Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Kinh Tương Ưng Với Māra

Chương Một

SN 4.1 Khổ Hạnh Tapokammasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi vừa mới giác ngộ, Đức Phật trú tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Khi đang độc cư thiền định, Ngài khởi lên suy nghĩ này: “Ta đã thực sự thoát khỏi công phu ép xác đó! Thật may mắn khi ta đã thoát khỏi công phu khổ hạnh (mortification / sự hành hạ thân xác) vô ích đó. Thật may mắn thay, với sự kiên định và tỉnh thức, ta đã chứng đắc giác ngộ.”

Bấy giờ, Ác ma Māra, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật, liền đến gặp Ngài và nói lên những vần kệ:

“Ngươi đã từ bỏ pháp tu khổ hạnh
mà con người dùng để tự thanh lọc.
Ngươi ô uế, mà tưởng mình thanh tịnh;
ngươi đã lạc khỏi con đường thanh tịnh.”

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền đáp lại bằng những vần kệ:

"Ta đã nhận ra rằng nó thật vô ích;
tất cả những khổ hạnh để tìm cầu sự bất tử
đều vô dụng
như mái chèo và bánh lái trên đất liền.

Giới, định (immersion / sự tập trung tâm ý), và Tuệ:
nhờ phát triển con đường giác ngộ này
Ta đã đạt được sự thanh tịnh tối thượng.
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt!"

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

4. TƯƠNG ƯNG ÁC MA

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Khổ Hạnh Và Nghiệp (S.i,103)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà bên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ.

2. Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!”

3. Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Từ bỏ pháp khổ hạnh,
Giúp thanh niên trong sạch,
Không tịnh, nghĩ mình tịnh,
Ði ngược thanh tịnh đạo.

4. Rồi Thế Tôn, biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Biết được pháp khổ hạnh,
Ðược xem là bất tử,
Pháp ấy không lợi ích,
Không đem lợi ích nào,
Như chèo và bánh lái,
Chiếc thuyền trên đất cạn.
Giới, định và trí tuệ,
Con đường hướng chánh giác.
Ta tu tập hạnh ấy,
Ðạt được tối thắng tịnh,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông bị bại trận rồi.

5. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.2 Dưới Hình Dạng Vua Voi Hatthirājavaṇṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi vừa mới giác ngộ, Đức Phật trú tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, giữa cơn mưa phùn lất phất.

Bấy giờ, Ác ma Māra, muốn làm cho Đức Phật cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng và nổi da gà, đã hiện ra dưới hình dạng một vua voi khổng lồ và tiến lại gần Ngài. Đầu nó như một khối đá steatit khổng lồ. Ngà nó như bạc nguyên chất. Vòi nó như một cây càng cày dài.

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền nói với hắn bằng những vần kệ:

“Lang thang trong luân hồi đã quá lâu,
ngươi đã tạo ra những hình tướng đẹp và xấu.
Đủ rồi, hỡi Ác ma!
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt!”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

II. Con Voi (S.i,103)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, bên bờ sông Neranjarà, dưới cây Nigrodha Ajapàla, khi Ngài mới giác ngộ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

2. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền biến hình thành con voi chúa to lớn và đi đến Thế Tôn.

3. Và đầu con voi ví như hòn đá đen lớn (aritthako), ngà của nó ví như bạc trắng tinh, vòi của nó ví như đầu cái cày lớn.

4. Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ông luân hồi dài dài,
Hình thức tịnh, bất tịnh.
Thôi vừa rồi, Ác ma,
Ông đã bị bại trận.

5. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.3 Đẹp Đẽ Subhasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi vừa mới giác ngộ, Đức Phật trú tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, giữa cơn mưa phùn lất phất.

Bấy giờ, Ác ma Māra, muốn làm cho Đức Phật cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng và nổi da gà, đã đến gần Ngài, và ở một khoảng không xa, tạo ra một cầu vồng với những màu sắc rực rỡ, cả đẹp lẫn xấu.

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền đáp lại bằng những vần kệ:

"Lang thang trong luân hồi đã quá lâu,
ngươi đã tạo ra những hình tướng đẹp và xấu.
Đủ rồi, hỡi Ác ma!
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt.

Những ai tự chế ngự tốt
trong thân, khẩu, và ý
không rơi vào tầm ảnh hưởng của Māra,
cũng không phải là tay sai của ngươi."

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

III. Tịnh (S.i,104)

1. Trú tại Uruvelà.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn.

4. Sau khi đến, hiện lên những hình tướng cao thấp, tịnh, bất tịnh, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ông luân hồi dài dài,
Hình thức tịnh, bất tịnh.
Thôi vừa rồi, Ác ma,
Ông đã bị bại trận.
Những vị thân, khẩu, ý,
Khéo hộ trì chế ngự,
Này kẻ Ác ma kia,
Những vị ấy như vậy,
Không bị Ông chi phối,
Không phải đệ tử Ông .

6. Rồi Ác ma biết được… liền biến mất tại chỗ.

SN 4.4 Cạm Bẫy Của Māra (Thứ Nhất) Paṭhamamārapāsasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, Ta đã đạt được và chứng ngộ sự giải thoát tối thượng nhờ như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ) và sự nỗ lực chân chính hợp lý. Các con cũng hãy đạt được và chứng ngộ sự giải thoát tối thượng nhờ như lý tác ý và sự nỗ lực chân chính hợp lý.”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Ngươi bị trói buộc bởi cạm bẫy của Māra,
cả cõi người lẫn cõi trời.
Ngươi bị trói buộc bởi xiềng xích của Māra:
ngươi sẽ không thoát khỏi ta đâu, hỡi sa-môn!”

“Ta đã được giải thoát khỏi cạm bẫy của Māra,
cả cõi người lẫn cõi trời.
Ta đã được giải thoát khỏi xiềng xích của Māra.
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt!”

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

IV. Bẫy Sập (S.i,105)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Barànasi (Ba-la-nại), Isipatana (chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: − “Này các Tỷ-kheo.” − "Thưa vâng, bạch Thế Tôn ". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

2. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, chính nhờ chánh tác ý, chính nhờ chánh tinh cần. Ta chứng đạt Vô thượng giải thoát. Ta chứng ngộ Vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỷ-kheo các Ông cũng phải với chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt Vô thượng giải thoát, chứng ngộ Vô thượng giải thoát.

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ngài còn bị trói buộc,
Trong bẫy sập của ma,
Bởi những dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ngài đang bị cột chặt,
Trong triền phược của ma.
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

4. (Thế Tôn):

Ta đã được giải thoát,
Khỏi bẫy sập của ma,
Thoát khỏi dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ta đã được giải thoát,
Khỏi triền phược của ma,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

5. Rồi Ác ma… biến mất tại chỗ.

SN 4.5 Cạm Bẫy Của Māra (Thứ Hai) Dutiyamārapāsasutta

Một thời, Đức Phật trú tại gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, Ta đã được giải thoát khỏi mọi cạm bẫy, cả cõi người lẫn cõi trời. Các con cũng đã được giải thoát khỏi mọi cạm bẫy, cả cõi người lẫn cõi trời.

Hãy ra đi, này các Tỷ kheo, vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Đừng đi hai người chung một con đường.

Hãy giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và hãy trình bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn trọn vẹn và thanh tịnh. Có những chúng sinh mắt ít bụi trần. Họ đang suy tàn vì không được nghe giáo pháp. Sẽ có những người hiểu được giáo pháp!

Ta sẽ đi đến Uruvelā, làng của Senāni, để giảng dạy Giáo pháp."

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Ngươi bị trói buộc bởi mọi cạm bẫy,
cả cõi người lẫn cõi trời.
Ngươi bị trói buộc bởi sợi dây xiềng xích vĩ đại:
ngươi sẽ không thoát khỏi ta đâu, hỡi sa-môn!”

“Ta đã được giải thoát khỏi mọi cạm bẫy,
cả cõi người lẫn cõi trời.
Ta đã được giải thoát khỏi những sợi dây xiềng xích vĩ đại;
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt!”

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

V. Bẫy Sập (S.i,105)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại) tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo.” “− Thưa vâng Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

2. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ngài còn bị trói buộc,
Trong bẫy sập của ma,
Bởi những dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.

