Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong rừng cây Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời rực rỡ, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ngài: “Thưa hiền giả, làm thế nào ngài vượt qua được bộc lưu (flood / dòng nước lũ cuốn trôi, chỉ cho bốn dòng lũ của tham ái, hiện hữu, tà kiến và vô minh)?”
“Này hiền sĩ, ta vượt qua bộc lưu bằng cách không đứng lại cũng không bơi tới.”
“Nhưng bằng cách nào mà ngài vượt qua bộc lưu mà không đứng lại cũng không bơi tới?”
“Khi ta đứng lại, ta bị chìm xuống. Khi ta bơi tới, ta bị cuốn đi. Đó là cách ta vượt qua bộc lưu mà không đứng lại cũng không bơi tới.”
“Rất lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn tịch tịnh (fully quenched / hoàn toàn dập tắt phiền não).
Không đứng lại không bơi tới,
vượt qua dính mắc thế gian.”
Đó là những gì vị trời ấy nói, và bậc Đạo sư đã chấp thuận. Sau đó, vị trời ấy, biết rằng bậc Đạo sư đã chấp thuận, đảnh lễ và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
− Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
− Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
− Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
(Vị Thiên):
Từ lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn tịch tịnh.
Không đứng, không bước tới,
Vượt chấp trước ở đời.
Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Ðạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
Tại thành Xá-vệ.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời rực rỡ, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Ngài: “Thưa hiền giả, ngài có hiểu về sự giải thoát (liberation / sự thoát khỏi ràng buộc), sự thoát ly (emancipation / sự cởi bỏ), và sự viễn ly (seclusion / sự xa lánh) cho chúng sanh không?”
“Ta hiểu, này hiền sĩ.”
“Nhưng làm thế nào mà ngài hiểu về sự giải thoát, sự thoát ly, và sự viễn ly cho chúng sanh?”
“Bởi vì ta đã chấm dứt hỷ lạc trong tái sanh, và kết thúc với nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) và thức (consciousness / sự nhận biết của tâm). Do sự đoạn diệt và lắng dịu của các thọ (feelings / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính), này hiền sĩ, đó là cách ta hiểu về sự giải thoát, sự thoát ly, và sự viễn ly cho chúng sanh.”
… Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
− Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
− Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
− Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Đời này, sao quá ngắn,
tuổi thọ chằng là bao.
Người bị dẫn đến tuổi già
không có nơi nương tựa.
Thấy sự nguy hiểm này
trong cái chết ,
hãy làm các việc phước thiện
mang lại an vui.”“Đời này, sao quá ngắn,
tuổi thọ chằng là bao;
người bị dẫn đến tuổi già
không có nơi nương tựa.
Thấy sự nguy hiểm này trong cái chết,
người tìm cầu sự an tịnh
sẽ từ bỏ mồi nhử của thế gian.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
(Thế Tôn):
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Thời gian trôi, đêm ngày qua,
các giai đoạn của cuộc đời lần lượt rời bỏ ta.
Thấy sự nguy hiểm này trong cái chết,
hãy làm các việc phước thiện mang lại an vui.”“Thời gian trôi, đêm ngày qua,
các giai đoạn của cuộc đời lần lượt rời bỏ ta.
Thấy sự nguy hiểm này trong cái chết,
người tìm cầu sự an tịnh sẽ từ bỏ mồi nhử của thế gian.”
… (Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian (lặng) trôi qua,
Ðêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến (chơn) an lạc.
(Thế Tôn):
(Thời gian lặng) trôi qua,
Ðêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Cắt bao nhiêu? Bỏ bao nhiêu?
Phát triển thêm bao nhiêu?
Khi một Tỷ kheo thoát khỏi bao nhiêu xiềng xích
thì được gọi là đã vượt qua bộc lưu?”“Năm điều cần cắt bỏ, năm điều cần từ bỏ,
và năm điều nữa cần phát triển.
Khi một Tỷ kheo thoát khỏi năm xiềng xích
thì được gọi là đã vượt qua bộc lưu.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Phải cắt đoạn bao nhiêu,
Phải từ bỏ bao nhiêu,
Tu tập thêm bao nhiêu,
Vượt qua bao trói buộc,
Ðể được có danh xưng,
Tỷ-kheo vượt bộc lưu?
(Thế Tôn):
Phải cắt đoạn đến năm,
Phải từ bỏ đến năm,
Tu tập thêm năm pháp (lực),
Vượt qua năm trói buộc,
Ðể được có danh xưng,
Tỷ-kheo “vượt bộc lưu”.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Bao nhiêu kẻ ngủ giữa những người thức?
Bao nhiêu kẻ thức giữa những người ngủ?
Bởi bao nhiêu điều mà ngươi nhiễm bụi trần?
Bởi bao nhiêu điều mà ngươi được thanh lọc?”“Năm kẻ ngủ giữa những người thức.
Năm kẻ thức giữa những người ngủ.
Bởi năm điều mà ngươi nhiễm bụi trần.
Bởi năm điều mà ngươi được thanh lọc.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Có bao pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác?
Có bao pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ?
Có bao nhiêu việc làm
Ðưa ta đến trần cấu?
Có bao nhiêu việc làm
Khiến ta được thanh tịnh?
(Thế Tôn):
Có năm pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác,
Có năm pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ.
Chính có năm việc làm
Ðưa ta đến trần cấu,
Chính có năm việc làm
Khiến ta được thanh tịnh.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Những ai chưa thông suốt giáo pháp
có thể bị dẫn dắt sai lệch bởi giáo lý của người khác.
Đang ngủ, họ chưa thức dậy:
đã đến lúc họ phải thức tỉnh!”“Những ai đã thông suốt giáo pháp
sẽ không bị dẫn dắt sai lệch bởi giáo lý của người khác.
Họ đã thức tỉnh, họ biết đúng đắn,
họ đi một cách suôn sẻ trên con đường gồ ghề.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai với các pháp,
Không liễu tri thấu suốt,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo.
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
(Thế Tôn):
Những ai với các pháp,
Khéo liễu tri sáng suốt,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Những ai rất mơ hồ về giáo pháp
có thể bị dẫn dắt sai lệch bởi giáo lý của người khác.
Đang ngủ, họ chưa thức dậy:
đã đến lúc họ phải thức tỉnh!”“Những ai không mơ hồ về giáo pháp,
sẽ không bị dẫn dắt sai lệch bởi giáo lý của người khác.
Họ đã thức tỉnh, họ biết đúng đắn,
họ đi một cách suôn sẻ trên con đường gồ ghề.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai đối các pháp,
Quá đắm say mê loạn,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
(Thế Tôn):
Những ai đối các pháp,
Không đắm say mê loạn,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Người ưa thích kiêu mạn, tâm không thể điều phục,
thiếu định không hiền trí.
Sống sao nhãng hoang vu, một mình nơi hoang dã,
họ không thể vượt qua, lãnh địa của Thần Chết.”“Đã từ bỏ ngã mạn, tâm tĩnh lặng kiên đinhh,
với tâm tốt, tự tại khắp nơi;
sống siêng năng một mình nơi hoang dã,
họ vượt qua lãnh địa của Thần Chết.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðối vị ưa kiêu mạn,
Ở đây không điều phục,
Không trí tuệ sáng suốt,
Không định tĩnh nhiếp tâm,
Ðộc thân trú rừng núi,
Sống với tâm phóng dật,
Vị ấy không vượt khỏi,
Sự chi phối ma lực.
(Thế Tôn):
Từ bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm tư khéo nhiếp định,
Với tâm khéo tư sát,
Giải thoát mọi phiền trược,
Ðộc thân trú rừng núi (giới),
Với tâm không phóng dật,
Vị ấy vượt thoát khỏi,
Sự chi phối ma lực.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy thưa với Đức Phật bằng một bài kệ:
“Sống nơi hoang dã,
những hành giả an tịnh
chỉ ăn một bữa mỗi ngày:
vậy tại sao dung sắc của họ lại trong sáng đến thế?”"Họ không sầu muộn về quá khứ,
cũng không mong cầu tương lai;
họ sống bằng những gì đến trong ngày,
đó là lý do dung sắc của họ trong sáng.Bởi vì họ mong cầu tương lai,
và sầu muộn về quá khứ,
kẻ ngu si héo mòn,
như cây sậy xanh bị cắt."
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thường sống trong rừng núi,
Bậc Thánh sống Phạm hạnh,
Một ngày ăn một buổi,
Sao sắc họ thù diệu?
(Thế Tôn):
Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà. Ở đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, ngày xưa, có một vị trời trong cõi trời Ba Mươi Ba đang vui chơi trong Vườn Hoan Hỷ, được hộ tống bởi một đoàn tiên nữ, và được cung cấp đầy đủ năm loại dục lạc (sensual pleasures / niềm vui đến từ các giác quan) của cõi trời. Nhân dịp đó, vị trời ấy đọc bài kệ này:
‘Họ không biết đến lạc thú
những ai không thấy Vườn Hoan Hỷ!
Đó là nơi ở của các vị trời uy quyền,
đoàn quân rực rỡ của cõi Ba Mươi Ba!’
Khi vị trời ấy nói xong, một vị trời khác đáp lại bằng bài kệ này:
‘Này kẻ ngu, ngươi không hiểu sao
lời dạy của các bậc A-la-hán:
Tất cả pháp hữu vi (conditions / các pháp do duyên tạo) là vô thường,
bản chất của chúng là sinh và diệt;
đã sinh ra, chúng phải diệt;
sự tĩnh lặng của chúng là an lạc.’"
(Tạp 22.1, Ðại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9. Tứ Lạc, Ðại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Ðại2,435a)
Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
− Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba mươi ba, với chúng Thiên nữ vây quanh, du hí ở vườn Hoan Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây giờ, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này:
Chúng không biết đến lạc,
Nếu không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ trú cả Trời, Người,
Cõi ba mươi lừng danh.
Ðược nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị Thiên ấy với bài kệ:
Kẻ ngu, sao không biết,
Vị Ứng cúng đã nói:
"Mọi hành là vô thường,
Tự tánh phải sanh diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp chúng là an lạc."
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Con cái mang lại cho ngươi hỷ lạc!
Gia súc cũng mang lại cho ngươi hỷ lạc!
Vì chấp thủ (attachments / nền tảng của sự tồn tại, sự dính mắc) là hỷ lạc của con người;
không có chấp thủ thì không có hỷ lạc.”“Con cái mang lại cho ngươi sầu muộn.
Gia súc cũng mang lại cho ngươi sầu muộn.
Vì chấp thủ là sầu muộn của con người;
không có chấp thủ thì không có sầu muộn.”
(Tạp 36.12,Ðại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11, Ðại 2,428a)
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Cha đối con vui thích,
Chủ với bò vui thích,
Người sanh y, vui thích,
Không sanh y, không vui.
(Thế Tôn):
Cha đối con sầu muộn,
Chủ với bò sầu muộn,
Người sanh y, sầu muộn,
Không sanh y, không sầu.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Không có tình thương nào bằng tình thương con,
không có của cải nào bằng gia súc,
không có ánh sáng nào bằng ánh mặt trời,
và trong các nguồn nước, đại dương là tối thượng.”“Không có tình thương nào bằng tình thương chính mình,
không có của cải nào bằng ngũ cốc,
không có ánh sáng nào bằng trí tuệ,
và trong các nguồn nước, mưa là tối thượng.”
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thương ai bằng thương con,
Của nào bằng bò nhà,
Sáng nào bằng mặt trời,
Nước nào hơn biển cả.
(Thế Tôn):
Thương ai bằng thương mình,
Của nào bằng lúa gạo,
Sáng nào bằng trí tuệ,
Nước nào hơn mưa rào.
“Bậc vương giả là tốt nhất trong loài hai chân,
con bò là tốt nhất trong loài bốn chân,
thiếu nữ là tốt nhất trong các người vợ,
và con trai trưởng là tốt nhất trong các người con.”“Đức Phật là tốt nhất trong loài hai chân,
con tuấn mã, tốt nhất trong loài bốn chân,
người vợ biết lắng nghe là tốt nhất,
và người con hiếu thuận là tốt nhất.”
Giữa các hàng hai chân,
Sát-lỵ là tối thắng,
Giữa các loài bốn chân,
Bò đực là tối thắng,
Trong các hàng thê thiếp,
Quý nữ là tối thắng.
Trong các hàng con trai,
Trưởng nam là tối thắng.
(Thế Tôn):
Giữa các loài hai chân,
Chánh giác là tối thắng.
Giữa các loài bốn chân,
Thuần chủng là tối thắng.
Trong các hàng thê thiếp,
Nhu thuận là tối thắng.
Trong các hàng con trai,
Trung thành là tối thắng.
“Giữa trưa tĩnh lặng,
khi chim chóc đã yên vị,
khu rừng rậm đáng sợ tự thì thầm:
điều đó khiến tôi thật đáng sợ!”“Giữa trưa tĩnh lặng,
khi chim chóc đã yên vị,
khu rừng rậm đáng sợ tự thì thầm:
điều đó khiến tôi thật thú vị!”
