Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

6. Tương Ưng với Phạm Thiên

6. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN

Chương Một

SN 6.1 Lời Thỉnh Cầu của Phạm Thiên Brahmāyācanasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi ngài mới giác ngộ, Đức Phật đang ở tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Khi ấy, trong lúc độc cư thiền định, tâm trí ngài khởi lên ý nghĩ này: “Pháp này ta đã chứng ngộ, thật sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, vi diệu, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ bậc trí mới thấu hiểu. Nhưng chúng sanh lại ưa thích sự bám víu, họ yêu và tận hưởng nó. Thật khó cho họ để thấy được nguyên lý này; tức là, Y duyên tính, duyên khởi (specific conditionality, dependent origination / nguyên lý vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi). Cũng thật khó cho họ để thấy được nguyên lý này; tức là, sự an tịnh của mọi hành, sự từ bỏ mọi sở hữu, sự đoạn tận ái dục, ly tham (fading away / sự phai nhạt của ham muốn), đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt), Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não và khổ đau). Và nếu ta giảng dạy pháp này, những người khác có thể không hiểu ta, điều đó sẽ chỉ mang lại mệt mỏi và phiền toái cho ta.”

Và rồi những vần kệ này, vốn không phải do thần linh mách bảo, cũng không phải đã từng học trước đây, đã hiện lên trong tâm trí Đức Phật:

"Ta đã gian nan mới chứng ngộ,
thôi đừng cố giảng giải làm gì!
Những kẻ chìm trong tham và sân
không thể nào hiểu được giáo pháp này.

Nó đi ngược dòng, vi tế,
sâu xa, mờ ảo, và rất tinh anh.
Kẻ mê đắm trong tham lam không thể thấy,
vì bị bao phủ bởi khối u minh."

Và khi Đức Phật suy tư như vậy, tâm ngài hướng đến sự im lặng, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật, liền nghĩ: “Than ôi! Thế giới này sẽ bị hủy diệt, thế giới này sẽ bị hoại vong! Vì tâm của bậc Như Lai (Realized One / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Phật), bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, lại hướng đến sự im lặng, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.”

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:

“Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy thuyết giảng Chánh pháp! Bạch Thiện Thệ, xin ngài hãy thuyết giảng Chánh pháp! Có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần. Họ đang suy tàn vì không được nghe giáo pháp. Sẽ có những người thấu hiểu được giáo pháp!”

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy nói tiếp:

"Tại xứ Magadha xưa kia đã xuất hiện
một giáo pháp bất tịnh do những kẻ ô uế nghĩ ra.
Xin hãy mở rộng cánh cửa bất tử!
Hãy để họ được nghe giáo pháp
— giáo pháp vô nhiễm mà ngài đã chứng ngộ.

Như đứng trên đỉnh núi đá cao,
có thể nhìn thấy mọi người xung quanh.
Cũng vậy, hỡi bậc Toàn Giác, bậc trí tuệ,
đã lên đến Đền Chân Lý,
thoát khỏi sầu muộn, xin hãy nhìn xuống chúng sanh
đang chìm trong sầu muộn,
— bị áp bức bởi sinh và lão.

Xin hãy đứng lên, hỡi bậc Anh hùng! Bậc chiến thắng, người dẫn đầu đoàn lữ hành,
hãy đi khắp thế gian, không còn nợ nần.
Xin Thế Tôn hãy thuyết giảng Chánh pháp!
Sẽ có những người thấu hiểu!"

Khi ấy, Đức Phật, hiểu được lời thỉnh cầu của vị Phạm thiên, với lòng từ bi đối với chúng sanh, ngài đã dùng Phật nhãn quan sát thế gian. Và Đức Phật thấy có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần, và có những chúng sanh mắt vướng nhiều bụi trần; có những người căn tánh lanh lợi và có những người căn tánh yếu kém, có những người phẩm chất tốt và có những người phẩm chất xấu, có người dễ dạy và có người khó dạy. Và có một số người sống mà thấy được sự nguy hiểm trong lỗi lầm liên quan đến thế giới bên kia, trong khi những người khác thì không.

Giống như trong một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, chúng phát triển dưới nước. Một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước, vươn đến mặt nước. Và một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước nhưng vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không dính một giọt nước nào.