Ngài đang bị cột chặt,
Trong triền phược của ma,
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

4. (Thế Tôn)

Ta đã được giải thoát,
Khỏi bẫy sập của ma,
Thoát khỏi dây dục lạc,
Cả Thiên giới, Nhân giới.
Ta đã được giải thoát,
Khỏi triền phược của ma,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

SN 4.6 Một Con Rắn Sappasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, giữa cơn mưa phùn lất phất.

Bấy giờ, Ác ma Māra, muốn làm cho Đức Phật cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng và nổi da gà, đã hiện ra dưới hình dạng một vua rắn khổng lồ và tiến lại gần Ngài. Thân nó như một chiếc thuyền độc mộc khổng lồ được đẽo từ một thân cây. Mang nó như một cái sàng lớn của người nấu bia. Mắt nó như những chiếc cốc đồng lớn từ xứ Kosala. Lưỡi nó lóe ra từ miệng như những tia chớp trong cơn giông. Tiếng thở của nó như tiếng phì phò của ống bễ lò rèn.

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền đáp lại bằng những vần kệ:

"Một bậc hiền triết tự chủ thường lui tới
những ngôi nhà trống để trú ngụ.
Thật thích hợp cho một người như vậy
sống ở đó sau khi đã từ bỏ.

Dù có rất nhiều loài sâu bọ,
và rất nhiều ruồi và rắn,
chúng cũng không làm lay động một sợi tóc
của một bậc đại hiền triết trong túp lều trống đó.

Dù cho bầu trời có thể nứt ra
- và trái đất có thể rung chuyển,
và tất cả chúng sinh đều kinh hãi;
và ngay cả khi một mũi tên nhắm vào ngực họ,
các vị Phật cũng không trú ẩn trong những chấp trước (attachments / sự bám víu, dính mắc)."

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

VI. Con Rắn (S.i,106)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.

4. Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.

5. Rồi Thế Tôn biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ này với Ác ma:

Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà không tịch,
Biết chế ngự tự ngã,
Tại đấy vị ấy trú.
Sống từ bỏ tất cả,
Với hạnh tu tương xứng,
Nhiều loại thú bộ hành,
Nhiều sự vật khủng khiếp,
Nhiều ruồi muỗi độc xà,
Không mảy may rung động
Sợi lông bậc Mâu-ni
Sống trong nhà không tịch.
Dầu trời nứt, đất động,
Dầu muôn loài khủng bố,
Dầu bị giáo, đao, tên,
Quẳng ném vào ngực Ngài,
Chư Phật không tạo nên,
Những căn cứ sanh y .

6. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", liền biến mất tại chỗ.

SN 4.7 Ngủ Supatisutta

Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Ngài đã dành phần lớn đêm để đi kinh hành trong chánh niệm ở ngoài trời. Vào lúc rạng đông, Ngài rửa chân và vào nơi ở của mình. Ngài nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng bên phải, đặt chân này lên chân kia—tỉnh thức và nhận biết, và chú tâm vào thời điểm thức dậy.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Gì thế, ngươi đang ngủ à?
- Thật sự, ngươi đang ngủ sao?
Ngươi ngủ như một kẻ thất bại—
- chuyện gì vậy?
Ngươi ngủ, nghĩ rằng túp lều trống không.
Ngươi ngủ khi mặt trời đã mọc—
- chuyện gì vậy?”

“Đối với những người không còn ái dục—
kẻ dệt nên, kẻ bám víu—
- để theo dõi họ bất cứ đâu.
Với sự chấm dứt của mọi chấp trước
- Đức Phật giác ngộ ngủ.
Điều đó có liên quan gì đến ngươi, hỡi Māra?”

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

VII. Thụy Miên (S.i,107)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Thế Tôn sau khi đã đi kinh hành ngoài trời một phần lớn của đêm. Khi đêm đã gần mãn, Ngài rửa chân, bước vào tịnh xá, và nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác và nghĩ đến lúc thức dậy.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Sao Ngài còn nằm ngủ,
Sao Ngài vẫn nằm ngủ,
Sao Ngài ngủ như vậy,
Như kẻ chết nằm co?
Nghĩ rằng nhà trống không,
Nên Ngài ngủ như vậy,
Sao Ngài ngủ như vậy,
Khi mặt trời đã mọc?

4. (Thế Tôn):

K hi không còn tham ái,
Với lưới triền, nọc độc,
Người vậy được giải thoát,
Không bị dẫn nơi nào.
Ác ma! Bậc Giác Ngộ
Mọi sanh y diệt tận,
Vị ấy nếu có ngủ,
Các Ông làm được gì?

SN 4.8 Vui Thích Nandatisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Sāvatthī trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và đọc lên bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

“Con cái mang lại cho ngươi niềm vui!
Gia súc cũng mang lại cho ngươi niềm vui!
Vì chấp trước là niềm vui của con người;
không có chấp trước thì không có niềm vui.”

“Con cái mang lại cho ngươi sầu muộn.
Gia súc cũng mang lại cho ngươi sầu muộn.
Vì chấp trước là nỗi sầu muộn của con người;
không có chấp trước thì không có sầu muộn.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

VIII. Hoan Hỷ (S.i,107)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Cha sung sướng vì con,
Người chăn sướng vì bò,
Người sướng vì sanh y,
Không sanh y, không sướng.

(Thế Tôn):

Cha sầu vì con cái,
Người chăn sầu vì bò,
Người sầu vì sanh y,

Không sanh y, không sầu.

Rồi Ác ma biết rằng: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.9 Tuổi Thọ (Thứ Nhất) Paṭhamaāyusutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, tuổi thọ của con người ngắn ngủi. Các con phải đi đến đời sau. Vì vậy, các con nên làm điều thiện lành, nên thực hành đời sống tâm linh. Không ai sinh ra mà bất tử. Một cuộc đời dài là một trăm năm hoặc hơn một chút.”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Cuộc sống của con người dài lắm!
Một người chân chính sẽ không coi thường nó.
Hãy sống như một đứa trẻ sơ sinh,
vì Thần Chết chưa đến tìm ngươi đâu.”

“Cuộc sống của con người ngắn ngủi,
và một người chân chính coi thường nó.
Họ nên sống như thể đầu đang bốc cháy,
vì Thần Chết đến với tất cả mọi người.”

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

IX. Tuổi Thọ (S.i,108)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.

4. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Loài Người thọ mạng dài,
Người lành chớ âu lo,
Bú sữa no, hãy sống
Tử vong đâu có đến.

5. (Thế Tôn):

Loài Người thọ mạng ngắn,
Người lành phải âu lo,
Như cháy đầu, hãy sống,
Tử vong rồi phải đến.

6. Rồi Ác ma, biết được “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.10 Tuổi Thọ (Thứ Hai) Dutiyaāyusutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Tại đây, Đức Phật… nói:

“Này các Tỷ kheo, tuổi thọ của con người ngắn ngủi. Các con phải đi đến đời sau. Vì vậy, các con nên làm điều thiện lành, nên thực hành đời sống tâm linh. Không ai sinh ra mà bất tử. Một cuộc đời dài là một trăm năm hoặc hơn một chút.”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Ngày và đêm không trôi qua vội vã,
và cuộc sống không bị cắt ngắn.
Cuộc sống của người phàm cứ tiếp diễn,
như vành xe quay quanh trục.”

“Ngày và đêm trôi qua vội vã,
và rồi cuộc sống bị cắt ngắn.
Cuộc sống của người phàm cứ hao mòn,
như nước trong những dòng suối nhỏ.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

X. Tuổi Thọ (S.i,108)

1. Tại Ràjagaha (Vương Xá).

Tại đây, Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Ngày đêm không trôi qua,
Thọ mạng không chấm dứt,
Thọ mạng người xoay vần,

Như vành theo trục xe.

3. (Thế Tôn):

Ngày đêm có trôi qua,
Thọ mạng có chấm dứt,
Mạng người phải khô cạn,
Như suối nhỏ đầu non.

4. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

Chương Hai

SN 4.11 Những Tảng Đá Pāsāṇasutta

Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, giữa cơn mưa phùn lất phất.

Bấy giờ, Ác ma Māra, muốn làm cho Đức Phật cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng và nổi da gà, đã đến gần Ngài, và làm vỡ những tảng đá lớn gần đó.

