At Sāvatthī.
"Mendicants, dragons grow and wax strong supported by the Himalayas, the king of mountains. When they’re strong they dive into the pools. Then they dive into the lakes, the streams, the rivers, and finally the ocean. There they acquire a great and abundant body.
In the same way, a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities. And how does a mendicant develop the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities?
It’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go.
They develop the awakening factor of investigation of principles …
They develop the awakening factor of energy …
They develop the awakening factor of rapture …
They develop the awakening factor of tranquility …
They develop the awakening factor of immersion …
They develop the awakening factor of equanimity, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go.
That’s how a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities."
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi …
Thế Tôn nói như sau :
3. − Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống các hồ nhỏ. Sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn. Sau khi đi xuống các hồ lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ. Sau khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn. Sau khi đi xuống các sông lớn, chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy, thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp.
At Sāvatthī.
"Mendicants, this body is sustained by food. It depends on food to continue, and without food it doesn’t continue. In the same way, the five hindrances are sustained by fuel. They depend on fuel to continue, and without fuel they don’t continue.
And what fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There is the feature of beauty. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
And what fuels the arising of ill will, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There is the feature of harshness. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of ill will, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
And what fuels the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, makes them increase and grow? There is discontent, sloth, yawning, sleepiness after eating, and mental sluggishness. Frequent irrational application of mind to them fuels the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, makes them increase and grow.
And what fuels the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, makes them increase and grow? There is the unsettled mind. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, makes them increase and grow.
And what fuels the arising of doubt, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There are things that are grounds for doubt. Frequent irrational application of mind to them fuels the arising of doubt, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
This body is sustained by food. It depends on food to continue, and without food it doesn’t continue. In the same way, the five hindrances are sustained by fuel. They depend on fuel to continue, and without fuel they don’t continue.
This body is sustained by food. It depends on food to continue, and without food it doesn’t continue. In the same way, the seven awakening factors are sustained by fuel. They depend on fuel to continue, and without fuel they don’t continue.
And what fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of mindfulness. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, fully develops it? There are qualities that are skillful and unskillful, blameworthy and blameless, inferior and superior, and those on the side of dark and bright. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, fully develops it? There are the elements of initiative, persistence, and exertion. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of rapture. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, fully develops it? There is tranquility of the body and of the mind. Frequent rational application of mind to that fuels the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are the basis of serenity and freedom from distraction. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of equanimity. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, fully develops it.
This body is sustained by food. It depends on food to continue, and without food it doesn’t continue. In the same way, the seven awakening factors are sustained by fuel. They depend on fuel to continue, and without fuel they don’t continue."
I
1-2. Tại Sàvatthi…
3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, năm triền cái y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú.
4. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay đối với dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tịnh tướng (subhanimittam), ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời tịnh tướng này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi; hay đối với dục tham đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.
5. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với sân chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với sân đã sanh khiến được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có đối ngại tướng (patighanimittam). Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đối ngại tướng này là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi; hay đối với sân đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.
6. Này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với hôn trầm thụy miên chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với hôn trầm thụy miên đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có sự không hân hoan, biếng nhác (tandi), uể oải (vijambhità), ăn quá no, tâm rụt rè (linàttam). Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay đối với hôn trầm thụy miên đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.
7. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với trạo hối chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với trạo hối đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm không được tịnh chỉ. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi; hay đối với trạo hối đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.
8. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với nghi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với nghi đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có những pháp làm trú xứ cho nghi hoặc. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính các pháp này là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; hay đối với nghi hoặc đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.
9. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, năm triền cái y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.
II
10. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.
11. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với niệm giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Có các pháp, này các Tỷ-kheo, làm trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
12. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với trạch pháp giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập và làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các thiện pháp và bất thiện pháp, có các pháp đáng chỉ trích và không đáng chỉ trích, có các pháp liệt và thắng, có các pháp đen và trắng (kanhàsukkasa-ppatibhàgà). Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh khởi được sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
13. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với tinh tấn giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với tinh tấn giác chi đã sanh khởi được tu tập và làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới (àrambhadhàtu), tinh cần giới (mikkamadhàtu), cần dõng giới (parakkamadhàtu). Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với tinh tấn giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
14. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với hỷ giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với hỷ giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có những pháp làm trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với hỷ giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
15. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với khinh an giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với khinh an giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với khinh an giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
16. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với định giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
17. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với xả giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp làm trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.
"Mendicants, when a mendicant is accomplished in ethics, immersion, knowledge, freedom, or the knowledge and vision of freedom, even the sight of them is very helpful, I say. Even to hear them, approach them, pay homage to them, recollect them, or go forth following them is very helpful, I say. Why is that? Because after hearing the teaching of such mendicants, a mendicant will live withdrawn in both body and mind, as they recollect and think about that teaching.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of mindfulness; they develop it and perfect it. As they live mindfully in this way they investigate, explore, and inquire into that teaching with wisdom.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of investigation of principles; they develop it and perfect it. As they investigate principles with wisdom in this way their energy is roused up and unflagging.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of energy; they develop it and perfect it. When they’re energetic, rapture not of the flesh arises.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of rapture; they develop it and perfect it. When the mind is full of rapture, the body and mind become tranquil.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of tranquility; they develop it and perfect it. When the body is tranquil and one feels bliss, the mind becomes immersed in samādhi.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of immersion; they develop it and perfect it. They closely watch over that mind immersed in samādhi.
At such a time, a mendicant has activated the awakening factor of equanimity; they develop it and perfect it.
When the seven awakening factors are developed and cultivated in this way they can expect seven fruits and benefits. What seven? They attain enlightenment early on in this very life. If not, they attain enlightenment at the time of death. If not, with the ending of the five lower fetters, they’re extinguished between one life and the next. If not, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. If not, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. If not, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. If not, with the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. When the seven awakening factors are developed and cultivated in this way these are the seven fruits and benefits they can expect."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến, Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.
3. Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích.
4. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly : viễn ly về thân và viễn ly về tâm. Vị sống viễn ly như vậy thì sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.
5. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn. Vị ấy trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát, thành tựu quán sát pháp ấy.
6. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, trạch pháp giác chi đi đến viên mãn. Trong khi vị ấy với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động (asallinam) bắt đầu phát khởi nơi vị ấy.
7. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, tinh tấn giác chi đi đến viên mãn. Với vị tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất (piti niràmisà) khởi lên.
8. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên; trong khi ấy, hỷ giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập hỷ giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, hỷ giác chi đi đến viên mãn. Với vị có ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an.
9. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an; trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập khinh an giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, khinh an giác chi đi đến viên mãn. Với vị có thân khinh an, lạc hiện hữu. Với vị có lạc, tâm được định tĩnh.
10. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thân khinh an, được an lạc, tâm được định tĩnh; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, định giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập định giác chi; trong khi ấy, định giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo trú xả nhìn (sự vật) (sàdhukam ajjhupekkhità).
11. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm định tĩnh, khéo trú xả nhìn (sự vật) như vậy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, xả giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập xả giác chi; trong khi ấy, xả giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
12. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, thời bảy quả, bảy lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?
13. Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu được (chánh) trí; nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí, thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí.
14. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn (antaràparinibbàyii).
15. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian bát Niếtbàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại (upahacca) Bát-niết-bàn.
16. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không chứng được chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phầm kiết sử, chứng được Vô hành Bát-niết-bàn (asankhàraparinibbàyii)
17. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt được năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-hàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.
18. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại bát Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc thượng lưu (uddhamsoto), đạt được Sắc cứu cánh thiên.
19. Này các Tỷ-kheo, do tu tập bảy giác chi như vậy, do làm cho sung mãn như vậy nên được chờ đợi bảy quả này, bảy lợi ích này.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
"There are these seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors.
In the morning, I meditate on whichever of these seven awakening factors I want. At midday, and in the evening, I meditate on whichever of these seven awakening factors I want. If it’s the awakening factor of mindfulness, I know that it’s limitless and that it’s properly implemented. While it remains I understand that it remains. And if it subsides in me I understand the specific reason it subsides. … If it’s the awakening factor of equanimity, I know that it’s limitless and that it’s properly implemented. While it remains I understand that it remains. And if it subsides I understand the specific reason it subsides.
Suppose that a ruler or their chief minister had a chest full of garments of different colors. In the morning, they’d don whatever pair of garments they wanted. At midday, and in the evening, they’d don whatever pair of garments they wanted.
In the same way, in the morning, at midday, and in the evening, I meditate on whichever of these seven awakening factors I want. If it’s the awakening factor of mindfulness, I know that it’s limitless and that it’s properly implemented. While it remains I understand that it remains. And if it subsides I understand the specific reason it subsides. … If it’s the awakening factor of equanimity, I know that it’s limitless and that it’s properly implemented. While it remains I understand that it remains. And if it subsides I understand the specific reason it subsides."
1. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, vườn ông Anàthapindika.
2. Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
− Chư Hiền giả Tỷ-kheo.
− Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau :
3. − Này chư Hiền, có bảy giác chi này. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Này chư Hiền, đó là bảy giác chi này.
4. Ðối với bảy giác chi này, này chư Hiền, đối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi sáng, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi sáng. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi trưa, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi trưa. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi chiều, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi chiều.