Cũng vậy, Đức Phật thấy có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần, và có những chúng sanh mắt vướng nhiều bụi trần; có những người căn tánh lanh lợi và có những người căn tánh yếu kém, có những người phẩm chất tốt và có những người phẩm chất xấu, có người dễ dạy và có người khó dạy. Và có một số người sống mà thấy được sự nguy hiểm trong lỗi lầm liên quan đến thế giới bên kia, trong khi những người khác thì không.

Khi đã thấy vậy, ngài đáp lại Phạm thiên Sahampati bằng một bài kệ:

“Cánh cửa bất tử đã rộng mở!
Ai có tai hãy lắng nghe và đặt niềm tin.
Hỡi Phạm thiên, vì nghĩ rằng sẽ phiền toái,
— nên ta đã không giảng
Chánh pháp cao siêu, vi diệu giữa nhân gian.”

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, biết rằng lời thỉnh cầu của mình để Đức Phật thuyết giảng Chánh pháp đã được chấp thuận, liền cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Thỉnh Cầu (S.i. 136)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.

2. Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:

3. “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.”

4. Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được nghe, được Thế Tôn nói lên:

Pháp Ta chứng khó khăn,
Sao nay Ta nói lên?
Tham, sân chi phối ai,
Khó chứng ngộ pháp này.
Pháp này đi ngược dòng,
Vi diệu và thâm sâu,
Khó thấy, rất vi tế.
Những ai ưa ái dục,
Bị vô minh bao phủ,
Rất khó thấy pháp này.

5. Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.

6. Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp”.

7. Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

8. Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe) những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.

9. Phạm thiên Sahampati nói lên như vậy. Nói xong như vậy, vị ấy lại nói thêm như sau:

Tại xứ Magadha,
Thuở trước có hiện ra,
Tà pháp không thanh tịnh,
Do uế tâm suy diễn.
Mở cửa bất tử này,
Ðể họ được nghe pháp,
Do bậc Thánh vô uế,
Ðã chơn chánh giác ngộ.
Như đứng trên tảng đá,
Tại đỉnh một núi cao,
Ðưa mắt nhìn xung quanh,
Quần chúng (dưới chân mình).
Cũng vậy, Ngài Thiện Thệ,
Leo lên lầu Chánh pháp,
Biến nhãn, không sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh
Bị ưu tư sầu khổ,
Bị sanh già áp bức.
Anh hùng, hãy đứng lên,
Bậc Chiến thắng chiến trường,
Vị Trưởng đoàn lữ khách,
Ðấng Thoát ly nợ nần,
Thế Tôn hãy thuyết pháp,
Bộ hành khắp thế gian,
Có người nhờ được nghe,
Sẽ thâm hiểu diệu nghĩa.

10. Rồi Thế Tôn biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, vì lòng thương xót đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn.

11. Thế Tôn trong khi nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm.

12. Ví như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy, Thế Tôn trong khi với Phật nhãn nhìn quanh thế giới, thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác, và sự nguy hiểm của các hành động lỗi lầm.

13. Thấy vậy, Ngài trả lời cho Phạm thiên Sahampati với những bài kệ:

Hãy rộng mở cho họ,
Cửa trường sanh bất tử,
Hỡi những ai có tai,
Hãy giải thoát tà tín,
Ý thức sự nguy hại,
Ta sẽ có thuyết giảng

Pháp tốt đẹp vi diệu,
Giữa nhân loại, chúng sanh,
Ôi Phạm thiên Sahampati!

14. Rồi Phạm thiên Sahampati biết được: “Ta đã tạo ra cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, nên đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ ấy.

SN 6.2 Sự Tôn Kính Gāravasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi ngài mới giác ngộ, Đức Phật đang ở tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Khi ấy, trong lúc độc cư thiền định, tâm trí ngài khởi lên ý nghĩ này: “Sống mà không có sự tôn kính và nể trọng thì thật không vui. Ta nên tôn kính, nể trọng và nương tựa vào vị sa-môn hay bà-la-môn nào đây?”

Rồi ngài nghĩ:

"Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giới hạnh, nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác trong thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—mà thành tựu về giới hạnh hơn ta, để ta phải tôn kính, nể trọng và nương tựa.

