Skip to content

Bhikkhu Sujato (en) [link]

Thích Minh Châu [link]

Linked Discourses on the Truths

56. TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT

The Chapter on Immersion

SN 56.1 Immersion Samādhisutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, develop immersion. A mendicant who has immersion truly understands. What do they truly understand? They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. Develop immersion. A mendicant who has immersion truly understands.

That’s why you should practice meditation to understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’."

I. Phẩm Ðịnh

1.I. Ðịnh (S.v,414)

1) Ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?

3. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.2 Retreat Paṭisallānasutta

"Mendicants, meditate in retreat. A mendicant in retreat truly understands. What do they truly understand? They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. Meditate in retreat. A mendicant in retreat truly understands.

That’s why you should practice meditation to understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’."

2. II. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.v,414)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Như thật rõ biết gì?

3. (Như đoạn số 3, kinh trên) …

4. Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

SN 56.3 A Gentleman (1st) Paṭhamakulaputtasutta

"Mendicants, whatever gentlemen—past, future, or present—rightly go forth from the lay life to homelessness, all of them do so in order to truly comprehend the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Whatever gentlemen—past, future, or present—rightly go forth from the lay life to homelessness, all of them do so in order to truly comprehend the four noble truths.

That’s why you should practice meditation to understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’."

3. III. Thiện Nam Tử (1) (S.v,415)

1. …

2. − Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3. Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỷ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4. Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… sẽ chơn chánh xuất gia… tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.4 A Gentleman (2nd) Dutiyakulaputtasutta

"Mendicants, whatever gentlemen—past, future, or present—truly comprehend after rightly going forth from the lay life to homelessness, all of them truly comprehend the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. …

That’s why you should practice meditation …"

4. IV. Thiện Nam Tử (2) (S.v,415)

1. …

2. − Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã như thật chứng ngộ… sẽ như thật chứng ngộ… như thật chứng ngộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.5 Ascetics and Brahmins (1st) Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta

"Mendicants, whatever ascetics and brahmins truly wake up—in the past, future, or present—all of them truly wake up to the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. …

That’s why you should practice meditation …"

5. V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,416)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác… sẽ như thật chánh đẳng giác… như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.6 Ascetics and Brahmins (2nd) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

"Mendicants, whatever ascetics and brahmins—past, future, or present—reveal that they are awakened, all of them reveal that they truly awakened to the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. …

That’s why you should practice meditation …"

6. VI. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,417)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác…; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… tuyên bố như thật chánh đẳng giác…; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác… sẽ tuyên bố… tuyên bố như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy đã tuyên bố… sẽ tuyên bố… tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.7 Thoughts Vitakkasutta

"Mendicants, don’t think bad, unskillful thoughts, such as sensual, malicious, and cruel thoughts. Why is that? Because those thoughts aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

When you think, you should think: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. Why is that? Because those thoughts are beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. They lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

That’s why you should practice meditation …"

7. VII. Các Tầm (S.v,417)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao?

3. Các tầm ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: “Ðây là khổ”… hãy suy tầm: “Ðây là Khổ tập”… hãy suy tầm: “Ðây là Khổ diệt”… hãy suy tầm: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. Các suy tầm ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.8 Thought Cintasutta

"Mendicants, don’t think up a bad, unskillful idea. For example: the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are the same thing, or they are different things; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists. Why is that? Because those thoughts aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

When you think something up, you should think: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. Why is that? Because those thoughts are beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. They lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

That’s why you should practice meditation …"

8. VIII. Suy Tư (Cintà) (S.v,418)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm: “Thế giới là thường hằng”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng này, thân thể này là một”, hay “Sinh mạng này, thân thể này là khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?

3. … (Như đoạn số 3, kinh trên) …

4. Và có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ”… hãy suy tư: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. … Các suy tư ấy… (Như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.9 Arguments Viggāhikakathāsutta

"Mendicants, don’t get into arguments, such as: ‘You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!’ Why is that? Because those discussions aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

When you discuss, you should discuss: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. …

That’s why you should practice meditation …"

9. IX. Tranh Luận (Viggàhikà) (S.v,419)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được”. Vì sao?

3. Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: “Ðây là Khổ”… hãy nói: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh… một cố gắng cần phải làm…

SN 56.10 Low Talk Tiracchānakathāsutta

"Mendicants, don’t engage in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and talk at the well; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place. Why is that? Because those discussions aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

When you discuss, you should discuss: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. …

That’s why you should practice meditation …"

10. X. Lời Nói (S.v,419)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?

3. Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: “Ðây là Khổ”… hãy nói chuyện: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”… Vì sao?

5. Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

The Chapter on Rolling Forth the Wheel of Dhamma

SN 56.11 Rolling Forth the Wheel of Dhamma Dhammacakkappavattanasutta

At one time the Buddha was staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the group of five mendicants:

"Mendicants, these two extremes should not be cultivated by one who has gone forth. What two? Indulgence in sensual pleasures, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And indulgence in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless. Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.

And what is that middle way of practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is that middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.

Now this is the noble truth of suffering. Rebirth is suffering; old age is suffering; illness is suffering; death is suffering; association with the disliked is suffering; separation from the liked is suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.

Now this is the noble truth of the origin of suffering. It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence.

Now this is the noble truth of the cessation of suffering. It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it.

Now this is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering. It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.

‘This is the noble truth of suffering.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another. ‘This noble truth of suffering should be completely understood.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of suffering has been completely understood.’ Such was the vision that arose in me …

‘This is the noble truth of the origin of suffering.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the origin of suffering should be given up.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the origin of suffering has been given up.’ Such was the vision that arose in me …

‘This is the noble truth of the cessation of suffering.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the cessation of suffering should be realized.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the cessation of suffering has been realized.’ Such was the vision that arose in me …

‘This is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering should be developed.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering has been developed.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.

As long as my true knowledge and vision about these four noble truths was not fully purified in these three rounds and twelve aspects, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

But when my true knowledge and vision about these four noble truths was fully purified in these three rounds and twelve aspects, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.

Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’"

That is what the Buddha said. Satisfied, the group of five mendicants approved what the Buddha said.

And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in Venerable Koṇḍañña: “Everything that has a beginning has an end.”

And when the Buddha rolled forth the Wheel of Dhamma, the earth gods raised the cry: “Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Buddha has rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”

Hearing the cry of the earth gods, the gods of the four great kings … the gods of the thirty-three … the gods of Yama … the joyful gods … the gods who love to imagine … the gods who control what is imagined by others … the gods of the Divinity’s host raised the cry: “Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Buddha has rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”

And so at that moment, that second, that hour, the cry soared up to the realm of divinity. And this ten-thousandfold galaxy shook and rocked and trembled. And an immeasurable, magnificent light appeared in the world, surpassing the glory of the gods.

Then the Buddha expressed this heartfelt sentiment: “Koṇḍañña has really understood! Koṇḍañña has really understood!”

And that’s how Venerable Koṇḍañña came to be known as “Koṇḍañña Who Understood”.

II. Phẩm Chuyển Pháp Luân

11. I. Như Lai Thuyết (1) (S.v,420)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỷ-kheo:

− Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai?

3. Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Và thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

5. Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

6. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

7. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

8. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

9. Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ đã được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

10. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

11. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

12. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

13. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

14. Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đến này, với ba chuyển và mười hai hánh tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

15. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kondanna khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: “Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt”.

16. Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời”.

17. Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời”.

18. Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba… chư Thiên Yàmà… chư Thiên Tusità… chư Hóa lạc thiên… chư Tha hóa tự tại thiên… chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận… bất cứ một ai ở đời”.

19. Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.

20. Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây: “Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna!”

Như vậy Tôn giả Kondanna được tên là Annàta Kondanna (A-nhã Kiều-trần-như).

SN 56.12 The Realized Ones Tathāgatasutta

"‘This is the noble truth of suffering.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in the Realized Ones regarding teachings not learned before from another. ‘This noble truth of suffering should be completely understood.’ … ‘This noble truth of suffering has been completely understood.’ …

‘This is the noble truth of the origin of suffering.’ … ‘This noble truth of the origin of suffering should be given up.’ … ‘This noble truth of the origin of suffering has been given up.’ …

‘This is the noble truth of the cessation of suffering.’ … ‘This noble truth of the cessation of suffering should be realized.’ … ‘This noble truth of the cessation of suffering has been realized.’ …

‘This is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ … ‘This noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering should be developed.’ … ‘This noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering has been developed.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in the Realized Ones regarding teachings not learned before from another."