Ðại 2,490b)
Nay là thời giữa trưa,
Loài chim nghỉ yên lặng,
Vang động tiếng rừng sâu,
Ta run, ta khiếp sợ.
(Thế Tôn):
Nay là thời giữa trưa,
Loài chim nghỉ yên lặng,
Vang động tiếng rừng sâu,
Ta vui, Ta thích thú.
“Buồn ngủ, lười biếng, và ngáp,
bất mãn, và uể oải sau khi ăn:
vì điều này mà thánh đạo
không tỏa sáng cho các sinh linh ở đây.”“Buồn ngủ, lười biếng, và ngáp,
bất mãn, và uể oải sau khi ăn:
khi điều này được siêng năng chống lại,
thánh đạo được thanh lọc.”
Ngủ gục, nhác, ngáp dài,
Không vui, ăn quá độ,
Ở đây, đối chúng sanh,
Thánh đạo không hiển lộ.
Ngủ gục, nhác, ngáp dài,
Không vui, ăn quá độ,
Với tinh tấn, đoạn chúng,
Thánh đạo được thanh tịnh.
“Khó làm, khó chịu đựng,
là đời sống tu khổ hạnh đối với người không khéo léo,
vì nó có nhiều lối đi hẹp
nơi kẻ ngu chìm đắm.”"Một tu sĩ có thể sống được bao nhiêu ngày
mà không kiểm soát được tâm?
Họ sẽ chìm đắm trong mỗi bước đi,
dưới sự chi phối của ý nghĩ.Một Tỷ kheo nên thu nhiếp tâm ý
như rùa rút các chi vào mai.
Độc lập, không làm phiền người khác,
tịch tịnh: họ sẽ không đổ lỗi cho ai."
Khó làm, khó kham nhẫn,
Thiếu trí, hành Sa-môn,
Chỗ kẻ ngu thối đọa,
Chỗ ấy đầy chướng ngại.
Bao ngày hành Sa-môn
Nếu tâm không chế ngự,
Mỗi bước, phải sa đọa,
Nô lệ cho suy tư,
Như rùa rút chân cẳng,
Trong mai rùa của mình.
Vị Tỷ-kheo cũng vậy,
Thâu nhiếp mọi suy tư,
Không tham dính vật gì,
Không làm hại người nào,
Hoàn toàn thật tịch tịnh,
Không chỉ trích một ai.
“Có thể tìm thấy trên đời
một người bị ràng buộc bởi tàm (conscience / sự xấu hổ với tội lỗi) không?
Ai tránh xa sự chỉ trích,
như con ngựa tốt tránh roi?”“Ít người bị ràng buộc bởi lương tri,
những người luôn sống chánh niệm.
Đã đạt đến cuối con đường khổ đau,
họ đi một cách suôn sẻ trên con đường gồ ghề.”
Người được tàm chế ngự,
Tìm được ai ở đời?
Ai biết ngăn chỉ trích,
Như ngựa hiền bóng roi.
Người được tàm chế ngự,
Sống thường thường chánh niệm,
Vị ấy đạt kết quả,
Khổ đau được đoạn tận,
Bước những bước thăng bằng,
Trên đường không thăng bằng.
“Ngươi không có một túp lều nhỏ sao?
Ngươi không có một cái tổ nhỏ sao?
Ngươi không có mạng lưới nào sao?
Ngươi không thoát khỏi xiềng xích sao?”“Thật vậy, ta không có túp lều nhỏ.
Thật vậy, ta không có cái tổ nhỏ.
Thật vậy, ta không có mạng lưới nào.
Thật vậy, ta đã thoát khỏi xiềng xích.”“Ngươi nghĩ ta gọi gì là túp lều nhỏ?
Ta gọi gì là cái tổ nhỏ?
Ngươi nghĩ ta gọi gì là mạng lưới?
Và ta gọi gì là xiềng xích?”“Ngươi gọi mẹ là túp lều nhỏ;
và vợ là cái tổ nhỏ.
Ngươi gọi con cái là mạng lưới,
và ngươi nói với ta ái dục là xiềng xích.”“Thật tốt khi ngươi không có túp lều nhỏ!
Thật tốt khi ngươi không có cái tổ nhỏ!
Thật tốt khi ngươi không có mạng lưới!
Và tốt khi ngươi đã thoát khỏi xiềng xích.”
Ngài không có am tranh,
Ngài không có tổ ấm,
Ngài không có dây giăng,
Ngài thoát khỏi hệ phược.
(Thế Tôn):
Ta không có am tranh,
Ta không có tổ ấm,
Ta không có dây giăng,
Ta thoát khỏi hệ phược.
(Vị Thiên):
Con nói am là gì?
Nói tổ ấm là gì?
Nói dây giăng là gì?
Nói hệ phược là gì?
(Thế Tôn):
Ông nói am là mẹ,
Nói tổ ấm là vợ,
Nói dây giăng là con,
Nói hệ phược là ái.
(Vị Thiên):
Lành thay, Ngài không am!
Lành thay, không tổ ấm!
Lành thay, không dây giăng!
Lành thay, Ngài thoát phược!
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Vương Xá, tại tu viện suối nước nóng.
Khi ấy, Tôn giả Samiddhi thức dậy lúc rạng đông và đi đến suối nước nóng để tắm. Sau khi tắm xong và lên khỏi mặt nước, ngài đứng trong một chiếc y để hong khô thân thể.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời rực rỡ, soi sáng toàn bộ suối nước nóng, đến gặp Samiddhi, và, đứng trên không trung, thưa với ngài bằng một bài kệ:
“Này Tỷ kheo, ngài đi khất thực trước khi ăn;
ngài sẽ không đi khất thực sau khi ăn.
Nhưng ngài nên ăn trước, rồi hãy đi khất thực:
đừng để thời gian trôi qua.”“Thật ra ta không biết thời gian;
nó ẩn khuất và không thể thấy.
Đó là lý do ta đi khất thực trước khi ăn,
để thời gian không trôi qua mất!”
Sau đó, vị trời ấy đáp xuống đất và nói với Samiddhi: “Ngài đã xuất gia khi còn trẻ, này Tỷ kheo. Với mái tóc đen nhánh, ngài được ban phước với tuổi trẻ, trong thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời, và ngài chưa bao giờ tán tỉnh với các dục lạc. Hãy tận hưởng các dục lạc của con người! Đừng từ bỏ những gì hiển nhiên trong hiện tại để theo đuổi những gì có hiệu quả theo thời gian.”
“Này hiền giả, ta không làm vậy; ta đang từ bỏ những gì có hiệu quả theo thời gian để theo đuổi những gì hiển nhiên trong hiện tại. Vì Đức Phật đã dạy rằng dục lạc có hiệu quả theo thời gian, với nhiều đau khổ và phiền muộn, và chúng càng có nhiều nhược điểm hơn. Nhưng giáo pháp này là thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình chứng ngộ.”
“Nhưng này Tỷ kheo, Đức Phật đã dạy bằng cách nào rằng dục lạc có hiệu quả theo thời gian, với nhiều đau khổ và phiền muộn, và chúng càng có nhiều nhược điểm hơn? Và làm thế nào giáo pháp này là thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình chứng ngộ?”
“Này hiền giả, tôi là người mới tu, mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và giới luật này. Tôi không thể giải thích điều này một cách chi tiết. Nhưng Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác đang ở gần thành Vương Xá, tại tu viện suối nước nóng. Ngài nên đến gặp Ngài và hỏi về vấn đề này. Và ngài nên ghi nhớ nó theo câu trả lời của Đức Phật.”
“Chúng tôi không dễ dàng tiếp cận Đức Phật, vì ngài được bao quanh bởi các vị trời có uy lực khác. Nếu ngài đến gặp Đức Phật và hỏi ngài về vấn đề này, chúng tôi sẽ cùng đến và lắng nghe giáo pháp.”
“Vâng, thưa hiền giả,” Tôn giả Samiddhi đáp. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên, và kể lại cho ngài nghe những gì đã xảy ra. Sau đó ngài thêm:
“Bạch Thế Tôn, nếu vị trời đó nói thật, ngài ấy sẽ ở gần đây.”
Khi ngài nói xong, vị trời ấy nói với Samiddhi: “Hãy hỏi đi, Tỷ kheo, hãy hỏi đi! Vì tôi đã đến rồi.”
Sau đó, Đức Phật nói với vị trời ấy bằng một bài kệ:
"Chúng sanh nhận thức các pháp có thể diễn đạt,
an trú trong các pháp có thể diễn đạt.
Không hiểu rõ các pháp có thể diễn đạt,
họ rơi vào ách của Thần Chết.Nhưng đã hiểu rõ hoàn toàn các pháp có thể diễn đạt,
họ không khởi niệm về một người diễn đạt,
vì họ không có gì
để có thể mô tả về họ.
Hãy nói cho ta biết nếu ngươi hiểu, này vị trời."
“Con không hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật. Xin hãy dạy cho con về vấn đề này để con có thể hiểu ý nghĩa chi tiết.”
"Nếu ngươi nghĩ rằng ‘tôi bằng,
hơn, hay kém’, ngươi sẽ rơi vào tranh cãi.
Không dao động trước ba loại phân biệt,
ngươi sẽ không có ý nghĩ ‘tôi bằng hay hơn’.
“Con không hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật. Xin hãy dạy cho con về vấn đề này để con có thể hiểu ý nghĩa chi tiết.”
"Sự đánh giá đã được từ bỏ, ngã mạn đã bị loại trừ;
ái dục đối với danh và sắc (name and form / tâm và vật chất) đã bị cắt đứt ngay tại đây.
Họ cắt đứt các mối ràng buộc, không phiền muộn,
- không cần phải hy vọng.
Dù chư thiên và loài người tìm kiếm họ
trong thế giới này và thế giới bên kia,
- họ không bao giờ tìm thấy,
không ở trên trời cũng không ở bất kỳ nơi nào.
Hãy nói cho ta biết nếu ngươi hiểu, này vị trời."
"Đây là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy ngắn gọn của Đức Phật:
Ngươi không bao giờ nên làm điều ác
bằng lời nói, ý nghĩ hay hành động trên khắp thế gian.
Đã từ bỏ các dục lạc,
- chánh niệm và tỉnh giác,
ngươi không nên tiếp tục làm
- những gì đau khổ và vô ích."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối nước nóng).
2. Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
3. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.
(Samiddhi):
Thời Ông, ta không biết.
Thời ta, ẩn không hiện.
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.
4. Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
− Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
5. − Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
6. − Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?
7. − Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng) hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
8. − Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.
9. − Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
10. − Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:
"Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian."
11. Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:
"Thời Ông, ta không biết,
Thời ta, ẩn không hiện,
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta."
12. Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với con:
“− Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối.”
13. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“− Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.”
14. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
“− Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?”
15. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“− Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.”
16. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
" − Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
− Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
17. Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như sau:
− Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.
18. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.
19. − Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế Tôn):
20.
Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
21. − Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22. (Thế Tôn):
Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
23. − Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Như bị gươm đâm,
như đầu đang bốc cháy,
một Tỷ kheo, chánh niệm, nên ra đi,
để từ bỏ tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan).”“Như bị gươm đâm,
như đầu đang bốc cháy,
một Tỷ kheo, chánh niệm, nên ra đi,
để từ bỏ thân kiến (substantialist view / tà kiến cho rằng có một cái ta thường hằng, một thực thể tồn tại).”
… (Nhân duyên ở Sàvatthi). Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ ái dục.
(Thế Tôn):
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ thân kiến.
“Nó không tác động đến người không tác động đến người khác.
Nó tác động đến một người vì họ tác động đến người khác.
Đó là lý do tại sao nó tác động đến người tác động,
người hại người không làm gì sai.”“Ai hại người không làm gì sai,
một người trong sạch không tì vết,
điều ác phản lại kẻ ngu,
như bụi mịn ném ngược chiều gió.”
Không xúc, không có chạm,
Có xúc, thời có chạm,
Nên hại người không hại,
Tức có xúc, có chạm,
Ai hại người không hại,
Người tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ ngu hái quả ác,
Như ngược gió tung bụi.
“Rối ở bên trong, rối ở bên ngoài:
những người này bị rối trong những đám rối.
Tôi hỏi ngài điều này, Gotama:
ai có thể gỡ được đám rối này?”"Một người trí tuệ an trú trong giới (ethics / các quy tắc đạo đức),
phát triển tâm và tuệ,
một Tỷ kheo nhiệt tâm và thận trọng—
họ có thể gỡ được đám rối này.Những người mà trong họ tham, sân, và si
đã phai nhạt;
các bậc A-la-hán với lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm tâm rỉ chảy) đã tận—
họ đã gỡ được đám rối.Và nơi danh và sắc
chấm dứt không còn sót lại;
cũng như sự va chạm và nhận thức về hình sắc:
chính ở đó đám rối bị cắt đứt."
Nội triền và ngoại triền,
Chúng sanh bị triền phược,
Con hỏi Gotama,
Ai thoát khỏi triền này?