5. Nếu là niệm giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết được giác chi ấy là vô lượng trong ta, giác chi ấy là khéo phát khởi trong ta, và giác chi ấy an trú trong ta, ta rõ biết là có an trú. Nếu giác chi ấy từ bỏ ta, ta rõ biết giác chi ấy từ bỏ ta vì nhân duyên này.
6-10. … (như trên, với các giác chi khác) …
11. Nếu là xả giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết được giác chi ấy là vô lượng trong ta, giác chi ấy là khéo phát khởi trong ta, và giác chi ấy an trú trong ta, ta rõ biết là có an trú. Nếu giác chi ấy từ bỏ ta, ta rõ biết giác chi ấy từ bỏ ta vì nhân duyên này.
12. Ví như, này chư Hiền, hòm áo của vua hay vị đại thần của vua đầy những loại áo có màu sắc sai biệt. Nếu vị ấy muốn mặc loại áo nào vào buổi sáng, vị ấy mặc loại ấy vào buổi sáng. Nếu muốn mặc loại áo nào vào buổi trưa, vị ấy mặc loại áo ấy vào buổi trưa. Nếu muốn mặc loại áo nào vào buổi chiều, vị ấy mặc loại áo ấy vào buổi chiều.
13. Cũng vậy, này chư Hiền, đối với bảy giác chi này, đối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi sáng, trong giác chi ấy ta an trú vào buổi sáng. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi trưa, trong giác chi ấy ta an trú vào buổi trưa. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi chiều, ta an trú giác chi ấy vào buổi chiều.
14. Nếu là niệm giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết… (như trên đoạn số 5)
15-19. … (như trên đoạn số 6-10.
20. Nếu là xả giác chi… (như trên đoạn số11)
At Sāvatthī.
Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, they speak of the ‘awakening factors’. How are the awakening factors defined?”
"Mendicant, they’re called awakening factors because they lead to awakening.
A mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. As they develop the seven awakening factors, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
They’re called awakening factors because they lead to awakening."
1. …
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
−“Giác chi, giác chi”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là giác chi?
− Này Tỷ-kheo, chúng đưa đến giác ngộ, do vậy, chúng được gọi là các giác chi.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
4. Do vị ấy tu tập bảy giác chi này, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên : “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
5. Chúng đưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, nên chúng được gọi là giác chi.
At one time the Buddha was staying near Sāketa in the deer park at the Añjana Wood. Then the wanderer Kuṇḍaliya went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, I like to hang around the monasteries and visit the assemblies. When I’ve finished breakfast, it’s my habit to wander from monastery to monastery, from park to park. There I see some ascetics and brahmins speaking for the sake of winning debates and finding fault. But what benefit does the worthy Gotama live for?”
“The benefit the Realized One lives for, Kuṇḍaliya, is the fruit of knowledge and freedom.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill knowledge and freedom?”
“The seven awakening factors.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the seven awakening factors?”
“The four kinds of mindfulness meditation.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the four kinds of mindfulness meditation?”
“The three kinds of good conduct.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the three kinds of good conduct?”
"Sense restraint.
And Kuṇḍaliya, how is sense restraint developed and cultivated so as to fulfill the three kinds of good conduct? A mendicant sees an agreeable sight with their eye. They don’t desire it or enjoy it, and they don’t give rise to greed. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed. But if they see a disagreeable sight they’re not dismayed; their mind isn’t hardened, dejected, or full of ill will. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed.
Furthermore, a mendicant hears an agreeable sound with the ear … smells an agreeable odor with the nose … tastes an agreeable flavor with the tongue … feels an agreeable touch with the body … knows an agreeable idea with their mind. They don’t desire it or enjoy it, and they don’t give rise to greed. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed. But if they know a disagreeable idea they’re not dismayed; their mind isn’t hardened, dejected, or full of ill will. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed.
When a mendicant’s mind and body are steady internally, they’re well settled and well freed when it comes to both agreeable and disagreeable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. That’s how sense restraint is developed and cultivated so as to fulfill the three kinds of good conduct.
And how are the three kinds of good conduct developed and cultivated so as to fulfill the four kinds of mindfulness meditation? A mendicant gives up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develops good conduct by way of body, speech, and mind. That’s how the three kinds of good conduct are developed and cultivated so as to fulfill the four kinds of mindfulness meditation.
And how are the four kinds of mindfulness meditation developed and cultivated so as to fulfill the seven awakening factors? A mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how the four kinds of mindfulness meditation are developed and cultivated so as to fulfill the seven awakening factors.
And how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to fulfill knowledge and freedom? A mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how the seven awakening factors are developed and cultivated so as to fulfill knowledge and freedom."
When he said this, the wanderer Kuṇḍaliya said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Ancana, vườn Lộc Uyển.
2. Rồi du sĩ Kundaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn :
3. − Thưa Tôn giả Gotama, tôi sống gần khu vườn, giao du với hội chúng. Sau khi ăn buổi sáng xong, thưa Tôn giả Gotama, như sau là sở hành (àcàra) của tôi. Tôi bộ hành, tôi du hành, từ khóm vườn này qua khóm vườn khác, từ khu vườn này qua khu vườn khác. Tại đấy, tôi thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về lợi ích thoát ly các tranh luận (itivàdapamokkànisamsam) và lợi ích cật vấn (upàrambhànisamsam). Còn Tôn giả Gotama sống có lợi ích gì?
− Này Kundaliya, Như Lai có quả lợi ích của minh và giải thoát (vịjjàvimuttiphalà- nisamsam).
4. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn khiến cho minh và giải thoát được viên mãn?
− Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
5. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?
− Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
6. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn?
− Này Kundaliya, ba thiện hành (sucaritàni) được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
7. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
− Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn. Nhưng này Kundaliya, hộ trì căn tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
8. Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý không có tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục (ràga) khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và khi mắt thấy sắc không khả ý, không có tuyệt vọng (manku), tâm không có dao động, ý không có chán nản (àdìnamànaso), tâm không có tức tối (avyàpannàcetaso). Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
9-12. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…
13. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi ý biết pháp khả ý, không tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và Tỷ-kheo khi ý biết pháp không khả ý, không có tuyệt vọng, tâm không có dao động, ý không có chán nản, tâm không có tức tối. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
14. Này Kundaliya, khi nào Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, đối với sắc khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết pháp, đối với các pháp khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát. Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho ba thiện hành được viên mãn.
15. Và này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo đoạn tận thân ác hành, tu tập thân thiện hành; đoạn tận khẩu ác hành, tu tập khẩu thiện hành; đoạn tận ý ác hành, tu tập ý thiện hành. Này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
16. Và này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
17. Và này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
18. Khi được nói vậy, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn :
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama… từ nay cho đến trọn đời con xin quy ngưỡng.
"Mendicants, the rafters of a bungalow all slant, slope, and incline to the peak. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the seven awakening factors slants, slopes, and inclines to extinguishment.
And how does a mendicant who develops the seven awakening factors slant, slope, and incline to extinguishment? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant who develops and cultivates the seven awakening factors slants, slopes, and inclines to extinguishment."
1-2. …
3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, các cây đà, cây kèo của ngôi nhà có nóc nhọn; tất cả cây đà, cây kèo ấy đều thiên về nóc nhọn, hướng về nóc nhọn, xuôi về nóc nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niếtbàn.
4. Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi như thế nào, làm cho sung mãn bảy giác chi như thế nào, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về về Niết-bàn.
At one time the venerables Upavāna and Sāriputta were staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery. Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Upavāna and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Upavāna:
“Reverend Upavāna, can a mendicant know by investigating inside themselves that the seven awakening factors are well implemented so that they lead to living at ease?”
"They can, Reverend Sāriputta.
As a mendicant rouses up the awakening factor of mindfulness, they understand: ‘My mind is well freed. I’ve eradicated dullness and drowsiness, and eliminated restlessness and remorse. My energy is roused up, and my mind is sharply focused, not sluggish.’ …
As they rouse up the awakening factor of equanimity, they understand: ‘My mind is well freed. I’ve eradicated dullness and drowsiness, and eliminated restlessness and remorse. My energy is roused up, and my mind is sharply focused, not sluggish.’
That’s how a mendicant can know by investigating inside themselves that the seven awakening factors are well implemented so that they lead to living at ease."
1. Một thời Tôn giả Upavàna và Tôn giả Sàriputta sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Upavàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Upavàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upavàna.
3.− Thưa Hiền giả Upavàna, Tỷ-kheo có thể biết được chăng, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú?
4. − Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo bắt đầu trong ta, đưa đến lạc trú. Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu niệm giác chi, biết được : “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng (atthikatvà), ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất (linàm)”… Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu xả giác chi, biết được : “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng, ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất”. Cũng vậy, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú.
“Mendicants, these seven awakening factors don’t arise to be developed and cultivated except when a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha has appeared. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors don’t arise to be developed and cultivated except when a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha has appeared.”
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nào là bảy?
3. Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.
“Mendicants, these seven awakening factors don’t arise to be developed and cultivated apart from the Holy One’s training. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors don’t arise to be developed and cultivated apart from the Holy One’s training.”
1. …
2. − Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có giới luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là bảy?
3. Niệm giác chi… xả giác chi. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi lên, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có giới luật của bậc Thiện Thệ.
