Skip to content

Bhikkhu Sujato (en) [link]

Thích Minh Châu [link]

Linked Discourses on the Six Sense Fields

the first fifty

35. TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ

Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất

The Chapter on Impermanence

SN 35.1 The Interior as Impermanent Ajjhattāniccasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”

“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:

"Mendicants, the eye is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

The ear is impermanent. …

The nose is impermanent. …

The tongue is impermanent. …

The body is impermanent. …

The mind is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

I. Phẩm Vô Thường

1.I. Vô Thường (1) Nội (S. iv.1)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Tai là vô thường…

5. Mũi là vô thường…

6. Lưỡi là vô thường…

7. Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.2 The Interior as Suffering Ajjhattadukkhasutta

"Mendicants, the eye is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

The ear, nose, tongue, body, and mind are suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

2.II. Khổ (1) Nội (S.iv,1)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Tai là khổ… Mũi là khổ… Lưỡi là khổ… Thân là khổ…

8. Ý là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo… “… không còn trở lại trạng thái này nữa”.

SN 35.3 The Interior as Not-Self Ajjhattānattasutta

"Mendicants, the eye is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

The ear, nose, tongue, body, and mind are not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

3.III. Vô Ngã (1) Nội (S.iv,2)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Tai là vô ngã… Mũi là vô ngã… Lưỡi là vô ngã… Thân là vô ngã…

8. Ý là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.4 The Exterior as Impermanent Bāhirāniccasutta

"Mendicants, sights are impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

4.IV. Vô Thường (2) Ngoại (S.iv,2)

1-2. …

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.5 The Exterior as Suffering Bāhiradukkhasutta

“Mendicants, sights are suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ …”

5.V. Khổ (2) Ngoại (S.iv.3)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái nầy nữa”.

SN 35.6 The Exterior as Not-Self Bāhirānattasutta

“Mendicants, sights are not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ …”

6.VI. Vô Ngã (2) Ngoại (S.iv.3)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.7 The Interior as Impermanent in the Three Times Ajjhattāniccātītānāgatasutta

"Mendicants, the eye of the past and future is impermanent, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about the eye of the past, they don’t look forward to enjoying the eye in the future, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye in the present.

The ear … nose … tongue … body … mind of the past and future is impermanent, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about the mind of the past, they don’t look forward to enjoying the mind in the future, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the mind in the present."

7.VII. Vô Thường (3) Nội (S.iv.4)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không còn hoan hỷ đối với mắt tương lai; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Tai là vô thường… Mũi là vô thường… Lưỡi là vô thường… Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai ; đối với ý hiện tại đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.8 The Interior as Suffering in the Three Times Ajjhattadukkhātītānāgatasutta

"Mendicants, the eye of the past and future is suffering, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about the eye of the past, they don’t look forward to enjoying the eye in the future, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye in the present. …"

8.VIII. Khổ (3) Nội (S.iv,4)

1-2. …

3-7. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không hoan hỷ đối với mắt tương lai ; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt…

Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là khổ, kể cả ý quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai ; đối với ý hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.9 The Interior as Not-Self in the Three Times Ajjhattānattātītānāgatasutta

"Mendicants, the eye of the past and future is not-self, let alone the present.

Seeing this, a learned noble disciple doesn’t worry about the eye of the past, they don’t look forward to enjoying the eye in the future, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye in the present. …"

9.IX. Vô Ngã (3) Nội (S.iv,4)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không có hoan hỷ đối với mắt vị lai; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không hoan hỷ đối với ý vị lai ; đối với ý hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.10 The Exterior as Impermanent in the Three Times Bāhirāniccātītānāgatasutta

“Mendicants, sights of the past and future are impermanent, let alone the present. …”

10.X. Vô Thường (4) Ngoại (S.iv,5)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai ; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.11 The Exterior as Suffering in the Three Times Bāhiradukkhātītānāgatasutta

“Mendicants, sights of the past and future are suffering, let alone the present. …”

11.XI. Khổ (4) Ngoại (S.iv,5)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với các sắc tương lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.12 The Exterior as Not-Self in the Three Times Bāhirānattātītānāgatasutta

“Mendicants, sights of the past and future are not-self, let alone the present. …”

12.XII. Vô Ngã (4) Ngoại (S.iv,6)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai ; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

The Chapter on Pairs

SN 35.13 Before My Awakening (Interior) Paṭhamapubbesambodhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to the eye … ear … nose … tongue … body … and mind?’

Then it occurred to me: 'The pleasure and happiness that arise from the eye: this is its gratification. That the eye is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for the eye: this is its escape.

The pleasure and happiness that arise from the ear … nose … tongue … body … mind: this is its gratification. That the mind is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for the mind: this is its escape.’

As long as I didn’t truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

But when I did truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’"

II. Phẩm Song Ðôi

13.I. Chánh Giác (1) (S.iv,6)

1. Sàvatthi…

2. − Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồtát, Ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của mắt? Cái gì là vị ngọt… của tai? Cái gì là vị ngọt… của mũi? Cái gì là vị ngọt… của lưỡi? Cái gì là vị ngọt… của thân? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của ý?”

3-7. Này các Tỷ-kheo, về vấn đề này Ta suy nghĩ như sau: "Do duyên với mắt, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của mắt. Mắt vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của mắt. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với mắt là xuất ly của mắt… của tai… của mũi… của lưỡi… của thân…

8. Do duyên với ý, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của ý. Ý vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của ý. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với ý là xuất ly của ý".

9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

10. Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm và xuất ly là xuất ly, thời khi ấy, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

11. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.14 Before My Awakening (Exterior) Dutiyapubbesambodhasutta

“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to sights … sounds … smells … tastes … touches … and ideas?’ …”

14.II. Chánh Giác (2) (S.iv,8)

1. …

2. − Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồtát, Ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của các sắc?.. của các tiếng… của các hương… của các vị… của các xúc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của các pháp?”

3. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Do duyên các sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của các sắc. Các sắc vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của các sắc. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với các sắc, đấy là xuất ly của các sắc.

4-7. … các tiếng… các hương… các vị… các xúc…

8. Do duyên các pháp, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của các pháp. Các pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của các pháp. Nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với các pháp, đấy là xuất ly của các pháp".

9-10. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-lamôn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác… Ta xác chứng Ta đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

11. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.15 In Search of Gratification (Interior) Paṭhamaassādapariyesanasutta

"Mendicants, I went in search of the eye’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the eye’s gratification. I went in search of the eye’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the eye’s drawback. I went in search of escape from the eye, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of escape from the eye.

I went in search of the ear’s … nose’s … tongue’s … body’s … mind’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the mind’s gratification. I went in search of the mind’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of the mind’s drawback. I went in search of escape from the mind, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of escape from the mind.

As long as I didn’t truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening …

But when I did truly understand …

Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’"

15.III. Vị NGọt (1) (S.iv,8)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của mắt. Có vị ngọt nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của mắt. Có nguy hiểm nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ- kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của mắt. Có xuất ly nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

3-6. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của tai… của mũi… của lưỡi… của thân…

7. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của ý. Có vị ngọt nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của ý. Có nguy hiểm nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của ý. Có xuất ly nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là sự xuất ly…

10. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.16 In Search of Gratification (Exterior) Dutiyaassādapariyesanasutta

“Mendicants, I went in search of the gratification of sights, and I found it. …”

16.IV. Vị NGọt (2) (S.iv,9)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các sắc. Có vị ngọt nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các sắc. Có nguy hiểm nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

3-6. …các tiếng… các hương… các vị… các xúc…

7. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp. Có vị ngọt nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các pháp. Có nguy hiểm nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly…

10. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.17 If There Were No Gratification (Interior) Paṭhamanoceassādasutta

"Mendicants, if there were no gratification in the eye, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in the eye, sentient beings are aroused by it. If the eye had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since the eye has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from the eye, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from the eye, sentient beings do escape from it.

If there were no gratification in the ear … nose … tongue … body … mind, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in the mind, sentient beings are aroused by it. If the mind had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since the mind has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from the mind, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from the mind, sentient beings do escape from it.

As long as sentient beings don’t truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, they haven’t escaped from this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they don’t live detached, liberated, with a mind free of limits.

But when sentient beings truly understand these six interior sense fields’ gratification, drawback, and escape for what they are, they’ve escaped from this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they live detached, liberated, with a mind free of limits."

17.V. Nếu Không Có (1) (S.iv,10)

1. …

2. − Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.

3. Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.

4. Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.

5-7. Nếu tai không có vị ngọt…

8-10. Nếu mũi không có vị ngọt…

11-13. Nếu lưỡi không có vị ngọt…

14-16. Nếu thân không có vị ngọt…

17. Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.

18. Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.

19. Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.

20. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh ấy cùng với các thế giới (như) Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.

21. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh cùng với các thế giới (như) Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.

SN 35.18 If There Were No Gratification (Exterior) Dutiyanoceassādasutta

“Mendicants, if there were no gratification in sights, sentient beings wouldn’t be aroused by them. …”

18.VI. Nếu Không Có (2) (S.iv,12)

(Như Kinh trước, chỉ thế vào sáu ngoại xứ: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp, thay cho sáu nội xứ của Kinh trước)

SN 35.19 Taking Pleasure (Interior) Paṭhamābhinandasutta

"Mendicants, if you take pleasure in the eye, you take pleasure in suffering. If you take pleasure in suffering, I say you’re not exempt from suffering.

If you take pleasure in the ear … nose … tongue … body … mind, you take pleasure in suffering. If you take pleasure in suffering, I say you’re not exempt from suffering.

If you don’t take pleasure in the eye, you don’t take pleasure in suffering. If you don’t take pleasure in suffering, I say you’re exempt from suffering.

If you don’t take pleasure in the ear … nose … tongue … body … mind, you don’t take pleasure in suffering. If you don’t take pleasure in suffering, I say you’re exempt from suffering."

19.VII. Với Ưa Thích (1) (S.iv,13)

1. …

2. − Ai ưa thích mắt, này các Tỷ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai ưa thích tai… mũi… lưỡi… thân… Ai ưa thích ý, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

3. Và ai không ưa thích mắt, này các Tỷ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích tai… mũi… lưỡi… thân… Ai không ưa thích ý, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

SN 35.20 Taking Pleasure (Exterior) Dutiyābhinandasutta

“Mendicants, if you take pleasure in sights, you take pleasure in suffering. If you take pleasure in suffering, I say you’re not exempt from suffering. …”

20.VIII. Ưa Thích (2) (S.iv,13)

1. …

2.− Ai ưa thích các sắc, này các Tỷ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai ưa thích các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

3. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỷ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

SN 35.21 The Arising of Suffering (Interior) Paṭhamadukkhuppādasutta

"Mendicants, the arising, continuation, rebirth, and manifestation of the eye is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death. The arising, continuation, rebirth, and manifestation of the ear … nose … tongue … body … and mind is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death.

The cessation, settling, and ending of the eye is the cessation of suffering, the settling of diseases, and the ending of old age and death. The cessation, settling, and ending of the ear, nose, tongue, body, and mind is the cessation of suffering, the settling of diseases, and the ending of old age and death."

21.IX. Sanh Khổ (1) (S.iv,14)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, mắt sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

3-6. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

7. Ý sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

8. Và này các Tỷ-kheo, mắt đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

9-13… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

SN 35.22 The Arising of Suffering (Exterior) Dutiyadukkhuppādasutta

"Mendicants, the arising, continuation, rebirth, and manifestation of sights is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death. The arising, continuation, rebirth, and manifestation of sounds, smells, tastes, touches, and ideas is the arising of suffering, the continuation of diseases, and the manifestation of old age and death.

The cessation, settling, and ending of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas is the cessation of suffering, the settling of diseases, and the ending of old age and death."

22.X. Sự SanhKhởi (2) (S.iv,14)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, các sắc sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

3-4. Các tiếng… Các hương…

5-6. Các vị… Các xúc…

7. Các pháp sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

8. Và này các Tỷ-kheo, các sắc đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết tận diệt.

9-12. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

13. Các pháp đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

The Chapter on the All

SN 35.23 All Sabbasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you the all. Listen …

And what is the all? It’s just the eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. This is called the all.

Mendicants, suppose someone was to say: ‘I’ll reject this all and describe another all.’ They’d have no grounds for that, they’d be stumped by questions, and, in addition, they’d get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element."

III. Phẩm Tất Cả

23.I. Tất Cả (S.iv,15)

1. Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng ; mũi và các hương; lưỡi và các vị ; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.

4. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác ", thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!

SN 35.24 Giving Up Pahānasutta

"Mendicants, I will teach you the principle for giving up the all. Listen …

And what is the principle for giving up the all? The eye should be given up. Sights should be given up. Eye consciousness should be given up. Eye contact should be given up. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact should also be given up.

The ear … nose … tongue … body … mind should be given up. Ideas should be given up. Mind consciousness should be given up. Mind contact should be given up. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact should be given up.

This is the principle for giving up the all."

24.II. Ðoạn Tận (1) (S.iv,15)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến đoạn tận tất cả?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận. Các sắc cần phải đoạn tận. Nhãn thức cần phải đoạn tận. Nhãn xúc cần phải đoạn tận. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận. Tai… Mũi…

7-8. Lưỡi cần phải đoạn tận. Các vị cần phải đoạn tận. Thiệt thức cần phải đoạn tận, thiệt xúc cần phải đoạn tận. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả.

SN 35.25 Giving Up By Direct Knowledge and Complete Understanding Abhiññāpariññāpahānasutta

"Mendicants, I will teach you the principle for giving up the all by direct knowledge and complete understanding. Listen …

And what is the principle for giving up the all by direct knowledge and complete understanding? The eye should be given up by direct knowledge and complete understanding. Sights should be given up by direct knowledge and complete understanding. Eye consciousness should be given up by direct knowledge and complete understanding. Eye contact should be given up by direct knowledge and complete understanding. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact should be given up by direct knowledge and complete understanding.

The ear … nose … tongue … body … mind should be given up by direct knowledge and complete understanding. Ideas should be given up by direct knowledge and complete understanding. Mind consciousness should be given up by direct knowledge and complete understanding. Mind contact should be given up by direct knowledge and complete understanding. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact should be given up by direct knowledge and complete understanding.

This is the principle for giving up the all by direct knowledge and complete understanding."

25.III. Ðoạn Tận (2) (S.iv,16)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri (abhinnàparinnà). Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các sắc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Tai… Mũi…

7-8. Lưỡi cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các vị cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

9. Ý cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các pháp cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri.

SN 35.26 Without Completely Understanding (1st) Paṭhamaaparijānanasutta

"Mendicants, without directly knowing and completely understanding the all, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. And what is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering?

Without directly knowing and completely understanding the eye, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. Without directly knowing and completely understanding sights … eye consciousness … eye contact … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

Without directly knowing and completely understanding the ear … the nose … the tongue … the body … the mind, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. Without directly knowing and completely understanding ideas … mind consciousness … mind contact … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

This is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

By directly knowing and completely understanding the all, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering. And what is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering?

By directly knowing and completely understanding the eye … the ear … the nose … the tongue … the body … the mind, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering. By directly knowing and completely understanding ideas … mind consciousness … mind contact … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.

This is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering."

26.IV. Liễu Tri (1) (Parjànàna) (S.iv,17)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

3. Và này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?

4-6. Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt, thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc, thời không có thể đoạn tận khổ đau… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp… ý thức… ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

10. Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

11. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả, thời có thể đoạn tận khổ đau.

12. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái gì thời có thể đoạn tận khổ đau?

13-15. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ mắt, thời có thể đoạn tận khổ đau ; thắng tri, liễu tri… các sắc… nhãn thức… nhãn xúc… có thể đoạn tận khổ đau. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ cảm thọ ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau… tai… các tiếng… tỷ thức… tỷ xúc… Cảm thọ do duyên tỷ xúc…

16-17… lưỡi… các vị… thiệt thức… thiệt xúc… cảm thọ do duyên thiệt xúc… thân… các xúc… thân thức… thân xúc… cảm thọ do duyên thân xúc…

18. Thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ ý, thời có thể đoạn tận khổ đau… các pháp… ý thức… ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ cảm thọ ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

19. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.27 Without Completely Understanding (2nd) Dutiyaaparijānanasutta

"Mendicants, without directly knowing and completely understanding the all, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. And what is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering?

The eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness.

The ear … nose … tongue … body …

The mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness.

This is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

By directly knowing and completely understanding the all, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering. And what is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering?

The eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness.

The ear … nose … tongue … body …

The mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness.

This is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering."

27.V. Liễu Tri (2) (S.iv,18)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

3. Và này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?

4-6. Chính là mắt, là các sắc, là nhãn thức, là các pháp do nhãn thức nhận biết… tai… mũi…

7-8. Chính là lưỡi, là các vị, là thiệt thức,là các pháp do thiệt thức nhận biết…

9. Chính là thân, là các xúc, là thân thức, là các pháp do thân nhận biết…

10. Và chính là ý, là các pháp, là ý thức, là các pháp do ý thức nhận biết…

11. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái ấy, nên không có thể đoạn tận khổ đau.

12. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái gì thời có thể đoạn tận khổ đau?

13-15. Chính là mắt, chính là các sắc, chính là nhãn thức, chính là các pháp do nhãn thức nhận biết… chính là tai… chính là mũi…

16-17. Chính là lưỡi, chính là các vị, chính là thiệt thức, chính là các pháp do thiệt thức nhận biết…

18. Chính là ý, chính là các pháp, chính là ý thức, chính là các pháp do ý thức nhận biết.

19. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.28 Burning Ādittasutta

At one time the Buddha was staying near Gayā on Gayā Head together with a thousand mendicants. There the Buddha addressed the mendicants:

"Mendicants, all is burning. And what is the all that is burning?

The eye is burning. Sights are burning. Eye consciousness is burning. Eye contact is burning. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also burning. Burning with what? Burning with the fires of greed, hate, and delusion. Burning with rebirth, old age, and death, with sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.

The ear … nose … tongue … body …

The mind is burning. Ideas are burning. Mind consciousness is burning. Mind contact is burning. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also burning. Burning with what? Burning with the fires of greed, hate, and delusion. Burning with rebirth, old age, and death, with sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of the thousand mendicants were freed from defilements by not grasping.

28.VI. Bị Bốc Cháy (S.iv,19)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasiisa cùng với một ngàn Tỷ-kheo.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Và này các Tỷ-kheo, tất cả cái gì đều bị bốc cháy?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân,lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưa, não… Tai… Mũi…

6-7. Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy. Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não… Thân…

8. Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… đối với tai… đối với mũi… đối với lưỡi… đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa”.

10. Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

11. Và trong khi lời giải đáp này được nói lên, tâm của một ngàn Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 35.29 Oppressed Addhabhūtasutta

So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. There the Buddha addressed the mendicants:

"Mendicants, all is oppressed. And what is the all that is oppressed?

The eye is oppressed. Sights are oppressed. Eye consciousness is oppressed. Eye contact is oppressed. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also oppressed. Oppressed by what? Oppressed by the fires of greed, hate, and delusion. Oppressed by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.

The ear … nose … tongue … body … mind is oppressed. Ideas are oppressed. Mind consciousness is oppressed. Mind contact is oppressed. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also oppressed. Oppressed by what? Oppressed by greed, hate, and delusion. Oppressed by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, I say.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

29.VII. Mù Lòa (S.iv,20)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ-kheo, cái gì mù lòa?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não… Tai… Mũi…

6. Lưỡi là mù lòa. Các vị là mù lòa. Thiệt thức là mù lòa. Thiệt xúc là mù lòa. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não.

7. Thân là mù lòa…

8. Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.30 The Practice Fit for Uprooting Samugghātasāruppasutta

"Mendicants, I will teach you the practice fit for uprooting all conceiving. Listen and apply your mind well, I will speak. …

And what is the practice fit for uprooting all conceiving?

It’s when a mendicant does not conceive anything to be the eye, does not conceive it in the eye, does not conceive it as the eye, and does not conceive that ‘the eye is mine.’ They don’t conceive anything to be sights, they don’t conceive it in sights, they don’t conceive it as sights, and they don’t conceive that ‘sights are mine.’ They don’t conceive eye consciousness … eye contact … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’

They don’t conceive anything to be the ear … nose … tongue … body … mind … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’

They don’t conceive anything to be all, they don’t conceive it in all, they don’t conceive it as all, and they don’t conceive that ‘all is mine.’ Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is the practice fit for uprooting all conceiving."

30.VIII Thích Hợp (1) (Sàruppa) (S.iv,21)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: “Các sắc là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: “Nhãn thức là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: “Nhãn xúc là của ta”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy của ta”… Tai… Mũi…

7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường trên các vị, không tư lường từ các vị, không tư lường: “Các vị là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt thức, không tư lường trên thiệt thức, không tư lường từ thiệt thức, không tư lường: “Thiệt thức là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt xúc, không tư lường trên thiệt xúc, không tư lường từ thiệt xúc, không tư lường: “Thiệt xúc là của ta”. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”.

9. … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường trên các pháp, không tư lường từ các pháp, không tư lường: “Các pháp là của ta”. Vị ấy không tư lường ý thức, không tư lường trên ý thức, không tư lường từ ý thức, không tư lường: “Ý thức là của ta”. Vị ấy không tư lường ý xúc, không tư lường trên ý xúc, không tư lường từ ý xúc, không tư lường: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, từ đấy cái ấy bị đổi khác. Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh.

10. Cho đến các uẩn, giới, xứ, này các Tỷ-kheo, vị ấy không tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không tư lường như vậy nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ nên không ái luyến. Do không ái luyến nên tự mình được hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

SN 35.31 The Practice Conducive to Uprooting (1st) Paṭhamasamugghātasappāyasutta

"Mendicants, I will teach you the practice that’s conducive to uprooting all conceiving. Listen …

And what is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving? It’s when a mendicant does not conceive anything to be the eye, does not conceive it in the eye, does not conceive it as the eye, and does not conceive that ‘the eye is mine.’ They don’t conceive anything to be sights … eye consciousness … eye contact. And they don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’

For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.

They don’t conceive anything to be the ear … nose … tongue … body … mind … They don’t conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. They don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’

For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.

As far as the aggregates, elements, and sense fields extend, they don’t conceive anything to be that, they don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’ Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving."

31.IX. Thích Hợp (2) (S.iv,23)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc… không tư lường nhãn thức… không tư lường nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu…

7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường thiệt thức, không tư lường thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy laụ của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

9. … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

10. Này các Tỷ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

SN 35.32 The Practice Conducive to Uprooting (2nd) Dutiyasamugghātasappāyasutta

"Mendicants, I will teach you the practice that’s conducive to uprooting all conceiving. Listen …

And what is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving?

What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Are sights … eye consciousness … eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.” …

"Is the ear … nose … tongue …

body … mind …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … They grow disillusioned with the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is the practice that’s conducive to uprooting all conceiving."

32.X. Thích Hợp (3) (S,iv,24)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

−… Tai… Các tiếng… Nhĩ thức… Nhĩ xúc…

… Mũi… Các hương… Tỷ thức… Tỷ xúc…

7-8. … Thiệt… Các vị… Thiệt thức… Thiệt xúc…

… Thân… Các xúc… Thân thức… Thân xúc…

9. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… đối với tai… đối với mũi… đối với với lưỡi… đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

The Chapter on Liable to Be Reborn

SN 35.33–42 Ten on Liable to Be Reborn, Etc. Jātidhammāsutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, all is liable to be reborn. And what is the all that is liable to be reborn? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are liable to be reborn. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also liable to be reborn.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are liable to be reborn. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also liable to be reborn.

Seeing this a learned noble disciple grows disillusioned … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

“Mendicants, all is liable to grow old. …”

“Mendicants, all is liable to fall sick. …”

“Mendicants, all is liable to die. …”

“Mendicants, all is liable to sorrow. …”

“Mendicants, all is liable to be corrupted. …”

“Mendicants, all is liable to end. …”

“Mendicants, all is liable to vanish. …”

“Mendicants, all is liable to originate. …”

“Mendicants, all is liable to cease. …”

IV. Phẩm Sanh Pháp

33.I. Sanh (S.iv,26)

1. Sàvatthi. Tại đấy…

2. − Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả phải bị sanh?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh… Tai… Mũi…

6-7. … Lưỡi… Thân…

8. Ý phải bị sanh. Các pháp phải bị sanh. Ý thức phải bị sanh. Ý xúc phải bị sanh. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

34.II. Bị Già (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già…

35.III. Bị Bệnh (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị bệnh…

36.IV. Bị Chết (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị chết…

37.V. Bị Sầu (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị sầu…

38.VI. Bị Phiền Não ( S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị phiền não…

39.VII. Bị Ðoạn Tận (khaya) (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn tận…

40.VIII. Bị Tiêu Diệt (Vaya) (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tiêu diệt…

41.IX. Tập Khởi (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tập khởi…

42.X. Ðoạn Diệt (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt…

The Chapter on All is Impermanent

SN 35.43–51 Nine on Impermanence, Etc. Aniccādisuttanavaka

At Sāvatthī.

"Mendicants, all is impermanent. And what is the all that is impermanent? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also impermanent.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also impermanent.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned …

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

“Mendicants, all is suffering. …”

“Mendicants, all is not-self. …”

“Mendicants, all is to be directly known. …”

“Mendicants, all is to be completely understood. …”

“Mendicants, all is to be given up. …”

“Mendicants, all is to be realized. …”

“Mendicants, all is to be directly known and completely understood. …”

“Mendicants, all is troubled. …”

V. Phẩm Vô Thường

43.I. Vô Thường (S.iv,28)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Tất cả, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

44.II. Khổ… (S.iv,28)

45.III. Vô Ngã… (S.iv,28)

46.IV. Cần Phải Thắng Tri… (abhinneyyam) (S.iv,29)

47.V. Cần Phải Liễu Tri… (parinneyyam) (S.iv,29)

48.VI. Cần Phải Ðoạn Tận… (S.iv,29)

49. VII. Cần Phải Chứng Ngộ… (sacchikàtabbam)(S.iv,29)

50.VIII. Cần Phải Thắng Tri, Liễu Tri… (abhinnà parinneyyam) (S.iv,29)

51.IX. Bị Phiền Lụy… (upadduta) (S.iv,29)

SN 35.52 Disturbed Upassaṭṭhasutta

"Mendicants, all is disturbed. And what is the all that is disturbed? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are disturbed. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also disturbed.

The ear … nose … tongue … body …

The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are disturbed. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also disturbed.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned …

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

the second fifty

52.X. Bị Áp Ðảo… (upassattha) (S.iv,29)

1. …

2. − Tất cả, này các Tỷ-kheo, bị áp đảo. Và này các Tỷ-kheo, cái gì bị áp đảo?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, bị áp đảo. Các sắc bị áp đảo. Nhãn thức bị áp đảo. Nhãn xúc bị áp đảo. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị áp đảo… Tai… Mũi…

5-6. Lưỡi… Thân…

7. Ý bị áp đảo. Các pháp bị áp đảo. Ý thức bị áp đảo. Ý xúc bị áp đảo. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị áp đảo.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai

The Chapter on Ignorance

SN 35.53 Giving Up Ignorance Avijjāpahānasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, how does one know and see so as to give up ignorance and give rise to knowledge?”

"Mendicant, knowing and seeing the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises. And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises.

Knowing and seeing the ear … nose … tongue … body …

Knowing and seeing the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises. And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises.

That’s how to know and see so as to give up ignorance and give rise to knowledge."

I. Phẩm Vô Minh

Nhân duyên ở Sàtthi.

53.I. Vô Minh (S.iv,30)

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

4. − Này Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi. Do biết, do thấy các sắc là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Do biết, do thấy ý là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.54 Giving Up Fetters Saṁyojanappahānasutta

“Sir, how does one know and see so that the fetters are given up?”

“Mendicant, knowing and seeing the eye as impermanent, the fetters are given up …”

54.II Kiết Sử (1) (S.iv,31)

1. …

3.− Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được đoạn tận?

