Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Kassapa, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên và nói với Ngài: “Thế Tôn đã nói về Tỷ kheo, nhưng không nói về lời khuyên cho một Tỷ kheo.”
“Vậy thì, này Kassapa, chính ông hãy làm sáng tỏ vấn đề này.”
“Họ nên rèn luyện theo lời khuyên tốt,
chăm chú lắng nghe các vị sa-môn (ascetics / người tu hành),
trong việc ngồi một mình ở nơi kín đáo,
và trong việc làm cho tâm an tịnh.”
Đó là những gì vị thiên tử Kassapa đã nói, và bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Rồi Kassapa, biết rằng bậc Đạo Sư đã chấp thuận, đảnh lễ và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Kassapa (Ca-diếp), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa bạch Thế Tôn:
− Thế Tôn đề cao Tỷ-kheo và sự giáo giới vị Tỷ kheo cho chúng con.
2. − Vậy này Kassapa, hãy nói lên ở đây về vấn đề ấy.
3. (Kassapa):
Hãy học điều khéo nói,
Trong hạnh nghiệp Sa-môn,
Vắng lặng, ngồi một mình,
Với tâm tư an tịnh.
4. Thiên tử Kassapa nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên tử Kassapa, sau khi được biết: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất từ chỗ ấy.
Tại Sāvatthī.
Đứng một bên, vị thiên tử Kassapa đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Giả sử một Tỷ kheo là một thiền giả, tâm được giải thoát.
Nếu họ muốn đạt được sự bình an trong tâm,
sau khi đã biết sự sinh và diệt của thế gian,
với tâm thiện, độc lập, đó là phần thưởng của họ.”
1. Tại Sàvatthi.
2. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Với tâm tư giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tu thiền,
Và với lòng ước vọng,
Ðạt được tâm sở nguyện.
Sau khi biết cuộc đời,
Hưng thịnh và phế tàn,
Tâm thuần, không nương tựa,
Hưởng lợi quả như chơn.
Tại Sāvatthī.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Māgha, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Khi thiêu đốt cái gì thì ngủ được an lành?
Khi thiêu đốt cái gì thì không còn sầu muộn?
Đâu là một thứ duy nhất
mà Ngài tán thành việc giết bỏ?”“Khi tức giận được thiêu đốt thì ngủ được an lành.
Khi tức giận được thiêu đốt thì không còn sầu muộn.
Tức giận có gốc rễ độc hại,
và đầu ngọn ngọt ngào, hỡi kẻ diệt trừ loài Rắn độc.
Các bậc thánh tán thán việc giết bỏ nó,
vì khi nó được thiêu đốt thì không còn sầu muộn.”
1. Tại Sàvatthi.
2. Rồi Thiên tử Màgha, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Màgha nói với
Thế Tôn bài kệ:
3.
Sát vật gì được lạc?
Sát vật gì không sầu?
Có một pháp loại gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
4. (Thế Tôn)
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu,
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng.
Pháp ấy bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy không sầu,
Này Hiền giả Thiên nhân .
Tại Sāvatthī.
Đứng một bên, vị thiên tử Māgadha thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Có bao nhiêu ngọn đèn
soi sáng thế gian?
Chúng con đến để hỏi Thế Tôn;
chúng con nên hiểu điều này như thế nào?”"Có bốn ngọn đèn trên thế gian,
không tìm thấy ngọn thứ năm.
Mặt trời rực sáng ban ngày,
mặt trăng tỏa sáng ban đêm,trong khi ngọn lửa soi sáng cả
ngày lẫn đêm.
Nhưng một vị Phật là ngọn đèn tuyệt vời nhất:
đây là ánh sáng tối thượng."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Màgadha nói lên với Thế Tôn bài kệ:
Vật gì chiếu sáng đời,
Do chúng, đời chói sáng?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Muốn nghe lời giải đáp.
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm đây không có,
Ngày, mặt trời sáng chói,
Ðêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi,
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này sáng vô thượng .
Tại Sāvatthī.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Dāmali, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Đây là điều một vị brahmin (bà-la-môn / tu sĩ thuộc giai cấp cao nhất trong xã hội Ấn Độ cổ) nên làm:
nỗ lực không ngừng.
Rồi, với việc từ bỏ các lạc thú giác quan,
họ sẽ không mong được tái sinh.”“Vị brahmin không còn gì để làm,”
Thế Tôn nói với Dāmali,
"vì họ đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Chừng nào một người chưa đứng vững được dưới sông,
họ bơi bằng cả tứ chi.
Nhưng người đã đứng vững
- và đang ở trên đất liền
thì không cần bơi,
- vì họ đã đến bờ bên kia.Dāmali, đây là một ví dụ cho vị brahmin,
tỉnh giác, một thiền giả đã chấm dứt các phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực).
Vì họ đã đến cuối của sinh và tử,
họ không cần bơi,
- vì họ đã đến bờ bên kia."
1. Tại Sàvatthi.
2. Thiên tử Dàmali, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Dàmali nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
3.
Ở đây, Bà-la-môn,
Tinh cần, không biếng nhác,
Ðoạn trừ các dục vọng,
Nhờ vậy không tái sanh .
4. Thế Tôn bèn trả lời:
Ôi này Dàmali,
Với vị Bà-la-môn,
Không còn gì phải làm,
Việc phải làm đã làm,
Chính là Bà-la-môn.
Chúng sanh đủ tay chân,
Không tìm được chân đứng,
Trôi giạt và chìm nổi,
Trong biển rộng, sông dài.
Tìm được chỗ chân đứng,
Khô ráo vị ấy đứng,
Ðã đến bờ bên kia,
Vị ấy không trôi giạt.
Vậy này Dàmali,
Ví dụ ấy là vậy.
Cũng vậy Bà-la-môn,
Ðoạn trừ các lậu hoặc,
Sáng suốt và kín đáo,
Tinh tấn tu Thiền định.
Vị ấy đã đạt được,
Tận cùng đường sanh tử,
Ðã đến bờ bên kia,
Nên không còn trôi giạt.
Tại Sāvatthī.
Đứng một bên, vị thiên tử Kāmada nói với Thế Tôn, “Khó quá, thưa Thế Tôn! Thật là quá khó!”
“Họ vẫn làm dù việc đó khó,”
Thế Tôn nói với Kāmada,
“những người tu tập vững vàng với đạo đức, và sự định tâm.
Đối với người đã bước vào đời sống không nhà,
sự tri túc mang lại hạnh phúc.”
“Sự tri túc như vậy, thưa Thế Tôn, thật khó tìm.”
“Họ vẫn tìm thấy dù việc đó khó,”
Thế Tôn nói với Kāmada,
“những người yêu thích sự bình an của tâm;
tâm của họ thích thiền định
ngày đêm.”
“Nhưng khó quá, thưa Thế Tôn, để đưa tâm này vào samādhi (sự định tâm / trạng thái tập trung cao độ).”
“Họ nhập vào samādhi
- dù việc đó khó,”
Thế Tôn nói với Kāmada,
“những người yêu thích việc làm lắng dịu các giác quan.
Sau khi cắt đứt lưới của Tử thần,
các bậc thánh, này Kāmada, tiếp tục con đường của mình.”
“Nhưng con đường này, thưa Thế Tôn, gồ ghề và khó đi.”
“Dù gồ ghề, khó đi,
các bậc thánh, này Kāmada, vẫn tiếp tục con đường của mình.
Kẻ phàm phu ngã chúi đầu
trên con đường gồ ghề.
Nhưng con đường của các bậc thánh thì bằng phẳng,
vì các bậc thánh thì bằng phẳng giữa nơi gồ ghề.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Kàmada bạch Thế Tôn:
2. Khó làm, bạch Thế Tôn,
Thế Tôn, thật khó làm.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ làm việc khó làm,
Chính các vị hữu học,
Kiên trì tu giới định,
Ðã chọn đời xuất gia,
Biết đủ, đem an lạc.
3.
Biết đủ, bạch Thế Tôn,
Biết đủ, thật khó được.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ được điều khó được.
Những vị lòng ưa thích,
Tâm tư được điều tịnh,
Cả ngày và cả đêm,
Ý an lạc tu tập.
4.
Khó tịnh, bạch Thế Tôn,
Tâm ấy, thật khó tịnh.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ tịnh tâm khó tịnh.
Những vị lòng ưa thích,
Các căn được tịch tịnh,
Cắt đứt lưỡi tử thần,
Bậc Hiền Thánh đi tới.