12. II. Như Lai Thuyết (2) (S.v,424)

1. …

2. − Thánh đế về Khổ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước đến nay các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ đã được liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

3. Thánh đế về Khổ tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

4. Thánh đế về Khổ diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh.

5. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

SN 56.13 Aggregates Khandhasutta

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.

And what is the noble truth of suffering? You should say: ‘The five grasping aggregates’. That is: form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is called the noble truth of suffering.

And what is the noble truth of the origin of suffering? It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure wherever it lands. That is, craving for sensual pleasures, craving to continue existence, and craving to end existence. This is called the noble truth of the origin of suffering.

And what is the noble truth of the cessation of suffering? It’s the fading away and cessation of that very same craving with nothing left over; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it. This is called the noble truth of the cessation of suffering.

And what is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is called the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering. These are the four noble truths.

That’s why you should practice meditation …"

13. III. Uẩn (S.v,425)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ? Cần phải được nói là năm thủ uẩn. Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ tập? Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ diệt? Chính là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt? Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là các Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.14 Interior Sense Fields Ajjhattikāyatanasutta

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.

And what is the noble truth of suffering? You should say: ‘The six interior sense fields’. What six? The sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called the noble truth of suffering. …"

14. IV. Xứ (S.v,426)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này… Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ? Cần phải trả lời là sáu nội xứ. Thế nào là sáu? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.

4-7. … (giống như đoạn số 4-7 của kinh trên).

SN 56.15 Remembering (1st) Paṭhamadhāraṇasutta

“Mendicants, do you remember the four noble truths that I taught?” When he said this, one of the mendicants said to the Buddha:

“I do, sir.”

“How so, mendicant?”

“Sir, I remember that suffering is the first noble truth you’ve taught; the origin of suffering is the second; the cessation of suffering is the third; and the practice that leads to the cessation of suffering is the fourth. That’s how I remember the four noble truths as you’ve taught them.”

"Good, good, mendicant! It’s good that you remember the four noble truths as I’ve taught them. Suffering is the first noble truth I’ve taught, and that’s how you should remember it. The origin of suffering is the second; the cessation of suffering is the third; and the practice that leads to the cessation of suffering is the fourth. That’s how you should remember the four noble truths as I’ve taught them.

That’s why you should practice meditation …"

15. V. Thọ Trì (1) (S.v,426)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì bốn Thánh đế Ta đã thuyết giảng cho các Ông.

3. Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con có thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

4. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ diệt là Thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.

Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

5. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Này Tỷ-kheo, Khổ là Thánh đế thứ nhất do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì… Này Tỷ-kheo, Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì.

6. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.16 Remembering (2nd) Dutiyadhāraṇasutta

“Mendicants, do you remember the four noble truths that I taught?” When he said this, one of the mendicants said to the Buddha:

“I do, sir.”

“How so, mendicant?”

“Sir, I remember that suffering is the first noble truth you’ve taught. For if any ascetic or brahmin should say this: ‘What the ascetic Gotama teaches is not the first noble truth of suffering. I’ll reject this first noble truth of suffering and describe another first noble truth of suffering.’ That is not possible. The origin of suffering … The cessation of suffering … The practice that leads to the cessation of suffering is the fourth noble truth you’ve taught. For if any ascetic or brahmin should say this: ‘What the ascetic Gotama teaches is not the fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering. I’ll reject this fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering and describe another fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ That is not possible. That’s how I remember the four noble truths as you’ve taught them.”

"Good, good, mendicant! It’s good that you remember the four noble truths as I’ve taught them. Suffering is the first noble truth I’ve taught, and that’s how you should remember it. For if any ascetic or brahmin should say this: ‘What the ascetic Gotama teaches is not the first noble truth of suffering. I’ll reject this first noble truth of suffering and describe another first noble truth of suffering.’ That is not possible. The origin of suffering … The cessation of suffering … The practice that leads to the cessation of suffering is the fourth noble truth I’ve taught, and that’s how you should remember it. For if any ascetic or brahmin should say this: ‘What the ascetic Gotama teaches is not the fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering. I’ll reject this fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering and describe another fourth noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ That is not possible. That’s how you should remember the four noble truths as I’ve taught them.

That’s why you should practice meditation …"

16. VI. Thọ Trì (2) (S.v,427)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3 của kinh trên)

4. − Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Khổ này được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ ấy là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất”. Sự kiện như vậy không xảy ra.

5-6. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai… Khổ diệt là Thánh đế thứ ba… không xẩy ra.

7. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, được Samôn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt ấy là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư”. Sự kiện này không xẩy ra.

8. Bạch Thế Tôn, như vậy con thọ trì bốn Thánh đế do Thế Tôn thuyết giảng.

9. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Khổ, này Tỷ-kheo, là Thánh đế thứ nhất, do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Khổ này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ này là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất”. Sự kiện như vậy không xảy ra… “Khổ diệt Thánh đế… Con đường đưa đến khổ diệt”. Này Tỷ-kheo, là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bàla-môn nào nói như sau: “Con Ðường đưa đến Khổ diệt này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt này là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư”. Sự kiện như vậy không xẩy ra.

10. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.17 Ignorance Avijjāsutta

Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:

“Sir, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance? And how is an ignorant person defined?”

"Not knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called ignorance. And this is how an ignorant person is defined.

That’s why you should practice meditation …"

17. VII. Vô Minh (S.v,429)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo… ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào là đi đến vô minh (avijjàgato)?

4. − Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh.

5. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.18 Knowledge Vijjāsutta

Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:

“Sir, they speak of this thing called ‘knowledge’. What is knowledge? And how is a knowledgeable person defined?”

"Knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called knowledge. And this is how a knowledgeable person is defined.

That’s why you should practice meditation …"

18. VIII. Minh (S.v,429)

1. …

2. … (như kinh trên) …

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là minh? Và cho đến như thế nào là đi đến minh?

4. − Này Tỷ-kheo, chính là rõ biết Khổ, rõ biết Khổ tập, rõ biết Khổ diệt, rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là minh. Cho đến như vậy là đi đến minh.

5. Do vậy, này Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.19 Expressions Saṅkāsanasutta

"Mendicants, I’ve declared: ‘This is the noble truth of suffering.’ And there are limitless explanations, phrases, and expressions about that: ‘This is another way of saying that this is the noble truth of suffering.’ I’ve declared: ‘This is the noble truth of the origin of suffering.’ … I’ve declared: ‘This is the noble truth of the cessation of suffering.’ … I’ve declared: ‘This is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ And there are limitless explanations, phrases, and expressions about that: ‘This is another way of saying that this is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’

That’s why you should practice meditation …"

19. IX. Thi Thiết (Sankàsanà) (S.v,430)

1. …

2. − Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ (vannà), vô lượng văn (vyanjanà), vô lượng thi thiết (sankàsanà). Ðây là Thánh đế về Khổ.

3. … Ðây là Khổ tập…

4. … Ðây là Khổ diệt…

5. Ðây là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thi thiết. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.20 Real Tathasutta

"Mendicants, these four things are real, not unreal, not otherwise. What four? ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’ … These four things are real, not unreal, not otherwise.

That’s why you should practice meditation …"

20. X. Như Thật (Tathà) (S.v,430)

1. …

2. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật (avitathàni), không khác như thật (anannathàni). Thế nào là bốn?

3. Ðây là Khổ, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

4. Ðây là Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

5. Ðây là Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

6. Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

7. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

The Chapter at the Village of Koṭi

SN 56.21 At the Village of Koṭi (1st) Paṭhamakoṭigāmasutta

At one time the Buddha was staying in the land of the Vajjis at the village of Koṭi. There the Buddha addressed the mendicants: "Mendicants, due to not understanding and not penetrating four noble truths, both you and I have wandered and transmigrated for such a very long time.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. These noble truths of suffering, origin, cessation, and the path have been understood and comprehended. Craving for continued existence has been cut off; the conduit to rebirth is ended; now there’ll be no more future lives."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"Because of not truly seeing
the four noble truths,
we have transmigrated for a long time
from one rebirth to the next.

But now that these truths have been seen,
the conduit to rebirth is eradicated.
The root of suffering is cut off,
now there’ll be no more future lives."

III. Phẩm Kotigàma

21.I. Minh (1) (S.v,431)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajji, tại Kotigàma.

2. Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn?

3. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.

4. Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.