4-9. − Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, các kiết sử được đoạn tận… Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, các kiết sử được đoạn tận.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được đoạn tận.

SN 35.55 Uprooting the Fetters Saṁyojanasamugghātasutta

“Sir, how does one know and see so that the fetters are uprooted?”

“Mendicant, knowing and seeing the eye as not-self, the fetters are uprooted …”

55.III. Kiết Sử (2) (S.iv,31)

1-2. …

3. − Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được nhổ sạch?

4-6. − Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch… Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được nhổ sạch.

SN 35.56 Giving Up Defilements Āsavapahānasutta

“Sir, how does one know and see so that the defilements are given up?” …

SN 35.57 Uprooting Defilements Āsavasamugghātasutta

“Sir, how does one know and see so that the defilements are uprooted?” …

56-57.IV-V. Các Lậu Hoặc (1-2. (S.iv,32)

(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các lậu hoặc).

SN 35.58 Giving Up Tendencies Anusayapahānasutta

“Sir, how does one know and see so that the underlying tendencies are given up?” …

SN 35.59 Uprooting Tendencies Anusayasamugghātasutta

“Sir, how does one know and see so that the underlying tendencies are uprooted?” …

58-59.VI-VII. Các Tùy Miên (1-2. (S.iv,32)

(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các tùy miên).

SN 35.60 The Complete Understanding of All Grasping Sabbupādānapariññāsutta

"Mendicants, I will teach you the principle for the complete understanding of all grasping. Listen …

And what is the principle for the complete understanding of all grasping?

Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and feeling. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they are released, they understand: ‘I have completely understood grasping.’

Ear consciousness arises dependent on the ear and sounds. …

Nose consciousness arises dependent on the nose and smells. …

Tongue consciousness arises dependent on the tongue and tastes. …

Body consciousness arises dependent on the body and touches. …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the mind, ideas, mind consciousness, mind contact, and feeling. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they are released, they understand: ‘I have completely understood grasping.’

This is the principle for the complete understanding of all grasping."

60.VIII. Liễu Tri (Parijnnà) (S.iv,32)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ?

4. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã liễu tri chấp thủ”.

5-8. Do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức… Do duyên mũi và các hương… Do duyên lưỡi và các vị… Do duyên thân và các xúc…

9. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã liễu tri chấp thủ”.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ.

SN 35.61 The Depletion of All Fuel (1st) Paṭhamasabbupādānapariyādānasutta

"Mendicants, I will teach you the principle for depleting all fuel. Listen …

And what is the principle for depleting all fuel?

Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and feeling. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they are released, they understand: ‘I have completely depleted grasping.’

Ear … nose … tongue … body …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the mind, ideas, mind consciousness, mind contact, and feeling. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they are released, they understand: ‘I have completely depleted grasping.’

This is the principle for depleting all fuel."

61.IX. Ðược Chấm Dứt (1) (Pariyàdinnam) (S.iv,33)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ?

4. Do duyên con mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã chấm dứt chấp thủ”.

5-8. … tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã chấm dứt chấp thủ”.

SN 35.62 The Depletion of All Fuel (2nd) Dutiyasabbupādānapariyādānasutta

"Mendicants, I will teach you the principle for depleting all fuel. Listen …

And what is the principle for depleting all fuel?

What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Sights … eye consciousness … eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“Ear … nose … tongue … body … mind … ideas … mind consciousness … mind contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body …

They grow disillusioned with the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is the principle for depleting all fuel."

62.X. Ðược Chấm Dứt (2) (S.iv,34)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ?

4. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường…

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

10. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy…

Ðối với tai… Ðối với mũi… Ðối với lưỡi… Ðối với thân…

Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Ðây, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ.

The Chapter with Migajāla

SN 35.63 With Migajāla (1st) Paṭhamamigajālasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Migajāla went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, they speak of one who lives alone. How is one who lives alone defined? And how is living with a partner defined?”

"Migajāla, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. When there’s relishing there’s lust. When there’s lust there is yoking. A mendicant who is fettered by relishing is said to live with a partner.

There are sounds … smells … tastes … touches …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. When there’s relishing there’s lust. When there’s lust there is yoking. A mendicant who is fettered by relishing is said to live with a partner.

A mendicant who lives like this is said to live with a partner, even if they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat. Why is that? For craving is their partner, and they haven’t given it up. That’s why they’re said to live with a partner.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When there’s no relishing there’s no lust. When there’s no lust there’s no yoking. A mendicant who is not fettered by relishing is said to live alone.

There are sounds … smells … tastes … touches …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When there’s no relishing there’s no lust. When there’s no lust there’s no yoking.

A mendicant who is not fettered by relishing is said to live alone. A mendicant who lives like this is said to live alone, even if they live within a village crowded by monks, nuns, laymen, and laywomen; by rulers and their chief ministers, and monastics of other religions and their disciples. Why is that? For craving is their partner, and they have given it up. That’s why they’re said to live alone."

II. Phẩm Migajàla

63.I. Bởi Migajàla (S.iv,35)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:

− “Sống một mình! Sống một mình!”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?

4. − Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

5-8. … có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

9. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

10. Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.

11. Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.

12-14. Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

15-16. …Này Migajàla, có những vị do lưỡi nhận thức…

17. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

18. Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.

19. Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình.

SN 35.64 With Migajāla (2nd) Dutiyamigajālasutta

Then Venerable Migajāla went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

"Migajāla, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keep clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say."

And then Venerable Migajāla approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Then Migajāla, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.

He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Migajāla became one of the perfected.

64.II. Migajàla (S.iv,37)

1. …

2. Rồi Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp ấy con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-6. − Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến sắc ấy nên hỷ sanh. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi… Các tiếng… Các hương…

7-8… Các vị… Các xúc…

9. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương sống với tâm tham luyến pháp ấy nên hỷ sanh. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi.

10-12. Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến sắc ấy ; do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến, không an trú tham luyến sắc ấy nên hỷ diệt. Này Migajàla, Ta nói rằng do hoan hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt… Các tiếng… Các hương…

13-14… Các vị… Các xúc…

15. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến pháp ấy; do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ diệt. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt.

16. Rồi Tôn giả Migajàla, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

17. Rồi Tôn giả Migajàla sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là mục đích cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

18. Và Tôn giả Migajàla trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.65 Samiddhi’s Question About Māra Paṭhamasamiddhimārapañhāsutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then Venerable Samiddhi went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘Māra’. How do we define Māra or what is known as Māra?”

"Samiddhi, where there is the eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is the ear, sounds, ear consciousness, and things knowable by ear consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is the nose, smells, nose consciousness, and things knowable by nose consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is the tongue, tastes, tongue consciousness, and things knowable by tongue consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is the body, touches, body consciousness, and things knowable by body consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is the mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness, there is Māra or what is known as Māra.

Where there is no eye, no sights, no eye consciousness, and no things knowable by eye consciousness, there is no Māra or what is known as Māra.

Where there is no ear … no nose … no tongue … no body …

Where there is no mind, no ideas, no mind consciousness, and no things knowable by mind consciousness, there is no Māra or what is known as Māra."

65.III. Samiddhi (I) (S.iv,38)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2-3. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn… và bạch Thế Tôn:

− “Màra, Màra”, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Màra, hay là danh nghĩa Màra (Màrapannatti)?

4. − Này Samiddhi, chỗ nào có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có Màra, hay có danh nghĩa Màra.

5-6… có tai… có mũi…

7-8… có lưỡi… có thân…

9. Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, chỗ ấy có Màra, hay có danh nghĩa Màra.

10-12. Và này Samiddhi, chỗ nào không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có Màra, hay không có danh nghĩa Màra… tai… mũi…

13-14. Chỗ nào không có lưỡi… không có thân…

15. Chỗ nào không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy không có Màra, hay không có danh nghĩa Màra.

SN 35.66 Samiddhi’s Question About a Sentient Being Samiddhisattapañhāsutta

“Sir, they speak of this thing called a ‘sentient being’. How do we define or describe a sentient being?” …

66.IV. Samiddhi (2) (S.iv,39)

1-2. …

3-15.− “Hữu tình, hữu tình (Satta)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là hữu tình, hay danh nghĩa hữu tình?.. (như trên)…

SN 35.67 Samiddhi’s Question About Suffering Samiddhidukkhapañhāsutta

“Sir, they speak of this thing called ‘suffering’. How do we define suffering or what is known as suffering?” …

67.V. Samiddhi (3) (S.iv,39)

1-2. …

3-15. − “Khổ, khổ”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là khổ, hay là danh nghĩa của khổ?.. (như trên)…

SN 35.68 Samiddhi’s Question About the World Samiddhilokapañhāsutta

“Sir, they speak of this thing called ‘the world’. How do we define the world or what is known as the world?”

"Samiddhi, where there is the eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness, there is the world or what is known as the world. Where there is the ear … nose … tongue … body … Where there is the mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness, there is the world or what is known as the world.

Where there is no eye, no sights, no eye consciousness, and no things knowable by eye consciousness, there is no world or what is known as the world. Where there is no ear … nose … tongue … body … Where there is no mind, no ideas, no mind consciousness, and no things knowable by mind consciousness, there is no world or what is known as the world."

68.VI. Samiddhi (4) (S.iv,39)

1-2. …

3.… “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thế giới, hay là danh nghĩa thế giới?

4-9. − Chỗ nào, này Samiddhi, có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới, hay danh nghĩa thế giới… (như trên)… Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới hay có danh nghĩa thế giới.

10-15. Và tại chỗ nào, này Samiddhi, không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có thế giới, hay không có danh nghĩa thế giới… không có ý… tại chỗ ấy, không có thế giới hay không có danh nghĩa thế giới.

SN 35.69 Upasena and the Viper Upasenaāsīvisasutta

At one time the venerables Sāriputta and Upasena were staying near Rājagaha in the Cool Grove, under the Snake’s Hood Grotto. Now at that time a viper fell on Upasena’s body, and he addressed the mendicants, “Come, reverends, lift this body onto a cot and carry it outside before it’s scattered right here like a handful of hay.”

When he said this, Sāriputta said to him, “But we don’t see any impairment in your body or deterioration of your faculties. Yet you say: ‘Come, reverends, lift this body onto a cot and carry it outside before it’s scattered right here like a handful of hay.’”

"Reverend Sāriputta, there may be an impairment in body or deterioration of faculties for someone who thinks: ‘I am the eye’ or ‘the eye is mine.’ Or ‘I am the ear … nose … tongue … body …’ Or ‘I am the mind’ or ‘the mind is mine.’

But I don’t think like that. So why would there be an impairment in my body or deterioration of my faculties?"

"That must be because Venerable Upasena has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit.

That’s why it doesn’t occur to you: ‘I am the eye’ or ‘the eye is mine.’ Or ‘I am the ear … nose … tongue … body …’ Or ‘I am the mind’ or ‘the mind is mine.’"

Then those mendicants lifted Upasena’s body onto a cot and carried it outside. And his body was scattered right there like a handful of hay.

69.VIl. Upasena (S.iv,40)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

2. Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.

3. Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỷ-kheo:

− Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

4. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

− Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

5. Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

− Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm…

6. Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi”… “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời đối với các người ấy, này Hiền giả

Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi”… hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

7. Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… hay: “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Lưỡi là của tôi”… hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”.

8. Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

9. Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.

SN 35.70 Upavāna on What is Apparent in the Present Life Upavāṇasandiṭṭhikasutta

Then Venerable Upavāna went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, they speak of ‘a teaching apparent in the present life’. In what way is the teaching apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”

"Upavāna, take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience both the sight and the desire for the sight. There is desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.

Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches …

Next, take a mendicant who knows an idea with their mind. They experience both the idea and the desire for the idea. There is desire for ideas in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.

Take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience the sight but no desire for the sight. There is no desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.

Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches …

Next, take a mendicant who knows an idea with their mind. They experience the idea but no desire for the idea. There is no desire for ideas in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves."

70.VIII. Upavàna (1) (S.iv,41)

1. …

2. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:

− “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?

4. − Ở đây, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

5-6. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương…

7-8. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

9. Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vò ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

10. Ở đấy, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

11-14. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

15. Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu.

SN 35.71 Six Fields of Contact (1st) Paṭhamachaphassāyatanasutta

“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”

When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m lost. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape.”

“What do you think, mendicant? Do you regard the eye like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Good, mendicant! And regarding the eye, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Just this is the end of suffering.

Do you regard the ear … nose … tongue … body …

Do you regard the mind like this: ‘This is mine, I am this, this is my self’?"

“No, sir.”

“Good, mendicant! And regarding the mind, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Just this is the end of suffering.”

71.IX. Sáu Xúc Xứ (1) (S.iv,43)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ đoạn tận.

SN 35.72 Six Fields of Contact (2nd) Dutiyachaphassāyatanasutta

“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”

When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m lost, truly lost. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape.”

“What do you think, mendicant? Do you regard the eye like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”

“Yes, sir.”

"Good, mendicant! And regarding the eye, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ In this way you will give up the first field of contact, so that there are no more future lives.

Do you regard the ear … nose … tongue … body …

Do you regard the mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?"

“Yes, sir.”

“Good, mendicant! And regarding the mind, you will truly see clearly with right wisdom that: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ In this way you will give up the sixth field of contact, so that there are no more future lives.”

72.X. Sáu Xúc Xứ (2) (S.iv,44)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là khéo thấy; như vậy xúc xứ thứ nhứt này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai… tai… mũi…

7-8… lưỡi… thân…

9. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Như vậy xúc xứ thứ sáu này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai.

SN 35.73 Six Fields of Contact (3rd) Tatiyachaphassāyatanasutta

“Mendicants, anyone who doesn’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape has not completed the spiritual journey and is far from this teaching and training.”

When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Here, sir, I’m lost, truly lost. For I don’t truly understand the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape.”

“What do you think, mendicant? Is the eye permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

73.XI. Sáu Xúc Xứ (3) (S.iv,44)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5-8. − Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

The Chapter on Sick

SN 35.74 Sick (1st) Paṭhamagilānasutta

At Sāvatthī.

Then a mendicant went up to the Buddha, and said to him, “Sir, in such and such a monastery there’s a mendicant who is junior and not well-known. He’s sick, suffering, gravely ill. Please go to him out of sympathy.”

When the Buddha heard that the mendicant was junior and ill, understanding that he was not well-known, he went to him. That mendicant saw the Buddha coming off in the distance and tried to rise on his cot.

The Buddha said to that monk, “It’s all right, mendicant, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”

He sat on the seat spread out and said to the mendicant, “I hope you’re keeping well, mendicant; I hope you’re all right. I hope that your pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”

“I hope you don’t have any remorse or regret?”

“Indeed, sir, I have no little remorse and regret.”

“I hope you have no reason to blame yourself when it comes to ethical conduct?”

“No sir, I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct.”

“In that case, mendicant, why do you have remorse and regret?”

“Because I understand that the Buddha has not taught the Dhamma merely for the sake of ethical purity.”

“If that is so, what exactly do you understand to be the purpose of teaching the Dhamma?”

“I understand that the Buddha has taught the Dhamma for the purpose of the fading away of greed.”

“Good, good, mendicant! It’s good that you understand that I’ve taught the Dhamma for the purpose of the fading away of greed. For that is indeed the purpose. What do you think, mendicant? Is the eye permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended … there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, that mendicant approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in that mendicant:

“Everything that has a beginning has an end.”

III. Phẩm Bệnh

74.I. Bệnh (1) (S.iv,46)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng từ mẫn.

4. Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng “Mới”, nghe tiếng “Bệnh”, khi biết được: “Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến” liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

5. Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền gượng dậy trên giường.

6. Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:

− Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.

Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.

7. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

8. − Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.

− Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.

9. − Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.

− Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích thanh tịnh trì giới.

11. − Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và đoạn tham.

12. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.

13. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

− Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

14. − Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

15. Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt”.

SN 35.75 Sick (2nd) Dutiyagilānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, in such and such a monastery there’s a mendicant who is junior and not well-known. He’s sick, suffering, gravely ill. Please go to him out of sympathy.”

When the Buddha heard that the mendicant was junior and ill, understanding that he was not well-known, he went to him. That mendicant saw the Buddha coming off in the distance and tried to rise on his cot.

Then the Buddha said to that monk, “It’s all right, mendicant, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”

He sat on the seat spread out and said to the mendicant, “I hope you’re keeping well, mendicant; I hope you’re all right. I hope that your pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

"Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. …

I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct."

“In that case, mendicant, why do you have remorse and regret?”

“Because I understand that the Buddha has not taught the Dhamma merely for the sake of ethical purity.”

“If that is so, what exactly do you understand to be the purpose of teaching the Dhamma?”

“I understand that the Buddha has taught the Dhamma for the purpose of complete extinguishment by not grasping.”

"Good, good, mendicant! It’s good that you understand that I’ve taught the Dhamma for the purpose of complete extinguishment by not grasping. For that is indeed the purpose.

What do you think, mendicant? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.” …

“Is the ear … nose … tongue … body … mind … mind consciousness … mind contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye … ear … nose … tongue … body … mind … mind consciousness … mind contact … They grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, that mendicant approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the mind of that mendicant was freed from defilements by not grasping.

75.II. Bệnh (2) (S.iv,47)

1-10. (Hoàn toàn giống như kinh trước).

11. − Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp Thế Tôn dạy là với mục đích tịch tịnh hoàn toàn, không chấp thủ.

12. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là với mục đích tịch tịnh hoàn toàn, không có chấp thủ.

13-14. (Như kinh trước)

15. Thế Tôn thuyết như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, tâmTỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 35.76 With Rādha on Impermanence Rādhaaniccasutta

The Venerable Rādha went up to the Buddha … and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

"Rādha, you should give up desire for what is impermanent. And what is impermanent? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also impermanent. You should give up desire for it.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. And the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also impermanent. You should give up desire for it.

You should give up desire for what is impermanent."

76.III. Ràdha (1) (S.iv,48)

1. …

2. Rồi Tôn giả Ràdha…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì vô thường, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-7. Và này Ràdha, cái gì là vô thường? Mắt, này Ràdha, là vô thường, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các sắc là vô thường… Nhãn thức là vô thường… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục… Tai… Mũi…

8-9. … Lưỡi… Thân…

10. Ý là vô thường, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các pháp… Ý thức… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là vô thường, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.77 With Rādha on Suffering Rādhadukkhasutta

“Rādha, you should give up desire for what is suffering. …”

77.IV. Ràdha (2) (S.iv,49)

1-2-3. …

4. − Phàm cái gì là khổ, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-10. Và này Ràdha, cái gì là khổ? Mắt, này Ràdha, là khổ; ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các pháp… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là khổ, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.78 With Rādha on Not-Self Rādhaanattasutta

“Rādha, you should give up desire for what is not-self. …”

78.V. Ràdha (2) (S.iv,49)

1-2-3. …

4. − Phàm cái gì là vô ngã, này Ràdha, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-9. Và này Ràdha, cái gì là vô ngã? Mắt, này Ràdha, là vô ngã; ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc…

10. Ý là vô ngã… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô ngã. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là vô ngã, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.79 Giving Up Ignorance (1st) Paṭhamaavijjāpahānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, is there one thing such that by giving it up a mendicant gives up ignorance and gives rise to knowledge?”

“There is, mendicant.”

“But what is that one thing?”

“Ignorance is one thing such that by giving it up a mendicant gives up ignorance and gives rise to knowledge.”

“But how does a mendicant know and see so as to give up ignorance and give rise to knowledge?”

"When a mendicant knows and sees the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises. And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises. …

Knowing and seeing the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises. And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as impermanent, ignorance is given up and knowledge arises.

That’s how a mendicant knows and sees so as to give up ignorance and give rise to knowledge."

79.VI. Vô Minh (I) (S.iv,49)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Có một pháp gì, bạch Thế Tôn, (nếu) Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, thời vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?

− Có một pháp, này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.

4. − Một pháp ấy là gì, bạch Thế Tôn, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?

− Vô minh, này Tỷ-kheo, là một pháp, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.

5. − Tỷ-kheo biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

6. − Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết mắt, thấy mắt là vô thường nên vô minh đoạn tận, minh sanh khởi… tai… mũi…

7-11. … lưỡi… thân… ý…

12. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.80 Giving Up Ignorance (2nd) Dutiyaavijjāpahānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, is there one thing such that by giving it up a mendicant gives up ignorance and gives rise to knowledge?”

“There is, mendicant.”

“But what is that one thing?”

“Ignorance is one thing such that by giving it up a mendicant gives up ignorance and gives rise to knowledge.”

“But how does a mendicant know and see so as to give up ignorance and give rise to knowledge?”

"Take a mendicant who has heard: ‘Nothing is worth insisting on.’ When a mendicant has heard that nothing is worth insisting on, they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Completely understanding all things, they see all signs as other. They see the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as other. And they also see the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact as other. …

They see the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact as other. And they also see the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as other. That’s how a mendicant knows and sees so as to give up ignorance and give rise to knowledge."

80.VII.Vô Minh (2) (S.iv,50)

1-5. (Như kinh trước)

6. − Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi… Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi… các sắc… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi.

7. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.81 Several Mendicants Sambahulabhikkhusutta

Then several mendicants went up to the Buddha … and asked him, "Sir, sometimes wanderers of other religions ask us: ‘Reverends, what’s the purpose of leading the spiritual life under the ascetic Gotama?’ We answer them like this: ‘The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand suffering.’

Answering this way, we trust that we repeat what the Buddha has said, and don’t misrepresent him with an untruth. We trust our explanation is in line with the teaching, and that there are no legitimate grounds for rebuttal or criticism."

"Indeed, in answering this way you repeat what I’ve said, and don’t misrepresent me with an untruth. Your explanation is in line with the teaching, and there are no legitimate grounds for rebuttal or criticism. For the purpose of leading the spiritual life under me is to completely understand suffering.

If wanderers of other religions were to ask you: ‘Reverends, what is that suffering?’ You should answer them: 'Reverends, the eye is suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this. Sights … Eye consciousness … Eye contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this.

Ear … Nose … Tongue … Body … Mind … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this.

This is that suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this.’ When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them."

81.VIII. Tỷ Kheo (S.iv,50)

1. …

2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: “Do mục đích gì, này các Hiền giả, các người sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy: “Vì mục đích liễu tri đau khổ, này chư Hiền, chúng tôi sống Phạm hạnh dưới Samôn Gotama”. Ðược hỏi vậy và được trả lời vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con đã nói lên quan điểm của Thế Tôn? Và có phải chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực? Có phải chúng con trả lời thuận pháp và đúng pháp? Và ai là người đồng pháp nói đúng pháp không tìm được lý do để chỉ trích?

4. − Thật vậy, này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy và được trả lời vậy, các Ông đã nói lên quan điểm của Ta. Và các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thực. Các Ông trả lời thuận pháp và đúng pháp. Và không có người đồng pháp nói đúng pháp nào tìm được lý do để chỉ trích. Với mục đích liễu tri đau khổ, này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống dưới Ta.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi các Ông như sau: “Này Hiền giả, thế nào là vì mục đích liễu tri đau khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11. “Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Các sắc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Ý là khổ, vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Ðây, này chư Hiền, là khổ ấy. Vì liễu tri khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn”.

12. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

SN 35.82 A Question On the World Lokapañhāsutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘the world’. How is the world defined?”

"It wears away, mendicant, that’s why it’s called ‘the world’. And what is wearing away? The eye is wearing away. Sights … eye consciousness … eye contact is wearing away. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also wearing away.

The ear … nose … tongue … body … The mind … ideas … mind consciousness … mind contact is wearing away. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also wearing away.

It wears away, mendicant, that’s why it’s called ‘the world’."

82.IX. Thế Giới (S.iv,52)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Phagguna bạch Thế Tôn:

4-6. − Có con mắt nào, bạch Thế Tôn, do con mắt ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung khát ái, đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau?.. tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

SN 35.83 Phagguna’s Question Phaggunapañhāsutta

And then Venerable Phagguna went up to the Buddha … and said to him:

"Sir, suppose someone were to describe the Buddhas of the past who have become fully quenched, cut off proliferation, cut off the track, finished off the cycle, and transcended all suffering. Does the eye exist by which they could be described?

Does the ear … nose … tongue … body exist …? Does the mind exist by which they could be described?"

"Phagguna, suppose someone were to describe the Buddhas of the past who have become fully quenched, cut off proliferation, cut off the track, finished off the cycle, and transcended all suffering. The eye does not exist by which they could be described.

The ear … nose … tongue … body does not exist … The mind does not exist by which they could be described."

9. Có ý nào, bạch Thế Tôn, do ý ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau?

10-12. − Không có con mắt nào, này Phagguna, do con mắt ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt mọi khổ đau… tai… mũi…

13-14. … Không có lưỡi… Không có thân…

15. Không có ý nào, này Phagguna, do ý ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niếtbàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau.

The Chapter with Channa

SN 35.84 Liable to Wear Out Palokadhammasutta

At Sāvatthī.

Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘the world’. How is the world defined?”

"Ānanda, that which is liable to wear out is called the world in the training of the Noble One. And what is liable to wear out? The eye is liable to wear out. Sights … eye consciousness … eye contact is liable to wear out. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also liable to wear out.

The ear … nose … tongue … body … The mind … ideas … mind consciousness … mind contact is liable to wear out. The painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also liable to wear out.

That which is liable to wear out is called the world in the training of the Noble One."

IV. Phẩm Channa

84. I. Biến Hoại (Paloka) (S.iv,53)

1. …

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là thế giới?

4. − Cái gì chịu sự biến hoại (palokadhamma), này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. Và này Ananda, cái gì chịu sự biến hoại?

5-7. Mắt, này Ananda, chịu sự biến hoại. Các sắc chịu sự biến hoại. Nhãn thức chịu sự biến hoại. Nhãn xúc chịu sự biến hoại. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại… Tai… Mũi…

8-9… Lưỡi… Thân…

10. Ý chịu sự biến hoại. Các pháp chịu sự biến hoại. Ý thức chịu sự biến hoại. Ý xúc chịu sự biến hoại. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại.

11. Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, cái ấy gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.

SN 35.85 The World is Empty Suññatalokasutta

And then Venerable Ānanda … said to the Buddha:

“Sir, they say that ‘the world is empty’. What does the saying ‘the world is empty’ refer to?”

"Ānanda, they say that ‘the world is empty’ because it’s empty of self or what belongs to self. And what is empty of self or what belongs to self? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are empty of self or what belongs to self. …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also empty of self or what belongs to self. They say that ‘the world is empty’ because it’s empty of self or what belongs to self."

85. II. Trống Không (S.iv,54)

1. …

2-3. Rồi Tôn giả Ananda… bạch Thế Tôn:

− “Trống không là thế giới, trống không là thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?

4. − Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã?

5-6. Mắt, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã.

11. Và vì rằng, này Ananda, không có tự ngã, hay không thuộc tự ngã nên được gọi trống không là thế giới này.

SN 35.86 A Teaching In Brief Saṁkhittadhammasutta

Seated to one side, Venerable Ānanda said to the Buddha:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“What do you think, Ānanda? Is the eye permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Are sights … eye consciousness … eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.” …

"Is the ear … nose … tongue … body … mind …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

86. III. Vắn Tắt (S.iv,54)

1-2. …

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− … Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn… Tai… Mũi…

7-9. … Lưỡi… Thân… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Ananda, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.87 With Channa Channasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Now at that time the venerables Sāriputta, Mahācunda, and Channa were staying on the Vulture’s Peak Mountain. Now at that time Venerable Channa was sick, suffering, gravely ill.

Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Mahācunda and said to him, “Come, Reverend Cunda, let’s go to see Venerable Channa and ask about his illness.”

“Yes, reverend,” replied Mahācunda.

And then Sāriputta and Mahācunda went to see Channa and sat down on the seats spread out. Sāriputta said to Channa: “I hope you’re keeping well, Reverend Channa; I hope you’re all right. I hope that your pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”

"Reverend Sāriputta, I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading. The winds piercing my head are so severe, it feels like a strong man drilling into my head with a sharp point. The pain in my head is so severe, it feels like a strong man tightening a tough leather strap around my head. The winds slicing my belly are so severe, like a deft butcher or their apprentice were slicing open a cows’s belly with a sharp meat cleaver. The burning in my body is so severe, it feels like two strong men grabbing a weaker man by the arms to burn and scorch him on a pit of glowing coals. I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.

