So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There Venerable Mahāmoggallāna addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Venerable Mahāmoggallāna said this:
"Just now, reverends, as I was in private retreat this thought came to mind: ‘They speak of this thing called “noble silence”. What then is this noble silence?’
It occurred to me: ‘As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is called noble silence.’
And so, as the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I was entering and remaining in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
While I was in that meditation, perception and focus accompanied by placing the mind beset me.
Then the Buddha came up to me with his psychic power and said, ‘Moggallāna, Moggallāna! Don’t neglect noble silence, brahmin! Settle your mind in noble silence; unify your mind and bring it to immersion in noble silence.’
And so, after some time, as the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I entered and remained in the second absorption …
So if anyone should be rightly called a disciple who attained to great direct knowledge with help from the Teacher, it’s me."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Tại đấy, Tôn giả Mahà Moggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:
− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
− Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
3. Tôn giả Mahà Moggallàna nói:
− Ở đây, này Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Thánh im lặng được gọi là Thánh im lặng. Thế nào là Thánh im lặng?”
4. Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm”. Như vậy gọi là Thánh im lặng.
5. Rồi này các Hiền giả, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Hiền giả, khi tôi an trú với sự an trú như vậy, các tưởng câu hữu với tầm, các tác ý hiện khởi và hiện hành.
6. Rồi này các Hiền giả, Thế Tôn bằng thần thông đến với tôi và nói: “Moggallàna, Moggallàna, chớ có phóng dật. Này Bà-la-môn, đối với Thánh im lặng, hãy an trú tâm vào Thánh im lặng, hãy chú nhất tâm vào Thánh im lặng, hãy chú định tâm vào Thánh im lặng”.
7. Rồi này các Hiền giả, sau một thời gian, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú vào Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Này các Hiền giả, nếu ai nói một cách chơn chánh, sẽ nói như sau: “Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí”. Người ấy nói một cách chơn chánh, sẽ nói về tôi: “Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí”.
At Sāvatthī.
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
“Just now, reverends, as I was in private retreat this thought came to mind: ‘Is there anything in the world whose decay and perishing would give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in me?’ It occurred to me: ‘There is nothing in the world whose decay and perishing would give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in me.’”
When he said this, Venerable Ānanda said to him, “Even if the Teacher were to decay and perish? Wouldn’t that give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in you?”
“Even if the Teacher were to decay and perish, that wouldn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in me. Still, I would think: ‘Alas, the illustrious Teacher, so mighty and powerful, has vanished! If the Buddha was to remain for a long time, that would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.’”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit. So even if the Teacher were to decay and perish, it wouldn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in him.”
1. Nhơn duyên ở Sàvatthi.
2. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
− Thưa vâng, Hiền giả.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta.
3. Tôn giả Sàriputta nói:
− Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?”.
Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ: “Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta, sầu bi khổ ưu não”.
4. Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:
− Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Sàriputta, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, não.
5. − Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Ananda, khi bị biến hoại, trạng thái đổi khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu bi khổ ưu não. Nhưng ta có thể suy nghĩ: “Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.
6. − Như vậy đối với Tôn giả Sàriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên được khéo đoạn trừ đã lâu ngày.
7. Do vậy, đối với Tôn giả Sàriputta, dầu cho bậc Ðạo Sư có biến hoại, trạng huống có đổi khác, cũng không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
At that time Venerables Sāriputta and Moggallāna were staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Moggallāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Sāriputta sat down to one side, and said to Mahāmoggallāna:
“Reverend Moggallāna, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. Have you spent the day in a peaceful meditation?”
“Reverend, I’ve spent the day in a coarse meditation. But I have had some Dhamma talk.”
“Who did you have a Dhamma talk with?”
“With the Buddha.”
“But Reverend, the Buddha is far away. He’s staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Did you go to him with your psychic power, or did he come to you?”
“No reverend, I didn’t go to him with my psychic power, nor did he come to me. Rather, the Buddha cleared his clairvoyance and clairaudience towards me, and I cleared my clairvoyance and clairaudience towards him.”