5.
Khó đi, bạch Thế Tôn,
Con đường thật lồi lõm.
Tuy vậy, Kàmada,
Bậc Hiền Thánh vẫn đi.
Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.
Tại Sāvatthī.
Đứng một bên, vị thiên tử Pañcālacaṇḍa đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Lối thoát giữa chốn tù túng
đã được khám phá bởi Đức Phật có trí tuệ bao la,
người đã giác ngộ về thiền định (absorption / trạng thái tâm nhập sâu vào một đối tượng),
bậc hiền triết, con bò đực đơn độc.”“Ngay cả giữa chốn tù túng, họ vẫn khám phá ra,”
Thế Tôn nói với Pañcālacaṇḍa,
“nguyên lý để đạt được Niết-bàn (extinguishment / sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau).
Những người đã có được chánh niệm (mindfulness / sự chú tâm, tỉnh giác)
thì hoàn toàn thanh thản trong samādhi.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Pancàlacanda nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Dầu giữa những chướng ngại,
Bậc Ðại trí Chánh giác,
Vẫn tìm được lối thoát,
Vượt qua mọi chướng ngại.
Bậc trí hiểu Thiền định,
Biết từ bỏ, tối thắng,
Bậc Mâu-ni, ẩn sĩ
2. Thế Tôn lên tiếng:
Pancàlacanda,
Dầu giữa những chướng ngại,
Họ tìm được lối thoát,
Họ tìm được Chánh pháp
Ðưa đến quả Niết-bàn.
Những vị đạt chánh niệm,
Kiên trì không dao động,
Họ là bậc chơn chánh,
Tâm điều phục, định tĩnh.
Tại Sāvatthī.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Tāyana, trước đây là một người sáng lập tôn giáo, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
"Hãy nỗ lực và cắt đứt dòng chảy!
Hãy xua tan các lạc thú giác quan, hỡi brahmin.
Một bậc hiền triết không từ bỏ các lạc thú giác quan
sẽ không tái sinh vào một trạng thái hợp nhất.Nếu một người phải làm điều nên làm,
người đó nên kiên quyết nỗ lực.
Vì đời sống xuất gia khi được sống một cách lỏng lẻo
chỉ làm khuấy động thêm bụi bặm.Một việc xấu tốt hơn là không làm,
vì nó sẽ gây phiền toái cho bạn sau này.
Một việc tốt tốt hơn là nên làm,
một việc không gây phiền toái cho bạn.Khi cỏ kusa bị nắm sai cách
nó chỉ làm đứt tay.
Cũng vậy, đời sống tu khổ hạnh, khi được thực hành sai cách,
sẽ kéo bạn xuống địa ngục.Bất kỳ hành động lỏng lẻo nào,
bất kỳ sự tuân thủ sai lạc nào,
hay đời sống tâm linh đáng ngờ nào,
đều không mang lại nhiều kết quả."
Đó là những gì vị thiên tử Tāyana đã nói. Rồi ông đảnh lễ và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.
Rồi, khi đêm đã qua, Thế Tôn kể lại cho các Tỷ kheo tất cả những gì đã xảy ra.
“Này các Tỷ kheo, đêm nay, vị thiên tử rực rỡ Tāyana, trước đây là một người sáng lập tôn giáo, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp ta, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của ta.” Thế Tôn lặp lại đầy đủ các vần kệ, và nói thêm:
“Đó là những gì vị thiên tử Tāyana đã nói. Rồi ông đảnh lễ và đi quanh ta theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó. Này các Tỷ kheo, hãy học những vần kệ của Tāyana! Hãy ghi nhớ những vần kệ của Tāyana! Hãy nhớ những vần kệ của Tāyana! Những vần kệ này có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh.”
1. Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
2.
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
3. Thiên tử Tàyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
4. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
5. − Này các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước mặt Ta:
6.
"Ôi này Bà-la-môn
Tinh tấn cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc khó làm,
Cần kiên trì tinh tấn,
Xuất gia nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay,
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn."
7. Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Tàyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, bài kệ của Tàyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn bản của Phạm hạnh.
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Nguyệt Thiên tử đã bị Rāhu, chúa của các a-tu-la (titans / một loài chúng sinh thường đối đầu với chư thiên), bắt giữ. Rồi Nguyệt Thiên tử, tưởng nhớ đến Đức Phật, lúc đó đã đọc bài kệ này:
“Kính lễ Ngài, Đức Phật, bậc anh hùng!
Ngài được tự do về mọi mặt.
Con đã lạc vào chốn tù túng:
xin hãy là nơi nương tựa của con!”
Rồi Thế Tôn nói với Rāhu bằng những vần kệ về Nguyệt Thiên tử:
“Nguyệt Thiên tử đã quy y
Như Lai, bậc hoàn thiện.
Chư Phật có lòng bi mẫn với thế gian—
vậy Rāhu, hãy thả Nguyệt Thiên tử ra!”
Rồi Rāhu, sau khi thả Nguyệt Thiên tử, vội vã đến gặp Vepacitti, chúa của các a-tu-la và đứng một bên, kinh hoàng và khiếp sợ. Vepacitti nói với ông bằng những vần kệ:
“Tại sao vội vã thế?
Rāhu, ngươi đã thả Nguyệt Thiên tử
và đến đây với vẻ kinh hoàng:
tại sao ngươi đứng đó sợ hãi như vậy?”“Đầu ta đã vỡ thành bảy mảnh,
ta sẽ không tìm thấy hạnh phúc trong đời,
nếu, khi bị mê hoặc bởi vần kệ của Đức Phật,
ta đã không thả Nguyệt Thiên tử.”
436a)
1. Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ).
Lúc bấy giờ, Thiên tử Candima bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Candima, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
2.
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng .
3. Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Candima, nói lên bài lệ này cho Ràhu, vua A-tu-la:
Canda đã quy y,
Như Lai, bậc La-hán,
Ràhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời .
4. Rồi Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candima. Như bị hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5.
Vì sao, như hốt hoảng,
Ràhu thả Canda,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
6.
− Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Canda .
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Nhật Thiên tử đã bị Rāhu, chúa của các a-tu-la, bắt giữ. Rồi Nhật Thiên tử, tưởng nhớ đến Đức Phật, lúc đó đã đọc bài kệ này:
“Kính lễ Ngài, Đức Phật, bậc anh hùng!
Ngài được tự do về mọi mặt.
Con đã lạc vào chốn tù túng:
xin hãy là nơi nương tựa của con!”
Rồi Thế Tôn nói với Rāhu bằng những vần kệ về Nhật Thiên tử:
"Nhật Thiên tử đã quy y
Như Lai, bậc hoàn thiện.
Chư Phật có lòng bi mẫn với thế gian—
vậy Rāhu, hãy thả Nhật Thiên tử ra!Ngài là ngọn đuốc trong bóng tối,
mặt trời rực rỡ, vòng lửa huy hoàng.
Rāhu, đừng nuốt ngài khi ngài đi ngang qua bầu trời.
Rāhu, hãy thả con ta, Nhật Thiên tử!"
Rồi Rāhu, sau khi thả Nhật Thiên tử, vội vã đến gặp Vepacitti, chúa của các a-tu-la và đứng một bên, kinh hoàng và khiếp sợ. Vepacitti nói với ông bằng những vần kệ:
“Tại sao vội vã thế?
Rāhu, ngươi đã thả Nhật Thiên tử
và đến đây với vẻ kinh hoàng:
tại sao ngươi đứng đó sợ hãi như vậy?”“Đầu ta đã vỡ thành bảy mảnh,
ta sẽ không tìm thấy niềm vui trong đời,
nếu, khi bị mê hoặc bởi vần kệ của Đức Phật,
ta đã không thả Nhật Thiên tử.”
1. Lúc bấy giờ, Thiên tử Suriya bị Ràhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Suriya tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
2.
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng.
3. Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Suriya, nói lên bài kệ này cho Ràhu, vua A-tu-la:
Suriya đã quy y,
Như Lai bậc La-hán,
Ràhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời.
Ông đi giữa hư không,
Chớ nuốt Suriya,
Trong thế giới tối tăm,
Ðã đem lại ánh sáng,
Là mặt trời sáng chói,
Là dĩa tròn hực đỏ,
Là lò lửa cháy nóng,
Là bà con của Ta.
Này Ràhu, (Ta nói):
Hãy thả Suriya.
4. Rồi Ràhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Suriya. Như bị hốt hoảng, Ràhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5.
Vì sao, như hốt hoảng,
Ràhu, thả Suriya,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
6.
− Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Suriya .
II Phẩm Cấp Cô Ðộc (S.i,51)
Tại Sāvatthī.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Candimasa, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Như hươu trong đầm lầy không có muỗi,
họ sẽ đến được nơi an toàn
sau khi đã nhập vào các tầng thiền định,
hợp nhất, tỉnh giác, và chánh niệm.”“Như cá khi lưới bị cắt,
họ sẽ đến được bờ bên kia
sau khi đã nhập vào các tầng thiền định,
siêng năng, với các thói xấu đã được loại bỏ.”
Tại Sàvatthi.
1. Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Họ sẽ đi an toàn,
Như thú, vùng không muỗi,
Sau khi chứng Thiền định,
Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,
Họ sẽ đi bờ kia,
Như cá, phá rách lưới,
Sau khi chứng Thiền định,
Tự chế, vượt lỗi lầm .
Đứng một bên, vị thiên tử Vishnu đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Hạnh phúc thay những đứa con của Manu
những người kính lễ bậc Thánh!
Họ áp dụng lời dạy của Gotama,
siêng năng rèn luyện.”“Những người thực hành thiền định
- phù hợp với sự rèn luyện”,
Thế Tôn nói với Vishnu,
“theo cách giảng dạy mà Ta đã tuyên bố,
họ kịp thời siêng năng;
họ sẽ không rơi vào sự chi phối của Tử thần.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Vendu nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Hạnh phúc thay những người,
Sau khi hầu Thiện Thệ,
Tuân phụng lời Ngài dạy,
Tu học không phóng dật!
3. Thế Tôn nói:
Vendu!
Những ai Thiền tu học.
Trong pháp cú Ta dạy,
Tinh cần, không phóng dật,
Ðúng thời họ sẽ đi,
Thoát khỏi tay tử thần.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Dīghalaṭṭhi, tỏa sáng khắp khu rừng Trúc Lâm, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Giả sử một Tỷ kheo là một thiền giả, tâm được giải thoát.
Nếu họ muốn đạt được sự bình an trong tâm,
sau khi đã biết sự sinh và diệt của thế gian,
với tâm thiện, độc lập, đó là phần thưởng của họ.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Thiên tử Diighalatthi, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Diighalatthi nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Với tâm tư giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tu Thiền,
Và với lòng ước vọng,
Ðạt được tâm sở nguyện,
Sau khi biết cuộc đời,
Sanh khởi rồi đoạn diệt,
Tâm thuần không chấp trước,
Hưởng lợi quả như chơn.
Đứng một bên, vị thiên tử Nandana thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Con xin hỏi Ngài, Gotama, người có trí tuệ bao la,
bậc Thế Tôn
- có tri kiến không bị cản trở.
Người như thế nào được gọi là có đạo đức?
Người như thế nào được gọi là có trí tuệ?
Người như thế nào sống tiếp
- sau khi đã vượt qua khổ đau?
Người như thế nào được các vị trời thờ phụng?”"Một người có đạo đức, trí tuệ, đã phát triển,
trở nên thanh thản, yêu thích thiền định, chánh niệm,
người đã loại bỏ và từ bỏ mọi sầu muộn,
với các phiền não đã chấm dứt, họ mang thân cuối cùng.Người như thế được gọi là có đạo đức.
Người như thế được gọi là có trí tuệ.
Người như thế sống tiếp
- sau khi đã vượt qua khổ đau.
Người như thế được các vị trời thờ phụng."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nandana nói bài kệ với Thế Tôn:
Con hỏi Gotama,
Bậc Ðại Giác toàn trí,
Con hỏi đấng Thế Tôn,
Với tri kiến vạn năng.
Người nào gọi trì giới?
Người nào gọi trí tuệ?
Người nào vượt sầu khổ?
Người nào chư Thiên lạy?
2. (Thế Tôn):
Ai hộ trì giới luật,
Trí tuệ, tâm tu trì,
Chú tâm, vui Thiền định,
Tâm tư trú chánh niệm,
Tất cả mọi sầu khổ,
Ðược trừ diệt, đoạn tận,
Các lậu hoặc tận trừ,
Sống với thân tối hậu,
Vị ấy gọi trì giới,
Vị ấy gọi trí tuệ,
Vị ấy vượt sầu khổ,
Vị ấy chư Thiên lạy.
Đứng một bên, vị thiên tử Candana thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Ai ở đây vượt qua được dòng lũ,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm?
Ai, không đứng lại và không có chỗ dựa,
mà không chìm trong vực sâu?”"Người luôn có đạo đức,
trí tuệ và thanh thản,
năng nổ và kiên quyết,
vượt qua được dòng lũ khó vượt.Người từ bỏ nhận thức giác quan,
đã vượt qua sắc kiết sử (fetter of form / sự trói buộc bởi hình tướng),
và đã chấm dứt sự thích thú và tham lam
thì không chìm trong vực sâu."
1. Ðứng một bên, Thiên tử Candana nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Làm sao vượt bộc lưu,
Ngày đêm vững, kiên trì,
Không trú, không bám víu,
Ai không chìm vực sâu?
2. (Thế Tôn):
Vị luôn luôn trì giới,
Trí tuệ, khéo định tĩnh,
Chí siêng năng dõng mãnh,
Vượt bộc lưu khó vượt.
Vị đoạn, ly dục tưởng,
Vượt khỏi sắc triền phược,
Ðoạn tận hỷ, hữu ái,
Không chìm xuống vực sâu.
Đứng một bên, vị thiên tử Vāsudatta đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Như bị gươm đâm,
như đầu đang bốc cháy,
một Tỷ kheo nên đi đây đó với chánh niệm,
để từ bỏ tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan).”“Như bị gươm đâm,
như đầu đang bốc cháy,
một Tỷ kheo nên đi đây đó với chánh niệm,
để từ bỏ thân kiến (substantialist view / quan điểm cho rằng có một cái tôi, một thực thể bền vững).”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Sudatta nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ ái dục.
2. (Thế Tôn):
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ thân kiến.
Đứng một bên, vị thiên tử Subrahmā thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Tâm này luôn lo lắng,
tâm này luôn căng thẳng
về những căng thẳng chưa phát sinh
và những căng thẳng đã phát sinh.
Nếu có một trạng thái không lo lắng,
xin hãy trả lời câu hỏi của con.”“Không phải không có sự hiểu biết và nhiệt tâm,
không phải không có sự chế ngự các giác quan,
không phải không có sự buông bỏ mọi thứ,
mà Ta thấy được sự an toàn cho các chúng sinh.”
Đó là những gì Thế Tôn đã nói. … Vị thiên tử biến mất ngay tại đó.
1. Ðứng một bên, Thiên tử Subrahmà nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Tâm này thường sợ hãi,
Ý này thường dao động,
Ðiều mong ước không khởi,
Ðiều không mong lại khởi,
Nếu có, không sợ hãi,
Hãy nói điều con hỏi.
2. (Thế Tôn):
Không ngoài hạnh giác chi,
Không ngoài hộ trì căn,
Không ngoài bỏ tất cả,
Ta thấy các pháp ấy,
Ðưa đến sự an toàn,
Cho tất cả chúng sanh.
3. Rồi Thiên tử biến mất tại chỗ ấy.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāketa, trong vườn nai tại rừng Añjana.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Kakudha, tỏa sáng khắp khu rừng Añjana, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ngài: “Ngài có vui thích không, hỡi sa-môn?”
“Ta đã được gì, thưa ngài?”
“Vậy thì, hỡi sa-môn, ngài có sầu muộn không?”
“Ta đã mất gì, thưa ngài?”
“Vậy thì, hỡi sa-môn, ngài không vui thích cũng không sầu muộn?”
“Đúng vậy, thưa ngài.”
“Tôi hy vọng ngài không phiền muộn, hỡi Tỷ kheo,
tôi hy vọng niềm vui không được tìm thấy trong ngài.
Tôi hy vọng sự bất mãn không
lấn át ngài khi ngài ngồi một mình.”“Ta thực sự không phiền muộn, hỡi vị trời,
và không có niềm vui nào được tìm thấy trong ta.
Và sự bất mãn cũng không
lấn át ta khi ta ngồi một mình.”“Làm sao ngài không phiền muộn, hỡi Tỷ kheo?
Làm sao niềm vui không được tìm thấy trong ngài?