5. Thế Tôn thuyết giảng như vậy… bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Do không như thật thấy,
Bốn sự thật bậc Thánh,

Phải lâu ngày luân chuyển,
Trải qua nhiều đời sống.
Khi chúng được thấy rõ,
Mầm tái sanh nhổ sạch,
Gốc khổ được đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.

SN 56.22 At the Village of Koṭi (2nd) Dutiyakoṭigāmasutta

"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight.

There are ascetics and brahmins who do truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight."

That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

"There are those who don’t understand suffering
and suffering’s cause,
and where all suffering
ceases with nothing left over.

And they do not know the path
that leads to the stilling of suffering.
They lack the heart’s release,
as well as the release by wisdom.
Unable to make an end,
they continue to be reborn and grow old.

But there are those who understand suffering
and suffering’s cause,
and where all suffering
ceases with nothing left over.

And they understand the path
that leads to the stilling of suffering.
They’re endowed with the heart’s release,
as well as the release by wisdom.
Able to make an end,
they don’t continue to be reborn and grow old."

22.II.Minh (2) (S.v,432)

1. …

2.− Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.

3. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh.

4. Thế Tôn thuyết giảng như vậy… bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Những ai không rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Không rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Không biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh Khổ.
Những vị ấy không có
Tâm và tuệ giải thoát,
Họ không thể chấm dứt,
Phải đi đến sanh già.
Những vị nào rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Và rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Rõ biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh khổ.
Tâm giải thoát thành tựu,
Và các tuệ giải thoát,
Họ có thể chấm dứt,
Không đi đến sanh già.

SN 56.23 The Fully Awakened Buddha Sammāsambuddhasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. These are the four noble truths. It is because he has truly understood these four noble truths that the Realized One is called ‘the perfected one, the fully awakened Buddha’.

That’s why you should practice meditation …"

23.III. Chánh Ðẳng Giác (S.v,433)

1-2. Tại Sàvatthi…

− Có bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ,… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.24 The Perfected Ones Arahantasutta

At Sāvatthī.

"Mendicants, whatever perfected ones, fully awakened Buddhas truly wake up—in the past, future, or present—all of them truly wake up to the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Whatever perfected ones, fully awakened Buddhas truly wake up—in the past, future, or present—all of them truly wake up to the four noble truths.

That’s why you should practice meditation …"

24.IV. A-La-Hán (S.v,433)

1. Tại Sàvatthi…

2. − Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

3. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

4. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ như thật đã chánh đẳng chánh giác… sẽ như thật chánh đẳng chánh giác, hiện như thật chánh đẳng chánh giác; tất cả những vị ấy… hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.25 The Ending of Defilements Āsavakkhayasutta

"Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? The ending of defilements is for one who knows and sees suffering, its origin, its cessation, and the path. The ending of the defilements is for one who knows and sees this.

That’s why you should practice meditation …"

25.V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc (S.v,434)

1. …

2. − Với người biết, với người thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?

3. Do biết, do thấy: “Ðây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… Do biết, do thấy: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, các lậu hoặc được đoạn tận.

4. Do biết vậy, do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.26 Friends Mittasutta

"Mendicants, those who you have sympathy for, and those worth listening to—friends and colleagues, relatives and family—should be encouraged, supported, and established in the true comprehension of the four noble truths.

What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Those who you have sympathy for, and those worth listening to—friends and colleagues, relatives and family—should be encouraged, supported, and established in the true comprehension of these four noble truths.

That’s why you should practice meditation …"

26.VI.Thân Hữu (S.v,434)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ cần nghe theo như bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay huyết thống, thì này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải khích lệ những người ấy, huấn luyện, an trú các người ấy trong sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn… như thật bốn Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.27 Real Tathasutta

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. These four noble truths are real, not unreal, not otherwise. That’s why they’re called ‘noble truths’.

That’s why you should practice meditation …"

27.VII. Như Thật (S.v,435)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, chúng được gọi là Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5 kinh trên) …

SN 56.28 The World Lokasutta

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. In this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans, the Realized One is the Noble One. That’s why they’re called ‘noble truths’.

That’s why you should practice meditation …"

28.VIII. Thế Giới (S.v,435)

1. …

2-3. … (Như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Này các Tỷ-kheo, trong các thế giới, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai là bậc Thánh, do vậy được gọi là Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.29 Should Be Completely Understood Pariññeyyasutta

"Mendicants, there are these four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. These are the four noble truths. Of these four noble truths, there is one to be completely understood, one to be given up, one to be realized, and one to be developed.

And which noble truth should be completely understood? The noble truth of suffering should be completely understood. The noble truth of the origin of suffering should be given up. The noble truth of the cessation of suffering should be realized. The noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering should be developed.

That’s why you should practice meditation …"

29.IX. Cần Phải Liễu Tri Hay Thắng Tri (S.v,436)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Trong bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, có Thánh đế cần phải liễu tri, có Thánh đế cần phải đoạn tận, có Thánh đế cần phải chứng ngộ, có Thánh đế cần phải tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế cần phải liễu tri?

5. Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, cần phải liễu tri. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.30 With Gavampati Gavampatisutta

At one time several mendicants were staying in the land of the Cetīs at Sahajāti. Now at that time, after the meal, on return from almsround, several senior mendicants sat together in the pavilion and this discussion came up among them:

“Reverends, does someone who sees suffering also see the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering?”

When they said this, Venerable Gavampati said to those senior mendicants:

“Reverends, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘Someone who sees suffering also sees the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Someone who sees the origin of suffering also sees suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Someone who sees the cessation of suffering also sees suffering, the origin of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. Someone who sees the practice that leads to the cessation of suffering also sees suffering, the origin of suffering, and the cessation of suffering.’”

30.X. Gavampati (S.v,436)

1. Một thời, một số đông Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Ceti tại Sahancanika.

2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo Thượng tọa sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong ngôi nhà tròn, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai thấy Khổ, người ấy thấy Khổ tập, thấy Khổ diệt, thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

3. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Govampati nói với các Tỷ-kheo Thượng tọa:

− "Tôi có tự thân nghe từ Thế Tôn, thưa chư Hiền, tự thân lãnh thọ như sau:

4. “Này các Tỷ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt”.

The Chapter in a Rosewood Forest

SN 56.31 In a Rosewood Forest Sīsapāvanasutta

At one time the Buddha was staying near Kosambī in a rosewood forest. Then the Buddha picked up a few rosewood leaves in his hand and addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the few leaves in my hand, or those in the forest above me?”

“Sir, the few leaves in your hand are a tiny amount. There are far more leaves in the forest above.”

"In the same way, there is much more that I have directly known but have not explained to you. What I have explained is a tiny amount. And why haven’t I explained it? Because it’s not beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I haven’t explained it.

And what have I explained? I have explained: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.

And why have I explained this? Because it’s beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. It leads to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I’ve explained it.

That’s why you should practice meditation …"

IV. Phẩm Rừng Simsapà

31.I. Simsapà (S.v,437)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.

2. Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?

− Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.

3. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!

4. Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

5. Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói? “Ðây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ tập”, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ diệt”, là điều Ta nói. “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, là điều Ta nói.

6. Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.32 Acacia Leaves Khadirapattasutta

"Mendicants, suppose someone were to say: ‘Without truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is not possible.

It’s as if someone were to say: ‘I’ll make a basket out of acacia leaves or pine needles or myrobalan leaves, and use it to carry water or a palm frond.’ That is not possible. In the same way, suppose someone were to say: ‘Without truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is not possible.

But suppose someone were to say: ‘After truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is possible.

It’s as if someone were to say: ‘I’ll make a basket out of lotus leaves or flame-of-the-forest leaves or camel’s foot creeper leaves, and use it to carry water or a palm frond.’ That is possible. In the same way, suppose someone were to say: ‘After truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is possible.

That’s why you should practice meditation …"

32.II. Cây Keo (Khandira) (S.v,438)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nói như sau : “Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt”; sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau: “Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: “Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.33 A Stick Daṇḍasutta

"Mendicants, suppose a stick was tossed up in the air. Sometimes it’d fall on its bottom and sometimes the top. It’s the same for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Sometimes they go from this world to the other world, and sometimes they come from the other world to this world. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

33.III. Cái Gậy (S.v,439)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được quăng lên hư không, khi thì rơi xuống đầu gốc, khi thì rơi xuống chặng giữa, khi thì rơi xuống đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, dong ruổi, luân chuyển, khi thì đi từ thế giới này đến thế giới kia, khi thì đi từ thế giới kia đến thế giới này. Vì sao? Vì rằng không thấy bốn Thánh đế. Này các Tỷ-kheo, bốn Thánh đế ấy là gì?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như số 6, kinh trên) …

SN 56.34 Clothes Celasutta

“Mendicants, if your clothes or head were on fire, what would you do about it?”

