Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Kinh Tương Ưng Với Chư Tỷ Kheo Ni

5. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI

Phẩm Về Chư Tỷ Kheo Ni

SN 5.1 Kinh Āḷavikā Āḷavikāsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Āḷavikā vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, thọ thực xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, cô đi đến Rừng Tối để tìm nơi vắng vẻ độc cư.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Āḷavikā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ việc độc cư, đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Trên đời chẳng có lối thoát đâu,
độc cư thì giúp ích gì cho cô?
Hãy tận hưởng những thú vui dục lạc;
đừng để sau này phải hối tiếc.”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Āḷavikā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ việc độc cư!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Āḷavikā đáp lại bằng những vần kệ:

"Trên đời có một lối thoát,
và ta đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ.
Hỡi Ác ma, bà con của kẻ sao nhãng,
ngươi không biết được cảnh giới ấy đâu.

Dục lạc như gươm đao;
các uẩn (aggregates / năm nhóm yếu tố tạo nên một chúng sinh: sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là thớt để chặt chém.
Cái mà ngươi gọi là thú vui dục lạc
đối với ta đã trở thành điều không còn ưa thích."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Āḷavikā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

I. Alavikhà (S.i.128)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.

3. Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:

Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.

4. Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”

5. Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó”.

6. Tỷ-kheo-ni Alavikà biết được: “Ðấy là Ác ma”, liền nói lên bài kệ:

Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.

7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.2 Kinh Somā Somāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Somā vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, thọ thực xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, cô đi đến Rừng Tối để hành thiền ban ngày, đi sâu vào khu rừng, và ngồi dưới một gốc cây để thiền định.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Somā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ định (immersion / sự tập trung tâm trí), đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Trạng thái ấy rất khó khăn;
chỉ dành cho bậc hiền triết đạt được.
Phụ nữ không thể nào làm được,
với trí tuệ hai ngón tay của mình.”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Somā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Somā đáp lại bằng những vần kệ:

"Thân phận phụ nữ có khác gì
khi tâm đã định tĩnh,
và trí tuệ đã hiện hữu
khi ta quán chiếu Chánh pháp một cách đúng đắn.

Chắc chắn kẻ nào còn nghĩ:
‘Ta là phụ nữ’, hay ‘Ta là đàn ông’,
hay ‘Ta là’ bất cứ thứ gì,
kẻ đó mới đáng để Māra nói chuyện."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Somā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

II. Somà (S.i.129)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

Rồi Tỷ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.

2. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

3. Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Somà:

Ðịa vị khó chứng đạt,
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?

4. Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: “Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?”

5. Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó”.

6. Tỷ-kheo-ni Somà biết được : “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo Thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu?
Ai tự mình tìm hỏi :
"Ta, nữ nhân, nam nhân,
Hay ta là ai khác?"
Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng.

7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Somà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.3 Kinh Kisāgotamī Kisāgotamīsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Kisāgotamī vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, thọ thực xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, cô đi đến Rừng Tối để hành thiền ban ngày, đi sâu vào khu rừng, và ngồi dưới một gốc cây để thiền định.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Kisāgotamī sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ định, đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Sao cô ngồi một mình mà khóc
như thể con mình vừa chết?
Cô vào rừng một mình—
chắc là đang tìm đàn ông!”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Kisāgotamī suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Kisāgotamī đáp lại bằng những vần kệ:

"Ta đã vượt qua cái chết của những đứa con,
và đã đoạn tuyệt với đàn ông.
Ta không sầu, không than,
và không sợ ngươi đâu, thưa ngài!

Sự ưa thích đã bị hủy diệt về mọi mặt,
và khối u minh đã bị phá tan.
Ta đã chiến thắng quân đội của thần chết,
và sống vô lậu (without defilements / không còn các lậu hoặc, tức những ô nhiễm tinh thần)."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Kisāgotamī đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

III. Gotamì (S.i.129)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.

2. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

3. Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì:

Sao nàng như mất con,
Một mình, mặt ứa lệ.
Hay một mình vào rừng,
Ðể tìm đàn ông nào?

4. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”

5. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: “Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó”.

6. Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Con hại, đã qua rồi,
Ðàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
Khắp nơi hỷ, ái đoạn,
Khối mê ám nát tan,
Chiến thắng quân thần chết,
Vô lậu, ta an trú.

7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta” nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.4 Kinh Vijayā Vijayāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Vijayā vào buổi sáng… và ngồi dưới một gốc cây để hành thiền ban ngày.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Vijayā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ định, đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Cô còn trẻ và xinh đẹp,
ta cũng là một thanh niên đang độ xuân thì.
Nào, thưa cô, chúng ta hãy cùng tận hưởng
tiếng nhạc của ban nhạc năm loại.”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Vijayā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Vijayā đáp lại bằng những vần kệ:

"Sắc, thanh, hương, vị,
và xúc chạm thật thú vị.
Ta trả lại hết cho ngươi đó, Māra,
vì ta không cần dùng đến chúng.

Thân này thật nhơ bẩn,
mục nát và yếu đuối.
Ta kinh hãi và ghê tởm nó,
và ta đã diệt trừ dục ái.

Có những chúng sinh ở cõi sắc giới,
và những chúng sinh khác kẹt trong cõi vô sắc.
và cả những sự tịch tịnh đã đạt được:
Ta đã phá tan bóng tối vô minh về tất cả chúng."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Vijayā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

IV. Vijayà

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y… và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

2. Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi … muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳkheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:

Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.

3. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : " Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?"

4. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : " Ðây là Ác ma… nói lên bài kệ đó."

5. Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:

Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.

6. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.5 Kinh Uppalavaṇṇā Uppalavaṇṇāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Uppalavaṇṇā vào buổi sáng… và đứng dưới gốc một cây sa-la đang nở hoa rực rỡ.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Uppalavaṇṇā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ định, đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Cô đến cây sa-la này, đang trổ đầy hoa,
và đứng một mình dưới gốc cây, hỡi Tỷ kheo ni.
Vẻ đẹp của cô không ai sánh bằng;
cô gái ngốc nghếch, cô không sợ những kẻ du côn sao?”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Uppalavaṇṇā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Uppalavaṇṇā đáp lại bằng những vần kệ:

"Dù cho 100.000 kẻ du côn như ngươi
có đến đây,
ta cũng không một sợi tóc lay động hay hoảng sợ.
Ta không sợ ngươi đâu, Māra, dù chỉ một mình.

Ta sẽ biến mất,
hoặc ta sẽ đi vào bụng ngươi;
ta có thể đứng giữa hai hàng lông mày của ngươi
mà ngươi vẫn không thấy được ta.

Ta làm chủ tâm mình,
ta đã phát triển tốt các thần túc (bases of psychic power / nền tảng của các năng lực siêu nhiên).
Ta đã thoát khỏi mọi ràng buộc,
và ta không sợ ngươi đâu, thưa ngài!"

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Uppalavaṇṇā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

V. Uppalavannà (S.i.131)

1. Nhân duyên Sàvatthi.

Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y… và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.

2. Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.

3. Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:

Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?

4. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?”

5. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma… đã nói lên bài kệ đó.”

6. Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được : “Ðây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:

Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!

7. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.6 Kinh Cālā Cālāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Cālā vào buổi sáng… và ngồi dưới một gốc cây để hành thiền ban ngày.

Lúc đó, Ác ma Māra đến gần Cālā và nói với cô: “Tỷ kheo ni, cô không chấp nhận điều gì?”

“Thưa ngài, tôi không chấp nhận sự tái sinh.”

“Tại sao cô không chấp nhận sự tái sinh?
Khi được sinh ra, cô được tận hưởng những thú vui dục lạc.
Ai đã gieo vào đầu cô ý nghĩ này:
‘Tỷ kheo ni, đừng chấp nhận sự tái sinh’?”