Reverend Sāriputta, I will take my life. I don’t wish to live."

"Please don’t take your life! Venerable Channa, keep going! We want you to keep going.

If you don’t have any suitable food, we’ll find it for you. If you don’t have suitable medicine, we’ll find it for you. If you don’t have a capable carer, we’ll find one for you.

Please don’t take your life! Venerable Channa, keep going! We want you to keep going."

"Reverend Sāriputta, it’s not that I don’t have suitable food; I do have suitable food. It’s not that I don’t have suitable medicine; I do have suitable medicine. It’s not that I don’t have a capable carer; I do have a capable carer.

Moreover, for a long time now I have served the Teacher with love, not without love. For it is proper for a disciple to serve the Teacher with love, not without love. You should remember this: ‘The mendicant Channa will take his life blamelessly.’"

“I’d like to ask Venerable Channa about a certain point, if you’d take the time to answer.”

“Ask, Reverend Sāriputta. When I’ve heard it I’ll know.”

"Reverend Channa, do you regard the eye, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness in this way: ‘This is mine, I am this, this is my self’?

Do you regard the ear … nose … tongue … body … mind, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness in this way: ‘This is mine, I am this, this is my self’?"

"Reverend Sāriputta, I regard the eye, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’

I regard the ear … nose … tongue … body … mind, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’."

“Reverend Channa, what have you seen, what have you directly known in these things that you regard them in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”

“Reverend Sāriputta, after seeing cessation, after directly knowing cessation in these things I regard them in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’.”

When he said this, Venerable Mahācunda said to Venerable Channa, "So, Reverend Channa, you should regularly apply your mind well to this instruction of the Buddha:

‘For the dependent there is agitation. For the independent there’s no agitation. When there’s no agitation there is tranquility. When there’s tranquility there’s no inclination. When there’s no inclination, there’s no coming and going. When there’s no coming and going, there’s no passing away and reappearing. When there’s no passing away and reappearing, there’s no this world or world beyond or between the two. Just this is the end of suffering.’"

And when the venerables Sāriputta and Mahācunda had given Venerable Channa this advice they got up from their seat and left. Not long after those venerables had left, Venerable Channa took his life.

Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, Venerable Channa has taken his life. Where has he been reborn in his next life?”

“Sāriputta, didn’t the mendicant Channa declare his blamelessness to you personally?”

“Sir, there is a Vajjian village named Pubbajira. There Channa had families who were friendly, intimate, and hospitable.”

"The mendicant Channa did indeed have such families, Sāriputta. But this is not enough for me to call someone ‘blameworthy’. When someone lays down this body and takes up another body, I call them ‘blameworthy’. But the mendicant Channa did no such thing.

You should remember this: ‘The mendicant Channa take his life blamelessly.’"

87. IV. Channa (S.iv,55)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàiputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

4. Rồi Tôn giả Sàputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:

− Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

5. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

6-7. Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:

− Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

− Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

8. Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

9. Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

10. Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

11. Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

12. Thưa Hiền giả Sàriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.

13. − Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.

14. − Thưa Hiền giả Sàriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỷ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.

15. − Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.

− Hãy hỏi đi, Hiền giả Sàriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.

16. − Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?.. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

17. − Này Hiền giả Sàriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

18. − Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

19. − Thưa Hiền giả Sàriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Trong tai… Trong mũi… Trong lưỡi… Trong thân… Thưa Hiền giả… Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

20. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:

− Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: “Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ”.

21. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

22. Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.

23. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

24. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?

− Có phải trước mặt Ông, này Sàriputta, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?

25. − Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.

26. − Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỷ-kheo Channa thời không vậy. Tỷ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.

SN 35.88 With Puṇṇa Puṇṇasutta

And then Venerable Puṇṇa went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

"Puṇṇa, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.

There are sounds … smells … tastes … touches … There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say. …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say.

Puṇṇa, now that I’ve given you this brief advice, what country will you live in?"

“Sir, there’s a country called Sunāparanta; I will live there.”

“The people of Sunāparanta are wild and rough, Puṇṇa. If they abuse and insult you, what will you think of them?”

“If they abuse and insult me, I will think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t hit me with their fists.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“But if they do hit you with their fists, what will you think of them then?”

“If they hit me with their fists, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t throw stones at me.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“But if they do throw stones at you, what will you think of them then?”

“If they throw stones at me, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t beat me with a club.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“But if they do beat you with a club, what will you think of them then?”

“If they beat me with a club, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t stab me with a knife.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“But if they do stab you with a knife, what will you think of them then?”

“If they stab me with a knife, I’ll think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t take my life with a sharp knife.’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“But if they do take your life with a sharp knife, what will you think of them then?”

“If they take my life with a sharp knife, I’ll think: ‘There are disciples of the Buddha who looked for something to take their life because they were horrified, repelled, and disgusted with the body and with life. And I have found this without looking!’ That’s what I’ll think, Blessed One. That’s what I’ll think, Holy One.”

“Good, good Puṇṇa! Having such self-control and peacefulness, you will be quite capable of living in Sunāparanta. Now, Puṇṇa, go at your convenience.”

And then Puṇṇa welcomed and agreed with the Buddha’s words. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Sunāparanta.

Traveling stage by stage, he arrived at Sunāparanta, and stayed there. Within that rainy season he confirmed around five hundred male and five hundred female lay followers. And within that same rainy season he realized the three knowledges. And within that same rainy season he became completely extinguished.

Then several mendicants went up to the Buddha … and asked him, “Sir, the gentleman named Puṇṇa, who was advised in brief by the Buddha, has passed away. Where has he been reborn in his next life?”

“Mendicants, Puṇṇa was astute. He practiced in line with the teachings, and did not trouble me about the teachings. Puṇṇa has become completely quenched.”

88. V. Punna (S.iv,60)

1. …

2. Rồi Tôn giả Punna đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punna bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước, hỷ (nandì) sanh. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức… Này Punna, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước nên hỷ sanh. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”.

5. Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”… Này Punna, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”.

6. Này Punna, sau khi được nghe giáo giới với lời giáo giới vắn tắt này của Ta, Ông sẽ trú tại quốc độ nào?

− Bạch Thế Tôn, có một quốc độ tên là Sunàparanta, tại đấy con sẽ ở.

7. − Thô bạo, này Punna, là người xứ Sunàparanta. Ðộc ác, này Punna, là người xứ Sunàparanta. Nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, chửi bới, nhiếc mắng Ông, thời này Punna, ở đây, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, chửi bới, nhiếc mắng con, ở đây, con sẽ nghĩ: “Thật là hiền thiện, người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không lấy tay đánh đập ta”. Như vậy, ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Như vậy, ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

8. − Nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đánh đập Ông bằng tay, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ thế nào?

− Nếu người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng tay, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng cục đất”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

9. − Nhưng nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, đánh đập Ông bằng cục đất, thời ở đây, này Punna, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng cục đất, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng gậy”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

10. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đánh đập Ông với gậy, thời ở đây, này Punna, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta này, bạch Thế Tôn, sẽ đánh đập con với gậy, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng kiếm”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

11. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, lại đánh đập Ông bằng kiếm, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con với cây kiếm, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đoạn mạng ta với cây kiếm sắc bén”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

12. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đoạn mạng Ông với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ như thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, sẽ đoạn mạng con với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Có những đệ tử của Thế Tôn, khi phiền não, tủi hổ và ghê tởm bởi thân và sinh mạng đã sử dụng đến con dao. Nay dầu không tìm đến ta vẫn được sử dụng con dao”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

13. − Lành thay, lành thay, này Punna! Ðầy đủ với sự an tịnh tự điều này, Ông có thể sống tại quốc độ Sunàparanta. Này Punna, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

14. Rồi Tôn giả Punna hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, rồi bộ hành đi đến xứ Sunàparanta. Ngài tuần tự bộ hành và đến xứ Sunàparanta. Tại đây, Tôn giả Punna trú tại xứ Sunàparanta.

15. Và trong mùa mưa ấy, Tôn giả Punna độ cho khoảng 500 cư sĩ. Cũng trong mùa mưa ấy, Tôn giả chứng được ba minh. Và cũng trong mùa mưa ấy Tôn giả Punna viên tịch.

16. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

17. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thiện gia nam tử Punna, sau khi được Thế Tôn giáo giới một cách vắn tắt, đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy thế nào?

− Bậc Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Punna. Sở hành là đúng pháp và thuận pháp. Vị ấy không làm phiền não Ta với những kiện tụng về pháp. Hoàn toàn tịch diệt, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Punna.

SN 35.89 With Bāhiya Bāhiyasutta

Then Venerable Bāhiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“What do you think, Bāhiya? Is the eye permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Are sights … eye consciousness … eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

And then Venerable Bāhiya approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.

Then Bāhiya, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.

He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Bāhiya became one of the perfected.

89. VI. Bàhiya (S.iv, 63)

1. …

2. Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-8. − Ông nghĩ thế nào, này Bàhiya, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Nhãn thức… Nhãn xúc…

9.… Do duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Bàhiya, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Và Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.90 Turbulence (1st) Paṭhamaejāsutta

"Mendicants, turbulence is a disease, a boil, a dart. That’s why the Realized One lives unperturbed, with dart drawn out.

Now, a mendicant might wish: ‘May I live unperturbed, with dart drawn out.’

So let them not conceive anything to be the eye, let them not conceive it in the eye, let them not conceive it as the eye, let them not conceive that ‘the eye is mine.’ Let them not conceive sights … eye consciousness … eye contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’

Let them not conceive anything to be the ear … nose … tongue … body … mind … ideas … mind consciousness … mind contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’

Let them not conceive anything to be all, let them not conceive it in all, let them not conceive it as all, let them not conceive that ‘all is mine’.

Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

90. VII. Ái Nhiễm (Ejà) (S.iv,64)

1. …

2. − Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

4. Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.

5-6. Chớ có nghĩ đến tai… Chớ có nghĩ đến mũi…

7-8. Chớ có nghĩ đến lưỡi… Chớ có nghĩ đến thân…

9. Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.

10. Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.

11. Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.91 Turbulence (2nd) Dutiyaejāsutta

"Mendicants, turbulence is a disease, a boil, a dart. That’s why the Realized One lives unperturbed, with dart drawn out.

Now, a mendicant might wish: ‘May I live unperturbed, with dart drawn out.’

So let them not conceive anything to be the eye, let them not conceive it in the eye, let them not conceive it as the eye, let them not conceive that ‘the eye is mine.’ Let them not conceive sights … eye consciousness … eye contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’ For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.

Let them not conceive anything to be the ear … nose … tongue … body …

Let them not conceive anything to be the mind … mind consciousness … mind contact … Let them not conceive anything to be the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Let them not conceive it in that, let them not conceive it as that, and let them not conceive that ‘that is mine.’ For whatever you conceive it to be, whatever you conceive it in, whatever you conceive it as, and whatever you conceive to be ‘mine’: that becomes something else. The world is attached to being, taking pleasure only in being, yet it becomes something else.

As far as the aggregates, elements, and sense fields extend, they don’t conceive anything to be that, they don’t conceive it in that, they don’t conceive it as that, and they don’t conceive that ‘that is mine.’

Not conceiving, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

91. VIII. Ái Nhiễm (S.iv,66)

1. …

2. − Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật, ái nhiễm là mụt nhọt, ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

4-6. Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của ta”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của ta”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức… Chớ có nghĩ đến nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh (Bhavasatto), nên thế giới hoan hỷ tái sanh… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của ta”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, cho đến uẩn, giới, xứ… chớ có nghĩ đến cái ấy, chớ có nghĩ đến trong cái ấy, chớ có nghĩ đến từ cái ấy, chớ có nghĩ đến: “Cái ấy là của ta”. Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.92 A Duality (1st) Paṭhamadvayasutta

"Mendicants, I will teach you a duality. Listen …

And what is a duality? It’s just the eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. This is called a duality.

Mendicants, suppose someone was to say: ‘I’ll reject this duality and describe another duality.’ They’d have no grounds for that, they’d be stumped by questions, and, in addition, they’d get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element."

92. IX. Cả Hai (S.iv,67)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?

3. Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai.

4. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác”; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.

5. Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy.

SN 35.93 A Duality (2nd) Dutiyadvayasutta

"Mendicants, consciousness exists dependent on a duality. And what is that duality?

Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The eye is impermanent, decaying, and perishing. Sights are impermanent, decaying, and perishing. So this duality is tottering and toppling; it’s impermanent, decaying, and perishing. Eye consciousness is impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to eye consciousness are also impermanent, decaying, and perishing. But since eye consciousness has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?

The meeting, coming together, and joining together of these three things is called eye contact. Eye contact is also impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to eye contact are also impermanent, decaying, and perishing. But since eye contact has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?

Contacted one feels; contacted one intends; contacted one perceives. So these things too are tottering and toppling; they’re impermanent, decaying, and perishing.

Ear consciousness … Nose consciousness … Tongue consciousness … Body consciousness …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The mind is impermanent, decaying, and perishing. Ideas are impermanent, decaying, and perishing. So this duality is tottering and toppling; it’s impermanent, decaying, and perishing. Mind consciousness is impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to mind consciousness are also impermanent, decaying, and perishing. But since mind consciousness has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?

The meeting, coming together, and joining together of these three things is called mind contact. Mind contact is also impermanent, decaying, and perishing. And the causes and reasons that give rise to mind contact are also impermanent, decaying, and perishing. But since mind contact has arisen dependent on conditions that are impermanent, how could it be permanent?

Contacted one feels; contacted one intends; contacted one perceives. So these things too are tottering and toppling; they’re impermanent, decaying, and perishing.

This is how consciousness exists dependent on a duality."

93. X. Cả Hai (S .iv,67)

1. …

2. − Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

3. Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do cảm xúc nên có cảm thọ (?), do cảm xúc nên có tư lường, do cảm xúc nên có hay biết (?). Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

4. Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức…

5. Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức…

6. Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức…

7. Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức…

8. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do cảm xúc nên có cảm thọ, do cảm xúc, nên có tư lường, do cảm xúc, nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.

The Chapter on the Sixes

SN 35.94 Untamed, Unguarded Adantaaguttasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, these six fields of contact bring suffering when they’re untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained. What six?

The field of eye contact brings suffering when it’s untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.

The field of ear contact … nose contact … tongue contact … body contact …

The field of mind contact brings suffering when it’s untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.

These six fields of contact bring suffering when they’re untamed, unguarded, unprotected, and unrestrained.

These six fields of contact bring happiness when they’re well tamed, well guarded, well protected, and well restrained. What six?

The field of eye contact brings happiness when it’s well tamed, well guarded, well protected, and well restrained.

The field of ear contact … nose contact … tongue contact … body contact …

The field of mind contact brings happiness when it’s well tamed, well guarded, well protected, and well restrained.

These six fields of contact bring happiness when they’re well tamed, well guarded, well protected, and well restrained."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Mendicants, it’s just the six fields of contact
that lead the unrestrained to suffering.
Those who understand how to restrain them
live with faith as partner, not festering.

When you’ve seen pleasant sights
and unpleasant ones, too,
get rid of all manner of desire for the pleasant,
without hating what you don’t like.

When you’ve heard sounds both liked and disliked,
don’t fall under the thrall of sounds you like,
get rid of hate for the unliked,
and don’t hurt your mind
- by thinking of what you don’t like.

When you’ve smelled a pleasant, fragrant scent,
and one that’s foul and unpleasant,
get rid of repulsion for the unpleasant,
while not yielding to desire for the pleasant.

When you’ve enjoyed a sweet, delicious taste,
and sometimes those that are bitter,
don’t be attached to enjoying sweet tastes,
and don’t despise the bitter.

Don’t be intoxicated by a pleasant touch,
and don’t tremble at a painful touch.
Look with equanimity at the duality
- of pleasant and painful contacts,
without favoring or opposing anything.

People generally let their perceptions proliferate;
perceiving and proliferating, they are attracted.
When you’ve expelled all thoughts of domestic life,
wander intent on renunciation.

When the mind is well developed like this
- regarding the six,
it doesn’t waver at contacts at all.
Mendicants, those who have mastered greed and hate
go beyond birth and death."

V. Phẩm Từ Bỏ

94. I. Thâu Nhiếp (S.iv,70)

1. …

2. − Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

3-5. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ… Tai… Mũi…

6-7. … Lưỡi… Thân…

8. Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

9. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

10. Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

11-13. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc… Tai… Mũi…

14-15. … Lưỡi… Thân…

16. Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

17. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

18. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.

2) Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối sắc, ta không thích”.

3) Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối tiếng, ta không thích”.

4) Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.

5) Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.

6) Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.

Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.

7) Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.

8) Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.

SN 35.95 Māluṅkyaputta Mālukyaputtasutta

Then Venerable Māluṅkyaputta went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

“Well now, Māluṅkyaputta, what are we to say to the young monks, when even an old man like you, elderly and senior, advanced in years, having reached the final stage of life, asks for brief advice?”

“Sir, even though I’m an old man, elderly and senior, may the Buddha please teach me Dhamma in brief! May the Holy one please teach me in brief! Hopefully I can understand the meaning of what the Buddha says. Hopefully I can be an heir of the Buddha’s teaching!”

“What do you think, Māluṅkyaputta? Do you have any desire or greed or fondness for sights known by the eye that you haven’t seen, you’ve never seen before, you don’t see, and you don’t think would be seen?”

“No, sir.”

"Do you have any desire or greed or affection for sounds known by the ear …

smells known by the nose …

tastes known by the tongue …

touches known by the body …

ideas known by the mind that you haven’t known, you’ve never known before, you don’t know, and you don’t think would be known?"

“No, sir.”

“In that case, when it comes to things that are able to be seen, heard, thought, and known: in the seen will be merely the seen; in the heard will be merely the heard; in the thought will be merely the thought; in the known will be merely the known. When this is the case, you won’t be ‘by that’. When you’re not ‘by that’, you won’t be ‘in that’. When you’re not ‘in that’, you won’t be in this world or the world beyond or in between the two. Just this is the end of suffering.”

"This is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement:

'When you see a sight, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from sights.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

When you hear a sound, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from sounds.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

When you smell an odor, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from smells.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

When you enjoy a taste, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from tastes.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

When you sense a touch, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from touches.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

When you know an idea, mindfulness is lost
as you focus on a pleasant feature.
Experiencing it with a mind full of desire,
you keep clinging to it.

Many feelings grow
arising from ideas.
The mind is damaged
by covetousness and cruelty.
Heaping up suffering like this,
you’re said to be far from extinguishment.

There’s no desire for sights
when you see a sight with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you see a sight
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.

There’s no desire for sounds
when you hear a sound with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you hear a sound
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.

There’s no desire for odors
when you smell an odor with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you smell an odor
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.

There’s no desire for tastes
when you enjoy a taste with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you savor a taste
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.

There’s no desire for touches
when you sense a touch with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you sense a touch
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.

There’s no desire for ideas
when you know an idea with mindfulness.
Experiencing it with a mind free of desire,
you don’t keep clinging to it.

Even as you know an idea
and get familiar with how it feels,
you wear away, you don’t heap up:
that’s how to live mindfully.
Eroding suffering like this,
you’re said to be in the presence of extinguishment.’

That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement."

“Good, good, Māluṅkyaputta! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.” And he repeated the verses in full.

“This is how to understand the detailed meaning of what I said in brief.”

And then Venerable Māluṅkyaputta approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. Then Māluṅkyaputta, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.

He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Māluṅkyaputta became one of the perfected.

92. II. Thâu Nhiếp (S.iv,72)

1. …

2. Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các Tỷ-kheo trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?

5. − Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ hiểu ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.

6. − Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt nhận thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay Ông không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

7. − Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước đây Ông không nghe, nay Ông không nghe, và

Ông không muốn nghe; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái hay không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

8. − Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước đây Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không muốn ngửi; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

9. − Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ, trước đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và Ông không muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11. − Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận thức, trước đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn nhận thức;ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

12. − Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ nghe được với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận biết được đối với những vật có thể nhận biết được.

13. Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy, nên Ông không có: “Ở nơi đây”. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có: “Ở nơi đây”, do vậy, này Màlukyaputta, Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Ðây là sự chấm dứt khổ đau.

14. − Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau:

1) Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sinh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết - bàn.

2) Nghe tiếng, niệm mê say,

Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðựơc gọi xa Niết-bàn.

3) Ngửi hương, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

4) Nếm vị, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến vị an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ vị sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

5) Cảm xúc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến xúc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ xúc sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

6) Biết pháp, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến pháp an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ pháp sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,

Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn

7) Vị ấy không tham sắc,
Thấy sắc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến sắc an trú.
Theo sắc, vị ấy thấy,
Tùy sắc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn

8) Vị ấy không tham tiếng,
Nghe tiếng, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến tiếng an trú.
Theo tiếng, vị ấy nghe,
Tùy tiếng, thọ cảm giác.
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

9) Vị ấy không tham hương,
Ngửi hương, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến hương an trú.
Theo hương, vị ấy ngửi,
Tùy hương, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.

10) Vị ấy không tham vị,
Nếm vị, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến vị an trú.
Theo vị, vị ấy nếm.
Tùy vị, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.

11) Vị ấy không tham xúc,
Cảm xúc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến xúc an trú,

Theo xúc, vị ấy cảm,
Tùy xúc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

12) Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.

15. − Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi:

1) Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sanh.
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

2) - 11) …

12) Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

Lời nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

16. Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ

Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

17. Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, chứng được mục đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

18. Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.96 Liable to Decline Parihānadhammasutta

"Mendicants, I will teach you who is liable to decline, who is not liable to decline, and the six fields of mastery. Listen …

And how is someone liable to decline? When a mendicant sees a sight with the eye, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. Suppose that mendicant tolerates them and doesn’t give them up, get rid of them, eliminate them, and obliterate them. They should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’

Furthermore, when a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … feels a touch … knows an idea with the mind, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. If that mendicant tolerates them and doesn’t give them up, get rid of them, eliminate them, and obliterate them, they should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’ That’s how someone is liable to decline.

And how is someone not liable to decline? When a mendicant sees a sight with the eye, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. Suppose that mendicant doesn’t tolerate them but gives them up, gets rid of them, eliminates them, and obliterates them. They should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’

Furthermore, when a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … feels a touch … knows an idea with the mind, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. Suppose that mendicant doesn’t tolerate them but gives them up, gets rid of them, eliminates them, and obliterates them. They should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’ That’s how someone is not liable to decline.

And what are the six fields of mastery? When a mendicant sees a sight with the eye, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts prone to fetters. They should understand: ‘This sense field has been mastered. For this is what the Buddha calls a field of mastery.’ … Furthermore, when a mendicant knows an idea with the mind, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts prone to fetters. They should understand: ‘This sense field has been mastered. For this is what the Buddha calls a field of mastery.’ These are the six fields of mastery."

96. III. Thối Ðọa (Parihànam) (S.iv,76)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng (adhivàseti), không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp thối đọa,… tai nghe tiếng… mũi ngửi hương…

7-8. … lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng, không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp thối đọa.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp thối đọa.

11. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là pháp bất thối đọa.

12-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa… tai nghe tiếng… mũi ngửi hương…

15-16. … lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

17. Ở đây, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp bất thối đọa.

19. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thắng xứ?

20-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Thế Tôn gọi đây là thắng xứ… tai…mũi… lưỡi… thân…

25. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Thế Tôn gọi đây là thắng xứ.

SN 35.97 One Who Lives Negligently Pamādavihārīsutta

"Mendicants, I will teach you who lives negligently and who lives diligently. Listen …

And how does someone live negligently?

When you live with the eye faculty unrestrained, your mind becomes polluted when it comes to sights known by the eye. When the mind is polluted, there’s no joy. When there’s no joy, there’s no rapture. When there’s no rapture, there’s no tranquility. When there’s no tranquility, there’s suffering. When one is suffering, the mind does not become immersed in samādhi. When the mind is not immersed in samādhi, principles do not become clear. Because principles have not become clear, you’re considered to live negligently.

When you live with the ear … nose … tongue … body … mind faculty unrestrained, your mind becomes polluted when it comes to ideas known by the mind. When the mind is polluted, there’s no joy. When there’s no joy, there’s no rapture. When there’s no rapture, there’s no tranquility. When there’s no tranquility, there’s suffering. When one is suffering, the mind does not become immersed in samādhi. When the mind is not immersed in samādhi, principles do not become clear. Because principles have not become clear, you’re considered to live negligently.

That’s how someone lives negligently.

And how does someone live diligently?

When you live with the eye faculty restrained, your mind doesn’t become polluted when it comes to sights known by the eye. When the mind isn’t polluted, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. When the mind is immersed in samādhi, principles become clear. Because principles have become clear, you’re considered to live diligently.

When you live with the ear … nose … tongue … body … mind faculty restrained, your mind doesn’t become polluted when it comes to ideas known by the mind. When the mind isn’t polluted, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. When the mind is immersed in samādhi, principles become clear. Because principles have become clear, you’re considered to live diligently.

That’s how someone lives diligently."

96. IV. Sống Phóng Dật (Pamàdavihàri) (S.iv,78)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?

4-6. Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật… nhĩ căn… tỷ căn…

7-8. … thiệt căn… thân căn…

9. Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.

11. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?

12-14. Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật… nhĩ căn… tỷ căn…

15-16. … thiệt căn… thân căn…

17. Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.

SN 35.98 Restraint Saṁvarasutta

"Mendicants, I will teach you who is restrained and who is unrestrained. Listen …

And how is someone unrestrained?

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they should understand: ‘My skillful qualities are declining. For this is what the Buddha calls decline.’

This is how someone is unrestrained.

And how is someone restrained?

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they should understand: ‘My skillful qualities are not declining. For this is what the Buddha calls non-decline.’

This is how someone is restrained."

98. V. Nhiếp Hộ (Samvara) (S.iv,79)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về nhiếp hộ và không nhiếp hộ. Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ?

4-6. Và này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta đã làm thối thất các thiện pháp”. Thế Tôn gọi đây là pháp thối đọa… Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức…

7-8. Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

9. Có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta đã làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là thối thất.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nhiếp hộ?

12-14. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương và an trú với tâm không tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất… Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức…

15-16. Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

17. Và này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ Ðến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương và an trú với tâm không tham luyến; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có nhiếp hộ.

SN 35.99 Immersion Samādhisutta

"Mendicants, develop immersion. A mendicant who has immersion truly understands. What do they truly understand?

They truly understand that the eye is impermanent. They truly understand that sights … eye consciousness … eye contact … the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is impermanent. …

They truly understand that the mind is impermanent. They truly understand that ideas … mind consciousness … mind contact … the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is impermanent.

Mendicants, develop immersion. A mendicant who has immersion truly understands."

99. VI. Thiền Ðịnh (S.iv,80)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.

3. Và hiểu rõ như thật cái gì?

4-8.− Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường… tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.

10. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.

SN 35.100 Retreat Paṭisallānasutta

"Mendicants, meditate in retreat. A mendicant in retreat truly understands. What do they truly understand?

They truly understand that the eye is impermanent. They truly understand that sights … eye consciousness … eye contact … the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is impermanent.

Mendicants, meditate in retreat. A mendicant in retreat truly understands."

100. VII. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.iv,80)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.

3. Và hiểu rõ gì như thật?

4-9. Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường… tai… lưỡi… thân… ý…

10. Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.

SN 35.101 It’s Not Yours (1st) Paṭhamanatumhākasutta

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours?

The eye isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness. Sights … Eye consciousness … Eye contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

The ear … nose … tongue … body …

The mind isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness. Ideas … Mind consciousness … Mind contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Suppose a person was to carry off the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove, or burn them, or do what they want with them. Would you think: ‘This person is carrying us off, burning us, or doing what they want with us’?"

“No, sir. Why is that? Because to us that’s neither self nor belonging to self.”

"In the same way, the eye isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness. …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness."

101. VIII. Không Phải Của Các Ông (S.iv,81)

1. …

2. − Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông.

3. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông… Tai… Mũi…

7-8. … Lưỡi… Thân…

9. Ý không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các pháp không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: “Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.

11-16. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông… Nhãn thức không phải của các Ông… Nhãn xúc không phải của các Ông… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 35.102 It’s Not Yours (2nd) Dutiyanatumhākasutta

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours?

The eye isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness. Sights … Eye consciousness … Eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness."

102. IX. Không Phải Của Các Ông (S.iv,82)

(Như kinh trên từ 2 đến 9, không có ví dụ).

SN 35.103 About Uddaka Udakasutta

"Mendicants, Uddaka son of Rāma, used to say:

‘Herewith! Absolutely the knowledge master!
Herewith! Absolutely the conqueror of all!
Herewith! Absolutely the undug
boil’s root is dug out!’

Even though Uddaka son of Rāma was no knowledge master, he said ‘I’m a knowledge master.’ Though he was no conqueror of all, he said ‘I’m conqueror of all.’ And though the boil’s root was not dug out, he said ‘I’ve dug out the boil’s root.’

Here’s how a mendicant would rightly say:

‘Herewith! Absolutely the knowledge master!
Herewith! Absolutely the conqueror of all!
Herewith! Absolutely the undug
boil’s root is dug out!’

And how is someone a knowledge master? It’s when a mendicant truly understands the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape. That’s how a mendicant is a knowledge master.

And how is a mendicant a conqueror of all? It’s when a mendicant comes to be freed by not grasping after truly understanding the six fields of contact’s origin, ending, gratification, drawback, and escape. That’s how a mendicant is a conqueror of all.

And how has a mendicant dug out the undug boil’s root? ‘Boil’ is a term for this body made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. ‘Boil’s root’ is a term for craving. It’s when a mendicant has given up craving, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant has dug out the undug boil’s root.

Uddaka son of Rāma used to say:

‘Herewith! Absolutely the knowledge master!
Herewith! Absolutely the conqueror of all!
Herewith! Absolutely the undug
boil’s root is dug out!’

Even though Uddaka son of Rāma was no knowledge master, he said ‘I’m a knowledge master.’ Though he was no conqueror of all, he said ‘I’m conqueror of all.’ And though the boil’s root was not dug out, he said ‘I’ve dug out the boil’s root.’

But that’s how a mendicant would rightly say:

‘Herewith! Absolutely the knowledge master!
Herewith! Absolutely the conqueror of all!
Herewith! Absolutely the undug
boil’s root is dug out!’"

the third fifty

103. X. Uddaka (S.iv,83)

1. …

2. − Uddaka Ràmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:

"Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào".

Này các Tỷ-kheo, Uddaka Ràmaputta không phải bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả” không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia, chưa từng đào.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí (vedagù)? Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo minh trí.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành này, sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh là vô thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt. Gốc rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn từ trước chưa được đào lên.

7. Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Ràmaputta đã nói lên lời nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.

Này các Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.

Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba

The Chapter on Sanctuary

SN 35.104 Sanctuary from the Yoke Yogakkhemisutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke. Listen …

And what is an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke?

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. The Realized One has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. He teaches yoking oneself to meditation for giving them up. That’s why the Realized One is called one who has found sanctuary from the yoke. …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. The Realized One has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future. He teaches yoking oneself to meditation for giving them up. That’s why the Realized One is called one who has found sanctuary from the yoke.

This is an exposition of the teaching, an explanation of one who has found sanctuary from the yoke."

I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách

104. I. Người Ðược An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách (S.iv,85)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách, pháp môn đúng pháp. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách?

4-8. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách… có những tiếng… có những hương… có những vị… có những xúc…

9. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những pháp ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn khỏi các khổ ách.

10. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn đưa đến an ổn khỏi các khổ ách, là pháp môn đúng pháp.

SN 35.105 Because of Grasping Upādāyasutta

“Mendicants, when what exists, because of grasping what, do pleasure and pain arise in oneself?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"Mendicants, when there’s an eye, because of grasping the eye, pleasure and pain arise in oneself. … When there’s a mind, because of grasping the mind, pleasure and pain arise in oneself.

What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”

“No, sir.” …

“Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would pleasure and pain arise in oneself?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

105. II. Chấp Thủ (S.iv,85)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ?

3. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4. − Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ… tai… mũi… lưỡi… thân… Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc, nội khổ.

5. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

6. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.106 The Origin of Suffering Dukkhasamudayasutta

"Mendicants, I will teach you the origin and ending of suffering. Listen …

And what, mendicants, is the origin of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. This is the origin of suffering …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. This is the origin of suffering.

And what is the ending of suffering? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of suffering. …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of suffering."

106. III. Khổ (S.iv,86)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về khổ tập khởi và khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?

4-9. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân… Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi, này các Tỷ-kheo.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?

11. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.

12-13. Do duyên tai… Do duyên mũi…

14-15. Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

16. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.

SN 35.107 The Origin of the World Lokasamudayasutta

"Mendicants, I will teach you the origin and ending of the world. Listen …

And what, mendicants, is the origin of the world? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. This is the origin of the world. …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. This is the origin of the world.

And what is the ending of the world? Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of the world. …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases … That is how this entire mass of suffering ceases. This is the ending of the world."

107. IV. Thế Giới (S.iv,87)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về thế giới tập khởi và thế giới đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?

4. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.

5-7. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

8. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh nên có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới tập khởi.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?

10-15. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đoạn diệt. Như vậy, đây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

16. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt.

SN 35.108 I’m Better Seyyohamasmisutta

“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, do people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”

“Our teachings are rooted in the Buddha. …”

"When there’s an eye, because of grasping the eye and insisting on the eye, people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’. …

When there’s a mind, because of grasping the mind and insisting on the mind, people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’.

What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”

“No, sir.” …

“Is the mind permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

108. V. Thắng (S. iv,88)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”?

3. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4-9. − Này các Tỷ-kheo, do có mắt, do chấp thủ mắt, do thiên chấp mắt nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”… Do có ý, do chấp thủ ý, do thiên chấp ý nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái vì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi”, hay “Thấp kém là tôi” không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11. − Tai là thường hay vô thường…

12. Mũi là thường hay vô thường…

13. Lưỡi là thường hay vô thường…

14. Thân là thường hay vô thường…

15. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi” không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

16. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.109 Things Prone to Being Fettered Saṁyojaniyasutta

"Mendicants, I will teach you the things that are prone to being fettered, and the fetter. Listen …

What are the things that are prone to being fettered? And what is the fetter? The eye is something that’s prone to being fettered. The desire and greed for it is the fetter.

The ear … nose … tongue … body … mind is something that’s prone to being fettered. The desire and greed for it is the fetter. These are called the things that are prone to being fettered, and this is the fetter."

109. VI. Kiết Sử (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử. Hãy lắng nghe. Thế nào là kiết sử?

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử và… kiết sử?

4-9. Này các Tỷ-kheo, mắt là pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử… Ý là pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử.

10. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là những pháp bị kiết sử và kiết sử.

SN 35.110 Things Prone to Fuel Grasping Upādāniyasutta

"Mendicants, I will teach you the things that fuel grasping, and the grasping. Listen …

What are the things that fuel grasping? And what is the grasping? The eye is something that’s prone to fuel grasping. The desire and greed for it is the grasping.

The ear … nose … tongue … body … mind is something that’s prone to fuel grasping. The desire and greed for it is the grasping. These are called the things that fuel grasping, and this is the grasping."

110. VII. Chấp Thủ (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị chấp thủ và chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ, và thế nào là chấp thủ?

4-9. Mắt, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ… Ý là pháp bị chấp thủ. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ.

10. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là những pháp bị chấp thủ, và chấp thủ.

SN 35.111 Complete Understanding of the Interior Ajjhattikāyatanaparijānanasutta

"Mendicants, without directly knowing and completely understanding the eye, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

Without directly knowing and completely understanding the ear … nose … tongue … body … mind, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.

By directly knowing and completely understanding the eye, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.

By directly knowing and completely understanding the ear … nose … tongue … body … mind, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering."

111. VIII. Tuệ Tri (Pajànàti) (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt nên không thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý nên không thể đoạn tận khổ đau.

8-13. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ ý nên có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.112 Complete Understanding of the Exterior Bāhirāyatanaparijānanasutta

"Mendicants, without directly knowing and completely understanding sights … sounds … smells … tastes … touches … ideas, without dispassion for them and giving them up, you can’t end suffering.

By directly knowing and completely understanding sights … sounds … smells … tastes … touches … ideas, having dispassion for them and giving them up, you can end suffering."

112. IX. Tuệ Tri (S.iv,90)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc nên không thể đoạn tận khổ đau… các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp nên không thể đoạn tận khổ đau.

8-13. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các pháp nên có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.113 Listening In Upassutisutta

At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. Then while the Buddha was in private retreat he spoke this exposition of the teaching:

"Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.

Ear … nose … tongue … body …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.

Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.

Ear … nose … tongue … body …

Mind consciousness arises dependent on the mind and ideas. The meeting of the three is contact. Contact is a condition for feeling. Feeling is a condition for craving. When that craving fades away and ceases with nothing left over, grasping ceases. When grasping ceases … That is how this entire mass of suffering ceases."

Now at that time a certain monk was standing listening in on the Buddha. The Buddha saw him and said, “Monk, did you hear that exposition of the teaching?”

“Yes, sir.”

“Learn that exposition of the teaching, memorize it, and remember it. That exposition of the teaching is beneficial and relates to the fundamentals of the spiritual life.”

113. X. Nghe Trộm (upassuti) (S.iv,90)

1. Một thời Thế Tôn trú tại Nàtika, trong ngôi nhà bằng gạch.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tịnh, nói lên lời pháp giáo này (dhammapariyàyam):

3. − Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4-7. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

8. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi.

9. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được đoạn diệt.

10-13. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

14. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được đoạn diệt.

15. Lúc bấy giờ một Tỷ-kheo đứng nghe trộm Thế Tôn.

16. Thế Tôn thấy Tỷ-kheo ấy đứng nghe trộm.

17. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, Ông có nghe pháp giáo này không?

− Thưa có nghe, bạch Thế Tôn.

− Này Tỷ-kheo, hãy học pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, pháp giáo này liên hệ đến mục đích, là cứu cánh Phạm hạnh.

The Chapter on the World and the Kinds of Sensual Stimulation

SN 35.114 Māra’s Snare (1st) Paṭhamamārapāsasutta

"Mendicants, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra’s bonds, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keep clinging to them, they’re called a mendicant trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant not trapped in Māra’s lair, not fallen under Māra’s sway, and released from Māra’s snare. They’re free from Māra’s bonds, and the Wicked One cannot do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches …

There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant not trapped in Māra’s lair, not fallen under Māra’s sway, and released from Māra’s snare. They’re free from Māra’s bonds, and the Wicked One cannot do with them what he wants."

II. Phẩm Thế Giới Dục Công Ðức

114. I. Màra (Ma) Lưới Bẫy (S.iv,91)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

8-13. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

SN 35.115 Māra’s Snare (2nd) Dutiyamārapāsasutta

"Mendicants, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant who is bound in sights known by the eye. They’re trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra’s bonds, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant who is bound in ideas known by the mind. They’re trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra’s bonds, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant who is freed from sights known by the eye. They’re not trapped in Māra’s lair, not fallen under Māra’s sway, and released from Māra’s snare. They’re free from Māra’s bonds, and the Wicked One cannot do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant who is freed from ideas known by the mind. They’re not trapped in Māra’s lair, not fallen under Māra’s sway, and released from Māra’s snare. They’re free from Māra’s bonds, and the Wicked One cannot do with them what he wants."

115. II. Màra (Ma) Lưới Bẫy (S.iv,92)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo bị trói buộc trong các sắc do mắt nhận thức, đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục, bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức… tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo bị trói buộc trong các pháp do ý nhận thức, đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục, bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

8-13. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức, khả lạc… hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các sắc do mắt nhận thức, không đi vào trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các pháp do ý nhận thức, không đi vào trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

SN 35.116 Traveling to the End of the World Lokantagamanasutta

“Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.”

When he had spoken, the Blessed One got up from his seat and entered his dwelling.

Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. … Who can explain in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha?”

Then those mendicants thought, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter.”

Then those mendicants went to Ānanda and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said, “May Venerable Ānanda please explain this.”

"Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves.

Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you overlooked him, imagining that you should ask me about this matter. For he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the teacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. You should have remembered it in line with the Buddha’s answer."

"Certainly he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the teacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. We should have remembered it in line with the Buddha’s answer.

Still, Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. You are capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Please explain this, if it’s no trouble."

“Then listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:

"Reverends, the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:

‘Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.’

This is how I understand the detailed meaning of this summary recital.

Whatever in the world through which you perceive the world and conceive the world is called the world in the training of the Noble One. And through what in the world do you perceive the world and conceive the world?

Through the eye in the world you perceive the world and conceive the world. Through the ear … nose … tongue … body … mind in the world you perceive the world and conceive the world.

Whatever in the world through which you perceive the world and conceive the world is called the world in the training of the Noble One.

When the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:

‘Mendicants, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.’

That is how I understand the detailed meaning of this summary.

If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer."

“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.

Then they said, “And Ānanda explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”

“Mendicants, Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”

116. III. Thế Giới Dục Công Ðức (S.iv,93)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới.

Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, khởi lên tư tưởng sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời nói vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”?

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”.

5. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

6. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa Hiền giả Ananda, sau khi thuyết giảng lời vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt đến sự tận cùng thế giới”. Thưa Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời tuyên bố vắn tắt này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”. Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”. Mong Tôn giả Ananda hãy phân tích cho.

7. − Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc chư Tôn giả làm… Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

8. − Thưa Hiền giảAnanda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa naụy. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể giải thích một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Ananda phân tích cho, nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức (agarum katvà).

9. − Vậy chư Hiền hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda.

10. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: " Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt được sự tận cùng thế giới". Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu một cách rộng rãi như sau:

11. Này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. Và này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới? Do con mắt, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Do tai, này chư Hiền… Do mũi, này chư Hiền… Do lưỡi, này chư Hiền… Do thân, này chư Hiền… Do ý, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Ðây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.

12. Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt cho chư Hiền, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt đến sự tận cùng thế giới”. Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nhưng nếu muốn, chư Tôn giả hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

13. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng… sự tận cùng thế giới”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không được bao lâu, chúng con khởi lên ý nghĩ sau này: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng… sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”

14. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”. Và, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến Tôn giả Ananda và hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này.

15. Bạch Thế Tôn, với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, ý nghĩa được Tôn giả Ananda giải thích cho chúng con…

− Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy.

SN 35.117 The Kinds of Sensual Stimulation Kāmaguṇasutta

"Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘My mind might often stray towards the five kinds of sensual stimulation that I formerly experienced—which have passed, ceased, and perished—or to those in the present, or in the future a little.’

Then it occurred to me: ‘In my own way I should practice diligence, mindfulness, and protecting the mind regarding the five kinds of sensual stimulation that I formerly experienced—which have passed, ceased, and perished.’

So, mendicants, your minds might also often stray towards the five kinds of sensual stimulation that you formerly experienced—which have passed, ceased, and perished—or to those in the present, or in the future a little. So in your own way you should practice diligence, mindfulness, and protecting the mind regarding the five kinds of sensual stimulation that you formerly experienced—which have passed, ceased, and perished.

So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away."

When he had spoken, the Blessed One got up from his seat and entered his dwelling.

Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. … Who can explain in detail the meaning of this brief summary given by the Buddha?”

Then those mendicants thought, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter.”

Then those mendicants went to Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said, “May Venerable Ānanda please explain this.”

“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. …”

“Please explain this, if it’s no trouble.”

“Then listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:

"Reverends, the Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail:

‘So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away.’

And this is how I understand the detailed meaning of this summary.

The Buddha was referring to the cessation of the six sense fields when he said: ‘So you should understand that dimension where the eye ceases and perception of sights fades away. You should understand that dimension where the ear … nose … tongue … body … mind ceases and perception of ideas fades away.’

The Buddha gave this brief summary, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. And this is how I understand the detailed meaning of this summary.

If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer."

“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.

Then they said, “And Ānanda explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”

“Mendicants, Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”

117. IV. Thế Giới Dục Công Ðức (S.iv,97)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta chưa giác ngộ, chưa thành Chánh đẳng Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta khởi lên ý nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm Ta đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai”. Rồi, này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính Ta, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm”.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm các Ông đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính các Ông, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.

5. Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

6. Rồi các Tỷ-kheo, sau khi Thế Tôn ra đi chẳng bao lâu, khởi lên ý nghĩ sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt… Ai có thể phân tích ý nghĩa lời tuyên bố một cách rộng rãi?”

7. Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán…”…

8-11. (Như kinh trên, từ số 5 đến số 9, chỉ khác về lời tuyên bố của Thế Tôn)

12. − Vậy chư Hiền, hãy lắng và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda.

13. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt này, không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Lời Thế Tôn nói, này chư Hiền, là thuộc về đoạn diệt sáu xứ. Do vậy, này chư Hiền, các xứ cần phải hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu biết”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.

14. Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, ý nghĩa không được phân tích một cách rõ ràng, ý nghĩa ấy tôi hiểu một cách rõ ràng như vậy. Nếu muốn, chư Hiền hãy đi đến Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

15. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt cho chúng con, không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, Thế Tôn đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu. ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy pháp tưởng được ly tham, các xứ phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này cho chúng ta, nhưng không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: `Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy’, nhưng ý nghĩa không được phân tích một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”.

16. Bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: "Tôn giả Ananda được bậc Ðạo Sư tán thán và được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Với lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, nhưng không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi.

Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này".

17. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, đã phân tích ý nghĩa.

− Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.

SN 35.118 The Question of Sakka Sakkapañhasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. And then Sakka, lord of gods, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”

"Lord of gods, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life."

118. V. Sakka (S.iv,101)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Gijjhakùta (Linh Thứu).

2. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập được Niết-bàn?

4. − Này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Vì có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.

5-8. Này Thiên chủ, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân cảm giác…

9. Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú. Do Tỷ-kheo ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Do có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.

10. Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, ở đây một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn.

11-16. Và này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Do không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo nhập Niết-bàn. Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

17. Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ vào cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy nhập Niết-bàn.

18. Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập Niết-bàn.

SN 35.119 The Question of Pañcasikha Pañcasikhasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. And then the centaur Pañcasikha went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”

"Pañcasikha, there are sights known by the eye …

ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.

There are sights known by the eye …

ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life."

119. IV. Pancasikha (S.iv,103)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

2. Rồi Pancasikha, con vị vua Gandhabba, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Pancasikha, con Gandhabba, bạch Thế Tôn: “…(giống như kinh trước, câu hỏi và câu đáp giống như kinh trước)”.

SN 35.120 Sāriputta and the Protégé Sāriputtasaddhivihārikasutta

At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then a certain mendicant went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to him, “Reverend Sāriputta, a mendicant protégé of mine has resigned the training and returned to a lesser life.”

"That’s how it is, reverend, when someone doesn’t guard the sense doors, eats too much, and is not committed to wakefulness. It is quite impossible for such a mendicant to maintain the full and pure spiritual life for the rest of their life. But it is quite possible for a mendicant to maintain the full and pure spiritual life for the rest of their life if they guard the sense doors, eat in moderation, and are committed to wakefulness.

And how does someone guard the sense doors? When a mendicant sees a sight with the eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. That’s how someone guards the sense doors.

And how does someone eat in moderation? It’s when a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’ That’s how someone eats in moderation.

And how is someone committed to wakefulness? It’s when a mendicant practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles. That’s how someone is committed to wakefulness.

So you should train like this: ‘We will guard the sense doors, eat in moderation, and be committed to wakefulness.’ That’s how you should train."

120. VII. Sàriputta (S.iv,103)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Jetanvana, vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

− Tỷ-kheo đồng trú, thưa Tôn giả Sàriputta, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục.

4. − Này Hiền giả, như vậy xẩy đến cho vị nào không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy không xảy ra.

5. Này Hiền giả, một Tỷ-kheo hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy có xảy ra.

6. Và này Hiền giả, thế nào là hộ trì các căn? Này Hiền giả, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này Hiền giả, là sự hộ trì các căn.

7. Này Hiền giả, thế nào là tiết độ trong ăn uống? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng các món ăn. Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự mình làm đẹp mình mà chỉ để thân này được duy trì và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này Hiền giả, là tiết độ trong ăn uống.

8. Và này Hiền giả, như thế nào là chú tâm tỉnh giác? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh một, trong khi vị ấy đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên hữu, trong tư thế con sư tử, chân này đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng đến lúc ngồi dậy.

Ban đêm trong canh cuối, khi vị ấy đi kinh hành và trong khi ngồi, tâm gột sạch khỏi các pháp triền cái. Như vậy, này Hiền giả, là chú tâm tỉnh giác.

9. Do vậy, này Hiền giả, cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác”.

Như vậy, này Hiền giả, ông cần phải học tập.

SN 35.121 Advice to Rāhula Rāhulovādasutta

At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.

Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “The qualities that ripen in freedom have ripened in Rāhula. Why don’t I lead him further to the ending of defilements?”

Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he addressed Venerable Rāhula, “Rāhula, get your sitting cloth. Let’s go to the Dark Forest for the day’s meditation.”

“Yes, sir,” replied Rāhula. Taking his sitting cloth he followed behind the Buddha.

Now at that time many thousands of deities followed the Buddha, thinking, “Today the Buddha will lead Rāhula further to the ending of defilements!”

Then the Buddha plunged deep into the Dark Forest and sat at the root of a tree on the seat spread out. Rāhula bowed to the Buddha and sat down to one side. The Buddha said to him:

“What do you think, Rāhula? Is the eye permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Are sights … eye consciousness … eye contact permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises conditioned by eye contact: is that permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Is the ear … nose … tongue … body … mind permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

“Are ideas … mind consciousness … mind contact permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.” …

“Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?”

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they become disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body …

They grow disillusioned with the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact. And they grow disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Rāhula approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, Rāhula’s mind was freed from defilements by not grasping.

And the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in those thousands of deities:

“Everything that has a beginning has an end.”

121. VIII. Ràhula (S.iv, 105)

1. Một thời Thế Tôn ở trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tịnh, các tư niệm sau đây được khởi lên: “Ðã thuần thục là các pháp đưa đến giải thoát được chín muồi cho Ràhula. Vậy Ta hãy giảng dạy cho Ràhula những lời dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”.

3. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực, khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, gọi Tôn giả Ràhula:

− Này Ràhula, hãy cầm tọa cụ đi đến rừng Andha để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ràhula vâng đáp Thế Tôn, cầm lấy tọa cụ, và đi sau lưng Thế Tôn.

4. Lúc bấy giờ, rất nhiều ngàn Thiên nhân đi theo Thế Tôn và nghĩ rằng: “Hôm nay, Thế Tôn sẽ giảng dạy cho Ràhula những lời dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”.

5. Rồi Thế Tôn đi sâu vào rừng Andha và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn dưới gốc cây. Rồi Tôn giả Ràhula, sau khi đảnh lễ Thế Tôn liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:

6. − Ông nghĩ thế nào, này Ràhula, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chánh quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Sắc là thường hay vô thường?..

Nhãn thức là thường hay vô thường?..

Nhãn xúc là thường hay vô thường?..

Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

7-8. − Tai… Mũi…

9-10. Lưỡi… Thân…

11. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các pháp là thường hay vô thường?..

Ý thức là thường hay vô thường?..

Ý xúc là thường hay vô thường?..

Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

12. − Thấy vậy, này Ràhula, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc này khởi lên cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì; nhàm chán đối với pháp ấy… nhàm chán đối với tai… nhàm chán đối với mũi… nhàm chán đối với lưỡi… nhàm chán đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, nhàm chán đối với pháp ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

13. Thế Tôn thuyết như vậy. Tôn giả Ràhula hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, tâm Tôn giả Ràhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Và hàng nhiều ngàn chư Thiên khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm các pháp gì được sanh khởi, tất cả đều bị đoạn diệt”.

SN 35.122 Things Prone to Being Fettered Saṁyojaniyadhammasutta

"Mendicants, I will teach you the things that are prone to being fettered, and the fetter. Listen …

What are the things that are prone to being fettered? And what is the fetter? There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are called the things that are prone to being fettered. The desire and greed for them is the fetter.

There are sounds … smells … tastes … touches … thoughts known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are called the things that are prone to being fettered. The desire and greed for them is the fetter."

122. IX. Kiết Sử (S.iv,107)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử, Hãy lắng nghe.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử, thế nào là kiết sử?

3. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.

4-7. Này các Tỷ-kheo, có các tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân cảm giác…

8. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các pháp bị kiết sử. Chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.

SN 35.123 Things Prone to Fuel Grasping Upādāniyadhammasutta

"Mendicants, I will teach you the things that fuel grasping, and the grasping. Listen …

What are the things that fuel grasping? And what is the grasping? There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are called the things that fuel grasping. The desire and greed for them is the grasping.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are called the things that fuel grasping. The desire and greed for them is the grasping."

123. X. Chấp Thủ (S.iv,108)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng về các pháp bị chấp thủ và chấp thủ. Hãy lắng nghe.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ, thế nào là chấp thủ?

3-8. Này các Tỷ-kheo… (Giống như từ số 3 đến số 8 của kinh trên).

The Chapter on Householders

SN 35.124 At Vesālī Vesālīsutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then the householder Ugga of Vesālī went up to the Buddha, sat down to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”

"Householder, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished.

That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.

That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life."

III. Phẩm Gia Chủ

124. I. Vesàli (S.iv,109)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Vesàli, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàli, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàli, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh (parinibbàyanti). Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-9. − Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn… (giống như kinh 118) … Này Gia chủ, Tỷ-kheo có chấp thủ, không được hoàn toàn tịch tịnh…

10. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số các loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh.

11-16. Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn… (giống như kinh 118) … Này Gia chủ, Tỷ-kheo không có chấp thủ, được hoàn toàn tịch tịnh…

17. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.125 In the Land of the Vajjis Vajjīsutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Vajjis at Elephant Village. Then the householder Ugga of Elephant Village went up to the Buddha, sat down to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?” …

(Tell in full as in the previous discourse.)

125. II. Vajji (S.iv,109)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajji tại làng Hatthi.

2. Rồi gia chủ Ugga, người làng Hatthi, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người làng Hatthi, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-16. (Giống như kinh trước) …

17. − Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, có một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.126 At Nāḷandā Nāḷandasutta

At one time the Buddha was staying near Nāḷandā in Pāvārika’s mango grove.

Then the householder Upāli went up to the Buddha … and asked him, “What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?” …

(Tell in full as in SN 35.124.)

126. III. Nàlanda (S.iv,110)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Nàlanda, tại rừng Pàvàrikamba.

2. Rồi gia chủ Upàli đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Upàli bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?..

4-16. … (Như kinh trước)

17. − Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.127 With Bhāradvāja Bhāradvājasutta

At one time Venerable Bhāradvāja the Alms-Gatherer was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Then King Udena went up to Bhāradvāja the Alms-Gatherer and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to him:

“Worthy Bhāradvāja, there are these young monks who are youthful, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life; and they’ve never played around with sensual pleasures. What is the cause, what is the reason why they practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time?”

"Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:

‘Please, monks, think of women your mother’s age as your mother. Think of women your sister’s age as your sister. And think of women your daughter’s age as your daughter.’

This is a cause, great king, this is a reason why these young monks practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time."

“But worthy Bhāradvāja, the mind is wanton. Sometimes thoughts of desire come up even for women your mother’s age, your sister’s age, or your daughter’s age. Is there another cause, another reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life?”

"Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:

‘Please, monks, examine your own body up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. In this body there is head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine.’

This is also a cause, great king, this is a reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life, maintaining it for a long time."

“This is easy to do for those mendicants who have developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. But it’s hard to do for those mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. Sometimes I plan to focus on something as ugly, but only its beauty comes to mind. Is there another cause, another reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life?”

"Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:

‘Please, monks, live with sense doors guarded. When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of sight, and achieve its restraint. When you hear a sound with your ears … When you smell an odor with your nose … When you taste a flavor with your tongue … When you feel a touch with your body … When you know an idea with your mind, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of mind, and achieve its restraint.’

This is also a cause, great king, this is a reason why these young monks practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time."

"It’s incredible, worthy Bhāradvāja, it’s amazing! How well this was said by the Buddha! This is the real cause, this is the reason why these young monks practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time.

For sometimes I too enter the harem with unprotected body, speech, mind, mindfulness, and sense faculties. At those times powerful thoughts of desire get the better of me. But sometimes I enter the harem with protected body, speech, mind, mindfulness, and sense faculties. At those times such thoughts of desire don’t get the better of me.

Excellent, worthy Bhāradvāja! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Bhāradvāja has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Bhāradvāja remember me as a lay follower who has gone for refuge for life."

127. IV. Bhàradvàja (S.iv,110)

1. Một thời Tôn giả Pindolabhàradvàja trú ở Kosambi, tại vườn Ghosità.

2. Rồi vua Udena đi đến Tôn giả Pindolabhàradvàja; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Pindolabhàradvàja những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, vua Udena thưa với Tôn giả Pindolabhàradvàja:

− Thưa Bhàradvàja, do nhân gì, do duyên gì, những Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn (addhànam apàdenti)?

4. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, đối với những người chỉ là mẹ, hãy an trú tâm người mẹ. Ðối với những người chỉ là chị, hãy an trú tâm người chị. Ðối với người chỉ là con gái, hãy an trú tâm người con gái. Thưa Ðại Vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

5. − Tham vọng (loba), này Bhàradvàja, là tâm. Ðôi khi đối với những người chỉ là mẹ, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là chị, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là con gái, tham pháp khởi lên. Này Bhàradvàja, có một nhân khác, có một duyên khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… một cách hoàn mãn?

6. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên từ đảnh tóc trở xuống, bao bọc bởi da và chứa đầy bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

7. − Này Bhàradvàja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân có tu tập, giới có tu tập, tâm có tu tập, tuệ có tu tập, thời như vậy thật là dễ dàng. Và này Bhàradvàja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân không có tu tập, giới không có tu tập, tâm không có tu tập, tuệ không có tu tập thời như vậy thật là khó khăn. Ðôi khi, này Bhàradvàja, có người nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ tác ý bất tịnh”, nhưng lại đi đến tịnh (tướng). Này Bhàradvàja, có nhân nào khác, duyên nào khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn?

8. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Sau khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy những Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

9. − Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja, là lời khéo nói này của Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính nhân này, thưa Tôn giả Bhàradvàja, chính duyên này, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân, lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

10. Tôi cũng vậy, thưa Tôn giả Bhàradvàja, khi nào tôi vào trong nội cung với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp chinh phục tôi. Nhưng thưa Tôn giả Bhàradvàja, trong khi tôi vào nội cung, với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp không chinh phục tôi.

11. Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thưa Tôn giả Bhàradvàja, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Bhàradvàja dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Bhàradvàja, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Bhàradvàja hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

SN 35.128 With Soṇa Soṇasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.

Then the householder Soṇa went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?” …

(Tell in full as in SN 35.118.)

128. V. Sona (S.iv,113)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con người gia chủ Sona, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Sona, con người gia chủ, bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, không được hoàn toàn tịch tịnh? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh? (… Giống như kinh trước…)

− Này Sona, đây là nhân, đây là duyên… do vậy, ở đây, một số loài hữu tình… ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.129 With Ghosita Ghositasutta

At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Then the householder Ghosita went up to Venerable Ānanda, and said to him:

“Honorable Ānanda, they speak of ‘the diversity of elements’. In what way did the Buddha speak of the diversity of elements?”

"Householder, the eye element is found, as are agreeable sights, and eye consciousness. Pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. The eye element is found, as are disagreeable sights, and eye consciousness. Painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful. The eye element is found, as are sights that are a basis for equanimity, and eye consciousness. Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.

The ear … nose … tongue … body … mind element is found, as are agreeable ideas, and mind consciousness. Pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. The mind element is found, as are disagreeable ideas, and mind consciousness. Painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful. The mind element is found, as are ideas that are a basis for equanimity, and mind consciousness. Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.

This is how the Buddha spoke of the diversity of elements."

129. VI. Ghosita (S.iv,113)

1. Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi gia chủ Ghosita đi đến Tôn giả Ananda…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ghosita thưa với Tôn giả Ananda:

− “Sai biệt về giới, sai biệt về giới”, thưa Tôn giả Ananda, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói đến sai biệt về giới?

4. − Này Gia chủ, khi nào nhãn giới, sắc khả ý, và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Này Gia chủ, khi nào nhãn giới, sắc không khả ý, và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Này Gia chủ, khi nào nhãn giới sắc trú xả và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

5. Này Gia chủ, khi nào nhĩ giới…

6. Này Gia chủ, khi nào tỷ giới…

7. Này Gia chủ, khi nào thiệt giới…

8. Này Gia chủ, khi nào thân giới…

9. Này Gia chủ, khi nào ý giới, pháp khả ý, và ý thức cùng khởi lên; do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Này Gia chủ, khi nào ý giới… pháp không khả ý và ý thức cùng khởi lên; do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Này Gia chủ, khi nào ý giới, pháp giới trú xả và ý thức cùng khởi lên; do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

10. Cho đến như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói đến về sai biệt các giới.

SN 35.130 With Hāliddikāni Hāliddikānisutta

At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis near Kuraraghara on Steep Mountain.

Then the householder Hāliddikāni went up to Venerable Mahākaccāna … and asked him, “Sir, this was said by the Buddha: ‘Diversity of elements gives rise to diversity of contacts, and diversity of contacts gives rise to diversity of feelings.’ How does diversity of elements give rise to diversity of contacts, and diversity of contacts gives rise to diversity of feelings?”

"Householder, it’s when a mendicant sees a sight with the eye and understands it to be agreeable. There is eye consciousness; and pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. Then they see a sight and understand it to be disagreeable. There is eye consciousness; and painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful. Then they see a sight and understand it to be a basis for equanimity. There is eye consciousness; and neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.

Furthermore, a mendicant hears a sound with the ear … smells an odor with the nose … tastes a flavor with the tongue … feels a touch with the body … knows an idea with the mind and understands it to be agreeable. There is mind consciousness; and pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. Then they know an idea and understand it to be disagreeable. There is mind consciousness; and painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful. Then they know an idea and understand it to be a basis for equanimity. Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.

That’s how diversity of elements gives rise to diversity of contacts, and diversity of contacts gives rise to diversity of feelings."

130. VII. Haliddhaka (S.iv,115)

1. Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna trú giữa dân chúng Avanti, tại Kuraraghara, trong một hang núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Thưa Tôn giả, Thế Tôn nói như sau: “Do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc. Do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ”. Như thế nào, thưa Tôn giả, do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc; do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ?

4. − Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có lạc xúc. Do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Khi mắt thấy sắc bất khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có khổ xúc. Do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi mắt thấy sắc trú xả, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có bất khổ bất lạc xúc. Do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

5-9. Lại nữa, này Gia chủ, khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết pháp khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có lạc xúc. Do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Khi ý biết pháp bất khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có khổ xúc. Do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi ý biết pháp trú xả, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có bất khổ bất lạc xúc. Do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

10. Như vậy, này Gia chủ, do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc. Do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ.

SN 35.131 Nakula’s Father Nakulapitusutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Bhaggas at Crocodile Hill, in the deer park at Bhesakaḷā’s Wood.

Then the householder Nakula’s father went up to the Buddha … and asked him, “What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life? What is the cause, sir, what is the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life?”

"Householder, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, their consciousness has that as support and fuel for grasping. A mendicant with fuel for grasping does not become extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are not fully extinguished in this very life.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished. That’s the cause, that’s the reason why some sentient beings are fully extinguished in this very life."

131. VIII. Nakulapità (S.iv,116)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi gia chủ Nakulapità…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-9. − Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức… (như kinh 118)

10. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, không được hoàn toàn tịch tịnh.

11-16. Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức…

17. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.132 With Lohicca Lohiccasutta

At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis in a wilderness hut near Makkarakaṭa.

Then several students, pupils of the brahmin Lohicca, approached Mahākaccāna’s wilderness hut while collecting firewood. They walked and wandered all around the hut, making a dreadful racket and all kinds of jeers: “These shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman, the Lord! They’re honored, respected, revered, venerated, and esteemed by those who pretend to inherit Vedic culture.”

And then Mahākaccāna left his dwelling and said to those young students, “Young students, stop being so noisy. I will speak to you on the teaching.”

When this was said, the young students fell silent. Then Mahākaccāna recited these verses for them.

"The brahmins of old championed ethics
and remembered the ancient traditions.
Their sense doors were guarded, well protected,
and they had mastered anger.

Those brahmins who remembered
- the ancient traditions
enjoyed virtue and absorption.

But these have lost their way. Claiming to recite,
they live out of balance,
- judging everyone by their clan.
Mastered by anger, they take up many arms,
attacking both the strong and the weak.

All is vain for someone
- who doesn’t guard the sense doors,
like the wealth a person finds in a dream.
Fasting, sleeping on bare ground,
bathing at dawn, the three Vedas,

rough hides, dreadlocks, and dirt,
hymns, precepts and observances,
- and fervent austerities,
those fake bent staffs,
and rinsing with water.
These emblems of the brahmins
are only used to generate profits.

A mind that’s serene,
clear and undisturbed,
kind to all creatures:
that’s the path to attainment of divinity!"

Then those young students, offended and upset, went to the brahmin Lohicca and said to him, “Please, master, you should know this. The ascetic Mahākaccāna condemns and rejects outright the hymns of the brahmins!”

When they said this, Lohicca was offended and upset. Then he thought, “But it wouldn’t be appropriate for me to abuse or insult the ascetic Mahākaccāna solely because of what I’ve heard from these young students. Why don’t I go and ask him about it?”

Then the brahmin Lohicca together with those young students went to Venerable Mahākaccāna and exchanged greetings with him.

When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him, “Master Kaccāna, did several young pupils of mine come by here collecting firewood?”

“They did, brahmin.”

“But did you have some discussion with them?”

“I did.”

“But what kind of discussion did you have with them?”

“This is the discussion I had with these young students.” And he repeated the verses in full.

“Worthy Kaccāna spoke of someone who doesn’t guard the sense doors. How do you define someone who doesn’t guard the sense doors?”

"Brahmin, take someone who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart restricted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

When they hear a sound with their ears …

When they smell an odor with their nose …

When they taste a flavor with their tongue …

When they feel a touch with their body …

When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and a limited heart. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

That’s how someone doesn’t guard the sense doors."

"It’s incredible, worthy Kaccāna, it’s amazing! How accurately you’ve explained someone whose sense doors are unguarded!

You also spoke of someone who does guard the sense doors. How do you define someone who does guard the sense doors?"

"Brahmin, take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

When they hear a sound with their ears …

When they smell an odor with their nose …

When they taste a flavor with their tongue …

When they feel a touch with their body …

When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

That’s how someone guards the sense doors."

"It’s incredible, worthy Kaccāna, it’s amazing! How accurately you’ve explained someone whose sense doors are guarded! Excellent, worthy Kaccāna! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Kaccāna has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Kaccāna remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.

Please come to my family just as you go to the families of the lay followers in Makkarakaṭa. The brahmin boys and girls there will bow to you, rise in your presence, and give you a seat and water. That will be for their lasting welfare and happiness."

132. IX. Lohicca (S,iv,116)

1. Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna trú ở giữa dân chúng Avanti, tại Makkarakata, tại một chòi lá trong rừng.

2. Rồi một số đông đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, là những thanh niên lượm củi, đi đến chòi lá trong rừng của Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, đi qua đi lại, đi vòng quanh chòi lá, cao tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại trò chơi nghịch ngợm: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân này, lại được các kẻ nô tì khuân vác cung kính, tôn trọng, cúng dường, lễ bái”.

3. Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna từ trong nhà bước ra và nói với các thanh niên ấy:

− Này các Thanh niên, chớ có làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông.

Khi nghe nói vậy, các thanh niên đều im lặng.

4. Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna nói lên những bài kệ với các thanh niên ấy:

1) Những bậc cổ nhân xưa,
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Các căn được hộ trì,
Ðược khéo léo chế ngự,
Họ nhiếp phục đoạn tận
Mọi tức giận phẫn nộ.

2) Họ hân hoan trong pháp,
Họ hân hoan trong Thiền,
Họ là Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Còn kẻ trốn luật này,
Chỉ lắp bắp tụng đọc,
Say mê trong giai cấp,
Họ bước đi khập khểnh.

3) Bị phẫn nộ nhiếp phục,

Dùng nhiều loại gậy gộc,
Họ rơi vào nguy hại,
Giữa kẻ tham, bậc Thánh,
Rỗng không là giới cấm,
Khi căn không chế ngự,
Như người được tài sản,
Trong cơn mộng nằm mơ.

4) Không ăn, quyết nhịn đói,
Nằm ngủ trên đất trần,
Sáng dậy, tắm sạch tội,
Tụng đọc ba Vệ-đà,
Mặc da thú thô cứng,
Bện tóc, da dính bùn,
Tụng đọc các thần chú,
Giới cấm thủ, khổ hạnh.

5) Giả dối và lừa đảo,
Sử dụng các gậy gộc,
Dùng nước để tắm rửa,
Dùng nước để súc miệng,
Ðó là những sắc tướng,
Các hàng Bà-la-môn,
Họ làm và thực hiện,
Mong hưởng những lợi nhỏ.

6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.

5. Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-lamôn Lohicca:

− Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahà Kaccàna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không vui.

6. Rồi Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta khi ta nghe một mình các thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ báng và công kích Sa-môn Mahà Kaccàna. Vậy, ta hãy đi đến và hỏi vị ấy”.

7. Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

8. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Tôn giả Kaccàna, có phải có một số đông đệ tử của chúng tôi, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi đã đến đây?

− Này Bà-la-môn, một số đông đệ tử của Ông, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi có đến tại đây.

− Thưa Tôn giả Kaccàna, Tôn giả có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy không?

− Này Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy.

− Như thế nào là câu chuyện giữa Tôn giả Kaccàna với những thanh niên Bà-la-môn ấy?

− Này Bà-la-môn, như thế nầy là câu chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy:

1) Những bậc cổ nhân xưa
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn
Ghi nhớ các cổ luật.

2-5. …

6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.

Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc nói chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy.

9. − Tôn giả Kaccàna có nói đến hộ trì các căn. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccàna, là hộ trì các căn?

10. − Ở đây, này Bà-la-môn, có người sau khi mắt thấy sắc, có tâm hướng đến các sắc khả ái, có tâm ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.

11-14. … sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc…

15. … sau khi ý biết các pháp, tâm hướng đến các pháp khả ái, tâm ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt, không có dư tàn.

16. Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn không có hộ trì.

17. − Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccàna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa các căn không hộ trì. Các căn có hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn giả Kaccàna đã nói như vậy; cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccàna, là các căn có hộ trì?

18. − Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, tâm không hướng đến các sắc khả ái, tâm không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

19-22. … sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc…

23. … sau khi ý nhận biết các pháp, tâm không hướng đến các pháp khả ái, tâm không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

24. Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn được hộ trì.

25. − Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccàna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa các căn được hộ trì. Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccàna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccàna! Thưa Tôn giả Kaccàna, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccàna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Kaccàna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccàna hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả Kaccàna đi đến viếng các gia đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy, mong Tôn giả Kaccàna hãy đến viếng các gia đình Lohicca. Tại đấy, các thanh niên và thanh nữ sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccàna, sẽ soạn chỗ ngồi, hay cúng dường nước cho Tôn giả Kaccàna, và như vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an lạc trong một thời gian dài.

SN 35.133 Verahaccāni Verahaccānisutta

At one time Venerable Udāyī was staying near Kāmaṇḍā in the brahmin Todeyya’s mango grove.

Then a boy who was a pupil of the brahmin lady of the Verahaccāni clan went up to Udāyī and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Udāyī educated, encouraged, fired up, and inspired that young student with a Dhamma talk.

Then that young student went to the brahmin lady of the Verahaccāni clan and said to her, “Please, madam, you should know this. The ascetic Udāyī proclaims a teaching that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.”

“Then, young student, invite him in my name for tomorrow’s meal.”

“Yes, madam,” he replied. He went to Udāyī and said, “Sir, might the worthy Udāyī please accept an offering of tomorrow’s meal from my tutor’s wife, the brahmin lady of the Verahaccāni clan.” Udāyī consented with silence.

Then when the night had passed, Udāyī robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the brahmin lady’s home, and sat down on the seat spread out. Then the brahmin lady served and satisfied Udāyī with her own hands with delicious fresh and cooked foods.

When Udāyī had eaten and washed his hand and bowl, she put on a pair of shoes, sat on a high seat, covered her head, and said to him, “Ascetic, preach the Dhamma.”

“There will be an occasion for that, sister,” he replied, then got up from his seat and left.

For a second time that young student went to Venerable Udāyī …

And for a second time that young student went to the brahmin lady of the Verahaccāni clan …

She said to him, “You keep praising the ascetic Udāyī like this. But when I asked him to preach the Dhamma he just said that there would be an occasion for that, and then he got up and left.”

“Madam, that’s because you put on a pair of shoes, sat on a high seat, and covered your head before inviting him to teach. For the good fellows respect the teaching.”

“Then, young student, invite him in my name for tomorrow’s meal.”

“Yes, madam,” he replied. …

Then the brahmin lady served and satisfied Udāyī with her own hands with delicious fresh and cooked foods.

When Udāyī had eaten and washed his hand and bowl, she took off her shoes, sat on a low seat, uncovered her head, and said to him, “Sir, when what exists do the perfected ones declare that there is pleasure and pain? When what doesn’t exist do the perfected ones not declare that there is pleasure and pain?”

“Sister, when there’s an eye, the perfected ones declare that there is pleasure and pain. When there’s no eye, the perfected ones don’t declare that there is pleasure and pain. When there’s an ear … nose … tongue … body … mind, the perfected ones declare that there is pleasure and pain. When there’s no mind, the perfected ones don’t declare that there is pleasure and pain.”

When he said this, the brahmin lady said to Udāyī, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, Master Udāyī has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may Master Udāyī remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

133. X. Verahaccàni (S.iv,121)

1. Một thời Tôn giả Udàyi trú ở Kàmandàya, tại vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.

2. Rồi một đệ tử thanh niên của nữ Bà-la-môn, thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udàyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3. Rồi Tôn giả Udàyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn ấy đang ngồi xuống một bên.

4. Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udàyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:

− Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udàyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.

5. − Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Sa-môn Udàyi ngày mai đến dùng cơm.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến thưa với Tôn giả Udàyi:

− Tôn giả Udàyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi (là) buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.

Tôn giả Udàyi im lặng nhận lời.

6. Rồi Tôn giả Udàyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-lamôn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

7. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

8. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi (thấy) Tôn giả Udàyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udàyi:

− Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.

− Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.

Nói xong, Tôn giả Udàyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

9. Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Udàyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Udàyi với lời pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn đang ngồi xuống một bên.

10. Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy sau khi được Tôn giả Udàyi với pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:

− Nữ Tôn giả hãy biết, Sa-môn Udàyi thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.

11. − Như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, Ông nói lời tán thán Sa-môn Udàyi. Nhưng Sa-môn Udàyi khi được nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, sau khi trả lời: “Này Chị, thời ấy sẽ đến”, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi về tịnh xá.

12. − Thưa nữ Tôn giả, vì rằng nữ Tôn giả đã đi dép, ngồi trên chỗ cao, trùm đầu và nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.

13. − Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udàyi đến dùng cơm.

− Thưa vâng, nữ Tôn giả.

Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udàyi:

− Tôn giả Udàyi, hãy chấp nhận đạo sư phí của chúng tôi, (là) buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.

Tôn giả Udàyi im lặng nhận lời.

14. Rồi Tôn giả Udàyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bàla-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

15. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

16. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udàyi:

− Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?

17. − Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc Ala-hán không trình bày lạc khổ… Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.

18. Khi được nói vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni thưa với Tôn giả Udàyi:

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udàyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udàyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udàyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

The Chapter at Devadaha

SN 35.134 At Devadaha Devadahasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near the Sakyan town named Devadaha. There the Buddha addressed the mendicants:

"When it comes to the six fields of contact, mendicants, I don’t say that all mendicants have work to do with diligence, nor do I say that none of them have work to do with diligence.

I say that, when it comes to the six fields of contact, mendicants don’t have work to do with diligence if they are perfected, with defilements ended, having completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their own goal, utterly ended the fetter of continued existence, and become rightly freed through enlightenment. Why is that?

They’ve done their work with diligence, and are incapable of negligence.

I say that, when it comes to the six fields of contact, mendicants do have work to do with diligence if they are trainees, who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. Why is that?

There are sights known by the eye that are pleasant and also those that are unpleasant. Though experiencing them again and again they don’t occupy the mind. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed in samādhi. Seeing this fruit of diligence, I say that those mendicants have work to do with diligence when it comes to the six fields of contact. …

There are ideas known by the mind that are pleasant and also those that are unpleasant. Though experiencing them again and again they don’t occupy the mind. Their energy is roused up and unflagging, their mindfulness is established and lucid, their body is tranquil and undisturbed, and their mind is immersed in samādhi. Seeing this fruit of diligence, I say that those mendicants have work to do with diligence when it comes to the six fields of contact."

IV. Phẩm Devadaha

134. I. Sát Na Ở Devadaha (S.iv,124)

1. Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

3. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?

4. Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật, đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.

5. Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?

6. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

7-10. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

11. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

SN 35.135 Opportunity Khaṇasutta

"You’re fortunate, mendicants, so very fortunate, to have the opportunity to lead the spiritual life. I’ve seen the hell called ‘Related to the Six Fields of Contact’. There, whatever sight you see with your eye is unlikable, not likable; undesirable, not desirable; unpleasant, not pleasant.

Whatever sound you hear …

Whatever odor you smell …

Whatever flavor you taste …

Whatever touch you feel …

Whatever idea you know with your mind is unlikable, not likable; undesirable, not desirable; unpleasant, not pleasant. You’re fortunate, mendicants, so very fortunate, to have the opportunity to lead the spiritual life. I’ve seen the heaven called ‘Related to the Six Fields of Contact’. There, whatever sight you see with your eye is likable, not unlikable; desirable, not undesirable; pleasant, not unpleasant.

Whatever sound … odor … flavor … touch …

Whatever idea you know with your mind is likable, not unlikable; desirable, not undesirable; pleasant, not unpleasant. You’re fortunate, mendicants, so very fortunate, to have the opportunity to lead the spiritual life."

135. II. Thâu Nhiếp (S.iv, 126)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội (khana) để sống Phạm hạnh.

3. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các địa ngục gọi là sáu xúc xứ địa ngục. Ở đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy sắc không khả lạc, không phải sắc khả lạc; thấy sắc không khả hỷ, không phải sắc khả hỷ; thấy sắc không khả ý, không phải sắc khả ý. Phàm tai nghe tiếng gì… Phàm mũi ngửi hương gì… Phàm lưỡi nếm vị gì… Phàm thân cảm xúc gì… Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp không khả lạc, không phải pháp khả lạc; nhận thức không phải khả hỷ, không phải pháp khả hỷ; nhận thức pháp không khả ý, không phải pháp khả ý.

Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội để sống Phạm hạnh.

4. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các Thiên giới gọi là sáu xúc xứ Thiên giới. Tại đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy sắc khả lạc, không phải sắc không lạc; thấy sắc khả hỷ, không phải sắc không khả hỷ; thấy sắc khả ý, không phải sắc không khả ý. Phàm tai nghe tiếng gì… Phàm mũi ngửi hương gì… Phàm lưỡi nếm vị gì… Phàm thân cảm xúc gì… Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp khả lạc, không phải không khả lạc; nhận thức pháp khả hỷ, không phải không khả hỷ; nhận thức pháp khả ý, không phải pháp không khả ý.

Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội để sống Phạm hạnh.

SN 35.136 Liking Sights (1st) Paṭhamarūpārāmasutta

"Mendicants, gods and humans like sights, they love them and enjoy them. But when sights perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering.

Gods and humans like sounds … smells … tastes … touches … ideas, they love them and enjoy them. But when ideas perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering.

The Realized One has truly understood the origin, ending, gratification, drawback, and escape of sights, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When sights perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily.

The Realized One has truly understood the origin, ending, gratification, drawback, and escape of sounds … smells … tastes … touches … ideas, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When ideas perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Sights, sounds, tastes, smells,
touches and ideas, the lot of them—
they’re likable, desirable, and pleasurable
as long as you can say that they exist.

For all the world with its gods,
this is what they deem happiness.
And where they cease
is deemed as suffering for them.

The noble ones have seen that happiness
is the cessation of substantial reality.
This insight by those who see
contradicts the whole world.

What others say is happiness
the noble ones say is suffering.
What others say is suffering
the noble ones know as happiness.

See, this teaching is hard to understand,
it confuses the ignorant.
There is darkness for the shrouded;
blackness for those who don’t see.

But the good are open;
like light for those who see.
Though close, they do not understand,
those fools inexpert in the teaching.

They’re mired in desire to be reborn,
flowing along the stream of lives,
mired in Māra’s dominion:
this teaching isn’t easy for them to understand.

Who, apart from the noble ones,
is qualified to understand this state?
Having rightly understood this state,
the undefiled are fully extinguished."

136. III. Không Thâu Nhiếp (2) (S.iv 126)

1. …

2. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ… thích thú tiếng… thích thú hương… thích thú vị… thích thú xúc… Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,chư Thiên và Người đời sống đau khổ.

3. Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly của sắc, không có thích thú sắc, không có ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc… không thích thú tiếng… không thích thú hương… không thích thú vị… không thích thú xúc…

Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống an lạc.

4. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Và toàn thể các pháp,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Như vậy, chúng được gọi.

2) Chư Thiên và Người đời,
Xem chúng là khả lạc,
Chỗ nào chúng đoạn diệt,
Thiên, Nhân thấy đau khổ.

3) Bậc Thánh thấy an lạc,
Khi thân kiến đoạn diệt,
Bậc Thánh xem trái ngược,
Mọi quan điểm của đời.

4) Ðiều người gọi là lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ.
Ðiều người gọi là khổ,
Thánh nhân biết là lạc.

5) Thấy pháp khó nhận biết,
Kẻ vô trí mê loạn,
Tối tăm đối vô minh,
Mù lòa đối không thấy.

6) Thiện nhân mắt rộng mở,
Thấy rõ ràng ánh sáng,
Sống gần, biết rõ ràng,
Thuần thục trong pháp lớn.

7) Bị tham sanh chinh phục,
Bị dòng hữu cuốn trôi,
Bị Ác ma chi phối,
Không giác ngộ pháp này.

8) Ngoài Thánh không có ai,
Giác ngộ con đường này,
Con đường đạt Niết-bàn,
Chánh trí thoát lậu hoặc.

SN 35.137 Liking Sights (2nd) Dutiyarūpārāmasutta

"Mendicants, gods and humans like sights, they love them and enjoy them. But when sights perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering. …

The Realized One has truly understood the origin, ending, gratification, drawback, and escape of sights, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When sights perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily. …"

5. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ… thích thú tiếng… thích thú hương… thích thú vị… thích thú xúc… Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ.

6. Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc, không thích thú sắc, không ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc… không thích thú tiếng… không thích thú hương… không thích thú vị… không thích thú xúc… Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị các pháp kích thích. Khi các pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc.

SN 35.138 Not Yours (1st) Paṭhamanatumhākasutta

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours? The eye isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

The ear … nose … tongue … body … mind isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

Suppose a person was to carry off the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove, or burn them, or do what they want with them. Would you think: ‘This person is carrying us off, burning us, or doing what they want with us’?"

“No, sir. Why is that? Because to us that’s neither self nor belonging to self.”

"In the same way, the eye isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness.