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền nói với hắn bằng những vần kệ:

“Ngay cả khi ngươi làm rung chuyển
toàn bộ ngọn núi Linh Thứu này,
những người đã giải thoát chân chính,
những bậc giác ngộ, vẫn không hề lay động.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

II. Phẩm Thứ Hai

I. Hòn Ðá (S.i,109)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu).

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi giữa trời, trong bóng đêm tối, và trời mưa từng hột một.

3. Rồi Ác ma muốn làm Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, xô những tảng đá lớn rơi xuống không xa Thế Tôn bao nhiêu.

4. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói bài kệ với Ác ma:

Dầu Ông làm chấn động,
Toàn bộ núi Linh Thứu,
Cũng không làm rung động,
Bậc Giác Ngộ, Giải Thoát.

5. Rồi Ác ma được biết: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.12 Sư Tử Kinnusīhasutta

Một thời, Đức Phật trú tại gần Sāvatthī trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giảng Pháp, được một đại chúng vây quanh.

Bấy giờ, Māra nghĩ: “Sa-môn Gotama đang giảng Pháp, được một đại chúng vây quanh. Sao ta không đến đó để che mắt họ?”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Tại sao bây giờ ngươi lại rống lên như sư tử?
Ngươi thật tự tin giữa hội chúng!
Vì có người sẽ đấu với ngươi,
vậy tại sao ngươi lại tưởng mình là người chiến thắng?”

“Những bậc đại anh hùng, họ rống lên,
tự tin giữa các hội chúng.
Bậc Như Lai, đã đạt được năng lực,
đã vượt qua sự bám víu vào thế gian.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

II. Con Sư Tử (S.i,106)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng ấy).”

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Sao Ngài lại rống lên,
Rống như loài sư tử,
Vô úy không sợ hãi,
Trước hội chúng đông đảo?
Nay Ngài có địch thủ,
Chớ nghĩ Ngài thắng trận!

4. (Thế Tôn):

Bậc Ðại Hùng rống lên,
Vô úy trước đại chúng,
Như Lai chứng mười lực,
Vượt tham ái ở đời.

5. Rồi Ác ma biết được : “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.13 Một Mảnh Vỡ Sakalikasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha trong vườn Lộc Uyển Maddakucchi.

Lúc bấy giờ, chân của Đức Phật bị một mảnh vỡ đâm phải. Đức Phật phải chịu những cơn đau đớn khủng khiếp; những cảm giác thể chất đau đớn, nhức nhối, dữ dội, cấp tính, khó chịu và không vừa ý. Nhưng Ngài vẫn chịu đựng không bận tâm, với chánh niệm và sự tỉnh giác. Và rồi Ngài trải tấm y ngoài được gấp làm tư và nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng bên phải, đặt chân này lên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Ngươi yếu đuối nên mới nằm xuống sao?
- Hay ngươi say sưa với thi ca?
Ngươi không có đủ những gì mình cần sao?
Một mình trong nơi ở vắng vẻ,
tại sao lại ngủ thế này, hỡi kẻ ham ngủ?”

"Ta không yếu đuối nên mới nằm xuống,
- cũng không say sưa với thi ca.
Đã đạt được mục đích, ta thoát khỏi sầu muộn.
Một mình trong nơi ở vắng vẻ,
ta nằm xuống với lòng bi mẫn cho tất cả chúng sinh.

Ngay cả những người có mũi tên cắm trong ngực,
đâm vào tim hết lần này đến lần khác,
vẫn có thể ngủ được.
Vậy tại sao ta lại không, khi mũi tên đã được rút ra?

Ta không thức trắng vì căng thẳng, cũng không sợ ngủ.
Ngày và đêm không làm phiền ta,
vì ta không thấy sự suy tàn nào cho mình trên thế gian.
Đó là lý do ta nằm xuống với lòng bi mẫn cho tất cả chúng sinh."

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

III. Phiến Ðá (S.i,110)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn Nai (Migadaya).

2. Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích. Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau, đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn nản.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Sao Ngài uể oải nằm,
Hay tìm thơ, tìm vận,
Phải chăng việc sai biệt,
Không chờ đợi Ngài làm,
Phải một mình cô độc,
Trên ghế giường nằm, ngồi,
Với gương mặt ngái ngủ,
Sao Ngài ngủ như vậy?

(Thế Tôn):

Ta không uể oải nằm,
Không tìm thơ, tìm vận,
Mục đích Ta đã đạt,
Ðâu có sầu muộn gì!
Ta nằm ngồi một mình,
Trên ghế giường vắng lặng,
Yên tĩnh Ta nằm nghỉ,
Tâm từ, thương chúng sanh.
Những kẻ, ngực bị đâm,
Hổn hển tim dồn dập,
Vẫn tìm được giấc ngủ,
Dầu bị thương tích nặng.
Sao Ta lại không ngủ,
Khi không bị thương tích,
Khi thức không âu lo,
Khi ngủ chẳng sợ hãi,
Ngày đêm không khởi lên,

Phiền não bận lòng Ta?
Ta không thấy tai hại,
Một chỗ nào trên đời,
Do vậy, Ta nằm nghỉ,
Tâm từ, thương chúng sanh.

5. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.14 Thích Hợp Patirūpasutta

Một thời, Đức Phật trú tại xứ Kosala gần làng brahmin Ekasālā.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giảng Pháp, được một đại chúng cư sĩ vây quanh.

Bấy giờ, Māra nghĩ: “Sa-môn Gotama đang giảng Pháp, được một đại chúng cư sĩ vây quanh. Sao ta không đến đó để che mắt họ?”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Không thích hợp cho ngươi
để chỉ dạy người khác.
Khi tham gia vào việc này,
đừng vướng vào yêu và ghét.”

“Đức Phật chỉ dạy người khác
vì lòng từ bi cho lợi ích của họ.
Bậc Như Lai đã được giải thoát
khỏi yêu và ghét.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

IV. Tương Ưng Thích Nghi (S.i,111)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Ekasàlà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này, xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (đại chúng này).”

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Thật không chút thích hợp,
Ðể Ngài giảng dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Chớ hành nghề đứng giữa.

4. (Thế Tôn):

Với lòng từ, thương tưởng,
Bậc Giác Ngộ dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Như Lai chơn giải thoát.

5. Rồi Ác ma biết được : “Thế Tôn đã biết ta…” liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.15 Cạm Bẫy Tinh Thần Mānasasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Sāvatthī trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Có một cạm bẫy tinh thần
lang thang trên bầu trời.
Ta sẽ trói ngươi bằng nó—
ngươi sẽ không thoát khỏi ta đâu, hỡi sa-môn!”

“Sắc, thanh, hương, vị,
và xúc chạm thật đáng vui thích:
lòng ham muốn những thứ này đã biến mất khỏi ta.
Ngươi đã bị đánh bại, hỡi kẻ chấm dứt!”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

V. Ý (S.i,111)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Mọi hành tung của ý
Là bẫy sập trên không,
Chính với bẫy sập ấy,
Ta trói buộc lấy Ngài,
Này vị Sa-môn kia,
Ngài chưa thoát khỏi ta.

3. (Thế Tôn):

Sắc, thanh, vị, hương, xúc,
Làm tâm ý ưa thích,
Ta không ưa muốn chúng,
Ta vượt thoát ngoài chúng,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông đã bị bại trận.

4. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.16 Những Bình Bát Pattasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về chủ đề năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố tạo nên sự bám víu vào một ‘cái tôi’). Và các Tỷ kheo đó đang chú ý, dụng tâm, toàn tâm tập trung và lắng nghe một cách tích cực.

Bấy giờ, Māra nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về chủ đề năm thủ uẩn. Và các Tỷ kheo đang chú ý, dụng tâm, toàn tâm tập trung và lắng nghe một cách tích cực. Sao ta không đến đó để che mắt họ?”

Lúc đó, có vài chiếc bình bát được đặt ở ngoài trời. Bấy giờ, Ác ma Māra hiện ra dưới hình dạng một con bò mộng và tiến lại gần những chiếc bình bát đó.

Một trong các Tỷ kheo nói với một vị khác: “Này Tỷ kheo, Tỷ kheo, con bò đó sẽ làm vỡ những chiếc bình bát.”

Khi được nói vậy, Đức Phật nói với Tỷ kheo đó: “Này Tỷ kheo, đó không phải là con bò. Đó là Ác ma Māra đến để che mắt các con đó!”