“Sir, if our clothes or head were on fire, we’d apply intense enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness in order to extinguish it.”

"Mendicants, so long as you have not comprehended the four noble truths, regard your burning head or clothes with equanimity, ignore them, and apply intense enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness to truly comprehending the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

34.IV. Khăn Ðầu (S.v,440)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?

− Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác.

3. − Bỏ qua đầu và khăn bị cháy, này các Tỷ-kheo, không có tác ý để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế, chưa được chứng ngộ, cần phải có ước muốn tăng thượng, tinh tấn, cố gắng, nỗ lực, không thối thất, chánh niệm và tỉnh giác. Thế nào là bốn?

4. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.35 A Hundred Spears Sattisatasutta

"Mendicants, suppose there was a man with a lifespan of a hundred years. And someone might say to him: ‘Come now, my good man, they’ll strike you with a hundred spears in the morning, at midday, and in the late afternoon. And you’ll live for a hundred years being struck with three hundred spears every day. But when a hundred years have passed, you will comprehend the four noble truths for the first time.’

For an earnest gentleman this is sufficient reason to submit.

Why is that? Transmigration has no known beginning. No first point is found of blows by spears, swords, arrows, and axes. Now this may be so. But the comprehension of the four noble truths doesn’t come with pain or sadness, I say. Rather, the comprehension of the four noble truths comes only with pleasure and happiness, I say. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

35.V. Một Trăm Cây Thương (Sattisata) (S.v,440)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người tuổi thọ đến một trăm năm, mạng sống đến một trăm năm. Có người đến nói với người ấy: “Này Ông, vào buổi sáng, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi trưa, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi chiều, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Này Ông, như vậy mỗi ngày Ông bị đâm ba trăm cây thương, với tuổi thọ đến một trăm năm, với mạng sống đến một trăm năm. Sau một trăm năm, Ông sẽ được giác ngộ bốn Thánh đế trước kia chưa được giác ngộ”. Này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử hiểu biết nghĩa lý (atthavasikena) có thể chấp nhận chăng? Vì sao?

3. Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn?

4. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. … (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.36 Living Creatures Pāṇasutta

"Suppose a person was to strip all the grass, sticks, branches, and leaves in the Black Plum Tree Land, gather them together into one pile, and make them into stakes. Then they’d impale the large creatures in the ocean on large stakes; the medium-sized creatures on medium-sized stakes; and the small creatures on small stakes. They wouldn’t run out of sizable creatures in the ocean before using up all the grass, sticks, branches, and leaves in the Black Plum Tree Land. There are far more small creatures in the ocean than this, so it wouldn’t be feasible to impale them on stakes. Why is that? Because of the small size of those life-forms. That’s how big the plane of loss is.

A person accomplished in view, exempt from that vast plane of loss, truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.

That’s why you should practice meditation …"

36.VI. Sanh Lọai (Pànà) (S.v,431)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người trên cõi Diêm-phù-đề này chặt cỏ, cây, cành, lá và chất thành một đống. Chất thành một đống xong, vị ấy làm thành những cây gậy có vót nhọn (sulàm). Sau khi làm thành những cây có vót nhọn, vị ấy đâm những sanh loại lớn trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn lớn; vị ấy đâm những sanh loại bậc trung trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc trung; vị ấy đâm những sanh loại nhỏ trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc nhỏ. Này các Tỷ-kheo, các sinh loại to lớn trong biển lớn không có thể cạn sạch hết. Dầu rằng tất cả cỏ, cây, cành, lá ở cõi Diêm-phù-đề có thể đem ra dùng hết sạch. Nhưng còn nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, là những sinh loại nhỏ trong biển lớn không dễ gì đâm chúng trên các gậy có vót nhọn. Vì sao?

3. Này các Tỷ-kheo, vì cá thể (attabhàva) của chúng rất tế nhị. Lớn vậy, này các Tỷ-kheo, là đọa xứ. Và này các Tỷ-kheo, được thoát khỏi đọa xứ lớn ấy là người nào đã thành tựu chánh kiến, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.37 The Simile of the Sun (1st) Paṭhamasūriyasutta

"Mendicants, the dawn is the forerunner and precursor of the sunrise.

In the same way, right view is the forerunner and precursor of truly comprehending the four noble truths. A mendicant with right view can expect to truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.

That’s why you should practice meditation …"

37.VII. Ví Dụ Mặt Trời (1) (S.v,442)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến…

3. Với Tỷ-kheo có chánh tri kiến này, này các Tỷ-kheo, chờ đợi là vị ấy sẽ rõ biết: “Ðây là Khổ”… Vị ấy sẽ rõ biết. “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 4, kinh trên) …

SN 56.38 The Simile of the Sun (2nd) Dutiyasūriyasutta

"Mendicants, as long as the moon and the sun don’t arise in the world, no great light or great radiance appears. Darkness prevails then, utter darkness. Day and night aren’t found, nor months and fortnights, nor seasons and years.

But when the moon and the sun arise in the world, a great light, a great radiance appears. Darkness no longer prevails. Day and night are found, and months and fortnights, and seasons and years.

In the same way, as long as the Realized One doesn’t arise in the world, no great light or great radiance appears. Darkness prevails then, utter darkness. There’s no explanation of the four noble truths, no teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of them.

But when the Realized One arises in the world, a great light, a great radiance appears. Darkness no longer prevails. Then there’s the explanation of the four noble truths, the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of them. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

38.VIII. Ví Dụ Mặt Trời (2) (S.v,442)

1. …

2. − Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám, không thể phân biệt đêm và ngày, không thể phân biệt tháng và nửa tháng, không thể phân biệt thời tiết hằng năm.

3. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Và có sự phân biệt đêm ngày, có sự phân biệt tháng và nửa tháng, có sự phân biệt thời tiết hằng năm.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, không có hào quang lớn. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám. Cho đến khi ấy, không có sự tuyên bố, không có sự thuyết giảng, không có sự trình bày, không có sự thiết lập, không có sự khai diễn, không có sự phân tích, không có sự hiển thị bốn Thánh đế.

5. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Cho đến khi ấy, có sự tuyên bố, có sự thuyết giảng, có sự trình bày, có sự thiết lập, có sự khai diễn, có sự phân tích, có sự hiển thị bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

6. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.39 A Boundary Pillar Indakhīlasutta

"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They gaze up at the face of another ascetic or brahmin, thinking: ‘Surely this worthy one knows and sees.’

Suppose there was a light tuft of cotton-wool or kapok which was taken up by the wind and landed on level ground. The east wind wafts it west; the west wind wafts it east; the north wind wafts it south; and the south wind wafts it north. Why is that? It’s because the tuft of cotton-wool is so light.

In the same way, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They gaze up at the face of another ascetic or brahmin, thinking: ‘Surely this worthy one knows and sees.’ Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths.

There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t gaze up at the face of another ascetic or brahmin, thinking: ‘Surely this worthy one knows and sees.’

Suppose there was an iron pillar or a boundary pillar with deep foundations, firmly embedded, imperturbable and unshakable. Even if violent storms were to blow up out of the east, the west, the north, and the south, they couldn’t make it shake or rock or tremble. Why is that? It’s because that boundary pillar is firmly embedded, with deep foundations.

In the same way, there are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t gaze up at the face of another ascetic or brahmin, thinking: ‘Surely this worthy one knows and sees.’ Why is that? It’s because they have clearly seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

39.IX. Cột Trụ (Indakhilo) (S.v,433)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Samôn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỷ-kheo.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết : “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển…; nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-lamôn nào khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

8-9. … (xem đoạn số 6 và số 7 của kinh trên) …

SN 56.40 Looking For a Debate Vādatthikasutta

"Mendicants, take any mendicant who truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. An ascetic or brahmin might come from the east, west, north, or south wanting to debate, seeking a debate, thinking: ‘I’ll refute their doctrine!’ It’s simply impossible for them to legitimately make that mendicant shake or rock or tremble.

Suppose there was a stone pillar, sixteen feet long. Eight feet were buried underground, and eight above ground. Even if violent storms were to blow up out of the east, the west, the north, and the south, they couldn’t make it shake or rock or tremble. Why is that? It’s because that boundary pillar is firmly embedded, with deep foundations.