"Cái chết đến với những ai được sinh ra,
khi được sinh ra, người ta phải chịu khổ đau—
bị giết, bị giam cầm, khốn khổ—
đó là lý do không nên chấp nhận sự tái sinh.

Đức Phật đã dạy cho ta Chánh pháp
để vượt qua sự tái sinh,
để từ bỏ mọi khổ đau;
Ngài đã an trú ta trong sự thật.

Có những chúng sinh ở cõi sắc giới,
và những chúng sinh khác kẹt trong cõi vô sắc.
Không hiểu được sự diệt (cessation / sự chấm dứt hoàn toàn),
họ quay trở lại các kiếp sống tương lai."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Cālā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

VI. Càlà (S.i.132)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Càlà vào buổi sáng đắp y… ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

2. Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Càlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Càlà:

− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng không vui thích gì?

− Này Hiền giả, ta không vui thích sanh.

− Sao Nàng không vui thích sanh?

− Khi đã sanh, phải thọ hưởng các dục.

− Này Tỷ-kheo-ni, ai dạy cho nàng: “Chớ có vui thích sanh”?

3. (Càlà):

Sanh ra rồi phải chết,
Ðã sanh thấy khổ đau,
Kiết sử trói gia hại,
Do vậy không thích sanh.
Ðức Phật thuyết giảng pháp,
Khiến vượt khỏi tái sanh,
Ðoạn trừ mọi khổ não,
Giúp ta trú chân thật.
Chúng sanh hướng sắc giới,
Họ vọng vô sắc giới,
Nếu không biết đoạn diệt,
Họ đi đến tái sanh.

4. Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Càlà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.7 Kinh Upacālā Upacālāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Upacālā vào buổi sáng… và ngồi dưới một gốc cây để hành thiền ban ngày.

Lúc đó, Ác ma Māra đến gần Upacālā và nói với cô: “Tỷ kheo ni, cô muốn tái sinh ở đâu?”

“Thưa ngài, tôi không muốn tái sinh ở bất cứ đâu.”

“Có chư thiên cõi Ba Mươi Ba,
- và chư thiên cõi Dạ Ma;
cũng có chư thiên cõi Đâu Suất,
chư thiên cõi Hóa Lạc,
và chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại.
Hãy hướng tâm đến những nơi như vậy,
và cô sẽ được tận hưởng niềm vui.”

"Chư thiên cõi Ba Mươi Ba,
- và chư thiên cõi Dạ Ma;
cũng có chư thiên cõi Đâu Suất,
chư thiên cõi Hóa Lạc,
và chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại—
họ bị trói buộc bởi ái dục;
họ lại rơi vào tầm kiểm soát của ngươi.

Cả thế gian đang bốc cháy,
cả thế gian đang âm ỉ,
cả thế gian đang rực lửa,
cả thế gian đang rung chuyển.

Tâm ta hướng về nơi
mà Māra không thể đến;
nơi đó không rung chuyển, không bốc cháy,
và không phải là nơi kẻ phàm phu lui tới."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Upacālā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

VII. Upacàlà

1. Ở tại Sàvatthi.

2. Rồi Tỷ-kheo-ni Upacàlà, vào buổi sáng, đắp y… và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày… nói với Tỷ-kheo-ni Upacàlà:

− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng muốn tái sanh tại chỗ nào?.

3. − Ta không muốn tái sanh tại một chỗ nào cả, này Hiền giả.

4. Chư Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma, Ðâu-suất thiên,
Chư vị Hóa lạc thiên,
Tha hóa Tự tại thiên,
Nàng hãy hướng tâm này,
Ðến cảnh giới chư Thiên,
Rồi Nàng được tái sanh,
Hưởng an lạc cảnh ấy.

5. Chư Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma, Ðâu-suất thiên,
Chư vị Hóa Lạc thiên,
Tha hóa, Tự tại thiên,
Vì ái dục trói buộc,
Lại bị ma chinh phục.
Toàn thế giới cháy đỏ,
Toàn thế giới hỏa thiêu,
Toàn thế giới bùng cháy,
Toàn thế giới rung động.
Không rung, không dao động,
Không hệ lụy, phàm phu,
Chỗ nào ma không đến,
Chỗ ấy ta vui thích.