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền nói với hắn bằng những vần kệ:

"Sắc, thọ, và tưởng,
thức và những gì được lựa chọn:
‘Ta không phải là cái này’ và ‘cái này không phải của ta’;
đó là cách để thoát khỏi ham muốn đối với chúng.

Khi ngươi đã ly ái, an ổn,
vượt qua mọi ràng buộc,
dù Māra và quân đội của hắn truy đuổi khắp nơi
chúng cũng không bao giờ tìm thấy ngươi."

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

VI. Bình Bát (S.i,112)

1. Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)”.

3. Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời (để phơi cho khô).

4. Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình bát ấy.

5. Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:

− Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình bát.

6. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma muốn đến làm mờ mắt các ông.

7. Và Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
Cái ấy không phải tôi,
Cái ấy không của tôi,
Như vậy đây ly tham,
Ly tham vậy, tâm an,
Mọi kiết sử siêu thoát,
Dầu tìm mọi xứ sở,
Ma quân không gặp được.

8. Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta…", liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.17 Sáu Xứ Tiếp Xúc Chaphassāyatanasutta

Một thời, Đức Phật trú tại gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về chủ đề lục nhập (six fields of contact / sáu giác quan và đối tượng của chúng). Và các Tỷ kheo đó đang chú ý, dụng tâm, toàn tâm tập trung và lắng nghe một cách tích cực.

Bấy giờ, Māra nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về chủ đề sáu xứ tiếp xúc. Và các Tỷ kheo đó đang chú ý, dụng tâm, toàn tâm tập trung và lắng nghe một cách tích cực. Sao ta không đến đó để che mắt họ?”

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và tạo ra một tiếng động lớn kinh hoàng gần Ngài. Dường như trái đất đang vỡ ra, đến nỗi một trong các Tỷ kheo nói với một vị khác: “Này Tỷ kheo, Tỷ kheo, dường như trái đất đang vỡ ra!”

Khi được nói vậy, Đức Phật nói với Tỷ kheo đó: “Này Tỷ kheo, đó không phải là trái đất đang vỡ ra. Đó là Ác ma Māra đến để che mắt các con đó!”

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền nói với hắn bằng những vần kệ:

"Sắc, thanh, hương, vị,
xúc chạm, và ý niệm, tất cả chúng—
đây là mồi nhử đáng sợ
mà thế gian say mê.

Nhưng một đệ tử chánh niệm của Đức Phật
đã vượt qua tất cả những điều đó.
Thoát khỏi sự thống trị của Māra,
họ tỏa sáng như mặt trời."

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

VII. Xứ (S.i,112)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Ðại Lâm, chỗ Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các vị Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tư tưởng, lóng tai nghe pháp.

3. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ- kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)”.

4. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, Ác ma hét lên một tiếng to lớn, khủng khiếp, dễ sợ, như đất bị nứt vỡ.

5. Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:

− Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, hình như quả đất này bị nứt vỡ.

6. Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy :

− Này Tỷ-kheo, không phải đất nứt vỡ. Ðó là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.

7. Rồi Thế Tôn biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thanh, vị và hương,
Cùng toàn bộ xúc, pháp,
Là thế vật rùng rợn,
Làm mê loạn ở đời.
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Chánh niệm, vượt khỏi chúng,
Vượt thế lực Ác ma,
Như mặt trời sáng chói.

8. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta…”, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.18 Thức Ăn Khất Thực Piṇḍasutta

Một thời, Đức Phật trú tại xứ Magadha gần làng brahmin Pañcasālā.

Lúc bấy giờ, tại Pañcasālā, các thiếu nữ đang chăm sóc khách. Bấy giờ, Đức Phật đắp y vào buổi sáng và, mang bát và y, vào Pañcasālā để khất thực.

Lúc bấy giờ, Māra đã ám nhập vào các brahmin và gia chủ của Pañcasālā, để họ nghĩ rằng: “Đừng để sa-môn Gotama nhận được chút thức ăn nào!”

Bấy giờ, Đức Phật rời khỏi làng với chiếc bát sạch sẽ như lúc Ngài vào khất thực.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Này sa-môn, ngài có nhận được chút thức ăn nào không?”

“Hỡi Ác ma, có phải ngươi đã làm cho ta không nhận được chút thức ăn nào không?”

“Vậy thì, thưa ngài, hãy để Đức Phật vào Pañcasālā lần thứ hai để khất thực. Tôi sẽ đảm bảo ngài nhận được thức ăn.”

"Māra đã tạo ra điều ác
khi tấn công Bậc Như Lai.
Hỡi Ác ma, ngươi có tưởng rằng
điều ác của ngươi sẽ không trổ quả sao?

Chúng ta hãy sống thật hạnh phúc,
chúng ta những người không có gì.
Chúng ta sẽ nuôi dưỡng bằng niềm vui,
như các vị trời cõi Quang Âm."

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

VIII. Ðoàn Thực (S.i,113)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Magadha, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà.

2. Lúc bấy giờ, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà, lễ trao đổi tặng vật giữa nam nữ thanh niên đang được xảy ra.

3. Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát đi vào làng Bà-la- môn Pancasàlà để khất thực.

4. Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn gia chủ ở Pancasàlà bị Ác ma xâm nhập và quyết định: “Chớ để Sa-môn Gotama nhận được đồ ăn khất thực”.

5. Rồi Thế Tôn đi vào làng Bà-la-môn tên Pancasàlà để khất thực với bình bát rửa sạch như thế nào, cũng đã trở về cùng với bình bát được rửa sạch như vậy.

6. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, Ngài có nhận được đồ ăn khất thực không?

7. − Này Ác ma, có phải Ông làm cho Ta không nhận được đồ ăn khất thực?

8. − Vâng bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đi vào làng Bà-la-môn Pancasàlà một lần thứ hai nữa. Và tôi sẽ làm để Thế Tôn nhận được đồ ăn khất thực

(Thế Tôn):

Ác ma làm điều ác,
Ðể tấn công Như Lai,
Này Ác ma, vì sao,
Ông có thể nghĩ rằng,
Ðiều ác Ông hại Ta,
Sẽ không có kết quả.
Chúng ta sống sung sướng,
Những người không có gì,
Như chư Thiên Quang Âm,
Như chư Thiên Quang Âm,
Có hào quang sáng chói,
Lấy hỷ làm đồ ăn .

9. Rồi Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta…", liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.19 Một Người Nông Dân Kassakasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về Niết Bàn (extinguishment / sự dập tắt khổ đau). Và các Tỷ kheo đó đang chú ý, dụng tâm, tập trung toàn tâm và lắng nghe một cách tích cực.

Bấy giờ, Māra nghĩ: “Sa-môn Gotama đang thuyết một bài pháp thoại về Niết Bàn… và các Tỷ kheo đang lắng nghe rất chăm chú. Sao ta không đến đó để che mắt họ?”

Bấy giờ, Ác ma Māra hiện ra dưới hình dạng một người nông dân vai vác một cái cày lớn. Hắn cầm một cây gậy thúc dài, tóc tai bù xù, mặc áo bằng sợi gai dầu, và chân dính đầy bùn. Hắn đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Này sa-môn, ngài có tình cờ thấy con bò nào không?”

“Nhưng ngươi có liên quan gì đến những con bò, hỡi Ác ma?”

“Chỉ riêng của ta, hỡi sa-môn, là con mắt, của ta là các hình sắc, của ta là trường ý thức của nhãn xúc. Ngươi có thể thoát khỏi ta ở đâu, hỡi sa-môn? Chỉ riêng của ta là tai… mũi… lưỡi… thân… ý, của ta là các ý niệm, của ta là trường ý thức của ý xúc. Ngươi có thể thoát khỏi ta ở đâu, hỡi sa-môn?”

“Chỉ riêng của ngươi, hỡi Ác ma, là con mắt, ngươi là các hình sắc, ngươi là trường ý thức của nhãn xúc (yours is the field of eye contact consciousness/ ngươi là trường ý thức qua mắt nhìn). Nơi nào không có mắt, không có hình sắc, không có ý thức của nhãn xúc—ngươi không có chỗ ở đó, hỡi Ác ma! Chỉ riêng của ngươi là tai… mũi… lưỡi… thân… ý, của ngươi là các ý niệm, của ngươi là trường ý thức của ý xúc. Nơi nào không có ý, không có ý niệm, không có ý thức của ý xúc—ngươi không có chỗ ở đó, hỡi Ác ma!”