The ear … nose … tongue … body … mind isn’t yours: give it up. Giving it up will be for your welfare and happiness."

137. V. Các Lậu (1) (S.iv,128)

1. …

2. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Jeta này, có người mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy duyên làm một việc gì đối với cỏ, củi, cành và lá, thời các Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người ấy mang các Ông đi, đốt các Ông, hay tùy duyên làm một việc gì với các Ông?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không phải tự ngã, không thuộc tự ngã.

10. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Mắt không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 35.139 Not Yours (2nd) Dutiyanatumhākasutta

"Mendicants, give up what’s not yours. Giving it up will be for your welfare and happiness. And what isn’t yours? Sights aren’t yours: give them up. Giving them up will be for your welfare and happiness.

Sounds, smells, tastes, touches, and ideas aren’t yours: give them up. Giving them up will be for your welfare and happiness.

Suppose a person was to carry off the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove …

In the same way, sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas aren’t yours: give them up. Giving them up will be for your welfare and happiness."

138. V. Các Lậu (2) (S.iv,129)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng… (Như kinh trước, chỉ khác là thế vào các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, và các pháp).

SN 35.140 Interior and Cause Are Impermanent Ajjhattaaniccahetusutta

"Mendicants, the eye is impermanent. The cause and reason that gives rise to the eye is also impermanent. Since the eye is produced by what is impermanent, how could it be permanent?

The ear … nose … tongue … body … mind is impermanent. The cause and reason that gives rise to the mind is also impermanent. Since the mind is produced by what is impermanent, how could it be permanent?

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

139. VI. Nội Căn Do Nhân (1) (S.iv,129)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến mắt khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, mắt do nhân vô thường khởi lên, từ đâu sẽ thường còn được?

4-7. … tai… mũi… lưỡi… thân…

8. Này các Tỷ-kheo, ý là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến ý khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, ý do nhân vô thường khởi lên, từ đâu có thể thường được?

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.141 Interior and Cause Are Suffering Ajjhattadukkhahetusutta

"Mendicants, the eye is suffering. The cause and reason that gives rise to the eye is also suffering. Since the eye is produced by what is suffering, how could it be happiness?

The ear … nose … tongue … body … mind is suffering. The cause and reason that gives rise to the mind is also suffering. Since the mind is produced by what is suffering, how could it be happiness?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

140. VII. Nội Căn Do Nhân (2) (S.iv,130)

(Như kinh trên, chỉ khác khổ thế cho vô thường) …

SN 35.142 Interior and Cause Are Not-Self Ajjhattānattahetusutta

"Mendicants, the eye is not-self. The cause and reason that gives rise to the eye is also not-self. Since the eye is produced by what is not-self, how could it be self?

The ear … nose … tongue … body … mind is not-self. The cause and reason that gives rise to the mind is also not-self. Since the mind is produced by what is not-self, how could it be self?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

141. VIII. Nội Căn Do Nhân (3) (S.iv,130)

(Như kinh trên, chỉ khác vô ngã thế cho vô thường) …

SN 35.143 Exterior and Cause Are Impermanent Bāhirāniccahetusutta

"Mendicants, sights are impermanent. The cause and reason that gives rise to sights is also impermanent. Since sights are produced by what is impermanent, how could they be permanent?

Sounds …

Smells …

Tastes …

Touches …

Ideas are impermanent. The cause and reason that gives rise to ideas is also impermanent. Since ideas are produced by what is impermanent, how could they be permanent?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

SN 35.144 Exterior and Cause Are Suffering Bāhiradukkhahetusutta

"Mendicants, sights are suffering. The cause and reason that gives rise to sights is also suffering. Since sights are produced by what is suffering, how could they be happiness?

Sounds …

Smells …

Tastes …

Touches …

Ideas are suffering. The cause and reason that gives rise to ideas is also suffering. Since ideas are produced by what is suffering, how could they be happiness?

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

SN 35.145 Exterior and Cause Are Not-Self Bāhirānattahetusutta

"Mendicants, sights are not-self. The cause and reason that gives rise to sights is also not-self. Since sights are produced by what is not-self, how could they be self?

Sounds …

Smells …

Tastes …

Touches …

Ideas are not-self. The cause and reason that gives rise to ideas is also not-self. Since ideas are produced by what is not-self, how could they be self?

Seeing this … Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

142 - 144. IX - X. Ngoại Căn Do Nhân (1) (2)(3)(S.iv,131)

(Như các kinh trước, chỉ thế vào sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, các pháp)…

The Chapter on the Old and the New

SN 35.146 The Cessation of Deeds Kammanirodhasutta

"Mendicants, I will teach you old deeds, new deeds, the cessation of deeds, and the practice that leads to the cessation of deeds. Listen and apply your mind well, I will speak. …

And what is old deeds?

The eye is old deeds. It should be seen as produced by choices and intentions, as something to be felt.

The ear … nose … tongue … body … mind is old deeds. It should be seen as produced by choices and intentions, as something to be felt.

This is called old deeds.

And what is new deeds?

The deeds you currently perform by way of body, speech, and mind.

These are called new deeds.

And what is the cessation of deeds?

When you experience freedom due to the cessation of deeds by body, speech, and mind.

This is called the cessation of deeds.

And what’s the practice that leads to the cessation of deeds?

It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

This is called the practice that leads to the cessation of deeds.

So, mendicants, I’ve taught you old deeds, new deeds, the cessation of deeds, and the practice that leads to the cessation of deeds.

Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicants! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you."

V. Mới Và Cũ

145. I. Nghiệp (S.iv,132)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về các nghiệp mới và cũ, sự đoạn diệt các nghiệp, con đường đưa đến sự đoạn diệt các nghiệp. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Sự đoạn diệt thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp, nhờ vậy cảm thấy giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp đoạn diệt.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt? Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã giảng cho các Ông nghiệp cũ, đã giảng nghiệp mới, đã giảng nghiệp đoạn diệt, đã giảng con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

8. Này các Tỷ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.

9. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

SN 35.147 The Impermanent as Conducive to Extinguishment Aniccanibbānasappāyasutta

"Mendicants, I will teach you a practice that’s conducive to extinguishment. Listen …

And what is that practice that’s conducive to extinguishment?

It’s when a mendicant sees that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also impermanent.

They see that the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind-consciousness, and mind contact are impermanent. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also impermanent.

This is that practice that’s conducive to extinguishment."

146. II. Thích ứng (1) (S.iv,133)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy mắt là vô thường, thấy các sắc là vô thường, thấy nhãn thức là vô thường, thấy nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.

4-5. … tai… mũi…

6-7. … lưỡi… thân…

8. … thấy ý là vô thường, thấy các pháp là vô thường, thấy ý thức là vô thường, thấy ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.

9. Và này các Tỷ-kheo, đây là con đường thích ứng với Niết-bàn.

SN 35.148 The Suffering as Conducive to Extinguishment Dukkhanibbānasappāyasutta

"Mendicants, I will teach you a practice that’s conducive to extinguishment. Listen …

And what is that practice that’s conducive to extinguishment?

It’s when a mendicant sees that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are suffering. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also suffering.

They see that the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind-consciousness, and mind contact are suffering. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also suffering.

This is that practice that’s conducive to extinguishment."

SN 35.149 Not-Self as Conducive to Extinguishment Anattanibbānasappāyasutta

"Mendicants, I will teach you a practice that’s conducive to extinguishment. Listen …

And what is that practice that’s conducive to extinguishment?

It’s when a mendicant sees that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are not-self. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also not-self.

They see that the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind-consciousness, and mind contact are not-self. And they see that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also not-self.

This is that practice that’s conducive to extinguishment."

147-148. III-IV. Thích ứng (2) (3) (S.iv,134)

(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào khổ và vô ngã)

SN 35.150 A Practice Conducive to Extinguishment Nibbānasappāyapaṭipadāsutta

"Mendicants, I will teach you a practice that’s conducive to extinguishment. Listen …

And what is that practice that’s conducive to extinguishment?

What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Are sights … eye consciousness … eye contact …

The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact: is that permanent or impermanent?"

“Impermanent, sir.”

“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”

“Suffering, sir.”

“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”

“No, sir.”

"Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact.

They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. …

They understand: ‘… there is nothing further for this place.’

This is that practice that’s conducive to extinguishment."

149. V. Thích ứng (4) (S.iv,135)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn…

(Như kinh 32)

SN 35.151 A Resident Pupil Antevāsikasutta

"Mendicants, this spiritual life is lived without a resident pupil and without a teaching master. A mendicant who lives with a resident pupil and a teaching master lives in suffering and discomfort. A mendicant who lives without a resident pupil and a teaching master lives in happiness and comfort.

And how does a mendicant who lives with a resident pupil and a teaching master live in suffering and discomfort?

When a mendicant sees a sight with the eye, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. Those qualities reside within. Since they have bad unskillful qualities residing within, they’re said to have a resident pupil. Those qualities master them. Since they’re mastered by bad unskillful qualities, they’re said to have a teaching master.

Furthermore, when a mendicant hears … smells … tastes … touches … knows an idea with the mind, bad, unskillful phenomena arise: memories and thoughts prone to fetters. Those qualities reside within. Since they have bad unskillful qualities residing within, they’re said to have a resident pupil. Those qualities master them. Since they’re mastered by bad unskillful qualities, they’re said to have a teaching master. That’s how a mendicant who lives with a resident pupil and a teaching master lives in suffering and discomfort.

And how does a mendicant who lives without a resident pupil and a teaching master live in happiness and comfort?

When a mendicant sees a sight with the eye, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts prone to fetters. Those qualities don’t reside within. Since they don’t have bad unskillful qualities residing within, they’re said to not have a resident pupil. Those qualities don’t master them. Since they’re not mastered by bad unskillful qualities, they’re said to not have a teaching master.

Furthermore, when a mendicant hears … smells … tastes … touches … knows an idea with the mind, bad, unskillful phenomena don’t arise: memories and thoughts prone to fetters. Those qualities don’t reside within. Since they don’t have bad unskillful qualities residing within, they’re said to not have a resident pupil. Those qualities don’t master them. Since they’re not mastered by bad unskillful qualities, they’re said to not have a teaching master.

That’s how a mendicant who lives without a resident pupil and a teaching master lives in happiness and comfort.

This spiritual life is lived without a resident pupil and without a teaching master. A mendicant who lives with a resident pupil and a teaching master lives in suffering and discomfort. A mendicant who lives without a resident pupil and a teaching master lives in happiness and comfort."

150. VI. Ðệ Tử Nội Trú (S.iv,136)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, không có các đệ tử nội trú, không có Ðạo Sư. Phạm hạnh này được sống.

4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư là sống an lạc, thoải mái.

5. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị khởi lên trói buộc, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú trong vị ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát (Samudàcaranti) vị ấy; các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy, được gọi là Ðạo sư.

7-10. … khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc khởi lên, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú ở trong vị ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy, được gọi là có Ðạo sư.

12. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư, là sống đau khổ, không có thoải mái.

13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc thoải mái?

14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc không khởi lên, chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp không nội trú trong vị ấy. Cho nên, vị ấy được gọi là sống không có đệ tử nội trú. Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp không theo sát vị ấy. Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.

15-18. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

19. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng không khởi lên, chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp không nội trú ở trong vị ấy. Do vậy, được gọi là sống không có đệ tử nội trú. Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp không theo sát vị ấy. Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.

20. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.

Ðây, này các Tỷ-kheo, được gọi là Phạm hạnh không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.

21. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc, thoải mái.

SN 35.152 What’s the Purpose of the Spiritual Life? Kimatthiyabrahmacariyasutta

"Mendicants, if wanderers who follow another religion were to ask you: ‘Reverends, what’s the purpose of leading the spiritual life under the ascetic Gotama?’

You should answer them: ‘The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand suffering.’

If wanderers of other religions were to ask you: ‘Reverends, what is that suffering?’

You should answer them: 'The eye is suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this. Sights … Eye consciousness … Eye contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this.

The ear … nose … tongue … body … mind … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also suffering. The purpose of living the spiritual life under the Buddha is to completely understand this. This is that suffering. The purpose of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand this.’

When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them."

151. VII. Với Mục Ðích Gì? (S.iv,138)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Có cái gì, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?”; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

4. “Này chư Hiền, vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn”.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Thế nào, này chư Hiền, là vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?”; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11. "Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Nhãn xúc là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

12. Ðây là khổ, này chư Hiền, vì liễu tri khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".

13. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời như vậy cho những du sĩ ngoại đạo ấy.

SN 35.153 Is There a Method? Atthinukhopariyāyasutta

“Mendicants, is there a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment? That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”

“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”

“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:

"There is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’

And what is that method? Take a mendicant who sees a sight with the eye. When they have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I have greed, hate, and delusion in me.’ When they don’t have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I don’t have greed, hate, and delusion in me.’ Since this is so, are these things understood by faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation?"

“No, sir.”

“Aren’t they understood by seeing them with wisdom?”

“Yes, sir.”

"This is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’

Furthermore, a mendicant hears a sound … smells an odor … tastes a flavor … feels a touch … knows an idea with the mind. When they have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I have greed, hate, and delusion in me.’ When they don’t have greed, hate, and delusion in them, they understand ‘I don’t have greed, hate, and delusion in me.’ Since this is so, are these things understood by faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation?"

“No, sir.”

“Aren’t they understood by seeing them with wisdom?”

“Yes, sir.”

“This too is a method—apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation—that a mendicant can rely on to declare their enlightenment. That is: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”

152. VIII. Có Pháp Môn Nào? (S.iv,138)

1-2. …

3. − Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoaụi kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận… trạng thái này nữa”.

6. Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?

− Thưa phải, bạch Thế Tôn.

− Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

8-11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: “Nội tâm ta có tham, sân, si”, hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?

− Thưa phải, bạch Thế Tôn.

13. − Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.154 Endowed With Faculties Indriyasampannasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, they speak of someone who is ‘accomplished regarding the faculties’. How is someone accomplished regarding the faculties defined?”

"Mendicant, if someone meditates observing rise and fall in the eye faculty, they grow disillusioned with the eye faculty.

If they meditate observing rise and fall in the ear faculty … nose faculty … tongue faculty … body faculty … mind faculty, they grow disillusioned with the mind faculty.

Being disillusioned, desire fades away. … When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is how someone who is accomplished regarding the faculties is defined."

153. IX. Căn (S.iv,140)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Các căn được thành tựu”, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, các căn được thành tựu?

4. − Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong nhãn căn, vị ấy nhàm chán đối với nhãn căn… trong nhĩ căn… trong tỷ căn… trong thiệt căn… trong thân căn… Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong ý căn, vị ấy nhàm chán đối với ý căn. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã được giải thoát”.Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

5. Cho đến như vậy, Tỷ-kheo thành tựu các căn.

SN 35.155 A Dhamma Speaker Dhammakathikapucchasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, they speak of a ‘Dhamma speaker’. How is a Dhamma speaker defined?”

"If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding the eye, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’.

If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment with the ear … nose … tongue … body … mind, for its fading away and cessation, they’re qualified to be called a ‘mendicant who speaks on Dhamma’.

If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding the mind, they’re qualified to be called a ‘mendicant who practices in line with the teaching’.

If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding the mind, they’re qualified to be called a ‘mendicant who has attained extinguishment in this very life’."

the fourth fifty

154. X. Vị Thuyết Pháp (S.iv,141)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch

Thế Tôn, là vị thuyết pháp?

4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thành tựu pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo chứng được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-8. … tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư

The Chapter on the End of Relishing

SN 35.156 The Interior and the End of Relishing Ajjhattanandikkhayasutta

"Mendicants, the eye really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.

The ear … nose … tongue … body … mind really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed."

I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận

155. I. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (S.iv,142)

1. …

3. − Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy mắt vô thường là vô thường, thấy vậy là chánh tri kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận (nandi) nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

4-7. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy tai vô thường là vô thường… thấy mũi vô thường là vô thường… thấy lưỡi vô thường là vô thường… thấy thân vô thường là vô thường…

8. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy ý vô thường là vô thường, thấy vậy là chánh tri kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

SN 35.157 The Exterior and the End of Relishing Bāhiranandikkhayasutta

"Mendicants, sights really are impermanent. A mendicant sees that they are impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.

Sounds … Smells … Tastes … Touches … Ideas really are impermanent. A mendicant sees that they are impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed."

156. II. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (2)(S.iv,142)

(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, các pháp).

SN 35.158 Focus, the Interior, and the End of Relishing Ajjhattaaniccanandikkhayasutta

"Mendicants, rationally apply the mind to the eye. Truly see the impermanence of the eye. When a mendicant does this, they grow disillusioned with the eye. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.

Rationally apply the mind to the ear … nose … tongue … body … mind. Truly see the impermanence of the mind. When a mendicant does this, they grow disillusioned with the mind. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed."

157. III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3)(S.iv,142)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

4-7. Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý tai… mũi… lưỡi… thân…

8. Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

SN 35.159 Focus, the Exterior, and the End of Relishing Bāhiraaniccanandikkhayasutta

"Mendicants, rationally apply the mind to sights. Truly see the impermanence of sights. When a mendicant does this, they grow disillusioned with sights. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.

Rationally apply the mind to sounds … smells … tastes … touches … ideas. Truly see the impermanence of ideas. When a mendicant does this, they grow disillusioned with ideas. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed."

158. IV. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (4)(S.iv,143)

(Như kinh trên chỉ thế vào các sắc, tiếng, hương, vị, xúc và các pháp )

SN 35.160 On Immersion at Jīvaka’s Mango Grove Jīvakambavanasamādhisutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha in Jīvaka’s Mango Grove. There the Buddha addressed the mendicants:

"Mendicants, develop immersion. For a mendicant with immersion, things become truly clear. And what becomes truly clear?

It becomes truly clear that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And it also becomes truly clear that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is impermanent.

It becomes truly clear that the ear … nose … tongue … body … mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. And it also becomes truly clear that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is impermanent.

Mendicants, develop immersion. For a mendicant with immersion, things become truly clear."

159. V. Trong Vườn Xoài Jiivaka (1) (S,iv,143)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại vườn xoài Jiivaka.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

3. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có tâm định tĩnh, sự vật như thật hiển hiện. Và sự vật gì như thật hiển hiện?

4. Mắt vô thường như thật hiển hiện. Các sắc vô thường như thật hiển hiện. Nhãn thức vô thường như thật hiển hiện. Nhãn xúc vô thường như thật hiển hiện. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy vô thường như thật hiển hiện.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý vô thường như thật hiển hiện. Các pháp vô thường như thật hiển hiện. Ý thức vô thường như thật hiển hiện. Ý xúc vô thường như thật hiển hiện. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy vô thường như thật hiển hiện.

10. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Tỷ-kheo có tâm định tĩnh, sự vật như thật hiển hiện.

SN 35.161 On Retreat at Jīvaka’s Mango Grove Jīvakambavanapaṭisallānasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha in Jīvaka’s Mango Grove. There the Buddha addressed the mendicants:

"Mendicants, meditate in retreat. For a mendicant who meditates in retreat, things become truly clear. And what becomes truly clear?

It becomes truly clear that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And it also becomes truly clear that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is impermanent. …

It becomes truly clear that the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. And it also becomes truly clear that the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is impermanent.

Mendicants, meditate in retreat. For a mendicant who meditates in retreat, things become truly clear."

160. VI. Trong Vườn Xoài Jiivaka (2) (S.iv,144)

SN 35.162 With Koṭṭhita on Impermanence Koṭṭhikaaniccasutta

Then Venerable Mahākoṭṭhita went up to the Buddha … and asked him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

"Koṭṭhita, you should give up desire for what is impermanent. And what is impermanent? The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent: you should give up desire for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also impermanent: you should give up desire for it.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent: you should give up desire for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also impermanent: you should give up desire for it.

Koṭṭhita, you should give up desire for what is impermanent."

161. VII. Kotthika (1) (S.iv,145)

1. …

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

− Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này Kotthika, cái gì là vô thường?

4. Mắt là vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Các sắc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Nhãn thức là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Nhãn xúc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Các pháp là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Ý thức là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Ý xúc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

10. Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

SN 35.163 With Koṭṭhita on Suffering Koṭṭhikadukkhasutta

Then Venerable Mahākoṭṭhita … said to the Buddha:

“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”

"Koṭṭhita, you should give up desire for what is suffering. And what is suffering?

The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are suffering: you should give up desire for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also suffering; you should give up desire for it.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are suffering: you should give up desire for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also suffering: you should give up desire for it.

Koṭṭhita, you should give up desire for what is suffering."

SN 35.164 With Koṭṭhita on Not-Self Koṭṭhikaanattasutta

"Koṭṭhita, you should give up desire for what is not-self. And what is not-self?

The eye, sights, eye consciousness, and eye contact are not-self: you should give up desire for them. The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also not-self: You should give up desire for it.

The ear … nose … tongue … body … The mind, ideas, mind consciousness, and mind contact … The pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also not-self: you should give up desire for it.

Koṭṭhita, you should give up desire for what is not-self."

162-163. VIII-IX. Kotthika (2) (3)(S,iv,146)

(Hai kinh này giống kinh trên chỉ khác là một kinh nói đến khổ, một kinh nói đến vô ngã )

SN 35.165 Giving Up Wrong View Micchādiṭṭhipahānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, how does one know and see so that wrong view is given up?”

"Mendicant, knowing and seeing the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as impermanent, wrong view is given up. …

And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as impermanent, wrong view is given up.

This is how to know and see so that wrong view is given up."

164. X. Tà Kiến (S.iv,147)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, tà kiến được đoạn trừ?

4-9. − Tỷ-kheo do biết và thấy mắt là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Do biết và thấy nhãn thức là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ… Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ.

10. Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, do thấy như vậy nên tà kiến được đoạn trừ.

SN 35.166 Giving Up Substantialist View Sakkāyadiṭṭhipahānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, how does one know and see so that substantialist view is given up?”

"Mendicant, knowing and seeing the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as suffering, substantialist view is given up. …

And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as suffering, substantialist view is given up.

This is how to know and see so that substantialist view is given up."

165. XI. Thân Kiến (S.iv,147)

(Như kinh trên, chỉ thế thân kiến cho tà kiến …).

SN 35.167 Giving Up View of Self Attānudiṭṭhipahānasutta

Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:

“Sir, how does one know and see so that view of self is given up?”

"Mendicant, knowing and seeing the eye, sights, eye consciousness, and eye contact as not-self, view of self is given up. …

And also knowing and seeing the pleasant, painful, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact as not-self, view of self is given up."

166. XII. Ngã Kiến (S.iv,148)

(Như kinh trên, chỉ thế vào ngã kiến ).

The Chapter on Sixty Abbreviated Texts

SN 35.168 Desire for the Impermanent Interior Ajjhattaaniccachandasutta

"Mendicants, you should give up desire for what is impermanent. And what is impermanent?

The eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent: you should give up desire for them. You should give up desire for what is impermanent."

II. Phẩm Sáu Mươi Lược Thuyết

167. I. Do Dục Niệm (18 kinh) (1) (S.iv,148)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gì vô thường, ở đấy, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường? (Như kinh 161, chỉ khác, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ).

SN 35.169 Greed for the Impermanent Interior Ajjhattaaniccarāgasutta

"Mendicants, you should give up greed for what is impermanent. And what is impermanent?

The eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent …"

II. Do Dục Niệm (2)

(Như kinh trên, chỉ thế tham (ràga) cho dục niệm ).

SN 35.170 Desire and Greed for the Impermanent Interior Ajjhattaaniccachandarāgasutta

"Mendicants, you should give up desire and greed for what is impermanent. And what is impermanent?

The eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent …"

III. Do Dục Niệm (3)

(Như kinh trên, chỉ thế dục và tham cho dục niệm)

SN 35.171–173 Desire, Etc. for the Suffering Interior Dukkhachandādisutta

"Mendicants, you should give up desire … greed … desire and greed for what is suffering. And what is suffering?

The eye, ear, nose, tongue, body, and mind are suffering …"

168. IV-VI. Do Dục Niệm (4), (5), (6). (S.iv,149)

1-2. …

3. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?

4. Mắt là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là khổ, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.174–176 Desire, Etc. for the Not-Self Interior Anattachandādisutta

"Mendicants, you should give up desire … greed … desire and greed for what is not-self. And what is not-self?

The eye, ear, nose, tongue, body, and mind are not-self …"

169. VII-IX. Do Lòng Dục (7), (8), (9), (S.iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô ngã?

4. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

10. Cái gì là vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.177–179 Desire, Etc. for the Impermanent Exterior Bāhirāniccachandādisutta

"Mendicants, you should give up desire … greed … desire and greed for what is impermanent. And what is impermanent?

Sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent …"

170. X-XII. Do Lòng Dục (10), (11), (12) (S,iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?

4. Các sắc là vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp là vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.180–182 Desire, Etc. for the Suffering Exterior Bāhiradukkhachandādisutta

"Mendicants, you should give up desire … greed … desire and greed for what is suffering. And what is suffering?

Sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are suffering …"

171. XIII-XV. Do Lòng Dục (13), (14), (15) (S.iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?

4. Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

SN 35.183–185 Desire, Etc. for the Not-Self Exterior Bāhirānattachandādisutta

"Mendicants, you should give up desire … greed … desire and greed for what is not-self. And what is not-self?

Sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are not-self …"

172. XVI-XVIII. Do Lòng Dục (16), (17), (18) (S.iv,151)

1-2. …

3. − Cái gì vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô ngã?

4. Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì là vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

SN 35.186 The Interior Was Impermanent in the Past Ajjhattātītāniccasutta

"Mendicants, in the past the eye, ear, nose, tongue, body, and mind were impermanent.

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

173. XIX. Thuộc Quá Khứ (1)(9 kinh) (S.iv,151)

1-2. …

3-9. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc quá khứ.

10. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.187 The Interior Will Be Impermanent in the Future Ajjhattānāgatāniccasutta

“Mendicants, in the future the eye, ear, nose, tongue, body, and mind will be impermanent …”

XX. Thuộc Quá Khứ (2)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc vị lai… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc vị lai.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.188 The Interior Is Impermanent in the Present Ajjhattapaccuppannāniccasutta

“Mendicants, in the present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent …”

XXI. Thuộc Quá Khứ (3)

1-2. …

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc hiện tại. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.189–191 The Interior as Suffering in the Three Times Ajjhattātītādidukkhasutta

“Mendicants, in the past … future … present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are suffering …”

174. XXII-XXIV. Thuộc Quá Khứ, (4), (5), (6), (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.192–194 The Interior as Not-Self in the Three Times Ajjhattātītādianattasutta

“Mendicants, in the past … future … present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are not-self …”

175. XXV-XXVII. Thuộc Quá Khứ (7), (8), (9), (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.195–197 The Exterior as Impermanent in the Three Times Bāhirātītādianiccasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent …”

176. XXVIII-XXX. Thuộc Quá Khứ (9 kinh) (10), (11), (12) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.198–200 The Exterior as Suffering in the Three Times Bāhirātītādidukkhasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are suffering …”

177. XXXI-XXXIII. Thuộc Quá Khứ (13), (14), (15) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.201–203 The Exterior as Not-Self in the Three Times Bāhirātītādianattasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are not-self …”

178. XXXIV-XXXVI. Thuộc Quá Khứ (16), (17), (18) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.204 The Interior and What’s Impermanent in the Past Ajjhattātītayadaniccasutta

“Mendicants, in the past the eye, ear, nose, tongue, body, and mind were impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ …”

179. XXXVII. Cái Gì Vô Thường (18 kinh) (1)(S.iv,152)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Tai là vô thường… Mũi là vô thường… Lưỡi là vô thường… Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.205 The Interior and What’s Impermanent in the Future Ajjhattānāgatayadaniccasutta

“Mendicants, in the future the eye, ear, nose, tongue, body, and mind will be impermanent. What’s impermanent is suffering …”

XXXVIII. Cái Gì Vô Thường (2)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc vị lai. Cái gì vô thường là khổ… (như kinh trên, chỉ khác đây thuộc vị lai).