In the same way, take any mendicant who truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. An ascetic or brahmin might come from the east, west, north, or south wanting to debate, seeking a debate, thinking: ‘I’ll refute their doctrine!’ It’s simply impossible for them to legitimately make that mendicant shake or rock or tremble. Why is that? It’s because they have clearly seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

40.X. Tranh Luận (S.v,445)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Nếu từ phương Ðông có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng : “Ta sẽ tranh luận”, người này không thể làm cho rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”; người này không thể làm rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cột đá dài đến mười sáu khuỷu tay, và tám khuỷu tay được chôn dưới đất từ bàn tọa và tám khuỷu tay ở phía trên. Nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, không thể làm cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển, nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, không thể làm cho cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa cột trụ được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Nếu từ phương Ðông có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”, vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”, vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Vì sao? Vì bốn Thánh đế đã được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

5-6. … (Giống như đoạn số 8, số 9, kinh 39) …

The Chapter on a Cliff

SN 56.41 Speculation About the World Lokacintāsutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. There the Buddha addressed the mendicants:

"Once upon a time, mendicants, a certain person left Rājagaha, thinking ‘I’ll speculate about the world.’ They went to the Sumāgadhā lotus pond and sat down on the bank speculating about the world. Then that person saw an army of four divisions enter a lotus stalk. When he saw this he thought, ‘I’ve gone mad, really, I’ve lost my mind! I’m seeing things that don’t exist in the world.’

Then that person entered the city and informed a large crowd, ‘I’ve gone mad, really, I’ve lost my mind! I’m seeing things that don’t exist in the world.’

‘But how is it that you’re mad? How have you lost your mind? And what have you seen that doesn’t exist in the world?’

‘Sirs, I left Rājagaha, thinking “I’ll speculate about the world.” I went to the Sumāgadhā lotus pond and sat down on the bank speculating about the world. Then I saw an army of four divisions enter a lotus stalk. That’s why I’m mad, that’s why I’ve lost my mind. And that’s what I’ve seen that doesn’t exist in the world.’

‘Well, worthy man, you’re definitely mad, you’ve definitely lost your mind. And you’re seeing things that don’t exist in the world.’

But what that person saw was in fact real, not unreal. Once upon a time, a battle was fought between the gods and the titans. In that battle the gods won and the titans lost. The defeated and terrified titans entered the citadel of the titans through the lotus stalk only to confuse the gods.

So mendicants, don’t speculate about the world. For example: the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are the same thing, or they are different things; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists. Why is that? Because those thoughts aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

When you think something up, you should think: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. Why is that? Because those thoughts are beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. They lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.

That’s why you should practice meditation …"

V. Phẩm Vực Thẳm

41.I. Tư Duy (S.v,446)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: “Ta sẽ suy tư về thế giới”, và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.

3. Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: “Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời”.

4. Rồi người ấy, này Tỷ-kheo, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn:

“− Này Quí vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!”

“− Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng? Như thế nào, Bạn điên loạn? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời?”

5. “− Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ suy tư về thế giới’. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quí vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa quí vị, tôi nghĩ: ‘Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!’”

“− Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!”

6. Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Asuura giàn trận để khai chiến. Và này các Tỷ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asuura bại trận. Các Asuura bại trận, này các Tỷ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asuura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới: “Thế giới là thường còn”, hay: “Thế giới là vô thường”, hay: “Thế giới là hữu biên”, hay: “Thế giới là vô biên”, hay: “Mạng sống và thân thể là một”, hay: “Mạng sống và thân thể là khác”, hay: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?

8. Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

9. Nếu có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ”… “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

10. Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

11. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.42 A Cliff Papātasutta

At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.

Then the Buddha said to the mendicants, “Come, mendicants, let’s go to Inspiration Peak for the day’s meditation.”

“Yes, sir,” they replied. Then the Buddha together with several mendicants went to Inspiration Peak.

A certain mendicant saw the big cliff there and said to the Buddha, “Sir, that big cliff is really huge and scary. Is there any other cliff bigger and scarier than this one?”

“There is, mendicant.”

“But sir, what is it?”

"Mendicant, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They take pleasure in choices that lead to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. Since they take pleasure in such choices, they continue to make them. Having made choices that lead to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, they fall down the cliff of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.

There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t take pleasure in choices that lead to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. Since they don’t take pleasure in such choices, they stop making them. Having stopped making choices that lead to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, they don’t fall down the cliff of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.

That’s why you should practice meditation …"

42.II. Vực Thẳm (S.v,448)

1. Một thời, Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gìjjhakuuta (Linh Thứu).

2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Patibhànakuuta để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Rồi Thế Tôn cùng số đông Tỷ-kheo đi đến Patibhànakàta. Một Tỷ-kheo thấy một vực thẳm ở Patibhànakuuta, thấy vậy, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?

− Này các Tỷ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.

− Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?

4. − Này Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già… đưa đến chết,… do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.

5. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.

6. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.43 The Mighty Fever Mahāpariḷāhasutta

“Mendicants, there is a hell called ‘The Mighty Fever’. There, whatever sight you see with your eye is unlikable, not likable; undesirable, not desirable; unpleasant, not pleasant. Whatever sound you hear … Whatever odor you smell … Whatever flavor you taste … Whatever touch you feel … Whatever idea you know with your mind is unlikable, not likable; undesirable, not desirable; unpleasant, not pleasant.”

When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, that fever really is mighty, so very mighty. Is there any other fever more mighty and terrifying than this one?”

“There is, mendicant.”

“But sir, what is it?”

"Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They take pleasure in choices that lead to rebirth … They continue to make such choices … Having made such choices, they burn with the fever of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.

There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t take pleasure in choices that lead to rebirth … They stop making such choices … Having stopped making such choices, they don’t burn with the fever of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.

That’s why you should practice meditation …"

43.III. Nhiệt Não (S.v,450)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có một địa ngục tên là Ðại nhiệt não, tại đấy con mắt thấy sắc gì, chỉ thấy bất khả lạc sắc, không phải khả lạc sắc, chỉ thấy bất khả hỷ sắc, không phải khả hỷ sắc, chỉ thấy bất khả ý sắc, không phải khả ý sắc. Tai có nghe tiếng gì… mũi có ngửi hương gì… lưỡi có nếm vị gì… thân có cảm xúc gì… ý có nhận thức pháp gì, chỉ nhận thức bất khả lạc pháp, không phải khả lạc pháp, chỉ nhận thức bất khả hỷ pháp, không phải khả hỷ pháp, chỉ nhận thức bất khả ý pháp, không phải khả ý pháp.

3. Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, thật khéo to lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, không biết có nhiệt não nào khác nữa, còn lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

− Này Tỷ-kheo, có nhiệt não khác còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy.

− Bạch Thế Tôn, nhiệt não khác ấy như thế nào, còn lớn hơn, và đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

4-6. … (như đoạn số 4,5,6 của kinh trước, có một thay đổi trong kinh trước, có nói: “Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não”. Còn kinh này nói: " Họ bị đốt cháy trong nhiệt não sanh… già… chết… sầu, bi, khổ, ưu, não " với những thay đổi cần thiết khác).

SN 56.44 A Bungalow Kūṭāgārasutta

"Mendicants, suppose someone were to say: ‘Without truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is not possible.

It’s as if someone were to say: ‘Before the lower story of a bungalow is built, I will hoist up the upper story.’ That is not possible. In the same way, suppose someone were to say: ‘Without truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is not possible.

But suppose someone were to say: ‘After truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is possible.

It’s as if someone were to say: ‘After the lower story of a bungalow is built, I will hoist up the upper story.’ That is possible. In the same way, suppose someone were to say: ‘After truly comprehending the noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, I will completely make an end of suffering.’ That is possible.

That’s why you should practice meditation …"

44. IV. Nhà Có Nóc Nhọn (S.v,452)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”, sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.45 Splitting Hairs Vālasutta

At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.

Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. He saw several Licchavi youths practicing archery near the town hall. They were shooting arrows from a distance through a small keyhole, shot after shot without missing.

When he saw this he thought, “These Licchavi youths really are trained, so well trained, in that they shoot arrows from a distance through a small keyhole, shot after shot without missing.”

Then Ānanda wandered for alms in Vesālī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.

“What do you think, Ānanda? Which is harder and more challenging: to shoot arrows from a distance through a small keyhole, shot after shot without missing? Or to take a horsehair split into seven strands and penetrate one tip with another tip?”