6. Rồi Ác ma biết được… biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.8 Kinh Sīsupacālā Sīsupacālāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Sīsupacālā vào buổi sáng… và ngồi dưới một gốc cây để hành thiền ban ngày.

Lúc đó, Ác ma Māra đến gần Sīsupacālā và nói với cô: “Tỷ kheo ni, cô tin vào giáo phái của ai?”

“Thưa ngài, tôi không tin vào giáo phái của ai cả.”

“Cô đã cạo đầu vì ai?
Cô trông giống một nữ sa môn,
nhưng lại không tin vào giáo phái nào.
Tại sao cô sống như một kẻ lạc lối?”

"Những người theo các giáo phái khác
tự tin vào quan điểm của họ.
Nhưng ta không tin vào giáo lý của họ,
vì họ không phải là chuyên gia về Chánh pháp.

Nhưng có một người sinh ra trong dòng họ Thích Ca,
Đức Phật không ai sánh bằng,
Bậc chiến thắng, xua tan Māra,
bất bại khắp nơi,

khắp nơi giải thoát, không vướng mắc,
Bậc có Mắt thấy tất cả.
Ngài đã đạt đến sự chấm dứt của mọi nghiệp,
giải thoát nhờ đoạn tận các chấp thủ (attachments / những nền tảng của sự tồn tại mà ta bám víu vào).
Đức Thế Tôn đó là Thầy của ta,
và ta tin vào giáo huấn của Ngài."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Sīsupacālā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

VIII. Sisupacàlà

1. Tại Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà vào buổi sáng đắp y… rồi ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.

2. Rồi Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà:

− Này Tỷ-kheo-ni, Nàng thích thú tà giáo của ai không?

3. − Này Hiền giả, ta không thích thú tà giáo của ai cả.

4. Vì ai Nàng trọc đầu,
Hiện tướng nữ Sa-môn?
Nàng không thích tà giáo,
Vậy nàng tu cho ai,
Này kẻ Ngu muội kia?

5. (Sisupacàlà):

Những kẻ tin tà kiến,
Thuộc ngoại đạo tà giáo.
Ta không thích pháp họ,
Ta không giỏi pháp họ!
Có dòng họ Thích-ca.
Ðản sanh Phật vô tỷ,
Ngài chinh phục tất cả,
Ngài đại phá chúng ma,
Tại mọi chỗ, mọi nơi,

Không ai chiến thắng Ngài.
Ngài giải thoát hoàn toàn,
Không bị gì triền phược.
Bậc Pháp nhãn thấy khắp;
Tất cả nghiệp đoạn diệt,
Giải thoát, diệt sanh y.
Thế Tôn, Ðạo Sư ta,
Ta thích giáo pháp Ngài.

6. Rồi Ác ma biết được… liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.9 Kinh Selā Selāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Selā vào buổi sáng… và ngồi dưới một gốc cây để hành thiền ban ngày.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Selā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà… đã nói với cô bằng những vần kệ:

“Ai đã tạo ra hình nhân này?
Người tạo ra nó ở đâu?
Hình nhân này đã sinh khởi từ đâu?
Và nó sẽ chấm dứt ở đâu?”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Selā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Selā đáp lại bằng những vần kệ:

"Hình nhân này không phải tự mình tạo ra,
nỗi khổ này cũng không phải do người khác tạo ra.
Nó sinh khởi do duyên,
và diệt đi khi duyên tan rã.

Giống như một hạt giống được gieo
trên một cánh đồng; nó lớn lên
nhờ vào cả chất dinh dưỡng của đất
cũng như độ ẩm.

