Skip to content

Bhikkhu Sujato (en) [link]

Thích Minh Châu [link]

Linked Discourses on the Aggregates

the first fifty

22. TƯƠNG ƯNG UẨN

A. Năm Mươi Kinh Căn Bản

The Chapter on Nakula’s Father

SN 22.1 Nakula’s Father Nakulapitusutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile Hill, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood.

Then the householder Nakula’s father went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the Buddha:

“Sir, I’m an old man, elderly and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life. My body is ailing and I’m constantly unwell. I hardly ever get to see the esteemed mendicants. May the Buddha please advise me and instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.”

"That’s so true, householder! That’s so true, householder! For this body is ailing, swaddled in its shell. If anyone dragging around this body claimed to be healthy even for an hour, what is that but foolishness?

So you should train like this: ‘Though my body is ailing, my mind will be healthy.’ That’s how you should train."

And then the householder Nakula’s father approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went up to Venerable Sāriputta, bowed, and sat down to one side. Sāriputta said to him:

“Householder, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. Did you get to hear a Dhamma talk in the Buddha’s presence today?”

“What else, sir, could it possibly be? Just now the Buddha anointed me with the deathless ambrosia of a Dhamma talk.”

“But what kind of ambrosial Dhamma talk has the Buddha anointed you with?”

So Nakula’s father told Sāriputta all that had happened, and said, “That’s the ambrosial Dhamma talk that the Buddha anointed me with.”

“But didn’t you feel the need to ask the Buddha the further question: ‘Sir, how do you define someone ailing in body and ailing in mind, and someone ailing in body and healthy in mind’?”

“Sir, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this.”

“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” replied Nakula’s father. Sāriputta said this:

"And how is a person ailing in body and ailing in mind? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the qualities of a noble one. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the qualities of a true person. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’ But that form of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They’re obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’ But that feeling of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They’re obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’ But that perception of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They’re obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’ But those choices of theirs decay and perish, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They’re obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’ But that consciousness of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

That’s how a person is ailing in body and ailing in mind.

And how is a person ailing in body and healthy in mind? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re not obsessed with the thought: ‘I am form, form is mine!’ So when that form of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They don’t regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They’re not obsessed with the thought: ‘I am feeling, feeling is mine!’ So when that feeling of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They don’t regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They’re not obsessed with the thought: ‘I am perception, perception is mine!’ So when that perception of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They don’t regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They’re not obsessed with the thought: ‘I am choices, choices are mine!’ So when those choices of theirs decay and perish, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They’re not obsessed with the thought: ‘I am consciousness, consciousness is mine!’ So when that consciousness of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

That’s how a person is ailing in body and healthy in mind."

That’s what Venerable Sāriputta said. Satisfied, Nakula’s father approved what Sāriputta said.

I. Phẩm Nakulapità

I. Nakulapità (Tạp, 5.5 Trưởng Giả, Ðại 2,33a) (Tăng 13.4, Ðại 2,573a) (S.iii,1)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.

2. Rồi gia chủ Nakulapità đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

4. − Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: “Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh”. Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.

5. Rồi gia chủ Nakulapità sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.

6. Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Nakulapità đang ngồi một bên:

− Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?

− Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại!

− Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?

7. − Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:

“− Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài!”

Ðược nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:

“− Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: 'Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”

Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.

8. − Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bịnh và tâm cũng bị bịnh? Cho đến như thế nào là thân bị bịnh, nhưng tâm không bị bịnh không?”

9. − Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

10. − Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Gia chủ Nakulapità vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

11. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Thế nào, này Gia chủ, là thân bịnh và tâm bịnh?

12. Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta!” khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!

13. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

14. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

15. Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!

16. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

17. Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh và tâm có bịnh.

18. Thế nào, này Gia chủ, là thân có bịnh nhưng tâm không có bịnh?

19. Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta” khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

20. Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

21. Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

22. Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

23. Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

24. Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh, nhưng tâm không có bịnh.

25. Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapità hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta thuyết.

SN 22.2 At Devadaha Devadahasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, where they have a town named Devadaha.

Then several mendicants who were heading for the west went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, we wish to go to a western land to take up residence there.”

“But mendicants, have you taken leave of Sāriputta?”

“No, sir, we haven’t.”

“You should take leave of Sāriputta. He’s astute, and supports his spiritual companions, the mendicants.”

“Yes, sir,” they replied.

Now at that time Venerable Sāriputta was sitting not far from the Buddha in a clump of golden shower trees. And then those mendicants approved and agreed with what the Buddha said. They got up from their seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him, “Reverend Sāriputta, we wish to go to a western land to take up residence there. We have taken leave of the Teacher.”

“Reverends, there are those who question a mendicant who has gone abroad—astute aristocrats, brahmins, householders, and ascetics—for astute people are inquisitive: ‘But what does the venerables’ Teacher teach? What does he explain?’ I trust the venerables have properly heard, learned, applied the mind, and remembered the teachings, and penetrated them with wisdom. That way, when answering you will repeat what the Buddha has said and not misrepresent him with an untruth. You will explain in line with the teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism.”

“Reverend, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this.”

“Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:

"Reverends, there are those who question a mendicant who has gone abroad—astute aristocrats, brahmins, householders, and ascetics—for astute people are inquisitive: ‘But what does the venerables’ Teacher teach? What does he explain?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘Reverend, our Teacher explained the removal of desire and lust.’

When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But regarding what does the venerables’ teacher explain the removal of desire and lust?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘Our teacher explains the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’

When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But what drawback has he seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘If you’re not free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes it gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. If you’re not free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for feeling … perception … choices … consciousness, when that consciousness decays and perishes it gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. This is the drawback our Teacher has seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’

When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But what benefit has he seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘If you are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. If you are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for feeling … perception … choices … consciousness, when that consciousness decays and perishes it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. This is the benefit our Teacher has seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’

If those who acquired and kept unskillful qualities were to live happily in the present life, free of distress, anguish, and fever; and if, when their body breaks up, after death, they could expect to go to a good place, the Buddha would not praise giving up unskillful qualities. But since those who acquire and keep unskillful qualities live unhappily in the present life, full of distress, anguish, and fever; and since, when their body breaks up, after death, they can expect to go to a bad place, the Buddha praises giving up unskillful qualities.

If those who embraced and kept skillful qualities were to live unhappily in the present life, full of distress, anguish, and fever; and if, when their body breaks up, after death, they could expect to go to a bad place, the Buddha would not praise embracing skillful qualities. But since those who embrace and keep skillful qualities live happily in the present life, free of distress, anguish, and fever; and since, when their body breaks up, after death, they can expect to go to a good place, the Buddha praises embracing skillful qualities."

This is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.

II. Devadaha (Tạp 5.6, Tây, Ðại 2,33b) (Tăng 41.4, Ðại 2,745b) (S.iii,5)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.

2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.

− Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?

− Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.

− Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đang ngồi dưới cây ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, các vị ấy nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

6. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

− Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.

7. − Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (sẽ hỏi): “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?” Ðể khi trả lời, các Tôn giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị đồng pháp nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.

8. − Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

9. − Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

10. − Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: “Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham”.

11. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sátđé-lị hiền trí… có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): “Ðối với cái gì, bậc Ðạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham”.

12. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): “Nhưng thấy sự nguy hiểm gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Ông cần phải trả lời như sau: “Này các Hiền giả, đối với sắc, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này chư Hiền giả, do thấy sự nguy hiểm này đối với sắc mà bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói lên sự điều phục dục và tham”.

13. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): “Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành; bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành; bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức”.

14. Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các bất thiện pháp và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú, đây không phải là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

15. Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các bất thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống bị đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Do vậy, đây là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

16. Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Ðây không phải là sự thành tựu các thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

17. Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú. Do vậy, đây là sự thành tựu các thiện pháp, được Thế Tôn tán thán.

18. Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta nói.

SN 22.3 With Hāliddikāni Hāliddikānisutta

So I have heard. At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis near Kuraraghara on Steep Mountain.

Then the householder Hāliddikāni went up to Venerable Mahākaccāna, bowed, sat down to one side, and said to him, "Sir, this was said by the Buddha in the Chapter of the Eights, in ‘The Questions of Māgandiya’:

‘After leaving shelter to migrate without abode,
a sage doesn’t get close to anyone in town.
Rid of sensual pleasures, expecting nothing,
they wouldn’t get in arguments with people.’

How should we see the detailed meaning of the Buddha’s brief statement?"

"Householder, the form element is a shelter for consciousness. One whose consciousness is shackled by greed for the form element is called a migrant going from shelter to shelter. The feeling element is a shelter for consciousness. One whose consciousness is attached to greed for the feeling element is called a migrant going from shelter to shelter. The perception element is a shelter for consciousness. One whose consciousness is attached to greed for the perception element is called a migrant going from shelter to shelter. The choices element is a shelter for consciousness. One whose consciousness is attached to greed for the choices element is called a migrant going from shelter to shelter. That’s how one is a migrant going from shelter to shelter.

And how is one a migrant with no shelter? The Realized One has given up any desire, greed, relishing, and craving for the form element; any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant with no shelter. The Realized One has given up any desire, greed, relishing, and craving for the feeling element … the perception element … the choices element … the consciousness element; any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant with no shelter. That’s how one is a migrant with no shelter.

And how is one a migrant going from abode to abode? Attached to drifting between abodes in pursuit of sights, one is called a migrant going from abode to abode. Attached to drifting between settlements in pursuit of sounds … smells … tastes … touches … thoughts, one is called a migrant going from abode to abode. That’s how one is a migrant going from abode to abode.

And how is one a migrant without abode? The Realized One has given up attachment to drifting between abodes in pursuit of sights. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant without abode. The Realized One has given up attachment to drifting between settlements in pursuit of sounds … smells … tastes … touches … ideas. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant without abode. That’s how one is a migrant without abode.

And how does one get close to people in town? It’s when someone mixes closely with laypeople, sharing their joys and sorrows—happy when they’re happy and sad when they’re sad—and getting involved in their business. That’s how one gets close to people in town.

And how does one not get close to people in town? It’s when a mendicant doesn’t mix closely with laypeople, not sharing their joys and sorrows—not happy when they’re happy or sad when they’re sad—and not getting involved in their business. That’s how one doesn’t get close to people in town.

And how is one not rid of sensual pleasures? It’s when someone isn’t rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. That’s how one is not rid of sensual pleasures.

And how is one rid of sensual pleasures? It’s when someone is rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. That’s how one is rid of sensual pleasures.

And how does one have expectations? It’s when someone thinks: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how one has expectations.

And how does one expect nothing? It’s when someone doesn’t think: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how one expects nothing.

And how does one argue with people? It’s when someone takes part in this sort of discussion: ‘You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. I stay on topic, you don’t. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!’ That’s how one argues with people.

And how does one not argue with people? It’s when a mendicant doesn’t take part in this sort of discussion: ‘You don’t understand this teaching and training … get yourself out of this—if you can!’ That’s how one doesn’t argue with people.

So, householder, that’s how to understand the detailed meaning of what the Buddha said in brief in the Chapter of the Eights, in ‘The Questions of Māgandiya’:

‘After leaving shelter to migrate without abode,
a sage doesn’t get close to anyone in town.
Rid of sensual pleasures, expecting nothing,
they wouldn’t get in arguments with people.’"

III. Hàliddikàni (Tạp, 20.15, Kha-lê, Ðại 2,144a) (S.iii,9)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna (Ma-ha Ca-chiên-diên) sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccàna rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn Giả Mahà Kaccàna :

  • Thưa Tôn Giả, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Màgandiya” như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng,
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

4. − Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.

8. Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia đình?

9. Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

10. Ðối với thọ giới, này Gia chủ…

11. Ðối với tưởng giới, này Gia chủ…

12. Ðối với hành giới, này Gia chủ…

13. Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

14. Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.

15. Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ… vào thanh tướng… vào hương tướng… vào vị tướng… vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.

16. Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào thanh tướng… vào hương tướng… vào vị tướng… vào xúc tướng… vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ.

17. Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.

18. Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hị lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.

19. Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.

20. Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt không đối với các dục.

21. Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là tuyệt không các dục.

22. Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là hư vọng hão huyền.

23. Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.

24. Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.

25. Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này… … Hãy thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.

26. Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Màgandiya” như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng.
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

SN 22.4 Hāliddikāni (2nd) Dutiyahāliddikānisutta

So I have heard. At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis near Kuraraghara on Steep Mountain.

Then the householder Hāliddikāni went up to Venerable Mahākaccāna … and asked him, "Sir, this was said by the Buddha in ‘The Questions of Sakka’: ‘Those ascetics and brahmins who are freed due to the ending of craving have reached the ultimate goal, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate end, and are best among gods and humans.’

How should we see the detailed meaning of the Buddha’s brief statement?"

"Householder, consider any desire, greed, relishing, and craving for the form element; any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. With the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of that, the mind is said to be ‘well freed’.

Consider any desire, greed, relishing, and craving for the feeling element … the perception element … the choices element … the consciousness element; any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. With the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of that, the mind is said to be ‘well freed’.

So, householder, that’s how to understand the detailed meaning of what the Buddha said in brief in ‘The Questions of Sakka’: ‘Those ascetics and brahmins who are freed due to the ending of craving have reached the ultimate goal, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate end, and are best among gods and humans.’"

IV. Hàliddikàni (Tạp 20.16 Kha-lê, Ðại 2,144c) (S.iii,12)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna sống giữa dân chúng Avanti, tại Kulaghara, bên bờ một vực núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna… rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn giả Mahà Kaccàna:

4. − Thế Tôn đã nói trong tập Các Câu hỏi Của Sakka như vầy: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời, loài Người”. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

5. − Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.

6. Ðối với thọ giới, này Gia chủ…

7. Ðối với tưởng giới, này Gia chủ…

8. Ðối với hành giới, này Gia chủ…

9. Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.

10. Như vậy, này Gia chủ, là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến trong tập Các Câu hỏi Của Sakka: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời và loài Người”.

SN 22.5 Development of Immersion Samādhisutta

So I have heard. At Sāvatthī.

"Mendicants, develop immersion. A mendicant who has immersion truly understands. What do they truly understand? The origin and ending of form, feeling, perception, choices, and consciousness.

And what is the origin of form, feeling, perception, choices, and consciousness? It’s when a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging.

What do they approve, welcome, and keep clinging to? They approve, welcome, and keep clinging to form. This gives rise to relishing. Relishing forms is grasping. Their grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.

They approve, welcome, and keep clinging to feeling … perception … choices … consciousness. This gives rise to relishing. Relishing consciousness is grasping. Their grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition that gives rise to old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That is how this entire mass of suffering originates.

This is the origin of form, feeling, perception, choices, and consciousness.

And what is the ending of form, feeling, perception, choices, and consciousness?

It’s when a mendicant doesn’t approve, welcome, or keep clinging.

What don’t they approve, welcome, or keep clinging to? They don’t approve, welcome, or keep clinging to form. As a result, relishing of form ceases. When that relishing ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.

They don’t approve, welcome, or keep clinging to feeling … perception … choices … consciousness. As a result, relishing of consciousness ceases. When that relishing ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.

This is the ending of form, feeling, perception, choices, and consciousness."

V. Thiền Ðịnh (Tạp 3.7-8 Thọ, Ðại 2,17a) (Tạp 3.1. Sanh Diệt, Ðại 2,15b) (Tạp 3.2 Bất Thừa, Ðại

2,15b) (S.iii,13)

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi…

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỷ-kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

3. Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

6. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

7-10. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ… rồi an trú tưởng… rồi an trú các hành… rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là sắc tập khởi, đây là thọ tập khởi, đây là tưởng tập khởi, đây là hành tập khởi, đây là thức tập khởi.

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn diệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú.

13. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

14. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

15-16. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng… không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành, hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

17. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

18. Này các Tỷ-kheo, đây là sắc đoạn diệt, đây là thọ đoạn diệt, đây là tưởng đoạn diệt, đây là các hành đoạn diệt, đây là thức đoạn diệt.

SN 22.6 Retreat Paṭisallāṇasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, meditate in retreat. A mendicant in retreat truly understands. What do they truly understand? The origin and ending of form, feeling, perception, choices, and consciousness. …”

(Tell in full as in the previous discourse.)

VI. Tỉnh Mặc (Tạp, 3.7-8, Thọ, Ðại 2,17a) (S.iii,15)

1. Nhân duyên tại Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy trú tâm, dán tâm vào tỉnh mặc. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có tỉnh mặc hiểu biết một cách như thật.

3. Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt ( Như kinh trước, từ số 4 đến số 18 ).

SN 22.7 Anxiety Because of Grasping Upādāparitassanāsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, I will teach you how grasping leads to anxiety, and how not grasping leads to freedom from anxiety. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"And how does grasping lead to anxiety? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. But that form of theirs decays and perishes, and consciousness latches on to the perishing of form. Anxieties occupy their mind, born of latching on to the perishing of form, and originating in accordance with natural principles. So they become frightened, worried, concerned, and anxious because of grasping.

They regard feeling as self …

They regard perception as self …

They regard choices as self …

They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. But that consciousness of theirs decays and perishes, and consciousness latches on to the perishing of consciousness. Anxieties occupy their mind, born of latching on to the perishing of consciousness, and originating in accordance with natural principles. So they become frightened, worried, concerned, and anxious because of grasping. That’s how grasping leads to anxiety.

And how does not grasping lead to freedom from anxiety? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. When that form of theirs decays and perishes, consciousness doesn’t latch on to the perishing of form. Anxieties—born of latching on to the perishing of form and originating in accordance with natural principles—don’t occupy their mind. So they don’t become frightened, worried, concerned, or anxious because of grasping.

They don’t regard feeling as self …

They don’t regard perception as self …

They don’t regard choices as self …

They don’t regard consciousness as self … When that consciousness of theirs decays and perishes, consciousness doesn’t latch on to the perishing of consciousness. Anxieties—born of latching on to the perishing of consciousness and originating in accordance with natural principles—don’t occupy their mind. So they don’t become frightened, worried, concerned, or anxious because of grasping. That’s how not grasping leads to freedom from anxiety."

VII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.11 Thủ Trước, Ðại 2,10c) (S.iii,15)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, người ấy quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

5. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm nhập nên khủng bố (uttàsavà), chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

6-7. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã… vị ấy quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có các hành, hay các hành trong tự ngã, hay tự ngã trong các hành. Ðối với vị ấy, các hành ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi các hành ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

8. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu não.

10. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

12. Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

13. Không quán tưởng như là tự ngã…

14. Không quán các hành như là tự ngã…

15. Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

16. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự không chấp thủ, không ưu não.

SN 22.8 Anxiety Because of Grasping (2nd) Dutiyaupādāparitassanāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you how grasping leads to anxiety, and how not grasping leads to freedom from anxiety. Listen and apply your mind well, I will speak. And how does grasping lead to anxiety? It’s when an unlearned ordinary person regards form like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ But that form of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ But that consciousness of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That’s how grasping leads to anxiety.

And how does not grasping lead to freedom from anxiety? It’s when a learned noble disciple regards form like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When that form of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ When that consciousness of theirs decays and perishes, it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. That’s how not grasping leads to freedom from anxiety."

VIII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.12, Hị Trước, Ðại 2,11a) (S.iii,18)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não…

Thế Tôn nói như sau:

3. − Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi”. Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

5. … quán thọ…

6. … quán tưởng…

7. … quán các hành…

8. … quán thức: “Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi”. Thức ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi thức ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu não.

10. Này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử quán sắc: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi”. Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi sắc biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

12. … quán thọ: “Ðây không phải của tôi…”.

13. … quán tưởng: “Ðây không phải của tôi…”.

14. … quán các hành: “Ðây không phải của tôi…”…

15. … quán thức: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Thức ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

16. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không chấp thủ, không ưu não.

SN 22.9 Impermanence in the Three Times Kālattayaaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form of the past and future is impermanent, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past form, doesn’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness of the past and future is impermanent, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past consciousness, doesn’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness."

IX. Ba Thời Là Vô Thường (Tạp 1.8 Quá Khứ, Ðại 2,1c. Tạp 3.29-30 Lược Thuyết, Ðại 2,20a)

(S.iii,19)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối (anapekkha), đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3. Này các Tỷ-kheo, thọ là vô thường…

4. Này các Tỷ-kheo, tưởng là vô thường…

5. Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với các hành quá khứ không tiếc nuối, đối với các hành vị lai không hoan hỷ, đối với các hành hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

SN 22.10 Suffering in the Three Times Kālattayadukkhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form of the past and future is suffering, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past form, doesn’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness of the past and future is suffering, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past consciousness, doesn’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness."

X. Ba Thời Là Khổ

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham đoạn diệt.

3. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

4. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

SN 22.11 Not-Self in the Three Times Kālattayaanattasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form of the past and future is not-self, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past form, doesn’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness of the past and future is not-self, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about past consciousness, doesn’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for the disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness."

XI. Ba Thời Là Vô Ngã (S.iii,20)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

4. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

5. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

6. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

The Chapter on Impermanence

SN 22.12 Impermanence Aniccasutta

So I have heard. At Sāvatthī.

"Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

II. Phẩm Vô Thường

I. Vô Thường (Tạp 1.1 Vô thường, Ðại 2,1a) (S.iii,21)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvathi…

2. Tại đấy…

3-6. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường…, thọ là vô thường…, tưởng là vô thường… các hành là vô thường…, thức là vô thường.

7. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức… Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.13 Suffering Dukkhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are suffering.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

II. Khổ (S.iii,21)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-7. − Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ…, thọ là khổ…, tưởng là khổ…, các hành là khổ…, thức là khổ…

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.14 Not-Self Anattasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

III. Vô Ngã (S.iii,21)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-7. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã…, thọ là vô ngã…, tưởng là vô ngã…, các hành là vô ngã…, thức là vô ngã…

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta được giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.15 That Which is Impermanent Yadaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Feeling is impermanent …

Perception is impermanent …

Choices are impermanent …

Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

IV. Cái Gì Vô Thường (Tạp 1.9, Vô Thường, Ðại 2,2a) (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3.− Sắc,này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.16 That Which is Suffering Yaṁdukkhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Feeling is suffering …

Perception is suffering …

Choices are suffering …

Consciousness is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

V. Cái Gì Khổ (Tạp 1.10 Vô Thường. Ðại 2,2a) (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.17 That Which is Not-Self Yadanattāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Feeling is not-self …

Perception is not-self …

Choices are not-self …

Consciousness is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VI. Cái Gì Vô Ngã (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã; cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.18 Impermanence With Its Cause Sahetuaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. The cause and reason that gives rise to form is also impermanent. Since form is produced by what is impermanent, how could it be permanent?

Feeling is impermanent …

Perception is impermanent …

Choices are impermanent …

Consciousness is impermanent. The cause and reason that gives rise to consciousness is also impermanent. Since consciousness is produced by what is impermanent, how could it be permanent?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VII. Có Nhân Là Vô Thường (Tạp 1.11 Nhân. Ðại 2,2a) (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Sắc đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thọ sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thọ đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thức đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui với trạng thái này nữa”.

SN 22.19 Suffering With Its Cause Sahetudukkhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is suffering. The cause and reason that gives rise to form is also suffering. Since form is produced by what is suffering, how could it be happiness?

Feeling is suffering …

Perception is suffering …

Choices are suffering …

Consciousness is suffering. The cause and reason that gives rise to consciousness is also suffering. Since consciousness is produced by what is suffering, how could it be happiness?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VIII. Có Nhân Là Khổ (Tạp 1.12 Nhân. Ðại 2,2b) (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Sắc đã được cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc được?

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Thức đã được cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.20 Not-Self With Its Cause Sahetuanattasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is not-self. The cause and reason that gives rise to form is also not-self. Since form is produced by what is not-self, how could it be self?

Feeling is not-self …

Perception is not-self …

Choices are not-self …

Consciousness is not-self. The cause and reason that gives rise to consciousness is also not-self. Since consciousness is produced by what is not-self, how could it be self?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

IX. Có Nhân Là Vô Ngã (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Sắc đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã được?

4-6. Thọ… Tưởng… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Thức đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.21 With Ānanda Ānandasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the Buddha:

“Sir, they speak of ‘cessation’. The cessation of what things does this refer to?”

"Ānanda, form is impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease. Its cessation is what ‘cessation’ refers to.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease. Its cessation is what ‘cessation’ refers to.

When they speak of ‘cessation’, its the cessation of these things that this refers to."