“But what manner of Dhamma talk did you have together?”
"Well, reverend, I said to the Buddha, ‘Sir, they speak of one who is energetic. How is an energetic person defined?’
When I said this, the Buddha said, ‘Moggallāna, it’s when a mendicant lives with energy roused up: “Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.” That’s how a person is energetic.’
That’s the Dhamma talk I had together with the Buddha."
“Reverend, next to Venerable Mahāmoggallāna I’m like a few pieces of gravel next to the Himalayas, the king of mountains. Venerable Mahāmoggallāna is so mighty and powerful he could, if he wished, live on for the proper lifespan.”
"Reverend, next to Venerable Sāriputta I’m like a few grains of salt next to a mound of salt. Venerable Sāriputta has been commended, complimented, and praised by the Buddha:
‘Sāriputta is full of wisdom,
ethics, and peace.
Even a mendicant who has crossed over
might at best equal him.’"
And so these two spiritual giants agreed with each others’ fine words.
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta và Tôn giả Mahà Moggallàna cùng ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.
3. Rồi Tôn giả Sàriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
− Này Hiền giả Moggallàna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallàna an trú với sự an trú tịnh lạc?
− Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.
5. − Với ai, Tôn giả Mahà Moggallàna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?
− Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.
6. − Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallàna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna bằng thần thông?
7. − Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.
8. − Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallàna với Thế Tôn?
9. − Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:
“− Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào bạch Thế Tôn là tinh cần, tinh tấn?”.
10. Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:
“− Ở đây, này Moggallàna, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallàna, là sự tinh cần, tinh tấn”.
11. Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.
12. Ví như, này Hiền giả, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallàna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallàna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.
13. Ví như, này Hiền giả, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sàriputta.
14. Tôn giả Sàriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:
Như vị Xá-lợi-phất,
Về trí tuệ, giới luật,
Và cả về tịch tịnh,
Ông là bậc đệ nhất.
Tỷ-kheo đạt bỉ ngạn,
Cũng là bậc tối thượng.
15. Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.
At Sāvatthī.
Now at that time a certain junior monk, after his meal, on his return from almsround, entered his dwelling, where he adhered to passivity and silence. And he didn’t help the mendicants out when it was time to sew robes. Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell that monk that the Teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to that monk and said to him, “Reverend, the teacher summons you.”
“Yes, reverend,” that monk replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Is it really true, monk, that after your meal, on your return from almsround, you entered your dwelling, where you adhered to passivity and silence, and you didn’t help the mendicants out when it was time to sew robes?”
“Sir, I am doing my own work.”
Then the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the mendicants: “Mendicants, don’t complain about this monk. This monk gets the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when he wants, without trouble or difficulty. He has realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life, and lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"Not by being slack,
or with little strength
is extinguishment realized,
the freedom from all suffering.This young monk,
this best of men,
bears his final body,
having vanquished Māra and his mount."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ, một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, yên lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
3. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì) không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
5. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
− Hãy đến, này Tỷ-kheo, nhân danh Ta, hãy gọi Tỷ-kheo ấy và nói: “Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
6. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tỷ-kheo kia; sau khi đến nói với Tỷ-kheo ấy:
− Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.
7. − Thưa vâng, này Hiền giả.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tỷ-kheo kia, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
8. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:
− Có thật chăng, này Tỷ-kheo, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, sau khi vào tịnh xá, Ông rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y?
− Bạch Thế Tôn, con làm việc của con.
9. Rồi Thế Tôn, với tâm của mình biết tâm Tỷ-kheo ấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
− Này các Tỷ-kheo, các Ông chớ có bực phiền với Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này chứng được không có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không phiền phức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú. Vị ấy còn tự mình ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
10. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Kẻ sống buông thả này,
Kẻ ít nghị lực này,
Không thể đạt Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
Vị Tỷ-kheo trẻ này,
Là một người tối thượng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.
At Sāvatthī.
Then Venerable Sujāta went to see the Buddha.
The Buddha saw him coming off in the distance, and addressed the mendicants: “This gentleman is beautiful in both ways. He’s attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. And he has realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“This mendicant is truly beautiful.