(Thế Tôn):
Người trú giới có trí,
Tu tập tâm và tuệ,
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
Với ai, đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Bậc Lậu tận, ứng cúng,
Vị ấy thoát triền phược.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn tận, vô dư,
Ðoạn chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn.
“Bất cứ điều gì ngươi đã phòng hộ tâm khỏi
không thể gây cho ngươi đau khổ.
Vì vậy, ngươi nên phòng hộ tâm khỏi mọi thứ,
rồi ngươi sẽ được giải thoát khỏi mọi đau khổ.”“Ngươi không cần phòng hộ tâm khỏi mọi thứ.
Khi tâm đã được kiểm soát,
ngươi chỉ cần phòng hộ tâm
khỏi nơi những điều xấu đến.”
Chỗ nào ý chế ngự,
Chỗ ấy đau khổ tận.
Ý chế ngự hoàn toàn,
Thoát đau khổ hoàn toàn.
(Thế Tôn):
Không nên chế ngự ý,
Hoàn toàn về mọi mặt,
Chớ có chế ngự ý,
Nếu tự chủ đạt được.
Chỗ nào ác pháp khởi,
Chỗ ấy chế ngự ý.
“Khi một Tỷ kheo là bậc A-la-hán, đã hoàn thành phận sự,
lậu hoặc đã tận, mang thân cuối cùng:
liệu họ có nói, ‘tôi nói’,
hay thậm chí ‘họ nói với tôi’ không?”“Khi một Tỷ kheo là bậc A-la-hán, đã hoàn thành phận sự,
lậu hoặc đã tận, mang thân cuối cùng:
họ sẽ nói, ‘tôi nói’,
và cũng nói ‘họ nói với tôi’.
Khéo léo, hiểu rõ các danh xưng của thế gian,
họ sẽ sử dụng những thuật ngữ này chỉ như là cách diễn đạt.”“Khi một Tỷ kheo là bậc A-la-hán, đã hoàn thành phận sự,
lậu hoặc đã tận, mang thân cuối cùng:
liệu một Tỷ kheo như vậy có tiến gần đến ngã mạn không
nếu họ nói, ‘tôi nói’,
hay thậm chí ‘họ nói với tôi’?”"Người đã từ bỏ ngã mạn không còn ràng buộc,
các ràng buộc của ngã mạn đều đã tan biến.
Dù người trí tuệ đó đã vượt qua sự nhận thức sai lầm về ‘cái tôi’,
họ vẫn sẽ nói, ‘tôi nói’,và cũng nói ‘họ nói với tôi’.
Khéo léo, hiểu rõ các danh xưng của thế gian,
họ sẽ sử dụng những thuật ngữ này chỉ như là cách diễn đạt."
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
(Thế Tôn):
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
(Vị Thiên):
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Ðã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Có phải Tỷ-kheo ấy,
Ði gần đến kiêu mạn,
Khi vị ấy có nói:
“Chính tôi vừa nói lên”.
Khi vị ấy có nói:
“Họ nói là của tôi”?
(Thế Tôn):
Ai đoạn tận kiêu mạn,
Không còn những buộc ràng,
Mọi hệ phược kiêu mạn,
Ðược hoàn toàn đoạn tận.
Vị có trí sáng suốt,
Vượt khỏi mọi hư tưởng,
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
“Có bao nhiêu ngọn đèn
soi sáng thế gian?
Chúng tôi đến để hỏi ngài:
chúng tôi nên hiểu điều này như thế nào?”"Có bốn ngọn đèn trên thế gian,
không tìm thấy ngọn thứ năm.
Mặt trời chiếu sáng ban ngày,
mặt trăng tỏa sáng ban đêm,trong khi ngọn lửa soi sáng cả
ban ngày và ban đêm.
Nhưng Đức Phật là ngọn đèn tốt nhất:
đây là ánh quang tối thượng."
Vật gì chiếu sáng đời,
Do chúng, đời chói sáng?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Muốn biết lời giải đáp.
(Thế Tôn):
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Ðêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
“Từ đâu những dòng sông quay trở lại?
Nơi đâu vòng luân hồi không còn quay?
Nơi đâu danh và sắc
chấm dứt không còn sót lại?”"Nơi mà nước và đất,
lửa và không khí không tìm thấy chỗ đứng—từ đây những dòng sông quay trở lại;
đây là nơi vòng luân hồi không còn quay;
đây là nơi danh-và-sắc
chấm dứt không còn sót lại."
Chỗ nào nước chảy ngược?
Chỗ nào nước xoáy dừng?
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư?
Chỗ nào nước và đất,
Lửa, gió không vững trú,
Do vậy nước chảy ngược,
Chỗ ấy nước xoáy dừng,
Chỗ ấy danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư.
"Những người giàu có và sung túc,
ngay cả những bậc vương giả cai trị đất nước,
cũng ghen tị lẫn nhau,
không biết đủ trong các dục lạc.Giữa những người có bản chất tham lam như vậy,
trôi theo dòng đời,
ai ở đây đã từ bỏ ái dục?
Ai trên thế gian không tham ái?"“Đã từ bỏ nhà cửa, con cái, gia súc,
và tất cả những gì họ yêu quý, họ đã ra đi.
Đã từ bỏ tham muốn và sân hận,
đã xua tan vô minh,
các bậc A-la-hán với lậu hoặc đã tận—
họ trên thế gian không tham ái.”
Sát-đế-lỵ giàu lớn,
Tài sản, quốc độ lớn,
Luôn luôn ganh tị nhau,
Hưởng dục không biết ngán,
Giữa người sống dao động,
Trôi theo dòng tái sanh.
Ai bỏ tật và ái,
Không dao động giữa đời.
(Thế Tôn):
Vị xuất gia bỏ nhà,
Bỏ con, gia súc, thân,
Bỏ tham và bỏ sân,
Và từ bỏ vô minh,
Bậc Lậu tận, La-hán,
Không dao động giữa đời.
“Bốn là bánh xe, và chín là cửa;
nó chứa đầy, bị trói buộc bởi tham lam,
và sinh ra từ vũng lầy.
Này bậc đại anh hùng, làm sao tôi sẽ tiếp tục đi?”“Đã cắt đứt dây da và dây cương—
ham muốn xấu xa và tham lam—
và đã nhổ tận gốc rễ ái dục:
đó là cách ngươi sẽ tiếp tục đi.”
Bốn bánh xe, chín cửa,
Ðầy uế, hệ lụy tham,
Chìm đắm trong bùn nhơ,
Ôi, thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh thú người như vậy,
Tương lai sẽ thế nào?
(Thế Tôn):
Cắt hỷ và buộc ràng,
Dục tham và tà ác,
Ái căn được đoạn tận,
Sanh thú sẽ như vậy.
“Ôi bậc anh hùng gầy gò, với bắp chân như của linh dương,
không tham lam, ăn ít,
một con voi, lang thang một mình như sư tử,
ngài không quan tâm đến các dục lạc.
Chúng tôi đến để hỏi một câu:
Làm thế nào để được giải thoát khỏi mọi đau khổ?”“Thế gian có năm loại kích thích giác quan,
và tâm được cho là thứ sáu.
Khi ngươi đã từ bỏ ham muốn đối với những thứ này,
ngươi được giải thoát khỏi mọi đau khổ.”
Chân như chân sơn dương,
Vừa thon lại vừa mạnh,
Ăn uống có chừng mực,
Không tham lam, say đắm,
Như sư tử, voi rừng,
Ðộc hành, không dục vọng.
Sau khi đến, con hỏi,
Làm sao thoát khổ đau?
(Thế Tôn):
Có năm dục ở đời,
Ý căn là thứ sáu,
Ở đây, từ ước muốn,
Như vậy thoát khổ đau.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
mọi việc sẽ tốt hơn, không tệ đi.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
trí tuệ sẽ đạt được—chứ không phải từ ai khác.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
ngươi không sầu muộn giữa những người sầu muộn.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
ngươi sẽ tỏa sáng giữa những người thân.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
chúng sanh sẽ đến một nơi tốt đẹp.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
chúng sanh sẽ sống hạnh phúc.”
Sau đó, một vị trời khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ai đã nói hay?”
"Tất cả các ngươi đều đã nói hay theo cách riêng của mình. Tuy nhiên, hãy nghe ta nói:
Chỉ nên kết giao với bậc chân nhân!
Cố gắng gần gũi với bậc chân nhân!
Hiểu được chánh pháp của người lành,
ngươi sẽ được giải thoát khỏi mọi đau khổ."
Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, những vị trời ấy, biết rằng bậc Đạo sư đã chấp thuận, đảnh lễ và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi biến mất ngay tại đó.
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tốt hơn, không xấu.
4. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
5. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu, giữa sầu muộn.
6. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
8. Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
9. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một cách tốt đẹp?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Quần Tiên ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Vì sự keo kiệt (stinginess / sự bỏn xẻn, bủn xỉn) và sự sao nhãng
mà một món quà không được trao đi.
Muốn có phước báu,
người thông minh sẽ cho đi.”
Sau đó, một vị trời khác đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Khi một người keo kiệt không cho đi vì sợ hãi,
chính điều họ sợ hãi sẽ xảy ra.
Cái đói và cái khát
mà người keo kiệt sợ hãi
làm tổn thương kẻ ngu
trong thế giới này và thế giới kế tiếp.Vì vậy, ngươi nên xua tan sự keo kiệt,
vượt qua vết nhơ đó, và cho đi một món quà.
Những việc lành của chúng sanh
hỗ trợ họ trong thế giới kế tiếp."
Sau đó, một vị trời khác đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Giữa những người đã chết, họ không chết,
những người, như những người bạn đồng hành trên đường,
vui vẻ cung cấp, dù họ chỉ có ít.
Đây là một lời dạy từ xưa.Một số người có ít lại vui vẻ cung cấp,
trong khi một số người có nhiều lại không muốn cho đi.
Một sự cúng dường từ của ít ỏi
được nhân lên ngàn lần."
Sau đó, một vị trời khác đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Cho đi những gì khó cho,
làm những gì khó làm;
kẻ ác không hành động như vậy,
vì giáo pháp của người lành khó theo.Đó là lý do tại sao người đức hạnh và kẻ ác
có những điểm đến khác nhau sau này.
Kẻ ác đi đến địa ngục,
trong khi người đức hạnh hướng đến thiên giới."
Sau đó, một vị trời khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ai đã nói hay?”
"Tất cả các ngươi đều đã nói hay theo cách riêng của mình. Tuy nhiên, hãy nghe ta nói:
Một trăm ngàn người
- thực hiện một ngàn lễ tế
không bằng một phần
của một người sống đúng đắn, đi khất thực,
hay một người nuôi sống bạn đời của mình
- từ những gì ít ỏi họ có."
Sau đó, một vị trời khác thưa với Đức Phật bằng một bài kệ:
“Tại sao lễ tế của họ, dù phong phú và tráng lệ,
lại không bằng giá trị của món quà của một người có đạo đức?
Làm thế nào mà một trăm ngàn người
- thực hiện một ngàn lễ tế
không bằng một phần
- của những gì được cúng dường bởi một người như vậy?”"Một số người cho đi dựa trên sự vô đạo đức—
sau khi làm tổn thương, giết chóc, và hành hạ.
Một sự cúng dường như vậy—đẫm nước mắt, đầy bạo lực—
không thể nào bằng giá trị của món quà của một người có đạo đức.Đó là lý do tại sao một trăm ngàn người
- thực hiện một ngàn lễ tế
không bằng một phần
- của những gì được cúng dường bởi một người như vậy."
1. Một thời Thế Tôn trú ơ ủ Sà vatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
4. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Ðiều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.
5. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.
7. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?
9. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Ðầy nước mắt đánh đập,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí.
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.
Tại thành Xá-vệ.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Vì sự keo kiệt và sự sao nhãng
mà một món quà không được trao đi.
Muốn có phước báu,
người thông minh sẽ cho đi.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Ngay cả khi có ít, cho đi vẫn tốt.Một số người có ít lại vui vẻ cung cấp,
trong khi một số người có nhiều lại không muốn cho đi.
Một sự cúng dường từ của ít ỏi
được nhân lên ngàn lần."
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Ngay cả khi có ít, cho đi vẫn tốt.
Và cũng tốt khi cho đi với niềm tin.
Cho đi và chiến tranh tương tự nhau, họ nói,
vì ngay cả một vài người tốt cũng có thể chinh phục được số đông.
Nếu một người có niềm tin cho đi dù chỉ một chút,
nó vẫn mang lại cho họ hạnh phúc ở đời sau.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Ngay cả khi có ít, cho đi vẫn tốt.
Và cũng tốt khi cho đi với niềm tin.
Và cũng tốt khi cho đi của cải chân chính.Một người cho đi của cải chân chính,
kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến của mình,
đã vượt qua sông Vetaraṇi của vua Yama;
người trần thế đó đến được các cõi trời."
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Ngay cả khi có ít, cho đi vẫn tốt.
Và cũng tốt khi cho đi với niềm tin.
Và cũng tốt khi cho đi của cải chân chính.