“It’s more difficult and challenging, sir, to take a horsehair split into seven strands and penetrate one tip with another tip.”

"Still, Ānanda, those who truly penetrate suffering, its origin, its cessation, and the path penetrate something tougher than that.

That’s why you should practice meditation …"

45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v,453)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng các giảng đường.

2. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.

3. Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không ai trượt lần nào.

4. Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: “Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào”.

5. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

6. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: “Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào”.

7. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?

− Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.

8. − Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: “Ðây là Khổ”… như thật đâm xuyên qua: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt”.

9. Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.46 Darkness Andhakārasutta

“Mendicants, the boundless void of interstellar space is so utterly dark that even the light of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression.”

When he said this, one of the mendicants asked the Buddha, “Sir, that darkness really is mighty, so very mighty. Is there any other darkness more mighty and terrifying than this one?”

“There is, mendicant.”

“But sir, what is it?”

"There are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They take pleasure in choices that lead to rebirth … They continue to make such choices … Having made such choices, they fall into the darkness of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.

There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t take pleasure in choices that lead to rebirth … They stop making such choices … Having stopped making such choices, they don’t fall into the darkness of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.

That’s why you should practice meditation …"

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)

1. …

2. − Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

3. Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

− Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

− Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

4-6. … (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi. Trong kinh trước có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này thời nói: " Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ").

SN 56.47 A Yoke With a Hole (1st) Paṭhamachiggaḷayugasutta

"Mendicants, suppose a person were to throw a yoke with a single hole into the ocean. And there was a one-eyed turtle who popped up once every hundred years.

What do you think, mendicants? Would that one-eyed turtle, popping up once every hundred years, still poke its neck through the hole in that yoke?"

“Only after a very long time, sir, if ever.”

"That one-eyed turtle would poke its neck through the hole in that yoke sooner than a fool who has fallen to the underworld would be reborn as a human being, I say.

Why is that? Because in that place there’s no principled or moral conduct, and no doing what is good and skillful. There they just prey on each other, preying on the weak. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

47. VII. Lỗ Khóa (2) (S.v,455)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?

− Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.

4. − Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?

5. Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?

6. Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.48 A Yoke With a Hole (2nd) Dutiyachiggaḷayugasutta

"Mendicants, suppose the earth was entirely covered with water. And a person threw a yoke with a single hole into it. The east wind wafts it west; the west wind wafts it east; the north wind wafts it south; and the south wind wafts it north. And there was a one-eyed turtle who popped up once every hundred years.

What do you think, mendicants? Would that one-eyed turtle, popping up once every hundred years, still poke its neck through the hole in that yoke?"

“It’s unlikely, sir.”

"That’s how unlikely it is to get reborn as a human being. And that’s how unlikely it is for a Realized One to arise in the world, a perfected one, a fully awakened Buddha. And that’s how unlikely it is for the teaching and training proclaimed by a Realized One to shine in the world. And now, mendicants, you have been reborn as a human being. A Realized One has arisen in the world, a perfected one, a fully awakened Buddha. And the teaching and training proclaimed by a Realized One shines in the world.

That’s why you should practice meditation …"

48. VIII. Lỗ Khóa (3) (S.v,456)

1. …

2.− Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?

− Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!

4. − Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng chiếu sáng trên đời.

5. Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm… (xem đoạn số 7, kinh trước).

SN 56.49 Sineru, King of Mountains (1st) Paṭhamasinerupabbatarājasutta

"Mendicants, suppose a person was to place down on Sineru, the king of mountains, seven pebbles the size of mung beans.

What do you think, mendicants? Which is more: the seven pebbles the size of mung beans? Or Sineru, the king of mountains?"

“Sir, Sineru, the king of mountains, is certainly more. The seven pebbles the size of mung beans are tiny. Compared to Sineru, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a person with comprehension, a noble disciple accomplished in view, the suffering that’s over and done with is more, what’s left is tiny. Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction, since there are at most seven more lives. Such a person truly understands about suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

49. IX. Núi Sineru (1) (Tu Di) (S.v,457)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: “Ðây là Khổ”… đã rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.50 Sineru, King of Mountains (2nd) Dutiyasinerupabbatarājasutta

"Mendicants, suppose Sineru, the king of mountains, was worn away and eroded except for seven pebbles the size of mustard seeds.

What do you think, mendicants? Which is more: the portion of Sineru, the king of mountains, that has been worn away and eroded? Or the seven pebbles the size of mustard seeds that are left?"

“Sir, the portion of Sineru, the king of mountains, that has been worn away and eroded is certainly more. The seven pebbles the size of mustard seeds are tiny. Compared to Sineru, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a person with comprehension, a noble disciple accomplished in view, the suffering that’s over and done with is more, what’s left is tiny. Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction, since there are at most seven more lives. Such a person truly understands about suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

50. X. Núi Sineru (2) (Tu Di) (S.v,458)

1. …

2. … Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt đậu.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn, tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: “Ðây là Khổ”… đã rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trước) …

The Chapter on Comprehension

SN 56.51 A Fingernail Nakhasikhāsutta

Then the Buddha, picking up a little bit of dirt under his fingernail, addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the little bit of dirt under my fingernail, or this great earth?”

“Sir, the great earth is certainly more. The little bit of dirt under your fingernail is tiny. Compared to the great earth, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a person with comprehension, a noble disciple accomplished in view, the suffering that’s over and done with is more, what’s left is tiny. Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction, since there are at most seven more lives. Such a person truly understands about suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

VI. Phẩm Chứng Ðạt

51. I. Ðầu Móng tay (S.v,459)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy ở đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy ở đầu móng tay. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy lên đầu móng tay.

3-4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng đạt, cái này là nhiều hơn… (xem đoạn số 4, số 5 kinh 49) …

SN 56.52 A Lotus Pond Pokkharaṇīsutta

"Mendicants, suppose there was a lotus pond that was fifty leagues long, fifty leagues wide, and fifty leagues deep, full to the brim so a crow could drink from it. Then a person would pick up some water on the tip of a blade of grass.

What do you think, mendicants? Which is more: the water on the tip of the blade of grass, or the water in the lotus pond?"

“Sir, the water in the lotus pond is certainly more. The water on the tip of a blade of grass is tiny. Compared to the water in the lotus pond, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

52. II. Ao Hồ (S.v,460)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.

4-5. … (như kinh trên 49, đoạn số 4,5) …

SN 56.53 Where the Waters Flow Together (1st) Paṭhamasambhejjasutta

"Mendicants, there are places where the great rivers—the Ganges, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—come together and converge. Suppose a person was to draw two or three drops of water from such a place.

What do you think, mendicants? Which is more: the two or three drops drawn out or the water in the confluence?"

“Sir, the water in the confluence is certainly more. The two or three drops drawn out are tiny. Compared to the water in the confluence, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

53. III. Hợp Dòng (Sambhejja) (1) (S.v,460)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamuna, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii. Từ đấy, một người lấy lên hai hay ba giọt nước.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước ở chỗ hợp dòng?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước ở chỗ hợp dòng. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở chỗ hợp dòng với hai hay ba giọt nước lấy lên.

4-5. … Cũng vậy… (xem đoạn số 4-5, kinh 49)

SN 56.54 Where the Waters Flow Together (2nd) Dutiyasambhejjasutta

"Mendicants, there are places where the great rivers—the Ganges, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—come together and converge. Suppose that water dried up and evaporated except for two or three drops.

What do you think, mendicants? Which is more: the water in the confluence that has dried up and evaporated, or the two or three drops left?"

“Sir, the water in the confluence that has dried up and evaporated is certainly more. The two or three drops left are tiny. Compared to the water in the confluence that has dried up and evaporated, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

54. IV. Hợp Dòng (2) (S.v,461)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii, nước sông ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn bạch Thế Tôn, tức là nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.55 The Earth (1st) Paṭhamamahāpathavīsutta

"Mendicants, suppose a person was to place seven clay balls the size of jujube seeds on the great earth.

What do you think, mendicants? Which is more: the seven clay balls the size of jujube seeds, or the great earth?"

“Sir, the great earth is certainly more. The seven clay balls the size of jujube seeds are tiny. Compared to the great earth, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

55. V. Quả Ðất (1) (S.v,462)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên quả đất lớn các cục đất lớn bằng bảy hạt táo (sattakolatthimattiyo).

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy, hay là quả đất này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất này, còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể bằng một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn này với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo được đặt lên như vậy.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.56 The Earth (2nd) Dutiyamahāpathavīsutta

"Mendicants, suppose the great earth was worn away and eroded except for seven clay balls the size of jujube seeds.