“Những thứ họ gọi là ‘của tôi’,
và những người nói ‘đó là của tôi’:
nếu tâm ngươi còn ở đó,
ngươi sẽ không thoát khỏi ta, hỡi sa-môn!”

“Những thứ họ nói không phải của ta;
ta không phải là người nói như vậy.
Vậy hãy biết điều này, hỡi Ác ma:
ngươi thậm chí sẽ không thấy được con đường ta đi.”

Bấy giờ, Māra… liền biến mất ngay tại chỗ.

IX. Người Nông Phu (S.i,114)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

2. Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn… Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy).”

3. Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau khi đến, nói với Thế Tôn:

4. − Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?

5. − Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì?

6. − Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta?

Này Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta…

Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta…

Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta…

Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta…

Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?

7. − Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

8. Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

9. Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

10. Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi, không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. Này Ác ma, thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

11. Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý, không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.

12. − Sự vật được Ngài nói:
“Cái này là của tôi”.
Và những người đã nói:
“Cái này là của tôi”.
Nếu ở đây có ý,
Ðối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.

13. (Thế Tôn):

Sự vật được Ông nói:
“Cái này không của tôi”.
Và những người đã nói:
" Chúng không phải là tôi".
Này Ác ma, như vậy,
Ông có biết được chăng,
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi?

14. Rồi Ác ma… liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 4.20 Cai Trị Rajjasutta

Một thời, Đức Phật trú tại xứ Kosala, trong một túp lều hoang dã trên sườn núi Himalaya.

Khi đang độc cư thiền định, Ngài khởi lên suy nghĩ này: “Ta tự hỏi liệu có thể cai trị một cách hợp pháp, không giết người hay sai người khác giết người; không chinh phục hay sai người khác chinh phục; không sầu muộn hay gây ra sầu muộn không?”

Bấy giờ, Ác ma Māra, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật, đến gặp Ngài và nói: “Hãy cai trị đi, bạch Thế Tôn! Hãy cai trị đi, bạch Thiện Thệ! Hãy cai trị một cách hợp pháp, không giết người hay sai người khác giết người; không chinh phục hay sai người khác chinh phục; không sầu muộn hay gây ra sầu muộn!”

“Nhưng ngươi thấy gì, hỡi Ác ma, mà lại nói với ta điều này?”

“Bạch Thế Tôn, ngài đã phát triển và tu tập bốn nền tảng của thần thông (psychic power / năng lực siêu phàm), biến chúng thành một phương tiện và một cơ sở, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hiện chúng một cách đúng đắn. Nếu muốn, Thế Tôn chỉ cần quyết định rằng Himalaya, vua của các ngọn núi, là vàng, và nó sẽ biến thành vàng.”

"Lấy một ngọn núi vàng,
hoàn toàn bằng vàng ròng, và nhân đôi nó lên—
vẫn không đủ cho một người!
Biết điều này, hãy sống một cuộc đời đạo đức.

Khi một người đã thấy khổ đau từ đâu đến
làm sao họ có thể hướng về các thú vui giác quan?
Nhận ra rằng chấp trước là một cạm bẫy trên thế gian,
một người sẽ rèn luyện để loại bỏ nó."

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Đức Phật biết ta! Bậc Thiện Thệ biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

X. Thống Trị (S.i,116)

1. Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại một am thất nhỏ trong rừng.

2. Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Có thể chăng cai trị mà không giết hại, không để người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp?”.

3. Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn một cách đúng pháp.

4. − Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không giết hại, không khiến người giết hại…,… một cách đúng pháp”?

5. − Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng.

6. (Thế Tôn):

Dầu cho cả ngọn núi,
Trở thành toàn vàng ròng,
Cho đến hóa gấp đôi,
Cũng không thỏa mãn được,
Tham vọng của một người.
Biết vậy để hành trì,
Ai thấy rõ đau khổ,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng ái dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.

7. Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

Chương Ba

SN 4.21 Một Vài Vị Sambahulasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại xứ của những người Sakya gần Silāvatī.

Lúc bấy giờ, có một vài Tỷ kheo đang thiền định không xa Đức Phật, tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí.

Bấy giờ, Ác ma Māra hiện ra dưới hình dạng một brahmin với búi tóc lớn, mặc một tấm da linh dương. Ông ta già, lưng còng, thở khò khè, và cầm một cây gậy làm bằng gỗ cây sung. Ông ta đến gặp các Tỷ kheo đó và nói: “Các ngài đã xuất gia khi còn trẻ, thưa các tôn giả. Với mái tóc đen nhánh, các ngài được ban phước với tuổi trẻ, trong thời kỳ sung sức nhất của cuộc đời, và chưa bao giờ tán tỉnh các thú vui giác quan. Hãy hưởng thụ các thú vui giác quan của con người. Đừng từ bỏ những gì hiện hữu trong hiện tại để theo đuổi những gì có hiệu quả theo thời gian.”

“Này brahmin, đó không phải là điều chúng tôi đang làm. Chúng tôi đang từ bỏ những gì có hiệu quả theo thời gian để theo đuổi những gì hiện hữu trong hiện tại. Vì Đức Phật nói rằng các thú vui giác quan có hiệu quả theo thời gian; chúng mang lại nhiều đau khổ và phiền não, và chúng càng có nhiều nhược điểm hơn. Nhưng giáo pháp này thì hiện hữu trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.”

Khi họ đã nói xong, Ác ma Māra lắc đầu, le lưỡi, nhướng mày cho đến khi trán nhăn lại thành ba nếp, và chống gậy bỏ đi.

Bấy giờ, các Tỷ kheo đó đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Đức Phật nói: “Này các Tỷ kheo, đó không phải là một brahmin. Đó là Ác ma Māra đã đến để che mắt các con đó!”

Bấy giờ, hiểu rõ vấn đề này, nhân dịp đó Đức Phật đọc lên bài kệ này:

“Khi một người đã thấy khổ đau từ đâu đến
làm sao họ có thể hướng về các thú vui giác quan?
Nhận ra rằng chấp trước là một cạm bẫy trên thế gian,
một người sẽ rèn luyện để loại bỏ nó.”

III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh)

I. Ða Số (S,i.117)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii

2. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

3. Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo:

− Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối.

4. − Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.

5. Khi nghe nói vậy, Ác ma cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi.

6. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

7. − Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Rồi bạch Thế Tôn, một người Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến chúng con; sau khi đến, nói với chúng con như sau:

" − Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen nhánh, trong buổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức, hãy thọ hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối".

8. Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, chúng con nói với Bà la môn ấy:

" − Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Bàla-môn, chúng tôi bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu".

9. Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi ra đi.

10. − Này các Tỷ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.

11. Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên bài kệ:

Ai thấy rõ khổ đau,
Và nguyên nhân đau khổ,
Làm sao người như vậy,
Có khuynh hướng các dục?
Sau khi biết sanh y
Là ràng buộc ở đời,
Người biết vậy nên học,
Giải trừ mọi buộc ràng.

SN 4.22 Với Samiddhi Samiddhisutta

Một thời, Đức Phật trú tại xứ của những người Sakya gần Silāvatī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi đang thiền định không xa Đức Phật, tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí. Khi Tôn giả Samiddhi đang độc cư thiền định, ngài khởi lên suy nghĩ này: “Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn, khi có một vị thầy là một bậc A-la-hán, một vị Phật Toàn Giác! Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn, khi đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được giảng giải rất hay! Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn, khi có những người bạn đồng tu có đạo đức và phẩm hạnh tốt.”

Bấy giờ, Ác ma Māra, biết được dòng suy nghĩ của Samiddhi, đến gặp ngài và tạo ra một tiếng động lớn kinh hoàng gần đó. Dường như trái đất đang vỡ ra.

Bấy giờ, Samiddhi đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Đức Phật nói: “Này Samiddhi, đó không phải là trái đất đang vỡ ra. Đó là Ác ma Māra đến để che mắt con đó! Hãy trở lại chính nơi đó, Samiddhi, và thiền định, tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí.”

“Vâng, thưa ngài,” Samiddhi đáp. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi rời đi.

Và lần thứ hai, Samiddhi thiền định tại chính nơi đó, tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí. Và lần thứ hai, ngài có cùng suy nghĩ… và Māra tạo ra một tiếng động làm rung chuyển trái đất.