His heart is sincere,
he’s unfettered, detached,
quenched by not grasping.
He bears his final body,
having vanquished Māra and his mount.”
1. Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Sujàta đi đến Thế Tôn.
3. Thế Tôn thấy Tôn giả Sujàta từ đằng xa đi đến; thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:
4. − Cả hai phương diện, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này thật sự chói sáng. Vị ấy đẹp trai, ưa nhìn, khả ái, đầy đủ với nhan sắc tối thượng. Vị ấy còn ngay trong hiện tại tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
5. Thế Tôn nói như vậy xong… Bậc Ðạo Sư, lại nói thêm:
Tỷ-kheo này sáng chói,
Với tâm tư chánh trực,
Ly kiết sử, ly ách,
Không chấp, không sanh lại,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.
At Sāvatthī.
Then Venerable Bhaddiya the Dwarf went to see the Buddha.
The Buddha saw him coming off in the distance, and addressed the mendicants: “Mendicants, do you see this monk coming—ugly, unsightly, deformed, and despised by the mendicants?”
“Yes, sir.”
“That mendicant is very mighty and powerful. It’s not easy to find an attainment that he has not already attained. And he has realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"Geese, herons, and peacocks,
elephants and spotted deer—
though their bodies are not equal,
they all fear the lion.So it is for humans—
if a little person is wise,
they’re the truly great one,
not the fool with a good body."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi đến Thế Tôn.
3. Thế Tôn thấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya từ xa đi đến; sau khi thấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
4. − Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kia đang đi đến, xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
5. − Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa đắc. Và cả đến mục đích mà con một lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Tức vị ấy còn tự mình, ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
6. Thế Tôn thuyết như vậy, Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Thiên nga, cò, chim, công,
Voi và nai có chấm,
Tất cả sợ sư tử,
Dầu thân không đồng đều.
Cũng vậy, giữa loài Người,
Nếu kẻ có trí tuệ,
Ở đấy vị ấy lớn,
Không như thân kẻ ngu.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Now at that time Venerable Visākha, Pañcāli’s son, was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk. His words were polished, clear, articulate, expressing the meaning, comprehensive, and independent.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants: “Mendicants, who was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk?”
“Sir, it was Venerable Visākha, Pañcāli’s son.”
Then the Buddha said to Visākha:
“Good, good, Visākha! It’s good that you educate, encourage, fire up, and inspire the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk, with words that are polished, clear, articulate, expressing the meaning, comprehensive, and independent.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"Though an astute person is mixed up with fools,
they don’t know unless he speaks.
But when he speaks they know,
he’s teaching the state free of death.He should speak and illustrate the teaching,
holding up the banner of the seers.
Words well spoken are the seers’ banner,
for the teaching is the banner of the seers."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), tại Mahàvana (Ðại Lâm) chỗ Trùng Các giảng đường.
2. Lúc bấy giờ Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla, trong giảng đường đang thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.
3. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
4. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
− Này các Tỷ-kheo, trong hội trường, ai đã thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước?
5. − Bạch Thế Tôn, Tôn giả Visàkha thuộc dòng họ Pancàla, trong hội trường thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.
6. Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla và nói:
− Lành thay, lành thay, Visàkha! Lành thay, này Visàkha! Ông thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ… không chấp trước.
7. Thế Tôn thuyết như vậy, bậc Thiện Thệ thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Họ biết bậc Hiền triết,
Khi vị này lẫn lộn,
Với các kẻ ngu si,
Dầu vị này không nói.
Và họ biết vị ấy,
Khi vị này nói lên,
Nói lên lời thuyết giảng,
Liên hệ đến bất tử;
Hãy để vị ấy nói,
Làm sáng chói Chánh pháp;
Hãy để vị nêu cao
Lá cờ các bậc Thánh.
Lá cờ bậc Hiền Thánh,
Là những lời khéo nói,
Lá cờ bậc Hiền Thánh,
Chính là lời Chánh pháp.
At Sāvatthī.