X. Ananda (S.iii,24)

1. Ở tại Sàvatthi… trong vườn…

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe nói đến. Do đoạn diệt những pháp nào, bạch Thế Tôn, được gọi là đoạn diệt?

4. − Sắc, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của sắc được gọi là đoạn diệt.

5. Thọ, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thọ được gọi là đoạn diệt.

6-7. Tưởng, này Ananda, là vô thường… Các hành, này Ananda, là vô thường…

8. Thức, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thức được gọi là đoạn diệt.

9. Sự đoạn diệt của những pháp này, này Ananda, được gọi là đoạn diệt.

The Chapter on the Burden

SN 22.22 The Burden Bhārasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the burden, the bearer of the burden, the picking up of the burden, and the putting down of the burden. Listen …

And what is the burden? The five grasping aggregates, it should be said. What five? The grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called the burden.

And who is the bearer of the burden? The person, it should be said; the venerable of such and such name and clan. This is called the bearer of the burden.

And what is the picking up of the burden? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the picking up of the burden.

And what is the putting down of the burden? It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. This is called the putting down of the burden."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"The five aggregates are indeed burdens,
and the person is the bearer of the burden.
Picking up the burden is suffering in the world,
and putting the burden down is happiness.

When the heavy burden is put down
without picking up another,
and having plucked out craving, root and all,
you’re hungerless, quenched."

III. Phẩm Gánh Nặng

I. Gánh Nặng (Tạp, 2.3, Trọng Ðởm. Ðại 2,19a) (Tăng 25.4, Ðại 2,631c) (S.iii,25)

1-2. Ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.

7. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống.

8. Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc (không khổ),
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!

SN 22.23 Complete Understanding Pariññasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the things that should be completely understood, and complete understanding. Listen …

And what things should be completely understood? Form, feeling, perception, choices, and consciousness. These are called the things that should be completely understood.

And what is complete understanding? The ending of greed, hate, and delusion. This is called complete understanding."

II. Liễu Tri (Parinna) (Tạp 3.22 Trì Pháp. Ðại 2,19a)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết những pháp cần phải liễu tri, phải được liễu tri. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói…

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải liễu tri? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp cần phải liễu tri, thọ là pháp cần phải liễu tri, tưởng là pháp cần phải liễu tri, các hành là pháp cần phải liễu tri, thức là pháp cần phải liễu tri. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là những pháp cần phải liễu tri.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là liễu tri? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si, này các Tỷ-kheo, được gọi là liễu tri.

SN 22.24 Directly Knowing Abhijānasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, without directly knowing and completely understanding form, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

Without directly knowing and completely understanding feeling … perception … choices … consciousness, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

By directly knowing and completely understanding form, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.

By directly knowing and completely understanding feeling … perception … choices … consciousness, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering."

III. Thắng Tri (Tạp 1.3, Vô Tri. Ðại 2,1a) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri sắc, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.

4. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thọ…

5-6. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri tưởng… không thắng tri các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thức, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.

8. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri sắc, liễu tri, ly tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.

9-11. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thọ… thắng tri tưởng… thắng tri các hành…

12. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thức, liễu tri, ly tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.

SN 22.25 Desire and Greed Chandarāgasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, give up desire and greed for form. Thus that form will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.

Give up desire and greed for feeling … perception … choices … consciousness. Thus that consciousness will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future."

IV. Dục Tham (Tạp 3.27 Tham, Ðại 2,19c) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Dục và tham (chandaràga) đối với sắc, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

4. Dục và tham đối với thọ, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, thọ ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

5. Dục và tham đối với tưởng…

6. Dục và tham đối với các hành…

7. Dục và tham đối với thức, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, thức ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

SN 22.26 Gratification Assādasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form … feeling … perception … choices … and consciousness?’

Then it occurred to me: ‘The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape. The pleasure and happiness that arise from feeling … perception … choices … consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.’

As long as I didn’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

But when I did truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’"

V. Vị Ngọt (Tạp 1.14, Vị, Ðại 2,2c) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:

4. “Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của sắc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thọ? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của tưởng? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của các hành? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thức?”

5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:

6. “Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc”.

7. “Do duyên thọ, lạc hỷ sanh…”…

8. “Do duyên tưởng, lạc hỷ sanh…”.

9. “Do duyên các hành, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của các hành. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của các hành; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của các hành. Sự nhiếp phục dục và tham đối với hành, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là sự xuất ly của các hành”.

10. “Do duyên thức, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của thức. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của thức; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham đối với thức, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là sự xuấy ly của thức”.

11. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

12. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

13. Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:

“Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 22.27 Gratification (2nd) Dutiyaassādasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I went in search of form’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s gratification. I went in search of form’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s drawback. I went in search of form’s escape, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s escape.

I went in search of the gratification of feeling … perception … choices … and consciousness, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s gratification. I went in search of consciousness’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s drawback. I went in search of consciousness’s escape, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s escape.

As long as I didn’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening … But when I did truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, I announced my supreme perfect awakening …

Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’"

VI. Vị Ngọt (S.iii,29)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của sắc. Vị ngọt của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

4. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của sắc. Sự nguy hiểm của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự nguy hiểm của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

5. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự xuất ly của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

6-8. Này các Tỷ-kheo, Ta đi tìm cầu vị ngọt của thọ…

9-11. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của tưởng…

12-14. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của các hành…

15. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của thức. Vị ngọt của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

16. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của thức. Nguy hiểm của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Nguy hiểm của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

17. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của thức. Xuất ly của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Xuất ly của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

18-19. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật biết vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là sự nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng… Samôn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

20. Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: “Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 22.28 Gratification (3rd) Tatiyaassādasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, if there were no gratification in form, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in form, sentient beings are aroused by it. If form had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since form has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from form, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from form, sentient beings do escape from it.

If there were no gratification in feeling … perception … choices … consciousness, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in consciousness, sentient beings are aroused by it. If consciousness had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since consciousness has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from consciousness, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from consciousness, sentient beings do escape from it.

As long as sentient beings don’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, they haven’t escaped from this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they don’t live detached, liberated, with a mind free of limits.

But when sentient beings truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, they’ve escaped from this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they live detached, liberated, with a mind free of limits."

VII. Vị Ngọt (Tạp 1.13 Vị, Ðại 2,2bb) (S.iii,29)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của sắc, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của sắc cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với sắc.

4. − Này Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của sắc, thời các loài hữu tình không có yếm ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm của sắc cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với sắc.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với sắc, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly của sắc cho nên các loài hữu tình có sự xuất ly đối với sắc.

6-8. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thọ…

9-11. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của tưởng…

12-14. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của các hành…

15. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thức, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của thức cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với thức.

16. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm đối với thức cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với thức.

17. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly đối với thức cho nên các loài hữu tình có xuất ly đối với thức.

18. Này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này không như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, không thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.

19. Và này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này, như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.

SN 22.29 Taking Pleasure Abhinandanasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, if you take pleasure in form, you take pleasure in suffering. If you take pleasure in suffering, I say you’re not exempt from suffering.

If you take pleasure in feeling … perception … choices … consciousness, you take pleasure in suffering. If you take pleasure in suffering, I say you’re not exempt from suffering.

If you don’t take pleasure in form, you don’t take pleasure in suffering. If you don’t take pleasure in suffering, I say you’re exempt from suffering.

If you don’t take pleasure in feeling … perception … choices … consciousness, you don’t take pleasure in suffering. If you don’t take pleasure in suffering, I say you’re exempt from suffering."

VIII. Hoan Hỷ (Tạp 1.7, Ư Sắc Hỷ Lạc, Ðại 2,1c)(Tạp 1.5, Ðại 2,1b) (S.iii,31)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi khổ.

4. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thọ…

5. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ tưởng…

6. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thức, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi khổ.

8. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ sắc, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy giải thoát khỏi khổ.

9. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thọ…

10. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ tưởng…

11. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ các hành…

12. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thức, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ,

Ta nói, người ấy giải thoát khỏi khổ.

SN 22.30 Arising Uppādasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, the arising, continuation, rebirth, and manifestation of form is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death.

The arising, continuation, rebirth, and manifestation of feeling … perception … choices … consciousness is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death.

The cessation, settling, and ending of form is the cessation of suffering, the settling of diseases, and the ending of old age and death.

The cessation, settling, and ending of feeling … perception … choices … consciousness is the cessation of suffering, the settling of diseases, and the ending of old age and death."

IX. Sanh Khởi (Tạp 3.28 Sanh, Ðại 2,20a) (S.iii,31)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc sanh, trú, khởi, hiện hữu; cái ấy là khổ sanh, bệnh tật trú, già chết hiện hữu.

4-6. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ sanh, trú, khởi, hiện hữu… tưởng sanh, trú, khởi, hiện hữu… các hành sanh, trú, khởi, hiện, hữu…

7. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức sanh, trú, khởi, hiện hữu; cái ấy gọi là khổ sanh, bệnh tật trú, già chết hiện hữu.

8. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc đoạn diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy gọi là khổ đoạn diệt, bệnh tật an chỉ, già chết biến mất.

9-11. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ đoạn diệt… tưởng đoạn diệt… các hành đoạn diệt…

12. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức đoạn diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy là khổ đoạn diệt, bệnh tật an chỉ, già chết biến mất.

SN 22.31 The Root of Misery Aghamūlasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you misery and the root of misery. Listen …

And what is misery? Form, feeling, perception, choices, and consciousness are misery. This is called misery.

And what is the root of misery? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the root of misery."

X. Cội Gốc Của Ðau Khổ (S.iii,32)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe…

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Ðây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau khổ.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cội gốc của đau khổ? Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

SN 22.32 The Breakable Pabhaṅgusutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the breakable and the unbreakable. Listen …

And what is the breakable? What is the unbreakable? Form is breakable, but its cessation, settling, and ending is unbreakable.

Feeling … perception … choices … consciousness is breakable, but its cessation, settling, and ending is unbreakable."

XI. Hoại Pháp (Tạp 2,19, Hoại Pháp, Ðại 2,12b) (S.iii,32)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về hoại pháp và bất hoại pháp. Hãy lắng nghe…

4. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là hoại pháp? Cái gì là bất hoại pháp?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn diệt của sắc ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.

6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

7. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

8. Hành, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn diệt của thức ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.

The Chapter on Not Yours

SN 22.33 It’s Not Yours Natumhākasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours? Form isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Suppose a person was to carry off the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove, or burn them, or do what they want with them. Would you think: ‘This person is carrying us off, burning us, or doing what they want with us’?"

“No, sir. Why is that? Because to us that’s neither self nor belonging to self.”

"In the same way, mendicants, form isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness."

IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông

I. Không Phải Của Các Ông (Tạp 10.14 Kỳ Lâm, Ðại 2,10b) (S.iii,33)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

6. Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

7. Tưởng, này các Tỷ-kheo…

8. Các hành, này các Tỷ-kheo…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: “Người (ấy) mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.

11. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông… Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông… Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 22.34 It’s Not Yours (2nd) Dutiyanatumhākasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours?

Form isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness."

II. Không Phải Của Các Ông (S.iii,34)

1-2. Nhân duyên ở Sàavatthi…

3. − Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

6-8. Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông… Tưởng, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 22.35 A Mendicant Aññatarabhikkhusutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, you’re defined by what you have an underlying tendency for. You’re not defined by what you have no underlying tendency for.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"If you have an underlying tendency for form, you’re defined by that. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re defined by that.

If you have no underlying tendency for form, you’re not defined by that. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not defined by that.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

If you have an underlying tendency for form, you’re defined by that. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re defined by that.

If you have no underlying tendency for form, you’re not defined by that. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not defined by that.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief."

And then that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Then that mendicant, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.

He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.

III. Tỷ Kheo (S.iii,35)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

[I]

2. Rồi một vị Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3. − Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp tùy miên, người ta sẽ được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy. Cái gì người ta không thiên chấp tùy miên, người ta sẽ không được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi điều Ta nói một cách vắn tắt?

6. − Bạch Thế Tôn, nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp tưởng, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp các hành, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh.

7. Bạch Thế Tôn, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp hành… Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Bạch Thế Tôn, với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, Tỷ-kheo! Lành thay, với lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh. Này Tỷ-kheo, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh… Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

9. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

[II]

10. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.36 A Mendicant (2nd) Dutiyaaññatarabhikkhusutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, you’re measured against what you have an underlying tendency for, and you’re defined by what you’re measured against. You’re not measured against what you have no underlying tendency for, and you’re not defined by what you’re not measured against.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"If you have an underlying tendency for form, you’re measured against that, and you’re defined by what you’re measured against. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re measured against that, and you’re defined by what you’re measured against.

If you have no underlying tendency for form, you’re not measured against that, and you’re not defined by what you’re not measured against. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not measured against that, and you’re not defined by what you’re not measured against.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

If you have an underlying tendency for form, you’re measured against that, and you’re defined by what you’re measured against. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re measured against that, and you’re defined by what you’re measured against.

If you have no underlying tendency for form, you’re not measured against that, and you’re not defined by what you’re not measured against. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not measured against that, and you’re not defined by what you’re not measured against.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

IV. Vị Tỷ Kheo (S.iii,37)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp một cách vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp (anuseti), cái ấy người ta được đo lường (anopuyti). Cái gì người ta được đo lường, cái ấy người ta được xưng danh (sankham gacchati). Cái gì người ta không thiên chấp, cái ấy người ta không được đo lường. Cái gì người ta không được đo lường, cái ấy người ta không được xưng danh.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.

5. − Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Nếu thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh.

7. Nếu không thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu không thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

9. Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

10. Rồi vị Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư…

11. Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.

SN 22.37 With Ānanda Ānandasutta

At Sāvatthī.

And then Venerable Ānanda … sitting to one side, the Buddha said to him:

“Ānanda, suppose they were to ask you: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident?’ How would you answer?”

"Sir, suppose they were to ask me: ‘What are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident?’ I’d answer like this:

‘Reverend, the arising of form is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. The arising of feeling … perception … choices … consciousness is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.’

That’s how I’d answer such a question."

"Good, good, Ānanda. The arising of form is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. The arising of feeling … perception … choices … consciousness is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.

That’s how you should answer such a question."

V. Ananda (S.iii,37)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

− Này Ananda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Nếu được hỏi vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?

4. − Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn,con sẽ trả lời như sau :

5. “Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ… Trong tưởng… Trong các hành… Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.

6. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, trong sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ… Trong tưởng… Trong các hành… Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ananda, trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, Này Ananda, Ông phải trả lời như vậy.

SN 22.38 With Ānanda (2nd) Dutiyaānandasutta

At Sāvatthī.

Sitting to one side, the Buddha said to Ānanda:

“Ānanda, suppose they were to ask you: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting are evident?’ How would you answer?”

"Sir, suppose they were to ask me: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting are evident?’ I’d answer like this:

'Whatever form has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. These the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident.

Whatever form is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident.

Whatever form has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting is evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.’ That’s how I’d answer such a question."

"Good, good, Ānanda. Whatever form has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. These the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident.

Whatever form is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident.

Whatever form has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.

That’s how you should answer such a question."

VI. Ananda (S.iii,38)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này Ananda, nếu Ông được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi như vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?

4. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:

5. "Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong những pháp này, Này Hiền giả, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.

6. Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.

7. Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ".

Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, đối với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức, thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.

9. Ðối với sắc chưa sanh, này Ananda, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức chưa sanh khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ananda, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.

10. Ðối với sắc đã sanh, này Ananda, đã hiện hữu, đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ananda, Ông cần phải trả lời như vậy.

SN 22.39 In Line With the Teachings Anudhammasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teachings, this is what’s in line with the teachings.

They should live full of disillusionment for form, feeling, perception, choices, and consciousness. Living in this way, they completely understand form, feeling, perception, choices, and consciousness. Completely understanding form, feeling, perception, choices, and consciousness, they’re freed from these things. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say."

VII. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàavatthi…

3. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Ðối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.

4. Ai sống nhiều yếm ly đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri sắc… liễu tri thọ… liễu tri tưởng… liễu tri các hành… liễu tri thức. Do liễu tri sắc… thọ… tưởng… các hành… do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.40 In Line with the Teachings (2nd) Dutiyaanudhammasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teachings, this is what’s in line with the teachings. They should live observing impermanence in form, feeling, perception, choices, and consciousness. … They’re freed from suffering, I say.”

VIII. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-5. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc… Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.41 In Line with the Teachings (3rd) Tatiyaanudhammasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teachings, this is what’s in line with the teachings. They should live observing suffering in form, feeling, perception, choices, and consciousness. … They’re freed from suffering, I say.”

IX. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-5. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc… Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.42 In Line with the Teachings (4th) Catutthaanudhammasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teachings, this is what’s in line with the teachings. They should live observing not-self in form, feeling, perception, choices, and consciousness. …

They’re freed from suffering, I say."

X. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc… trong thọ… trong tưởng… trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức…

4. Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

The Chapter on Be Your Own Island

SN 22.43 Be Your Own Island Attadīpasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, be your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge.

When you live like this, you should examine the cause: ‘From what are sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress born and produced?’

And, mendicants, from what are sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress born and produced? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. But that form of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

They regard feeling as self …

They regard perception as self …

They regard choices as self …

They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. But that consciousness of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

Sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are given up when you understand the impermanence of form—its perishing, fading away, and cessation—and you truly see with right understanding that all form, whether past or present, is impermanent, suffering, and perishable. When these things are given up there’s no anxiety. Without anxiety you live happily. A mendicant who lives happily is said to be quenched in that respect.

Sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are given up when you understand the impermanence of feeling …

perception …

choices …

consciousness—its perishing, fading away, and cessation—and you truly see with right understanding that all consciousness, whether past or present, is impermanent, suffering, and perishable. When these things are given up there’s no anxiety. Without anxiety you live happily. A mendicant who lives happily is said to be quenched in that respect."

V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo.

I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo (Ðại 2,8a) (S.iii,42)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác.

4. Với những ai sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác, hãy như lý quán sát: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?”

5. Và này các Tỷ-kheo, sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán (samamupassati) sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, nào sẽ khởi lên.

7. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ…

8. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã…

9. Vị ấy quán các hành như là tự ngã…

10. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức này của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi thức của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.

11. Này các Tỷ-kheo, biết sắc là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là (Tadanganibbuto) vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.

12. Này các Tỷ-kheo, biết thọ là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niếtbàn…

13. Này các Tỷ-kheo, biết tưởng là vô thường…

14. Này các Tỷ-kheo, biết các hành là vô thường…

15. Này các Tỷ-kheo, biết thức là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả thức xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niếtbàn…

SN 22.44 Practice Paṭipadāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the practice that leads to the origin of substantial reality and the practice that leads to the cessation of substantial reality. Listen …

And what is the practice that leads to the origin of substantial reality? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.

They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.

They regard feeling as self …

They regard perception as self …

They regard choices as self …

They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

This is called the practice that leads to the origin of substantial reality. And that’s why it’s called a way of regarding things that leads to the origin of suffering.

And what is the practice that leads to the cessation of substantial reality? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons.

They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form.

They don’t regard feeling as self …

They don’t regard perception as self …

They don’t regard choices as self …

They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

This is called the practice that leads to the cessation of substantial reality. And that’s why it’s called a way of regarding things that leads to the cessation of suffering."

II. Con Ðường (Ðại 2,8a) (S.iii,44)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường đưa đến thân kiến tập khởi và con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến thân kiến tập khởi?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.

6-8. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

9. … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

10. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến tập khởi. Con đường đưa đến thân kiến tập khởi có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến khổ tập khởi.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân; không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc.

13-15. … không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành…

16. … không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức.

17. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến sự khổ đoạn diệt.

SN 22.45 Impermanence Aniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Seeing truly with right understanding like this, the mind becomes dispassionate and freed from defilements by not grasping.

Feeling is impermanent …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Seeing truly with right understanding like this, the mind becomes dispassionate and freed from defilements by not grasping.

If a mendicant’s mind is dispassionate towards the form element, the feeling element, the perception element, the choices element, and the consciousness element, it’s freed from defilements by not grasping.

Being free, it’s stable. Being stable, it’s content. Being content, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

III. Vô Thường (Tạp 3,35, Thanh Tịnh, Ðại 2,21c) (S.iii,44)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Tưởng, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc.

8. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đối với sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… đối với thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

SN 22.46 Impermanence (2nd) Dutiyaaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Feeling is impermanent …

Perception is impermanent …

Choices are impermanent …

Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing truly with right understanding like this, they have no theories about the past. Not having theories about the past, they have no theories about the future. Not having theories about the future, they don’t obstinately stick to them. Not misapprehending, the mind becomes dispassionate towards form, feeling, perception, choices, and consciousness; it’s freed from defilements by not grasping.

Being free, it’s stable. Being stable, it’s content. Being content, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

IV. Vô Thường (Tạp 3,36, Chánh Quán Sát, Ðại 2,21c) (S.iii,45)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không có các tùy kiến về quá khứ. Do không có các tùy kiến về quá khứ nên không có các tùy kiến về tương lai. Do không có các tùy kiến về tương lai, kiên trì chấp thủ không có. Do không có kiên trì chấp thủ, đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, tâm ly tham, giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình được tịch tịnh một cách viên mãn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.47 Ways of Regarding Samanupassanāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, whatever ascetics and brahmins regard various kinds of things as self, all regard the five grasping aggregates, or one of them.

What five? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.

They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

So they’re not rid of this way of regarding things and the conceit ‘I am’. As long as they’re not rid of the conceit ‘I am’, the five faculties are conceived—the eye, ear, nose, tongue, and body. The mind, ideas, and the element of ignorance are all present. Struck by feelings born of contact with ignorance, an unlearned ordinary person thinks ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will not be percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient’.

The five faculties stay right where they are. But a learned noble disciple gives up ignorance about them and gives rise to knowledge. With the fading away of ignorance and the arising of knowledge, they don’t think ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient’."

V. Quán Kiến (Tạp 2,13, Giác, Ðại 2,11b) (S.iii,46)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tự ngã dưới nhiều hình thức sai khác, quán cả năm thủ uẩn hay quán một trong năm thủ uẩn.

4. Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, ở đây kẻ vô văn phàm phu không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Nếu quán như vậy, thời đi đến chấp kiến: “Tôi là”.

5. Này các Tỷ-kheo, khi đi đến chấp kiến: “Tôi là”, thời năm căn nhập vào avakkanti (hiện hữu), tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

6. Này các Tỷ-kheo, có ý, có các pháp, có vô minh giới. Cảm xúc bởi cảm thọ, (cảm thọ này) sanh do xúc chạm với vô minh; kẻ vô văn phàm phu đi đến chấp kiến: “Tôi là”, đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, đi đến chấp kiến: " Tôi sẽ là", đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ không là” đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với không tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do năm căn an trú ở đây, nhưng đối với vị Ða văn Thánh đệ tử, vô minh được đoạn trừ và minh khởi lên. Do vô minh được viễn ly, do minh sanh khởi, không đi đến chấp kiến: “Tôi là”, không đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu”… “Tôi sẽ không hiện hữu”… “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”… “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”… “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”… “Tôi sẽ hiện hữu với vô tưởng”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.

SN 22.48 Aggregates Khandhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the five aggregates and the five grasping aggregates. Listen …

And what are the five aggregates?

Any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of form.

Any kind of feeling at all …

Any kind of perception at all …

Any kind of choices at all …

Any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of consciousness.

These are called the five aggregates.

And what are the five grasping aggregates?

Any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; coarse or fine; inferior or superior; far or near, which is accompanied by defilements and is prone to fuel grasping: this is called the aggregate of form connected with grasping.

Any kind of feeling at all …

Any kind of perception at all …

Any kind of choices at all …

Any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; coarse or fine; inferior or superior; far or near, which is accompanied by defilements and is prone to fuel grasping: this is called the aggregate of consciousness connected with grasping.

These are called the five grasping aggregates."

VI. Các Uẩn (Tạp 2,23 Ấm, Ðại 2,13b) (S.iii,47)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn, hãy lắng nghe…

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là năm uẩn?

5. Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn.

6-8. Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có các hành gì…

9. Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức uẩn.

10. Những cái này, này các Tỷ-kheo, được gọi là năm uẩn.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn?

12. Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại… hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.

13-15. Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có các hành gì…

16. Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là thức thủ uẩn.

17. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là năm thủ uẩn.