Làm sao sự bất mãn không
lấn át ngài khi ngài ngồi một mình?”“Niềm vui sinh ra từ khổ đau,
khổ đau sinh ra từ niềm vui;
thưa ngài, ngài nên biết ta là
một Tỷ kheo không có niềm vui và khổ đau.”“Sau một thời gian dài, tôi thấy
một vị brahmin đã hoàn toàn tịch diệt.
Một Tỷ kheo không có niềm vui và khổ đau,
ngài đã vượt qua sự bám víu vào thế gian.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn khu rừng Anjana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
2. Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
− Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
− Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
− Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
− Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
− Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
− Thật như vậy, này Hiền giả.
3.
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Tuy vậy, Ngài cũng không
Có được sự hoan hỷ?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
4.
Thật sự, này Dạ-xoa,
Ta không có sầu muộn,
Tuy vậy ở nơi Ta,
Hoan hỷ không khởi lên,
Dầu nay Ta có ngồi,
Riêng một mình cô độc,
Ta không có hoan hỷ,
Cũng không bị dao động.
5.
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Làm sao ở nơi Ngài,
Hoan hỷ không khởi lên?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
6.
Hoan hỷ chỉ có đến,
Với người tâm sầu muộn,
Sầu muộn chỉ có đến,
Với người tâm hoan hỷ.
Do vậy, vị Tỷ-kheo,
Không hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy nên, này Hiền giả,
Ông phải biết như vậy.
7.
Ðã lâu, con mới thấy,
Bà-la-môn tịch tịnh,
Vị Tỷ-kheo không sầu,
Cũng không có hoan hỷ,
Ðã an toàn vượt khỏi,
Chỗ người đời đắm say.
Tại Rājagaha. Đứng một bên, vị thiên tử Uttara đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Cuộc đời này, quá ngắn ngủi, bị dẫn đi.
Người bị dẫn đến tuổi già không có nơi trú ẩn.
Thấy được sự nguy hiểm này trong cái chết,
hãy làm những việc thiện mang lại cho bạn niềm vui.”“Cuộc đời này, quá ngắn ngủi, bị dẫn đi.
Người bị dẫn đến tuổi già không có nơi trú ẩn.
Thấy được sự nguy hiểm này trong cái chết,
người tìm kiếm sự bình an sẽ từ bỏ mồi nhử của thế gian.”
1. Nhân duyên tại thành Vương Xá.
Ðứng một bên, Thiên tử Uttara nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
3.
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
Đứng một bên, vị thiên tử Anāthapiṇḍika đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
"Đây quả thực là Kỳ-đà Lâm,
nơi Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo) của các bậc hiền triết thường lui tới,
nơi Vua Pháp đã ở:
nó mang lại cho tôi niềm vui!Hành động, kiến thức, và nguyên tắc;
giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), một sinh kế tuyệt vời;
nhờ những điều này mà con người được thanh lọc,
không phải bởi dòng dõi hay của cải.Đó là lý do tại sao một người sáng suốt,
thấy được điều tốt cho bản thân,
sẽ xem xét giáo pháp một cách hợp lý,
và do đó được thanh lọc trong đó.Sāriputta (Xá-lợi-phất) đầy trí tuệ,
đạo đức, và sự bình an.
Ngay cả một Tỷ kheo đã vượt qua
cũng chỉ có thể sánh ngang với ngài là cùng."
Đây là những gì vị thiên tử Anāthapiṇḍika đã nói. Rồi ông đảnh lễ và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.
Rồi, khi đêm đã qua, Thế Tôn nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, đêm nay, một vị thiên tử rực rỡ nào đó, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp ta, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của ta.” Thế Tôn sau đó lặp lại đầy đủ các vần kệ.
Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Ānanda nói với Thế Tôn: “Thưa ngài, vị thiên tử đó chắc chắn phải là Anāthapiṇḍika. Vì gia chủ Anāthapiṇḍika đã hết lòng kính trọng Tôn giả Sāriputta.”
“Lành thay, lành thay, Ānanda. Con đã đi đến kết luận hợp lý, trong chừng mực của logic. Vì đó quả thực là vị thiên tử Anāthapiṇḍika.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðây là rừng Kỳ Viên,
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
2. Thiên tử Anàthapindika nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ ấy.
3. Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo và nói:
4. − Này các Tỷ-kheo, đêm nay có Thiên tử, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy nói lên bài lệ này trước mặt Ta:
5.
"Ðây là rừng Kỳ Viên,
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng."
6. Này các Tỷ-kheo, Thiên tử ấy nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
7. Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, có phải vị Thiên tử ấy là Anàthapindika? Gia chủ Anàthapindika hết dạ tín thành đối với Tôn giả Sàriputta?
8. − Lành thay! Lành thay! Này Ananda, cho đến những gì có thể đạt được nhờ suy diễn, này Ananda, Ông đã đạt được. Này Ananda, Anàthapindika là vị Thiên tử ấy.
III. Phẩm Các Ngoại Ðạo (S.i,56)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī, tại Jetavana, tu viện của Anāthapiṇḍika.
Rồi, vào lúc đêm khuya, vị thiên tử rực rỡ Shiva, tỏa sáng khắp khu rừng Jeta, đã đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, đứng sang một bên, và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
"Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
mọi việc sẽ tốt hơn, không tệ đi.Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
trí tuệ sẽ có được—chứ không phải từ ai khác.Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
bạn không sầu muộn giữa những người sầu muộn.Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
bạn tỏa sáng giữa những người thân của mình.Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
chúng sinh sẽ đi đến một nơi tốt đẹp.Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
chúng sinh sống hạnh phúc."
Rồi Thế Tôn trả lời Shiva bằng những vần kệ:
“Chỉ nên giao du với người đức hạnh!
Cố gắng gần gũi người đức hạnh!
Hiểu được chánh pháp của người thiện,
bạn sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau.”
1. Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền
Chúng sanh thường hưởng lạc.
3. Rồi Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
Đứng một bên, vị thiên tử Khema đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
"Kẻ ngu và người khờ dại hành xử
như kẻ thù tồi tệ nhất của chính mình,
làm những việc ác
mà quả báo là trái đắng.Không tốt khi làm một việc
mà sau này gây phiền toái cho bạn,
khiến bạn khóc lóc than van,
khi hậu quả của nó còn lại với bạn.Tốt khi làm một việc
không gây phiền toái cho bạn sau này,
mà làm bạn vui mừng và phấn khởi,
khi hậu quả của nó còn lại với bạn.""Để phòng ngừa, bạn nên làm
những gì bạn biết là vì lợi ích của chính mình.
Một người suy tư, một người khôn ngoan sẽ không hành động
với suy nghĩ như người đánh xe.Giả sử một người đánh xe rời khỏi con đường lớn,
bằng phẳng và vững chắc.
Họ đi vào một con đường gồ ghề,
và bực bội khi trục xe bị gãy.Cũng vậy, một kẻ đần độn từ bỏ điều thiện
để theo đuổi điều trái với thiện.
Rơi vào miệng của tử thần,
họ bực bội như trục xe bị gãy."
Ðứng một bên, Thiên tử Khema nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Kẻ ngu không trí tuệ,
Lấy ngã làm kẻ thù,
Tự làm các ác nghiệp,
Ðưa đến quả đắng cay.
Nghiệp nào không khéo làm,
Làm xong bị nung nấu,
Với mặt đầy nước mắt,
Khóc lóc chịu quả báo.
Và nghiệp nào khéo làm,
Làm xong, không nung nấu,
Tâm vui, ý thoải mái,
Vị ấy hưởng quả báo.
Biết điều lợi cho mình,
Làm trước điều phải làm,
Không tâm trạng đánh xe,
Kẻ trí lòng tinh tấn.
Như người chủ đánh xe,
Rời đại đạo thăng bằng,
Leo lên đường lồi lõm,
Ưu tư nạn gãy trục.
Cũng vậy bỏ Chánh pháp,
Người ngu theo phi pháp,
Rơi vào miệng tử thần,
Ưu tư như gãy trục.
Đứng một bên, vị thiên tử Serī thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Cả chư thiên và loài người
đều thích thức ăn.
Vậy tên của vị trời
không thích thức ăn là gì?”"Những người bố thí với niềm tin
và một trái tim trong sáng và tự tin,
sẽ được hưởng thức ăn
ở đời này và đời sau.Vậy bạn nên xua tan sự keo kiệt,
vượt qua vết nhơ đó, và bố thí.
Những việc thiện của chúng sinh
sẽ hỗ trợ họ ở đời sau."