Bấy giờ, Samiddhi nói với Ác ma Māra bằng những vần kệ:

“Ta đã xuất gia vì niềm tin
từ đời sống tại gia đến vô gia cư.
Chánh niệm và trí tuệ của ta đã trưởng thành,
tâm ta thanh thản trong thiền định.
Hãy tạo ra bất kỳ ảo ảnh nào ngươi muốn,
nó sẽ không làm phiền ta.”

Bấy giờ, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo Samiddhi biết ta!”, buồn rầu, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ.

II. Samiddhi (S.i,119)

1. Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

3. Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”

4. Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

5. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:

6. − Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

7. − Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

8. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

9. Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…,… và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…,… khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.

10. Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.

11. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.

SN 4.23 Với Godhika Godhikasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đang trú tại sườn núi Isigili tại Hắc Thạch. Khi đó, Tôn giả Godhika, thiền định tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết chí, đã trải nghiệm sự giải thoát tâm tạm thời (temporary freedom of heart / trạng thái tâm được giải thoát trong một thời gian ngắn). Nhưng rồi ngài lại rơi khỏi sự giải thoát tâm tạm thời đó. Lần thứ hai… thứ ba… thứ tư… thứ năm… thứ sáu, Godhika trải nghiệm sự giải thoát tâm tạm thời. Nhưng lần thứ sáu, ngài lại rơi khỏi nó. Lần thứ bảy, Godhika, thiền định tinh tấn, nhiệt tâm và quyết chí, đã trải nghiệm sự giải thoát tâm tạm thời.

Bấy giờ, ngài nghĩ: “Ta đã rơi khỏi sự giải thoát tâm tạm thời này không dưới sáu lần. Sao ta không tự kết liễu đời mình?”

Bấy giờ, Ác ma Māra, biết được dòng suy nghĩ của Godhika, đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

"Ôi bậc đại anh hùng, ôi bậc đại trí tuệ!
Tỏa sáng với quyền năng và vinh quang.
Ngài đã vượt qua mọi hiểm nguy và đe dọa,
con xin đảnh lễ dưới chân Ngài, ôi bậc Mắt Sáng!

Đại anh hùng, chủ nhân của cái chết,
đệ tử của ngài khao khát cái chết,
anh ta đang lên kế hoạch cho nó.
Hãy ngăn anh ta lại, ôi bậc mang ánh sáng!

Vì làm sao, bạch Thế Tôn, một đệ tử của ngài,
một người yêu mến giáo pháp của ngài,
một người đang tu tập chưa đạt được ước nguyện của lòng mình,
lại có thể tự kết liễu đời mình, ôi bậc danh tiếng?"

Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã tự kết liễu đời mình.

Bấy giờ, Đức Phật, biết đây là Ác ma Māra, liền nói với hắn bằng những vần kệ:

“Đây là cách những người chú tâm hành động,
vì họ không khao khát sự sống.
Đã nhổ tận gốc rễ ái dục,
Godhika đã tịch diệt.”

Bấy giờ, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Hãy đến, này các Tỷ kheo, chúng ta hãy đến Hắc Thạch trên sườn núi Isigili, nơi Godhika, người xuất thân từ một gia đình tốt, đã tự kết liễu đời mình.”

“Vâng, thưa ngài,” họ đáp.

Bấy giờ, Đức Phật cùng với một vài Tỷ kheo đến Hắc Thạch trên sườn núi Isigili. Đức Phật thấy Godhika từ xa đang nằm trên giường, đã từ bỏ các uẩn.

Lúc bấy giờ, một đám khói đen đang di chuyển về phía đông, tây, bắc, nam, trên, dưới, và ở giữa.

Bấy giờ, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

“Này các Tỷ kheo, các con có thấy đám khói đen đó đang di chuyển về phía đông, tây, bắc, nam, trên, dưới, và ở giữa không?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Đó là Ác ma Māra đang tìm kiếm thức của Godhika, tự hỏi: ‘Thức của Godhika được thiết lập ở đâu?’ Nhưng vì thức của ngài không được thiết lập, Godhika đã tịch diệt.”

Bấy giờ, Māra, mang theo cây đàn hạc cong làm từ gỗ táo rừng nhạt màu, đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Trên, dưới, khắp nơi,
trong bốn phương và ở giữa,
ta đã tìm kiếm mà không thành công:
Godhika đó đã đi đâu rồi?”

"Ngài là một bậc hiền triết chú tâm và kiên định,
một thiền giả yêu thích thiền định.
Ngày đêm ngài chuyên cần,
không quan tâm đến mạng sống của mình.

Ngài đã đánh bại quân đội của thần chết,
và sẽ không trở lại trong bất kỳ kiếp sống tương lai nào.
Đã nhổ tận gốc rễ ái dục
Godhika đã tịch diệt."

Bị nỗi buồn sâu sắc xâm chiếm
đến nỗi cây đàn hạc rơi khỏi nách hắn,
linh hồn đó, chán nản,
biến mất ngay tại chỗ.

III. Godhika (S.i,120)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại Kàlasilà.

3. Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

4. Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát. Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

5. Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

6. Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

7. Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống… tâm giải thoát ấy.

8. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.

9. Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.

10. Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: “Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem lại con dao”.

11. Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Ôi, bậc Ðại Trí tuệ!
Ngài chói sáng hào quang,
Thần lực và danh xưng.
Ngài vượt qua tất cả,
Mọi sân hận hãi hùng.
Con chân thành đảnh lễ,
Dưới chân bậc Pháp nhãn.
Ôi, bậc Ðại Anh hùng!
Bậc Chinh phục tử thần!
Ðệ tử Ngài muốn chết,
Ðang suy nghĩ đến chết.
Ôi, bậc Chói Hào quang!
Hãy ngăn chặn vị ấy.
Làm sao, bạch Thế Tôn,
Vị đệ tử của Ngài,
Hoan hỷ trong giáo lý,
Lại không chứng hữu học,

Còn muốn đoạt mạng sống?
Ôi, danh vọng thế gian!

12. Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.

13. Rồi Thế Tôn được biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Như vậy là sở hành,
Của bậc Ðại Anh hùng,
Không còn nuôi ước vọng
Tạo thêm dòng sinh mạng,
Ðoạn tận ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.

14. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.

15. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

16. Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).

17. Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.

18. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?

− Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.

19. − Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: “Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?”. Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.

20. Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:

Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.

21. (Thế Tôn):

Vị Anh hùng kiên chí,

Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.

22. Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.

SN 4.24 Bảy Năm Theo Dõi Sattavassānubandhasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại Uruvelā dưới gốc cây bàng của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā.

Lúc bấy giờ, Ác ma Māra đã theo dõi Đức Phật trong bảy năm với hy vọng tìm ra một điểm yếu mà không thành công.

Bấy giờ, Ác ma Māra đến gặp Đức Phật và nói với Ngài bằng những vần kệ:

“Ngươi bị nhấn chìm trong sầu muộn
- nên mới thiền định trong rừng sao?
Ngươi đã mất một gia tài, hay ngươi khao khát một gia tài?
Hay có lẽ ngươi đã phạm
- một tội ác nào đó trong làng?
Tại sao ngươi không đến quá gần mọi người?
Và tại sao không ai đến gần ngươi?”

“Ta đã nhổ tận gốc rễ của sầu muộn.
Ta thực hành thiền định không có tội lỗi hay sầu muộn.
Ta đã cắt đứt mọi tham lam và cầu nguyện cho các kiếp sống tương lai.
Không bị ô nhiễm, ta thực hành thiền định,
- hỡi quyến thuộc của kẻ sao nhãng!”

“Những thứ họ gọi là ‘của tôi’,
và những người nói ‘đó là của tôi’:
nếu tâm ngươi còn ở đó,
ngươi sẽ không thoát khỏi ta, hỡi sa-môn!”

“Những thứ họ nói không phải của ta;
ta không phải là người nói như vậy.
Vậy hãy biết điều này, hỡi Ác ma:
ngươi thậm chí sẽ không thấy được con đường ta đi.”

“Nếu ngươi đã khám phá ra con đường
an toàn, và dẫn đến sự giải thoát khỏi cái chết,
hãy đi con đường đó một mình—
tại sao lại dạy nó cho bất kỳ ai khác?”

“Những người vượt qua bờ bên kia
hỏi về những gì vượt ra ngoài lãnh địa của Thần Chết.
Khi được hỏi, ta giải thích cho họ
sự thật không có chấp trước.”