"Mendicants, living creatures engage in the four postures: sometimes walking, sometimes standing, sometimes sitting, sometimes lying down. They do so depending on the earth and grounded on the earth. In the same way, a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics.
And how does a mendicant develop the seven awakening factors depending on and grounded on ethics? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics."
1. …
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình (pàna) theo bốn cử chỉ, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Tất cả những sanh loại ấy y cứ vào đất, an trú vào đất; mà thực hiện bốn cử chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
"Mendicants, the dawn is the forerunner and precursor of the sunrise. In the same way, for a mendicant good friendship is the forerunner and precursor of the arising of the seven awakening factors. A mendicant with good friends can expect to develop and cultivate the seven awakening factors.
And how does a mendicant with good friends develop and cultivate the seven awakening factors? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant with good friends develops and cultivates the seven awakening factors."
1. …
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện. Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng : bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
"Mendicants, the dawn is the forerunner and precursor of the sunrise. In the same way, for a mendicant rational application of mind is the forerunner and precursor of the arising of the seven awakening factors. A mendicant accomplished in rational application of mind can expect to develop and cultivate the seven awakening factors.
And how does a mendicant with rational application of mind develop and cultivate the seven awakening factors? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant with rational application of mind develops and cultivates the seven awakening factors."
1. …
2. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là như lý tác ý. Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng: bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn.
3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time Venerable Mahākassapa was staying in the Pipphali cave, and he was sick, suffering, gravely ill. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat, went to Venerable Mahākassapa, sat down on the seat spread out, and said to him:
“I hope you’re keeping well, Kassapa; I hope you’re all right. And I hope the pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
“Kassapa, I’ve rightly explained these seven awakening factors. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors that I’ve rightly explained. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment.”
“Indeed, Blessed One, these are awakening factors! Indeed, Holy One, these are awakening factors!”
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Mahākassapa approved what the Buddha said. And that’s how he recovered from that illness.
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
3. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
4. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa :
− Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?
− Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.
5. − Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn… Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
− Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.
6. Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time Venerable Mahāmoggallāna was staying on the Vulture’s Peak mountain, and he was sick, suffering, gravely ill. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat, went to Venerable Moggallāna, sat down on the seat spread out, and said to him:
“I hope you’re keeping well, Moggallāna; I hope you’re all right. And I hope the pain is fading, not growing, that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. The pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
“Moggallāna, I’ve rightly explained these seven awakening factors. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors that I’ve rightly explained. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment.”
“Indeed, Blessed One, these are awakening factors! Indeed, Holy One, these are awakening factors!”
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Mahāmoggallāna approved what the Buddha said. And that’s how he recovered from that illness.
1-6. (Hoàn toàn giống kinh trên, chỉ khác đây là trường hợp ngài Mahà Moggalàna).
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time he was sick, suffering, gravely ill. Then Venerable Mahācunda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Cunda, express your understanding of the awakening factors.”
“Sir, the Buddha has rightly explained these seven awakening factors. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors that the Buddha has rightly explained. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment.”
“Indeed, Cunda, these are awakening factors! Indeed, Cunda, these are awakening factors!”
This is what Cunda said, and the teacher approved. And that’s how the Buddha recovered from that illness.
1. Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
3. Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
4. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên :
− Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.
5. − Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niếtbàn… Bạch Thế Tôn, xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
− Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.
6. Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la)
"Mendicants, when these seven awakening factors are developed and cultivated they lead to going from the near shore to the far shore. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors, when developed and cultivated, lead to going from the near shore to the far shore.
Few are those among humans
who cross to the far shore.
The rest just run
around on the near shore.When the teaching is well explained,
those who practice accordingly
are the ones who will cross over
Death’s dominion so hard to pass.Rid of dark qualities,
an astute person should develop the bright.
Leaving home behind
for the seclusion so hard to enjoy,you should try to find delight there,
having left behind sensual pleasures.
With no possessions, an astute person
should cleanse themselves of mental corruptions.And those whose minds are rightly developed
in the awakening factors;
letting go of attachments,
they delight in not grasping.
With defilements ended, brilliant,
they are quenched in this world."
1. …
2. − Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.
3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
1) Ít thay là những người,
Qua được bờ bên kia,
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.
2) Những ai khéo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh Ma giới.
3) Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư an lạc.
4) Ở đây muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khởi phiền não.
5) Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ, không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
“Mendicants, whoever has missed out on the seven awakening factors has missed out on the noble path to the complete ending of suffering. Whoever has undertaken the seven awakening factors has undertaken the noble path to the complete ending of suffering. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. Whoever has missed out on these seven awakening factors has missed out on the noble path to the complete ending of suffering. Whoever has undertaken these seven awakening factors has undertaken the noble path to the complete ending of suffering.”
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, những ai thối thất bảy giác chi thì cũng thối thất Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ. Này các Tỷ-kheo, những ai tấn tu bảy giác chi thì cũng tấn tu Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ. Thế nào là bảy? Niệm giác chi,… xả giác chi.
3. Này các Tỷ-kheo, những ai thối thất hay tấn tu bảy giác chi thì cũng thối thất hay tấn tu Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ.
“Mendicants, when these seven awakening factors are developed and cultivated they are noble and emancipating, and bring one who practices them to the complete ending of suffering. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. When these seven awakening factors are developed and cultivated they are noble and emancipating, and bring one who practices them to the complete ending of suffering.”
1. …
2. − Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, thì sẽ thành những thánh dẫn độ. (Niyyànikà : Ðưa đến giải thoát), dắt dẫn người sở hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi… Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, thì sẽ thành những thánh dẫn độ, dắt dẫn người sở hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
“Mendicants, the seven awakening factors, when developed and cultivated, lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors, when developed and cultivated, lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.”
1. …
2. − Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi… Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Then a mendicant went up to the Buddha … and said to him:
“Sir, they speak of the ‘awakening factors’. How are the awakening factors defined?”
“Mendicant, they’re called awakening factors because they lead to awakening. A mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. They’re called awakening factors because they lead to awakening.”
1. …
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến… rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− “Giác chi, giác chi”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là giác chi?
− Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, nên được gọi là giác chi.
4. Ở đây, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, cho nên được gọi là giác chi.
"Mendicants, I will teach you the seven awakening factors. Listen …
And what are the seven awakening factors? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors."
1. …
2.− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về bảy giác chi. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này.
"Mendicants, when you frequently apply the mind to things that are grounds for sensual greed, sensual desire arises, and once arisen it increases and grows. When you frequently apply the mind to things that are grounds for ill will, ill will arises, and once arisen it increases and grows. When you frequently apply the mind to things that are grounds for dullness and drowsiness, dullness and drowsiness arise, and once arisen they increase and grow. When you frequently apply the mind to things that are grounds for restlessness and remorse, restlessness and remorse arise, and once arisen they increase and grow. When you frequently apply the mind to things that are grounds for doubt, doubt arises, and once arisen it increases and grows.
When you frequently apply the mind to things that are grounds for the awakening factor of mindfulness, the awakening factor of mindfulness arises, and once arisen it’s fully developed. … When you frequently apply the mind to things that are grounds for the awakening factor of equanimity, the awakening factor of equanimity arises, and once arisen it’s fully developed."
1. …
2. − Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho dục và tham (kàmaràga), này các Tỷ-kheo, nên dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
3. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho sân, này các Tỷ-kheo, nên sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
4. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, nên hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
5. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho trạo hối, này các Tỷ-kheo, nên trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
6. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, nên nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
7. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, nên niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
8. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho xả giác chi, này các Tỷ-kheo, nên xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
"Mendicants, when you apply the mind irrationally, sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt arise, and once arisen they increase and grow. And the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity don’t arise, or if they’ve already arisen, they cease.
When you apply the mind rationally, sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt don’t arise, or if they’ve already arisen they’re given up.
And the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity arise, and once they’ve arisen, they’re fully developed."
1. …
2.− Do phi như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh khởi đi đến tăng trưởng, quảng đại.
3. … sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
4. … hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
5. … trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
6. … nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
7. … và niệm giác chi chưa sanh không sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh bị đoạn diệt… xả giác chi chưa sanh không sanh khởi; và xả giác chi đã sanh bị đoạn diệt.
8. … Và này các Tỷ-kheo, nếu như lý tác ý, dục tham chưa sanh không thể sanh khởi; và dục tham đã sanh bị đoạn tận.
9. … sân chưa sanh không thể sanh khởi; và sân đã sanh bị đoạn tận.
10. … hôn trầm thụy miên chưa sanh không thể sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh bị đoạn tận.
11. … trạo hối chưa sanh không thể sanh khởi; và trạo hối đã sanh bị đoạn tận.
12. … nghi hoặc chưa sanh không thể sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh bị đoạn tận.
13. … Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
25.V.Không Tổn Giảm (Aparihàni) (1) (S.v,85)
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về bảy pháp không tổn giảm. Hãy lắng nghe.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không tổn giảm? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là bảy pháp không tổn giảm.
"Mendicants, I will teach you seven principles that prevent decline. Listen …
And what are the seven principles that prevent decline? They are the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven principles that prevent decline."
1. …
2. − Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
3. Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.
4. Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :
− Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến đoạn tận khát ái?
5. − Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.
6-11. … trạch pháp giác chi… tinh tấn giác chi… hỷ giác chi… khinh an giác chi… định giác chi…
12. Ở đây, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.