“Thật không thể tin được, thưa ngài, thật tuyệt vời, những lời này đã được Thế Tôn nói hay biết bao.” Ông lặp lại những vần kệ của Thế Tôn, và nói:
"Thưa ngài, ngày xưa, tôi là một vị vua tên là Serī, một người cho, một người thí chủ, người ca ngợi sự bố thí. Tôi đã bố thí ở bốn cổng thành cho các sa-môn và brahmin, cho người nghèo, người lang thang, người cầu xin, và người ăn mày. Rồi các phu nhân trong hậu cung của tôi đến gặp tôi và nói: ‘Bệ hạ bố thí, nhưng chúng thần thiếp thì không. Thưa Bệ hạ, xin hãy hỗ trợ chúng thần thiếp để bố thí và tạo công đức.’ Rồi tôi nghĩ: ‘Ta là một người cho, một người thí chủ, người ca ngợi sự bố thí. Khi họ nói, “Chúng thần thiếp muốn bố thí”, ta phải nói gì đây?’ Và thế là tôi đã giao cổng thứ nhất cho các phu nhân trong hậu cung. Ở đó họ bố thí, trong khi việc bố thí của chính tôi giảm đi.
Rồi các chư hầu quý tộc của tôi đến gặp tôi và nói: ‘Bệ hạ bố thí, các phu nhân trong hậu cung của ngài bố thí, nhưng chúng tôi thì không. Thưa Bệ hạ, xin hãy hỗ trợ chúng tôi để bố thí và tạo công đức.’ Rồi tôi nghĩ: ‘Ta là một người cho, một người thí chủ, người ca ngợi sự bố thí. Khi họ nói, “Chúng tôi muốn bố thí”, ta phải nói gì đây?’ Và thế là tôi đã giao cổng thứ hai cho các chư hầu quý tộc của tôi. Ở đó họ bố thí, trong khi việc bố thí của chính tôi giảm đi.
Rồi quân đội của tôi đến gặp tôi và nói: ‘Bệ hạ bố thí, các phu nhân trong hậu cung của ngài bố thí, các chư hầu quý tộc của ngài bố thí, nhưng chúng tôi thì không. Thưa Bệ hạ, xin hãy hỗ trợ chúng tôi để bố thí và tạo công đức.’ Rồi tôi nghĩ: ‘Ta là một người cho, một người thí chủ, người ca ngợi sự bố thí. Khi họ nói, “Chúng tôi muốn bố thí”, ta phải nói gì đây?’ Và thế là tôi đã giao cổng thứ ba cho quân đội của tôi. Ở đó họ bố thí, trong khi việc bố thí của chính tôi giảm đi.
Rồi các brahmin và gia chủ của tôi đến gặp tôi và nói: ‘Bệ hạ bố thí, các phu nhân trong hậu cung của ngài bố thí, các chư hầu quý tộc của ngài bố thí, quân đội của ngài bố thí, nhưng chúng tôi thì không. Thưa Bệ hạ, xin hãy hỗ trợ chúng tôi để bố thí và tạo công đức.’ Rồi tôi nghĩ: ‘Ta là một người cho, một người thí chủ, người ca ngợi sự bố thí. Khi họ nói, “Chúng tôi muốn bố thí”, ta phải nói gì đây?’ Và thế là tôi đã giao cổng thứ tư cho các brahmin và gia chủ của tôi. Ở đó họ bố thí, trong khi việc bố thí của chính tôi giảm đi.
Rồi người của tôi đến gặp tôi và nói: ‘Bây giờ Bệ hạ không bố thí chút nào cả!’ Khi họ nói điều này, tôi nói với những người đó: ‘Vậy thì, hỡi các khanh, hãy gửi một nửa doanh thu từ các quận bên ngoài vào khu hoàng gia. Rồi hãy bố thí một nửa ngay tại đó cho các sa-môn và brahmin, cho người nghèo, người lang thang, người cầu xin, và người ăn mày.’ Thưa ngài, trong một thời gian dài, tôi đã tạo ra rất nhiều công đức và làm rất nhiều việc thiện. Tôi chưa bao giờ đạt đến giới hạn nào để có thể nói ‘có chừng này công đức’ hay ‘có chừng này quả báo của công đức’ hay ‘tôi sẽ ở trên trời trong bao lâu’. Thật không thể tin được, thưa ngài, thật tuyệt vời, những lời này đã được Thế Tôn nói hay biết bao.
'Những người bố thí với niềm tin
và một trái tim trong sáng và tự tin,
sẽ được hưởng thức ăn
ở đời này và đời sau.Vậy bạn nên xua tan sự keo kiệt,
vượt qua vết nhơ đó, và bố thí.
Những việc thiện của chúng sinh
sẽ hỗ trợ họ ở đời sau.'"
1. Ðứng một bên, Thiên tử Serii nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Cả hai loại Trời, Người,
Ðều ưa thích ăn uống,
Có Dạ-xoa tên nào,
Lại không thích ăn uống!
(Thế Tôn)
Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau.
2. − Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói điều khéo nói như vậy:
"Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau."
3. Bạch Thế Tôn, thuở xưa con là vị vua tên Serì ưa bố thí, là bậc thí chủ tán thán bố thí. Bạch Thế Tôn, tại bốn cửa thành, bố thí được phân phát nhân danh con, cho những ai đến xin, cho các vị Bà-la-môn và Sa-môn, cho các người nghèo đói và tàn phế, cho các nhà lữ hành và hành khất.
4. Bạch Thế Tôn, khi con đến các cung phi của con, họ thưa với con: “Ðại vương thường hay bố thí, còn chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức.”
5. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: ‘Chúng ta hãy bố thí’?”. Bạch Thế Tôn, con cho các cung phi cửa thành thứ nhất. Ở đây các cung phi được bố thí, và bố thí của con trở lui lại cho con.
6. Rồi bạch Thế Tôn, các Sát-đế-lỵ (Khattiya) chư hầu của con đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho các chư hầu Khattiya cửa thành thứ hai. Ở đây các chư hầu Khattiya được bố thí, và bố thí của con được trở lui lại cho con.
7. Rồi bạch Thế Tôn, quân đội đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho quân đội cửa thành thứ ba. Ở đây quân đội được bố thí và bố thí của con được trở lui lại cho con.
8. Rồi bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn gia chủ đến con và thưa: “Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya đã bố thí. Quân đội đã bố thí. Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức!”.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Ta là người ưa bố thí, là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào khi họ đến và thưa: “Chúng ta hãy bố thí”?”. Bạch Thế Tôn, con cho các Bà-la-môn gia chủ cửa thành thứ tư. Ở đây các Bà-la-môn gia chủ được bố thí và bố thí của con được trở lui lại cho con.
9. Rồi bạch Thế Tôn, các người của con đến con và thưa: “Nay Ðại vương không còn bố thí nào để cho nữa”.
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các người ấy như sau: “Này các Ông, các thuế má thâu hoạch được từ các nước ngoài vào, một nửa hãy gửi vào trong nội thành, một nửa ngay tại chỗ ấy đem bố thí cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các người nghèo và tàn tật, các nhà lữ hành và hành khất”.
10. Như vậy, bạch Thế Tôn, con không chấm dứt trong một thời gian dài các việc làm công đức, trong một thời gian dài các việc làm thiện, những việc làm được con xem như là công đức, hay như là công đức quả hay như là những điều kiện được sanh thiên giới.
11. Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy:
"Ai cho với lòng tin,
Với tâm tư thanh tịnh,
Ðược phần món ăn ấy,
Ðời này và đời sau.
Vậy hãy ngăn xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vẫn hưởng thọ,
Công đức trong đời sau."
Đứng một bên, vị thiên tử Ghaṭīkāra đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Bảy Tỷ kheo tái sinh ở cõi Aviha
đã được giải thoát.
Với sự chấm dứt hoàn toàn tham và sân,
họ đã vượt qua sự bám víu vào thế gian.”“Ai là những người đã vượt qua vũng lầy,
lãnh địa của Tử thần khó vượt qua?
Ai, sau khi từ bỏ thân người,
đã vượt lên trên các thiên kiết sử (celestial yokes / những trói buộc thuộc cõi trời)?”“Upaka và Palagaṇḍa,
và Pukkusāti, ba vị này;
Bhaddiya và Bhaddadeva,
và Bāhudantī và Piṅgiya.
Họ, sau khi từ bỏ thân người,
đã vượt lên trên các thiên kiết sử.”“Ông nói rất hay về họ,
những người đã buông bỏ cạm bẫy của Māra (Ma vương / hiện thân của sự cám dỗ và cái chết).