SN 22.49 With Soṇa Soṇasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Then the householder Soṇa went up to the Buddha … The Buddha said to him:

"Soṇa, there are ascetics and brahmins who—based on form, which is impermanent, suffering, and perishable—regard themselves thus: ‘I’m better’, or ‘I’m equal’, or ‘I’m worse’. What is that but a failure to see truly? Based on feeling … perception … choices … consciousness, which is impermanent, suffering, and perishable, they regard themselves thus: ‘I’m better’, or ‘I’m equal’, or ‘I’m worse’. What is that but a failure to see truly?

There are ascetics and brahmins who—based on form, which is impermanent, suffering, and perishable—don’t regard themselves thus: ‘I’m better’, or ‘I’m equal’, or ‘I’m worse’. What is that but seeing truly? Based on feeling … perception … choices … consciousness, which is impermanent, suffering, and perishable, they don’t regard themselves thus: ‘I’m better’, or ‘I’m equal’, or ‘I’m worse’. What is that but seeing truly?

What do you think, Soṇa? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"So, Soṇa, you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

VII. Sona (Tạp 1,20, Thu-lữ-na, Ðại 2,6a) (S.iii,48)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con một gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3. Thế Tôn nói với Sona, con một gia chủ, đang ngồi một bên:

4. − Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán sắc vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay quán: “Ta bằng nhau”, hay quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!

5. … quán thọ vô thường, khổ, biến hoại…

6. … quán tưởng vô thường, khổ, biến hoại…

7. … quán các hành vô thường, khổ, biến hoại…

8. … quán thức vô thường, khổ, biến hoại là : “Ta tốt đẹp hơn”, hay quán: “Ta bằng nhau”, hay quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!

9. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán sắc vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay không quán: “Ta bằng nhau”, hay không quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy như thật!

10-12. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành…

13. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán thức vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay không quán: “Ta bằng nhau”, hay không quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy như thật!

14. Ông nghĩ thế nào, này Sona, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. − Thọ là thường hay vô thường?..

16. Tưởng là thường hay vô thường?..

17. Các hành là thường hay vô thường?..

18. Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý hay chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

19. − Do vậy, này Sona, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

20-22. Phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm các hành gì…

23. Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

24. Nếu thấy vậy, này Sona, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên chánh trí: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.50 With Soṇa (2nd) Dutiyasoṇasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Then the householder Soṇa went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

"Soṇa, there are ascetics and brahmins who don’t understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They don’t understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.

There are ascetics and brahmins who do understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They do understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."

VIII. Sona (Tạp 1,31, Thu-lữ-na, Ðại 2,6c) (S.iii,50)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

3. Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:

4. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ… không biết rõ tưởng… không biết rõ các hành… không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

5. Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành… biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Samôn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 22.51 The End of Relishing Nandikkhayasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed."

IX. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,51)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát.

4-6. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường… tưởng vô thường… các hành vô thường…

7. Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy.

Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.

SN 22.52 The End of Relishing (2nd) Dutiyanandikkhayasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, rationally apply the mind to form. Truly see the impermanence of form. When a mendicant does this, they grow disillusioned with form. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.

Rationally apply the mind to feeling …

perception …

choices …

consciousness. Truly see the impermanence of consciousness. When a mendicant does this, they grow disillusioned with consciousness. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed."

the middle fifty

X. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,52)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Hãy như lý tác ý sắc, này các Tỷ-kheo, hãy như thật quán (samanupassati) sắc là vô thường. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý sắc, như thật quán sắc là vô thường, vị ấy yếm ly đối với sắc. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.

4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thọ… tác ý tưởng… tác ý các hành…

5. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thức, như thật quán thức là vô thường, vị ấy yếm ly đối với thức. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là đã được khéo giải thoát.

B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa

The Chapter on Involvement

SN 22.53 Involvement Upayasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, if you’re involved, you’re not free. If you’re not involved, you’re free.

As long as consciousness remains, it would remain involved with form, supported by form, founded on form. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Or consciousness would remain involved with feeling …

Or consciousness would remain involved with perception …

Or as long as consciousness remains, it would remain involved with choices, supported by choices, grounded on choices. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Mendicants, suppose you say: ‘Apart from form, feeling, perception, and choices, I will describe the coming and going of consciousness, its passing away and reappearing, its growth, increase, and maturity.’ That is not possible.

If a mendicant has given up greed for the form element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness.

If a mendicant has given up greed for the feeling element …

perception element …

choices element …

consciousness element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness. Since that consciousness does not become established and does not grow, with no power to regenerate, it is freed.

Being free, it’s stable. Being stable, it’s content. Being content, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

I. Phẩm Tham Luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

4. Hay do tham luyến thọ … tham luyến tưởng … tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

5. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

6-10. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

11. Không có chỗ y chỉ ấy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát. Do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.54 Seeds Bījasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are five kinds of plants propagated from seeds. What five? Plants propagated from roots, stems, cuttings, or joints; and those from regular seeds are the fifth.

Suppose these five kinds of plants propagated from seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. But there’s no soil or water. Then would these five kinds of plants propagated from seeds reach growth, increase, and maturity?"

“No, sir.”

“Suppose these five kinds of plants propagated from seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. And there is soil and water. Then would these five kinds of plants propagated from seeds reach growth, increase, and maturity?”

“Yes, sir.”

"The four grounds of consciousness should be seen as like the earth element. Relishing and greed should be seen as like the water element. Consciousness with its fuel should be seen as like the five kinds of plants propagated from seeds.

As long as consciousness remains, it would remain involved with form, supported by form, grounded on form. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Or consciousness would remain involved with feeling …

Or consciousness would remain involved with perception …

Or as long as consciousness remains, it would remain involved with choices, supported by choices, grounded on choices. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Mendicants, suppose you say: ‘Apart from form, feeling, perception, and choices, I will describe the coming and going of consciousness, its passing away and reappearing, its growth, increase, and maturity.’ That is not possible.

If a mendicant has given up greed for the form element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness.

If a mendicant has given up greed for the feeling element …

perception element …

choices element …

consciousness element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness. Since that consciousness does not become established and does not grow, with no power to regenerate, it is freed.

Being free, it’s stable. Being stable, it’s content. Being content, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended … there is nothing further for this place.’"

II. Chủng Tử (Tạp 2, Ðại 2,8c) (S.iii,54)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm loại chủng tử. Thế nào là năm? Chủng tử từ rễ, chủng tử từ thân, chủng tử từ đọt, chủng tử từ quả, và chủng tử từ chủng tử là thứ năm.

4. Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, nhưng không có đất, và không có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5. − Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, có đất và có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?

− Thưa được, bạch Thế Tôn.

6. − Này các Tỷ-kheo, ví như đất, bốn thức trú cần phải được xem như vậy. Ví như nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham cần phải được xem như vậy. Ví như năm loại chủng tử, này các Tỷ-kheo, thức cùng các món ăn cần phải được xem như vậy.

7. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

8-10. Do tham luyến thọ… Do tham luyến tưởng… Do tham luyến các hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được tồn tại. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

11. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

12. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

13-16. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… đối với thức giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

17. Không có chỗ y chỉ như vậy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.55 An Inspired Saying Udānasutta

At Sāvatthī.

There the Buddha expressed this heartfelt sentiment: “‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine.’ A mendicant who makes such a resolution can cut off the lower fetters.”

When he said this, one of the mendicants asked the Buddha, “But sir, how can a mendicant who makes such a resolution cut off the lower fetters?”

"Mendicant, take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in their teaching. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in their teaching.

They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

They don’t truly understand form—which is impermanent—as impermanent. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is impermanent—as impermanent.

They don’t truly understand form—which is suffering—as suffering. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is suffering—as suffering.

They don’t truly understand form—which is not-self—as not-self. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is not-self—as not-self.

They don’t truly understand form—which is conditioned—as conditioned. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is conditioned—as conditioned.

They don’t truly understand that form will disappear. They don’t truly understand that feeling … perception … choices … consciousness will disappear.

But a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self … They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self.

They truly understand form—which is impermanent—as impermanent. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is impermanent—as impermanent.

They truly understand form … feeling … perception … choices … consciousness—which is suffering—as suffering.

They truly understand form … feeling … perception … choices … consciousness—which is not-self—as not-self.

They truly understand form … feeling … perception … choices … consciousness—which is conditioned—as conditioned.

They truly understand that form will disappear. They truly understand that feeling … perception … choices … consciousness will disappear.

It’s because of the disappearance of form, feeling, perception, choices, and consciousness that a mendicant who makes such a resolution—‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine’—can cut off the lower fetters."

"Sir, a mendicant who makes such a resolution can cut off the lower fetters.

But how are they to know and see in order to end the defilements in the present life?"

"Mendicant, an unlearned ordinary person worries about things that aren’t a worry. For an unlearned ordinary person worries: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine.’

A learned noble disciple doesn’t worry about things that aren’t a worry. For a learned noble disciple doesn’t worry: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine.’

As long as consciousness remains, it would remain involved with form, supported by form, founded on form. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Or consciousness would remain involved with feeling …

Or consciousness would remain involved with perception …

Or consciousness would remain involved with choices, supported by choices, grounded on choices. And with a sprinkle of relishing, it would grow, increase, and mature.

Suppose, mendicant, you were to say: ‘Apart from form, feeling, perception, and choices, I will describe the coming and going of consciousness, its passing away and reappearing, its growth, increase, and maturity.’ That is not possible.

If a mendicant has given up greed for the form element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness.

If a mendicant has given up greed for the feeling element …

perception element …

choices element …

consciousness element, the support is cut off, and there is no foundation for consciousness. Since that consciousness does not become established and does not grow, with no power to regenerate, it is freed.

Being free, it’s stable. Being stable, it’s content. Being content, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended … there is nothing further for this place.’

The ending of the defilements is for one who knows and sees this."

III. Lời Cảm Hứng (Tạp 2, Ðại 2,16c) (S.iii,55)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Ở đấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng như sau:

Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Như thế nào bạch Thế Tôn:

Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn?

4. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

5. Vị ấy không như thật biết rõ (pajànàti) sắc vô thường là sắc vô thường, không như thật biết rõ thọ vô thường là thọ vô thường, không như thật biết rõ tưởng vô thường là tưởng vô thường, không như thật biết rõ hành vô thường là hành vô thường, không như thật biết rõ thức vô thường là thức vô thường.

6. Không như thật biết rõ sắc khổ là sắc khổ, không như thật biết rõ thọ khổ… tưởng khổ… hành khổ… không như thật biết rõ thức khổ là thức khổ.

7. Không như thật biết rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, không như thật biết rõ thọ vô ngã… tưởng vô ngã… hành vô ngã… không như thật biết rõ thức vô ngã là thức vô ngã.

8. Không như thật biết rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, không như thật biết rõ thọ hữu vi… tưởng hữu vi… hành hữu vi… không như thật biết rõ thức hữu vi là thức hữu vi.

9. Không như thật biết rõ sắc sẽ biến diệt… thọ sẽ biến diệt… tưởng sẽ biết diệt… các hành sẽ biến diệt… không như thật biết rõ thức sẽ biến diệt.

10. Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

11. Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô thường là vô thường, thọ vô thường… tưởng vô thường… hành vô thường… thức vô thường là thức vô thường.

12. Vị ấy như thật thấy rõ sắc khổ là sắc khổ, thọ khổ… tưởng khổ… hành khổ… như thật thấy rõ thức khổ là thức khổ.

13. Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, thọ vô ngã… tưởng vô ngã… các hành vô ngã… thức vô ngã là thức vô ngã.

14. Vị ấy như thật thấy rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, thọ hữu vi… tưởng hữu vi… các hành hữu vi… thức hữu vi là thức hữu vi.

15. Vị ấy như thật thấy rõ sắc sẽ biến diệt là sắc sẽ biến diệt, thọ sẽ biến diệt… tưởng sẽ biến diệt… các hành sẽ biến diệt… thức sẽ biến diệt là thức sẽ biến diệt.

16. Do sắc biến diệt, thọ biến diệt, tưởng biến diệt, hành biến diệt, thức biến diệt, vị Tỷ-kheo nói lên lời cảm hứng:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.

17. − Dầu cho quyết tâm như vậy, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo có thể cắt đứt hạ phần kiết sử. Nhưng bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?

18. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ như sau:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có.
Tương lai sẽ không ta.

19. Và vị Ða văn Thánh đệ tử, này Tỷ-kheo, không hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; vị Ða văn Thánh đệ tử không có hoảng sợ như sau:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.

20. Này Tỷ-kheo, do tham luyến sắc, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

21-33. Do tham luyến thọ… do tham luyến tưởng… do tham luyến hành… do tham luyến thức, này Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

24. Này Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

25. Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.

26. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới…

27. Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với tưởng giới…

28. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với hành giới…

29. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.

30. Không có chỗ y chỉ như vậy thức không tăng trưởng, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.56 Rounds of the Grasping Aggregates Upādānaparipavattasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? The grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.

As long as I didn’t truly understand these five grasping aggregates in four rounds, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

But when I did truly understand these five grasping aggregates in four rounds, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

And how are there four rounds? I directly knew form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I directly knew feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.

And what is form? The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Form originates from food. When food ceases, form ceases. The practice that leads to the cessation of form is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

Whatever ascetics and brahmins have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form: they are practicing well. Those who practice well have a firm footing in this teaching and training.

Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found.

And what is feeling? There are these six classes of feeling: feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called feeling. Feeling originates from contact. When contact ceases, feeling ceases. The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path …

And what is perception? There are these six classes of perception: perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called perception. Perception originates from contact. When contact ceases, perception ceases. The practice that leads to the cessation of perceptions is simply this noble eightfold path …

And what are choices? There are these six classes of intention: intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. These are called choices. Choices originate from contact. When contact ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path …

And what is consciousness? There are these six classes of consciousness: eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness. Consciousness originates from name and form. When name and form cease, consciousness ceases. The practice that leads to the cessation of consciousness is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

Whatever ascetics and brahmins have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness: they are practicing well. Those who practice well have a firm footing in this teaching and training.

Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found."

IV. Thủ Chuyển (Tạp 2, Ðại 2,9b) (S.iii,58)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

4. Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

5. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

6. Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ… tưởng… hành… Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

8. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào do thắng tri sắc như vậy; do thắng tri sắc tập khởi như vậy, do thắng tri sắc đoạn diệt như vậy, do thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

9. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy… thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định.

11. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

12. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy… thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ!

13-15. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

16. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

18. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành, họ giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

19. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỷ -kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định.

20. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

21. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

SN 22.57 Seven Cases Sattaṭṭhānasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, in this teaching and training a mendicant who is skilled in seven cases and who examines in three ways is called consummate, accomplished, a supreme person.

And how is a mendicant skilled in seven cases? It’s when a mendicant understands form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand form’s gratification, drawback, and escape. They understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand consciousness’s gratification, drawback, and escape.

And what is form? The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Form originates from food. When food ceases, form ceases. The practice that leads to the cessation of form is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape.

Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form: they are practicing well. Those who practice well have a firm footing in this teaching and training.

Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found.

And what is feeling? There are these six classes of feeling: feeling born of eye contact … feeling born of mind contact. This is called feeling. Feeling originates from contact. When contact ceases, feeling ceases. The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

The pleasure and happiness that arise from feeling: this is its gratification. That feeling is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for feeling: this is its escape. …

And what is perception? There are these six classes of perception: perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called perception. Perception originates from contact. When contact ceases, perception ceases. The practice that leads to the cessation of perceptions is simply this noble eightfold path …

And what are choices? There are these six classes of intention: intention regarding sights … intention regarding ideas. These are called choices. Choices originate from contact. When contact ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path …

And what is consciousness? There are these six classes of consciousness: eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness. Consciousness originates from name and form. When name and form cease, consciousness ceases. The practice that leads to the cessation of consciousness is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

The pleasure and happiness that arise from consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.

Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness: they are practicing well. Those who practice well have a firm footing in this teaching and training.

Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found. That’s how a mendicant is skilled in seven cases.

And how does a mendicant examine in three ways? It’s when a mendicant examines by way of the elements, sense fields, and dependent origination. That’s how a mendicant examines in three ways.

In this teaching and training, a mendicant who is skilled in seven cases and who examines in three ways is called consummate, accomplished, a supreme person."

V. Bảy Xứ (Sattatthàna) (Tạp 2, Ðại 2,10a; 498c; 875b) (Tăng 35, Ðại 2,754b) (S.iii,61)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, này các Tỷ-kheo, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một bậc tối thượng nhân.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo biết rõ (pajànati) sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của sắc, biết rõ sự nguy hiểm của sắc, biết rõ sự xuất ly của sắc.

6-8. … biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành…

9. … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của thức, biết rõ sự nguy hiểm của thức, biết rõ sự xuất ly của thức.

10. Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sắc. Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến sắc đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định…

11. Duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đây là sự nguy hại của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là xuất ly của sắc.

12. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

13. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: Thọ do nhãn xúc sanh… thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.

15. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là xuất ly của thọ.

16. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thọ là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thọ là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thọ là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

18-20. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

21. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các hành? Này các Tỷ-kheo, có sáu tư thân: Sắc tư… pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

22. Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của hành. Các hành vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của hành. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với các hành, đây là xuất ly của các hành.

23-24. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này… Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt đối với thức, tức là chánh tri kiến… chánh định.

26. Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức. Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thức, đây là xuất ly của thức.

27. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ giải thoát, không chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

29. Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ.

30. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách.

31. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng nhân.

SN 22.58 The Fully Awakened Buddha Sammāsambuddhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha is freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form. They’re called a fully awakened Buddha. A mendicant freed by wisdom is also freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form. They’re called a mendicant freed by wisdom.

A Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha is freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding feeling …

perception …

choices …

consciousness. They’re called a fully awakened Buddha. A mendicant freed by wisdom is also freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness. They’re called a mendicant freed by wisdom.

What, then, is the difference between a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, and a mendicant freed by wisdom?"

“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”

“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later.

This is the difference between a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, and a mendicant freed by wisdom."

VI. Chánh Ðẳng Giác . (S.iii,54)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

4. Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

5-7. Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng… đoạn diệt các hành… đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ?

9. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì!

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

10. Thế Tôn nói như sau:

− Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).

11. Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.

SN 22.59 The Characteristic of Not-Self Anattalakkhaṇasutta

At one time the Buddha was staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the group of five mendicants:

“Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, form is not-self. For if form were self, it wouldn’t lead to affliction. And you could compel form: ‘May my form be like this! May it not be like that!’ But because form is not-self, it leads to affliction. And you can’t compel form: ‘May my form be like this! May it not be like that!’

Feeling is not-self …

Perception is not-self …

Choices are not-self …

Consciousness is not-self. For if consciousness were self, it wouldn’t lead to affliction. And you could compel consciousness: ‘May my consciousness be like this! May it not be like that!’ But because consciousness is not-self, it leads to affliction. And you can’t compel consciousness: ‘May my consciousness be like this! May it not be like that!’

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling permanent or impermanent?” …

“Is perception permanent or impermanent?” …

“Are choices permanent or impermanent?” …

“Is consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Any kind of feeling at all …

Any kind of perception at all …

Any kind of choices at all …

You should truly see any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, the group of five mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of the group of five mendicants were freed from defilements by not grasping.

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66)

1. Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2. Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: “Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”

4. Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: “Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”

5. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”

6. Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”

7. Tưởng là vô ngã…

8. Các hành là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!”

9. Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!”

10. Thức là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”

11. Và này các Tỷ-kheo, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”

12. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn!

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

13-15. − Thọ… Tưởng… Các hành…

16. Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17. − Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

18. Phàm thọ gì…

19. Phàm tưởng gì…

20. Phàm các hành gì…

21. Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

22. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

23. Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 22.60 With Mahāli Mahālisutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.

Then Mahāli the Licchavi went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, Pūraṇa Kassapa says this: ‘There is no cause or reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted without cause or reason. There’s no cause or reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified without cause or reason.’ What does the Buddha say about this?”

“Mahāli, there is a cause and reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted with cause and reason. There is a cause and reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified with cause and reason.”

“But sir, what is the cause and reason for the corruption of sentient beings? How are sentient beings corrupted with cause and reason?”

"Mahāli, if form were exclusively painful—soaked and steeped in pain and not steeped in pleasure—sentient beings wouldn’t be aroused by it. But because form is pleasurable—soaked and steeped in pleasure and not steeped in pain—sentient beings are aroused by it. Since they are aroused by it, they’re caught up in it, and so they become corrupted. This is a cause and reason for the corruption of sentient beings. This is how sentient beings are corrupted with cause and reason.

If feeling …

perception …

choices …

consciousness were exclusively painful—soaked and steeped in pain and not steeped in pleasure—sentient beings wouldn’t be aroused by it. But because consciousness is pleasurable—soaked and steeped in pleasure and not steeped in pain—sentient beings are aroused by it. Since they are aroused by it, they’re caught up in it, and so they become corrupted. This is a cause and reason for the corruption of sentient beings. This is how sentient beings are corrupted with cause and reason."

“But sir, what is the cause and reason for the purification of sentient beings? How are sentient beings purified with cause and reason?”

"Mahāli, if form was perfectly pleasurable—soaked and steeped in pleasure and not steeped in pain—sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But because form is painful—soaked and steeped in pain and not steeped in pleasure—sentient beings do grow disillusioned with it. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they are purified. This is a cause and reason for the purification of sentient beings. This is how sentient beings are purified with cause and reason.

If feeling …

perception …

choices …

consciousness was perfectly pleasurable—soaked and steeped in pleasure and not steeped in pain—sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But because consciousness is painful—soaked and steeped in pain and not steeped in pleasure—sentient beings do grow disillusioned with it. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they are purified. This is a cause and reason for the purification of sentient beings. This is how sentient beings are purified with cause and reason."

VIII. Mahàli (Tạp 3,32, Phú-Lâu-Na, Ðại 2,20b)(Siii,68)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, trong rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các đại giảng đường.

2. Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahàli, người Licchavi, bạch Thế Tôn:

3. − Puràna Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp), bạch Thế Tôn, thuyết như sau: “Không nhân, không duyên là sự nhiễm ô của chúng sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Không nhân, không duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh được thanh tịnh”. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết như thế nào?

4. − Này Mahàli, có nhân, có duyên là sự nhiễm ô của chúng sanh. Này Mahàli, có nhân, có duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Này Mahàli, có nhân có duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Có nhân, có duyên, chúng sanh được thanh tịnh.

5. − Nhưng bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì là sự nhiễm ô của chúng sanh? Do có nhân gì, do có duyên gì chúng sanh bị nhiễm ô?

6. − Này Mahàli, nếu sắc nhứt hướng khổ, rơi trên đau khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng sanh không tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli, sắc là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối với sắc. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

7. Và này Mahàli, nếu thọ nhứt hướng khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời các chúng sanh không tham đắm đối với thọ. Và vì rằng, này Mahàli, thọ là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối với thọ. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

8-9. Và này Mahàli, nếu tưởng nhứt hướng khổ… nếu các hành nhứt hướng khổ…

10. Và này Mahàli, nếu thức nhứt hướng khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng sanh không tham đắm đối với thức. Vì rằng, này Mahàli, thức là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, do vậy chúng sanh tham đắm đối với thức. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahali, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

11. − Bạch Thế Tôn, thế nào là nhân, thế nào là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh? Do có nhân như thế nào, có duyên như thế nào, chúng sanh được thanh tịnh?

12. − Này Mahàli, nếu sắc là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng sanh không nhàm chán đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli, sắc là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với sắc. Do yếm ly nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được thanh tịnh.

13. Này Mahàli, nếu thọ là nhứt hướng lạc…

14. Này Mahàli, nếu tưởng là nhứt hướng lạc…

15. Này Mahàli, nếu các hành là nhứt hướng lạc…

16. Này Mahàli, nếu thức là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng sanh không nhàm chán đối với thức. Và vì rằng, này Mahàli, thức là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với thức. Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được thanh tịnh.

SN 22.61 Burning Ādittasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are burning.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

IX. Lửa Cháy (S.iii,58)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, đang bốc cháy; thọ đang bốc cháy; tưởng đang bốc cháy; hành đang bốc cháy; thức đang bốc cháy!

4. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”.

5. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.62 The Scope of Language Niruttipathasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these three scopes of terminology, labeling, and description. They’re uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now, nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them. What three? When form has passed, ceased, and perished, its designation, label, and description is ‘was’. It’s not ‘is’ or ‘will be’.

When feeling …

perception …

choices …

consciousness has passed, ceased, and perished, its designation, label, and description is ‘was’. It’s not ‘is’ or ‘will be’.