Và cũng tốt khi cho đi một cách có trí tuệ.Bậc Thánh ca ngợi việc cho đi một cách có trí tuệ
đến những người xứng đáng được cúng dường ở đây
- trong thế giới của người sống.
Những gì được cho đi cho những người này rất có kết quả,
như hạt giống gieo trên mảnh đất màu mỡ."
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Tốt lành thay, thưa ngài, là sự cho đi!
Ngay cả khi có ít, cho đi vẫn tốt.
Và cũng tốt khi cho đi với niềm tin.
Và cũng tốt khi cho đi của cải chân chính.
Và cũng tốt khi cho đi một cách có trí tuệ.
Và cũng tốt khi biết kiềm chế
- đối với chúng sanh.Người sống không làm hại bất kỳ chúng sanh nào
không bao giờ làm điều xấu vì sự chỉ trích của người khác;
vì trong trường hợp đó họ ca ngợi kẻ hèn nhát, không phải người dũng cảm;
và người đức hạnh không bao giờ làm điều xấu vì sợ hãi."
Sau đó, một vị trời khác thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ai đã nói hay?”
"Tất cả các ngươi đều đã nói hay theo cách riêng của mình. Tuy nhiên, hãy nghe ta nói:
Đúng là việc cho đi được ca ngợi theo nhiều cách
nhưng con đường của giáo pháp tốt hơn việc cho đi,
vì trong những ngày xưa và xưa hơn nữa,
những người khôn ngoan và đức hạnh thậm chí đã đạt được Niết-bàn."
1. Ở Sàvatthi.
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí!
Kính thưa bậc Tôn giả.
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
4. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm ứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Ðong được ngàn đồng vàng.
5. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin.
Bố thí và đánh nhau,
Ðược nói là bằng nhau,
Một số ít kẻ lành,
Thắng xa số đông người.
Ví dầu cho có ít,
Nhưng cho với lòng tin,
Do vậy được an lạc,
Vì lợi ích cho người.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Ai là người bố thí,
Với tàn sản hợp pháp,
Do nỗ lực tinh tấn,
Nhờ vậy thâu hoạch được;
Vị ấy vượt dòng suối,
Thần chết Dạ-ma giới,
Sau khi chết được sanh,
Chỗ trú xứ chư Thiên.
7. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Bố thí có suy tư,
Bậc Thiện Thệ tán thán.
Bố thí cho những vị,
Ðáng kính trọng ở đời,
Bố thí những vị ấy,
Ðược hưởng quả phước lớn,
Như hạt giống tốt đẹp,
Gieo vào ruộng tốt lành.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Lành thay sự tự chế,
Ðối với các chúng sanh!
Giữa chúng sanh hữu tình,
Ai sống không làm hại,
Sợ người khác chỉ trích,
Không làm ác, bất thiện,
Họ khen kẻ nhút nhát,
Nhưng chỉ trích người hùng,
Chính sợ bị chỉ trích,
Người lành không làm ác.
9. Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, lời nói ai được tốt lành?
− Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe lời của Ta:
Bố thí với lòng tin,
Ðược tán thán nhiều mặt,
Có pháp hơn bố thí,
Pháp ấy là Pháp cú.
Từ xưa, từ xa xưa,
Người lành, người chơn thiện,
Với trí tuệ sáng suốt,
Ðạt đến cảnh Niết-bàn.
Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Giữa loài người không có dục lạc nào
- là thường hằng.
Ở đây có những thứ thuộc về giác quan, bị trói buộc vào đó,
say đắm trong đó, không có đường quay lại.
Người đó không trở về từ lãnh địa của Thần Chết.”“Khổ đau sinh ra từ ham muốn; đau khổ sinh ra từ ham muốn;
khi ham muốn được loại bỏ, khổ đau được loại bỏ;
khi khổ đau được loại bỏ, đau khổ được loại bỏ.”"Những thứ đẹp đẽ của thế gian không phải là dục lạc.
Ý muốn tham lam mới là dục lạc của con người.
Những thứ đẹp đẽ của thế gian vẫn như cũ,
nhưng người chú tâm loại bỏ ham muốn đối với chúng.Hãy từ bỏ tức giận, loại bỏ ngã mạn,
và vượt qua tất cả các kiết sử (fetters / những trói buộc của tâm).
Đau khổ không hành hạ người không có gì,
không dính mắc vào danh và sắc.Sự đánh giá đã được từ bỏ, ngã mạn đã bị loại trừ;
ái dục đối với danh và sắc đã bị cắt đứt ngay tại đây.
Họ cắt đứt các mối ràng buộc, không phiền muộn,
- không cần phải hy vọng.
Dù chư thiên và loài người tìm kiếm họ
trong thế giới này và thế giới bên kia,
- họ không bao giờ tìm thấy,
không ở trên trời cũng không ở bất kỳ nơi nào."“Nếu cả chư thiên và loài người đều không thấy một người được giải thoát như vậy,”
Tôn giả Mogharājā nói,
“trong thế giới này hay thế giới bên kia,
liệu những người tôn kính bậc tối thượng đó,
người sống vì lợi ích của nhân loại,
- cũng xứng đáng được tán thán không?”“Các Tỷ kheo tôn kính một người được giải thoát như vậy,”
Đức Phật nói,
“cũng xứng đáng được tán thán, này Mogharājā.
Đã hiểu được giáo pháp
- và từ bỏ hoài nghi,
những Tỷ kheo đó có thể thoát khỏi xiềng xích của họ.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Giữa loài Người chúng ta,
Có các dục vô thường.
Ai hưởng chúng ở đời,
Bị chúng trói, chúng buộc.
Phóng dật đối với chúng,
Khó thoát ly với chúng,
Người nào khó thoát ly,
Bị thần chết chinh phục.
Họa từ dục vọng sanh,
Khổ từ dục vọng khởi,
Dục vọng được nhiếp phục,
Nhờ vậy họa nhiếp phục,
Tai họa được nhiếp phục,
Nhờ vậy khổ nhiếp phục.
Vật sai biệt ở đời,
Chúng không phải các dục,
Chính tư niệm tham ái,
Là dục vọng con người.
Vật sai biệt tồn tại,
Như vậy ở trên đời,
Do vậy bậc Hiền trí,
Ðiều phục các dục vọng.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả,
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy,
Khổ không thể đến được,
Với ai không có gì.
Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Cắt đứt mọi tham ái,
Với danh sắc ở đời.
Vị ấy đoạn phiền trược,
Không lo âu, không ái;
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy,
Họ tìm nhưng không thấy,
Vị giải thoát như vậy.
(Tôn giả Mogharàjà nói như vầy)
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Bậc tối thượng loài Người,
Lo hạnh phúc chúng sanh,
Họ đảnh lễ vị ấy,
Nên tán thán họ không?
(Bậc Thế Tôn lên tiếng)
Này Mogharàjà
Họ cũng nên tán thán,
Bậc giải thoát như vậy.
Này Tỷ-kheo khất sĩ,
Nếu họ biết Chánh pháp,
Ðoạn trừ được nghi hoặc,
Họ trở thành giải thoát.
Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Khinh Miệt, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, và đứng trên không trung. Đứng trên không trung, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Một người giả vờ
là người khác với con người thật của họ,
giống như một kẻ cờ bạc gian lận
hưởng thụ những gì có được do trộm cắp.Ngươi chỉ nên nói những gì ngươi sẽ làm;
ngươi không nên nói những gì ngươi sẽ không làm.
Người khôn ngoan sẽ nhận ra
một người chỉ nói mà không làm.""Không chỉ bằng lời nói,
cũng không chỉ bằng việc lắng nghe,
mà ngươi có thể tiến bộ
trên con đường khó khăn này,
mà qua đó những người chú tâm thực hành thiền định
được giải thoát khỏi sự trói buộc của Ma vương.Những người chú tâm chắc chắn không hành động như vậy,
vì họ hiểu được đường lối của thế gian.
Những người chú tâm được tịch tịnh nhờ sự hiểu biết,
họ đã vượt qua sự dính mắc vào thế gian."
Sau đó, những vị trời ấy đáp xuống đất, cúi đầu dưới chân Đức Phật và nói: “Chúng con đã phạm sai lầm, thưa ngài. Thật là ngu ngốc, dại dột, và không khéo léo khi chúng con tưởng rằng có thể tấn công Đức Phật! Xin ngài, hãy chấp nhận lỗi lầm của chúng con, để chúng con tự kiềm chế trong tương lai.”
Nghe vậy, Đức Phật mỉm cười.
Sau đó, những vị trời ấy, càng trở nên khinh miệt hơn, bay lên không trung. Một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Nếu ngài không tha thứ
khi một lỗi lầm được thú nhận,
với sân ngầm và hận thù nặng nề,
ngài bị mắc kẹt trong oán thù của mình.”“Nếu không tìm thấy lỗi lầm nào,
nếu không ai đi lạc đường,
và oán thù được giải quyết,
thì ai có thể đã không khéo léo?”“Ai không mắc sai lầm?
Ai không đi lạc đường?
Ai không rơi vào hoang mang?
Ai là người chú tâm, luôn chánh niệm?”"Bậc Như Lai, Đức Phật,
từ bi với tất cả chúng sanh:
đó là người không mắc sai lầm,
và đó là người không đi lạc đường.
Ngài không rơi vào hoang mang,
vì ngài chú tâm, luôn chánh niệm.Nếu ngươi không tha thứ
khi một lỗi lầm được thú nhận,
với sân ngầm và hận thù nặng nề,
ngươi bị mắc kẹt trong oán thù của mình.
Ta không chấp nhận oán thù như vậy,
và vì vậy ta tha thứ cho lỗi lầm của ngươi."
1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên Ujjhànasannà (Hiềm trách thiên), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đứng giữa hư không.
3. Rồi một vị Thiên đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai nói mình khác
Với điều họ thực có,
Thời mọi vật thọ dụng,
Xem như do trộm cắp,
Chẳng khác kẻ gian manh,
Dùng lừa đảo trộm cắp.
Hãy nói điều có làm,
Không nói điều không làm,
Không làm nói có làm,
Kẻ trí biết rõ họ.
(Thế Tôn):
Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hạng người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời.
4. Rồi các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
− Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm để gìn giữ trong tương lai.
5. Rồi Thế Tôn mỉm cười.
6. Các quần tiên ấy càng tức tối thêm và bay lên hư không.
7. Một vị Thiên nói bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Nếu không có tội lỗi,
Ở đây không lầm lạc,
Hận thù không thể tiêu.
Do gì xem là thiện?
Với ai không tội lỗi?
Với ai không lầm lạc?
Ai không bị si mê?
Ai kẻ tri thường niệm?
(Thế Tôn):
Như Lai, bậc Giác Ngộ,
Thương xót mọi hữu tình,
Nơi Ngài không tội lỗi,
Nơi Ngài không lầm lạc.
Ngài không bị si mê,
Ngài chánh trí thường niệm.
Ai không chịu chấp nhận,
Tội lỗi được phát lộ,
Nội phẫn, ưa sân hận,
Hận thù càng kiên chặt.
Ta không thích hận thù,
Ta nhận tội các Ông.
Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vài vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Niềm tin là bạn đồng hành của con người.
Nếu sự vô tín không còn,
danh tiếng và tiếng tăm là của họ,
và khi họ từ bỏ thân xác này, họ sẽ lên thiên giới.”
Sau đó, một vị trời khác đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Hãy từ bỏ tức giận, loại bỏ ngã mạn,
và vượt qua tất cả các kiết sử.
Xiềng xích không hành hạ người không có gì,
không dính mắc vào danh và sắc.”"Kẻ ngu và người dại
đắm mình trong sự sao nhãng.
Nhưng người khôn ngoan bảo vệ sự siêng năng
như kho báu tốt nhất của họ.Đừng đắm mình trong sự sao nhãng,
hay vui thích trong sự thân mật ái dục.
Vì nếu ngươi siêng năng và thực hành thiền định,
ngươi sẽ đạt được hạnh phúc tối thượng."
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở trong xứ Thích-ca, tại Đại Lâm gần thành Ca-tỳ-la-vệ, cùng với một Tăng đoàn lớn gồm năm trăm Tỷ kheo, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và hầu hết các vị trời từ mười thế giới hệ đã tập trung để diện kiến Đức Phật và Tăng đoàn.
Khi ấy, bốn vị trời ở Tịnh Cư Thiên, nhận thức được những gì đang xảy ra, nghĩ rằng: “Tại sao chúng ta không đến gặp Đức Phật và mỗi người đọc một bài kệ trước sự hiện diện của ngài?”
Sau đó, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, họ biến mất khỏi Tịnh Cư Thiên và xuất hiện trước mặt Đức Phật. Họ đảnh lễ Đức Phật và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị trời đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Có một đại hội lớn trong rừng,
nơi các đoàn chư thiên đã tập hợp.
Chúng tôi đã đến đại hội chính pháp này
để diện kiến Tăng đoàn bất khả chiến bại!”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Các Tỷ kheo ở đó có thiền định,
họ đã làm thẳng tâm mình.