13. Như vậy, này Udàyi, do khát ái đoạn tận nên nghiệp đoạn tận. Do nghiệp đoạn tận nên khổ đoạn tận.
“Mendicants, you should develop the path and the practice that leads to the ending of craving. And what is the path and the practice that leads to the ending of craving? It is the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity.” When he said this, Udāyī said to him:
“Sir, how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to lead to the ending of craving?”
"Udāyī, it’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. As they do so, craving is given up. When craving is given up, deeds are given up. When deeds are given up, suffering is given up. …
A mendicant develops the awakening factor of equanimity, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. As they do so, craving is given up. When craving is given up, deeds are given up. When deeds are given up, suffering is given up.
And so, Udāyī, when craving ends, deeds end; when deeds end suffering ends."
1. …
2. − Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
3. Và này các Tỷ-kheo, con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.
4. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ,… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái.
"Mendicants, you should develop the path and the practice that leads to the cessation of craving. And what is the path and the practice that leads to the cessation of craving? It is the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. And how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to lead to the cessation of craving?
It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion,
and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. This is how the seven awakening factors are developed and cultivated so as to lead to the cessation of craving."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thể nhập phần (nibbedhabhàgiyam). Hãy lắng nghe.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thể nhập phần? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.
4. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :
− Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến thể nhập?
5. − Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ… Tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập xả giác chi, đâm thủng được, phá vỡ được tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ.
6. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này Udàyi, bảy giác chi đưa đến thể nhập.
"Mendicants, I will teach you a path that helps penetration. Listen …
And what is the path that helps penetration? It is the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity." When he said this, Udāyī said to him:
“Sir, how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to lead to penetration?”
"Udāyī, it’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. With a mind that has developed the awakening factor of mindfulness, they penetrate and shatter the mass of greed, the mass of hate, and the mass of delusion for the first time. …
A mendicant develops the awakening factor of equanimity, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. With a mind that has developed the awakening factor of equanimity, they penetrate and shatter the mass of greed, the mass of hate, and the mass of delusion for the first time.
This is how are the seven awakening factors are developed and cultivated so as to lead to penetration."
1. …
2. − Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử. Ðó chính là bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.
3. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly,… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp có khả năng sanh kiết sử? Mắt, này các Tỷ-kheo, là pháp có khả năng sanh kiết sử. Ở đây, khởi lên các tham trước (ajjhosanà), sai sử, trói buộc (samyojanavinibandhà) … Ý là pháp có khả năng sanh kiết sử. Ở đây, khởi lên các tham trước, sai sử, trói buộc.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là các pháp có khả năng sanh kiết sử.
"Mendicants, I do not see a single thing that, when it is developed and cultivated like this, leads to giving up the things that are prone to being fettered like the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. And how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to lead to giving up the things that are prone to being fettered?
It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how the seven awakening factors are developed and cultivated so as to lead to giving up the things that are prone to being fettered.
And what are the things that are prone to being fettered? The eye is something that’s prone to being fettered. This is where these fetters, shackles, and attachments arise. The ear … nose … tongue … body … mind is something that’s prone to being fettered. This is where these fetters, shackles, and attachments arise. These are called the things that are prone to being fettered."
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Sumbha, tại một thị trấn của những người Sumbha tên là Setaka.
2. Rồi Tôn giả Udàyi, đi đến Thế Tôn… ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :
3. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn ! Xúc động nhiều thay (bahukatam), bạch Thế Tôn, là lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí của con đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, trước khi con còn là người tại gia, con không có nhiều xúc động (bahukata) đối với Pháp, không có nhiều xúc động đối với Tăng. Nhưng, bạch Thế Tôn, khi con cảm thấy (sampassamàno) lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí đối với Thế Tôn, thời con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và Thế Tôn thuyết pháp cho con : “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thức đoạn diệt”.
4. Rồi, bạch Thế Tôn, con đi đến chỗ nhà trống, và trong khi tùy quán (samparivattento) theo sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, con như thật thắng tri : “Ðây là khổ”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ tập khởi”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ diệt”. Con như thật thắng tri : “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
5. Pháp, bạch Thế Tôn, được con hoàn toàn chứng tri (abhisamito). Con đường được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đắc như vậy (tathattàya). Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con chứng được niệm giác chi. Niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết được rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”… Con chứng được, bạch Thế Tôn, xả giác chi. Xả này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con đường này được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
6. − Lành thay, lành thay, này Udàyi ! Con đường này, này Udàyi, Ông chứng được, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ dắt dẫn Ông, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, Ông sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
31.I.Thiện (1) (S.v,91)
1. …
2. − Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về thiện và bất thiện, nhưng thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ; không phóng dật được gọi là tối thượng đối với những pháp ấy.
3. Với Tỷ-kheo không phóng dật này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sumbhas, near the town of the Sumbhas called Sedaka. Then Venerable Udāyī went up to the Buddha … and said to him:
"It’s incredible, sir, it’s amazing! How helpful my love and respect for the Buddha have been, and my sense of conscience and prudence. For when I was still a layman, I wasn’t helped much by the teaching or the Saṅgha. But when I considered my love and respect for the Buddha, and my sense of conscience and prudence, I went forth from the lay life to homelessness. The Buddha taught me the Dhamma: ‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’
Then, while staying in an empty hut, I followed the churning of the five grasping aggregates. I truly understood: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. I comprehended the teaching; I acquired the path. When developed and cultivated as I’m living in such a way, it will bring me to such a state that I will understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
I acquired the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. When developed and cultivated as I’m living in such a way, they will bring me to such a state that I will understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is the path that I acquired. When developed and cultivated as I’m living in such a way, it will bring me to such a state that I will understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’"
“Good, good, Udāyī! For that is indeed the path that you acquired. When developed and cultivated as you’re living in such a way, it will bring you to such a state that you will understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
1. …
2. − Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về thiện và bất thiện, nhưng thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy như lý tác ý làm căn bản, lấy như lý tác ý làm chỗ quy tụ; như lý tác ý được gọi là tối thượng đối với những pháp ấy.
3. Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, sẽ được làm cho sung mãn. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
"Mendicants, whatever qualities are skillful, part of the skillful, on the side of the skillful, all of them are rooted in diligence and meet at diligence, and diligence is said to be the best of them. A mendicant who is diligent can expect to develop and cultivate the seven awakening factors.
And how does a diligent mendicant develop and cultivate the seven awakening factors? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a diligent mendicant develops and cultivates the seven awakening factors."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo có năm cấu uế này đối với vàng. Do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.
3. Sắt, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm… chịu sử dụng.
4. Ðồng (loham), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm… chịu sử dụng.
5. Thiếc (tipu), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm…
6. Chì (siisam), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm…
7. Bạc (sajjhum), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng.
8. Chính cấu uế của vàng, này các Tỷ-kheo, do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm cấu uế này của tâm, chính những cấu uế ấy khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
9. Dục tham (kàmachanda), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc.
10-13. … (Với sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi)
14. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm cấu uế của tâm. Chính do những cấu uế ấy, tâm không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc.
"Mendicants, whatever qualities are skillful, part of the skillful, on the side of the skillful, all of them are rooted in rational application of mind and meet at rational application of mind, and rational application of mind is said to be the best of them. A mendicant accomplished in rational application of mind can expect to develop and cultivate the seven awakening factors.
And how does a mendicant with rational application of mind develop and cultivate the seven awakening factors? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant with rational application of mind develops and cultivates the seven awakening factors."
1. …
2.− Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy?
3. Có niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
4. Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
35.V.Như Lý (1) (S.v,93)
1. …
2. − Do phi như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, dục tham (kàmacchando) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.
3. … sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.
4. … hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.
5. … trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.
6. Và này các Tỷ-kheo, do phi như lý tác ý, nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.
36.VI. Như Lý (2) (S.v,94)
1. …
2. − Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
37.VII. Tăng Trưởng Hay Không Giảm Thiểu (Tạp 26,67, Ðại 2, 189b) (S.v,94)
1. …
2.− Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tăng trưởng, không đưa đến giảm thiểu. Thế nào là bảy?
3. Niệm giác chi… Xả giác chi.
4. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tăng trưởng, không đưa đến giảm thiểu.
38.VIII. Chướng Ngại, Triền Cái (Tạp 26, 69, Ðại 2, 189c) (S.v,94)
1. …
2. − Có năm chướng ngại, triền cái, này các Tỷ-kheo, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?
3. Dục tham, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
4. Năm chướng ngại, triền cái này, này các Tỷ-kheo, làm uế nhiễm tâm và làm yếu ớt trí tuệ.
5. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy?
6. Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
7. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
8. Trong khi, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử lấy pháp làm đối tượng (atthim katvà) tác ý, tập trung tất cả tâm ý (sabbacetaso sammannàharitvà), lắng tai nghe pháp; trong khi ấy, năm triền cái không có hiện hữu trong vị ấy. Và bảy giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
9. Năm triền cái nào, trong khi ấy, không có hiện hữu? Dục tham triền cái, trong khi ấy, không có hiện hữu. Sân triền cái… Hôn trầm thụy miên triền cái… Trạo hối triền cái… Nghi hoặc trieàn cái, trong khi ấy, không có hiện hữu. Năm triền cái, trong khi ấy, không có hiện hữu trong vị ấy.