Cũng vậy, các uẩn và các giới (elements / các yếu tố cơ bản của thực tại)
sáu xứ (six sense fields / sáu cơ quan cảm giác và đối tượng của chúng) này
sinh khởi do duyên,
và diệt đi khi duyên tan rã."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Selā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

IX. Selà (S.i.134)

1. Ở tại Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Selà vào buổi sáng đắp y… ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

2. Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Selà run sợ… nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Selà:

Bởi vì bong bóng này,
Ðược tạo tác làm ra,
Ai là người sáng tạo,
Bong bóng như huyễn này?
Từ đâu bong bóng sanh?
Ði đâu bong bóng diệt?

3. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”

4. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: " Ðây là Ác ma, muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ ấy".

5. Rồi Tỷ-kheo-ni Selà được biết: “Ðây là Ác ma”, nên trả lời Ác ma với bài kệ:

Bong bóng như huyễn này,
Không phải tự ngã làm,
Sự vật bạc phước này,
Không phải người khác làm.
Do nhân duyên quy tụ,
Sự vật được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,
Sự vật bị tiêu diệt.
Hột giống gieo vào ruộng,
Ðược nẩy mầm, sinh lộc,
Khi nhiễm thấm cả hai,
Vị đất và khí ướt.
Cũng vậy uẩn và giới,
Cùng với sáu xứ này,
Do nhân duyên quy tụ,
Chúng sẽ được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,

Chúng bị hoại, tiêu diệt.

6. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Selà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

SN 5.10 Kinh Vajirā Vajirāsutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo ni Vajirā vào buổi sáng, đắp y, mang bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, thọ thực xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, cô đi đến Rừng Tối để hành thiền ban ngày, đi sâu vào khu rừng, và ngồi dưới một gốc cây để thiền định.

Lúc đó, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỷ kheo ni Vajirā sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, với ý muốn làm cho cô từ bỏ định, đã đến gần cô và nói lên những vần kệ:

“Ai đã tạo ra chúng sinh này?
Người tạo ra nó ở đâu?
Chúng sinh này đã sinh khởi từ đâu?
Và nó sẽ chấm dứt ở đâu?”

Khi ấy, Tỷ kheo ni Vajirā suy nghĩ: “Ai đang nói những vần kệ này, là người hay không phải người?”

Rồi cô nghĩ: “Đây là Ác ma Māra, muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, muốn làm cho ta từ bỏ định!”

Biết rằng đó là Ác ma Māra, Tỷ kheo ni Vajirā đáp lại bằng những vần kệ:

"Tại sao ngươi lại tin có một thứ gọi là
- ‘chúng sinh’?
Māra, đó có phải là quan điểm của ngươi không?
Đây chỉ là một đống các pháp hữu vi (conditions / các hiện tượng được tạo tác, có điều kiện),
ở đây không tìm thấy chúng sinh nào.

Cũng như khi các bộ phận được lắp ráp
ta dùng từ ‘cỗ xe’.
Cũng vậy, khi các uẩn hiện hữu
‘chúng sinh’ là quy ước ta dùng.

Nhưng chỉ có khổ đau sinh khởi,
tồn tại một thời gian, rồi biến mất.
Không gì khác ngoài khổ đau sinh khởi,
không gì khác ngoài khổ đau chấm dứt."

Lúc đó, Ác ma Māra nghĩ rằng: “Tỷ kheo ni Vajirā đã biết ta!” liền buồn bã, sầu não, và biến mất ngay tại chỗ.

X. Vajirà

1. Ở tại Sàvatthi.

Tỷ-kheo-ni Vajirà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirà đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày, đi sâu vào rừng Andha và ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.

2. Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirà:

3. Do ai, hữu tình này,
Ðược sanh, được tạo tác?
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay ở tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Ði đâu hữu tình diệt?

4. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”

5. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: “Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này”.

6. Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: “Ðây là Ác ma”, liền trả lời Ác ma với bài kệ:

Sao Ông lại nói hoài,
Ðến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma,
Ông rơi vào tà kiến?
Ðây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.

7. Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Vajirà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

-ooOoo-