Then Venerable Nanda—the Buddha’s cousin on his mother’s side—dressed in nicely pressed and ironed robes, applied eyeshadow, and took a polished black bowl. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Nanda, as a gentleman who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, it’s not appropriate for you to dress in nicely pressed and ironed robes, apply eyeshadow, and carry a polished black bowl. It’s appropriate for you to stay in the wilderness, eat only almsfood, wear rag robes, and live without concern for sensual pleasures.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“When will I see Nanda
in the wilderness, wearing rag robes,
feeding on scraps offered by strangers,
unconcerned for sensual pleasures?”
Then some time later Venerable Nanda stayed in the wilderness, ate only almsfood, wore rag robes, and lived without concern for sensual pleasures.
1. Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Nanda, con di mẫu của Phật, đắp những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ mắt, cầm bát sáng chói, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi xuống một bên:
3. − Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại mang những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ con mắt và mang bát sáng chói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là sống trong rừng, sống đi khất thực, sống mặc áo phấn tảo, và sống không mong đợi các dục vọng.
4. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ta mong được nhìn thấy,
Nanda sống trong rừng,
Mặc áo phấn tảo y,
Sống với những đồ ăn,
Biết là đã vứt bỏ,
Không mong chờ dục vọng.
5. Rồi Tôn giả Nanda, sau một thời gian, trở thành một vị sống trong rừng, ăn đồ ăn khất thực, mang y phấn tảo, không mong đợi các dục vọng.
At Sāvatthī.
Then Venerable Tissa—the Buddha’s cousin on his father’s side—went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. He was miserable and sad, with tears flowing. Then the Buddha said to him:
“Tissa, why are you sitting there so miserable and sad, with tears flowing?”
“Sir, it’s because the mendicants beset me on all sides with sneering and jeering.”
“That’s because you admonish others, but don’t accept admonition yourself. As a gentleman who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, it’s not appropriate for you to admonish others without accepting admonition yourself. It’s appropriate for you to admonish others and accept admonition yourself.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Why are you angry? Don’t be angry!
It’s better to not be angry, Tissa.
For this spiritual life is lived
in order to remove anger, conceit, and denigration.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Tissa, cháu của phụ vương Thế Tôn đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy.
3. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa:
− Này Tissa, vì sao Ông ngồi khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy?
4. − Vì rằng, bạch Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo nhất loạt mắng nhiếc và nhạo báng con.
5. − Vì rằng, này Tissa, Ông nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói.
6. Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là đã nói lời kham nhẫn người khác nói.
7. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Sao Ông lại phẫn nộ?
Chớ có nên phẫn nộ,
Không phẫn nộ, Tissa,
Thật tốt đẹp cho Ông.
Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
Kiêu mạn và xan tham,
Hỡi Tissa, hãy sống,
Sống đời sống Phạm hạnh.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time there was a certain mendicant named Senior. He lived alone and praised living alone. He entered the village for alms alone, returned alone, sat in private alone, and focussed on walking mindfully alone.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, there’s a certain mendicant named Senior who lives alone and praises living alone.”
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Senior that the teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Venerable Senior and said to him, “Reverend Senior, the teacher summons you.”
“Yes, reverend,” that monk replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Is it really true, Senior, that you live alone and praise living alone?”
“Yes, sir.”
“But in what way do you live alone and praise living alone?”
“Well, sir, I enter the village for alms alone, return alone, sit in private alone, and focus on walking mindfully alone. That’s how I live alone and praise living alone.”
“That is a kind of living alone, I don’t deny it. But as to how living alone is fulfilled in detail, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” he replied.
“And how, Senior, is living alone fulfilled in detail? It’s when what’s in the past is given up, what’s in the future is relinquished, and desire and greed for present incarnations is eliminated. That’s how living alone is fulfilled in detail.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“The champion, all-knower, so very intelligent,
is unsullied in the midst of all things.
He’s given up all, freed in the ending of craving:
I declare that man to be one who lives alone.”
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ một Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú. Vị ấy đi vào làng khất thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một mình.