10. Bảy giác chi nào, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn? Niệm giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… Xả giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
11. Trong khi, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử lấy pháp làm đối tượng tác ý, tập trung tất cả tâm ý, lắng tai nghe pháp; trong khi ấy, năm triền cái không có hiện hữu trong vị ấy. Bảy giác chi này, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.
"Mendicants, there are these five corruptions of native gold. When native gold is corrupted by these it’s not pliable, workable, or radiant, but is brittle and not completely ready for working. What five? Iron, copper, tin, lead, and silver. When native gold is corrupted by these five corruptions it’s not pliable, workable, or radiant, but is brittle and not completely ready for working.
In the same way, there are these five corruptions of the mind. When the mind is corrupted by these it’s not pliable, workable, or radiant. It’s brittle, and not rightly immersed in samādhi for the ending of defilements. What five? Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five corruptions of the mind. When the mind is corrupted by these it’s not pliable, workable, or radiant. It’s brittle, and not rightly immersed in samādhi for the ending of defilements."
1. …
2. − Có những cây lớn, này các Tỷ-kheo, sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác. Các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.
3. Và này các Tỷ-kheo, những cây lớn nào sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác, các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống. Ví như cây Bồ-đề, cây bàng, cây sanh (pilakka), cây sung (udumbara), cây bách hướng (kacchaka), cây kapitthaka; những cây lớn này, này các Tỷ-kheo, sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác. Các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có thiện nam tử đoạn trừ các dục vọng, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng bị những dục vọng ấy, hay bị những dục vọng tệ hại hơn làm cho người ấy bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.
5. Năm chướng ngại, triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm? Dục tham (kàmacchanda), này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Hôn trầm thụy miên… Trạo hối… Nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, năm chướng ngại, triền cái này bao trùm tâm và làm cho yếu ớt trí tuệ.
6. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
“Mendicants, these seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom.”
1. …
2. − Năm triền cái này, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái… Hôn trầm thụy miên triền cái… Trạo hối triền cái… Nghi hoặc triền cái, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn.
3. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Trạch pháp… Tinh tấn… Hỷ… Khinh an… Ðịnh… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn.
“Mendicants, when you apply the mind irrationally, sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt arise, and once arisen they increase and grow.”
“Mendicants, when you apply the mind rationally, the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity arise, and once they’ve arisen, they’re fully developed.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi…
2. − Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn (vidhà); tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-lamôn nào, này các Tỷ-kheo, trong tương lai, sẽ đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời hiện tại, đoạn tận ba kiêu mạn này; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi này.
3. Thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi… Xả giác chi.
4. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi này.
“Mendicants, when the seven awakening factors are developed and cultivated they lead to growth and progress. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. When these seven awakening factors are developed and cultivated they lead to growth and progress.”
1. …
2. − Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu. Thế nào là bảy?
3. Sự xuất hiện của bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, sự xuất hiện của tướng quân báu. Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu này.
4. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu giác chi. Thế nào là bảy?
5. Niệm giác chi báu xuất hiện… Xả giác chi báu xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy giác chi báu này.
"Mendicants, there are these five obstacles and hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. What five? Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five obstacles and hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom.
There are these seven awakening factors that are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường đưa đến chinh phục Ma quân. Hãy lắng nghe.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến chinh phục Ma quân? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi. Ðây là con đường, này các Tỷ-kheo, đưa đến chinh phục Ma quân.
"Mendicants, sometimes a noble disciple pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens to the teaching. At such a time the five hindrances are absent, and the seven awakening factors are fully developed.
What are the five hindrances that are absent? Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five hindrances that are absent.
And what are the seven awakening factors that are fully developed? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors that are fully developed. Sometimes a noble disciple pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens to the teaching. At such a time the five hindrances are absent, and the seven awakening factors are fully developed."
1. …
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
3. − “Kẻ liệt tuệ ngu đần, kẻ liệt tuệ ngu đần”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là liệt tuệ ngu đần?
4. − Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.
5. Này các Tỷ-kheo, chính do bảy giác chi này không được tu tập, không được làm cho sung mãn, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.
"Mendicants, there are large trees with tiny seeds and big trunks, which grow up and around other trees as parasites. The trees they engulf break apart, collapse, and fall. And what are those large trees with tiny seeds and big trunks? The peepal, banyan, wavy leaf fig, cluster fig, Moreton Bay fig, and portia. These are the large trees with tiny seeds and big trunks, which grow up and around other trees as parasites. The trees they engulf break apart, collapse, and fall.
In the same way, take a certain gentleman who has gone forth from the lay life to homelessness, abandoning sensual pleasures. But beset by sensual pleasures that are similar, or even worse, he breaks apart, collapses, and falls.
There are these five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom. What five? Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five obstacles and hindrances, parasites of the mind that weaken wisdom.
These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or parasites of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or parasites of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom."
1-2. …
3. − “Có trí tuệ không ngu đần, có trí tuệ không ngu đần”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là có trí tuệ không ngu đần?
4. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần. Thế nào là bảy giác chi này? Niệm giác chi… Xả giác chi.
5. Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần.
"Mendicants, these five hindrances are destroyers of sight, vision, and knowledge. They block wisdom, they’re on the side of distress, and they don’t lead to extinguishment. What five? Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These five hindrances are destroyers of sight, vision, and knowledge. They block wisdom, they’re on the side of distress, and they don’t lead to extinguishment.
These seven awakening factors are creators of vision and knowledge. They grow wisdom, they’re on the side of solace, and they lead to extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are creators of vision and knowledge. They grow wisdom, they’re on the side of solace, and they lead to extinguishment."
1-2. …
3. − “Bần cùng, bần cùng”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bần cùng?
4. − Do không tu tập, do không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên được gọi là bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.
5. Do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này, này Tỷ-kheo, được gọi là bần cùng.
At Sāvatthī.
"Mendicants, all the ascetics and brahmins in the past who have given up the three discriminations have done so by developing and cultivating the seven awakening factors. All the ascetics and brahmins in the future who will give up the three discriminations will do so by developing and cultivating the seven awakening factors. All the ascetics and brahmins in the present who are giving up the three discriminations do so by developing and cultivating the seven awakening factors.
What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. All the ascetics and brahmins in the past … future … and present who give up the three discriminations do so by developing and cultivating the seven awakening factors."
1-2. …
3. − “Không bần cùng, không bần cùng”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là không bần cùng?
4. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này Tỷ-kheo, được gọi là không bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.
5. Chính do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này nên được gọi là không bần cùng.
"Mendicants, when a Wheel-Turning Monarch appears seven treasures appear. What seven? The wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander. When a Wheel-Turning Monarch appears these seven treasures appear.
When a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha appears the seven treasures of the awakening factors appear. What seven? The treasures of the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. When a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha appears these seven treasures of the awakening factors appear."
1. …
2. − Cái này là điềm đi trước, này các Tỷ-kheo, cái này là tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện (kalyànamittatà).
3. Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, được tu tập bảy giác chi, được làm cho sung mãn bảy giác chi?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
"Mendicants, I will teach you a path for crushing Māra’s army. Listen …
And what is that path? It is the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. This is the path for crushing Māra’s army."
1. …
2. − Sau khi làm thành nội chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, thành phần ấy tức là như lý tác ý.
3. Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
Then a mendicant went up to the Buddha … and asked him, “Sir, they speak of ‘a witless idiot’. How is a witless idiot defined?”
“Mendicant, they’re called a witless idiot because they haven’t developed and cultivated the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. They’re called a witless idiot because they haven’t developed and cultivated these seven awakening factors.”
1. …
2. − Sau khi làm thành ngoại chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một chi phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, chi phần ấy tức làm bạn với thiện.
3. Với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
1. Tất cả nhân duyên ở Sàvatthi…
“Sir they speak of a person who is ‘wise and clever’. How is a person who is wise and clever defined?”
“Mendicant, they’re called wise and clever because they’ve developed and cultivated the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. They’re called wise and clever because they’ve developed and cultivated these seven awakening factors.”
1. …
2. − Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các món ăn và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi. Hãy lắng nghe.
“Sir, they speak of someone who is ‘poor’. How is a poor person defined?”
“Mendicant, they’re called poor because they haven’t developed and cultivated the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. They’re called poor because they haven’t developed and cultivated these seven awakening factors.”
1-2. …
3. − Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có tịnh tướng, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
4. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi; hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có chướng ngại tướng (patighanimittam), này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
5. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm uể oải. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
6. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có tâm chưa được chỉ tịnh, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
7. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có các pháp trú xứ của nghi hoặc. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
“Sir, they speak of someone who is ‘prosperous’. How is a prosperous person defined?”
“Mendicant, they’re called prosperous because they’ve developed and cultivated the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. They’re called prosperous because they’ve developed and cultivated these seven awakening factors.”
8. − Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn.
9. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có những pháp thiện và bất thiện, này các Tỷ-kheo, có những pháp có tội và không có tội, có những pháp liệt và thắng, có những pháp dự phần đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
10. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có phát cần giới, này các Tỷ-kheo, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
11. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có những pháp trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
12. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
13. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
14. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
"Mendicants, the dawn is the forerunner and precursor of the sunrise.