When form is not yet born, and has not yet appeared, its designation, label, and description is ‘will be’. It’s not ‘is’ or ‘was’.

When feeling …

perception …

choices …

consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its designation, label, and description is ‘will be’. It’s not ‘is’ or ‘was’.

When form has been born, and has appeared, its designation, label, and description is ‘is’. It’s not ‘was’ or ‘will be’.

When feeling …

perception …

choices …

consciousness has been born, and has appeared, its designation, label, and description is ‘is’. It’s not ‘was’ or ‘will be’.

These are the three scopes of terminology, labeling, and description. They’re uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now, nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them.

Even those wanderers of the past, Vassa and Bhañña of Ukkalā, who adhered to the doctrines of no-cause, inaction, and nihilism, didn’t imagine that these three scopes of language should be criticized or rejected. Why is that? For fear of blame, attack, and condemnation."

X. Ngôn Lộ (S.iii,59)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là ba?

4. Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; sắc ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

5. Phàm thọ gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thọ ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

6. Phàm tưởng gì đã qua…

7. Phàm các hành gì đã qua…

8. Phàm thức gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thức ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

9. Phàm sắc gì chưa sanh, chưa hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “đã có”.

10. Phàm thọ gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, thọ ấy không được xác nhận là “đã có”.

11. Phàm tưởng gì…

12. Phàm các hành gì…

13. Phàm thức gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thức ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, thức ấy không được xác nhận là “đã có”.

14. Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã sanh, đã hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Sắc ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

15. Phàm thọ gì đã sanh, đã hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thọ ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

16. Phàm tưởng gì…

17. Phàm các hành gì…

18. Phàm thức gì đã sanh, đã hiện hữu ; thức ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thức ấy không được xác nhận là “đã có”, thức ấy không được xác nhận là “sẽ có”.

19. Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.

20. Tuy vậy, dân chúng ở Ukkali, những vị thuyết pháp trong thời an cư mùa mưa, các vị vô nhân luận giả, các vị vô tác luận giả, các vị vô hữu luận giả, những vị ấy cũng không có nghĩ rằng ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ này không đáng quở trách, không đáng khinh miệt. Vì sao? Vì rằng, họ sợ quở trách, công kích, phẫn nộ, chỉ trích.

The Chapter on the Perfected Ones

SN 22.63 When You Grasp Upādiyamānasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“When you grasp, mendicant, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, when you grasp form you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One. When you grasp feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

When you grasp form you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One. When you grasp feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief."

And then that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Then that mendicant, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.

He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.

II. Phẩm A-La-Hán

I. Chấp Trước (Tạp 1. Ðại 2,4b) (S.iii,73)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai chấp trước, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?

− Ai chấp trước sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước tưởng… Ai chấp trước các hành… Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

6. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn tắt này của Ta. Ai chấp trước sắc, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ… Ai chấp trước tưởng… Ai chấp trước các hành… Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và ra đi.

8. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, vì mục đích gì mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình mong cầu chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh; vị ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy chứng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.64 Conceiving Maññamānasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“When you conceive, mendicant, you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, when you conceive form you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One. When you conceive feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

When you conceive form you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One. When you conceive feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

II. Suy Tưởng (S.iii,74)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lành thay, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con… nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai suy tưởng, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt:

6. − Ai suy tưởng sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai suy tưởng thọ… tưởng… hành… thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn tắt này của Ta. Này Tỷ-kheo, ai suy tưởng sắc, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai suy tưởng thọ… tưởng… các hành… Ai suy tưởng thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.65 When You Take Pleasure Abhinandamānasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“When you take pleasure, mendicant, you’re bound by Māra. Not taking pleasure, you’re free from the Wicked One.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, when you take pleasure in form you’re bound by Māra. Not taking pleasure, you’re free from the Wicked One. When you take pleasure in feeling … perception … choices … consciousness you’re bound by Māra. Not taking pleasure, you’re free from the Wicked One.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

When you take pleasure in form you’re bound by Māra. Not taking pleasure, you’re free from the Wicked One. When you take pleasure in feeling … perception … choices … consciousness you’re bound by Māra. Not taking pleasure, you’re free from the Wicked One.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

III. Hoan Hỷ (S.iii,75)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3.. … Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai hoan hỷ, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?

6. − Ai hoan hỷ sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai hoan hỷ thọ… tưởng… các hành… Ai hoan hỷ thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông đã hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt. Ai hoan hỷ sắc, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai hoan hỷ thọ… tưởng… các hành… Ai hoan hỷ thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.66 Impermanence Aniccasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, give up desire for anything that’s impermanent.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, form is impermanent; I should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent; I should give up desire for it.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

Form is impermanent; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent; you should give up desire for it.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

IV. Vô Thường (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,76)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần…

4. − Cái gì vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ là vô thường… Tưởng là vô thường… Các hành là vô thường… Thức là vô thường, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.67 Suffering Dukkhasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, give up desire for anything that’s suffering.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, form is suffering; I should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is suffering; I should give up desire for it.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

Form is suffering; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is suffering; you should give up desire for it.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

V. Khổ (S.iii,77)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là khổ, bạch Thế Tôn. Ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là khổ, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là khổ, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là khổ, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.68 Not-Self Anattasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, give up desire for what is not-self.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, form is not-self; I should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is not-self; I should give up desire for it.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

Form is not-self; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is not-self; you should give up desire for it.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

VI. Vô Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,77)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là vô ngã, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô ngã, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.69 Not Belonging to Self Anattaniyasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, give up desire for anything that doesn’t belong to self.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, form doesn’t belong to self; I should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness doesn’t belong to self; I should give up desire for it.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

Form doesn’t belong to self; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness doesn’t belong to self; you should give up desire for it.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

VII. Không Ðáng Thuộc Tự Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3c) (S.iii,79)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi… Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con…

4. − Cái gì không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc không đáng thuộc tự ngã, bạch Thế Tôn, ở đây, con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức không đáng thuộc tự ngã, ở đây, con cần phải từ bỏ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời dạy vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng rãi. Sắc không đáng thuộc tự ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành…Thức không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.70 Definitely Arousing Rajanīyasaṇṭhitasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Mendicant, give up desire for anything that’s stuck in what’s arousing.”

“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”

“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”

"Sir, form is stuck in what’s arousing; I should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is stuck in what’s arousing; I should give up desire for it.

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.

Form is stuck in what’s arousing; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is stuck in what’s arousing; you should give up desire for it.

This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief." …

And that mendicant became one of the perfected.

VIII. Chỉ Trú Cho Ô Nhiễm (Tạp 1, Ðại 2,4a) (S.iii,79)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con…

4. − Cái gì làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu bạch Thiện Thệ.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, bạch Thế Tôn, ở đây con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, ở đây, con cần phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo. Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa!

SN 22.71 With Rādha Rādhasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Rādha went up to the Buddha … and asked him, “Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli?”

"Rādha, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli." …

And Venerable Rādha became one of the perfected.

IX. Ràdha (Tạp 6, Ðại 2,37c) (S.iii,79)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2-3. Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn sau khi đến… bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”?

4. − Này Ràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần được thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Phàm có thọ…

6. Phàm có tưởng…

7. Phàm có các hành…

8. Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần được thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Này Ràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”.

10.. … Tôn giả Ràdha trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.72 With Surādha Surādhasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Surādha said to the Buddha:

“Sir, how does one know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”

"Surādha, one is freed by not grasping having truly seen any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

One is freed by not grasping having truly seen any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

That’s how to know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed." …

And Venerable Surādha became one of the perfected.

X. Suràdha (S.iii,80)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2-3… … Rồi Tôn giả Suràdha bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn”, vượt ngoài mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải thoát?

4. − Này Suràdha, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại… xa hay gần; sau khi thấy với chánh trí tuệ như thật tất cả các sắc là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, (vị ấy) được giải thoát, không có chấp thủ.

5-7. Phàm có thọ gì… có tưởng gì… có hành gì…

8. Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; sau khi như thật thấy với chánh trí tuệ tất cả các thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, (vị ấy) được giải thoát, không có chấp thủ.

9. Này Suràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn”, vượt ngoài mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải thoát.

10. Rồi Tôn giả Suràdha… trở thành một vị A-la-hán nữa.

The Chapter on Itchy

SN 22.73 Gratification Assādasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness. A learned noble disciple does truly understand the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.”

III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn

I. Vị Ngọt (S.iii,81)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành.

7. Không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

8-12. Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc… của thọ… của tưởng… của các hành… của thức.

SN 22.74 Origin Samudayasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness. A learned noble disciple does truly understand the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.”

II. Tập Khởi (S.iii,82)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành…

7. Không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

8. Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

9-11. … của thọ… của tưởng… của các hành…

12. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

SN 22.75 Origin (2nd) Dutiyasamudayasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, a learned noble disciple truly understands the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.”

III. Tập Khởi (S.iii,82)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành…

7. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

SN 22.76 The Perfected Ones Arahantasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ As far as there are abodes of sentient beings, even up until the pinnacle of existence, the perfected ones are the foremost and the best."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Oh! How happy are the perfected ones!
Craving is not found in them,
the conceit ‘I am’ is cut off,
and the net of delusion is shattered.

They’ve attained imperturbability,
their minds are unclouded,
nothing in the world clings to them,
manifesting divinity, undefiled.

Completely understanding the five aggregates,
their domain is the seven good qualities.
Those true persons are praiseworthy,
the Buddha’s true-born sons.

Endowed with the seven gems,
and trained in the three trainings,
the great heroes live on,
with fear and dread given up.

Endowed with ten factors,
those giants have immersion.
These are the best in the world,
craving is not found in them.

The adept’s knowledge has arisen:
‘This bag of bones is my last.’
They are independent of others
in the core of the spiritual path.

Unwavering in the face of discrimination,
they’re freed from future lives.
They’ve reached the level of the tamed,
in the world, they’re the winners.

Above, below, all round,
relishing is not found in them.
They roar their lion’s roar:
‘The awakened are supreme in the world!’"

IV. Các Vị A-La-Hán (S.iii,83)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. … thọ… tưởng… các hành là vô thường…

7. Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành. … đối với thức.

9. Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

10. Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.

11. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.

2) Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.

3) Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.

4) Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.

5) Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.

Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.

6) Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.

7) Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.

8) Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!

SN 22.77 The Perfected Ones (2nd) Dutiyaarahantasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

As far as there are abodes of sentient beings, even up until the pinnacle of existence, the perfected ones are the foremost and the best."

V. Các Vị A-La-Hán (S.iii,84)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường…

8. Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức.

9. Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

10. Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư, cho đến tột đảnh của hữu, những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.

SN 22.78 The Lion Sīhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, towards evening the lion, king of beasts, emerges from his den, yawns, looks all around the four quarters, and roars his lion’s roar three times. Then he sets out on the hunt. And whatever animals hear the roar of the lion, king of beasts, are typically filled with fear, awe, and terror. They return to their lairs, be they in a hole, the water, or a wood; and the birds take to the air. Even the royal elephants, bound with strong harness in the villages, towns, and capital cities, break apart their bonds, and urinate and defecate in terror as they flee here and there. That’s how powerful is the lion, king of beasts, over animals, how illustrious and mighty.

In the same way, when a Realized One arises in the world—perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those who wish to train, teacher of gods and humans, awakened, blessed—he teaches the Dhamma: ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’

Now, there are gods who are long-lived, beautiful, and very happy, living for ages in their divine palaces. When they hear this teaching by the Realized One, they’re typically filled with fear, awe, and terror. ‘Oh no! It turns out we’re impermanent, though we thought we were permanent! It turns out we don’t last, though we thought we were everlasting! It turns out we’re short-lived, though we thought we were eternal! It turns out that we’re impermanent, not lasting, short-lived, and included within substantial reality.’ That’s how powerful is the Realized One in the world with its gods, how illustrious and mighty."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"The Buddha, the teacher without a peer
in all the world with its gods,
rolls forth the Wheel of Dhamma
from his own insight:

substantial reality, its cessation,
the origin of substantial reality,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.

And then the long-lived gods,
so beautiful and glorious,
are afraid and full of terror,
like the other beasts when they hear a lion.

‘We haven’t transcended substantial reality!
It turns out we’re impermanent!’
So they say when they hear the word
of the perfected one, free and unaffected."

VI. Sư Tử (S.iii,85)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn xung quanh bốn phương. Sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh, nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.

5. Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các cây đa cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy, tung cả phân và nước tiểu.

6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú; đối với loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết pháp: Ðây là sắc. Ðây là sắc tập khởi. Ðây là sắc đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến thức đoạn diệt.

8. Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.

10. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Khi Phật với thượng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ.

2) Sự đoạn diệt tự thân,
Sự hiện hữu tự thân,
Và đường Thánh Tám ngành
Ðưa đến khổ diệt tận,

3) Chư Thiên được trường thọ,
Có mỹ sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm, sợ hãi,
Như thú thấy sư tử.

4) Vì chưa thoát tự thân,
“Chúng ta là vô thường”,
Nghe lời bậc ứng Cúng,
Ðã giải thoát như vậy.

SN 22.79 Itchy Khajjanīyasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, whatever ascetics and brahmins recollect many kinds of past lives, all recollect the five grasping aggregates, or one of them. What five? ‘I had such form in the past.’ Recollecting thus, it’s only form that they recollect. ‘I had such feeling … perception … choices … consciousness in the past.’ Recollecting thus, it’s only consciousness that they recollect.

And why do you call it form? It’s deformed; that’s why it’s called ‘form’. Deformed by what? Deformed by cold, heat, hunger, and thirst, and deformed by the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. It’s deformed; that’s why it’s called ‘form’.

And why do you call it feeling? It feels; that’s why it’s called ‘feeling’. And what does it feel? It feels pleasure, pain, and neutral. It feels; that’s why it’s called ‘feeling’.

And why do you call it perception? It perceives; that’s why it’s called ‘perception’. And what does it perceive? It perceives blue, yellow, red, and white. It perceives; that’s why it’s called ‘perception’.

And why do you call them choices? Choices produce conditioned phenomena; that’s why they’re called ‘choices’. And what are the conditioned phenomena that they produce? Form is a conditioned phenomenon; choices are what make it into form. Feeling is a conditioned phenomenon; choices are what make it into feeling. Perception is a conditioned phenomenon; choices are what make it into perception. Choices are conditioned phenomena; choices are what make them into choices. Consciousness is a conditioned phenomenon; choices are what make it into consciousness. Choices produce conditioned phenomena; that’s why they’re called ‘choices’.

And why do you call it consciousness? It cognizes; that’s why it’s called ‘consciousness’. And what does it cognize? It cognizes sour, bitter, pungent, sweet, hot, mild, salty, and bland. It cognizes; that’s why it’s called ‘consciousness’.

A learned noble disciple reflects on this: ‘Currently I’m itched by form. In the past I was also itched by form just like now. If I were to look forward to enjoying form in the future, I’d be itched by form in the future just as I am today.’ Reflecting like this they don’t worry about past form, they don’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.

'Currently I’m itched by feeling …

perception …

choices …

consciousness. In the past I was also itched by consciousness just like now. If I were to look forward to enjoying consciousness in the future, I’d be itched by consciousness in the future just as I am today.’ Reflecting like this they don’t worry about past consciousness, they don’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

This is called a noble disciple who gets rid of things and doesn’t accumulate them; who gives things up and doesn’t grasp at them; who discards things and doesn’t amass them; who dissipates things and doesn’t get clouded by them.

And what things do they get rid of and not accumulate? They get rid of form and don’t accumulate it. They get rid of feeling … perception … choices … consciousness and don’t accumulate it.

And what things do they give up and not grasp? They give up form and don’t grasp it. They give up feeling … perception … choices … consciousness and don’t grasp it.

And what things do they discard and not amass? They discard form and don’t amass it. They discard feeling … perception … choices … consciousness and don’t amass it.

And what things do they dissipate and not get clouded by? They dissipate form and don’t get clouded by it. They dissipate feeling … perception … choices … consciousness and don’t get clouded by it.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is called a mendicant who neither gets rid of things nor accumulates them, but remains after getting rid of them. They neither give things up nor grasp them, but remain after giving them up. They neither discard things nor amass them, but remain after discarding them. They neither dissipate things nor get clouded by them, but remain after dissipating them.

And what things do they neither get rid of nor accumulate, but remain after getting rid of them? They neither get rid of nor accumulate form, but remain after getting rid of it. They neither get rid of nor accumulate feeling … perception … choices … consciousness, but remain after getting rid of it.

And what things do they neither give up nor grasp, but remain after giving them up? They neither give up nor grasp form, but remain after giving it up. They neither give up nor grasp feeling … perception … choices … consciousness, but remain after giving it up.

And what things do they neither discard nor amass, but remain after discarding them? They neither discard nor amass form, but remain after discarding it. They neither discard nor amass feeling … perception … choices … consciousness, but remain after discarding it.

And what things do they neither dissipate nor get clouded by, but remain after dissipating them? They neither dissipate nor get clouded by form, but remain after dissipating it. They neither dissipate nor get clouded by feeling … perception … choices … consciousness, but remain after dissipating it.

When a mendicant’s mind is freed like this, the gods together with Indra, the Divinity, and the Progenitor worship them from afar:

‘Homage to you, O thoroughbred!
Homage to you, supreme among men!
We don’t understand
the basis of your absorption.’"

VII. Ðáng Ðược Ăn (Tạp 2, Ðại 2,11) (S.iii,86)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.

4. Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng… có các hành… có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.

6. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.

7. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.

8. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm… rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

12. “Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.

13. “Ta nay bị tưởng chinh phục…”.

14. “Ta nay bị các hành chinh phục…”.

15. “Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.

16. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17-19. − Thọ… Tưởng… Các hành…

20. Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng… xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

22. Ðối với thọ…

23. Ðối với tưởng…

24. Ðối với các hành…

25. Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

26. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.

27. Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc…, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ…tưởng…các hành…giảm thiểu, không tăng trưởng thức.

28. Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc…thọ… tưởng… các hành… từ bỏ, không chấp thủ thức.

29. Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc… thọ… tưởng… các hành… xa lánh, không thân cận thức.

30. Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc… thọ… tưởng… các hành… phân tán, không huân tập thức.

31. Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

32. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.

33. Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ… tưởng… các hành… không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.

34. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ… tưởng… các hành… không từ bỏ, không chấp thủ thức.

35. Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ… tưởng… các hành… không phân tán, không huân tập thức.

36. Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ…tưởng…các hành…không phân tán, không huân tập thức.

37. Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:

38. Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!

SN 22.80 Beggars Piṇḍolyasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.

Then the Buddha, having dismissed the mendicant Saṅgha for some reason, robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kapilavatthu for alms. He wandered for alms in Kapilavatthu. After the meal, on his return from almsround, he went to the Great Wood for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a young wood-apple tree to meditate.

Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I’ve sent the mendicant Saṅgha away. But there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. Not seeing me they may change and fall apart. If a young calf doesn’t see its mother it may change and fall apart. … Or if young seedlings don’t get water they may change and fall apart. In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. Not seeing me they may change and fall apart. Why don’t I support the mendicant Saṅgha now as I did in the past?”

Then the divinity Sahampati knew what the Buddha was thinking. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha. He arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said: “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! The Buddha has sent the mendicant Saṅgha away. But there are mendicants who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. … May the Buddha be happy with the mendicant Saṅgha! May the Buddha welcome the mendicant Saṅgha! May the Buddha support the mendicant Saṅgha now as he did in the past!”

The Buddha consented with silence. Then the divinity Sahampati, knowing that the Buddha had consented, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.

Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the Banyan Tree Monastery, where he sat on the seat spread out. Then he used his psychic power to will that the mendicants would come to him timidly, alone or in pairs. Those mendicants approached the Buddha timidly, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to them:

"This is the last of lifestyles, mendicants, namely relying on alms. The world curses you: ‘You beggar, walking bowl in hand!’ Yet earnest gentlemen take it up for a good reason. Not to escape a summons by a king or a summons for a bandit, or because you were in debt or in fear, or in order to make a living. But because they’re swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re swamped by suffering, mired in suffering. And they think, ‘Hopefully I can find an end to this entire mass of suffering.’

That’s how this gentleman has gone forth. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying mind and undisciplined faculties. Suppose there was a firebrand for lighting a funeral pyre, burning at both ends, and smeared with dung in the middle. It couldn’t be used as timber either in the village or the wilderness. I say that person is just like this. They’ve missed out on the pleasures of the lay life, and haven’t fulfilled the goal of the ascetic life.

There are these three unskillful thoughts. Sensual, malicious, and cruel thoughts. And where do these three unskillful thoughts cease without anything left over? In those who meditate with their mind firmly established in the four kinds of mindfulness meditation; or who develop signless immersion. This is quite enough motivation to develop signless immersion. When signless immersion is developed and cultivated it is very fruitful and beneficial.

There are these two views. Views favoring continued existence and views favoring ending existence. A learned noble disciple reflects on this: ‘Is there anything in the world that I could grasp without fault?’ They understand: ‘There’s nothing in the world that I could grasp without fault. For in grasping I would grasp only at form, feeling, perception, choices, or consciousness. That grasping of mine would be a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.’

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?” …

"So you should truly see …

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VIII. Người Khất Thực (Tạp 10, Ðại 2,71c) (Trung 34, Ðại 1,647a) (S.iii,91)

1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhàràma)

2. Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu để khất thực.

3. Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahàvana (Ðại Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahàvana, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.

4. Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:

5. "Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.

6. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước có thể đổi khác, biến đổi.

7. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!"

8. Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.

9. Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.

10. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ có thể đổi khác, biến đổi.

11. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.

12. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.

13. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!

14. Thế Tôn im lặng nhận lời.

15. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

16. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: “Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi”.

17. Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

18. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

− Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: “Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống”. Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra”.

19. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh.

20. Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.

21. Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.

22. Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà không có phạm tội?”

23. Và vị ấy biết: “Không có cái gì ở trong đời ta chấp trước mà không có phạm tội”. Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ sắc… thọ… tưởng… các hành… Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

24. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

25-28. − Thọ… Tưởng… Hành… Thức… Do vậy, này các Tỷ-kheo, thấy vậy… Vị ấy biết: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.81 At Pārileyya Pālileyyasutta

At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.

Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kosambī for alms. After the meal, on his return from almsround, he set his lodgings in order himself. Taking his bowl and robe, without informing his attendants or taking leave of the mendicant Saṅgha, he set out to go wandering alone, with no companion.

Then, not long after the Buddha had left, one of the mendicants went to Venerable Ānanda and told him what had happened. Ānanda said, “Reverend, when the Buddha leaves like this it means he wants to stay alone. At this time no-one should follow him.”

Then the Buddha, traveling stage by stage, arrived at Pārileyya, where he stayed at the root of a sacred sal tree. Then several mendicants went up to Venerable Ānanda and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him, “Reverend, it’s been a long time since we’ve heard a Dhamma talk from the Buddha. We wish to hear a Dhamma talk from the Buddha.”

Then Venerable Ānanda together with those mendicants went to Pārileyya to see the Buddha. They bowed and sat down to one side, and the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.

Now at that time one of the monks had the thought, “How do you know and see in order to end the defilements in the present life?”

Then the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the mendicants:

"Mendicants, I’ve taught the Dhamma analytically. I’ve analytically taught the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. That’s how I’ve taught the Dhamma analytically. Though I’ve taught the Dhamma analytically, still a certain mendicant present here has this thought: ‘How do you know and see in order to end the defilements in the present life?’

And how, mendicants, do you know and see in order to end the defilements in the present life? Take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.

They regard form as self. But that regarding is just a conditioned phenomenon. And what’s the source, origin, birthplace, and inception of that conditioned phenomenon? When an unlearned ordinary person is struck by feelings born of contact with ignorance, craving arises. That conditioned phenomenon is born from that. So that conditioned phenomenon is impermanent, conditioned, and dependently originated. And that craving, that feeling, that contact, and that ignorance are also impermanent, conditioned, and dependently originated. That’s how you should know and see in order to end the defilements in the present life.

Perhaps they don’t regard form as self, but they still regard self as possessing form. But that regarding is just a conditioned phenomenon. …

Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, but they still regard form in self. But that regarding is just a conditioned phenomenon. …

Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, or form in self, but they still regard self in form. But that regarding is just a conditioned phenomenon. …

Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, or form in self, or self in form. But they regard feeling as self … perception as self … choices as self … consciousness as self … But that regarding is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? When an unlearned ordinary person is struck by feelings born of contact with ignorance, craving arises. That conditioned phenomenon is born from that. So that conditioned phenomenon is impermanent, conditioned, and dependently originated. And that craving, that feeling, that contact, and that ignorance are also impermanent, conditioned, and dependently originated. That’s how you should know and see in order to end the defilements in the present life.