Như người đánh xe giữ dây cương,
những người sáng suốt bảo vệ các giác quan của họ.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Họ đã phá vỡ cột trụ và thanh ngang,
không dao động, họ đã nhổ bật cột mốc ranh giới.
Họ sống trong sạch và không tì vết,
những con voi non được thuần hóa bởi Bậc Mắt Sáng.”
Sau đó, một vị trời khác đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Bất cứ ai đã quy y Phật
sẽ không đi đến cõi khổ.
Sau khi từ bỏ thân người này,
họ sẽ làm tăng thêm số lượng chư thiên.”
Ðại 1,79b - 81b)
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
2. Rồi bốn vị Tịnh cư thiên (Suddàvàsà) suy nghĩ như sau: “Thế Tôn nay ở giữa dân chúng Sakka, thành Kapilavatthu, rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới, phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi chúng ta đọc một bài kệ dâng lên Thế Tôn.”
3. Rồi chư Thiên ấy nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ Tịnh cư thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
4. Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:
Ðại hội tại Ðại Lâm,
Chư Thiên đồng tụ tập,
Chúng con đến Pháp hội,
Ðảnh lễ chúng Bất thắng.
5. Rồi các vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Tại đây chúng Tỷ-kheo,
Thiền định, tâm chánh trực,
Như chủ xe nắm cương,
Bậc hiền hộ các căn.
6. Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Như khóa gãy, chốt tháo,
Trụ bị đào, tham đoạn,
Sống thanh tịnh, vô cấu,
Có mắt, voi khéo điều.
7. Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước mặt Thế Tôn:
Những ai quy y Phật,
Sẽ không đọa ác thú,
Sau khi bỏ thân Người,
Sẽ sanh làm chư Thiên.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Vương Xá, tại vườn nai Maddakucchi.
Lúc bấy giờ, chân của Đức Phật bị một mảnh đá vụn làm bị thương. Đức Phật bị những cơn đau đớn khốc liệt hành hạ; những cảm giác thể xác đau đớn, nhói, dữ dội, cấp tính, khó chịu, và không vừa ý. Nhưng ngài chịu đựng không phiền muộn, với chánh niệm và tỉnh giác. Và rồi ngài trải tấm y ngoài được gấp làm bốn và nằm xuống trong tư thế nằm của sư tử— nghiêng về bên phải, đặt một chân lên trên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác.
Rồi, vào lúc đêm khuya, bảy trăm vị trời rực rỡ thuộc Nhóm Satullapa, soi sáng toàn bộ Maddakucchi, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và đứng sang một bên.
Đứng sang một bên, một vị trời bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama quả là một con voi, thưa ngài! Và như một con voi, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn đã phát sinh—nhói, dữ dội, cấp tính, khó chịu, và không vừa ý—không phiền muộn, với chánh niệm và tỉnh giác.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama quả là một con sư tử, thưa ngài! Và như một con sư tử, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn … không phiền muộn.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama quả là một con tuấn mã, thưa ngài! Và như một con tuấn mã, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn … không phiền muộn.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama quả là một con bò đầu đàn, thưa ngài! Và như một con bò đầu đàn, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn … không phiền muộn.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama quả là một mãnh thú, thưa ngài! Và như một mãnh thú, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn … không phiền muộn.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Tu sĩ Gotama thực sự đã được thuần hóa, thưa ngài! Và như một người đã được thuần hóa, ngài chịu đựng những cảm giác thể xác đau đớn … không phiền muộn.”
Sau đó, một vị trời khác bày tỏ lời cảm hứng này trước sự hiện diện của Đức Phật: “Hãy xem, thiền định của ngài được phát triển tốt như thế nào, và tâm của ngài được giải thoát tốt như thế nào—không nghiêng về phía trước hay kéo về phía sau, và không bị giữ lại bởi sự đàn áp bằng vũ lực. Nếu ai đó tưởng tượng rằng họ có thể vượt qua một con người vĩ đại như voi, như sư tử, như tuấn mã, như bò đầu đàn, như mãnh thú, một người đã được thuần hóa—đó chẳng phải là một sự thất bại trong việc nhận thức sao?”
"Thông thạo năm bộ Vệ-đà, các Bà-la-môn thực hành
khổ hạnh trong suốt một thế kỷ.
Nhưng tâm của họ không được giải thoát đúng đắn,
vì những người có phẩm chất thấp kém không vượt qua được bờ bên kia.Bị ái dục chiếm đoạt,
- dính mắc vào giới và luật,
họ thực hành khổ hạnh khắc nghiệt và nhiệt thành trong một trăm năm.
Nhưng tâm của họ không được giải thoát đúng đắn,
vì những người có phẩm chất thấp kém không vượt qua được bờ bên kia.Người ưa thích ngã mạn không thể được điều phục,
và người không có thiền định không thể là một bậc hiền trí.
Sống sao nhãng một mình nơi hoang dã,
họ không thể vượt qua lãnh địa của Thần Chết."“Đã từ bỏ ngã mạn, tâm tĩnh lặng,
với tâm tốt, tự tại khắp nơi;
sống siêng năng một mình nơi hoang dã,
họ vượt qua lãnh địa của Thần Chết.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), tại vườn Nai (Maddakucchi)
2. Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị miếng đá bể đâm phải. Cảm thọ Thế Tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú. Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não.
3. Rồi Thế Tôn cho trải áo Sanghàti (Tăng-già-lê) xếp tư lại, nằm xuống phía hông bên phải như dáng điệu con sư tử, chân đặt trên chân, chánh niệm tỉnh giác.
4. Rồi bảy trăm quần tiên Satullapakàyikà, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Maddakucchi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
5. Ðứng một bên, một vị Thiên đọc lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Long tượng. Và với tư cách Long tượng, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, đau khổ, nhói đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú, Ngài chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não.
6. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Sư tử. Và với tư cách Sư tử, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
7. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là Lương tuấn mã. Và với tư cách Lương tuấn mã, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
8. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Ngưu vương. Và với tư cách Ngưu vương, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
9. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là bậc Nhẫn nại Kiên cường. Và với tư cách bậc Nhẫn nại Kiên cường, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
10. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Sa-môn Gotama thật là một bậc Khéo điều phục. Và với tư cách là một bậc Khéo điều phục, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau… không có phiền não.
11. Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
− Hãy xem tâm của Ngài khéo được tu tập Thiền định và giải thoát, không có nổi lên, không có chìm xuống, mọi hành động được tác thành, không có ai kích thích. Ai có thể nghĩ mình đi ngược lại một Long tượng như vậy, một bậc Sư tử như vậy, một bậc Lương tuấn mã như vậy, một bậc Ngưu vương như vậy, một bậc Nhẫn nại Kiên cường như vậy, một bậc Nhiếp phục như vậy, trừ phi là một người mù.
Các vị Bà-la-môn,
Tinh thông năm Vệ-đà,
Dầu tu tập khổ hạnh,
Cho đến hàng trăm năm,
Tâm họ không có thể,
Chơn chánh được giải thoát.
Tự tánh quá hạ liệt,
Không đến bờ bên kia,
Bị khát ái chi phối,
Bị giới cấm trói buộc,
Dầu tu tập khổ hạnh,
Cho đến hàng trăm năm,
Tâm họ không có thể,
Chơn chánh được giải thoát.
Tự tánh quá hạ liệt,
Không đến bờ bên kia.
Ở đời không nhiếp phục,
Kiêu mạn cùng các dục,
Tâm không được an tịnh,
Không tu tập Thiền định.
Ở trong rừng cô độc,
Nhưng tâm tư phóng dật,
Vị ấy khó vượt khỏi,
Sự chinh phục tử thần.
Nhiếp phục được kiêu mạn,
Khéo tu tập Thiền định,
Tâm tư khéo an tịnh,
Giải thoát được viên mãn,
Ở trong rừng cô độc,
Tâm tư không phóng dật,
Vị ấy khéo vượt khỏi,
Sự chinh phục tử thần.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn.
Rồi, vào lúc đêm khuya, nàng Kokanadā xinh đẹp, con gái của Pajjunna, soi sáng toàn bộ Đại Lâm, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Ở trong rừng Vesālī
là Đức Phật, bậc tối thượng của chúng sanh.
Kokanadā là con, người đang thờ phụng ngài,
Kokanadā, con gái của Pajjunna.Trước đây con chỉ được nghe
giáo pháp được chứng ngộ bởi Bậc Mắt Sáng.
Nhưng bây giờ con biết nó như một nhân chứng
khi bậc hiền triết, bậc Thánh đang giảng dạy.Có những kẻ ngu si đi khắp nơi
chỉ trích giáo pháp của các bậc cao thượng.
Họ rơi vào Địa ngục Gào Thét khủng khiếp
nơi họ chịu khổ lâu dài.Có những người đã tìm thấy
- sự chấp nhận và an bình
trong giáo pháp của các bậc cao thượng.
Sau khi từ bỏ thân người này,
họ sẽ làm tăng thêm số lượng chư thiên."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
2. Rồi Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Ðại Lâm, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên nữ Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,
Thượng thủ các chúng sanh,
Nay an trú Ðại Lâm,
Tại thành Vesàli,
Hãy để con đảnh lễ,
Con gái Pajjunna,
Tên Kokanadà.
Từ trước con chỉ nghe,
Bậc chứng ngộ Chánh Giác.
Bậc vô thượng Pháp Nhãn,
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ngày nay con có thể,
Biết được Chánh pháp ấy,
Do Thiện Thệ thuyết giảng,
Bậc Mâu-ni Chánh Giác.
Những ai kém trí tuệ,
Khinh bác chống Thánh pháp,
Sẽ rơi vào địa ngục,
Mệnh danh Roruva,
Trải thời gian lâu dài,
Thọ lãnh nhiều thống khổ.
Những ai đối Thánh pháp,
Kham nhẫn, tâm tịch tịnh,
Từ bỏ thân làm người,
Viên mãn thân chư Thiên.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn.
Rồi, vào lúc đêm khuya, nàng Kokanadā Trẻ xinh đẹp, con gái của Pajjunna, soi sáng toàn bộ Đại Lâm, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Kokanadā, con gái của Pajjunna, đã đến đây,
xinh đẹp như một tia chớp.
Tôn kính Đức Phật và giáo pháp,
nàng đã nói những bài kệ đầy ý nghĩa này.Giáo pháp là như vậy
mà con có thể phân tích nó theo nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, con sẽ trình bày ý nghĩa một cách ngắn gọn
theo những gì con đã học thuộc lòng.Ngươi không bao giờ nên làm điều ác
bằng lời nói, ý nghĩ hay hành động trên khắp thế gian.
Đã từ bỏ các dục lạc,
- chánh niệm và tỉnh giác,
ngươi không nên tiếp tục làm
- những gì đau khổ và vô ích."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
2. Rồi Cùla - Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Ðại Lâm đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Cùla-Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Con gái Pajjunna,
Tên Kokanadà.
Nhan sắc như điện quang,
Nàng đã đến tại đây,
Ðảnh lễ Phật và Pháp,
Nói kệ lợi ích này,
Dầu với nhiều pháp môn,
Con phân tích pháp này.
Nhưng lược nghĩa con nói,
Theo ý con hiểu biết,
Ở đời, chớ làm ác,
Cả ba: thân, khẩu, ý,
Từ bỏ mọi thứ dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần thành Xá-vệ, tại vườn ông Cấp Cô Độc, trong tu viện Kỳ-đà.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một vị trời rực rỡ, soi sáng toàn bộ rừng cây Kỳ-đà, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
"Khi nhà ngươi đang cháy,
ngươi cứu cái nồi
hữu ích,
chứ không phải cái đã cháy.Và khi thế gian đang cháy
với tuổi già và cái chết,
ngươi nên cứu vớt bằng cách cho đi,
vì cái được cho đi là cái được cứu.Cái được cho đi có hạnh phúc là quả của nó,
nhưng không phải cái không được cho đi.
Kẻ cướp lấy nó, hoặc vua chúa,
nó bị lửa thiêu rụi, hoặc mất đi.Rồi cuối cùng thân xác này bị vứt bỏ,
cùng với tất cả tài sản của ngươi.
Biết điều này, một người thông minh
sẽ hưởng thụ những gì họ có và cũng cho đi.
Sau khi cho đi và sử dụng theo khả năng của mình,
không bị chê trách, họ đến một cõi trời."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Trong ngôi nhà thiêu cháy,
Vật dụng đem ra ngoài,
Vật ấy có lợi ích,
Không phải vật bị thiêu.
Cũng vậy trong đời này,
Bị già chết thiêu cháy,
Hãy đem ra, bằng thí,
Vật thí, khéo đem ra.
Có thí, có lạc quả,
Không thí, không như vậy.
Kẻ trộm, vua cướp đoạt,
Lửa thiêu đốt hủy hoại,
Khi giờ cuối cùng đến,
Bỏ thân, bỏ sở hữu.
Kẻ trí, hiểu biết vậy,
Thọ dụng và bố thí,
Thí xong, thọ dụng xong,
Theo lực hành động ấy,
Không bị ai chỉ trích,
Vị ấy được sanh Thiên.