What do you think, mendicants? Which is more: the great earth that has been worn away and eroded, or the seven clay balls the size of jujube seeds that are left?"

“Sir, the great earth that has been worn away and eroded is certainly more. The seven clay balls the size of jujube seeds are tiny. Compared to the great earth that has been worn away and eroded, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

66. VI. Quả Ðất (2) (S.v,462)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại những cục đất lớn bằng bảy hạt táo.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều, quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn đã đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.57 The Ocean (1st) Paṭhamamahāsamuddasutta

"Mendicants, suppose a man was to draw up two or three drops of water from the ocean.

What do you think, mendicants? Which is more: the two or three drops drawn out or the water in the ocean?"

“Sir, the water in the ocean is certainly more. The two or three drops drawn out are tiny. Compared to the water in the ocean, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

57. VII. Biển (1) (S.v,463)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy lên hai hay ba giọt nước từ biển lớn.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước trong biển lớn?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển lớn với hai hay ba giọt nước được lấy lên.

4-5. … (như số 4,5, kinh 49) …

SN 56.58 The Ocean (2nd) Dutiyamahāsamuddasutta

"Mendicants, suppose the water in the ocean dried up and evaporated except for two or three drops.

What do you think, mendicants? Which is more: the water in the ocean that has dried up and evaporated, or the two or three drops left?"

“Sir, the water in the ocean that has dried up and evaporated is certainly more. The two or three drops left are tiny. Compared to the water in the ocean that has dried up and evaporated, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

58. VIII. Biển (2) (S.v,463)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.

4-5. … (xem đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.59 A Mountain (1st) Paṭhamapabbatūpamasutta

"Mendicants, suppose a person was to place seven pebbles the size of mustard seeds on the Himalayas, the king of mountains.

What do you think, mendicants? Which is more: the seven pebbles the size of mustard seeds, or the Himalayas, the king of mountains?"

“Sir, the Himalayas, the king of mountains, is certainly more. The seven pebbles the size of mustard seeds are tiny. Compared to the Himalayas, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a noble disciple …

That’s why you should practice meditation …"

59. IX. Ví Dụ Với Núi (1) (S.v,464)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đặt trên núi chúa Tuyết Sơn các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy, hay là núi chúa Tuyết Sơn?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn. Còn ít hơn là những hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn với các viên sạn lớn bằng bảy hột cải.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49)

SN 56.60 A Mountain (2nd) Dutiyapabbatūpamasutta

"Mendicants, suppose the Himalayas, the king of mountains, was worn away and eroded except for seven pebbles the size of mustard seeds.

What do you think, mendicants? Which is more: the portion of the Himalayas, the king of mountains, that has been worn away and eroded, or the seven pebbles the size of mustard seeds that are left?"

“Sir, the portion of the Himalayas, the king of mountains, that has been worn away and eroded is certainly more. The seven pebbles the size of mustard seeds are tiny. Compared to the Himalayas, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”

"In the same way, for a person with comprehension, a noble disciple accomplished in view, the suffering that’s over and done with is more, what’s left is tiny. Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction, since there are at most seven more lives. Such a person truly understands about suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

60. X. Ví Dụ Với Núi (2) (S.v,464)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

The First Chapter of Abbreviated Texts on Raw Grain

SN 56.61 Not Human Aññatrasutta

Then the Buddha, picking up a little bit of dirt under his fingernail, addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the little bit of dirt under my fingernail, or this great earth?”

“Sir, the great earth is certainly more. The little bit of dirt under your fingernail is tiny. Compared to the great earth, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

"In the same way, the sentient beings reborn as humans are few, while those not reborn as humans are many. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

VII. Phẩm Bánh Xe Lược Thuyết

61. I. Người Khác (S.v,465)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

3. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người. Vì sao?

5. Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.62 In the Borderlands Paccantasutta

Then the Buddha, picking up a little bit of dirt under his fingernail, addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the little bit of dirt under my fingernail, or this great earth?”

“Sir, the great earth is certainly more. The little bit of dirt under your fingernail is tiny. Compared to the great earth, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”

“In the same way, the sentient beings reborn in central countries are few, while those reborn in the borderlands, among uneducated foreigners, are many. …”

62. II. Biên Ðịa (S.v,466)

1. …

2-3. … (giống như 2-3 của kinh trước)…

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các quốc độ trung ương. Và nhiều hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các biên địa, giữa những man di (mìlakkha Sk. mleccha) vô ý thức. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.63 Wisdom Paññāsutta

“… the sentient beings who have the noble eye of wisdom are few, while those who are ignorant and confused are many. …”

63. III. Trí Tuệ (S.v,467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh thành tựu tuệ nhãn của bậc Thánh. Và nhiều hơn là các chúng sanh đi đến vô minh, si ám. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.64 Beer and Wine Surāmerayasutta

“… the sentient beings who refrain from beer, wine, and liquor intoxicants, are few, while those who don’t refrain are many. …”

64. IV. Rượu (S.v, 467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.65 Born in Water Odakasutta

“… the sentient beings born on land are few, while those born in water are many. …”

65. V. Sanh Ở Nước (S.v,467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được sanh trên đất liền (thalàjà). Và nhiều hơn là các chúng sanh được sanh ra trong nước. Vì sao?

5-6. … (giống như đoạn số 5-6, các kinh trên) …

SN 56.66 Respect Mother Matteyyasutta

“… the sentient beings who respect their mothers are few, while those who don’t are many. …”

66. VI. Hiếu Kính Mẹ (S,v,467)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ.

SN 56.67 Respect Father Petteyyasutta

“… the sentient beings who respect their fathers are few, while those who don’t are many. …”

67. VII. Hiếu Kính Cha (S,v,467)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha.

SN 56.68 Respect Ascetics Sāmaññasutta

“… the sentient beings who respect ascetics are few, while those who don’t are many. …”

68. VIII. Kính Trọng Sa Môn (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Sa-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Sa-môn.

SN 56.69 Respect Brahmins Brahmaññasutta

“… the sentient beings who respect brahmins are few, while those who don’t are many. …”

69. IX. Kính Trọng Bà La Môn (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Bà-la-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Bà-la-môn.

SN 56.70 Honor the Elders Pacāyikasutta

“… the sentient beings who honor the elders in the family are few, while those who don’t are many. …”

70. X. Kính Trọng Các Bậc Lớn Tuổi (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc.

The Second Chapter of Abbreviated Texts on Raw Grain

SN 56.71 Killing Living Creatures Pāṇātipātasutta

“… the sentient beings who refrain from killing living creatures are few, while those who don’t refrain are many. …”

VIII. Phẩm Ít Người Từ Bỏ

71. I. Sanh Loại (S.v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ sát sanh. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ sát sanh. Vì sao?

SN 56.72 Stealing Adinnādānasutta

“… the sentient beings who refrain from stealing are few, while those who don’t refrain are many. …”

72. II. Lấy Của Không Cho (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ lấy của không cho. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ lấy của không cho. Vì sao?

SN 56.73 Sexual Misconduct Kāmesumicchācārasutta

“… the sentient beings who refrain from sexual misconduct are few, while those who don’t refrain are many. …”

73. III. Trong Các Dục Vọng (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ tà hạnh trong các dục. Vì sao?

SN 56.74 Lying Musāvādasutta

“… the sentient beings who refrain from lying are few, while those who don’t refrain are many. …”

74. IV. Nói Láo (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói láo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói láo. Vì sao?

SN 56.75 Divisive Speech Pesuññasutta

“… the sentient beings who refrain from divisive speech are few, while those who don’t refrain are many. …”

75. V. Nói Ly Gián (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời ly gián. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời ly gián. Vì sao?

SN 56.76 Harsh Speech Pharusavācāsutta

“… the sentient beings who refrain from harsh speech are few, while those who don’t refrain are many. …”

76. VI. Nói Lời Thô Ác (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời thô ác. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời thô ác. Vì sao?

SN 56.77 Nonsense Samphappalāpasutta

“… the sentient beings who refrain from talking nonsense are few, while those who don’t refrain are many. …”

77. VII. Nói Lời Phù Phiếm (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời phù phiếm. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời phù phiếm. Vì sao?