Perhaps they don’t regard form or feeling or perception or choices or consciousness as self. Still, they have such a view: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ But that eternalist view is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? … That’s how you should know and see in order to end the defilements in the present life.

Perhaps they don’t regard form or feeling or perception or choices or consciousness as self. Nor do they have such a view: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ Still, they have such a view: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ But that annihilationist view is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? … That’s how you should know and see in order to end the defilements in the present life.

Perhaps they don’t regard form or feeling or perception or choices or consciousness as self. Nor do they have such a view: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ Nor do they have such a view: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ Still, they have doubts and uncertainties. They’re undecided about the true teaching. That doubt and uncertainty, the indecision about the true teaching, is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? When an unlearned ordinary person is struck by feelings born of contact with ignorance, craving arises. That conditioned phenomenon is born from that. So that conditioned phenomenon is impermanent, conditioned, and dependently originated. And that craving, that feeling, that contact, and that ignorance are also impermanent, conditioned, and dependently originated. That’s how you should know and see in order to end the defilements in the present life."

IX. Pàrileyya (Tạp 2, Ðại 2,13c) (S.iii,94)

1. Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

3. Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:

− Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

4. − Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.

5. Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pàlileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pàlileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.

6. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

7. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ananda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ananda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.

8. Rồi Tôn giả Ananda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi đến Pàlileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

9. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.

10. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”

11. Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.

12. Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”

13-16. Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy… xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

17. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

18. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã. Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

19. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

20-21. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ, có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong thọ.

22-23… … có thể quán tưởng… có thể quán các hành…

24.. … có thể quán thức như là tự ngã, có thể quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

25. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi… Do biết như vậy, thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

26. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng vị ấy có thể có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”.

27. Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

28. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã… không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã… không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại” ; có thể không có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này.

29. Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.

30. Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

SN 22.82 A Full Moon Night Puṇṇamasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, together with a large Saṅgha of mendicants. Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks.

Then one of the mendicants got up from their seat, arranged their robe over one shoulder, raised their joined palms toward the Buddha, and said:

“Sir, I’d like to ask the Buddha about a certain point, if you’d take the time to answer.”

“Well then, mendicant, take your own seat and ask what you wish.”

“Yes, sir,” replied that mendicant. He took his seat and said to the Buddha:

“Sir, are these the five grasping aggregates, that is: form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“Yes, they are,” replied the Buddha.

Saying “Good, sir”, that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:

“But sir, what is the root of these five grasping aggregates?”

“These five grasping aggregates are rooted in desire.” … “But sir, is that grasping the exact same thing as the five grasping aggregates? Or is grasping one thing and the five grasping aggregates another?”

“Neither. Rather, the desire and greed for them is the grasping there.”

Saying “Good, sir”, that mendicant asked another question:

“But sir, can there be different kinds of desire and greed for the five grasping aggregates?”

“There can,” said the Buddha.

“It’s when someone thinks: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, or such consciousness!’ That’s how there can be different kinds of desire and greed for the five grasping aggregates.”

Saying “Good, sir”, that mendicant asked another question:

“Sir, what is the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates?”

“Any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of form. Any kind of feeling at all … Any kind of perception at all … Any kind of choices at all … Any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of consciousness. That’s the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates.”

Saying “Good, sir”, that mendicant asked another question:

“What is the cause, sir, what is the reason why the aggregate of form is found? What is the cause, what is the reason why the aggregate of feeling … perception … choices … consciousness is found?”

“The four principal states are the reason why the aggregate of form is found. Contact is the reason why the aggregates of feeling, perception, and choices are found. Name and form are the reasons why the aggregate of consciousness is found.”

Saying “Good, sir”, that mendicant asked another question:

“Sir, how does substantialist view come about?”

“It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view comes about.”

Saying “Good, sir”, that mendicant … asked another question:

“But sir, how does substantialist view not come about?”

“It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view does not come about.”

Saying “Good, sir”, that mendicant … asked another question:

“Sir, what’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape. The pleasure and happiness that arise from feeling … perception … choices … consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.”

Saying “Good, sir”, that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:

“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli?”

“One truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ They truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near, all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli.”

Now at that time one of the mendicants had the thought:

“So it seems, good fellow, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then what self will the deeds done by not-self affect?”

Then the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the mendicants:

"It’s possible that some futile person here—unknowing and ignorant, their mind dominated by craving—thinks they can overstep the teacher’s instructions. They think: ‘So it seems, good fellow, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then what self will the deeds done by not-self affect?’ Now, mendicants, you have been educated by me in questioning with regards to all these things in all such cases.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

“Two on the aggregates; exactly the same;
- and can there be;
on the term; and on the cause;
two questions on substantial reality;
gratification; and that with consciousness:
these are the ten questions
the mendicant came to ask.”

X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Kinh Trung Bộ, trang 109, 110 Tham chiếu)

1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.

3. Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.

− Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.

4. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?

− Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

5. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:

− Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?

− Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.

6. − Lành thay, bạch Thế Tôn…

− Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?

− Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.

7. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:

− Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?

Thế Tôn đáp :

− Có thể có, này Tỷ-kheo.

Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau: “Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.

8. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu hỏi nữa:

− Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?

− Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì… Phàm tưởng gì… Phàm các hành gì… Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn.

9. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu hỏi nữa:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn?

Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?

− Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn.

10. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu khác:

− Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?

− Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc… thọ… tưởng… hành… quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức,hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.

11. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu nữa:

− Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?

− Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân kiến.

12. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm một câu nữa:

− Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc?.. của thọ… của tưởng… của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?

− Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ… Do duyên tưởng… Do duyên các hành… Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.

13. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:

− Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?

− Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ gì… Phàm tưởng gì… Phàm các hành gì… Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!” Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.

14. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: “Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?”

15. Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:

− Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: “Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?” Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.

16. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

17-19. − Thọ… tưởng… các hành…

20. Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Do vậy… thấy vậy… vị ấy biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

The Chapter on Senior Mendicants

SN 22.83 With Ānanda Ānandasutta

At Sāvatthī.

There Ānanda addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Ānanda said this:

"Reverends, the venerable named Puṇṇa son of Mantāṇī was very helpful to me when I was just ordained. He gave me this advice: 'Reverend Ānanda, the thought “I am” occurs because of grasping, not by not grasping. Grasping what? The thought “I am” occurs because of grasping form, feeling, perception, choices, and consciousness, not by not grasping.

Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. They’d look because of grasping, not by not grasping. In the same way, the thought “I am” occurs because of grasping form, feeling, perception, choices, and consciousness, not by not grasping.

What do you think, Reverend Ānanda? Is form permanent or impermanent?’

‘Impermanent, reverend.’

‘Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?’

‘Impermanent, reverend.’ …

‘So you should truly see … Seeing this … They understand: “… there is nothing further for this place.”’

Reverends, the venerable named Puṇṇa son of Mantāṇī was very helpful to me when I was just ordained. He gave me this advice. And now that I’ve heard this teaching from Venerable Puṇṇa son of Mantāṇī, I’ve comprehended the teaching."

IV. Phẩm Trưởng Lão

I. Ananda (Tạp 10, Ðại 2,66a) (S.iii,105)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Ananda ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đây, Tôn giả Ananda gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:

3. − Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantaniputta, lúc chúng ta mới tu học, đã giúp đỡ chúng ta nhiều. Vị ấy giáo giới chúng ta với lời giáo giới này: Này Hiền giả Ananda, do chấp thủ, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

4. Do chấp thủ gì, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ sắc, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ… tưởng… các hành… Do chấp thủ thức, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

5. Này Hiền giả Ananda, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, hay người trẻ tuổi, ưa thích trang điểm, ngắm bóng mặt của mình trong một tấm gương sạch sẽ, trong sáng, hay trong một bát nước trong, thấy được do duyên chấp thủ, không phải không chấp thủ. Cũng vậy, này Hiền giả Ananda, do chấp thủ sắc, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ… tưởng… các hành… do chấp thủ thức, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

6. Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, Hiền giả.

7-10. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, Hiền giả.

11-12. − Do thấy vậy… vị ấy biết “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

13. Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantàniputta, khi chúng tôi mới tu học, đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tôn giả ấy giảng cho chúng tôi lời giáo giới này. Sau khi nghe Tôn giả Punna Mantàniputta thuyết pháp, chúng tôi hoàn toàn chứng tri (Chánh) pháp.

SN 22.84 With Tissa Tissasutta

At Sāvatthī.

Now at that time Venerable Tissa, the Buddha’s paternal cousin, informed several mendicants:

“Reverends, my body feels like it’s drugged. I’m disorientated, the teachings don’t spring to mind, and dullness and drowsiness fill my mind. I lead the spiritual life dissatisfied, and have doubts about the teachings.”

Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.

So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Tissa that the Teacher summons him.”

“Yes, sir,” that monk replied. He went to Tissa and said to him, “Reverend Tissa, the teacher summons you.”

“Yes, reverend,” Tissa replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

“Is it really true, Tissa, that you informed several mendicants that your body feels like it’s drugged … and you have doubts about the teachings?”

“Yes, sir.”

“What do you think, Tissa? If you’re not rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes, will it give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?”

“Yes, sir.”

"Good, good, Tissa! That’s how it is, Tissa, when you’re not rid of greed for form.

If you’re not rid of greed for feeling … perception … choices … consciousness, when that consciousness decays and perishes, will it give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?"

“Yes, sir.”

"Good, good, Tissa! That’s how it is, Tissa, when you’re not rid of greed for consciousness.

What do you think, Tissa? If you are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes, will it give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?"

“No, sir.”

"Good, good, Tissa! That’s how it is, Tissa, when you are rid of greed for form … feeling … perception … choices … consciousness.

What do you think, Tissa? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

"So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’

Suppose, Tissa, there were two people. One was not skilled in the path, the other was. The one not skilled in the path would question the one skilled in the path, who would reply: ‘Come, good man, this is the path. Go down it an hour, and you’ll see a fork in the road. Ignore the left, and take the right-hand path. Go an hour more, and you’ll see a dense forest grove. Go an hour more, and you’ll see an expanse of low-lying marshes. Go an hour more, and you’ll see a large, steep cliff. Go an hour more, and you’ll see level, cleared parkland.’

I’ve made up this simile to make a point. And this is what it means.

‘A person who is not skilled in the path’ is a term for an ordinary unlearned person.

‘A person who is skilled in the path’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.

‘A fork in the road’ is a term for doubt.

‘The left-hand path’ is a term for the wrong eightfold path, that is, wrong view … wrong immersion.

‘The right-hand path’ is a term for the noble eightfold path, that is, right view … right immersion.

‘A dense forest grove’ is a term for ignorance.

‘An expanse of low-lying marshes’ is a term for sensual pleasures.

‘A large, steep cliff’ is a term for anger and distress.

‘Level, cleared parkland’ is a term for extinguishment.

Rejoice, Tissa, rejoice! I’m here to advise you, to support you, and to teach you."

That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Tissa approved what the Buddha said.

II. Tissa (Tạp 10, Ðại 2,71a) (S.iii,106)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, nói với một số đông Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp.

3. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp”.

5. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

− Ðến đây, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Tissa: “Hiền giả Tissa, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả!”

6. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Tissa; sau khi đến, nói với Tôn giả Tissa:

− Hiền giả Tissa! Bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

7. − Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Tissa vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8. Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa đang ngồi một bên:

− Có thật chăng, này Tissa, Ông đã nói như sau cho một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt… và ta nghi ngờ đối với các pháp”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

9. − Ông nghĩ thế nào, này Tissa? Ðối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

10-13. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… Như người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

14. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với thức, người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

15. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người chưa ly tham đối với thức.

16. Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, đối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17.− Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với sắc. Ðối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… Như người đã ly tham đối với các hành, người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

18. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với thức.

19. Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

20-23. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

24-25. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

26. Ví như, này Tissa, có hai người. Một người không giỏi về đường sá, một người giỏi về đường sá. Trong hai người ấy, người không giỏi về đường sá này hỏi người giỏi về đường sá kia về con đường. Người ấy trả lời: “Hãy đi, này Bạn, đây là con đường. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây, hãy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm nước lớn. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một vực nước sâu. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả ái!”

27. Ðây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu rõ ý nghĩa. Và ý nghĩa như sau:

28. Người không giỏi về đường sá, này Tissa,là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

29. Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo tám ngành, tức là tà tri kiến… tà định. Con đường tay mặt, này Tissa, là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

30. Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho phẫn nộ, ưu não. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho Niếtbàn.

31. Hãy hoan hỷ, này Tissa! Hãy hoan hỷ, này Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).

32. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Tissa hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

SN 22.85 With Yamaka Yamakasutta

At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Now at that time a mendicant called Yamaka had the following harmful misconception: “As I understand the Buddha’s teaching, a mendicant who has ended the defilements is annihilated and destroyed when their body breaks up, and doesn’t exist after death.”

Several mendicants heard about this. They went to Yamaka and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him, “Is it really true, Reverend Yamaka, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, a mendicant who has ended the defilements is annihilated and destroyed when their body breaks up, and doesn’t exist after death’?”

“Yes, reverends, that’s how I understand the Buddha’s teaching.”

“Don’t say that, Yamaka! Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that.” But even though admonished by those mendicants, Yamaka obstinately stuck to that misconception and insisted on stating it.

When those mendicants were unable to dissuade Yamaka from that misconception, they got up from their seats and went to see Venerable Sāriputta. They told him what had happened, and said, “May Venerable Sāriputta please go to the mendicant Yamaka out of sympathy.” Sāriputta consented with silence.

Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Yamaka and exchanged greetings with him. Seated to one side he said to Yamaka:

“Is it really true, Reverend Yamaka, that you have such a harmful misconception: ‘As I understand the Buddha’s teaching, a mendicant who has ended the defilements is annihilated and destroyed when their body breaks up, and doesn’t exist after death’?”

“Yes, reverend, that’s how I understand the Buddha’s teaching.”

“What do you think, Yamaka? Is form permanent or impermanent?”

“Impermanent, reverend.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, reverend.”

"So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’

What do you think, Reverend Yamaka? Do you regard the Realized One as form?"

“No, reverend.”

“Do you regard the Realized One as feeling … perception … choices … consciousness?”

“No, reverend.”

“What do you think, Reverend Yamaka? Do you regard the Realized One as in form?”

“No, reverend.”

“Or do you regard the Realized One as distinct from form?”

“No, reverend.”

“Do you regard the Realized One as in feeling … or distinct from feeling … as in perception … or distinct from perception … as in choices … or distinct from choices … as in consciousness?”

“No, reverend.”

“Or do you regard the Realized One as distinct from consciousness?”

“No, reverend.”

“What do you think, Yamaka? Do you regard the Realized One as possessing form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“No, reverend.”

“What do you think, Yamaka? Do you regard the Realized One as one who is without form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“No, reverend.”

“In that case, Reverend Yamaka, since you don’t actually find the Realized One in this very life, is it appropriate to declare: ‘As I understand the Buddha’s teaching, a mendicant who has ended the defilements is annihilated and destroyed when their body breaks up, and doesn’t exist after death.’?”

“Reverend Sāriputta, in my ignorance, I used to have that misconception. But now that I’ve heard the teaching from Venerable Sāriputta, I’ve given up that misconception, and I’ve comprehended the teaching.”

“Reverend Yamaka, suppose they were to ask you: ‘When their body breaks up, after death, what happens to a perfected one, who has ended the defilements?’ How would you answer?”

"Reverend, if they were to ask this, I’d answer like this: 'Reverend, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering has ceased and ended.

Feeling … perception … choices … consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering has ceased and ended.’ That’s how I’d answer such a question."

"Good, good, Reverend Yamaka! Well then, I shall give you a simile to make the meaning even clearer. Suppose there was a householder or householder’s son who was rich, with a lot of money and great wealth, and a bodyguard for protection. Then along comes a person who wants to harm, injure, and threaten him, and take his life. They’d think: ‘This householder or householder’s son is rich, with a lot of money and great wealth, and a bodyguard for protection. It won’t be easy to take his life by force. Why don’t I get close to him, then take his life?’ So he goes up to that householder or householder’s son and says: ‘Sir, I would serve you.’ They would serve that householder or householder’s son. They’d get up before him and go to bed after him, and be obliging, behaving nicely and speaking politely. The householder or householder’s son would consider them as a friend and companion, and come to trust them. But when that person realizes that they’ve gained the trust of the householder or householder’s son, then, when they know he’s alone, they’d take his life with a sharp knife.

What do you think, Yamaka? When that person went to the householder or householder’s son and offered to serve him, weren’t they a killer then, though he didn’t know that this was his killer? And when they got up before him and went to bed after him, being obliging, behaving nicely and speaking politely, weren’t they a killer then, though he didn’t know that this was his killer? And when, knowing he was alone, they took his life with a sharp knife, weren’t they a killer then, though he didn’t know that this was his killer?"

“Yes, reverend.”

"In the same way, an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

They don’t truly understand form—which is impermanent—as impermanent. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is impermanent—as impermanent.

They don’t truly understand form—which is suffering—as suffering. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is suffering—as suffering.

They don’t truly understand form—which is not-self—as not-self. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is not-self—as not-self.

They don’t truly understand form—which is conditioned—as conditioned. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is conditioned—as conditioned.

They don’t truly understand form—which is a killer—as a killer. They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is a killer—as a killer.

They’re attracted to form, grasp it, and commit to the thought, ‘my self’. They’re attracted to feeling … perception … choices … consciousness, grasp it, and commit to the thought, ‘my self’. And when you’ve gotten involved with and grasped these five grasping aggregates, they lead to your lasting harm and suffering.

A learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.

They truly understand form—which is impermanent—as impermanent. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is impermanent—as impermanent.

They truly understand form—which is suffering—as suffering. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is suffering—as suffering.

They truly understand form—which is not-self—as not-self. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is not-self—as not-self.

They truly understand form—which is conditioned—as conditioned. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is conditioned—as conditioned.

They truly understand form—which is a killer—as a killer. They truly understand feeling … perception … choices … consciousness—which is a killer—as a killer.

Not being attracted to form, they don’t grasp it, and commit to the thought, ‘my self’. Not being attracted to feeling … perception … choices … consciousness, they don’t grasp it, and commit to the thought, ‘my self’. And when you’re not attracted to and don’t grasp these five grasping aggregates, they lead to your lasting welfare and happiness."

“Reverend Sāriputta, this is how it is when you have such venerables as spiritual companions to advise and instruct you out of kindness and sympathy. And after hearing this teaching by Venerable Sāriputta, my mind is freed from the defilements by not grasping.”

III. Yamaka (Tạp 5, Ðại 2,30c) (S.iii,109)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú tại Sàvatthi, Jetavena, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

3. Nhiều Tỷ-kheo nghe Tỷ-kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

5. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Yamaka:

− Có thật chăng, này Hiền giả Yamaka, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

6. − Này chư Hiền, tôi đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp như vầy: “Như ta hiểu lời Thế Tôn… sau khi chết”.

7. − Chớ có nói vậy, Hiền giả Yamaka! Chớ có xuyên tạc Thế Tôn! Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt lành. Thế Tôn không có nói như sau: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

8. Dầu được các Tỷ-kheo ấy nói như vậy, Tôn giả Yamaka vẫn kiên trì, kiên cố chấp nhận ác tà kiến ấy, nói rằng: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

9. Vì rằng các Tỷ-kheo không thể làm cho Tôn giả Yamaka rời bỏ ác tà kiến ấy, các Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Tỷ-kheo Yamaka, thưa Hiền giả Sàriputta, có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”. Lành thay, nếu Tôn giả Sàriputta vì lòng lân mẫn đi đến Tỷ-kheo Yamaka.

10. Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.

11. Rồi Tôn giả Sàsriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

12. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Yamaka:

− Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp… không còn gì nữa sau khi chết”.

13. − Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời Thế Tôn thuyết pháp: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

14. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, này Hiền giả.

15-18. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, này Hiền giả.

19-20. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

21. Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

22-26. − Hiền giả có quán Như Lai là thọ… tưởng… hành… thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

27. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai ở trong sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Hiền giả có quán Như Lai ở ngoài sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

28. − Hiền giả, có quán Như Lai ở trong thọ không?..

20. Hiền giả có quán Như Lai ở trong tưởng không?..

30. Hiền giả có quán Như Lai ở trong các hành không?..

31. Hiền giả có quán Như Lai ở trong thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Hiền giả có quán Như Lai là ngoài thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

32. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

33. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán cái không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức là Như Lai không?

− Thưa không, này Hiền giả.

34. − Và ở đây, Hiền giả Yamaka, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không thể tìm được một Như Lai thường chơn, thường trú, thời hợp lý chăng khi Hiền giả trả lời: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ tận diệt, không còn gì nữa sau khi chết”.

35. − Trước đây tôi vô trí nên có ác tà kiến ấy. Nay sau khi nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, ác tà kiến ấy được đoạn trừ, và pháp được tôi hoàn toàn chứng tri.

36. − Hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi Hiền giả: “Hiền giả Yamaka, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, Hiền giả Yamaka, Hiền giả trả lời như thế nào?

37. − Thưa Hiền giả, nếu có người hỏi tôi: “Này Hiền giả Yamaka, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời: “Sắc là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt”. Ðược hỏi vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời như vậy.

38-39. Lành thay, lành thay, Hiền giả Yamaka! Hiền giả Yamaka, ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ để ý nghĩa này được hiểu rõ thêm nữa. Ví như, này Hiền giả Yamaka, một người gia chủ hay con của người gia chủ, là nhà hào phú, tiền nhiều,của nhiều, lại được bảo vệ. Rồi có người đến, muốn điều bất lợi, muốn điều bất hạnh, muốn điều bất an, muốn đoạt mạng sống người kia. Người ấy suy nghĩ: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Thật không dễ gì đoạt mạng sống nó bằng sức mạnh. Vậy ta hãy tìm cách xâm nhập rồi sẽ đoạt mạng sống”. Người ấy đi đến người gia chủ hay con của người gia chủ kia, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi xin được hầu hạ Tôn giả”. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia chấp nhận cho người ấy hầu hạ. Người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia tin tưởng người ấy, xem người ấy như thân hữu, tin tưởng người ấy, xem như tâm hữu, và đặt lòng tín cẩn vào người ấy. Này Hiền giả, khi người ấy đã tin tưởng rằng: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này đã tín cẩn ta”, khi bắt gặp người con của gia chủ ở một chỗ thanh vắng, liền lấy con dao sắc bén, đoạt mạng sống người con của gia chủ.

40. Hiền giả Yamaka, Hiền giả nghĩ thế nào? Khi người ấy đến với người gia chủ hay con của người gia chủ kia và nói: “Thưa Tôn giả, tôi muốn hầu hạ Tôn giả”; khi ấy người ấy có phải là kẻ giết người không? Và dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.

41. Khi người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái, khi ấy dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.

− Thưa vâng, này Hiền giả.

42-43.− Cũng vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

44. “Sắc là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thọ là vô thường”; tưởng là vô thường, người ấy không như thật biết rõ: “Tưởng là vô thường”; “Các hành là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Các hành là vô thường”; “Thức là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.

45. “Sắc là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là khổ”; “Thọ là khổ”… “Tưởng là khổ”… “Các hành là khổ”… “Thức là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là khổ”.

46. “Sắc là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”; “Thọ là vô ngã”… “Tưởng là vô ngã”… “Các hành là vô ngã”… “Thức là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.

47. “Sắc là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”; “Thọ là hữu vi”… “Tưởng là hữu vi”… “Các hành là hữu vi”; “Thức là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.

48. “Sắc là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”; “Thọ là kẻ giết người”… “Tưởng là kẻ giết người”… “Các hành là kẻ giết người”… “Thức là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.

49. Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Người ấy đến với thọ… với tưởng… với các hành… người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy.

50. Này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh… tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

51. “Sắc là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”… “Tưởng là vô thường”… “Các hành là vô thường”… “Thức là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.

52. “Sắc là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là khổ”… “Thọ là khổ”… “Tưởng là khổ”… “Các hành là khổ”… “Thức là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là khổ”.

53. “Sắc là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”… “Thọ là vô ngã”… “Tưởng là vô ngã”… “Các hành là vô ngã”… “Thức là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.

54. “Sắc là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”… “Thọ là hữu vi”… “Tưởng là hữu vi”… “Các hành là hữu vi”… “Thức là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.