“Cho gì thì ngươi cho sức mạnh?
Cho gì thì ngươi cho vẻ đẹp?
Cho gì thì ngươi cho hạnh phúc?
Cho gì thì ngươi cho thị kiến?
Và ai là người cho tất cả?
Xin hãy trả lời câu hỏi của tôi.”"Cho thức ăn thì ngươi cho sức mạnh.
Cho quần áo thì ngươi cho vẻ đẹp.
Cho phương tiện đi lại thì ngươi cho hạnh phúc.
Cho đèn thì ngươi cho thị kiến.Và người cho tất cả
là người cho một nơi ở.
Nhưng người giảng dạy Chánh pháp
cho món quà bất tử."
Cho gì là cho lực?
Cho gì là cho sắc?
Cho gì là cho lạc?
Cho gì là cho mắt?
Cho gì cho tất cả?
Xin đáp điều con hỏi?
(Thế Tôn):
Cho ăn là cho lực,
Cho mặc là cho sắc,
Cho xe là cho lạc,
Cho đèn là cho mắt.
Ai cho chỗ trú xứ,
Vị ấy cho tất cả,
Ai giảng dạy Chánh pháp,
Vị ấy cho bất tử.
“Cả chư thiên và loài người
đều thích thức ăn của họ.
Vậy tên của vị trời
không thích thức ăn là gì?”"Những người cho đi với niềm tin
và một trái tim trong sáng và tự tin,
được hưởng thức ăn
trong thế giới này và thế giới kế tiếp.Vì vậy, ngươi nên xua tan sự keo kiệt,
vượt qua vết nhơ đó, và cho đi một món quà.
Những việc lành của chúng sanh
hỗ trợ họ trong thế giới kế tiếp."
Trời, Người, cả hai loài,
Ðều ưa thích ăn uống,
Vị Dạ-xoa tên gì,
Lại không thích ăn uống?
(Thế Tôn):
Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngừa xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Hữu tình vững an trú,
Công đức trong đời sau.
“Một là gốc rễ, hai là xoáy nước,
ba là vết nhơ, năm là sự lan rộng,
mười hai là xoáy nước đại dương:
đó là vực thẳm được vượt qua bởi bậc kiến giả.”
Một rễ, hai phương diện,
Ba uế, năm môi trường,
Biển lớn, mười hai họa,
Vực xoáy bậc Thánh siêu.
Hãy nhìn ngài với danh xưng vô song
- người thấy được ý nghĩa vi diệu,
người ban tặng trí tuệ,
- không dính mắc vào cõi dục:
bậc toàn tri, rất thông minh,
bậc kiến giả vĩ đại đang đi trên con đường cao thượng."
Bậc viên mãn toàn diện,
Thấy được nghĩa bí huyền,
Ban phát chân trí tuệ,
Thoát ly khỏi dục tạng,
Thấy được bậc toàn trí,
Bậc Thiện tuệ trí giác.
Vị Ðại Thánh dấn bước,
Trên con đường Thánh đạo.
“Nó vang dội với một nhóm tiên nữ,
nhưng bị ám bởi một băng đảng yêu tinh!
Khu rừng này được gọi là ‘Si Mê’.
Làm sao tôi sẽ tiếp tục đi?”"Con đường đó được gọi là ‘con đường thẳng’,
và nó hướng đến nơi gọi là ‘Vô Úy’.
Cỗ xe được gọi là ‘Không Lây Chuyển’,
được trang bị bánh xe của những suy nghĩ thiện xảo.Lương tâm là thành dựa của nó,
chánh niệm là lớp đệm của nó.
Ta nói giáo pháp là người đánh xe,
với chánh kiến chạy ở phía trước.Bất kỳ người phụ nữ hay đàn ông nào
có một cỗ xe như vậy,
bằng phương tiện của cỗ xe này
đã đến gần sự kết thúc."
Thiên nữ đoàn tụ hội,
Ngạ quỷ chúng tới lui,
Rừng ấy danh rừng si,
Làm sao có lối thoát?
(Thế Tôn):
Ðường ấy tên chơn trực,
Phương ấy danh vô úy,
Cỗ xe gọi vô thanh,
Với pháp luân khéo ráp,
Tàm là dàn xe dựa,
Niệm là trướng màn xe,
Ta nói vị đánh xe,
Tức là chơn diệu pháp,
Và chính chánh tri kiến,
Mau chóng đi tiền phong.
Không kể nam hay nữ,
Ðều dùng cỗ xe ấy.
Chính nhờ cỗ xe ấy,
Hướng tiến đến Niết-bàn.
“Phước báu của ai luôn tăng trưởng
cả ngày lẫn đêm?
Vững vàng trong nguyên tắc, thành tựu trong hành vi,
ai sẽ lên thiên giới?”"Những người trồng công viên hay lùm cây,
những người xây cầu,
một nơi uống nước và giếng,
và những người cho một nơi ở.Phước báu của họ luôn tăng trưởng
cả ngày lẫn đêm.
Vững vàng trong nguyên tắc, thành tựu trong hành vi,
họ sẽ lên thiên giới."
Những ai ngày lẫn đêm,
Công đức luôn tăng trưởng,
Trú pháp, cụ túc giới,
Kẻ nào sanh thiên giới?
Ai trồng vườn, trồng rừng,
Ai dựng xây cầu cống,
Ðào giếng, cho nước uống,
Những ai cho nhà cửa,
Những vị ấy ngày đêm,
Công đức luôn tăng trưởng,
Trú pháp, cụ túc giới,
Những vị ấy sanh Thiên.
"Đây quả thực là rừng Kỳ-đà,
nơi Tăng đoàn của các bậc kiến giả thường lui tới,
nơi Pháp Vương đã ở:
nó mang lại cho tôi niềm vui!Hành động, kiến thức, và nguyên tắc;
giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), một sinh kế tuyệt vời;
bởi những điều này mà người trần thế được thanh lọc,
không phải bởi gia tộc hay của cải.Đó là lý do tại sao một người sáng suốt,
thấy được điều gì tốt cho bản thân,
sẽ xem xét giáo pháp một cách đúng đắn,
và do đó được thanh lọc trong đó.Ngài Xá-lợi-phất đầy trí tuệ,
giới đức, và an tịnh.
Ngay cả một Tỷ kheo đã vượt qua
cũng chỉ có thể bằng được ngài mà thôi."
Ðây là rừng Kỳ Viên.
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền trí,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
"Những người trên thế gian keo kiệt,
bủn xỉn và lăng mạ,
tạo ra những trở ngại
cho những người khác cho đi.Họ gặt hái kết quả gì?
Cuộc sống tương lai của họ sẽ ra sao?
Chúng tôi đến để hỏi ngài:
chúng tôi nên hiểu điều này như thế nào?""Những người trên thế gian keo kiệt,
bủn xỉn và lăng mạ,
tạo ra những trở ngại
cho những người khác cho đi:họ tái sanh trong địa ngục,
cõi súc sanh, hay thế giới của Yama.
Nếu họ trở lại kiếp người,
họ sinh ra trong một gia đình nghèo,nơi quần áo, thức ăn, niềm vui, và trò chơi
khó tìm thấy.
Họ thậm chí không có được
những gì họ hy vọng từ người khác.
Đây là kết quả trong cuộc sống hiện tại,
và trong kiếp sau, một điểm đến tồi tệ.""Chúng tôi hiểu những gì ngài nói,
và hỏi một câu hỏi khác, Gotama.
Còn những người đã được làm người,
rộng lượng và thoát khỏi sự keo kiệt,tin tưởng vào Đức Phật và giáo pháp,
với sự kính trọng sâu sắc đối với Tăng đoàn?
Họ gặt hái kết quả gì?
Cuộc sống tương lai của họ sẽ ra sao?
Chúng tôi đến để hỏi ngài:
chúng tôi nên hiểu điều này như thế nào?""Những người đã được làm người
rộng lượng và thoát khỏi sự keo kiệt,
tin tưởng vào Đức Phật và giáo pháp,
với sự kính trọng sâu sắc đối với Tăng đoàn:
họ soi sáng các cõi trời
bất cứ nơi nào họ tái sanh.Nếu họ trở lại kiếp người,
họ tái sanh trong một gia đình giàu có,
nơi quần áo, thức ăn, niềm vui, và trò chơi
dễ dàng tìm thấy.Họ vui mừng như những người
kiểm soát tài sản của người khác.
Đây là kết quả trong cuộc sống hiện tại,
và trong kiếp sau, một điểm đến tốt đẹp."
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Ðiều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh ác thú.
(Vị Thiên):
Nhờ những điều Ngài nói,
Chúng con được hiểu vậy,
Tôn giả Gotama,
Con xin hỏi câu khác.
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Họ chói sáng chư Thiên,
Tại đấy họ tái sanh.
Nếu họ sanh làm người,
Họ sanh nhà phú gia,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được không khó khăn,
Như các Tự tại thiên,
Hân hoan được thọ hưởng,
Giữa vật dụng tài sản,
Ðược người khác quy tụ,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh Thiên giới.
“Bảy Tỷ kheo tái sanh ở cõi Vô Phiền
đã được giải thoát.
Với sự chấm dứt hoàn toàn của tham và sân,
họ đã vượt qua sự dính mắc vào thế gian.”“Ai là những người đã vượt qua vũng lầy,
lãnh địa của Thần Chết khó vượt qua?
Ai, sau khi từ bỏ thân người,
đã vượt lên trên các ách trói của cõi trời?”“Upaka và Palagaṇḍa,
và Pukkusāti, ba vị này;
Bhaddiya và Bhaddadeva,
và Bāhudantī và Piṅgiya.
Họ, sau khi từ bỏ thân người,
đã vượt lên trên các ách trói của cõi trời.”“Ngài nói tốt về họ,
những người đã buông bỏ cạm bẫy của Ma vương.
Họ đã hiểu giáo pháp của ai
để cắt đứt các mối ràng buộc của tái sanh?”"Không ai khác ngoài Đức Thế Tôn!
Không ai khác ngoài lời dạy của ngài!
Chính giáo pháp của ngài mà họ đã hiểu
để cắt đứt các mối ràng buộc của tái sanh.Nơi danh và sắc
chấm dứt không còn sót lại;
hiểu được giáo pháp này,
họ cắt đứt các mối ràng buộc của tái sanh."“Những lời ngài nói thật sâu sắc,
khó hiểu, rất khó để thức tỉnh.
Ngài đã hiểu giáo pháp của ai
mà có thể nói những điều như vậy?”"Trong quá khứ, tôi là một người thợ gốm
ở Vebhaliṅga tên là Ghaṭīkāra.
Tôi chăm sóc cha mẹ
như một cư sĩ tại gia của Đức Phật Ca-diếp.Tôi từ bỏ quan hệ tình dục,
tôi sống độc thân, phạm hạnh.
Chúng ta sống trong cùng một làng;
trong quá khứ, tôi là bạn của ngài.Tôi là người hiểu rằng
bảy Tỷ kheo này đã được giải thoát.
Với sự chấm dứt hoàn toàn của tham và sân,
họ đã vượt qua sự dính mắc vào thế gian.""Chính xác là như vậy,
đúng như ngài nói, Bhaggava.
Trong quá khứ, ngài là một người thợ gốm
ở Vebhaliṅga tên là Ghaṭīkāra.
Ngài chăm sóc cha mẹ
như một cư sĩ tại gia của Đức Phật Ca-diếp.Ngài từ bỏ quan hệ tình dục,
ngài sống độc thân, phạm hạnh.
Chúng ta sống trong cùng một làng;
trong quá khứ, ngài là bạn của tôi."“Chính là như vậy
khi những người bạn cũ gặp lại nhau.
Cả hai đều đã tiến hóa,
và mang thân cuối cùng của mình.”
Ðược sanh Vô phiền thiên,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
Vượt bùn, họ là ai,
Khéo vượt lệnh thần chết,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên?
Họ là Upaka,
Với Pukkusàti,
Hợp thành là ba vị,
Và Phalaganda,
Lại thêm Bhaddiya,
Với Khandadeva,
Và Bàhuraggi,
Cùng với Pingiya,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
(Thế Tôn):
Người nói điều tốt lành,
Về bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ thoát ly, đoạn trừ,
Các cạm bẫy Ma vương,
Pháp họ biết, của ai,
Ðoạn diệt hữu kiết sử?
(Ghatìkàra):
Không ai ngoài Thế Tôn,
Chính thật giáo lý Ngài,
Họ biết pháp của Ngài,
Ðoạn được hữu kiết sử.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư,
Họ học được pháp ấy,
Ở đây từ nơi Ngài.
Nhờ vậy họ đoạn trừ,
Hữu kiết sử trói buộc.
(Thế Tôn):
Lời nói người thâm sâu,
Khó biết, khó chứng ngộ,
Pháp Ông biết của ai,
Sao Ông không nói được?
(Ghatìkàra):
Thuở xưa, con thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và con được tên gọi,
Là Ghatìkàra.
Chính con lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Con đệ tử tại gia.