SN 56.78 Plants Bījagāmasutta

“… the sentient beings who refrain from injuring plants and seeds are few, while those who don’t refrain are many. …”

78. VIII. Hột Giống (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm hại các hột giống và các cây cỏ. Vì sao?

SN 56.79 Food at the Wrong Time Vikālabhojanasutta

“… the sentient beings who refrain from food at the wrong time are few, while those who don’t refrain are many. …”

79. IX. Phi Thời (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ ăn phi thời. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ ăn phi thời. Vì sao?

SN 56.80 Fragrance and Makeup Gandhavilepanasutta

“… the sentient beings who refrain from beautifying and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup are few, while those who don’t refrain are many …”

80. X. Hương Liệu (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo. Vì sao?

The Third Chapter of Abbreviated Texts on Raw Grain

SN 56.81 Dancing and Singing Naccagītasutta

… “… the sentient beings who refrain from seeing shows of dancing, singing, and music are few, while those who don’t refrain are many …”

IX. Phẩm Lúa Gạo Sống Rộng Thuyết

81.I. Múa (S. v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch.

SN 56.82 High Beds Uccāsayanasutta

“… the sentient beings who refrain from high and luxurious beds are few, while those who don’t refrain are many. …”

82. II. Giường Nằm (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các giường cao, các giường lớn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các giường cao, các giường lớn.

SN 56.83 Gold and Currency Jātarūparajatasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving gold and currency are few, while those who don’t refrain are many. …”

83. III. Bạc (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận vàng và bạc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận vàng và bạc.

SN 56.84 Raw Grain Āmakadhaññasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving raw grain are few, while those who don’t refrain are many. …”

84. IV. Lúa Gạo (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các lúa gạo sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các lúa gạo sống.

SN 56.85 Raw Meat Āmakamaṁsasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving raw meat are few, while those who don’t refrain are many. …”

85.V. Thịt (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các thịt sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các thịt sống.

SN 56.86 Women and Girls Kumārikasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving women and girls are few, while those who don’t refrain are many. …”

86. VI. Con Gái (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận đàn bà, con gái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận đàn bà, con gái.

SN 56.87 Bondservants Dāsidāsasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving male and female bondservants are few, while those who don’t refrain are many. …”

87. VII. Nữ Tỳ (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy các nô tỳ nữ, nô tỳ nam. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các nô tỳ nữ, nô tỳ nam.

SN 56.88 Goats and Sheep Ajeḷakasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving goats and sheep are few, while those who don’t refrain are many. …”

88. VIII. Dê, Dê Rừng (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận dê và dê rừng. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận dê và dê rừng.

SN 56.89 Chickens and Pigs Kukkuṭasūkarasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving chickens and pigs are few, while those who don’t refrain are many. …”

89. IX. Gà, Heo (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận gà, heo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận gà và heo.

SN 56.90 Elephants and Cows Hatthigavassasutta

“… the sentient beings who refrain from receiving elephants, cows, horses, and mares are few, while those who don’t refrain are many. …”

90. X. Voi (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái.

The Fourth Chapter of Abbreviated Texts on Raw Grain

SN 56.91 Fields and Land Khettavatthusutta

“… the sentient beings who refrain from receiving fields and land are few, while those who don’t refrain are many. …”

X. Phẩm Chúng Sanh Nhiều Hơn

91. I. Ruộng (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy ruộng đất. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận lấy ruộng đất.

SN 56.92 Buying and Selling Kayavikkayasutta

“… the sentient beings who refrain from buying and selling are few, while those who don’t refrain are many. …”

92. II. Mua Bán (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ mua bán. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ mua bán.

SN 56.93 Errands Dūteyyasutta

“… the sentient beings who refrain from running errands and messages are few, while those who don’t refrain are many. …”

93. III. Ðưa Tin Tức (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ không phái người môi giới hay tự mình làm môi giới. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ phái người làm môi giới, hay tự mình làm môi giới.

SN 56.94 False Weights Tulākūṭasutta

“… the sentient beings who refrain from falsifying weights, metals, or measures are few, while those who don’t refrain are many. …”

94. IV. Cân Lường (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường.

SN 56.95 Bribery Ukkoṭanasutta

“… the sentient beings who refrain from bribery, fraud, cheating, and duplicity are few, while those who don’t refrain are many. …”

95. V. Hối Lộ (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo.

SN 56.96–101 Mutilation, Etc. Chedanādisutta

"… the sentient beings who refrain from mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence are few, while those who don’t refrain are many. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.

That’s why you should practice meditation …"

96-101. VI-XI. Sát Hại, Trộm Cắp, Cướp Phá (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

The Chapter of Abbreviated Texts on Five Destinations

SN 56.102 Passing Away as Humans and Reborn in Hell Manussacutinirayasutta

“… the sentient beings who die as humans and are reborn as humans are few, while those who die as humans and are reborn in hell are many …”

XI. Phẩm Năm Sanh Thú

102. I. Năm Sanh Thú (S.v,474)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

3. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất. Và ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay, không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong địa ngục.

SN 56.103 Passing Away as Humans and Reborn as Animals Manussacutitiracchānasutta

“… the sentient beings who die as humans and are reborn as humans are few, while those who die as humans and are reborn in the animal realm are many …”

103) II. Năm Sanh Thú (S.v,474)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong loài bàng sanh.

SN 56.104 Passing Away as Humans and Reborn as Ghosts Manussacutipettivisayasutta

“… the sentient beings who die as humans and are reborn as humans are few, while those who die as humans and are reborn in the ghost realm are many …”

104. III. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ.

SN 56.105–107 Passing Away as Humans and Reborn as Gods Manussacutidevanirayādisutta

“… the sentient beings who die as humans and are reborn as gods are few, while those who die as humans and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

105-107. IV-VI. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào địa ngục… phải tái sanh vào loài bàng sanh… phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ.

SN 56.108–110 Passing Away as Gods and Reborn as Gods Devacutinirayādisutta

“… the sentient beings who die as gods and are reborn as gods are few, while those who die as gods and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

108-110. VIII-X. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh giữa chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục… phải tái sanh trong loài bàng sanh… phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.111–113 Dying as Gods and Reborn as Humans Devamanussanirayādisutta

“… the sentient beings who die as gods and are reborn as humans are few, while those who die as gods and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

111-113. XI-XIII. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục… phải tái sanh trong loài bàng sanh… phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.114–116 Dying in Hell and Reborn as Humans Nirayamanussanirayādisutta

“… the sentient beings who die in hell and are reborn as humans are few, while those who die in hell and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

114-116. XIV-XVI. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh ở loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.117–119 Dying in Hell and Reborn as Gods Nirayadevanirayādisutta

“… the sentient beings who die in hell and are reborn as gods are few, while those who die in hell and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

117-119. XVII-XIX. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh ở loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.120–122 Dying as Animals and Reborn as Humans Tiracchānamanussanirayādisutta

“… the sentient beings who die as animals and are reborn as humans are few, while those who die as animals and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

120-122. XX-XXII. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4.− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.123–125 Dying as Animals and Reborn as Gods Tiracchānadevanirayādisutta

“… the sentient beings who die as animals and are reborn as gods are few, while those who die as animals and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

123-125. XXIII-XXV. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4.− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.126–128 Dying as Ghosts and Reborn as Humans Pettimanussanirayādisutta

“… the sentient beings who die as ghosts and are reborn as humans are few, while those who die as ghosts and are reborn in hell, or the animal realm, or the ghost realm are many.”

126-128. XXVI-XXVIII. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.129–130 Dying as Ghosts and Reborn as Gods Pettidevanirayādisutta

“… the sentient beings who die as ghosts and are reborn as gods are few, while those who die as ghosts and are reborn in hell are many.”

“… the sentient beings who die as ghosts and are reborn as gods are few, while those who die as ghosts and are reborn in the animal realm are many.”

129. XXIX. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở địa ngục.

130. XXX. Năm Sanh Thú (S.v,477)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở loài bàng sanh.

SN 56.131 Dying as Ghosts and Reborn as Ghosts Pettidevapettivisayasutta

"… the sentient beings who die as ghosts and are reborn as gods are few, while those who die as ghosts and are reborn in the ghost realm are many. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.

That’s why you should practice meditation to understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’."

That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.

131. XXXI. Năm Sanh Thú (S.v,477)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Một cố gắng cần phải làm rõ biết: “Ðây là khổ diệt”. Một cố gắng phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”

− Hết −

-ooOoo-

Source: Con Đường Giải Thoát (http://www.budsas.org) Compiled into Acrobat format by: LotusMedia (http://www.lotusmedia.net)