In the same way, for a mendicant good friendship is the forerunner and precursor of the arising of the seven awakening factors. A mendicant with good friends can expect to develop and cultivate the seven awakening factors.
And how does a mendicant with good friends develop and cultivate the seven awakening factors? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant with good friends develops and cultivates the seven awakening factors."
15. − Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có bất tịnh tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
16. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có từ tâm giải thoát. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
17. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
18. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm chỉ tịnh. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
19. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có pháp thiện và bất thiện, có pháp có tội và không có tội, có pháp liệt và thắng, có pháp dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
“Taking into account interior factors, mendicants, I do not see a single one that gives rise to the seven awakening factors like rational application of mind. …”
20. − Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
21. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp thiện và bất thiện, có tội và không có tội, liệt và thắng, dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
22. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
23. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có những pháp trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
24. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu phi như lý tác ý, làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
25. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
26. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
“Taking into account exterior factors, mendicants, I do not see a single one that gives rise to the seven awakening factors like good friendship. …”
1. …
2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.
3. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : “Nay còn quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên :
5. − Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử : “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”. Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp như vậy cho các đệ tử : “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”.
6. Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù (viseso), cái gì là thù thắng (abhippayo), cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?
7. Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy họ ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.
8. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
9. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
− Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con suy nghĩ : “Nay còn quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi một bên : “Này chư Hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau… tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?”
10. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không tán thán, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy chúng con ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được hiểu lời nói này từ Thế Tôn”.
11. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời với các du sĩ ngoại đạo như sau : “Này chư Hiền, có pháp môn nào, do pháp môn ấy, năm triền cái được trở thành mười, bảy giác chi được trở thành mười bốn?” Ðược đáp như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
12. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
At Sāvatthī.
"Mendicants, I will teach you what fuels and what starves the five hindrances and the seven awakening factors. Listen …
And what fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There is the feature of beauty. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of sensual desire, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
And what fuels the arising of ill will, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There is the feature of harshness. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of ill will, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
And what fuels the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, makes them increase and grow? There is discontent, sloth, yawning, sleepiness after eating, and mental sluggishness. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, makes them increase and grow.
And what fuels the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, makes them increase and grow? There is the unsettled mind. Frequent irrational application of mind to that fuels the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, makes them increase and grow.
And what fuels the arising of doubt, or, when it has arisen, makes it increase and grow? There are things that are grounds for doubt. Frequent irrational application of mind to them fuels the arising of doubt, or, when it has arisen, makes it increase and grow.
And what fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of mindfulness. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, fully develops it? There are qualities that are skillful and unskillful, blameworthy and blameless, inferior and superior, and those on the side of dark and bright. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, fully develops it? There are the elements of initiative, persistence, and exertion. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of rapture. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, fully develops it? There is tranquility of the body and of the mind. Frequent rational application of mind to that fuels the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are the basis of serenity and freedom from distraction. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, fully develops it.
And what fuels the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, fully develops it? There are things that are grounds for the awakening factor of equanimity. Frequent rational application of mind to them fuels the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, fully develops it.
And what starves the arising of sensual desire, or, when it has arisen, starves its increase and growth? There is the feature of ugliness. Frequent rational application of mind to that starves the arising of sensual desire, or, when it has arisen, starves its increase and growth.
And what starves the arising of ill will, or, when it has arisen, starves its increase and growth? There is the heart’s release by love. Frequent rational application of mind to that starves the arising of ill will, or, when it has arisen, starves its increase and growth.
And what starves the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, starves their increase and growth? There are the elements of initiative, persistence, and exertion. Frequent rational application of mind to them starves the arising of dullness and drowsiness, or, when they have arisen, starves their increase and growth.
And what starves the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, starves their increase and growth? There is the settled mind. Frequent rational application of mind to that starves the arising of restlessness and remorse, or, when they have arisen, starves their increase and growth.
And what starves the arising of doubt, or, when it has arisen, starves its increase and growth? There are qualities that are skillful and unskillful, blameworthy and blameless, inferior and superior, and those on the side of dark and bright. Frequent rational application of mind to them starves the arising of doubt, or, when it has arisen, starves its increase and growth.
And what starves the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, starves its full development? There are things that are grounds for the awakening factor of mindfulness. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of mindfulness, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, starves its full development? There are qualities that are skillful and unskillful, blameworthy and blameless, inferior and superior, and those on the side of dark and bright. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of investigation of principles, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, starves its full development? There are the elements of initiative, persistence, and exertion. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of energy, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, starves its full development? There are things that are grounds for the awakening factor of rapture. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of rapture, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, starves its full development? There is tranquility of the body and of the mind. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of tranquility, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, starves its full development? There are things that are the basis of serenity and freedom from distraction. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of immersion, or, when it has arisen, starves its full development.
And what starves the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, starves its full development? There are things that are grounds for the awakening factor of equanimity. Not frequently applying the mind to that starves the arising of the awakening factor of equanimity, or, when it has arisen, starves its full development."
13. − Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, năm triền cái trở thành mười?
14. Cái gì thuộc nội dục tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại dục tham, cái ấy là triền cái. Gọi là dục tham triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
15. Cái gì thuộc về nội sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại sân, cái ấy là triền cái. Gọi là sân triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
16. Cái gì thuộc về nội hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại hôn trầm thụy miên, cái ấy là triền cái. Gọi là hôn trầm thụy miên là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
17. Cái gì thuộc nội trạo hối, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại trạo hối, cái ấy là triền cái. Gọi là trạo hối triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
18. Cái gì thuộc về nội nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại nghi hoặc, cái ấy là triền cái. Gọi là nghi hoặc triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
19. Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, do pháp môn này, năm triền cái trở thành mười.
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t we visit the monastery of the wanderers of other religions?”
Then they went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
“Reverends, the ascetic Gotama teaches his disciples like this: ‘Mendicants, please give up the five hindrances—corruptions of the heart that weaken wisdom—and truly develop the seven awakening factors.’ We too teach our disciples: ‘Reverends, please give up the five hindrances—corruptions of the heart that weaken wisdom—and truly develop the seven awakening factors.’ What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?”
Those mendicants neither approved nor dismissed that statement of the wanderers of other religions. They got up from their seat, thinking:
“We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.” Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
"Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘But reverends, is there a way in which the five hindrances become ten and the seven awakening factors become fourteen?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except for the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
And what is the way in which the five hindrances become ten? Sensual desire for what is internal is a hindrance; and sensual desire for what is external is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of sensual desire’ becomes twofold. Ill will for what is internal is a hindrance; and ill will for what is external is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of ill will’ becomes twofold. Dullness is a hindrance; and drowsiness is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of dullness and drowsiness’ becomes twofold. Restlessness is a hindrance; and remorse is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of restlessness and remorse’ becomes twofold. Doubt about internal things is a hindrance; and doubt about external things is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of doubt’ becomes twofold. This is the way in which the five hindrances become ten.
And what is the way in which the seven awakening factors become fourteen? Mindfulness of internal things is the awakening factor of mindfulness; and mindfulness of external things is also the awakening factor of mindfulness. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of mindfulness’ becomes twofold.
Investigating, exploring, and inquiring into internal things with wisdom is the awakening factor of investigation of principles; and investigating, exploring, and inquiring into external things with wisdom is also the awakening factor of investigation of principles. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of investigation of principles’ becomes twofold.
Physical energy is the awakening factor of energy; and mental energy is also the awakening factor of energy. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of energy’ becomes twofold.
Rapture while placing the mind and keeping it connected is the awakening factor of rapture; and rapture without placing the mind and keeping it connected is also the awakening factor of rapture. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of rapture’ becomes twofold.
Physical tranquility is the awakening factor of tranquility; and mental tranquility is also the awakening factor of tranquility. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of tranquility’ becomes twofold.
Immersion while placing the mind and keeping it connected is the awakening factor of immersion; and immersion without placing the mind and keeping it connected is also the awakening factor of immersion. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of immersion’ becomes twofold.
Equanimity for internal things is the awakening factor of equanimity; and equanimity for external things is also the awakening factor of equanimity. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of equanimity’ becomes twofold. This is the way in which the seven awakening factors become fourteen."
20. − Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn?
21. Cái gì là niệm đối với nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là niệm giác chi. Cái gì là niệm đối với ngoại pháp, cái ấy là niệm giác chi. Gọi là niệm giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
22. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát với trí tuệ đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là trạch pháp giác chi. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát đối với các ngoại pháp, cái ấy là trạch pháp giác chi. Gọi là trạch pháp giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
23. Cái gì là thân tinh tấn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tinh tấn giác chi. Cái gì là tâm tinh tấn, cái ấy là tinh tấn giác chi. Gọi là tinh tấn giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
24. Cái gì là hỷ có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là hỷ giác chi. Cái gì là hỷ không tầm, không tứ, cái ấy là hỷ giác chi. Gọi là hỷ giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
25. Cái gì là thân khinh an, này các Tỷ-kheo, cái ấy là khinh an giác chi. Cái gì là tâm khinh an, cái ấy là khinh an giác chi. Gọi là khinh an giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
26. Cái gì là định có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là định giác chi. Cái gì là định không tầm, không tứ, cái ấy là định giác chi. Gọi là định giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
27. Cái gì là xả đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là xả giác chi. Cái gì là xả đối với các ngoại pháp, cái ấy là xả giác chi. Gọi là xả giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
28. Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, y cứ pháp môn này, bảy giác chi trở thành mười bốn.