Con viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật,
Thuở xưa con đồng hương,
Cũng là bạn của họ,
Do vậy con biết họ,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
(Thế Tôn):
Vậy này Bhaggava,
Chính như Ông vừa nói,
Thuở xưa, Ông thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và Ông được tên gọi,
Là Ghatìkàra.
Chính Ông lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Ông đệ tử tại gia.
Ông viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật.
Thuở xưa Ông đồng hương,
Cũng là bạn của Ta,
Như vậy là hội ngộ,
Giữa những bạn thời xưa,
Cả hai khéo tu tập,
Mang thân này tối hậu.
“Điều gì vẫn tốt trong tuổi già?
Điều gì tốt khi vững chắc?
Kho báu của con người là gì?
Điều gì khó bị trộm cắp?”“Giới đức vẫn tốt trong tuổi già.
Niềm tin là tốt khi vững chắc.
Trí tuệ là kho báu của con người.
Phước báu khó bị trộm cắp.”
− Vật gì tốt đến già?
Vật gì tốt kiên trú?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp khó đoạt?
− Giới là tốt đến già,
Tín là tốt kiên trú,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp khó đoạt .
“Điều gì tốt vì nó không bao giờ già đi?
Điều gì tốt khi đã cam kết?
Kho báu của con người là gì?
Điều gì mà kẻ trộm không bao giờ lấy được?”“Giới đức tốt vì nó không bao giờ già đi.
Niềm tin là tốt khi đã cam kết.
Trí tuệ là kho báu của con người.
Phước báu là thứ mà kẻ trộm không bao giờ lấy được.”
− Vật gì tốt không già?
Vật gì tốt trường cửu?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp không đoạt?
− Giới là tốt không già,
Tín là tốt trường cửu,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp không đoạt.
“Ai là bạn của ngươi ở xứ người?
Ai là bạn của ngươi ở nhà?
Ai là bạn của ngươi khi cần?
Ai là bạn của ngươi trong kiếp sau?”“Một đoàn lữ hành là bạn của ngươi ở xứ người.
Mẹ là bạn của ngươi ở nhà.
Một người đồng đội trong lúc cần
là một người bạn hết lần này đến lần khác.
Nhưng những việc lành ngươi đã tự làm—
đó là bạn của ngươi trong kiếp sau.”
−
Ai bạn kẻ đi đường?
Ai bạn người ở nhà?
Ai bạn khi cần thiết?
Ai bạn cho đời sau?
Bạn đường, bạn đi đường,
−
Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn bè khi cần thiết,
Mới là bạn thường xuyên,
Công đức tự mình làm,
Là bạn cho đời sau.
“Nền tảng của con người là gì?
Người bạn đồng hành tốt nhất ở đây là gì?
Nhờ vào đâu mà các sinh vật sống trên trái đất
duy trì sự sống của chúng?”“Con cái là nền tảng của con người.
Vợ là người bạn đồng hành tốt nhất.
Các sinh vật sống trên trái đất
duy trì sự sống của chúng bằng mưa.”
− Vật gì, cơ sở người?
Vật gì, bạn tối thượng (ở đời)?
Hữu tình gì trì mạng?
Y cứ vào địa đại?
− Con là cơ sở người,
Vợ là bạn tối thượng,
Thần mưa là trì mạng,
Y cứ vào địa đại.
“Điều gì sinh ra một con người?
Họ có gì mà chạy loanh quanh?
Điều gì đi vào luân hồi?
Nỗi sợ hãi lớn nhất của họ là gì?”“Ái dục sinh ra một con người.
Tâm của họ là thứ chạy loanh quanh.
Một chúng sanh đi vào luân hồi.
Đau khổ là nỗi sợ hãi lớn nhất của họ.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người sợ hãi?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Ðau khổ, người sợ hãi.
“Điều gì sinh ra một con người?
Họ có gì mà chạy loanh quanh?
Điều gì đi vào luân hồi?
Họ không được tự do khỏi điều gì?”“Ái dục sinh ra một con người.
Tâm của họ là thứ chạy loanh quanh.
Một chúng sanh đi vào luân hồi.
Họ không được tự do khỏi đau khổ.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Vì đâu, không giải thoát?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn rong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Vì khổ, không giải thoát.
“Điều gì sinh ra một con người?
Họ có gì mà chạy loanh quanh?
Điều gì đi vào luân hồi?
Số phận của họ là gì?”“Ái dục sinh ra một con người.
Tâm của họ là thứ chạy loanh quanh.
Một chúng sanh đi vào luân hồi.
Nghiệp là số phận của họ.”
− Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người nương tựa?
− Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Chính nghiệp, người nương tựa.
“Điều gì được tuyên bố là lệch đường?
Điều gì đang kết thúc ngày và đêm?
Vết nhơ của đời sống phạm hạnh là gì?
Sự tắm rửa không cần nước là gì?”“Dục vọng được tuyên bố là lệch đường.
Tuổi trẻ đang kết thúc ngày và đêm.
Phụ nữ là vết nhơ của đời sống phạm hạnh,
mà thế hệ này bám víu vào.
Nhiệt tâm và phạm hạnh
là sự tắm rửa không cần nước.”
− Cái gì gọi phi đạo?
Cái gì diệt ngày đêm?
Cái gì uế Phạm hạnh?
Cái gì tắm không nước?
− Tham dục gọi phi đạo,
Tuổi tác diệt ngày đêm,
Nữ nhân uế Phạm hạnh,
Khiến loài Người hệ lụy,
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là tắm không cần nước.
“Bạn đồng hành của một người là gì?
Điều gì hướng dẫn họ?
Hưởng thụ điều gì thì một người trần thế
được giải thoát khỏi mọi đau khổ?”“Niềm tin là bạn đồng hành của một người.
Trí tuệ hướng dẫn họ.
Vui thích trong sự kết thúc, một người trần thế
được giải thoát khỏi mọi đau khổ.”
− Cái gì làm người bạn?
Cái gì giáo hóa người?
Cái gì người ái lạc?
Giải thoát mọi khổ đau?
− Tín thành làm bạn người,
Trí tuệ giáo hóa người,
Người ái lạc Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
“Nền tảng của thơ ca là gì?
Sự diễn đạt chi tiết của chúng là gì?
Thơ ca phụ thuộc vào điều gì?
Điều gì làm nền tảng cho thơ ca?”“Luật thơ là nền tảng của thơ ca.
Âm tiết là sự diễn đạt chi tiết của chúng.
Thơ ca phụ thuộc vào danh xưng.
Một nhà thơ làm nền tảng cho thơ ca.”
− Vật gì nhân kệ tụng?
Vật gì làm tự cú?
Vật gì kệ y cứ?
Vật gì kệ an trú?
− Âm vận nhân kệ tụng,
Văn tự làm tự cú,
Kệ ý cứ đề danh,
Kệ an trú thi nhân.
“Điều gì đè nén mọi thứ?
Điều gì không có gì lớn hơn?
Điều gì là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó?”“Danh đè nén mọi thứ.
Không có gì lớn hơn danh.
Danh là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó.”
− Vật gì thắng tất cả?
Vật gì không số hơn?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Danh vượt thắng tất cả,
Danh không số nào hơn,
Chính danh là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“Điều gì dẫn dắt thế gian?
Điều gì kéo lê nó đi khắp nơi?
Điều gì là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó?”“Tâm dẫn dắt thế gian.
Tâm kéo lê nó đi khắp nơi.
Tâm là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó.”
− Vật gì dắt dẫn đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Chính tâm dắt dẫn đời,
Chính tâm tự não hại,
Chính tâm là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“Điều gì dẫn dắt thế gian?
Điều gì kéo lê nó đi khắp nơi?
Điều gì là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó?”“Ái dục dẫn dắt thế gian.
Ái dục kéo lê nó đi khắp nơi.
Ái dục là một thứ duy nhất
có mọi thứ dưới sự chi phối của nó.”
− Vật gì dẫn dắt đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
− Chính ái là một đời,
Chính ái tự não hại,
Chính ái là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc.
“Điều gì xiềng xích thế gian?
Nó đi lại như thế nào?
Với sự từ bỏ điều gì
mà sự kết thúc được nói đến?”“Sự hỷ lạc xiềng xích thế gian.
Nó đi lại bằng phương tiện của ý nghĩ.
Với sự từ bỏ ái dục
sự kết thúc được nói đến.”
− Vật gì trói buộc đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mới được gọi Niết-bàn?
− Chính hỷ trói buộc đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mới được gọi Niết-bàn.
“Điều gì trói buộc thế gian?
Nó đi lại như thế nào?
Với sự từ bỏ điều gì
mà tất cả các mối trói buộc bị cắt đứt?”“Sự hỷ lạc trói buộc thế gian.
Nó đi lại bằng phương tiện của ý nghĩ.
Với sự từ bỏ ái dục
tất cả các mối trói buộc bị cắt đứt.”
− Vật gì triền phược đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mọi triền phược đoạn diệt?
− Chính hỷ triền phược đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mọi triền phược đoạn diệt.
“Thế gian bị đánh gục bởi điều gì?
Nó bị bao quanh bởi điều gì?
Mũi tên nào đã hạ gục nó?
Nó luôn sôi sục với điều gì?”“Thế gian bị đánh gục bởi cái chết.
Nó bị bao quanh bởi tuổi già.
Mũi tên của ái dục đã hạ gục nó.
Nó luôn sôi sục với ham muốn.”
− Vật gì áp đảo đời?
Vật gì bao phủ đời?
Tên gì bắn trúng đời?
Bởi gì thường huân tập?
− Sự chết áp đảo đời,
Già nua bao phủ đời,
Tên ái bắn trúng đời,
Bởi dục, thường huân tập.
“Điều gì đã mắc bẫy thế gian?
Nó bị bao quanh bởi điều gì?
Điều gì đã khóa chặt thế gian?
Thế gian đặt nền tảng trên điều gì?”“Ái dục đã mắc bẫy thế gian.
Nó bị bao quanh bởi tuổi già.
Cái chết đã khóa chặt thế gian.
Thế gian đặt nền tảng trên đau khổ.”
− Vật gì treo cột đời?
Vật gì bao phủ đời?
Vật gì đóng kín đời?
Trên gì đời an trú?
− Khát ái treo cột đời,
Già nua bao phủ đời,
Sự chết đóng kín đời,
Trên khổ, đời an trú.
“Điều gì đã khóa chặt thế gian?
Thế gian đặt nền tảng trên điều gì?
Điều gì đã mắc bẫy thế gian?
Nó bị bao quanh bởi điều gì?”“Cái chết đã khóa chặt thế gian.
Thế gian đặt nền tảng trên đau khổ.
Ái dục đã mắc bẫy thế gian.
Nó bị bao quanh bởi tuổi già.”
− Vật gì đóng kín đời?
Trên gì đời an trú?
Vật gì treo cột đời?
Vật gì bao phủ đời?
− Sự chết đóng kín đời,
Trên khổ, đời an trú,
Khát ái treo cột đời,
Già nua bao phủ đời.
“Điều gì trói buộc thế gian?
Bằng cách loại bỏ điều gì mà nó được giải thoát?
Với sự từ bỏ điều gì
mà tất cả các mối trói buộc bị cắt đứt?”“Mong muốn là thứ trói buộc thế gian.
Bằng cách loại bỏ mong muốn mà nó được giải thoát.
Với sự từ bỏ ái dục,
tất cả các mối trói buộc bị cắt đứt.”
− Vật gì trói buộc đời?
Ðiều phục gì được thoát?
Vật gì được đoạn trừ,
Khiến mọi phược đoạn tận?
− Ước muốn trói buộc đời,
Ðiều phục dục được thoát,
Ước muốn được đoạn trừ,
Mọi triền phược đoạn tận.
“Thế gian đã khởi sinh trong điều gì?
Nó tiếp cận với điều gì?
Bằng cách chấp thủ vào điều gì
mà thế gian bị phiền não trong điều gì?”“Thế gian đã khởi sinh trong sáu.
Nó tiếp cận với sáu.
Bằng cách chấp thủ vào sáu điều này,
thế gian bị phiền não trong sáu.”
− Trên gì thế gian sanh?
Trên gì được giao tiếp?
Thế gian chấp trước gì?
Trên gì đời khổ não?
− Trên sáu, thế gian sanh,
Trên sáu, được giao tiếp,
Thế gian chấp trước sáu,
Trên sáu, đời khổ não.
Tại thành Xá-vệ.
Đứng sang một bên, vị trời ấy thưa với Đức Phật bằng một bài kệ:
“Khi thiêu đốt điều gì thì ngươi ngủ yên?
Khi thiêu đốt điều gì thì không còn sầu muộn?
Điều gì là một thứ duy nhất, Gotama,
mà việc giết nó được ngài chấp thuận?”“Khi tức giận bị thiêu đốt, ngươi ngủ yên.
Khi tức giận bị thiêu đốt, không còn sầu muộn.
Này vị trời, tức giận có gốc có độc
và ngọn có mật.
Các bậc cao thượng ca ngợi việc giết nó,
vì khi nó bị thiêu đốt, không còn sầu muộn.”
… Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
(Thế Tôn):
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng,
Pháp ấy, bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này (Hiền giả) Thiên nhân.
“Dấu hiệu của một cỗ xe là gì?
Dấu hiệu của lửa là gì?
Dấu hiệu của một quốc gia là gì?
Dấu hiệu của một người phụ nữ là gì?”“Một lá cờ là dấu hiệu của một cỗ xe.
Khói là dấu hiệu của lửa.
Một người cai trị là dấu hiệu của một quốc gia.
Và một người chồng là dấu hiệu của một người phụ nữ.”
− Cỗ xe hiện tướng gì?
Ngọn lửa hiện tướng gì?
Vương quốc hiện tướng gì?
Phụ nữ hiện tướng gì?
− Cờ hiện tướng cỗ xe,
Khói hiện tướng ngọn lửa,
Vua hiện tướng vương quốc,
Chồng hiện tướng nữ nhân.
“Của cải tốt nhất của một người là gì?
Điều gì mang lại hạnh phúc khi được thực hành tốt?
Vị ngọt ngào nhất trong tất cả là gì?
Người mà họ nói có cuộc sống tốt nhất: họ sống như thế nào?”“Niềm tin ở đây là của cải tốt nhất của một người.
Giáo pháp mang lại hạnh phúc khi được thực hành tốt.
Sự thật là vị ngọt ngào nhất trong tất cả.
Người mà họ nói có cuộc sống tốt nhất sống bằng trí tuệ.”
− Tài sản gì ở đời,
Ðối người là tối thượng?
Sự gì khéo tu trì,
Ðưa đến chơn an lạc?
Vật gì ngọt tối thượng,
Trong tất cả vị ngọt?
Sống cuộc sống thế nào,
Ðược gọi sống tối thượng?
− Lòng tin ở đời này,
Là tài sản tối thượng.
Chánh pháp khéo tu trì,
Ðưa đến chơn an lạc.
Sự thật ngọt tối thượng,
Trong tất cả vị ngọt.
Sống cuộc sống trí tuệ,
Ðược gọi sống tối thượng.
“Điều gì là tốt nhất trong những thứ mọc lên?
Và điều gì là tốt nhất trong những thứ rơi xuống?
Và điều gì trong những thứ đi tới?
Và ai là người nói hay nhất?”“Một hạt giống là tốt nhất trong những thứ mọc lên.
Mưa là thứ tốt nhất rơi xuống.
Gia súc, trong những thứ đi tới.
Và một đứa trẻ là người nói hay nhất.”“Kiến thức là tốt nhất trong những thứ mọc lên.
Vô minh là thứ tốt nhất rơi xuống.
Tăng đoàn, trong những thứ đi tới.
Và Đức Phật là người nói hay nhất.”
Vật gì được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng?
Vật gì được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng?
Vật gì thường bộ hành?
Vật gì thuyết tối thượng?
(Một Thiên nhân):
Hột giống được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng.
Cơn mưa được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng.
Con bò thường bộ hành,
Con trai thuyết tối thượng.
(Thế Tôn):
Huệ minh được mọc lên,
Là mọc lên tối thượng.
Vô minh được rơi xuống,
Là rơi xuống tối thượng.
Tăng-già thường bộ hành,
Ðức Phật thuyết tối thượng.
“Tại sao có quá nhiều người ở đây sợ hãi,
khi con đường đã được dạy
- với rất nhiều khía cạnh?
Tôi hỏi ngài, Gotama, người có trí tuệ rộng lớn:
Đứng trên điều gì thì không cần sợ hãi kiếp sau?”“Khi lời nói và ý nghĩ được hướng đúng,
và ngươi không làm điều gì xấu với thân thể
khi ở nhà với nhiều thức ăn và đồ uống.
Có niềm tin, hiền hòa, từ thiện, và rộng lượng:
đứng trên bốn nguyên tắc này,
đứng trên giáo pháp
- thì không cần sợ hãi kiếp sau.”
Vì sao ở đời này,
Rất nhiều người sợ hãi,
Dầu con đường đề cập,
Dưới hình thức sai biệt?
Con hỏi Gotama,
Bậc trí tuệ sáng suốt,
Phải an trú chỗ nào,
Khỏi sợ hãi đời sau?
(Thế Tôn):
Hãy chánh trú lời, ý,
Thân nghiệp chớ làm ác.
Nếu an trú trong nhà,
Với tài sản dồi dào,
Hãy tín tâm, nhu hòa,
Chia tài sản, hòa nhã.
An trú bốn pháp này,
Không sợ hãi đời sau.
"Điều gì già đi, điều gì không già đi?
Điều gì được gọi là lệch đường?
Điều gì là chướng ngại cho các phẩm chất thiện lành?
Điều gì đang kết thúc ngày và đêm?
Vết nhơ của đời sống phạm hạnh là gì?
Sự tắm rửa không cần nước là gì?Có bao nhiêu lỗ hổng trên thế gian,
nơi của cải của một người bị rò rỉ?
Chúng tôi đến để hỏi ngài:
chúng tôi nên hiểu điều này như thế nào?""Hình hài thể chất của người trần thế già đi,
nhưng tên tuổi và gia tộc của họ thì không.
Dục vọng được gọi là lệch đường,và tham lam là chướng ngại cho các phẩm chất thiện lành.
Tuổi trẻ đang kết thúc ngày và đêm.
Phụ nữ là vết nhơ của đời sống phạm hạnh,
mà thế hệ này bám víu vào.
Nhiệt tâm và phạm hạnh
là sự tắm rửa không cần nước.Có sáu lỗ hổng trên thế gian,
nơi của cải của một người bị rò rỉ:
lười biếng và sao nhãng,
thiếu chủ động và thiếu kiềm chế,
buồn ngủ và uể oải.
Ngươi nên hoàn toàn loại bỏ những lỗ hổng này!"
− Ai già, ai không già?
Thế nào gọi phi đạo?
Vật gì chướng ngại pháp?
Vật gì đêm ngày diệt?
Vật gì uế Phạm hạnh?
Vật gì tắm không nước?
Ðời bao nhiêu lỗ trống,
Trên ấy, tâm không trú?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Mong biết câu trả lời!
− Sắc hữu tình bị già,
Danh tánh lại không già,
Tham dục gọi phi đạo,
Tham ái, chướng ngại pháp.
Tuổi tác đêm, ngày diệt,
Nữ nhân uế Phạm hạnh,
Ðắm trước trong uế này,
Là toàn thể chúng sanh.
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là tắm không cần nước,
Sáu lỗ trống ở đời,
Trên ấy, tâm không trú,
Biếng nhác và phóng dật,
Uể oải, không tự chế,
Thụy miên và hôn trầm,
Cả sáu lỗ trống này,
Cần ly khai tất cả.
"Quyền lực trên thế gian là gì?
Vật quý giá nhất là gì?
Thanh gươm rỉ sét trên thế gian là gì?
Ai là tai họa cho thế gian?Ai bị bắt khi họ lấy đi đồ vật?
Và ai được yêu mến khi họ lấy đi đồ vật?
Và ai được người sáng suốt chấp thuận
khi họ đến đi đến lại?""Quyền lực là quyền lực trên thế gian.
Một người phụ nữ là vật quý giá nhất.
Tức giận trên thế gian là một thanh gươm rỉ sét.
Một tên cướp là tai họa cho thế gian.Một tên cướp bị bắt khi họ lấy đi đồ vật.
Và một tu sĩ được yêu mến khi họ lấy đi đồ vật.
Một tu sĩ được người sáng suốt chấp thuận
khi họ đến đi đến lại."
− Vật gì chủ ở đời?
Hàng hóa gì tối thượng?
Vật gì làm rỉ sét,
Lưỡi kiếm ở trên đời?
Vật gì ở đời này,
Tác thành cõi địa ngục?
Ai đem đi, bị chận?
Ai đem đi, được ưa?
Ai thường xuyên đi lại,
Ðược kẻ trí hoan hỷ?
− Thế lực chủ ở đời,
Nữ nhân, vật tối thượng.
Phẫn nộ làm rỉ sét,
Lưỡi kiếm ở trên đời.
Kẻ trộm ở đời này,
Tác thành cõi địa ngục.
Trộm đem đi, bị chận,
Sa-môn đem, được ưa,
Sa-môn thường đi lại,
Ðược kẻ trí hoan hỷ.
“Người mong muốn điều tốt
- không nên cho đi điều gì?
Một người trần thế không nên từ bỏ điều gì?
Điều gì nên được thốt ra khi nó tốt,
nhưng không phải khi nó xấu?”“Một người đàn ông không nên cho đi chính mình.
Anh ta không nên từ bỏ chính mình.
Lời nói nên được thốt ra khi nó tốt,
nhưng không phải khi nó xấu.”
− Nghĩ lợi, không cho ai,
Con người từ bỏ gì?
Thiện gì nên thốt ra?
Ác gì nên ngăn chận?
− Con người không cho mình,
Không nên từ bỏ mình,
Lời thiện, nên thốt ra,
Lời ác, nên ngăn chận.
“Lương thực nên được buộc lại như thế nào?
Hang ổ của cải là gì?
Điều gì kéo lê một người đi khắp nơi?
Điều gì trên thế gian khó từ bỏ?
Điều gì mà nhiều chúng sanh bị trói buộc,
như chim trong cạm bẫy?”“Lương thực nên được buộc lại bằng niềm tin.
Vinh quang là hang ổ của cải.
Ham muốn kéo lê một người đi khắp nơi.
Ham muốn trên thế gian khó từ bỏ.
Nhiều chúng sanh bị trói buộc bởi ham muốn,
như chim trong cạm bẫy.”
− Cái gì cột lương thực?
Cái gì hút tài sản?
Cái gì lôi cuốn người?
Ở đời, khó bỏ gì?
Cái gì buộc phàm nhân,
Như chim bị bẫy sập?
− Lòng tin cột lương thực,
Thần tài hút tài sản.
Lòng muốn lôi cuốn người,
Ở đời, muốn (icchà) khó bỏ.
Ham muốn buộc phàm nhân,
Như chim bị bẫy sập.
"Ngọn đèn cho thế gian là gì?
Điều gì trên thế gian là tỉnh thức?
Ai là đồng nghiệp của một người?
Lối sống của một người là gì?Điều gì nuôi dưỡng người lười biếng và người không mệt mỏi,
như mẹ nuôi con?
Nhờ vào đâu mà các sinh vật sống trên trái đất
duy trì sự sống của chúng?""Trí tuệ là ngọn đèn cho thế gian.
Chánh niệm trên thế gian là tỉnh thức.
Gia súc là đồng nghiệp của một người,
và luống cày là lối sống của một người.Mưa nuôi dưỡng người lười biếng và người không mệt mỏi,
như mẹ nuôi con.
Các sinh vật sống trên trái đất
duy trì sự sống của chúng bằng mưa."
− Vật gì chiếu sáng đời?
Vật gì thức tỉnh đời?
Ai cọng nghiệp với người?
Cử chỉ chúng là gì?
Ai nuôi kẻ nhác, siêng,
Như mẹ nuôi con cái?
Hữu tình gì trì mạng,
Y cứ vào địa đại?
− Trí tuệ chiếu sáng đời,
Chánh niệm thức tỉnh đời,
Bò cọng nghiệp với người,
Ðường cày là con đường.
Mưa nuôi kẻ nhác, siêng,
Như mẹ nuôi con cái.
Mưa trì mạng chúng sanh,
Y cứ vào địa đại.
"Ai trên thế gian không có xung đột?
Cuộc sống của ai không bị mất đi?
Ai ở đây hoàn toàn hiểu được ham muốn?
Ai luôn sống như là chủ của chính mình?Mẹ, cha, và anh em
cúi đầu trước ai khi họ đã vững vàng?
Ai ở đây, dù sinh ra trong gia đình thấp kém,
vẫn được cúi đầu ngay cả bởi các bậc vương giả?""Các tu sĩ không có xung đột trên thế gian.
Cuộc sống của các tu sĩ không bị mất đi.
Các tu sĩ hoàn toàn hiểu được ham muốn.
Các tu sĩ luôn sống như là chủ của chính mình.Mẹ, cha, và anh em
cúi đầu trước các tu sĩ khi họ đã vững vàng.
Dù một tu sĩ sinh ra trong gia đình thấp kém,
họ vẫn được cúi đầu ngay cả bởi các bậc vương giả."
− Ai không tranh luận đời?
Ai sống không hoại diệt?
Ai rõ ham muốn đời?
Ai thường xuyên tự tại?
Ai an trú như vậy,
Cha, mẹ, anh đảnh lễ?
Ai dầu có hạ sanh,
Ðược Sát-lỵ tôn kính?
− Sa-môn không tranh đời,
Sa-môn sống không diệt,
Sa-môn rõ dục vọng,
Sa-môn thường tự tại,
Sa-môn trú như vậy,
Cha, mẹ, anh kính lễ.
Sa-môn dầu hạ sanh,
Ðược Sát-lỵ tôn kính.
-ooOoo-