tôn, do biết thế nào, do thấy thế nào, trong thân có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?
4. − Này Ràhula, phàm sắc nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ nào… Phàm tưởng nào… Phàm hành nào… Phàm thức nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là : “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,cái này không phải tự ngã của tôi”.
5. Này Ràhula, do biết như vậy, do thấy như vậy, trong thân có thức này với tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, không có ngã sở kiến, không có mạn tùy miên.
At Sāvatthī.
Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, how does one know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”
"Rāhula, when one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
When one truly sees any kind of feeling … perception … choices … When one truly sees any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
That’s how to know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed."
1. … Tại Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
3. − Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly được ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, siêu việt mọi ngã mạn, tịch tịnh, giải thoát?
4. − Này Ràhula, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
5. Này Ràhula, phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm hành gì… phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
6. Này Ràhula, do biết như vậy, thấy như vậy, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt khỏi các ngã mạn, được tịch tịnh, giải thoát.
-ooOoo-