53.III.Lửa (Tạp 27,3, Ðại 2, 191c) (S.v,112)
1. …
2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-10. … (Giống như kinh Pháp Môn 52)
11. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau : “Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
12. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms.
(The same as the previous discourse.)
"Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘Reverends, which awakening factors should not be developed when the mind is sluggish? And which awakening factors should be developed at that time? Which awakening factors should not be developed when the mind is restless? And which awakening factors should be developed at that time?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element.
I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except for the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
When the mind is sluggish, it’s the wrong time to develop the awakening factors of tranquility, immersion, and equanimity. Why is that? Because it’s hard to stimulate a sluggish mind with these things.
Suppose someone wanted to make a small fire flare up. If they toss wet grass, cow-dung, and timber on it, spray it with water, and scatter dirt on it, could they make it flare up?"
“No, sir.”
"In the same way, when the mind is sluggish, it’s the wrong time to develop the awakening factors of tranquility, immersion, and equanimity. Why is that? Because it’s hard to stimulate a sluggish mind with these things.
When the mind is sluggish, it’s the right time to develop the awakening factors of investigation of principles, energy, and rapture. Why is that? Because it’s easy to stimulate a sluggish mind with these things.
Suppose someone wanted to make a small fire flare up. If they toss dry grass, cow-dung, and timber on it, blow on it, and don’t scatter dirt on it, could they make it flare up?"
“Yes, sir.”
"In the same way, when the mind is sluggish, it’s the right time to develop the awakening factors of investigation of principles, energy, and rapture. Why is that? Because it’s easy to stimulate a sluggish mind with these things.
When the mind is restless, it’s the wrong time to develop the awakening factors of investigation of principles, energy, and rapture. Why is that? Because it’s hard to settle a restless mind with these things.
Suppose someone wanted to extinguish a great mass of fire. If they toss dry grass, cow-dung, and timber on it, blow on it, and don’t scatter dirt on it, could they extinguish it?"
“No, sir.”
"In the same way, when the mind is restless, it’s the wrong time to develop the awakening factors of investigation of principles, energy, and rapture. Why is that? Because it’s hard to settle a restless mind with these things.
When the mind is restless, it’s the right time to develop the awakening factors of tranquility, immersion, and equanimity. Why is that? Because it’s easy to settle a restless mind with these things.
Suppose someone wanted to extinguish a great mass of fire. If they toss wet grass, cow-dung, and timber on it, spray it with water, and scatter dirt on it, could they extinguish it?"
“Yes, sir.”
“In the same way, when the mind is restless, it’s the right time to develop the awakening factors of tranquility, immersion, and equanimity. Why is that? Because it’s easy to settle a restless mind with these things. But mindfulness is always useful, I say.”
13.− Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
14. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town called Haliddavasana. Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Haliddavasana for alms. Then it occurred to them, “It’s too early to wander for alms in Haliddavasana. Why don’t we visit the monastery of the wanderers of other religions?”
Then they went to the monastery of the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
"Reverends, the ascetic Gotama teaches his disciples like this: ‘Come, mendicants, give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom, and meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of compassion to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of compassion to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of rejoicing to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of rejoicing to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.’
We too teach our disciples in just the same way. What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?"
Those mendicants neither approved nor dismissed that statement of the wanderers of other religions. They got up from their seat, thinking:
“We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.” Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
"Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘But reverends, how is the heart’s release by love developed? What is its destination, apex, fruit, and culmination? How is the heart’s release by compassion developed? What is its destination, apex, fruit, and end? How is the heart’s release by rejoicing developed? What is its destination, apex, fruit, and end? How is the heart’s release by equanimity developed? What is its destination, apex, fruit, and end?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except for the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
And how is the heart’s release by love developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by love together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, rejecting both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. The apex of the heart’s release by love is the beautiful, I say, for a mendicant who has not penetrated to a higher freedom.
And how is the heart’s release by compassion developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by compassion together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. … If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, rejecting both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond perceptions of form, with the ending of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. The apex of the heart’s release by compassion is the dimension of infinite space, I say, for a mendicant who has not penetrated to a higher freedom.
And how is the heart’s release by rejoicing developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by rejoicing together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. … If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, rejecting both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. The apex of the heart’s release by rejoicing is the dimension of infinite consciousness, I say, for a mendicant who has not penetrated to a higher freedom.
And how is the heart’s release by equanimity developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by equanimity together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, rejecting both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. The apex of the heart’s release by equanimity is the dimension of nothingness, I say, for a mendicant who has not penetrated to a higher freedom."
15. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
16. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
At Sāvatthī.
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why sometimes even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced? And why is it that sometimes even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced?”
"Brahmin, there’s a time when your heart is overcome and mired in sensual desire and you don’t truly understand the escape from sensual desire that has arisen. At that time you don’t truly know or see what is good for yourself, good for another, or good for both. Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Suppose there was a bowl of water that was mixed with dye such as red lac, turmeric, indigo, or rose madder. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in sensual desire … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Suppose there was a bowl of water that was heated by fire, boiling and bubbling. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Suppose there was a bowl of water overgrown with moss and aquatic plants. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Suppose there was a bowl of water stirred by the wind, churning, swirling, and rippling. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in doubt … Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
Suppose there was a bowl of water that was cloudy, murky, and muddy, hidden in the darkness. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, there’s a time when your heart is overcome and mired in doubt and you don’t truly understand the escape from doubt that has arisen. At that time you don’t truly know or see what is good for yourself, good for another, or good for both. Even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced. This is the cause, brahmin, this is the reason why sometimes even hymns that are long-practiced don’t spring to mind, let alone those that are not practiced.
There’s a time when your heart is not overcome and mired in sensual desire and you truly understand the escape from sensual desire that has arisen. At that time you truly know and see what is good for yourself, good for another, and good for both. Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Suppose there was a bowl of water that was not mixed with dye such as red lac, turmeric, indigo, or rose madder. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in sensual desire … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Suppose there is a bowl of water that is not heated by a fire, boiling and bubbling. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Suppose there is a bowl of water that is not overgrown with moss and aquatic plants. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Suppose there is a bowl of water that is not stirred by the wind, churning, swirling, and rippling. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in doubt … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Suppose there was a bowl of water that was transparent, clear, and unclouded, brought into the light. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, there’s a time when your heart is not overcome and mired in doubt and you truly understand the escape from doubt that has arisen. At that time you truly know and see what is good for yourself, good for another, and good for both. Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced. This is the cause, brahmin, this is the reason why sometimes even hymns that are long-unpracticed do spring to mind, let alone those that are practiced.
These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom."
When he said this, Saṅgārava said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
17. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.
18. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. Then Prince Abhaya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, Pūraṇa Kassapa says this: ‘There is no cause or reason for not knowing and not seeing. Not knowing and not seeing have no cause or reason. There is no cause or reason for knowing and seeing. Knowing and seeing have no cause or reason.’ What does the Buddha say about this?”
“Prince, there are causes and reasons for not knowing and not seeing. Not knowing and not seeing have causes and reasons. There are causes and reasons for knowing and seeing. Knowing and seeing have causes and reasons.”
“But sir, what is the cause and reason for not knowing and not seeing? How do not knowing and not seeing have causes and reasons?”
"There’s a time when the heart is overcome and mired in sensual desire, without truly knowing and seeing the escape from sensual desire that has arisen. This is a cause and reason for not knowing and not seeing. And this is how not knowing and not seeing have causes and reasons.
Furthermore, there’s a time when the heart is overcome and mired in ill will … dullness and drowsiness … restlessness and remorse … doubt, without truly knowing and seeing the escape from doubt that has arisen. This is a cause and reason for not knowing and not seeing. And this is how not knowing and not seeing have causes and reasons."
“Sir, what is the name of this exposition of the teaching?”
“These are called the ‘hindrances’, prince.”
"Indeed, Blessed One, these are hindrances! Indeed, Holy One, these are hindrances! Overcome by even a single hindrance you wouldn’t truly know or see, let alone all five hindrances.
But sir, what is the cause and reason for knowing and seeing? How do knowing and seeing have causes and reasons?"
"It’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. They truly know and see with a mind that has developed the awakening factor of mindfulness. This is a cause and reason for knowing and seeing. And this is how knowing and seeing have causes and reasons.
Furthermore, a mendicant develops the awakening factor of investigation of principles … energy … rapture … tranquility … immersion … equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. They truly know and see with a mind that has developed the awakening factor of equanimity. This is a cause and reason for knowing and seeing. And this is how knowing and seeing have causes and reasons."
“Sir, what is the name of this exposition of the teaching?”
“These are called the ‘awakening factors’, prince.”
“Indeed, Blessed One, these are awakening factors! Indeed, Holy One, these are awakening factors! Endowed with even a single awakening factor you would truly know and see, let alone all seven awakening factors. When climbing Mount Vulture’s Peak I became fatigued in body and mind. But this has now faded away. And I’ve comprehended the teaching.”
19. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.
20. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
21. Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when the perception of a skeleton is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. How so? It’s when a mendicant develops the perception of a skeleton together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how the perception of a skeleton, when developed and cultivated, is very fruitful and beneficial.”
“When the perception of a skeleton is developed and cultivated you can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s something left over, non-return. How so?..”