SN 35.206 The Interior and What’s Impermanent in the Present Ajjhattapaccuppannayadaniccasutta

“Mendicants, in the present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent. What’s impermanent is suffering. …”

XXXIX. Cái Gì Vô Thường (3)

(Như kinh trên, chỉ khác đây thuộc hiện tại)

SN 35.207–209 The Interior and What’s Suffering in the Three Times Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta

“Mendicants, in the past … future … present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are suffering. What’s suffering is not-self …”

180. XL-XLII. Cái Gì Vô Thường (4), (5), (6), (S.iv,154)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.210–212 The Interior and What’s Not-Self in the Three Times Ajjhattātītādiyadanattasutta

“Mendicants, in the past … future … present the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ …”

181. XLIII-XLV. Cái Gì Vô Thường (7), (8), (9) (S,iv,154)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi… (như trên)…

SN 35.213–215 The Exterior and What’s Impermanent in the Three Times Bāhirātītādiyadaniccasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent. What’s impermanent is suffering …”

182. XLVI - XLVIII. Cái Gì Vô Thường (10), (11), (12) (S.iv,154)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.216–218 The Exterior and What’s Suffering in the Three Times Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are suffering. What’s suffering is not-self …”

183. XLIX-LI. Cái Gì Vô Thường (13), (14), (15). (S.iv,155)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Các pháp là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.219–221 The Exterior and What’s Not-Self in the Three Times Bāhirātītādiyadanattasutta

“Mendicants, in the past … future … present sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ …”

184. LII-LIV. Cái Gì Vô Thường (16), (17), (18) (S.iv,155)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.222 The Interior as Impermanent Ajjhattāyatanaaniccasutta

"Mendicants, the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are impermanent.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

185. LV. Nội (3 kinh) (1) (S.iv,155)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.223 The Interior as Suffering Ajjhattāyatanadukkhasutta

"Mendicants, the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are suffering.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

LVI. Nội (2)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là khổ…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.224 The Interior as Not-Self Ajjhattāyatanaanattasutta

"Mendicants, the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are not-self.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

LVII. Nội (3)

1-2. …

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô ngã.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.225 The Exterior as Impermanent Bāhirāyatanaaniccasutta

"Mendicants, sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

186. LVIII. Ngoại (3 kinh) (1) (S.iv,156)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô thường…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.226 The Exterior as Suffering Bāhirāyatanadukkhasutta

"Mendicants, sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are suffering.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

LIX. Ngoại (2)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là khổ…

SN 35.227 The Exterior as Not-Self Bāhirāyatanaanattasutta

"Mendicants, sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are not-self.

Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’"

LX. Ngoại (3)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô ngã…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

The Chapter on the Ocean

SN 35.228 The Ocean (1st) Paṭhamasamuddasutta

"Mendicants, an unlearned ordinary person speaks of the ocean. But that’s not the ocean in the training of the Noble One. That’s just a large body of water, a large sea of water. For a person, the eye is an ocean, and its currents are made of sights.

Someone who can withstand those currents is said to have crossed over the ocean of the eye, with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over, the brahmin stands on the far shore.

For a person, the ear … nose … tongue … body … mind is an ocean, and its currents are made of ideas. Someone who can withstand those currents is said to have crossed over the ocean of the mind, with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over, the brahmin stands on the far shore."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

“A knowledge master who’s crossed
- the ocean so hard to cross,
with its saltwater crocodiles and monsters,
- its waves, whirlpools, and dangers;
they’ve completed the spiritual journey,
- and gone to the end of the world,
they’re called ‘one who has gone beyond’.”

III. Phẩm Biển

187. I. Biển (1) (S.iv,157)

2. − “Biển, biển”, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỷ-kheo, là một khối nước lớn, là một dòng nước lớn.

3-7. Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý, này các Tỷ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền.

9. Bậc Ðạo Sư nói như sau:

Ai vượt qua biển này,
Với cá mập, La-sát.
Với sóng biển hãi hùng,
Biển rất khó vượt qua,
Bậc tối thắng trí tuệ,
Ðã thành tựu Phạm hạnh,
Ðược gọi: “Ðến bờ kia”,
Ðã đạt thế giới biên.

SN 35.229 The Ocean (2nd) Dutiyasamuddasutta

"Mendicants, an unlearned ordinary person speaks of the ocean. But that’s not the ocean in the training of the Noble One. That’s just a large body of water, a large sea of water.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. This is called the ocean in the training of the Noble One. And it’s here that this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—is for the most part sunk. It’s become tangled like string, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, and it doesn’t escape the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. This is called the ocean in the training of the Noble One. And it’s here that this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—is for the most part sunk. It’s become tangled like string, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, and it doesn’t escape the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.

Those in whom greed, hate, and ignorance
have faded away;
have crossed the ocean so hard to cross,
with its saltwater crocodiles and monsters,
- its waves and dangers.

They’ve slipped their snares, given up death, and have no attachments.
They’ve given up suffering,
- so there are no more future lives.
They’ve come to an end, and cannot be measured;
and they’ve confounded the King of Death, I say."

188. II. Biển (2)(S.iv,157)

1. …

2. − “Biển, biển”, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một khối nước lớn, một dòng nước lớn.

3-5. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

6-7. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

8. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luôn hồi!

SN 35.230 The Simile of the Fisherman Bāḷisikopamasutta

"Mendicants, suppose a fisherman was to cast a baited hook into a deep lake. Seeing the bait, a fish would swallow it. And so the fish that swallowed the hook would meet with tragedy and disaster, and the fisherman can do what he wants with it.

In the same way, there are these six hooks in the world that mean tragedy and slaughter for living creatures. What six?

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant who has swallowed Māra’s hook. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant who has swallowed Māra’s hook. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.

There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant who hasn’t swallowed Māra’s hook. They’ve broken the hook, destroyed it. They haven’t met with tragedy and disaster, and the Wicked One cannot do with them what he wants.

There are sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant who hasn’t swallowed Māra’s hook. They’ve broken the hook, destroyed it. They haven’t met with tragedy and disaster, and the Wicked One cannot do with them what he wants."

189. III. Người Câu Cá (S.iv,158)

1. …

2. − Ai đoạn trừ được tham, sân và vô minh, người ấy vượt qua biển khó vượt này, với các loài cá mập, các loài La-sát, với các làn sóng hãi hùng khó vượt này.

Vượt trói buộc, thoát chết,
Không còn có sanh y,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Không còn phải tái sanh.
Sanh tử được đoạn diệt,
Bậc không thể so sánh,
Ta nói, vị như vậy,
Ðã hóa mù Thần chết.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá trong hồ nước sâu, quăng xuống một lưỡi câu có mắc mồi. Một con cá, với mắt nhìn vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá ấy vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có sáu lưỡi câu này ở trong đời, đưa đến bất hạnh cho các loài hữu tình, đưa đến tai hại cho các loài chúng sanh. Thế nào là sáu?

4-8. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức…

9. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

10-14. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ các sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức…

15. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

SN 35.231 The Simile of the Latex-Producing Tree Khīrarukkhopamasutta

"Mendicants, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, still has greed, hate, and delusion, and has not given them up. If even trivial sights come into their range of vision they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.

When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up. If even trivial thoughts come into the range of the mind they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.

Suppose there was a latex-producing tree—such as a peepal, a banyan, a wavy leaf fig, or a cluster fig—that’s a tender young sapling. If a man were to chop it here and there with a sharp axe, would latex come out?"

"Yes, sir.

Why is that? Because it still has latex."

"In the same way, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, still has greed, hate, and delusion, and has not given them up. If even trivial sights come into their range of vision they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.

When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up. If even trivial thoughts come into the range of the mind they overcome their mind, let alone those that are compelling. Why is that? Because they still have greed, hate, and delusion, and have not given them up.

Take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, has no greed, hate, and delusion left, and has given them up. If even compelling sights come into their range of vision they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.

When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up. If even compelling ideas come into the range of the mind they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.

Suppose there was a latex-producing tree—such as a peepal, a banyan, a wavy leaf fig, or a cluster fig—that’s dried up, withered, and decrepit. If a man were to chop it here and there with a sharp axe, would latex come out?"

“No, sir. Why is that? Because it has no latex left.”

"In the same way, take any monk or nun who, when it comes to sights known by the eye, has no greed, hate, and delusion left, and has given them up. If even compelling sights come into their range of vision they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up.

When it comes to sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind, they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up. If even compelling thoughts come into the range of the mind they don’t overcome their mind, let alone those that are trivial. Why is that? Because they have no greed, hate, and delusion left, and have given them up."

190. IV. Cây Có Nhựa (S.iv,159)

1. …

2-6. − Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

7. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assattha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.

9. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

10-14. Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

15. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

16. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si… si ấy đã đoạn tận… Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

SN 35.232 With Koṭṭhita Koṭṭhikasutta

At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:

“Reverend Sāriputta, which is it? Is the eye the fetter of sights, or are sights the fetter of the eye? Is the ear … nose … tongue … body … mind the fetter of ideas, or are ideas the fetter of the mind?”

"Reverend Koṭṭhita, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.

Suppose there was a black ox and a white ox yoked by a single harness or yoke. Would it be right to say that the black ox is the yoke of the white ox, or the white ox is the yoke of the black ox?"

“No, reverend. The black ox is not the yoke of the white ox, nor is the white ox the yoke of the black ox. The yoke there is the single harness or yoke that they’re yoked by.”

"In the same way, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.

If the eye were the fetter of sights, or if sights were the fetter of the eye, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. However, since this is not the case, but the fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.

If the ear … nose … tongue … body … mind were the fetter of ideas, or if ideas were the fetter of the mind, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. However, since this is not the case, but the fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.

This too is a way to understand how this is so.

The Buddha has an eye with which he sees a sight. But he has no desire and greed, for his mind is well freed. The Buddha has an ear … nose … tongue … The Buddha has a body with which he senses touch. But he has no desire and greed, for his mind is well freed. The Buddha has a mind

with which he knows ideas. But he has no desire and greed, for his mind is well freed.

This too is a way to understand how the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them."

191. V. Kotthika (S.iv,162)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasii, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt?.. Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các pháp là kiết sử của ý?

4. − Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

5. Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không.

− Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử.

Này Hiền giả, cũng vậy, con mắt cũng không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

6. Này Hiền giả, nếu con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, này Hiền giả, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc cũng không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố… Này Hiền giả, nếu ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, ý không phải là kiết sử của các pháp, hay các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố.

7. Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của sắc. Sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

8. Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt. Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn… Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn.

9. Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

SN 35.233 With Kāmabhū Kāmabhūsutta

At one time the venerables Ānanda and Kāmabhū were staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.

Then in the late afternoon, Venerable Kāmabhū came out of retreat, went to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda:

“Reverend Ānanda, which is it? Is the eye the fetter of sights, or are sights the fetter of the eye? Is the ear … nose … tongue … body … mind the fetter of ideas, or are ideas the fetter of the mind?”

"Reverend Kāmabhū, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.

Suppose there was a black ox and a white ox yoked by a single harness or yoke. Would it be right to say that the black ox is the yoke of the white ox, or the white ox is the yoke of the black ox?"

“No, reverend. The black ox is not the yoke of the white ox, nor is the white ox the yoke of the black ox. The yoke there is the single harness or yoke that they’re yoked by.”

“In the same way, the eye is not the fetter of sights, nor are sights the fetter of the eye. The ear … nose … tongue … body … mind is not the fetter of ideas, nor are ideas the fetter of the mind. The fetter there is the desire and greed that arises from the pair of them.”

192. VI. Kàmabhù (S.iv,165)

(Tôn giả Kàmabhù đi đến Tôn giả Ananda và hỏi cùng một câu và được trả lời tương tự như kinh trước).

SN 35.234 With Udāyī Udāyīsutta

At one time the venerables Ānanda and Udāyī were staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.

Then in the late afternoon, Venerable Udāyī came out of retreat, went to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda:

“Reverend Ānanda, the Buddha has explained, opened, and illuminated in many ways how this body is not-self. Is it possible to explain consciousness in the same way? To teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal how consciousness is not-self?”

"It is possible, Reverend Udāyī.

Does eye consciousness arise dependent on the eye and sights?"

“Yes, reverend.”

“If the cause and reason that gives rise to eye consciousness were to totally and utterly cease without anything left over, would eye consciousness still be found?”

“No, reverend.”

"In this way, too, it can be understood how consciousness is not-self.

Does ear … nose … tongue … body … mind consciousness arise dependent on the mind and ideas?"

“Yes, reverend.”

“If the cause and reason that gives rise to mind consciousness were to totally and utterly cease without anything left over, would mind consciousness still be found?”

“No, reverend.”

"In this way, too, it can be understood how consciousness is not-self.

Suppose there was a person in need of heartwood. Wandering in search of heartwood, they’d take a sharp axe and enter a forest. There they’d see a big banana tree, straight and young and grown free of defects. They’d cut it down at the base, cut off the root, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn’t even find sapwood, much less heartwood.

In the same way, a mendicant sees these six fields of contact as neither self nor belonging to self. So seeing, they don’t grasp anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"

193. VII. Udàyi (S.iv,166)

1. Một thời Tôn giả Ananda và Tôn giả Udàyi trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi Tôn giả Udàyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm… rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi thưa với Tôn giả Ananda:

− Thưa Hiền giả Ananda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Có thể chăng, cũng như vậy tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã?

− Này Hiền giả Udàyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Cũng như vậy, có thể tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã.

4-6. Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức?

− Thưa phải, Hiền giả.

− Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời nhãn thức có thể nêu rõ được không?

− Thưa không, Hiền giả.

− Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã… Có phải do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức?.. Có phải do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức?.. Có phải do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức?.. Có phải do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức?..

9. Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức?

− Thưa phải, Hiền giả.

− Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời ý thức có thể nêu rõ được không?

− Thưa không, Hiền giả.

− Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã.

10. Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn, thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được giác cây, còn nói gì lõi cây.

11. Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không quán thấy có tự ngã và thuộc ngã. Do thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ một cái gì ở trong đời. Do không chấp thủ, vị ấy không tham luyến. Do không tham luyến, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.235 The Exposition on Burning Ādittapariyāyasutta

"Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching on burning. Listen …

And what is the exposition of the teaching on burning?

You’d be better off mutilating your eye faculty with a red-hot iron nail, burning, blazing and glowing, than getting caught up in the features by way of the details in sights known by the eye. For if you die at a time when your consciousness is still tied to gratification in the features or details, it’s possible you’ll go to one of two destinations: hell or the animal realm. I speak having seen this drawback.

You’d be better off mutilating your ear faculty with a sharp iron spike …

You’d be better off mutilating your nose faculty with a sharp nail cutter …

You’d be better off mutilating your tongue faculty with a sharp razor …

You’d be better off mutilating your body faculty with a sharp spear, burning, blazing and glowing, than getting caught up in the features by way of the details in touches known by the body. For if you die at a time when your consciousness is still tied to gratification in the features or details, it’s possible you’ll go to one of two destinations: hell or the animal realm. I speak having seen this drawback.

You’d be better off sleeping. For I say that sleep is useless, fruitless, and unconsciousness for the living. But while you’re asleep you won’t fall under the sway of such thoughts that would make you create a schism in the Saṅgha. I speak having seen this drawback.

A learned noble disciple reflects on this: 'Forget mutilating the eye faculty with a red-hot iron nail, burning, blazing and glowing! I’d better focus on the fact that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact is also impermanent.

Forget mutilating the ear faculty with a sharp iron spike, burning, blazing and glowing! I’d better focus on the fact that the ear, sounds, ear consciousness, and ear contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by ear contact is also impermanent.

Forget mutilating the nose faculty with a sharp nail cutter, burning, blazing and glowing! I’d better focus on the fact that the nose, smells, nose consciousness, and nose contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by nose contact is also impermanent.

Forget mutilating the tongue faculty with a sharp razor, burning, blazing and glowing! I’d better focus on the fact that the tongue, tastes, tongue consciousness, and tongue contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by tongue contact is also impermanent.

Forget mutilating the body faculty with a sharp spear, burning, blazing and glowing! I’d better focus on the fact that the body, touches, body consciousness, and body contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by body contact is also impermanent.

Forget sleeping! I’d better focus on the fact that the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact is also impermanent.’

Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they become disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by eye contact. They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises conditioned by mind contact.

Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.

They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’

This is the exposition of the teaching on burning."

194. VIII. Với Lửa Cháy (S.iv,168)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp?

2. Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không có chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các sắc do mắt nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

3. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các tiếng do tai nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung, hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này có thể xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

4-6. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu tỷ căn bị phá hủy với một cái kềm sắc bén, bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn… nếu thiệt căn bị hủy hoại với một con dao sắc bén hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn… nếu thân căn bị hủy hoại với một cái kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn…

7. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn là nằm ngủ. Nằm ngủ, Ta nói rằng là trống không đối với các loài có sinh mạng. Ta nói rằng là vô quả đối với các loài có sanh mạng. Ta nói rằng là mù mờ đối với các loài có sanh mạng. Vì rằng (nếu ngủ), thời không có suy nghĩ những vấn đề để có thể bị những vấn đề tư duy chinh phục, để có thể phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, thấy sự trống không (của nằm ngủ) và sự nguy hiểm (của tỉnh thức), Ta nói như vậy.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Hãy dừng lại, chớ để nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mắt là vô thường. Các sắc là vô thường. Nhãn thức là vô thường. Nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’

9. Hãy dừng lại, chớ để nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, tai là vô thường. Các tiếng là vô thường. Nhĩ thức là vô thường. Nhĩ xúc là vô thường. Phàm duyên nhĩ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

10. Hãy dừng lại, chớ để tỷ căn bị hủy hoại với một cái kềm bằng sắc bén bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mũi là vô thường. Các hương là vô thường. Tỷ thức là vô thường. Tỷ xúc là vô thường. Phàm duyên tỷ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

11. Hãy dừng lại, chớ để thiệt căn bị hủy hoại bởi một con dao sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, lưỡi là vô thường. Các vị là vô thường. Thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường. Phàm duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

12. Hãy dừng lại, chớ để thân căn bị hủy hoại bởi một lưỡi kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, thân căn là vô thường. Các xúc là vô thường. Thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường. Phàm duyên thân xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

13. Hãy dừng lại, chớ nằm ngủ (?). Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, ý căn là vô thường. Các pháp là vô thường. Ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’".

14. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

15. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn lửa cháy. Ðây là pháp môn Chánh pháp.

SN 35.236 The Simile of Hands and Feet (1st) Paṭhamahatthapādopamasutta

"Mendicants, when there are hands, picking up and putting down are found. When there are feet, coming and going are found. When there are joints, contracting and extending are found. When there’s a belly, hunger and thirst are found.

In the same way, when there’s an eye, pleasure and pain arise internally conditioned by eye contact. When there’s an ear … nose … tongue … body … mind, pleasure and pain arise internally conditioned by mind contact.

When there are no hands, picking up and putting down aren’t found. When there are no feet, coming and going aren’t found. When there are no joints, contracting and extending aren’t found. When there’s no belly, hunger and thirst aren’t found.

In the same way, when there’s no eye, pleasure and pain don’t arise internally conditioned by eye contact. When there’s no ear … nose … tongue … body … mind, pleasure and pain don’t arise internally conditioned by mind contact."

195. IX. Ví Dụ Tay Và Chân (1) (S.iv,171)

1. − Nếu có các tay, này các Tỷ-kheo, thời có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có thấy đi tới và đi lui. Nếu có tay chân, thời có thấy co lại và duỗi ra. Nếu có bụng, thời có thấy đói và khát.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có mắt và do duyên nhãn xúc, thời khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu có ý, do duyên ý xúc thời khởi lên nội lạc, nội khổ.

3. Nếu không có các tay, này các Tỷ-kheo, thời không có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu không có chân, thời không có thấy đi tới và đi lui. Nếu không có tay chân, thời không có thấy co lại và duỗi ra. Nếu không có bụng, thời không có thấy đói và khát.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu không có mắt, không có duyên nhãn xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu không có lưỡi, không có duyên thiệt xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu không có ý, không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ.

SN 35.237 The Simile of Hands and Feet (2nd) Dutiyahatthapādopamasutta

"Mendicants, when there are hands, there’s picking up and putting down. When there are feet, there’s coming and going. When there are joints, there’s contracting and extending. When there’s a belly, there’s hunger and thirst.

In the same way, when there’s an eye, pleasure and pain arise internally conditioned by eye contact. When there’s an ear … nose … tongue … body … mind, pleasure and pain arise internally conditioned by mind contact.

When there are no hands, there’s no picking up and putting down. When there are no feet, there’s no coming and going. When there are no joints, there’s no contracting and extending. When there’s no belly, there’s no hunger and thirst.

In the same way, when there’s no eye, pleasure and pain don’t arise internally conditioned by eye contact. When there’s no ear … nose … tongue … body … mind, pleasure and pain don’t arise internally conditioned by mind contact."

196. X. Ví Dụ Tay Và Chân (2) (S.iv,172)

1-4. − Nếu có các tay, này các Tỷ-kheo, thời có lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có đi tới và đi lui… Nếu không có ý và không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc và nội khổ…

The Chapter on the Simile of the Vipers

SN 35.238 The Simile of the Vipers Āsīvisopamasutta

"Mendicants, suppose there were four lethal poisonous vipers. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain.

They’d say to him, ‘Worthy man, here are four lethal poisonous vipers. They must be periodically picked up, washed, fed, and put to sleep. But when one or other of these four poisonous vipers gets angry with you, you’ll meet with death or deadly pain. So then, worthy man, do what has to be done.’

Then that man, terrified of those four poisonous vipers, would flee this way or that.

They’d say to him, ‘Worthy man, there are five deadly enemies chasing you, thinking: “When we catch sight of him, we’ll murder him right there!” So then, worthy man, do what has to be done.’

Then that man, terrified of those four poisonous vipers and those five deadly enemies, would flee this way or that.

They’d say to him, ‘Worthy man, there’s a sixth hidden killer chasing you with a drawn sword, thinking: “When I catch sight of him, I’ll chop off his head right there!” So then, worthy man, do what has to be done.’

Then that man, terrified of those four poisonous vipers and those five deadly enemies and the hidden killer, would flee this way or that.

He’d see an empty village. But whatever house he enters is vacant, deserted, and empty. And whatever vessel he touches is vacant, hollow, and empty.

They’d say to him, ‘Worthy man, there are bandits who raid villages, and they’re striking now. So then, worthy man, do what has to be done.’

Then that man, terrified of those four poisonous vipers and those five deadly enemies and the hidden killer and the bandits, would flee this way or that.

He’d see a large deluge, whose near shore is dubious and perilous, while the far shore is a sanctuary free of peril. But there’s no ferryboat or bridge for crossing over.

Then that man thought, ‘Why don’t I gather grass, sticks, branches, and leaves and make a raft? Riding on the raft, and paddling with my hands and feet, I can safely reach the far shore.’

And so that man did exactly that. Having crossed over and gone beyond, the brahmin stands on the far shore.

I’ve made up this simile to make a point. And this is the point.

‘Four lethal poisonous vipers’ is a term for the four principal states: the elements of earth, water, fire, and air.

‘Five deadly enemies’ is a term for the five grasping aggregates, that is: form, feeling, perception, choices, and consciousness.

‘The sixth hidden killer with a drawn sword’ is a term for relishing and greed.

‘Empty village’ is a term for the six interior sense fields. If an astute, competent, clever person investigates this in relation to the eye, it appears vacant, hollow, and empty. If an astute, competent, clever person investigates this in relation to the ear … nose … tongue … body … mind, it appears vacant, hollow, and empty.

‘Bandits who raid villages’ is a term for the six exterior sense fields. The eye is struck by both agreeable and disagreeable sights. The ear … nose … tongue … body … mind is struck by both agreeable and disagreeable ideas.

‘Large deluge’ is a term for the four floods: the floods of sensual pleasures, desire to be reborn, views, and ignorance.

‘The near shore that’s dubious and perilous’ is a term for substantial reality.

‘The far shore, a sanctuary free of peril’ is a term for extinguishment.

‘The raft’ is a term for the noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

‘Paddling with hands and feet’ is a term for rousing energy.

‘Crossed over, gone beyond, the brahmin stands on the shore’ is a term for a perfected one."

IV. Phẩm Rắn Ðộc

197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)

1-2. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi… gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.

4. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

5. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

6. Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.

8. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.

9. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.

10. Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:

11. Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

12. Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

13. Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.

14. Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không… Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.

15. Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.

16. Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

17. Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.

18. Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.

19. Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.

20. Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

21. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc Ala-hán.

SN 35.239 The Simile of the Chariot Rathopamasutta

"Mendicants, when a mendicant has three qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements. What three?

They guard the sense doors, eat in moderation, and are committed to wakefulness.

And how does a mendicant guard the sense doors?

When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.

When they hear a sound with their ears …

When they smell an odor with their nose …

When they taste a flavor with their tongue …

When they feel a touch with their body …

When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.

Suppose a chariot stood harnessed to thoroughbreds at a level crossroads, with a goad ready. A deft horse trainer, a master charioteer, might mount the chariot, taking the reins in his right hand and goad in the left. He’d drive out and back wherever he wishes, whenever he wishes.

In the same way, a mendicant trains to protect, control, tame, and pacify these six senses.

That’s how a mendicant guards the sense doors.

And how does a mendicant eat in moderation?

It’s when a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’

It’s like a person who puts ointment on a wound only so that it can heal; or who oils an axle only so that it can carry a load.

In the same way, a mendicant reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’

That’s how a mendicant eats in moderation.

And how is a mendicant committed to wakefulness?

It’s when a mendicant practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles.

This is how a mendicant is committed to wakefulness.

When a mendicant has these three qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements."

198. II. Hỷ Lạc (S.iv,175)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy, một Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba? Hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm tỉnh giác.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặc biệt đang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa đi tới đi lui, như thế nào và tại chỗ nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì, học chế ngự, học điều ngự, học tịnh chỉ sáu căn này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc vào một vết thương để chữa lành vết thương ấy. Ví như một người bôi dầu vào trục xe với mục đích để có thể chở đồ nặng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.

8. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh một, khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. Ban đêm trong canh cuối cùng, vị ấy thức dậy và trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác.

9. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc.

SN 35.240 The Simile of the Tortoise Kummopamasutta

"Once upon a time, mendicants, a tortoise was grazing along the bank of a river in the afternoon. At the same time, a jackal was also hunting along the river bank. The tortoise saw the jackal off in the distance hunting, so it drew its limbs and neck inside its shell, and kept passive and silent.

But the jackal also saw the tortoise off in the distance grazing. So it went up to the tortoise and waited nearby, thinking, ‘When that tortoise sticks one or other of its limbs or neck out from its shell, I’ll grab it right there, rip it out, and eat it!’

But when that tortoise didn’t stick one or other of its limbs or neck out from its shell, the jackal left disappointed, since it couldn’t find a vulnerability.

In the same way, Māra the Wicked is always waiting nearby, thinking: ‘Hopefully I can find a vulnerability in the eye, ear, nose, tongue, body, or mind.’ That’s why you should live with sense doors guarded.

When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.

When you hear a sound with your ears …

When you smell an odor with your nose …

When you taste a flavor with your tongue …

When you feel a touch with your body …

When you know an idea with your mind, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.

When you live with your sense doors guarded, Māra will leave you disappointed, since he can’t find a vulnerability, just like the jackal left the tortoise.

A mendicant should collect their thoughts
as a tortoise draws its limbs into its shell.
Independent, not disturbing others,
quenched: they wouldn’t blame anyone."

199. III. Con Rùa (S.iv,177)

1-2. …

3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một con rùa, vào buổi chiều, đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giả can, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông.

4. Này các Tỷ-kheo, con rùa từ đàng xa trông thấy con giả can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.

5. Này các Tỷ-kheo, con giả can từ đàng xa trông thấy con rùa, đi đến con rùa sau khi đến, đứng một bên và nghĩ rằng: “Khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn”.

6. Nhưng, này các Tỷ-kheo, vì rằng con rùa không thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giả can nhàm chán con rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ác ma thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các Ông với ý nghĩ: “Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt… từ cái lưỡi… hay từ ý”.

8. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi mùi… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, khi nào các Ông sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các Ông và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giả can đối với con rùa.

Như rùa dấu thân phần,
Trong mai rùa của nó.
Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,

Thâu nhóm mọi tâm tư,
Không nương tựa một ai,
Không hại một người nào,
Hoàn toàn đạt tịch tịnh,
Không nói xấu một ai.

SN 35.241 The Simile of the Tree Trunk (1st) Paṭhamadārukkhandhopamasutta

At one time the Buddha was staying near Kosambī on the bank of the Ganges river.

Seeing a large tree trunk being carried along by the current, he addressed the mendicants, “Mendicants, do you see that large tree trunk being carried along by the current of the Ganges river?”

“Yes, sir.”

"Mendicants, assume that that tree trunk doesn’t collide with the near shore or the far shore, or sink in the middle, or get stranded on high ground. And assume that it doesn’t get taken by humans or non-humans or caught up in a whirlpool, and that it doesn’t rot away. In that case, that tree trunk will slant, slope, and incline towards the ocean. Why is that? Because the current of the Ganges river slants, slopes, and inclines towards the ocean.

In the same way, assume that you don’t collide with the near shore or the far shore, or sink in the middle, or get stranded on high ground. And assume that you don’t get taken by humans or non-humans or caught up in a whirlpool, and that you don’t rot away. In that case, you will slant, slope, and incline towards extinguishment. Why is that? Because right view slants, slopes, and inclines towards extinguishment."

When he said this, one of the mendicants asked the Buddha:

“But sir, what’s the near shore and what’s the far shore? What’s sinking in the middle? What’s getting stranded on high ground? What’s getting taken by humans or non-humans? What’s getting caught up in a whirlpool? And what’s rotting away?”

"‘The near shore’, mendicant, is a term for the six interior sense fields.

‘The far shore’ is a term for the six exterior sense fields.

‘Sinking in the middle’ is a term for greed and relishing.

‘Stranded on high ground’ is a term for the conceit ‘I am’.

And what’s getting taken by humans? It’s when someone mixes closely with laypeople, sharing their joys and sorrows—happy when they’re happy and sad when they’re sad—and getting involved in their business. That’s called getting taken by humans.

And what’s getting taken by non-humans? It’s when someone leads the spiritual life wishing to be reborn in one of the orders of gods: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual life, may I become one of the gods!’ That’s called getting taken by non-humans. ‘Caught up in a whirlpool’ is a term for the five kinds of sensual stimulation.

And what’s rotting away? It’s when some person is unethical, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved. This is called ‘rotting away’."

Now at that time Nanda the cowherd was sitting not far from the Buddha. Then he said to the Buddha:

“I won’t collide with the near shore or the far shore, or sink in the middle, or get stranded on high ground. And I won’t get taken by humans or non-humans or caught up in a whirlpool, and I won’t rot away. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”

“Well then, Nanda, return the cows to their owners.”

“Sir, the cows will go back by themselves, since they love their calves.”

“Still, Nanda, you should return them to their owners.”

Then Nanda, after returning the cows to their owners, went up to the Buddha and said to him, “Sir, I have returned the cows to their owners. May I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”

And the cowherd Nanda received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Nanda became one of the perfected.

200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.

2. Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4. Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?

5. − Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.

6. Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.

7. Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8. Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9. Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10. Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11. Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.

12. Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

11. Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.

12. Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

13. − Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.

− Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.

− Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.

14. Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.

15. Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh…

16. Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.242 The Simile of the Tree Trunk (2nd) Dutiyadārukkhandhopamasutta

At one time the Buddha was staying near Kimibilā on the bank of the Ganges river. Seeing a large tree trunk being carried along by the current, he addressed the mendicants: “Mendicants, do you see that large tree trunk being carried along by the current of the Ganges river?”

“Yes, sir,” they replied. … When this was said, Venerable Kimbila said to the Buddha:

“But sir, what’s the near shore and what’s the far shore? What’s sinking in the middle? What’s getting stranded on high ground? What’s getting taken by humans or non-humans? What’s getting caught up in a whirlpool? And what’s rotting away?” …

“And what, Kimbila, is rotting away? It’s when a mendicant has committed the kind of corrupt offense for which no resolution is possible. This is called ‘rotting away’.”

201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.

2. Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi theo dòng nước sông Hằng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

3. (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn ).

4. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?.. (như trên) …

12. − Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo phạm một giới tội (àpatti), một giới tội không thể giải trừ. Này Kimbilà, đây gọi là mục nát bên trong.

SN 35.243 The Explanation on the Festering Avassutapariyāyasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Now at that time a new town hall had recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It had not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any person at all.

Then the Sakyans of Kapilavatthu went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, a new town hall has recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It has not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any person at all. May the Buddha be the first to use it, and only then will the Sakyans of Kapilavatthu use it. That would be for the lasting welfare and happiness of the Sakyans of Kapilavatthu.” The Buddha consented with silence.

Knowing that the Buddha had consented, the Sakyans got up from their seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the new town hall, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha and told him of their preparations, saying, “Please, sir, come at your convenience.”

Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the new town hall together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet he entered the town hall and sat against the central column facing east. The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the town hall, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them. The Sakyans of Kapilavatthu also washed their feet, entered the town hall, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them. The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the Sakyans with a Dhamma talk. Then he dismissed them, saying, “The night is getting late, Gotamas. Please go at your convenience.”

“Yes, sir,” replied the Sakyans. They got up from their seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.

And then, soon after the Sakyans had left, the Buddha addressed Venerable Mahāmoggallāna, “Moggallāna, the Saṅgha of mendicants is rid of dullness and drowsiness. Give them some Dhamma talk as you feel inspired. My back is sore, I’ll stretch it.”

“Yes, sir,” Mahāmoggallāna replied. And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.

There Venerable Mahāmoggallāna addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”

“Reverend,” they replied. Venerable Mahāmoggallāna said this:

“I will teach you the explanation of the festering and the not festering. Listen and apply your mind well, I will speak.”

“Yes, reverend,” they replied. Venerable Mahāmoggallāna said this:

"And how is someone festering?

Take a mendicant who sees a sight with the eye. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart restricted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with the mind. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and a limited heart. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

This is called a mendicant who is festering when it comes to sights known by the eye, sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind.

When a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he finds a vulnerability and gets hold of them. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he finds a vulnerability and gets hold of them.

Suppose there was a house made of reeds or straw that was dried up, withered, and decrepit. If a person came to it with a burning grass torch from the east, west, north, south, below, above, or from anywhere, the fire would find a vulnerability, it would get a foothold.

In the same way, when a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he finds a vulnerability and gets hold of them. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he finds a vulnerability and gets hold of them.

When a mendicant lives like this, they’re mastered by sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, they don’t master these things.

This is called a mendicant who has been mastered by sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. They’re mastered, not a master. Bad, unskillful qualities have mastered them, which are corrupting, leading to future lives, hurtful, and resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.

That’s how someone is festering.

And how is someone not festering?

Take a mendicant who sees a sight with the eye. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with the mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

This is called a mendicant who is not festering when it comes to sights known by the eye, sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind.

When a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he doesn’t find a vulnerability or get hold of them. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he doesn’t find a vulnerability or get hold of them.

Suppose there was a bungalow or hall made of thick clay with its plaster still wet. If a person came to it with a burning grass torch from the east, west, north, south, below, above, or from anywhere, the fire wouldn’t find a vulnerability, it would get no foothold.

In the same way, when a mendicant lives like this, if Māra comes at them through the eye he doesn’t find a vulnerability or get hold of them. If Māra comes at them through the ear … nose … tongue … body … mind he doesn’t find a vulnerability or get hold of them.

When a mendicant lives like this, they master sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, they’re not mastered by these things.

This is called a mendicant who has mastered sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. They’re a master, not mastered. Bad, unskillful qualities have been mastered by them, which are corrupting, leading to future lives, hurtful, and resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.

That’s how someone is not festering."

Then the Buddha got up and said to Venerable Mahāmoggallāna:

“Good, good, Moggallāna! It’s good that you’ve taught this explanation of the festering and the not festering.”

This is what Venerable Mahāmoggallāna said, and the teacher approved. Satisfied, the mendicants approved what Mahāmoggallāna said.

202. VI. Dục Lậu (S.iv,182)

1. Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.

2. Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.

3. Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

5. Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm (?), cho bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.

6. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế Tôn phía trước mặt.

7. Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:

− Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

8. Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:

− Này Moggalàna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.

9. Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.

10. Ở đây, Tôn giả Mahà Moggalàna gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna. Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:

− Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm lậu. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna. Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:

11. − Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn… Khi lưỡi nếm vị… Khi ý biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.

12. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức… đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng.

13. Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương Tây đến… Nếu một người từ phương Bắc đến… Nếu một người từ phương Nam đến… Nếu một người từ phương dưới đến… Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội, ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng.

14. Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng. Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục. Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.

15. Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… Khi lưỡi nếm vị… Khi ý biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức… đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức… Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng.

16. Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng… từ phương Tây đến… từ phương Bắc đến… từ phương Nam đến… từ phương dưới đến… từ phương trên đến hay từ bất cứ phương nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

17. Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục lậu.

18. Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha Moggalàna:

− Lành thay, lành thay, này Moggalàna! Lành thay này Moggalàna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.

19. Tôn giả Mahà Moggalàna thuyết như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggalàna thuyết.

SN 35.244 Entailing Suffering Dukkhadhammasutta

"Mendicants, when a mendicant truly understands the origin and ending of all things that entail suffering, then they’ve seen sensual pleasures in such a way that they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures. And they’ve awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them.

And how does a mendicant truly understand the origin and ending of all things that entail suffering?

‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … perception … choices … consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’

That’s how a mendicant truly understands the origin and ending of all things that entail suffering.

And how has a mendicant seen sensual pleasures in such a way that they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures?

Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, filled with glowing coals that neither flamed nor smoked. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. Two strong men would grab each arm and drag them towards the pit of glowing coals. They’d writhe and struggle to and fro. Why is that? For that person knows, ‘If I fall in that pit of glowing coals, that will result in my death or deadly pain.’

In the same way, when a mendicant has seen sensual pleasures as like a pit of glowing coals, they have no underlying tendency for desire, affection, infatuation, and passion for sensual pleasures.

And how has a mendicant awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them?

Suppose a person was to enter a thicket full of thorns. They’d have thorns before and behind, to the left and right, below and above. So they’d go forward mindfully and come back mindfully, thinking, ‘May I not get any thorns!’

In the same way, whatever in the world seems nice and pleasant is called a thorn in the training of the Noble One. When they understand what a thorn is, they should understand restraint and lack of restraint.

And how is someone unrestrained?

Take a mendicant who sees a sight with the eye. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart restricted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with the mind. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and a limited heart. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

This is how someone is unrestrained.

And how is someone restrained?

Take a mendicant who sees a sight with the eye. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with the mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

This is how someone is restrained.

Perhaps while that mendicant is conducting themselves and living in this way, bad, unskillful memories and thoughts prone to fetters arise every so often due to loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, but then they quickly give up, get rid of, eliminate, and obliterate those thoughts.

Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day, and a person let two or three drops of water fall onto it. Slowly the drops fall, but then they quickly dry up and evaporate.

In the same way, perhaps while that mendicant is conducting themselves and living in this way, bad, unskillful memories and thoughts prone to fetters arise every so often due to loss of mindfulness. Slowly mindfulness arises, but then they quickly give up, get rid of, eliminate, and obliterate those thoughts.

This is how a mendicant has awakened to a way of conduct and a way of living such that, when they live in that way, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure don’t overwhelm them.

While that mendicant conducts themselves in this way and lives in this way, it may be that rulers or their chief ministers, friends or colleagues, relatives or family would invite them to accept wealth, saying, ‘Please, worthy man, why let these ocher robes torment you? Why follow the practice of shaving your head and carrying an alms bowl? Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!’ But it is quite impossible for a mendicant who conducts themselves in this way and lives in this way to resign the training and return to a lesser life.

Suppose that, although the Ganges river slants, slopes, and inclines to the east, a large crowd were to come along with a spade and basket, saying: ‘We’ll make this Ganges river slant, slope, and incline to the west!’

What do you think, mendicants? Would they still succeed?"

“No, sir. Why is that? The Ganges river slants, slopes, and inclines to the east. It’s not easy to make it slant, slope, and incline to the west. That large crowd will eventually get weary and frustrated.”

"In the same way, while that mendicant conducts themselves in this way and lives in this way, it may be that rulers or their chief ministers, friends or colleagues, relatives or family should invite them to accept wealth, saying, ‘Please, worthy man, why let these ocher robes torment you? Why follow the practice of shaving your head and carrying an alms bowl? Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!’ But it is quite impossible for a mendicant who conducts themselves in this way and lives in this way to resign the training and return to a lesser life.

Why is that? Because for a long time that mendicant’s mind has slanted, sloped, and inclined to seclusion. So it’s impossible for them to return to a lesser life."

203. VII. Khổ Pháp (S,iv,188)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy. Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo thấy được các dục? Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên. Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có ngọn, không có khói. Rồi có người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi hai người lực sĩ đến, kẹp người ấy vào trong các cánh tay, và kéo người ấy đến hố than hừng. Người ấy vật vã thân bên này, bên kia. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy được biết rằng: “Ta sẽ rơi vào trong hố than hừng này. Do nhân này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên.

6. Thế nào, này các Tỷ-kheo, là sở hành và sở trú của Tỷ-kheo được giác tri? Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây… phía Bắc… phía Nam… người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: “Mong sao tôi chớ có bị vướng gai”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh.

7. Sau khi biết vậy, này các Tỷ-kheo, hộ trì và không hộ trì cần phải được hiểu.

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp các sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là được hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… khi lưỡi nếm vị… khi ý biết pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có hộ trì.

10. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm rơi hai hay ba giọt nước trên một nồi sắt được hơ nóng cả ngày. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là sự rơi xuống của các giọt nước. Mau chóng, chúng đi đến đoạn diệt, hoại diệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở trú như vậy của Tỷ-kheo được giác tri. Do sở hành, sở trú như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn! Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông. Rồi một đám dân chúng đông người đến với xuổng, cuốc, giỏ và nói: “Chúng ta hãy làm cho sông Hằng này hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, đám dân chúng đông người ấy có thể làm cho sông Hằng hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây và nghiêng nhập vào phía Tây không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì sông Hằng này, bạch Thế Tôn, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông; không có dễ gì làm cho hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây được. Chỉ có đám dân chúng đông người ấy chuốc lấy mệt mỏi và thất vọng thôi.

13. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu, hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn. Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm của vị ấy đã lâu ngày hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng nhập vào viễn ly; do vậy sự hoàn tục không xảy ra.

SN 35.245 The Simile of the Parrot Tree Kiṁsukopamasutta

Then one mendicant went up to another mendicant and asked, “Reverend, at what point is a mendicant’s vision well purified?”

“When a mendicant truly understands the origin and ending of the six fields of contact, at that point their vision is well purified.”

Not content with that answer, that mendicant went up to a series of other mendicants and received the following answers:

“When a mendicant truly understands the origin and ending of the five grasping aggregates, at that point their vision is well purified.”

“When a mendicant truly understands the origin and ending of the four principal states, at that point their vision is well purified.”

“When a mendicant truly understands that everything that has a beginning has an end, at that point their vision is well purified.”

Not content with any of those answers, that mendicant went up to the Buddha and told him what had happened. Then he asked, “Sir, at what point is a mendicant’s vision well purified?”

"Mendicant, suppose a person had never seen a parrot tree. They’d go up to someone who had seen a parrot tree and ask them, ‘Worthy man, what’s a parrot tree like?’

They’d say, ‘A parrot tree is blackish, like a charred stump.’ Now, at that time a parrot tree may well have been just as that person saw it.

Not content with that answer, that person would go up to a series of other people and receive the following answers: ‘A parrot tree is reddish, like a scrap of meat.’ ‘A parrot tree has flaking bark and burst pods, like a sirisa.’ ‘A parrot tree has luxuriant, shady foliage, like a banyan.’ Now, at each of those times a parrot tree may well have been just as those people saw them.

In the same way, those true persons each answered according to what they were focused on when their vision was well purified.

Suppose there was a king’s frontier citadel with fortified embankments, ramparts, and arches, and six gates. And it has a gatekeeper who is astute, competent, and clever. He keeps strangers out and lets known people in.

A swift pair of messengers would arrive from the east and say to the gatekeeper, ‘Worthy man, where is the lord of the city?’

They’d say, ‘There he is, sirs, seated at the central square.’

Then that swift pair of messengers would deliver a message of truth to the lord of the city and depart the way they came.

A swift pair of messengers would come from the west … north … south … deliver a message of truth to the lord of the city and depart the way they came.

I’ve made up this simile to make a point. And this is the point.

‘City’ is a term for this body made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction.

‘Six gates’ is a term for the six interior sense fields.

‘Gatekeeper’ is a term for mindfulness.

‘A swift pair of messengers’ is a term for serenity and discernment.

‘The lord of the city’ is a term for consciousness.

‘The central square’ is a term for the four principal states: the elements of earth, water, fire, and air.

‘A message of truth’ is a term for extinguishment.

‘The way they came’ is a term for the noble eightfold path, that is, right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion."

204. VIII. Phải Gọi Là Gì (Kimsukà) (S.iv,191)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:

− Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

3. Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:

− Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

4. Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:

− Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

5. Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn…

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

6. Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn… như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng… như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn (và bạch Thế Tôn): “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?”

7. − Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?”. Người ấy đáp như sau: “Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt”. Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)”. Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia nói như sau: “Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.

8. Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữa cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến… từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữ cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.

9. Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến… chánh định.

SN 35.246 The Simile of the Harp Vīṇopamasutta

"Mendicants, any monk or nun who has desire or greed or hate or delusion or repulsion come up for sights known by the eye should shield their mind from them: ‘This path is dangerous and perilous, thorny and tangled; it’s a wrong turn, a bad path, a harmful way. This path is frequented by untrue persons, not by true persons. It’s not worthy of you.’ The mind should be shielded from this when it comes to sights known by the eye.

Any monk or nun who has desire or greed or hate or delusion or repulsion come up for sounds … smells … tastes … touches … ideas known by the mind should shield their mind against them: ‘This path is dangerous and perilous, thorny and tangled; it’s a wrong turn, a bad path, a harmful way. This path is frequented by untrue persons, not by true persons. It’s not worthy of you.’ The mind should be shielded from this when it comes to ideas known by the mind.

Suppose the crops have ripened, but the caretaker is negligent. If an ox fond of crops invades the crops they’d indulge themselves as much as they like.

In the same way, when an unlearned ordinary person doesn’t exercise restraint when it comes to the six fields of contact, they indulge themselves in the five kinds of sensual stimulation as much as they like.

Suppose the crops have ripened, and the caretaker is diligent. If an ox fond of crops invades the crops the caretaker would grab them firmly by the muzzle. Then they’d grab them above the hump and hold them fast there. Then they’d give them a good thrashing before driving them away. For a second time, and even a third time, the same thing might happen. As a result, no matter how long they stand or sit in a village or wilderness, that ox fond of crops would never invade that crop again, remembering the beating they got earlier.

In the same way, when a mendicant’s mind is subdued, well subdued when it comes to the six fields of contact, becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi.

Suppose a king or their chief minister had never heard the sound of an arched harp. When he first hears the sound, he’d say, ‘My man, what is making this sound, so arousing, sensuous, intoxicating, infatuating, and captivating?’

They’d say to him, ‘That, sir, is an arched harp.’

He’d say, ‘Go, my man, fetch me that arched harp.’

So they’d fetch it and say, ‘This, sir, is that arched harp.’

He’d say, ‘I’ve had enough of that arched harp! Just fetch me the sound.’

They’d say, ‘Sir, this arched harp is made of many components assembled together, which make a sound when they’re played. That is, it depends on the body, the skin, the neck, the head, the strings, the plectrum, and a person to play it properly. That’s how an arched harp is made of many components assembled together, which make a sound when they’re played.’

But he’d split that harp into ten pieces or a hundred pieces, then splinter it up. He’d burn the splinters with fire, and reduce them to ashes. Then he’d sweep away the ashes in a strong wind, or float them away down a swift stream.

Then he’d say, ‘It seems that there’s nothing to this thing called an arched harp or whatever’s called an arched harp! But people waste their time with it, negligent and heedless!’

In the same way, a mendicant searches for form, feeling, perception, choices, and consciousness anywhere they might be reborn. As they search in this way, their ideas of ‘I’ or ‘mine’ or ‘I am’ are no more."

205. IX. Ðờn Tỳ Bà (S.iv,195)

1-2. …

3. −Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”. Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức… Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”, hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các pháp do ý nhận thức.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người đã giữ lúa mì, không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo…

Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: “Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy?” Họ nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy nói như sau: “Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta”. Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy bèn nói: “Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta”. Họ thưa với vị ấy: “Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm”. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nước sông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: “Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc”.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ… quán sát tưởng… quán sát các hành… quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là “Tôi”, là “Của tôi”, là “Tôi là” cả.

SN 35.247 The Simile of Six Animals Chappāṇakopamasutta

"Mendicants, suppose a person with wounded and festering limbs was to enter a thicket of thorny reeds. The kusa thorns would pierce their feet, and the reed leaves would scratch their limbs. And that would cause that person to experience even more pain and distress.

In the same way, some mendicant goes to a village or a wilderness and gets scolded, ‘This venerable, acting like this, behaving like this, is a filthy village thorn.’ Understanding that they’re a thorn, they should understand restraint and lack of restraint.

And how is someone unrestrained?

Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and their heart restricted. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

When they hear a sound with their ears …

When they smell an odor with their nose …

When they taste a flavor with their tongue …

When they feel a touch with their body …

When they know an idea with their mind, if it’s pleasant they hold on to it, but if it’s unpleasant they dislike it. They live with mindfulness of the body unestablished and a limited heart. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

Suppose a person was to catch six animals, with diverse territories and feeding grounds, and tie them up with a strong rope. They’d catch a snake, a crocodile, a bird, a dog, a jackal, and a monkey, tie each up with a strong rope, then tie a knot in the middle and let them loose.

Then those six animals with different domains and ranges would each pull towards their own domain and range. The snake would pull one way, thinking ‘I’m going into a termite mound!’ The crocodile would pull another way, thinking ‘I’m going into the water!’ The bird would pull another way, thinking ‘I’m flying into the atmosphere!’ The dog would pull another way, thinking ‘I’m going into the village!’ The jackal would pull another way, thinking ‘I’m going into the charnel ground!’ The monkey would pull another way, thinking ‘I’m going into the jungle!’ When those six animals became exhausted and worn out, the strongest of them would get their way, and they’d all have to submit to their control.

In the same way, when a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, their eye pulls towards pleasant sights, but is put off by unpleasant sights. Their ear … nose … tongue … body … mind pulls towards pleasant ideas, but is put off by unpleasant ideas.

This is how someone is unrestrained.

And how is someone restrained?

Take a mendicant who sees a sight with their eyes. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

They hear a sound … smell an odor … taste a flavor … feel a touch … know an idea with their mind. If it’s pleasant they don’t hold on to it, and if it’s unpleasant they don’t dislike it. They live with mindfulness of the body established and a limitless heart. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without anything left over.

Suppose a person was to catch six animals, with diverse territories and feeding grounds, and tie them up with a strong rope. They’d catch a snake, a crocodile, a bird, a dog, a jackal, and a monkey, tie each up with a strong rope, then tether them to a strong post or pillar.

Then those six animals with different domains and ranges would each pull towards their own domain and range. The snake would pull one way, thinking ‘I’m going into a termite mound!’ The crocodile would pull another way, thinking ‘I’m going into the water!’ The bird would pull another way, thinking ‘I’m flying into the atmosphere!’ The dog would pull another way, thinking ‘I’m going into the village!’ The jackal would pull another way, thinking ‘I’m going into the charnel ground!’ The monkey would pull another way, thinking ‘I’m going into the jungle!’ When those six animals became exhausted and worn out, they’d stand or sit or lie down right by that post or pillar.

In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, their eye doesn’t pull towards pleasant sights, and isn’t put off by unpleasant sights. Their ear … nose … tongue … body … mind doesn’t pull towards pleasant ideas, and isn’t put off by unpleasant ideas. This is how someone is restrained.

‘A strong post or pillar’ is a term for mindfulness of the body.

So you should train like this: ‘We will develop mindfulness of the body. We’ll cultivate it, make it our vehicle and our basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’ That’s how you should train."

206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)

1-2. …

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát,tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn…

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc… Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: " Ta sẽ đi vào làng". Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái… Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu… Sau khi bắt được con chim… Sau khi bắt được con chó… Sau khi bắt được con giả can… Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ… lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ… ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.

8. Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

SN 35.248 The Sheaf of Barley Yavakalāpisutta

"Mendicants, suppose a sheaf of barley was placed at a crossroads. Then six people would come along carrying flails, and started threshing the sheaf of barley. So that sheaf of barley would be thoroughly threshed by those six flails. Then a seventh person would come along carrying a flail, and they’d give the sheaf of barley a seventh threshing. So that sheaf of barley would be even more thoroughly threshed by that seventh flail.

In the same way, an unlearned ordinary person is struck in the eye by both pleasant and unpleasant sights. They’re struck in the ear … nose … tongue … body … mind by both pleasant and unpleasant ideas. And if that unlearned ordinary person has intentions regarding rebirth into a new state of existence in the future, that futile person is even more thoroughly struck, like that sheaf of barley threshed by the seventh person.

Once upon a time, a battle was fought between the gods and the titans. Then Vepacitti, lord of titans, addressed the titans, ‘My good fellows, if the titans defeat the gods in this battle, bind Sakka, the lord of gods, by his limbs and neck and bring him to my presence in the citadel of the titans.’

Meanwhile, Sakka, lord of gods, addressed the gods of the thirty-three, ‘My good fellows, if the gods defeat the titans in this battle, bind Vepacitti by his limbs and neck and bring him to my presence in the Hall of Justice of the gods.’

In that battle the gods won and the titans lost. So the gods of the thirty-three bound Vepacitti by his limbs and neck and brought him to Sakka’s presence in the Hall of Justice of the gods.

And there Vepacitti remained bound by his limbs and neck. That is, until he thought, ‘It’s the gods who are principled, while the titans are unprincipled. Now I belong right here in the castle of the gods.’ Then he found himself freed from the bonds on his limbs and neck. He entertained himself, supplied and provided with the five kinds of heavenly sensual stimulation.

But when he thought, ‘It’s the titans who are principled, while the gods are unprincipled. Now I will go over there to the citadel of the titans,’ he found himself bound by his limbs and neck, and the five kinds of heavenly sensual stimulation disappeared.

That’s how subtly Vepacitti was bound. But the bonds of Māra are even more subtle than that. When you conceive, you’re bound by Māra. Not conceiving, you’re free from the Wicked One.

These are all forms of conceiving: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ Conceit is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart that does not conceive.’

These are all disturbances: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ Disturbances are a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of disturbances.’

These are all tremblings: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ Trembling is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of tremblings.’

These are all proliferations: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ Proliferation is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart free of proliferation.’

These are all conceits: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’ Conceit is a disease, a boil, a dart. So mendicants, you should train yourselves like this: ‘We will live with a heart that has struck down conceit.’"

207. XI. Bó Lúa (S.iv,201)

1-2. …

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái… bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái… bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.

5. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.

Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: “Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tula”. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: “Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.

6. Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.

7. Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: “Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: “Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.

8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Màra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Màra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Cái này là tôi”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không là”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có tưởng”, là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có tưởng ", là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng”.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). “Cái này là tôi”, là một động chuyển. “Tôi sẽ là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có sắc”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển”.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). “Cái này là tôi”, là một chấn động. “Tôi sẽ là”, là một chấn động. “Tôi sẽ không là”, là một chấn động. “Tôi sẽ có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không chấn động”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). “Cái này là tôi”, là một hý luận. “Tôi sẽ là”, là một hý luận. “Tôi sẽ không là”, là một hý luận. “Tôi sẽ có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận”.

12. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. “Cái này là tôi”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

-ooOoo-