55. “Sắc là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”… “Thọ là kẻ giết người”… “Tưởng là kẻ giết người”… “Các hành là kẻ giết người”… “Thức là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ:

“Thức là kẻ giết người”.

56. Vị ấy không đến với sắc, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Không đến với thọ… với tưởng… với các hành… Không đến với thức, không chấp thủ, không nhiếp trì : “Thức là tự ngã của ta”. Ðối với năm thủ uẩn này, vị ấy không đi đến, không chấp thủ, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho vị ấy trong một thời gian dài.

57. − Như vậy, này Hiền giả Sàriputta, các Tôn giả ấy có được người như Hiền giả làm đồng Phạm hạnh, có lòng lân mẫn như vậy, muốn họ được hạnh phúc như vậy, bậc giáo giới như vậy, bậc giảng dạy như vậy.

58. Và nay, sau khi được nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.

SN 22.86 With Anurādha Anurādhasutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time Venerable Anurādha was staying not far from the Buddha in a wilderness hut. Then several wanderers of other religions went up to Venerable Anurādha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him:

“Reverend Anurādha, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them in these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”

When they said this, Venerable Anurādha said to those wanderers:

“Reverends, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.” When he said this, the wanderers said to him:

“This mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant.” Then, after rebuking Venerable Anurādha by calling him “junior” and “foolish”, the wanderers got up from their seats and left.

Soon after they had left, Anurādha thought:

“If those wanderers were to inquire further, how should I answer them so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should I explain in line with his teaching, so that there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”

Then Venerable Anurādha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him all that had happened.

“What do you think, Anurādha? Is form permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” … "So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’

What do you think, Anurādha? Do you regard a realized one as form?"

“No, sir.”

“Do you regard a realized one as feeling … perception … choices … consciousness?”

“No, sir.”

“What do you think, Anurādha? Do you regard a realized one as in form?”

“No, sir.”

“Or do you regard a realized one as distinct from form?”

“No, sir.”

“Do you regard a realized one as in feeling … or distinct from feeling … as in perception … or distinct from perception … as in choices … or distinct from choices … as in consciousness … or as distinct from consciousness?”

“No, sir.”

“What do you think, Anurādha? Do you regard a realized one as possessing form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“No, sir.”

“What do you think, Anurādha? Do you regard a realized one as one who is without form, feeling, perception, choices, and consciousness?”

“No, sir.”

“In that case, Anurādha, since you don’t actually find a realized one in this very life, is it appropriate to declare: ‘Reverends, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists’?”

“No, sir.”

“Good, good, Anurādha! In the past, as today, what I describe is suffering and the cessation of suffering.”

IV. Anuràdha (Tạp 5, Ðại 2,32c) (S.iii,116)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3. Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:

− Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

5. Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:

− Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

6. Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:

− Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.

7. Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

8. Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.

9. Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

10. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến… nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: 'Như Lai tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.

11. Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền. … không tồn tại sau khi chết”.

12. Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học… nhưng ngu dốt, không có học tập”.

13. Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học… liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

14. Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.

15. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

16-17. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

18. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

“− Thọ… tưởng… các hành… thức là Như Lai không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

19. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như lai ở trong thọ… ở ngoài thọ… ở trong tưởng… ở ngoài tưởng… ở trong các hành… ở ngoài các hành… ở trong thức không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

20. − Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ "?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

22. − Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.

SN 22.87 With Vakkali Vakkalisutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Now at that time Venerable Vakkali was staying in a potter’s shed, and he was sick, suffering, gravely ill.

Then he addressed his carers, “Please, reverends, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the mendicant Vakkali is sick, suffering, and gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please go to the mendicant Vakkali out of sympathy.’”

“Yes, reverend,” those monks replied. They did as he asked. The Buddha consented with silence.

Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robes, went to Venerable Vakkali. Venerable Vakkali saw the Buddha coming off in the distance and tried to rise on his cot.

But the Buddha said to him, “It’s all right, Vakkali, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”

He sat on the seat spread out and said to Vakkali, “I hope you’re keeping well, Vakkali; I hope you’re all right. And I hope the pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

“Sir, I’m not all right, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is apparent, not its fading.”

“I hope you don’t have any remorse or regret?”

“Indeed, sir, I have no little remorse and regret.”

“I hope you have no reason to blame yourself when it comes to ethical conduct?”

“No sir, I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct.”

“In that case, Vakkali, why do you have remorse and regret?”

“For a long time I’ve wanted to go and see the Buddha, but I was physically too weak.”

"Enough, Vakkali! Why would you want to see this rotten body? One who sees the teaching sees me. One who sees me sees the teaching. Seeing the teaching, you see me. Seeing me, you see the teaching.

What do you think, Vakkali? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

And then, after giving Venerable Vakkali this advice, the Buddha got up from his seat and went to the Vulture’s Peak Mountain.

Then Venerable Vakkali addressed his carers, “Come on, reverends, lift my cot and take me to the Black Rock on the slopes of Isigili. It’s unthinkable for one like me to die in an inhabited area!”

“Yes, reverend,” replied those mendicants, and did as he asked. Meanwhile, the Buddha spent the rest of that night and day on Vulture’s Peak Mountain.

Then, late at night, two glorious deities, lighting up the entire Vulture’s Peak, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.

One deity said to him, “Sir, the mendicant Vakkali is intent on liberation!”

And another deity said to him, “He’ll definitely be well freed!”

This is what those deities said. Then they bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right side, before vanishing right there.

Then, when the night had passed, the Buddha addressed the mendicants:

"Come, mendicants, go to the mendicant Vakkali and tell him:

'Vakkali, hear the word of the Buddha and two deities.

Late last night, two glorious deities, lighting up the entire Vulture’s Peak, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.

One deity said to him, “Sir, the mendicant Vakkali is intent on liberation!”

The other deity said to him, “He’ll definitely be well freed!”

And the Buddha said, “Do not fear, Vakkali, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.”'"

“Yes, sir,” those monks replied. They went to Vakkali and said to him:

“Vakkali, hear the word of the Buddha and two deities.”

Then Vakkali addressed his carers, “Please, reverends, help me off my cot. It’s unthinkable for one like me to listen to the Buddha’s instructions sitting on a high seat.”

“Yes, reverend,” replied those mendicants, and helped him off his cot. They repeated what the Buddha had said.

Vakkali said, "Well then, reverends, in my name bow with your head at the Buddha’s feet. Say to him: ‘Sir, the mendicant Vakkali is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: 'Form is impermanent. I have no doubt of that. I’m certain that what is impermanent is suffering. And I’m certain that I have no desire or greed or fondness for what is impermanent, suffering, and perishable.

Feeling is impermanent …

Perception is impermanent …

Choices are impermanent …

Consciousness is impermanent. I have no doubt of that. I’m certain that what is impermanent is suffering. And I’m certain that I have no desire or greed or fondness for what is impermanent, suffering, and perishable.'"

“Yes, reverend,” those monks replied, and left. And then, not long after those mendicants had left, Venerable Vakkali took his life.

Then those mendicants went up to the Buddha and told him Vakkali’s message.

Then the Buddha said to the mendicants, “Come, mendicants, let’s go to the Black Rock on the slopes of Isigili, where Vakkali, the gentleman, took his life.”

“Yes, sir,” they replied.

Then the Buddha together with several mendicants went to the Black Rock on the slopes of Isigili. The Buddha saw Vakkali off in the distance lying on his cot, having cast off the aggregates.

Now at that time a cloud of black smoke was moving east, west, north, south, above, below, and in-between.

The Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you see that cloud of black smoke moving east, west, north, south, above, below, and in-between?”

“Yes, sir.”

“That’s Māra the Wicked searching for Vakkali’s consciousness, wondering: ‘Where is Vakkali’s consciousness established?’ But since his consciousness is not established, Vakkali is quenched.”

V. Vakkàli (Tạp 47, Ðại 2,346b) (Tăng 19, Ðại 2,642b) (S.iii,119)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3. Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:

− Ðến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: 'Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali.’”

4. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: “Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali”.

5. Thế Tôn im lặng nhận lời.

6. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.

7. Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.

8. Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

− Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy.

Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.

9. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

− Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.

10. − Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?

− Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

11. − Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?

− Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.

12. − Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?

− Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.

13. − Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.

14. − Này Vakkali, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15-16. − Do vậy, ở đây… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

17. Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới cho Tôn giả Vakkali với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

18. Rồi Tôn giả Vakkali, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền gọi các thị giả:

− Hãy đến ta, này chư Hiền, hãy nhắc cái giường ta và đi đến tảng đá đen (kàlasilà), tại sườn núi Isigili (hang của Tiên nhân). Làm sao người như ta, lại nghĩ đến mệnh chung trong một căn nhà?

19. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc chiếc giường với Tôn giả Vakkali đi đến tảng đá đen, tại sườn núi Isigili.

20. Thế Tôn, đêm ấy và ngày còn lại, trú tại núi Gijjhakuuta.

21. Rồi hai vị Thiên, trong khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Gijjakuuta, đi đến Thế Tôn… liền đứng một bên.

22. Ðứng một bên, một vị Thiên bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang có ý nghĩ muốn giải thoát.

23. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn:

− Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát.

24. Chư Thiên ấy nói như vậy xong; sau khi nói vậy, liền đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

25. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo:

− Hãy đến, này các Tỷ-kheo. Hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Vakkali như sau: "Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của hai vị Thiên nói với Thế Tôn. Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Gijjhakuuta, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali đang có ý nghĩ muốn giải thoát’. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn: 'Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát’. Và Hiền giả Vakkali, Thế Tôn nói với Hiền giả như sau: “Này Vakkali, chớ có sợ! Này Vakkali, chớ có sợ! Cái chết của Ông sẽ không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải ác hạnh!’”

26. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Vakkali; sau khi đến, thưa với Tôn giả Vakkali:

− Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của Thế Tôn và hai vị Thiên.

27. Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả:

− Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy.

28. − Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn giả Vakkali ra khỏi giường.

29. − Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn… đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ đến tự giải thoát”. Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: “Vị ấy, bạch Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát”. Và Thế Tôn, này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: “Chớ có sợ, này Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải là ác hạnh!”

30. − Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: 'Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường… Các hành là vô thường… Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.’”

31. − Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi.

32. Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao lâu liền đem lại con dao.

33. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: “Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này”.

34. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

35. Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen.

36. Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm trên giường, với vai co quắp lại.

37. Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc.

38. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Ðông… đi về phía bốn góc không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

39. − Ðó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: “thức của Thiện nam tử Vakkali an trú tại chỗ nào?”

40. Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niếtbàn một cách hoàn toàn!

SN 22.88 With Assaji Assajisutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time Venerable Assaji was staying in a monastery built by a Kassapa, and he was sick, suffering, gravely ill. Then he addressed his carers:

“Please, reverends, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the mendicant Assaji is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please go to the mendicant Assaji out of sympathy.’”

“Yes, reverend,” those monks replied. They did as he asked. The Buddha consented with silence.

Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to Venerable Assaji. Venerable Assaji saw the Buddha coming off in the distance, and tried to rise on his cot.

But the Buddha said to him, “It’s all right, Assaji, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”

He sat on the seat spread out and said, “I hope you’re keeping well, Assaji; I hope you’re all right. And I hope the pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

“Sir, I’m not all right, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading, its growing is evident, not its fading.”

“I hope you don’t have any remorse or regret?”

“Indeed, sir, I have no little remorse and regret.”

“I hope you have no reason to blame yourself when it comes to ethical conduct?”

“No sir, I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct.”

“In that case, Assaji, why do you have remorse and regret?”

“Sir, before my time of illness I meditated having completely stilled the physical process. But now I can’t get immersion. Since I can’t get immersion, I think: ‘May I not decline!’”

"Assaji, there are ascetics and brahmins for whom samādhi is the essence, equating immersion with the ascetic life. They think: ‘May we not decline!’

What do you think, Assaji? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“Is consciousness permanent or impermanent?” …

"So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’

If they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t relish it. If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t relish it. If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t relish it. If they feel a pleasant feeling, they feel it detached. If they feel a painful feeling, they feel it detached. If they feel a neutral feeling, they feel it detached. Feeling the end of the body approaching, they understand: ‘I feel the end of the body approaching.’ Feeling the end of life approaching, they understand: ‘I feel the end of life approaching.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life is over, everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here.’

Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. As the oil and the wick are used up, it would be extinguished due to not being fed.

In the same way, feeling the end of the body approaching, they understand: ‘I feel the end of the body approaching.’ Feeling the end of life approaching, they understand: ‘I feel the end of life approaching.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life is over, everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here.’"

VI. Assaji (Tạp 27, Ðại 2,267b) (S.iii,124)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3. Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:

− Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: “Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau : 'Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji!’”

4. − Thưa vâng, Hiền giả!

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

5. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng… Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.

6. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.

7. Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:

− Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.

9. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:

10. − Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không?.. Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn!.. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!

11. − Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?

− Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

12. − Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?

− Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật.

13. − Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?

− Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: “Ta sẽ không thối thất”.

14. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ không thối thất!”

15-21. − Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn!.. Thức là thường hay vô thường?.. do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

22. Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”.

23. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.

24. Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Vị ấy biết rõ rằng: “Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”

25. Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của (ngọn đèn) ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!

SN 22.89 With Khemaka Khemakasutta

At one time several senior mendicants were staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Now at that time Venerable Khemaka was staying in the Jujube Tree Monastery, and he was sick, suffering, gravely ill.

In the late afternoon those senior mendicants came out of retreat and addressed Venerable Dāsaka, “Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors hope you’re keeping well; they hope you’re all right. They hope that your pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.’”

“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He went to Khemaka and said to him:

“Reverend Khemaka, the seniors hope you’re keeping well; they hope you’re all right. They hope that your pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

“Reverend, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”

Then Dāsaka went to those seniors and told them what had happened. They said,

“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors say that these five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. Do you regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self?’”

“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:

“These five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. I do not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self.”

Then Dāsaka went to those seniors and told them what had happened. They said:

“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors say that these five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. If, as it seems, Venerable Khemaka does not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self, then he is a perfected one, with defilements ended.’”

“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:

“These five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. I do not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self, yet I am not a perfected one, with defilements ended. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.”

Then Dāsaka went to those seniors and told them what had happened. They said:

“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: 'Reverend Khemaka, the seniors ask, when you say “I am”, what is it that you’re talking about? Is it form or apart from form? Is it feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness? When you say “I am”, what is it that you’re talking about?”

“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:

“Enough, Reverend Dāsaka! What’s the point in running back and forth? Bring my staff, I’ll go to see the senior mendicants myself.”

Then Venerable Khemaka, leaning on a staff, went to those senior mendicants and exchanged greetings with them. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. They said to him:

“Reverend Khemaka, when you say ‘I am’, what is it that you’re talking about? Is it form or apart from form? Is it feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness? When you say ‘I am’, what is it that you’re talking about?”

"Reverends, I don’t say ‘I am’ with reference to form, or apart from form. I don’t say ‘I am’ with reference to feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.

It’s like the scent of a blue water lily, or a pink or white lotus. Would it be right to say that the scent belongs to the petals or the stalk or the pistil?"

“No, reverend.”

“Then, reverends, how should it be said?”

“It would be right to say that the scent belongs to the flower.”

"In the same way, reverends, I don’t say ‘I am’ with reference to form, or apart from form. I don’t say ‘I am’ with reference to feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.

Although a noble disciple has given up the five lower fetters, they still have a lingering residue of the conceit ‘I am’, the desire ‘I am’, and the underlying tendency ‘I am’ which has not been eradicated. After some time they meditate observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’ As they do so, that lingering residue is eradicated.

Suppose there was a cloth that was dirty and soiled, so the owners give it to a launderer. The launderer kneads it thoroughly with salt, lye, and cow dung, and rinses it in clear water. Although that cloth is clean and bright, it still has a lingering scent of salt, lye, or cow dung that had not been eradicated. The launderer returns it to its owners, who store it in a fragrant casket. And that lingering scent would be eradicated.

In the same way, although a noble disciple has given up the five lower fetters, they still have a lingering residue of the conceit ‘I am’, the desire ‘I am’, and the underlying tendency ‘I am’ which has not been eradicated. After some time they meditate observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’ As they do so, that lingering residue is eradicated."

When he said this, the senior mendicants said to Venerable Khemaka, “We didn’t want to trouble Venerable Khemaka with our questions. But you’re capable of explaining, teaching, asserting, establishing, clarifying, analyzing, and revealing the Buddha’s instructions in detail. And that’s just what you’ve done.”

That’s what Venerable Khemaka said. Satisfied, the senior mendicants approved what Venerable Khemaka said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty senior mendicants and of Venerable Khemaka were freed from defilements by not grasping.

VII. Khemaka (Tạp 5, Ðại 2,29c) (S.iii,126)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3. Rồi các Tỷ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:

− Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: “Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’”

4. − Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:

− Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: “Hiền giả có kham nhẫn được không? Này Hiền giả Khemaka… không phải tăng trưởng?”

5. − Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả… tôi không có thể chịu đựng… có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!

6. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Thưa chư Hiền, Tỷ-kheo Khemaka nói như sau: “Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả… có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!”

7. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’”

8. − Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến…

− Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?”

9. − Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.

10. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!”

11. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn…thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-lahán, các lậu hoặc đã được đoạn tận”."

12. − Thưa vâng, chư Hiền giả.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka…

− Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Nếu Tôn giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở, thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc”.

13.. … − Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.

14. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến Tỷ-kheo Trưởng lão… nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, thưa Hiền giả, tôi không quán cái gì là ngã hay là ngã sở. Tuy vậy, tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn, dầu cho tôi chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.

15. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: Thưa Hiền giả Khemaka, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói “Tôi là, là cái gì?” Hiền giả nói: “Tôi là sắc?” Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc”?. …; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”. Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói: “Tôi là, là cái gì?””

16. − Thưa vâng.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka…

17. − Thôi vừa rồi, Hiền giả Dàsaka chạy qua, chạy lại như thế này để làm gì? Hãy đem gậy lại đây! Ta sẽ đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão!

18. Rồi Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo Trưởng lão những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

19. Các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka đang ngồi một bên:

− Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, là cái gì? Hiền giả nói: “Tôi là sắc?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc”… “là thọ… là tưởng… là các hành”…; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”; Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói “Tôi là”, là cái gì?

20. − Thưa chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”. Tôi không nói: “Tôi là khác sắc”… “là thọ… là tưởng… là các hành”… Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi cũng không nói: “Tôi là khác thức”. Dầu rằng, này các Hiền giả, Tôi có chứng được (tư tưởng): “Tôi là”, nhưng tôi không có quán : “Cái này là tôi”.

21. Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: “Hương thuộc về lá hay thuộc về sắc, hay thuộc về nhụy hoa”, nói như vậy có nói đúng không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Vậy chư Hiền, trả lời như thế nào là trả lời một cách đúng đắn?

Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là trả lời một cách đúng đắn.

22. Cũng vậy, này chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”; tôi không nói: “Tôi là khác sắc”… “Tôi là thọ”… “Tôi là tưởng”… “Tôi là các hành”… Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi không nói : “Tôi là khác thức”. Nhưng này chư Hiền, dầu rằng đối với năm thủ uẩn của tôi được có này, tôi không có quán: “Cái này là tôi”.

23. Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn nghĩ: “Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị”. Dư tàn kiêu mạn 'Tôi là", dư tàn dục 'Tôi là’, dư tàn tùy miên 'Tôi là’ chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”

24. Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn (?) “Tôi là”, các dư tàn ngã dục “Tôi là”, các dư tàn ngã tùy miên (?) “Tôi là”, mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.

25. Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã bay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ.

26-27. Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn “Tôi là”, dư tàn ngã dục “Tôi là”, dư tàn ngã tùy miên: “Tôi là” chưa được đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”. Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn “Tôi là”, ngã dục “tôi là”, ngã tùy miên “Tôi là” chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.

28. Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka:

− Không phải chúng tôi vì muốn phiền nhiễu Tôn giả Khemaka mà chúng tôi hỏi. Nhưng vì chúng tôi nghĩ rằng: " Tôn giả Khemaka có thể giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn".

29. Và rồi Tôn giả Khemaka đã giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn.

30. Tôn giả Khemaka thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo Trưởng lão hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Khemaka giảng.

31. Trong khi lời dạy này được nói lên, khoảng sáu mươi Tỷ-kheo được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, kể cả Tôn giả Khemaka.

SN 22.90 With Channa Channasutta

At one time several senior mendicants were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana.

Then in the late afternoon, Venerable Channa came out of retreat. Taking a latchkey, he went from dwelling to dwelling, going up to the senior mendicants and saying, “May the venerable senior mendicants advise me and instruct me! May they give me a Dhamma talk so that I can see the teaching!”

When he said this, the senior mendicants said to Venerable Channa:

“Reverend Channa, form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent. Form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. All conditions are impermanent. All things are not-self.”

Then Venerable Channa thought, “I too think in this way. … And yet my mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided about the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. Grasping arises from anxiety. And the mind reverts to thinking: ‘So then who exactly is my self?’ But that doesn’t happen for someone who sees the teaching. Who can teach me the Dhamma so that I can see the teaching?”

Then Venerable Channa thought, “The Venerable Ānanda is staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. He’s praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He’s quite capable of teaching me the Dhamma so that I can see the teaching. Since I have so much trust in Venerable Ānanda, why don’t I go to see him?”

Then Channa set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Kosambī. He went to see Ānanda in Ghosita’s Monastery, exchanged greetings with him, and told him what had happened. Then he said,

“May Venerable Ānanda advise me and instruct me! May he give me a Dhamma talk so that I can see the teaching!”

“I’m already delighted with Venerable Channa. Hopefully you’ve opened yourself up and severed your hard-heartedness. Listen well, Channa. You are capable of understanding the teaching.”

Then right away Channa was filled with lofty rapture and joy, “It seems I’m capable of understanding the teaching!”

"Reverend Channa, I heard and learned in the presence of the Buddha his advice to the mendicant Kaccānagotta:

'Kaccāna, this world mostly relies on the duality of existence and non-existence.

But when you truly see the origin of the world with right understanding, the concept of non-existence regarding the world does not occur. And when you truly see the cessation of the world with right understanding, the concept of existence regarding the world does not occur.

The world is for the most part shackled by attraction, grasping, and insisting.

But if—when it comes to this attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency—you don’t get attracted, grasp, and commit to the thought, “my self”, you’ll have no doubt or uncertainty that what arises is just suffering arising, and what ceases is just suffering ceasing. Your knowledge about this is independent of others.

This is how right view is defined.

“All exists”: this is one extreme.

“All does not exist”: this is the second extreme.

Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way:

"Ignorance is a condition for choices. Choices are a condition for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.

When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.“'”

“Reverend Ānanda, this is how it is when you have such venerables as spiritual companions to advise and instruct you out of kindness and sympathy. And now that I’ve heard this teaching from Venerable Ānanda, I’ve comprehended the teaching.”

VIII. Channa (Tạp 10, Ðại 2,66b) (S.iii,132)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão trú ở Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Channa, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác và nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy được pháp.

3. Ðược nói vậy, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Channa:

− Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ là vô thường ; tưởng là vô thường; các hành là vô thường; thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã.

4. Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ như sau: "Ta cũng suy nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường; thọ… tưởng… các hành… thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả pháp là vô ngã.’

5. Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến (paritassanà), chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?"

6. Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ: “Ðây là Tôn giả Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp. Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ananda. Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ananda!”

7. Rồi Tôn giả Channa, sau khi dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát đi đến Kosambi, vườn Ghosita, chỗ Tôn giả Ananda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

8. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Channa nói với Tôn giả Ananda:

− Một thời, này Hiền giả Ananda, tôi ở Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi vào buổi chiều, này Hiền giả, tôi từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chiếc chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão: “Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp”.

9. Ðược nghe nói vậy, này Hiền giả, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với tôi: “Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ… tưởng… các hành… thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã”.

10. Về vấn đề ấy, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Ta cũng suy nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường… thức là vô thường. Sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã’.

11. Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến, chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?"

12. Rồi về vấn đề này, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ðây là Tôn giả Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp! Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ananda! Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ananda”.

13. Tôn giả Ananda hãy giáo giới cho tôi! Tôn giả Ananda hãy giảng dạy cho tôi! Tôn giả Ananda hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp.

14. − Cho đến như vậy, thật sự tôi rất hoan hỷ đối với Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã làm cho sự việc rõ ràng. Tôn giả Channa đã phá vỡ chướng ngại. Hãy lóng tai, này Hiền giả Channa! Hiền giả có thể hiểu được Chánh pháp.