“Mendicants, when the perception of a skeleton is developed and cultivated it leads to great benefit. How so?..”
“Mendicants, when the perception of a skeleton is developed and cultivated it leads to great sanctuary from the yoke. How so?..”
“Mendicants, when the perception of a skeleton is developed and cultivated it leads to great inspiration. How so?..”
“Mendicants, when the perception of a skeleton is developed and cultivated it leads to dwelling in great ease. How so?..”
1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn của dân Koliya tên là Haliddavasana.
2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y, bát đi vào Haliddavasana để khất thực.
3. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy, chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, họ liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
5. − Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử : “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân… với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
6. Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như sau : “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ… với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả… không hận, không sân”.
7. Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù, cái gì là thù thắng, cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?
Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, họ ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.
8. Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi đi khất thực ở Haliddavasana, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
9. − Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau : “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo… (như trên) … Rồi chúng con, bạch Thế Tôn, không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chúng con ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
10. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau :
"Nhưng này chư Hiền, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, hỷ tâm giải thoát… xả tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? " Khi được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
11. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
12. Và này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với từ… tu tập xả giác chi câu hữu với từ, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm và pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác, hay đạt đến giải thoát được gọi là thanh tịnh, vị ấy an trú. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát là thanh tịnh tối thượng, Ta tuyên bố như vậy. Ở đây là trí tuệ đối với Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
13. Và này các Tỷ-kheo, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với bi… tu tập xả giác chi câu hữu với bi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm… Nếu vị ấy muốn : “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, vị ấy nghĩ rằng : “Hư không là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng từ tâm giải thoát lấy Không vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
14. Và này các Tỷ-kheo, tu tập hỷ tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với hỷ… tu tập xả giác chi câu hữu với hỷ liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm… Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác… Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ tâm giải thoát lấy Thức vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tơùi giải thoát cao hơn.
15. Và này các Tỷ-kheo, tu tập xả tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với xả… tu tập xả giác chi câu hữu với xả liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn với ý nghĩ: “Không có vật gì”, vị ấy chứng đạt và trú Vô sở hữu xứ. Ta nói rằng,này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát lấy Vô sở hữu xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
“Mendicants, when the perception of a worm-infested corpse is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
1. Sàvatthi…
2. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, vị ấy liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bàla-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
3. − Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày (sajjhàyakatà:đọc tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật mà tôi không học thuộc lòng lâu ngày, lại nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật được học thuộc lòng?
I
4. − Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga) xâm chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
5. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-lamôn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm… Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
6. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
7. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
8. Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
9. Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
II
10. − Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
11. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
12. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nó gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
13. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
14. Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng, không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
15. Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
16. Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại, không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
17. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
“Mendicants, when the perception of a livid corpse is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Linh Thứu.
2. Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya bạch Thế Tôn:
3. − Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:
− “Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có nhân, không có duyên”. Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?
4. − Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có duyên.
I
5. − Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân, có duyên?
6. − Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
7. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối…
8. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối…
9. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối…
10. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
11. − Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
− Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.
− Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.
II
12. − Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?
13. − Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.
14-18. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo…
19. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.
20. − Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
− Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.
− Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.
Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.
“Mendicants, when the perception of a split open corpse is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
“Mendicants, when the perception of a bloated corpse is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
1. Sàvatthi…
2. − Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
3. Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.
“Mendicants, when love is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
1. …
2. − Tu tập, làm cho sung mãn cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
3. Tu tập cốt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng… tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
“Mendicants, when compassion is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
1. …
2. − Cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn.
3. Cốt tưởng, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn?.. (Như số 4,5 đoạn trên).
“Mendicants, when rejoicing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến an ổn lớn, khỏi khổ ách)
“Mendicants, when equanimity is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
(Như trên, chỉ khác là đưa đến hứng khởi lớn)
“Mendicants, when mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến lạc trú)
“Mendicants, when the perception of ugliness is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI) Tu tập tưởng bị trùng ăn, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập tưởng xác bị xanh bầm, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of repulsiveness of food is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập tưởng xác bị nứt nẻ, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of dissatisfaction with the whole world is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập tưởng xác bị sưng phồng lên, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of impermanence is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập từ tâm, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of suffering in impermanence is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập bi tâm, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of not-self in suffering is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập hỷ tâm, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of giving up is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập xả tâm, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, when the perception of dispassion is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. …”
I-VI. Tu tập hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỷ-kheo…
"Mendicants, when the perception of cessation is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. How so? It’s when a mendicant develops the perception of cessation together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how, when the perception of cessation is developed and cultivated, it’s very fruitful and beneficial.
When the perception of cessation is developed and cultivated you can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s something left over, non-return. How so? It’s when a mendicant develops the perception of cessation together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. When the perception of cessation is developed and cultivated in this way you can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s something left over, non-return."
“The perception of cessation, when developed and cultivated, leads to great benefit … great sanctuary from the yoke … great inspiration … great ease. How so? It’s when a mendicant develops the perception of cessation together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how the perception of cessation, when developed and cultivated, leads to great benefit … great sanctuary from the yoke … great inspiration … great ease.”
I-VI. Tu tập tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo…
"Mendicants, the Ganges river slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the seven awakening factors slants, slopes, and inclines to extinguishment.
And how does a mendicant who develops the seven awakening factors slant, slope, and incline to extinguishment? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how a mendicant who develops and cultivates the seven awakening factors slants, slopes, and inclines to extinguishment."
(Tell in full for each of the different rivers as in SN 45.91–102.)
I-VI. Tu tập tưởng chết này, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet …”
(Tell in full as in SN 45.139–148.)
I-VI. Tu tập tưởng ghê tởm đối với đồ ăn, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, all the hard work that gets done depends on the earth and is grounded on the earth. …”
(Tell in full as in SN 45.149–160.)
I-VI. Tu tập tưởng bất khả lạc đối với toàn thế giới, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, there are these three searches. What three? The search for sensual pleasures, the search for continued existence, and the search for a spiritual path. …”
(Tell in full as in SN 45.161–170.)
I-VI. Tu tập tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo…
“Mendicants, there are these four floods. What four? The floods of sensuality, desire to be reborn, views, and ignorance.”
(Tell in full as in SN 45.171–179.)
I-VI. Tu tập khổ tưởng, này các Tỷ-kheo…
At Sāvatthī.
"Mendicants, there are five higher fetters. What five? Desire for rebirth in the realm of luminous form, desire for rebirth in the formless realm, conceit, restlessness, and ignorance. These are the five higher fetters. The seven awakening factors should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters.
What seven? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which culminate in the removal of greed, hate, and delusion. …"
“… which culminate, finish, and end in freedom from death …”
"… which slant, slope, and incline to extinguishment …
The seven awakening factors should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters."
I-VI. Tu tập tưởng vô ngã, này các Tỷ-kheo…
(Tell in full as in SN 45.103–114, removal of greed version.)
I-VI. Tu tập tưởng đoạn tận, này các Tỷ-kheo…
(Tell in full as in SN 45.139–148, removal of greed version.)
I-VI. Tu tập tưởng ly tham, này các Tỷ-kheo…
(Tell in full as in SN 45.149–160, removal of greed version.)
(Tell in full as in SN 45.161–170.)
1. …
2. − Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.
3. Và này các Tỷ-kheo, tu tập tưởng đoạn diệt như thế nào…
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt…
5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.
(Tell in full as in SN 45.171–180.)
::: small (Tell in full as in the chapter on removal of greed, hate, and delusion.) :::
::: small (The Linked Discourses on Awakening Factors should be told in full just as the Linked Discourses on the Path.) :::
The Linked Discourses on the Awakening Factors is the second section.
2. − Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
3. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn tưởng đoạn diệt như thế nào, này các Tỷ-kheo…
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt…
5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo…
1. …
2. − Tưởng đoạn diệt được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn.
3. Tu tập đoạn diệt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt… tu tập xả giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ…
5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn đưa đến lạc trú lớn.
1. …
2. - Ví như, này các Tỷ Kheo, Sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Bẩy Giác Chi làm cho sung mãn bảy Giác Chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
(Cho đến phẩm Tầm Cầu, như trên)
− Này các Tỷ-kheo, như các loài hữu tình không chân, hay có hai chân, hay có bốn chân, hay có nhiều chân…
(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)
− Này các Tỷ-kheo, ví như các hành động cần phải dùng sức mạnh…
(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)
− Có ba sự tầm cầu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Tầm cầu dục, tầm cầu hữu, tầm cầu Phạm hạnh…
(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)
111-119 I-IX. (S.v,136)
1. Nhân duyên ở Sàvatthi…
2. − Có bốn bộc lưu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.
3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?..
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.
1. …
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn.
(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) …
Gồm các kinh:
Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.
Gồm các kinh:
Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không, Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.
155-164 I-X (S.v, 139)
Gồm các kinh:
Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ, Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.
XVIII.Phẩm Bộc Lưu
1. Nhân duyên ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.
3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?..
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5. Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.
1. …
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn.
(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) …
Gồm các kinh:
Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.
Gồm các kinh:
Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không, Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.
155-164 I-X (S.v, 139)
Gồm các kinh:
Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ, Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Ðây là năm thượng phần kiết sử.
3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, nhập vào bất tử, lấy bất tử làm tối thượng, lấy bất tử làm cứu cánh, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
5. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.
-ooOoo-