"Thưa ngài, giả sử có một ao sen không xa một thị trấn hay một ngôi làng, và một con cua sống ở đó. Rồi một vài cậu bé hay cô bé sẽ rời khỏi thị trấn hay ngôi làng và đến ao sen, nơi họ sẽ kéo con cua ra và đặt nó lên cạn. Mỗi khi con cua đó duỗi một cái càng ra, những cậu bé hay cô bé đó sẽ bẻ, đập, và làm gãy nó bằng một cây gậy hay một hòn đá. Và khi tất cả các càng của con cua đó đã bị bẻ, đập, và làm gãy, nó sẽ không thể trở lại ao sen đó được nữa.

Cũng vậy, thưa ngài, Đức Phật đã bẻ, đập, và làm gãy tất cả những mánh khóe, những cú lách, và những cú né của tôi. Bây giờ tôi không thể đến gần Đức Phật nữa với hy vọng tìm ra một điểm yếu."

Bấy giờ, Ác ma Māra đọc lên những vần kệ thất vọng này trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Một con quạ từng bay vòng quanh một hòn đá
trông giống như một tảng mỡ.
‘Có lẽ mình sẽ tìm thấy thứ gì đó mềm,’ nó nghĩ,
‘có lẽ có thứ gì đó ngon.’

Nhưng không tìm thấy gì ngon,
con quạ rời khỏi nơi đó.
Giống như con quạ mổ vào đá,
ta rời khỏi Gotama trong thất vọng."

IV. Bẩy Năm (S.i,122)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới cây Ajapàla Nigrodha.

2. Lúc bấy giờ, Ác ma đi theo Thế Tôn trong suốt bảy năm, với hy vọng tìm cho được lỗi lầm, nhưng tìm không được.

3. Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Với tâm tư sầu muộn,
Ngài Thiền tư trong rừng,
Vì tài sản hao mòn,
Hay vì thèm tài sản?
Có thể tại xóm làng,
Ngài đã gây tội phạm.
Sao Ngài không làm thân
Với bà con xóm giềng?
Sao Ngài không có thể
Làm bạn với một ai?

4. (Thế Tôn):

Mọi sầu căn nhổ sạch,
Không tội phạm, Ta Thiền,
Không sầu muộn, Ta Thiền.
Mọi hữu ái, đoạn tận,
Vô lậu, Ta Thiền định,
Này Bà con phóng dật!

5. (Ác ma):

Sự vật được Ngài nói:
“Cái này là của tôi”.

Và những người đã nói:
“Cái này chính là tôi”.
Nếu ở đây móng ý,
Ðối với sự vật ấy,
Như vậy, này Sa-môn,
Ngài không thoát khỏi ta.

6. (Thế Tôn):

Sự vật được ông nói:
“Cái này không của tôi”
Và những người đã nói:
“Họ không phải là tôi”.
Hãy hiểu biết như vậy,
Này kẻ Ác ma kia!
Cho đến Ông không thấy,
Con đường của Ta đi.

7. (Ác ma):

Nếu Ngài chứng ngộ được,
Ðường an toàn bất tử,
Ngài hãy đi một mình.
Sao lại dạy người khác?

8. (Thế Tôn):

Người đi đến bờ kia,
Họ hỏi nước bất tử,
Ðược hỏi, Ta trả lời,
Cảnh giới vô dư y.

9. − Bạch Thế Tôn, ví như một hồ nước không xa làng hay thị trấn. Tại đấy có một con cua. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều người con trai hay người con gái, từ làng ấy đi ra, đi đến hồ nước ấy. Sau khi đến, họ kéo con cua ấy lên khỏi nước và đặt nó trên đất liền. Bạch Thế Tôn, khi nào con cua ấy thò ra cái càng nào, những người con trai hay những người con gái ấy, lấy gậy hay lấy miểng sành chặt đứt, bẻ gãy hay đập nát cái càng ấy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con cua ấy, với mọi càng bị chặt đứt, bẻ gãy, đập nát, không thể bò xuống hồ nước ấy nữa. Ví như lúc trước có những lộn xộn, mâu thuẫn, xuyên tạc gì đã được Thế Tôn chặt đứt, bẻ gẫy, đập nát. Và nay, bạch Thế Tôn, với hy vọng tìm cho được lỗi lầm, con không thể đến gần Thế Tôn được.

10. Rồi Ác ma, trước mặt Thế Tôn, trong nỗi niềm thất vọng, nói lên bài kệ này:

Như quạ liệng hư không,
Thấy đá như miếng mỡ,
Tưởng rằng sẽ tìm được,
Miếng gì mềm và ngon.
Không tìm được gì ngon,
Liền từ đó bay đi,
Như quạ mổ hòn đá,

Thất vọng ta bỏ đi,
Giã từ Gotama.

11. Rồi Ác ma, sau khi nói lên những bài kệ ấy trước mặt Thế Tôn, từ chỗ ấy bỏ đi, rồi ngồi kiết-già trên đất, không xa Thế Tôn, im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, câm miệng, lấy chiếc gậy cào trên đất.

SN 4.25 Các Con Gái Của Māra Māradhītusutta

Và rồi Ác ma Māra, sau khi đọc những vần kệ thất vọng này trước sự hiện diện của Đức Phật, đã rời khỏi nơi đó. Hắn ngồi xếp bằng trên mặt đất không xa Đức Phật, im lặng, kinh ngạc, vai rũ xuống, chán nản, phiền muộn, không nói nên lời, dùng một cây gậy cào xuống đất.

Bấy giờ, các con gái của Māra là Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng đến gặp Ác ma Māra, và nói với hắn bằng những vần kệ:

“Tại sao cha lại chán nản vậy?
Cha buồn phiền về người đàn ông nào?
Chúng con sẽ bắt hắn bằng cạm bẫy của dục vọng,
như một con voi trong rừng hoang.
Chúng con sẽ trói hắn lại và mang hắn về—
hắn sẽ rơi vào tầm kiểm soát của cha!”

“Trong thế gian này, ngài là bậc A-la-hán, bậc Thiện Thệ.
Ngài không dễ bị quyến rũ bởi dục vọng.
Ngài đã thoát khỏi sự thống trị của Māra;
đó là lý do tại sao ta lại buồn phiền như vậy.”

Bấy giờ, các con gái của Māra là Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng đến gặp Đức Phật, và nói với Ngài: “Chúng con xin phục vụ dưới chân ngài, hỡi sa-môn.” Nhưng Đức Phật lờ họ đi, vì Ngài đã được giải thoát với sự chấm dứt tối thượng của các chấp trước.

Bấy giờ, Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng lui ra một bên để bàn kế hoạch. “Đàn ông có nhiều sở thích khác nhau. Sao chúng ta không mỗi người hiện ra dưới hình dạng một trăm thiếu nữ?”

Vậy là họ đã làm thế. Rồi họ đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Chúng con xin phục vụ dưới chân ngài, hỡi sa-môn.” Nhưng Đức Phật vẫn lờ họ đi, vì Ngài đã được giải thoát với sự chấm dứt tối thượng của các chấp trước.

Bấy giờ, Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng lui ra một bên để bàn kế hoạch. “Đàn ông có nhiều sở thích khác nhau. Sao chúng ta không mỗi người hiện ra dưới hình dạng một trăm phụ nữ chưa từng sinh con?” Vậy là họ đã làm thế. Rồi họ đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Chúng con xin phục vụ dưới chân ngài, hỡi sa-môn.” Nhưng Đức Phật vẫn lờ họ đi, vì Ngài đã được giải thoát với sự chấm dứt tối thượng của các chấp trước.

Bấy giờ, Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng… mỗi người hiện ra dưới hình dạng một trăm phụ nữ đã sinh con một lần… phụ nữ đã sinh con hai lần… phụ nữ trung niên… phụ nữ già… Nhưng Đức Phật vẫn lờ họ đi, vì Ngài đã được giải thoát với sự chấm dứt tối thượng của các chấp trước.

Bấy giờ, Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng lui ra một bên và nói: "Những gì cha chúng ta nói là đúng:

‘Trong thế gian này, ngài là bậc A-la-hán, bậc Thiện Thệ.
Ngài không dễ bị quyến rũ bởi dục vọng.
Ngài đã thoát khỏi sự thống trị của Māra;
đó là lý do tại sao ta lại buồn phiền như vậy.’