Họ đã hiểu giáo pháp của ai
để cắt đứt những ràng buộc của sự tái sinh?”"Không ai khác ngoài Thế Tôn!
Không ai khác ngoài lời dạy của Ngài!
Chính giáo pháp của Ngài mà họ đã hiểu
để cắt đứt những ràng buộc của sự tái sinh.Nơi mà danh và sắc (name and form / tâm và vật chất)
chấm dứt không còn dư sót;
hiểu được giáo pháp này,
họ đã cắt đứt những ràng buộc của sự tái sinh."“Những lời ông nói thật sâu sắc,
khó hiểu, rất khó để giác ngộ.
Ông đã hiểu giáo pháp của ai
để có thể nói những điều như vậy?”"Trong quá khứ, tôi là một người thợ gốm
ở Vebhaliṅga tên là Ghaṭīkāra.
Tôi đã chăm sóc cha mẹ mình
như một người cư sĩ tại gia của Đức Phật Kassapa (Ca-diếp).Tôi đã kiêng cữ giao hợp,
tôi sống độc thân, phạm hạnh.
Chúng ta đã sống trong cùng một làng;
trong quá khứ tôi là bạn của Ngài.Tôi là người hiểu rằng
bảy Tỷ kheo này đã được giải thoát.
Với sự chấm dứt hoàn toàn tham và sân,
họ đã vượt qua sự bám víu vào thế gian.""Đúng là như vậy,
như ông nói, hỡi Bhaggava.
Trong quá khứ ông là một người thợ gốm
ở Vebhaliṅga tên là Ghaṭīkāra.Ông đã chăm sóc cha mẹ mình
như một người cư sĩ tại gia của Đức Phật Kassapa.
Ông đã kiêng cữ giao hợp,
ông sống độc thân, phạm hạnh.
Chúng ta đã sống trong cùng một làng;
trong quá khứ tôi là bạn của Ngài."“Đó là câu chuyện
khi những người bạn cũ gặp lại nhau.
Cả hai đều đã phát triển,
và mang thân cuối cùng của mình.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Ghatìkara nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðược sanh Vô phiền thiên,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Siêu thoát đời ái trược.
2.
Vượt bùn, họ là ai?
Khó vượt lệnh thần chết,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
3.
Họ là Upaka,
Và Phalaganda,
Với Pukkusàti,
Hợp thành là ba vị.
Lại thêm Bhaddiya,
Với Khandadeva,
Và Bàhuraggi,
Cùng với Pingiya,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
4. (Thế Tôn):
Ông nói điều tốt lành,
Về bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ thoát ly, đoạn trừ,
Các cạm bẫy Ma vương.
Pháp họ biết, của ai
Ðoạn được hữu kiết sử?
5. (Ghatìkara):
Không ai ngoài Thế Tôn,
Chính thật giáo lý Ngài,
Họ biết pháp của Ngài,
Ðoạn được hữu kiết sử.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt không dư,
Họ học được pháp ấy,
Ở đây từ nơi Ngài.
Nhờ vậy họ đoạn trừ,
Hữu kiết sử trói buộc.
6. (Thế Tôn):
Lời Ông nói thâm sâu,
Khó biết, khó chứng ngộ,
Pháp Ông biết của ai,
Sao Ông không nói được?
7. (Ghatìkara):
Thuở xưa, con thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và con được tên gọi,
Là Ghatìkara.
Chính con lo nuôi dưỡng
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Con đệ tử tại gia.
Con viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật,
Thuở xưa, con đồng hương,
Cũng là bạn của họ
Do vậy con biết họ,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời phiền trược.
8. (Thế Tôn):
Vậy này Bhaggava,
Chính như Ông vừa nói,
Thuở xưa, Ông thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và Ông được tên gọi,
Là Ghatìkara,
Chính Ông lo nuôi dưỡng
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Ông đệ tử tại gia,
Ông viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật.
9.
Thuở xưa, Ông đồng hương,
Cũng là bạn của Ta.
Như vậy là hội ngộ,
Giữa những bạn thuở xưa,
Cả hai khéo tu tập,
Mang thân này tối hậu.
Như vầy tôi nghe.
Một thời, một số Tỷ kheo đang ở tại vùng đất Kosala, trong một túp lều hoang dã trên sườn núi Hy Mã Lạp Sơn. Họ bồn chồn, xấc xược, hay thay đổi, thô tục, nói năng bừa bãi, không chánh niệm, thiếu nhận thức tình huống và sự định tâm, với tâm trí lang thang và các giác quan không được chế ngự.
Rồi vào ngày trai giới thứ mười lăm, vị thiên tử Jantu đã đến gặp các Tỷ kheo đó và nói với họ bằng những vần kệ:
"Các Tỷ kheo từng sống hạnh phúc,
là đệ tử của Gotama.
Không ham muốn, họ đi khất thực;
không ham muốn, họ sử dụng chỗ ở.
Biết rằng thế gian là vô thường
họ đã chấm dứt khổ đau.Nhưng bây giờ họ đã tự làm cho mình khó chăm sóc,
giống như những người đứng đầu trong một ngôi làng.
Họ ăn rồi lại ăn rồi nằm xuống,
bất tỉnh trong nhà của người khác.Sau khi chắp tay kính lễ Tăng đoàn,
tôi chỉ nói ở đây về một số người nhất định.
Họ là những kẻ bị loại bỏ, không có người bảo vệ,
giống như những người đã qua đời.Tôi đang nói về
những người sống sao nhãng.
Đối với những người sống siêng năng
tôi xin kính lễ."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời một số đông Tỷ-kheo trú ở Kosala (Câu-tát-la), trên sườn núi Himavanta (Tuyết sơn), tại một cốc nhỏ trong rừng. Họ tự cao, tự mãn, dao động, lắm mồm lắm miệng, ăn nói huyên thuyên, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tư tán loạn, các căn không chế ngự.
2. Rồi Thiên tử Jantu, vào đêm Bố-tát, ngày rằm, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói lên bài kệ với các Tỷ-kheo ấy:
Các Tỷ-kheo thuở xưa,
Sống thật chơn an lạc,
Họ thật là đệ tử,
Bậc Ðại Giác Cù-đàm.
Không ham tìm món ăn,
Không ham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng.
Họ ăn, ăn ngả gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị
Kẻ khác, sống vất vưởng,
Không chỉ đạo, hướng dẫn.
Họ giống như thân thể
Kẻ chết bị quăng bỏ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành, con đảnh lễ .
Tại Sāvatthī.
Đứng một bên, vị thiên tử Rohitassa nói với Thế Tôn:
“Thưa ngài, có thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế giới bằng cách đi đến một nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh không?”
“Này hiền giả, Ta nói rằng không thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế giới bằng cách đi đến một nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh.”
"Thật không thể tin được, thưa ngài, thật tuyệt vời, những lời này đã được Thế Tôn nói hay biết bao.
Ngày xưa, tôi là một nhà tiên tri tên là Rohitassa thuộc tộc Bhoja. Tôi là một người đi trên không với các năng lực thần thông. Tôi nhanh như một mũi tên nhẹ được một cung thủ chuyên nghiệp, được huấn luyện kỹ càng với một cây cung mạnh, bắn qua bóng của một cây cọ một cách dễ dàng. Bước chân của tôi có thể trải dài từ biển đông đến biển tây. Ước muốn này đã đến với tôi: ‘Ta sẽ đến được tận cùng thế giới bằng cách di chuyển.’ Với tốc độ và bước chân như vậy, tôi đã đi suốt cuộc đời một trăm năm của mình—chỉ dừng lại để ăn uống, đi vệ sinh, và ngủ để xua tan mệt mỏi—và tôi đã qua đời trên đường đi, không bao giờ đến được tận cùng thế giới.
Thật không thể tin được, thưa ngài, thật tuyệt vời, những lời này đã được Thế Tôn nói hay biết bao. ‘Này hiền giả, Ta nói rằng không thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế giới bằng cách đi đến một nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh.’"
"Nhưng này hiền giả, Ta cũng nói rằng không thể chấm dứt khổ đau mà không đến được tận cùng thế giới. Vì chính trong tấm thân dài một sải tay này với nhận thức và tâm trí của nó mà Ta mô tả thế giới, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó.
Tận cùng thế giới không bao giờ
có thể đến được bằng cách di chuyển.