15. Ngay lúc ấy, Tôn giả Channa khởi lên hoan hỷ, hân hoan thù thắng khi nghe đến: “Ta có thể hiểu được pháp”.

16. − Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta: “Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccàna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccàna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccàna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú và thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: 'Ðây là tự ngã của tôi”. Với ai nghĩ rằng: 'Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccàna, là chánh trí".

17. “'Tất cả đều có’, này Kaccàna, là một cực đoan. 'Tất cả đều không có’ là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccàna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”.

18. − Như vậy, này Hiền giả Ananda, là điều sẽ đến với các bậc Tôn giả nào có được những đồng Phạm hạnh như vậy, những vị có lòng từ mẫn, những vị muốn sự lợi ích, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, nghe được lời thuyết pháp này từ Tôn giả Ananda, tôi được an trú vững chắc trong Chánh pháp.

SN 22.91 Rāhula Rāhulasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli?”

"Rāhula, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli."

IX. Ràhula (Tạp 1, Ðại 2,5a) (S.iii, 136)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?

4. − Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5-8. Phàm thọ gì… tưởng gì… các hành gì… Phàm thức gì, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Biết như vậy, này Ràhula, thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên.

SN 22.92 Rāhula (2nd) Dutiyarāhulasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, Rāhula said to the Buddha:

“Sir, how does one know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”

"Rāhula, when one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.

One truly sees any kind of feeling … perception … choices … When one truly sees any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.

That’s how to know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed."

X. Ràhula

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?

4. − Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại… hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.

5-7. Phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm các hành gì…

8. Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.

9. Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, được giải thoát, không có chấp thủ.

10. Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.

The Chapter on Flowers

SN 22.93 A River Nadīsutta

At Sāvatthī.

"Suppose, mendicants, there was a mountain river that flowed swiftly, going far, carrying all before it. If wild sugarcane, kusa grass, reeds, vetiver, or trees grew on either bank, they’d overhang the river. And if a person who was being swept along by the current grabbed the wild sugarcane, kusa grass, reeds, vetiver, or trees, it’d break off, and they’d come to ruin because of that.

In the same way, an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.

They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. But their form breaks off, and they come to ruin because of that. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. But their consciousness breaks off, and they come to ruin because of that.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

V. Phẩm Hoa

I. Dòng Sông (Tạp 10, Ðại 2,70a) (S.iii,137)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.

4. Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.

6-8. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

9. …quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

11-14. − Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

15-16. Do vậy… Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.94 Flowers Pupphasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I do not argue with the world; it is the world that argues with me. When your speech is in line with the teaching you do not argue with anyone in the world. What the astute deem as not existing, I too say does not exist. What the astute deem as existing, I too say exists.

And what do the astute deem as not existing, which I too say does not exist? Form that is permanent, everlasting, eternal, and imperishable.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness that is permanent, everlasting, eternal, and imperishable. This is what the astute deem as not existing, which I too say does not exist.

And what do the astute deem as existing, which I too say exists? Form that is impermanent, suffering, and perishable.

Feeling … Perception … Choices …

Consciousness that is impermanent, suffering, and perishable. This is what the astute deem as existing, which I too say exists.

There is a temporal phenomenon in the world that the Realized One understands and comprehends. Then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it.

And what is that temporal phenomenon in the world? Form is a temporal phenomenon in the world that the Realized One understands and comprehends. Then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it.

This being so, what can I do about a foolish ordinary person, blind and sightless, who does not know or see?

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is a temporal phenomenon in the world that the Realized One understands and comprehends. Then he explains, teaches, asserts, establishes, clarifies, analyzes, and reveals it.

This being so, what can I do about a foolish ordinary person, blind and sightless, who does not know or see?

Suppose there was a blue water lily, or a pink or white lotus. Though it sprouted and grew in the water, it would rise up above the water and stand with no water clinging to it. In the same way, though I was born and grew up in the world, I live having mastered the world, unsullied by the world."

II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng) (Tạp 2, Ðại 2,8b) (Siii,113)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”. Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “có”, Ta cũng nói là “có”.

5. Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”?

6. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “không”.

7-9. Thọ… tưởng… các hành…

10. Người có trí ở đời không chấp nhận thức là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “không”.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì ở đời người có trí chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”.

12. Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “có”, Ta cũng nói là “có”?

13. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

14-16. … thọ… tưởng… các hành…

17. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận thức là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

18. Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

19. Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.

20. Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ?

21. Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.

Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

22-24. Thọ… Tưởng… Các hành…

25. Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

26. Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.

27. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm.

SN 22.95 A Lump of Foam Pheṇapiṇḍūpamasutta

At one time the Buddha was staying near Ayojjhā on the bank of the Ganges river. There the Buddha addressed the mendicants:

"Mendicants, suppose this Ganges river was carrying along a big lump of foam. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it carefully. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in a lump of foam?

In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; coarse or fine; inferior or superior; near or far—examining it carefully. And it appears to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in form?

Suppose it was autumn, when the heavens rain heavily, and a bubble on the water forms and pops right away. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it carefully. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in a water bubble?

In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of feeling at all … examining it carefully. And it appears to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in feeling?

Suppose that in the last month of summer, at noon, a shimmering mirage appears. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it carefully. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in a mirage?

In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of perception at all … examining it carefully. And it appears to them as completely void, hollow, and insubstantial. For what core could there be in perception?

Suppose there was a person in need of heartwood. Wandering in search of heartwood, they’d take a sharp axe and enter a forest. There they’d see a big banana tree, straight and young and grown free of defects. They’d cut it down at the base, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn’t even find sapwood, much less heartwood. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it carefully. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in a banana tree?

In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of choices at all … examining them carefully. And they appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in choices?

Suppose a magician or their apprentice was to perform a magic trick at the crossroads. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it carefully. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in a magic trick?

In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; coarse or fine; inferior or superior; near or far—examining it carefully. And it appears to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what core could there be in consciousness?

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Form is like a lump of foam;
feeling is like a bubble;
perception seems like a mirage;
choices like a banana tree;
and consciousness like a magic trick:
so taught the kinsman of the Sun.

However you contemplate them,
examining them carefully,
they’re vacuous and hollow
when you look at them closely.

Concerning this body,
he of vast wisdom has taught
that when three things are given up,
you’ll see this form discarded.

Vitality, warmth, and consciousness:
when they leave the body,
it lies there tossed aside,
food for others, mindless.

Such is this process,
this illusion, this lament of fools.
It’s said to be a killer,
for no core is found here.

An energetic mendicant
should examine the aggregates like this,
with situational awareness and mindfulness
whether by day or by night.

They should give up all yoking,
and make a refuge for themselves.
They should live as though their head was on fire,
aspiring to the state that does not pass."

III. Bọt Nước (Tạp 10, Ðại 2,86b) (S.iii,114)

1. Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.

2. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?

6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng… Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?

8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì…

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?

10. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?

11. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?

13. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?

14. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

15. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.

2) Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn (các pháp),
Hiện rõ tánh trống không.

3) Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.

4) Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.

5) Cái thân liên tục này,
ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.

6) Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.

7) Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.

SN 22.96 A Lump of Cow Dung Gomayapiṇḍasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, is there any form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever? Is there any feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever?”

“Mendicant, there is no form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. There’s no feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.”

Then the Buddha, picking up a lump of cow dung, said to the mendicants:

"There’s not even this much of any incarnation that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. If there were, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. But since there isn’t, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.

Once upon a time I was an anointed aristocratic king. I had 84,000 cities, with the capital Kusāvatī the foremost. I had 84,000 palaces, with the palace named Principle the foremost. I had 84,000 chambers, with the great foyer the foremost. I had 84,000 couches made of ivory or heartwood or gold or silver, spread with woolen covers—shag-piled or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. I had 84,000 bull elephants with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal bull elephant named Sabbath the foremost. I had 84,000 horses with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal steed named Thundercloud the foremost. I had 84,000 chariots with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the chariot named Triumph the foremost. I had 84,000 jewels, with the jewel-treasure the foremost. I had 84,000 women, with Queen Subhaddā the foremost. I had 84,000 aristocrat vassals, with the commander-treasure the foremost. I had 84,000 milk cows with silken reins and bronze pails. I had 8,400,000,000 fine cloths of linen, cotton, silk, and wool. I had 84,000 servings of food, which were presented to me as offerings in the morning and evening.

Of those 84,000 cities, I only stayed in one, the capital Kusāvatī. Of those 84,000 mansions, I only dwelt in one, the Palace of Principle. Of those 84,000 chambers, I only dwelt in the great foyer. Of those 84,000 couches, I only used one, made of ivory or heartwood or gold or silver. Of those 84,000 bull elephants, I only rode one, the royal bull elephant named Sabbath. Of those 84,000 horses, I only rode one, the royal horse named Thundercloud. Of those 84,000 chariots, I only rode one, the chariot named Triumph. Of those 84,000 women, I was only served by one, a maiden of the aristocratic or peasant classes. Of those 8,400,000,000 cloths, I only wore one pair, made of fine linen, cotton, silk, and wool. Of those 84,000 servings of food, I only had one, eating at most a cup of rice with suitable sauce.

And so all those conditioned phenomena have passed, ceased, and perished. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions."

IV. Phân Bò (Tạp 10, Ðại 2,67c) (Trang 11, Ðại 1,496a) (Trang 34, Ðại 1,645a) (S.iii,143)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-4. Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5-8. Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào… có thể có tưởng nào… có thể có các hành nào… có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9. − Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13. Này Tỷ-kheo, không có thọ nào… không có tưởng nào… không có các hành nào… không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14. Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỷ-kheo ấy:

15. − Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

16. Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

17. Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.

18. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.

19. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và là trùng các Mahàvyuuha là bậc nhất.

20. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.

21. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.

22. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valàhaka là bậc nhất.

23. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.

24. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 châu báu, và Ma-ni châu là bậc nhất.

25. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 phụ nữ, và hoàng hậu Subhaddà là bậc nhất.

26. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 chư hầu Sát-đế-lị, và Binh chủ báu là bậc nhất.

27. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 con bò cái, với những dây thừng bằng vải đay mịn màng, và chậu sữa bằng bạc.

28. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 áo bằng vải gai tinh tế, bằng vải lụa tinh tế, bằng vải len tinh tế, bằng vải bông tinh tế.

29. Này các Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 dĩa bàn, và trên ấy các cơm sáng và cơm chiều được dọn lên.

30. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 đô thị ấy, đô thị Ta trú thời ấy là kinh đô Kusàvatì.

31. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cung điện ấy, cung điện Ta trú thời ấy là cung điện Dhamma.

32. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 trùng các ấy, trùng các Ta trú là trùng các Mahàvyuuha.

33. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 sàng tọa ấy, sàng tọa Ta thọ dùng thời ấy là sàng tọa bằng ngà, hay bằng lõi cây, hay bằng vàng, hay bằng bạc.

34. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con voi ấy, con voi Ta cưỡi thời ấy là voi chúa Uposatha.

35. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con ngựa ấy, con ngựa Ta cưỡi thời ấy là ngựa chúa Valàhaka.

36. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cỗ xe ấy, cỗ xe Ta cưỡi thời ấy là cỗ xe Vejayanta.

37. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 phụ nữ ấy, phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy là Khattiyàni hay Velàmikà.

38. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 áo mặc ấy, đôi áo Ta mặc thời ấy, hoặc bằng vải gai tinh tế, hay bằng lụa tinh tế, hay bằng len tinh tế, hay bằng vải bông tinh tế.

39. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 dĩa bàn ấy, một dĩa bàn Ta dùng để ăn một phần (nàlika) cơm, còn dĩa bàn thứ hai, Ta dùng để ăn đồ ăn tương đương.

40. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.

41. Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỷ-kheo, là các hành.

42. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.

SN 22.97 A Fingernail Nakhasikhāsutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, is there any form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever? Is there any feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever?”

“Mendicant, there is no form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. There’s no feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.”

Then the Buddha, picking up a little bit of dirt under his fingernail, addressed that mendicant:

"There’s not even this much of any form that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. If there were, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. But since there isn’t, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.

There’s not even this much of any feeling …

perception …

choices …

consciousness that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. If there were, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. But since there isn’t, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.

What do you think, mendicant? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

V. Ðầu Ngón Tay (Tăng 14, Ðại 2,617b) (S.iii,147)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4. − Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5. Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào…

6. Bạch Thế Tôn, có thể có tưởng nào…

7. Bạch Thế Tôn, có thể có các hành nào…

8. Bạch Thế Tôn, có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9. − Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13. Này Tỷ-kheo, không có thọ nào… không có tưởng nào… không có các hành nào… không có thức nào, thức ấy lại thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trong đầu ngón tay và nói với Tỷ-kheo ấy:

15. − Này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

Nếu một sắc nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy, đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

16. Cho đến một thọ nhỏ như thế này, này các Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn, thường hằng, vĩnh trú. Nếu thọ nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú… có thể trình bày.

17. Cho đến một tưởng…

18. Cho đến một hành…

19. Cho đến một thức nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú. Nếu một thức nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một thức nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

20. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

21-22. Do vậy, thấy vậy… “… không có trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.98 Plain Version Suddhikasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, is there any form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever? Is there any feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever?”

“Mendicant, there is no form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. There’s no feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.”

VI. Thanh Tịnh (hay Biển) (Tạp 18, Ðại 2,69c) (S.iii,149)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4. − Có một sắc nào, bạch Thế Tôn, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú không?

5-8. Có một thọ… tưởng… hành… thức nào, bạch Thế Tôn, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú không?

9. − Không có một sắc nào, này Tỷ-kheo, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

10-13. Không có một thọ… một tưởng… các hành… một thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

SN 22.99 A Leash Gaddulabaddhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

There comes a time when the ocean dries up and evaporates and is no more. But still, I say, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

There comes a time when Sineru the king of mountains is burned up and destroyed, and is no more. But still, I say, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

There comes a time when the great earth is burned up and destroyed, and is no more. But still, I say, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.

Suppose a dog on a leash was tethered to a strong post or pillar. It would just keep running and circling around that post or pillar.

In the same way, take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in their teaching. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in their teaching. They regard form … feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They just keep running and circling around form, feeling, perception, choices, and consciousness. Doing so, they’re not freed from form, feeling, perception, choices, and consciousness. They’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.

A learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form … feeling … perception … choices … or consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They don’t keep running and circling around form, feeling, perception, choices, and consciousness. By not doing so, they’re freed from form, feeling, perception, choices, and consciousness. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say."

VII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10, Ðại 2,69b) (S.iii,149)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4. Có thể có một thời, này các Tỷ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

5. Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, Sineru(Tu-di), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi!

6. Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, đại địa đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi!

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã… quán thọ như là tự ngã… quán tưởng như là tự ngã… quán các hành như là tự ngã… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: “Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau”.

8. Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, được thấy các bậc Thánh… khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã… không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: “Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ”.

SN 22.100 A Leash (2nd) Dutiyagaddulabaddhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Suppose a dog on a leash was tethered to a strong post or pillar. Whether walking, standing, sitting, or lying down, it stays right beside that post or pillar.

In the same way, an unlearned ordinary person regards form like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ They regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ When walking, they walk right beside the five grasping aggregates. When standing … sitting … lying down, they lie down right beside the five grasping aggregates.

So you should regularly check your own mind: ‘For a long time this mind has been corrupted by greed, hate, and delusion.’ Sentient beings are corrupted because the mind is corrupted. Sentient beings are purified because the mind is purified.

Mendicants, have you seen the picture called ‘Conduct’?"

“Yes, sir.”

"That picture was elaborated by the mind, but the mind is even more elaborate than that.

So you should regularly check your own mind: ‘For a long time this mind has been corrupted by greed, hate, and delusion.’ Sentient beings are corrupted because the mind is corrupted. Sentient beings are purified because the mind is purified.

I don’t see any other order of beings as elaborate as the animal realm. The creatures in the animal realm were elaborated by the mind, but the mind is even more elaborate than that.

So you should regularly check your own mind: ‘For a long time this mind has been corrupted by greed, hate, and delusion.’ Sentient beings are corrupted because the mind is corrupted. Sentient beings are purified because the mind is purified.

Suppose an artist or painter had some dye, red lac, turmeric, indigo, or rose madder. And on a polished plank or a wall or a canvas they’d create the form of a woman or a man, whole in its major and minor limbs.

In the same way, when an unlearned ordinary person creates a future life, all they create is form, feeling, perception, choices, and consciousness.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?” …

“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

VIII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10, Ðại 2,69c) (S.iii,151)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

7. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy.

8. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

9. Này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy.

10. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài,tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc… thọ… tưởng… các hành… liên tục làm cho hiện hữu thức.

12. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

13-14. − Do vậy, này các Tỷ-kheo… Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.101 The Adze Vāsijaṭasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’ The ending of the defilements is for one who knows and sees this.

When a mendicant is not committed to development, they might wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’ Undeveloped in what? Undeveloped in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.

Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. But she had not properly sat on them to keep them warm and incubated. That chicken might wish: ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ But they can’t break out and hatch safely. Why is that? Because that chicken with eight or ten or twelve eggs has not properly sat on them to keep them warm and incubated.

In the same way, when a mendicant is not committed to development, they might wish: ‘If only my mind was freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’ Undeveloped in what? Undeveloped in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.

When a mendicant is committed to development, they might not wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they are developed.’ Developed in what? Developed in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.

Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. That chicken might not wish: ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ But still they can break out and hatch safely. Why is that? Because that chicken with eight or ten or twelve eggs properly sat on them to keep them warm and incubated.

In the same way, when a mendicant is committed to development, they might not wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they are developed.’ Developed in what? Developed in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.

Suppose a carpenter or their apprentice sees the marks of his fingers and thumb on the handle of his adze. They don’t know how much of the handle was worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away.

In the same way, when a mendicant is committed to development, they don’t know how much of the defilements were worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away. Suppose there was a sea-faring ship bound together with ropes. For six months they deteriorated in the water. Then in the cold season it was hauled up on dry land, where the ropes were weathered by wind and sun. When the monsoon clouds soaked it with rain, the ropes would readily collapse and rot away. In the same way, when a mendicant is committed to development their fetters readily collapse and rot away."

IX. Cán Búa (Hay Chiếc Thuyền) (Tạp 10, Ðại 2,67a) (S.iii,152)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.

4. Do biết cái gì, thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận.

5. Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu, hoặc không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

6. Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy bồ, đề phần. Không có tu tập Thánh đạo Tám ngành.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.

8. Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.

9. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

10. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

11. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ… Không có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

12. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

13. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.

15. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

16. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

17. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ… có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

18. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.

19. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay, từng ấy lậu hoặc của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được (các lậu hoặc) được hao mòn trên sự hao mòn (các lậu hoặc).

20. Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng, rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát (?).

21. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.

SN 22.102 The Perception of Impermanence Aniccasaññāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, when the perception of impermanence is developed and cultivated it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. It eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’.

In the autumn, a farmer ploughing with a large plough shears through all the root networks. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

A reed-cutter, having cut the reeds, grabs them at the top and shakes them down, shakes them about, and shakes them off. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

When the stalk of a bunch of mangoes is cut, all the mangoes attached to the stalk will follow along. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

The rafters of a bungalow all lean to the peak, slope to the peak, and meet at the peak, so the peak is said to be the topmost of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

Of all kinds of fragrant root, spikenard is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

Of all kinds of fragrant heartwood, red sandalwood is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

Of all kinds of fragrant flower, jasmine is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

All lesser kings are vassals of a wheel-turning monarch, so the wheel-turning monarch is said to be the foremost of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

The radiance of all the stars is not worth a sixteenth part of the moon’s radiance, so the moon’s radiance is said to be the best of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.

In the autumn, the heavens are clear and cloudless. And as the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, it shines and glows and radiates. In the same way, when the perception of impermanence is developed and cultivated it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. It eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’.

And how is the perception of impermanence developed and cultivated so that … it eradicates all conceit ‘I am’? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’

That’s how the perception of impermanence is developed and cultivated so that it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. That’s how it eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’."

the final fifty

X. Vô Thường Tánh (Hay Tưởng) (Tạp 10, Ðại 2,70c) (S.iii,155)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cắt cỏ cắt đứt cây cỏ, nắm lấy đầu ngọn đập lên, đập xuống, đập tả, đập hữu, rồi quăng một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một chùm xoài bị cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn, hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là tối thượng hơn chúng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng… tất cả ngã mạn được tận trừ.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những rễ hương gì, hương anusàri đen là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi hương gì, hương chiên-đàn đỏ là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hoa hương gì, hương vassika là tối thượng hơn những hương ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. … tất cả ngã mạn được tận trừ.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả những vua ấy đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Vua Chuyển luân vương được gọi là vua tối thượng đối với họ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, ánh sáng các loại sao gì, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng được xem là tối thượng trong các ánh sáng ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

13. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mở rộng và gột sạch mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, đuổi sạch tất cả u ám khỏi hư không, bừng sáng, chói sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

14. Tu tập vô thường tưởng như thế nào, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào mà tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ?

15. Ðây là sắc; đây là sắc tập khởi; đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức; đây là thức tập khởi; đây là thức đoạn diệt.

16. Vô thường tưởng được tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, được làm cho sung mãn như vậy, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận; tất cả hữu tham được đoạn tận; tất cả vô minh được đoạn tận; tất cả ngã mạn được tận trừ.

C. Năm Mươi Kinh Sau

The Chapter on Sides

SN 22.103 Sides Antasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these four sides. What four? The side of substantial reality, the side of the origin of substantial reality, the side of the cessation of substantial reality, and the side of the practice that leads to the cessation of substantial reality. And what is the side of substantial reality? It should be said: the five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called the side of substantial reality.

And what is the side of the origin of substantial reality? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the side of the origin of substantial reality.

And what is the side of the cessation of substantial reality? It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. This is called the side of the cessation of substantial reality.

And what is the side of the practice that leads to the cessation of substantial reality? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is called the side of the practice that leads to the cessation of substantial reality. These are the four sides."

I. Phẩm Biên

I. Biên Kinh (Tạp 3, Ðại 2,18b) (S.iii,157)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Có bốn biên này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Hữu thân biên, hữu thân tập khởi biên, hữu thân đoạn diệt biên, hữu thân đoạn diệt đạo biên.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân biên? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là năm thủ uẩn.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân tập khởi biên? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân tập khởi biên.

6. Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt biên? Chính là sự ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt biên.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt đạo biên? Chính là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt đạo biên.

SN 22.104 Suffering Dukkhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Listen …

And what is suffering? It should be said: the five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called suffering.

And what is the origin of suffering? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the origin of suffering.

And what is the cessation of suffering? It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. This is called the cessation of suffering.

And what is the practice that leads to the cessation of suffering? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is called the practice that leads to the cessation of suffering."

II. Khổ (S.iii,158)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh… phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt.

SN 22.105 Substantial Reality Sakkāyasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you substantial reality, the origin of substantial reality, the cessation of substantial reality, and the practice that leads to the cessation of substantial reality. Listen …

And what is substantial reality? It should be said: the five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called substantial reality.

And what is the origin of substantial reality? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the origin of substantial reality.

And what is the cessation of substantial reality? It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. This is called the cessation of substantial reality.

And what is the practice that leads to the cessation of substantial reality? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is called the practice that leads to the cessation of substantial reality."

III. Hữu Thân (Tạp 3, Ðại 2,18b) (S.iii,159)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về hữu thân, hữu thân tập khởi, hữu thân đoạn diệt, con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân? Phải trả lời rằng chính là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân tập khởi? Chính là khát ái này… Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân tập khởi.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không có dư tàn khát ái ấy… sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt.

SN 22.106 Should Be Completely Understood Pariññeyyasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the things that should be completely understood, complete understanding, and the person who has completely understood. Listen …

And what things should be completely understood? Form, feeling, perception, choices, and consciousness. These are called the things that should be completely understood.

And what is complete understanding? The ending of greed, hate, and delusion. This is called complete understanding.

And what is the person who has completely understood? It should be said: a perfected one, the venerable of such and such name and clan. This is called the person who has completely understood."

IV. Sở Biến Tri (Tạp 3, Ðại 2,19a) (S.iii,159)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông các pháp cần phải biến tri, sự biến tri và con người đã biến tri. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp cần phải biến tri? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp cần phải biến tri. Thọ… tưởng… các hành… thức là pháp cần phải biến tri. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp cần phải biến tri.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự biến tri? Sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự biến tri.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con người đã biến tri? Cần phải trả lời là bậc A-la-hán. Bậc Tôn giả này, với tên như vậy, với dòng họ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con người đã biến tri.