Vì nếu chúng ta đã tiếp cận bất kỳ sa-môn hay brahmin nào như thế này mà không thoát khỏi dục vọng, tim của họ sẽ nổ tung, hoặc họ sẽ nôn ra máu nóng từ miệng, hoặc họ sẽ phát điên và mất trí. Họ sẽ khô héo, tàn lụi, và co quắt lại như một cây sậy xanh bị cắt."

Bấy giờ, các con gái của Māra là Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng đến gặp Đức Phật, và đứng sang một bên. Con gái của Māra là Ái Dục nói với Đức Phật bằng những vần kệ:

“Ngươi bị nhấn chìm trong sầu muộn
- nên mới thiền định trong rừng sao?
Ngươi đã mất một gia tài, hay ngươi khao khát một gia tài?
Hay có lẽ ngươi đã phạm
- một tội ác nào đó trong làng?
Tại sao ngươi không đến quá gần mọi người?
Và tại sao không ai đến gần ngươi?”

“Ta đã đạt được mục đích, sự bình an của tâm hồn.
Đã chinh phục được quân đội
- của những gì đáng yêu và dễ chịu,
một mình, thực hành thiền định, ta đã giác ngộ trong hạnh phúc.
Đó là lý do tại sao ta không đến quá gần mọi người,
và không ai đến quá gần ta.”

Bấy giờ, con gái của Māra là Lạc Thú nói với Đức Phật bằng những vần kệ:

“Làm thế nào một Tỷ kheo đã vượt qua năm dòng lũ
thường thiền định ở đây trong khi vượt qua dòng lũ thứ sáu?
Làm thế nào họ thường thực hành thiền định
- để các nhận thức giác quan
bị chặn lại và không chiếm hữu được họ?”

"Với thân thể thanh thản và tâm trí được giải thoát tốt,
không lập kế hoạch, chánh niệm, vô gia cư;
hiểu rõ giáo pháp,
- họ thực hành thiền định không tầm;
họ không dao động, không trôi dạt hay cứng nhắc.

Đó là cách một Tỷ kheo đã vượt qua năm dòng lũ
thường thiền định ở đây trong khi vượt qua dòng lũ thứ sáu.
Đó là cách họ thường thực hành thiền định
- để các nhận thức giác quan
bị chặn lại và không chiếm hữu được họ."

Bấy giờ, con gái của Māra là Tham Vọng nói với Đức Phật bằng những vần kệ:

“Ngài sống với cộng đồng của mình sau khi cắt đứt ái dục,
và nhiều người có niềm tin chắc chắn sẽ vượt qua.
Than ôi, người vô gia cư này sẽ cướp đi nhiều người đàn ông,
và dẫn họ vượt qua Vua của Thần Chết!”

“Những bậc đại anh hùng, họ dẫn dắt
bằng phương tiện của giáo pháp chân chính.
Khi các Bậc Như Lai đang dẫn dắt bằng giáo pháp,
làm sao có ai biết mà lại ghen tị?”

Bấy giờ, các con gái của Māra là Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng đến gặp Ác ma Māra. Ác ma Māra thấy họ đến từ xa, và nói với họ bằng những vần kệ:

"Những kẻ ngu ngốc! Các ngươi khoan vào một ngọn núi
bằng những cọng sen!
Các ngươi đào một ngọn đồi bằng móng tay!
Các ngươi nhai sắt bằng răng!

Các ngươi tìm một chỗ đứng trong vực sâu, như thể,
trong khi đội một tảng đá bằng đầu!
Sau khi tấn công một gốc cây bằng ngực, như thể,
các ngươi rời khỏi Gotama trong thất vọng."

“Họ đến trong vẻ lộng lẫy của mình—
Ái Dục, Lạc Thú, và Tham Vọng.
Nhưng Bậc Thầy đã gạt họ đi ngay tại đó,
như cơn gió, một túm bông rơi.”

V. Những Người Con Gái (S.i,124)

1. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, đi đến Ác ma, sau khi đến, nói lên bài kệ này với Ác ma:

Cha thân yêu, sao cha
Lại thất vọng như vậy?
Vì ai, vì người nào,
Khiến cha phải sầu muộn?
Chúng con với ái dục,
Sử dụng như bẫy mồi,
Sẽ buộc chặt họ lại,
Như buộc chặt voi rừng,
Và dẫn họ đến cha,
Khiến họ quy phục cha.

2. (Ác ma):

Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Lãnh vực của Ác ma,
Do vậy, ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.

3. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

4. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu nữ”.

5. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

6. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta hãy biến hình thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con”.

7. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục sau khi biến thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

− Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.

Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

8. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh một con, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

9. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh hai con, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

10. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một thiếu phụ trung niên, đi đến Thế Tôn…,… vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

11. Rồi các nữ ma Khát ái…,… sau khi biến hình thành một phụ nữ lớn tuổi, đi đến Thế Tôn…,… Vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.

12. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua một bên và nói như sau:

− Cha chúng ta nói thật đúng sự thật:

Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Quyền lực của Ác ma,
Do vậy ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.

13. Nếu chúng ta tấn công với phương tiện này, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào chưa ly ái dục, người ấy sẽ bể tim, hay miệng hộc máu nóng, hay bị loạn tâm, hay bị cuồng ý. Ví như một cây lau xanh bị gặt hái sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy. Cũng vậy, người ấy sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy.

14. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, liền đứng một bên.

15. Ðứng một bên, nữ ma Khát ái nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Với tâm tư sầu muộn,
Ngài Thiền tư trong rừng,
Vì tài sản hao mòn,
Hay vì thèm tài sản?
Có thể tại xóm làng,
Ngài đã gây tội phạm,
Sao Ngài không làm thân

Với bà con xóm giềng?
Sao Ngài không có thể
Làm bạn với một ai?

16. (Thế Tôn):

Với mục đích đạt thành,
Với thân tâm an tịnh,
Ta chiến thắng quân binh.
Hình sắc lạc, khả ái.
Ta độc tọa Thiền tư,
Chứng ngộ chơn an lạc,
Do vậy, giữa chúng sanh,
Ta không bạn một ai.
Làm bạn với một ai,
Ðối với Ta không cần.

17. Rồi nữ ma Bất lạc nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Làm sao vị Tỷ-kheo,
Sống giữa nhiều (chướng ngại),
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu?
Làm sao Thiền tư được,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được?

18. (Thế Tôn):

Với thân được khinh an,
Với tâm khéo giải thoát,
Không còn các sở hành,
Chánh niệm, không tham trước,
Biết rõ được Chánh pháp,
Không tầm, tu Thiền định.
Không phẫn nộ, vọng niệm,
Không thụy miên, giải đãi,
Như vậy vị Tỷ-kheo,
Sống giữa nhiều chướng ngại,
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu,
Như vậy tu Thiền tư,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được.

19. Rồi nữ ma Tham dục, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Ðoạn tận được khát ái,

Sống giữa các chúng đoàn,
Phần lớn các chúng sanh,
Chắc chắn sẽ sống vậy.
Vị không tham trước này,
Sống từ bỏ đám đông,
Ðoạn tận dẫn quần sanh,
Thoát khỏi Ma vương quốc.

20. (Thế Tôn):

Thật vậy, chư Ðại Hùng,
Thật vậy, chư Như Lai,
Với chơn vi diệu pháp,
Hướng dẫn (mọi quần sanh),
Ðược Chánh pháp hướng dẫn,
Dầu có ganh tức gì,
Không thể không biết vậy.

21. Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Ác ma.

22. Và Ác ma thấy các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục từ xa đi lại. Thấy vậy, Ác ma liền nói lên bài kệ:

Các Ngươi thật kẻ ngu,
Lấy cành sen phá đá,
Lấy móng tay đào núi,
Lấy răng nhai sắt thép.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy đầu húc đá tảng,
Cố gắng tìm chân đứng,
Trong vực thẳm thâm sâu.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy ngực đâm lao nhọn.
Thất vọng, các Ông đến,
Giã từ Gotama.

23. Trong áo xiêm lòe loẹt,
Con gái ma, chúng đến,
Khát ái và Bất lạc,
Cùng với nàng Tham dục.
Bậc Ðạo Sư quét sạch,
Các con gái Ác ma,
Như Thần gió quét sạch,
Các cây lá rơi rụng.

-ooOoo-