Nhưng không đến được tận cùng thế giới,
thì không có sự giải thoát khỏi khổ đau.Vì vậy, một người thông minh, hiểu biết thế giới,
đã hoàn thành hành trình tâm linh
- và đã đi đến tận cùng thế giới.
Một người bình lặng, biết được tận cùng thế giới,
không hy vọng vào thế giới này hay thế giới kế tiếp."
1. Tại Sàvatthi (Xá-vệ).
2. Ðứng một bên, Thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, làm sao, bạch Thế Tôn, với bộ hành, có thể biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới?
3. − Này Hiền giả, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, Ta nói rằng (tại chỗ ấy), không có thể với bộ hành, biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới.
4. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới”.
5. Bạch Thế Tôn, thuở trước, con tên là Rohita con của Bhoja, có thần thông, có thể đi giữa hư không. Bạch Thế Tôn, tốc lực con mau lẹ cho đến con có thể bay, như người thợ bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo luyện, thuần thục, thiện xảo, với một cây cung chắc mạnh không gì khó khăn, có thể bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua bóng tối của cây tala.
6. Và bạch Thế Tôn, bước đi của con dài cho đến con có thể bước từ biển phía Ðông qua biển phía Tây. Và ở nơi con, bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước muốn như sau: “Với bộ hành, ta có thể đạt đến được sự tận cùng của thế giới”.
7. Và bạch Thế Tôn, dầu cho tốc lực của con mau đến như vậy, và dầu cho con có bước dài đến như vậy, và dầu cho con không có dừng để ăn, hay uống, hay nhai, hay nếm, dầu cho con không có đại tiện, tiểu tiện, dầu cho con không ngủ, không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế, dầu cho trăm năm là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm là mạng sống thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh chung, con cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
8. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể bộ hành, biết được hay thấy được sự tận cùng của thế giới. Ta nói như vậy”.
9. − Này Hiền giả, nhưng Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
10.
Bộ hành không bao giờ
Ðạt được thế giới tận,
Không đạt thế giới tận,
Không thể thoát khỏi khổ.
Do vậy, bậc Hiền thiện,
Thế gian giải, Thiện tuệ,
Ðạt đến thế giới tận,
Phạm hạnh được viên thành.
Với tâm tư định tĩnh,
Biết được thế giới tận,
Không ước vọng đời này,
Không ước vọng đời sau.
Đứng một bên, vị thiên tử Nanda đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Thời gian trôi nhanh, đêm ngày qua đi,
các giai đoạn của cuộc đời lần lượt rời bỏ chúng ta.
Thấy được sự nguy hiểm này trong cái chết,
hãy làm những việc thiện mang lại cho bạn niềm vui.”“Thời gian trôi nhanh, đêm ngày qua đi,
các giai đoạn của cuộc đời lần lượt rời bỏ chúng ta.
Thấy được sự nguy hiểm này trong cái chết,
người tìm kiếm sự bình an sẽ từ bỏ mồi nhử của thế gian.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nanda nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðược hưởng cảnh an lạc.
2. (Thế Tôn):
Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Ðược hưởng chơn tịch tịnh.
Đứng một bên, vị thiên tử Nandivisāla thưa với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Bốn là bánh xe của nó, và chín là cửa của nó;
nó được nhồi đầy, bị trói buộc bởi tham lam,
và sinh ra từ một vũng lầy.
Hỡi bậc đại anh hùng, làm sao con có thể sống như thế này?”“Sau khi cắt đứt dây da và dây cương—
ham muốn xấu xa và tham lam—
và nhổ bật gốc rễ của ái dục:
đó là cách bạn phải sống như thế này.”
1. Ðứng một bên, Thiên tử Nandivisàla nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Bốn bánh xe chín cửa,
Ðầy uế, hệ lụy tham,
Chìm đắm trong bùn nhơ,
Ôi! Thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh thú Ngài như vậy,
Tương lai sẽ thế nào?
2. (Thế Tôn):
Cắt hỷ và buộc ràng,
Dục tham và tà ác,
Ái căn được đoạn tận,
Sanh thú sẽ như vậy.
Tại Sāvatthī.
Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, và ngồi sang một bên. Thế Tôn nói với ông: “Ānanda, con có tán thành Sāriputta không?”
“Thưa ngài, ai trên đời này lại không tán thành Tôn giả Sāriputta trừ khi họ là kẻ ngu, kẻ ghét, kẻ si mê, hoặc kẻ loạn trí? Tôn giả Sāriputta sáng suốt, ngài có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ hoan hỷ, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ sắc bén, và trí tuệ thâm nhập. Ngài có ít mong muốn, ngài tri túc, sống ẩn dật, xa lánh, và năng nổ. Ngài cho lời khuyên và chấp nhận lời khuyên; ngài khiển trách và phê phán sự xấu xa. Ai trên đời này lại không tán thành Tôn giả Sāriputta trừ khi họ là kẻ ngu, kẻ ghét, kẻ si mê, hoặc kẻ loạn trí?”
“Đúng vậy, Ānanda! Đúng vậy! Ai trên đời này lại không tán thành Tôn giả Sāriputta trừ khi họ là kẻ ngu, kẻ ghét, kẻ si mê, hoặc kẻ loạn trí?” Và Thế Tôn đã lặp lại tất cả những lời ca ngợi của Ānanda.
Trong khi những lời ca ngợi Sāriputta này đang được nói, vị thiên tử Susīma đã đến gặp Thế Tôn, cùng với một hội chúng lớn các vị trời. Ông đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ngài:
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn! Đúng vậy, thưa bậc Thánh! Ai trên đời này lại không tán thành Tôn giả Sāriputta trừ khi họ là kẻ ngu, kẻ ghét, kẻ si mê, hoặc kẻ loạn trí?” Và ông cũng lặp lại tất cả những lời ca ngợi Sāriputta, và nói thêm: “Vì con cũng vậy, thưa ngài, mỗi khi con đến một hội chúng các vị trời, con thường nghe những lời ca ngợi tương tự.”
Trong khi những lời ca ngợi Sāriputta này đang được nói, các vị trời trong hội chúng của Susīma—phấn chấn và vui mừng, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc—tạo ra một cầu vồng màu sắc rực rỡ.
Giả sử có một viên ngọc lưu ly đẹp tự nhiên, tám mặt, được chế tác tinh xảo. Khi đặt trên một tấm thảm màu kem, nó sẽ tỏa sáng và lấp lánh. Tương tự như vậy, các vị trời trong hội chúng của Susīma đã tạo ra một cầu vồng màu sắc rực rỡ.
Giả sử có một mặt dây chuyền bằng vàng Diêm-phù-đàn, được chế tác bởi một thợ kim hoàn khéo léo, được rèn kỹ trong lò. Khi đặt trên một tấm thảm màu kem, nó sẽ tỏa sáng và lấp lánh. Tương tự như vậy, các vị trời trong hội chúng của Susīma đã tạo ra một cầu vồng màu sắc rực rỡ.
Giả sử vào mùa thu, bầu trời trong và không có mây. Vào lúc rạng đông, sao Mai tỏa sáng và lấp lánh. Tương tự như vậy, các vị trời trong hội chúng của Susīma đã tạo ra một cầu vồng màu sắc rực rỡ.
Giả sử vào mùa thu, bầu trời trong và không có mây. Khi mặt trời đang lên trên bầu trời, sau khi đã xua tan mọi bóng tối của không gian, tỏa sáng và lấp lánh. Tương tự như vậy, các vị trời trong hội chúng của Susīma đã tạo ra một cầu vồng màu sắc rực rỡ.
Rồi vị thiên tử Susīma đọc bài kệ này về Tôn giả Sāriputta trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Ngài được coi là sáng suốt,
Sāriputta, không có tức giận.
Ít mong muốn, ngọt ngào, đã được điều phục,
bậc hiền triết tỏa sáng trong lời khen của Bậc Đạo Sư!”
Rồi Thế Tôn trả lời Susīma bằng bài kệ này về Tôn giả Sāriputta:
“Ngài được coi là sáng suốt,
Sāriputta, không có tức giận.
Ít mong muốn, ngọt ngào, đã được điều phục;
đã phát triển và được điều phục tốt, ngài chờ đợi thời điểm của mình.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Ðại đức Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ananda đang ngồi một bên:
− Này Ananda, Ông có hoan hỷ đối với Sàriputta không?
3. − Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta.
Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta!