SN 22.107 Ascetics (1st) Samaṇasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.

There are ascetics and brahmins who don’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape …

There are ascetics and brahmins who do truly understand …"

V. Các Sa Môn (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Có năm thủ uẩn, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này… như thật biết rõ…; tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú.

SN 22.108 Ascetics (2nd) Dutiyasamaṇasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.

There are ascetics and brahmins who don’t truly understand these five grasping aggregates’ origin, ending, gratification, drawback, and escape … Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin …

There are ascetics and brahmins who do truly understand … Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."

VI. Các Sa Môn (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

4-5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này… biết rõ…; tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú.

SN 22.109 A Stream-Enterer Sotāpannasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. A noble disciple comes to truly understand these five grasping aggregates’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. Such a noble disciple is called a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, bound for awakening.”

VII. Dự Lưu (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Và khi nào vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị Ða văn Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối thất, đã được quyết định, hướng đến Chánh Ðẳng Giác.

SN 22.110 A Perfected One Arahantasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. A mendicant comes to be freed by not grasping after truly understanding these five grasping aggregates’ origin, ending, gratification, drawback, and escape. Such a mendicant is called a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their own true goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment.”

VIII. A-La-Hán (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Và khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không có chấp thủ. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.

SN 22.111 Giving Up Desire Chandappahānasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, you should give up any desire, greed, relishing, and craving for form. Thus that form will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.

You should give up any desire, greed, relishing, and craving for feeling … perception … choices … consciousness. Thus that consciousness will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future."

IX. Dục Ðược Ðoạn Trừ (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, hãy đoạn trừ nó. Như vậy sắc ấy sẽ được đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

4-6. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, hãy đoạn trừ nó. Như vậy, thức sẽ được đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

SN 22.112 Giving Up Desire (2nd) Dutiyachandappahānasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, you should give up any desire, greed, relishing, and craving for form; and any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. Thus that form will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.

You should give up any desire, greed, relishing, and craving for feeling … perception … choices … consciousness; and any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. Thus that consciousness will be given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future."

X. Dục Ðược Ðoạn Trừ (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm thủ trước, thiên chấp tùy miên nào đối với sắc… hãy đoạn trừ chúng. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ…

4-6… Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm thủ trước, thiên chấp tùy miên nào đối với thức, hãy đoạn trừ chúng. Như vậy, thức ấy sẽ được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

The Chapter on a Dhamma Speaker

SN 22.113 Ignorance Avijjāsutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Mendicant, it’s when an unlearned ordinary person doesn’t understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They don’t understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

II. Phẩm Thuyết Pháp

I. Vô Minh (Hay Vị Tỷ-kheo) (S.iii,162)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Cho đến như thế nào, một người là vô minh?

4-8. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, không biết rõ thọ… không biết rõ tưởng… không biết rõ các hành… không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Này Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh. Và cho đến như vậy, một người là vô minh.

SN 22.114 Knowledge Vijjāsutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Mendicant, it’s when a learned noble disciple understands form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

II. Minh (Hay Vị Tỷ-kheo) (S.iii,163)

1-4. Nhân duyên ở Sàvatthi… Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là minh? Cho đến như thế nào, một người là minh?

5. − Ở đây, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

6-8… biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành… biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Này Tỷ-kheo, đây gọi là minh. Và cho đến như vậy, một người là minh.

SN 22.115 A Dhamma speaker Dhammakathikasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, they speak of a ‘Dhamma speaker’. How is a Dhamma speaker defined?”

"Mendicant, if a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.

If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment with feeling … perception … choices … consciousness, for its fading away and cessation, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’."

III. Vị Thuyết Pháp (Tập 3, Ðại 2,5c) (S.iii,163)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Sau khi ngồi xuống, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được

(gọi) là vị thuyết pháp?

4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-7. Nếu Tỷ-kheo đối với thọ… Nếu Tỷ-kheo đối với tưởng… Nếu Tỷ-kheo đối với các hành…

8. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

SN 22.116 A Dhamma speaker (2nd) Dutiyadhammakathikasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, they speak of a ‘Dhamma speaker’. How is a Dhamma speaker defined? How is a mendicant who practices in line with the teaching defined? And how is a mendicant who has attained extinguishment in this very life defined?”

"Mendicant, if a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.

If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment with feeling … perception … choices … consciousness, for its fading away and cessation, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’."

IV. Vị Thuyết Pháp (S.iii,164)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là vị thuyết pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực hành pháp tùy pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị đã đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?

3-4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-7. Nếu Tỷ-kheo đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

8. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

SN 22.117 Shackles Bandhanasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re called an unlearned ordinary person who is bound to form, inside and out. They see neither the near shore nor the far shore. They’re born in bonds and die in bonds, and in bonds they go from this world to the next.

They regard feeling … perception … choices … consciousness as self. They’re called an unlearned ordinary person who is bound to consciousness, inside and out. They see neither the near shore nor the far shore. They’re born in bonds and die in bonds, and in bonds they go from this world to the next.

A learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They’re called a learned noble disciple who is not bound to form, inside or out. They see the near shore and the far shore. They’re exempt from suffering, I say.

They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self. They’re called a learned noble disciple who is not bound to consciousness, inside or out. They see the near shore and the far shore. They’re exempt from suffering, I say."

V. Trói Buộc (Tạp 2, Ðại 2,19b) (S.iii,164)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.

4-6. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán thức như là tự ngã, tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của thức, bị trói buộc bởi các trói buộc của nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.

8. Còn vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, thấy rõ các bậc Thánh… tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, không bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, vị đã thấy bờ bên này, vị đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy được giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.

9-11. … Ðối với thọ… với tưởng… với các hành…

12. … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi sự trói buộc của thức, không bị trói buộc bởi sự trói buộc nội ngoại; vị đã thấy bờ bên này, đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.

SN 22.118 Questioning Paripucchitasutta

At Sāvatthī.

“What do you think, mendicants? Do you regard form like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Good, mendicants! Form should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Do you regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Good, mendicants! Consciousness should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VI. Gỉải Thoát (Tạp 2, Ðại 2,19c) (S.iii,165)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Các Ông có quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

3-5. … thọ… tưởng… các hành…

6. … các Ông có quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

7. Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.119 Questioning (2nd) Dutiyaparipucchitasutta

At Sāvatthī.

“What do you think, mendicants? Do you regard form like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”

“Yes, sir.”

“Good, mendicants! Form should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Do you regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”

“Yes, sir.”

"Good, mendicants! Consciousness should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

VII. Gỉải Thoát (Tạp 2, Ðại 2,19c) (S.iii,166)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Ông có quán sắc: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán sắc với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

3-5. … thọ… tưởng… các hành…

6. … các Ông có quán thức: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

7. Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.120 Things Prone To Being Fettered Saṁyojaniyasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the things that are prone to being fettered, and the fetter. Listen …

What are the things that are prone to being fettered? And what is the fetter?

Form is something that’s prone to being fettered. The desire and greed for it is the fetter.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is something that’s prone to being fettered. The desire and greed for it is the fetter.

These are called the things that are prone to being fettered, and this is the fetter."

VIII. Kiết Sử (S.iii,166)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về các pháp bị trói buộc và sự trói buộc. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị trói buộc? Thế nào là sự trói buộc? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp bị trói buộc. Dục và tham đối với sắc là sự trói buộc của sắc.

5-7. … Thọ… Tưởng… Các hành…

8. Thức, này các Tỷ-kheo, là pháp bị trói buộc. Dục và tham đối với thức là sự trói buộc của thức.

9. Này các Tỷ-kheo, các pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là các pháp bị trói buộc. Ðây là sự trói buộc.

SN 22.121 Things Prone to Fuel Grasping Upādāniyasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the things that fuel grasping, and the grasping. Listen …

What are the things that fuel grasping? And what is the grasping?

Form is something that’s prone to fuel grasping. The desire and greed for it is the grasping.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is something that’s prone to fuel grasping. The desire and greed for it is the grasping.

These are called the things that fuel grasping, and this is the grasping."

IX. Chấp Thủ (S.iii,167)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về các pháp bị chấp thủ và sự chấp thủ. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ? Thế nào là sự chấp thủ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với sắc là sự chấp thủ đối với sắc.

5-7. … Thọ… Tưởng… Các hành…

8. Thức, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với thức là sự chấp thủ đối với thức.

9. Này các Tỷ-kheo, các pháp này, được gọi là các pháp bị chấp thủ. Ðây là sự chấp thủ.

SN 22.122 An Ethical Mendicant Sīlavantasutta

At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and said:

“Reverend Sāriputta, what things should an ethical mendicant rationally apply the mind to?”

“Reverend Koṭṭhita, an ethical mendicant should rationally apply the mind to the five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as misery, as an affliction, as alien, as falling apart, as empty, as not-self. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. An ethical mendicant should rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as misery, as an affliction, as alien, as falling apart, as empty, as not-self. It’s possible that an ethical mendicant who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of stream-entry.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant stream-enterer rationally apply the mind to?”

“A mendicant stream-enterer should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant stream-enterer who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of once-return.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant once-returner rationally apply the mind to?”

“A mendicant once-returner should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant once-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of non-return.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant non-returner rationally apply the mind to?”

“A mendicant non-returner should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant non-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize perfection.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a perfected one rationally apply the mind to?”

“Reverend Koṭṭhita, a perfected one should also rationally apply the mind to the five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as misery, as an affliction, as alien, as falling apart, as empty, as not-self. A perfected one has nothing more to do, and nothing that needs improvement. Still, these things, when developed and cultivated, lead to blissful meditation in this life, and also to mindfulness and situational awareness.”

X. Vị Giữ Giới (Tạp 10, Ðại 2,65b) (S.iii,167)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2-3. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta… thưa như sau:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

4. − Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

5. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

6. Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.

7. − Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

8-9. − Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.

10. − Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?

11. − Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.

12. − Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

13-15. − Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.

16. − Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?

17. − Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

18. Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

SN 22.123 Learned Sutavantasutta

At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, bowed, sat down to one side, and said:

“Reverend Sāriputta, what things should a learned mendicant rationally apply the mind to?”

“A learned mendicant should rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. A learned mendicant should rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a learned mendicant who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of stream-entry.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant stream-enterer rationally apply the mind to?”

“A mendicant stream-enterer should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant stream-enterer who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of once-return.” … “It’s possible that a mendicant once-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of non-return.” … “It’s possible that a mendicant non-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of perfection.”

“But Reverend Sāriputta, what things should a perfected one rationally apply the mind to?”

“Reverend Koṭṭhita, a perfected one should rationally apply the mind to the five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as misery, as an affliction, as alien, as falling apart, as empty, as not-self. A perfected one has nothing more to do, and nothing that needs improvement. Still, these things, when developed and cultivated, lead to blissful meditation in this life, and also to mindfulness and situational awareness.”

XI. Vị Có Nghe (S.iii,169)

(Hoàn toàn như kinh trước, chỉ thay thế vị có nghe cho vị giữ giới ).

SN 22.124 With Kappa Kappasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Kappa went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli?”

"Kappa, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and all external stimuli."

XII. Kappa (Tạp 1, Ðại 2,4c) (S.iii,169)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Kappa đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, do thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, lại không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn?

4. − Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc thắng hay liệt, hoặc xa hay gần; tất cả sắc ấy cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5-7. Phàm có thọ gì… tưởng gì… các hành gì…

8. Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải như quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn.

SN 22.125 With Kappa (2nd) Dutiyakappasutta

At Sāvatthī.

Seated to one side, Venerable Kappa said to the Buddha:

“Sir, how does one know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”

"Kappa, one is freed by not grasping having truly seen any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

One is freed by not grasping having truly seen any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

That’s how to know and see so that the mind is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and all external stimuli; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed."

XIII. Kappa (S.iii,170)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không còn các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?

3. − Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… tất cả sắc, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.

4-6. Phàm có thọ gì… tưởng… các hành…

7. Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.

8. Do biết như vậy, thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không có (các tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt ngoài kiêu mạn, khéo giải thoát.

The Chapter on Ignorance

SN 22.126 Liable To Originate Samudayadhammasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Mendicant, it’s when an unlearned ordinary person doesn’t truly understand form, which is liable to originate, as form which is liable to originate. They don’t truly understand form, which is liable to vanish, as form which is liable to vanish. They don’t truly understand form, which is liable to originate and vanish, as form which is liable to originate and vanish.

They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness, which is liable to originate, as consciousness which is liable to originate. They don’t truly understand consciousness, which is liable to vanish, as consciousness which is liable to vanish. They don’t truly understand consciousness, which is liable to originate and vanish, as consciousness which is liable to originate and vanish.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

When he said this, the mendicant said to the Buddha:

“Sir, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Mendicant, it’s when a learned noble disciple truly understands form, which is liable to originate, as form which is liable to originate. They truly understand form, which is liable to vanish, as form which is liable to vanish. They truly understand form, which is liable to originate and vanish, as form which is liable to originate and vanish.

They truly understand feeling … perception … choices … consciousness, which is liable to originate, as consciousness which is liable to originate. They truly understand consciousness, which is liable to vanish, as consciousness which is liable to vanish. They truly understand consciousness, which is liable to originate and vanish, as consciousness which is liable to originate and vanish.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

III. Phẩm Vô Minh

I. Tập Pháp (Tạp 10, Ðại 2,64b) (S.iii,171)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

5-7. … “Thọ… Tưởng… Các hành…”.

8. … không như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi” là thức chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: “Thức chịu sự đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

9. Như vậy, này Tỷ-kheo, gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, bạch Thế Tôn? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

11. − Ở đây, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Sắc chịu sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

12-14. … “Thọ… Tưởng… Các hành…”.

15. … Như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi” là thức chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Thức chịu sự đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

16. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là minh, cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.127 Liable To Originate (2nd) Dutiyasamudayadhammasutta

At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. …

Mahākoṭṭhita said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, it’s when an unlearned ordinary person doesn’t truly understand form, which is liable to originate … liable to vanish … liable to originate and vanish, as form which is liable to originate and vanish.

They don’t truly understand feeling … perception … choices … consciousness, which is liable to originate … liable to vanish … liable to originate and vanish, as consciousness which is liable to originate and vanish.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

II. Tập Pháp (S.iii,172)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả Sàruputta? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

(… như kinh trên) .

SN 22.128 Liable To Originate (3rd) Tatiyasamudayadhammasutta

At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. …

Mahākoṭṭhita said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, it’s when a learned noble disciple truly understands form, which is liable to originate … liable to vanish … liable to originate and vanish, as form which is liable to originate and vanish.

They truly understand feeling … perception … choices … consciousness, which is liable to originate … liable to vanish … liable to originate and vanish, as consciousness which is liable to originate and vanish.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

III. Tập Pháp (S.iii,173)

1-2. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), tại vườn Lộc Uyển.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Minh, minh”, thưa Tôn giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả Sàriputta? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

(… như kinh trên) .

SN 22.129 Gratification Assādasutta

At Varanasi. Mahākoṭṭhita said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

IV. Vi Ngọt

1-2. Tại Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Ðây là vô minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.130 Gratification (2nd) Dutiyaassādasutta

At Varanasi.

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, a learned noble disciple truly understands the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

V. Vị Ngọt (S.iii,174)

1-2. Tại Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. − “Minh, minh”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Như thế nào được gọi là minh?

4-8. Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc… của thọ… của tưởng… của các hành… như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Ðây gọi là vô minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.131 Origin Samudayasutta

At Varanasi.

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

VI. Tập Khởi (S.iii,174)

1-2. Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. − “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputa, được nói đến là như vậy. Và thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.132 Origin (2nd) Dutiyasamudayasutta

At Varanasi. Mahākoṭṭhita said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, a learned noble disciple truly understands the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

VII. Tập Khởi (S.iii,174)

1-2. Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Minh, minh” thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

4. − Ở đây, thưa Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy được gọi là minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.133 With Koṭṭhita Koṭṭhikasutta

At Varanasi. Sāriputta said to Mahākoṭṭhita:

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

When he said this, Venerable Sāriputta said to him:

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, a learned noble disciple truly understands the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

VIII. Kotthika (S.iii,175)

1. Bàrànasi, Isipatana, Migadàya.

2. Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Vô minh, vô minh”, này Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy gọi là vô minh, thưa Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là minh?

11. − Ở đây, thưa Hiền giả, vị Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sắc.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.134 With Koṭṭhita (2nd) Dutiyakoṭṭhikasutta

At Varanasi.

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, an unlearned ordinary person doesn’t truly understand the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

When he said this, Venerable Sāriputta said to him:

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, a learned noble disciple truly understands the origin, the ending, the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

IX. Kotthika (S.iii,175)

1. … Bàrànasi, Isipatana, Migadàya.

2-3. − “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

11. − Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy, được gọi là minh.

SN 22.135 With Koṭṭhita (3rd) Tatiyakoṭṭhikasutta

The same setting. Sāriputta said to Mahākoṭṭhita:

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Reverend, it’s when an unlearned ordinary person doesn’t understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They don’t understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.

This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined."

When he said this, Venerable Sāriputta said to him:

“Reverend Koṭṭhita, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Reverend, it’s when a learned noble disciple understands form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.

This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined."

X. Kotthika (S.iii,176)

1-2. Nhân duyên như trên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Và thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, thưa Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là minh?

11.− Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy được gọi là minh.

The Chapter on Burning Chaff

SN 22.136 Burning Chaff Kukkuḷasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are burning chaff.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

IV. Phẩm Than Ðỏ

I. Than Ðỏ Hực (S.iii,177)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc là than đỏ, này các Tỷ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

4. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

5. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.137 Impermanence Aniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, you should give up desire for what is impermanent.

And what is impermanent? Form is impermanent; you should give up desire for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent; you should give up desire for it.

You should give up desire for what is impermanent."

II. Vô Thường (S.iii,177)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?

3. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường.

4-6. … Thọ… Tưởng… Các hành…

7. Thức là vô thường, ở đây, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

8. Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

SN 22.138 Impermanence (2nd) Dutiyaaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, you should give up greed for what is impermanent. And what is impermanent?

Form is impermanent; you should give up greed for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent; you should give up greed for it.

You should give up greed for what is impermanent."

III. Vô Thường

(Như kinh trên, chỉ khác là tham (ràga) thay thế cho dục (chanda).

SN 22.139 Impermanence (3rd) Tatiyaaniccasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, you should give up desire and greed for what is impermanent. And what is impermanent?

Form is impermanent; you should give up desire and greed for it.

Feeling …

Perception …

Choices …

Consciousness is impermanent; you should give up desire and greed for it.

You should give up desire and greed for what is impermanent."

IV. Vô Thường

(Như kinh trên, chỉ khác là cả dục và tham ).

SN 22.140 Suffering Dukkhasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up desire for what is suffering. …”

SN 22.141 Suffering (2nd) Dutiyadukkhasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up greed for what is suffering. …”

SN 22.142 Suffering (3rd) Tatiyadukkhasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up desire and greed for what is suffering. …”

V-VI-VII. Khổ (1,2,3)

(Như kinh trên, chỉ khác là khổ thay thế cho vô thường ).

SN 22.143 Not-Self Anattasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up desire for what is not-self. …”

SN 22.144 Not-Self (2nd) Dutiyaanattasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up greed for what is not-self. …”

SN 22.145 Not-Self (3rd) Tatiyaanattasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, you should give up desire and greed for what is not-self. …”

VIII-IX-X. Vô Ngã (1,2,3)

(Như kinh trên, chỉ khác là vô ngã thay thế cho khổ ).

SN 22.146 Full of Disillusionment Nibbidābahulasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teachings. They should live full of disillusionment for form, feeling, perception, choices, and consciousness. Living in this way, they completely understand form, feeling, perception, choices, and consciousness. Completely understanding form, feeling, perception, choices, and consciousness, they’re freed from these things. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.”

XI. Thiện Nam Tử Khổ (Tạp 2, Ðại 2,12a) (S.iii,179)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.

4. Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.

5. Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.147 Observing Impermanence Aniccānupassīsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teachings. They should live observing impermanence in form, feeling, perception, choices, and consciousness. … They’re freed from suffering, I say.”

XII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, chỉ khác là “thấy vô thường” thay thế “sống nhàm chán”).

SN 22.148 Observing Suffering Dukkhānupassīsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teachings. They should live observing suffering in form, feeling, perception, choices, and consciousness. … They’re freed from suffering, I say.”

?

SN 22.149 Observing Not-Self Anattānupassīsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teachings. They should live observing not-self in form, feeling, perception, choices, and consciousness. … They’re freed from suffering, I say.”

XIII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, ở đây chỉ khác là “thấy vô ngã” ).

The Chapter on Views

SN 22.150 In Oneself Ajjhattasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what, do pleasure and pain arise in oneself?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form, pleasure and pain arise in oneself. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness, pleasure and pain arise in oneself.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

V. Phẩm Kiến

I. Nội (Tạp 7, Ðại 2,43b) (S.iii,180)

1-2. Ở Sàvatthi…

3. − Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, nội lạc, khổ khởi lên?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…,…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, do chấp thủ sắc, nội lạc, khổ khởi lên.

6-8… thọ… tưởng… các hành…

9. Do có thức, do chấp thủ thức, nội lạc, khổ khởi lên.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, nội lạc, khổ có thể khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-13. … Thọ… Tưởng… Các hành…

14. − Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời nội lạc, khổ có thể sanh khởi không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.151 This Is Mine Etaṁmamasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does someone regard things like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form … When consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, someone regards it like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would you regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would you regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

II. Cái Này Là Của Tôi (Tạp 7, Ðại 2,43a) (S.iii,181)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì mà quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5-9. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc… do có thức, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức nên quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn…

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-13. … Thọ… Tưởng… Các hành…

14. − Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy và quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.152 This Is My Self Soattāsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable’?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable’?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

III. Ngã (Tạp 7, Ðại 2,43c) (S.iii,182)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

− Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, tà kiến này khởi lên: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

4. − Ðối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.

6-9. … thọ… tưởng… các hành…

10. Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-14. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn?

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.153 It Might Not Be Mine Nocamesiyāsutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

IV. Và Nếu Không Phải Của Tôi (S.iii,183)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì tà kiến như sau sanh khởi: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.

9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10-13. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.154 Wrong View Micchādiṭṭhisutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does wrong view arise?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, wrong view arises. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, wrong view arises.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would wrong view arise?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would wrong view arise?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

V. Tà Kiến (S.iii,184)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

− Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ gì, do thiên chấp gì, tà kiến khởi lên?

4. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, có chấp thủ, do thiên chấp sắc, khởi lên tà kiến.

6-9… thọ… tưởng… các hành…

Do có thức, có chấp thủ thức, do thiên chấp thức nên khởi lên tà kiến.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-14. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.155 Substantialist View Sakkāyadiṭṭhisutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does substantialist view arise?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, substantialist view arises. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, substantialist view arises.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would substantialist view arise?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would substantialist view arise?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

VI. Hữu Thân

(Giống như kinh trước, chỉ thế “hữu thân” cho “tà kiến”).

SN 22.156 View of Self Attānudiṭṭhisutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does view of self arise?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, view of self arises. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, view of self arises.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would view of self arise?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would view of self arise?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

VII. Ngã Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thế “ngã kiến” (attànuditthi) cho “hữu thân”) .

SN 22.157 Insistence Abhinivesasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, do fetters, insistence, and shackles arise?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, fetters, insistence, and shackles arise. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, fetters, insistence, and shackles arise.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would fetters, insistence, and shackles arise?”

“No, sir.” …

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

VIII. Thiên Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thế bị trói buộc, thiên chấp kiết sử cho ngã kiến) .

SN 22.158 Insistence (2nd) Dutiyaabhinivesasutta

At Sāvatthī.

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, do fetters, insistence, shackles, and attachments arise?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When form exists, because of grasping form and insisting on form, fetters, insistence, shackles, and attachments arise. When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, fetters, insistence, shackles, and attachments arise.

What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would fetters, insistence, shackles, and attachments arise?”

“No, sir.”

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

IX. Thiên Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thêm: Sự tham trước về sự trói buộc, thiên chấp các kiết sử).

SN 22.159 With Ānanda Ānandasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“What do you think, Ānanda? Is form permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.” …

“Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”

X. Ananda (S.iii,187)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến… bạch Thế Tôn:

3. − Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để sau khi nghe pháp, con sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5-8. − Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

9. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

-ooOoo-