3. Rồi các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú… đi kinh hành một mình.
5. Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:
− Này Tỷ-kheo, hãy đến, hãy nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Thera: “Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến Tỷ-kheo Thera.
6. Sau khi đến, Tỷ-kheo ấy nói với Tỷ-kheo Thera:
− Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
− Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Thera vâng đáp Tỷ-kheo ấy và đi đến Thế Tôn.
7. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
8. Thế Tôn nói với Tôn giả Thera đang ngồi một bên:
− Có thật chăng, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh độc trú?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
9. − Như thế nào, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú?
10. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi vào làng khất thực một mình, con đi về một mình, con ngồi vắng lặng một mình, con đi kinh hành một mình. Như vậy, bạch Thế Tôn, con sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú.
11. − Ðấy là sống độc trú, này Thera, Ta không nói đấy không phải vậy. Này Thera, có một cách làm viên mãn độc trú với các chi tiết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
12. − Này Thera, thế nào là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết? Ở đây, này Thera, cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ; đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục. Như vậy, này Thera, là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết.
13. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ai chiến thắng tất cả,
Ai hiểu biết tất cả,
Ai là bậc Thiện trí,
Mọi pháp không ô nhiễm.
Ai từ bỏ tất cả,
Ái tận được giải thoát,
Ta nói chính người ấy,
Thật là vị độc trú.
At Sāvatthī.
Then Venerable Mahākappina went to see the Buddha.
The Buddha saw him coming off in the distance, and addressed the mendicants: “Mendicants, do you see that monk coming—white, thin, with a pointy nose?”
“Yes, sir.”
“That mendicant is very mighty and powerful. It’s not easy to find an attainment that he has not already attained. And he has realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"The aristocrat is best among people
who take clan as the standard.
But one accomplished in knowledge and conduct
is best among gods and humans.The sun blazes by day,
the moon glows at night,
the aristocrat shines in armor,
and the brahmin shines in absorption.
But all day and all night,
the Buddha shines with glory."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.
3. Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.
4. Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
− Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
5. − Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
6. Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Sát-lỵ là tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh,
Với những ai nương tựa,
Vào vấn đề giai cấp.
Bậc Minh Hạnh cụ túc,
Tối thượng giữa Trời, Người,
Ngày, mặt trời chói sáng,
Ðêm, mặt trăng chói sáng,
Trong tấm áo chiến bào,
Sát-lỵ được chói sáng.
Trong Thiền định, Thiền tri,
Bà-là-môn chói sáng,
Nhưng suốt cả đêm ngày,
Phật chói sáng hào quang.
At Sāvatthī.
Then two mendicants who were companions, protégés of Venerable Mahākappina, went to see the Buddha.
The Buddha saw them coming off in the distance, and addressed the mendicants: “Mendicants, do you see those monks coming who are companions, protégés of Venerable Mahākappina?”
“Yes, sir.”
“Those mendicants are very mighty and powerful. It’s not easy to find an attainment that they have not already attained. And they’ve realized the supreme end of the spiritual path in this very life. They live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"These companion mendicants
have been together for a long time.
The true teaching has brought them together,
the teaching proclaimed by the Buddha.They’ve been well trained by Kappina
in the teaching proclaimed by the Noble One.
They bear their final body,
having vanquished Māra and his mount."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi hai Tỷ-kheo thân hữu, đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina, đi đến Thế Tôn.
3. Thế Tôn thấy hai Tỷ-kheo ấy từ đàng xa đi đến.
4. Thấy vậy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
− Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo thân hữu ấy đang đi tới, cả hai là đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
5. − Hai Tỷ-kheo ấy có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia những Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Các vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đắc và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
6. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Tỷ-kheo thân hữu này,
Lâu ngày cùng chung sống,
Chung sống trong diệu pháp,
Diệu pháp, Phật thuyết giảng.
Tôn giả Kappina
Khéo léo huấn luyện họ,
Trong Chánh pháp vi diệu,
Do bậc Thánh thuyết giảng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.
[HẾT TẬP II - TƯƠNG ƯNG BỘ]
-ooOoo-
TẬP III: THIÊN UẨN