4. − Như vậy là phải, này Ananda. Như vậy là phải, này Ananda. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Sàriputta? Này Ananda, hiền trí là Sàriputta. Này Ananda, đại tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quảng tuệ là Sàriputta. Này Ananda, hỷ tuệ là Sàriputta. Này Ananda, tiệp tuệ là Sàriputta. Này Ananda, lợi tuệ là Sàriputta. Này Ananda, quyết trạch tuệ là Sàriputta. Này Ananda, ít dục là Sàriputta. Này Ananda, biết đủ là Sàriputta. Này Ananda, viễn ly là Sàriputta. Này Ananda, bất cọng trú là Sàriputta. Này Ananda, biện tài là Sàriputta. Này Ananda, nghe lời trung ngôn là Sariputta. Này Ananda, cáo tội trung thực là Sàriputta. Này Ananda, chỉ trích ác pháp là Sàriputta. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỷ đối với Sàriputta?
5. Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sàriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
6. Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:
− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta?. Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sàriputta… Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta? Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: “Hiền trí là Tôn giả Sàriputta… … chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sàriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sàriputta?”
7. Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
8. Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
9. Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima… … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
10. Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima… … và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
11. Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.
12. Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sàriputta:
Ngài Sàriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán.
13. Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sàriputta cho Thiên tử Susima:
Về Sàriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Rājagaha, tại Veluvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi, vào lúc đêm khuya, một số vị thiên tử rực rỡ đã tỏa sáng khắp khu rừng Trúc Lâm. Họ là Asama, Sahalī, Niṅka, Ākoṭaka, Vetambarī, và Māṇavagāmiya, và tất cả họ đều là đệ tử của các tu sĩ thuộc các tôn giáo khác. Họ đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, và đứng sang một bên.
Đứng một bên, vị thiên tử Asama đọc bài kệ này về Pūraṇa Kassapa trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Trong việc làm hại và giết chóc ở đây,
trong việc đánh đập và tống tiền,
Kassapa không thấy có điều ác,
cũng không thấy có công đức cho bản thân.
Những gì ông ta dạy thực sự đáng tin cậy,
ông ta xứng đáng được kính trọng như một Bậc Thầy.”
Rồi vị thiên tử Sahalī đọc bài kệ này về vị tu sĩ khổ hạnh cầm gậy tre Gosāla trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Qua sự khổ hạnh nhiệt thành vì ghê tởm tội lỗi, ông ta đã trở nên tự chế tốt.
Ông ta từ bỏ tranh cãi với mọi người.
Tránh nói dối, ông ta nói sự thật.
Chắc chắn một người như vậy không làm điều sai trái!”
Rồi vị thiên tử Niṅka đọc bài kệ này về vị tu sĩ khổ hạnh Jain thuộc tộc Ñātika trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Ghê tởm tội lỗi, một Tỷ kheo tỉnh giác,
tự chế tốt trong bốn sự ràng buộc;
giải thích những gì được thấy và nghe:
chắc chắn ông ta không thể là một tội nhân!”
Rồi vị thiên tử Ākoṭaka đọc bài kệ này về các vị thầy của các tông phái khác nhau trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Pakudhaka, Kātiyāna, và Nigaṇṭha,
cũng như vị tu sĩ khổ hạnh cầm gậy tre này và Pūraṇa:
Những vị thầy của các cộng đồng, những tu sĩ khổ hạnh đã thành tựu,
chắc chắn họ không xa những người thực sự tốt!”
Rồi vị thiên tử Vetambarī trả lời vị thiên tử Ākoṭaka bằng những vần kệ:
“Dù con chó rừng khốn khổ hú theo,
nó không bao giờ sánh được với sư tử.
Một kẻ nói dối trần truồng với hành vi đáng ngờ,
dù họ dạy một cộng đồng, cũng không giống như người tốt.”
Rồi Māra Ác độc nhập vào vị thiên tử Vetambarī và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Những người chuyên tâm khổ hạnh vì ghê tởm tội lỗi,
bảo vệ sự ẩn dật của mình,
bám víu vào hình tướng,
họ vui mừng trong cõi trời.
Thật vậy, những người phàm đó đưa ra những chỉ dẫn đúng đắn
về thế giới bên kia.”
Rồi Thế Tôn, biết rằng đây là Māra Ác độc, đã trả lời ông bằng những vần kệ:
“Bất kể hình tướng nào có
- ở thế giới này hay thế giới bên kia,
và những hình tướng có vẻ đẹp rực rỡ trên bầu trời,
tất cả những thứ này ngươi đều ca ngợi, hỡi Namuci,
giống như mồi được ném ra để bắt cá.”
Rồi vị thiên tử Māṇavagāmiya đọc bài kệ này về Đức Phật trước sự hiện diện của Ngài:
"Trong tất cả các ngọn núi của Rājagaha,
Vipula được cho là tốt nhất.
Seta là đỉnh cao nhất của Hy Mã Lạp Sơn,
và mặt trời, là tốt nhất trong số những người du hành trong không gian.Đại dương là tốt nhất trong các biển,
và mặt trăng, là tốt nhất trong các ánh sáng chiếu vào ban đêm.
Nhưng trong toàn thế giới với các vị trời của nó,
Đức Phật được tuyên bố là hàng đầu."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi rất đông Thiên tử, là đệ tử của nhiều ngoại đạo sư Asama, Sahalì, Ninka, Akotaka, Vetambarì và Mànavà Gàmiya, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên tử Asama nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Pùrana Kassapa:
Ở đây nếu có người,
Chém giết hay hại người,
Kassapa không thấy,
Qua các hành động ấy,
Là ác nghiệp cho mình,
Hay công đức cho mình.
Ngài tuyên bố như vậy,
Làm căn bản đức tin,
Ngài thật bậc Ðạo sư,
Ðáng được tôn kính, lễ .
4. Rồi Thiên tử Sahali nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Makkhali Gosàla:
Khổ hạnh và yếm ly,
Khéo điều phục, tự chế,
Từ bỏ các lời nói,
Gây đấu tranh với người,
Thăng bằng, tránh phạm tội,
Nói những lời thực ngữ,
Ngài không bao giờ làm,
Các tội phạm như vậy.
5. Rồi Thiên tử Ninka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Nigantha Nàtaputta:
Vị Tỷ-kheo yếm ly,
Sáng suốt theo tế hạnh,
Khéo theo bốn tự chế,
Chỉ nói điều nghe thấy,
Không phạm điều lỗi lầm.
6. Rồi Thiên tử Akotaka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về các ngoại đạo sư:
Các ngoại đạo sư này,
Như Pakudhaka,
Và Kàtiyàna,
Cùng với Nigantha,
Kể cả Makkhali,
Và cả Puurana,
Mỗi vị là Ðạo sư,
Chúng đệ tử của mình,
Ðã đạt Sa-môn quả,
Không xa bậc Chân nhân.
7. Rồi Thiên tử Vetambarì nói lên bài kệ này với Thiên tử Akotaka:
Con giả can ghê tởm,
Có tru sủa thế nào,
Làm sao sánh bằng được,
Tiếng rống con sư tử.
Lõa thể, nói vọng ngôn,
Lãnh đạo môn đồ chúng,
Làm các hạnh tà vạy,
Làm sao sanh thiện nhân?
8. Rồi Ác ma nhập vào Thiên tử Vetambarì nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tu khổ hạnh yếm ly,
Sống viễn ly hành xác,
Ðắm say trong sắc pháp,
Hoan lạc, mê Thiên giới.
Dầu họ bị tử vong,
Chắc chắn họ giảng dạy,
Hướng dẫn thật chơn chánh,
Ðưa đến đời về sau.
9. Rồi Thế Tôn biết được chính là Ác ma, liền nói lên bài kệ cho Ác ma:
Phàm những sắc pháp gì,
Ðời này hay đời sau,
Với màu sắc thù diệu,
Chói sáng giữa hư không,
Tất cả những sắc ấy,
Ðược Ma vương tán thán,
Chúng chỉ là bẫy mồi,
Quăng ra để diệt cá.
10. Rồi Thiên tử Mànava Gàmiya nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Thế Tôn:
Trong tất cả ngọn núi,
Ở tại Vương Xá thành,
Ngọn núi Vipula,
Ðược gọi là tối thắng.
Trong dãy núi Tuyết Sơn,
Ngọn Bạch Sơn tối thắng.
Giữa các loại không hành,
Mặt trời là tối thắng.
Giữa các loại thủy lộ,
Ðại dương là tối thắng.
Trong các loài tinh tú,
Mặt trăng là tối thắng.
Giữa Thiên giới, địa giới,
Phật được gọi tối thượng.
-ooOoo-