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện định (immersion / sự tập trung tâm trí), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác… mà thành tựu về định hơn ta…

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện trí tuệ, nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác… mà thành tựu về trí tuệ hơn ta…

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giải thoát (freedom / sự tự do khỏi mọi ràng buộc), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác… mà thành tựu về giải thoát hơn ta…

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / cái thấy và biết về sự giải thoát), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác trong thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—mà thành tựu về giải thoát tri kiến hơn ta, để ta phải tôn kính, nể trọng và nương tựa. Vậy tại sao ta không tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính Chánh pháp mà ta đã giác ngộ?"

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati biết được suy nghĩ của Đức Phật. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt y qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:

“Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Tất cả các bậc A-la-hán, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã sống trong quá khứ đều tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này. Tất cả các bậc A-la-hán, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sẽ sống trong tương lai cũng sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này. Cầu mong Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hiện tại, cũng sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này.”

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy nói tiếp:

"Tất cả Chư Phật trong quá khứ,
Chư Phật của tương lai,
và Đức Phật hiện tại—
người tiêu diệt sầu muộn của bao chúng sanh—

đều tôn kính Chánh pháp
các ngài đã sống, đang sống,
và cũng sẽ sống như vậy.
Đây là bản chất của Chư Phật.

Vì vậy, người nào quan tâm đến hạnh phúc của chính mình,
và muốn trở thành phiên bản tốt nhất có thể,
nên tôn kính Chánh pháp,
ghi nhớ lời dạy của Chư Phật."

II. Cung Kính .

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.

2. Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật là khó khăn, sống không có cung kính, không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn”.

3. Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: “Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác,với giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.

4. “Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác…”

5. “Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ…”

6. " Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ…"

7. “Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính, tôn trọng và sống y chỉ”.

8. “Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này”.

9. Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

10. Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

11. − Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.

12. Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:

Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Ðoạn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy,
Ðã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Ðối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Ðại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Ðẳng Giác.

SN 6.3 Cùng với Brahmadeva Brahmadevasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī, tại Tịnh xá Anāthapiṇḍika trong Rừng Jeta.

Lúc bấy giờ, có một bà-la-môn phu nhân có một người con trai tên là Brahmadeva, đã từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia tu hành dưới sự dẫn dắt của Đức Phật.

Rồi Tôn giả Brahmadeva, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài đã sống, tự mình chứng đắc bằng trí tuệ của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của các gia đình cao quý đã từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.

Ngài hiểu rằng: “Sanh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn tất; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì phải làm ở nơi này nữa.” Và Tôn giả Brahmadeva đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Sau đó, vào buổi sáng, Tôn giả Brahmadeva đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Đi khất thực không phân biệt ở Sāvatthī, ngài đến nhà của mẹ mình.

Lúc bấy giờ, mẹ của Brahmadeva, vị bà-la-môn phu nhân, đang thực hiện một lễ cúng dường thường lệ cho Phạm thiên.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati nghĩ: “Mẹ của Tôn giả Brahmadeva, vị bà-la-môn phu nhân này, đang thực hiện một lễ cúng dường thường lệ cho Phạm thiên. Tại sao ta không đến và khơi dậy trong bà một cảm giác cấp bách?”

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trong nhà của mẹ Brahmadeva. Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, đứng giữa không trung, nói với mẹ của Brahmadeva bằng những vần kệ:

"Thưa bà, cõi trời Phạm thiên ở rất xa nơi đây,
nơi mà bà thường xuyên cúng dường.
Nhưng Phạm thiên không ăn loại thức ăn đó.
Tại sao lại cầu nguyện, khi bà không biết con đường đến cõi trời?

Brahmadeva này, thưa bà,
không còn vướng bận, đã vượt qua các vị trời.
Không sở hữu gì, không nuôi dưỡng ai khác,
— một Tỷ kheo
đã vào nhà bà để khất thực.

Ngài xứng đáng với những lễ vật dâng cúng cho các vị trời,
— một bậc thầy tri thức, đã tiến hóa.
Ngài xứng đáng với sự cúng dường
— từ trời và người.
Đã xua tan mọi điều ác, ngài không còn ô uế.
Với tâm thanh lương, ngài đi tìm thức ăn.

Ngài không có quá khứ và tương lai,
an lạc, không mây mờ, không phiền muộn,
— không cần hy vọng,
ngài đã đặt xuống cây gậy
— đối với mọi sinh vật, dù mạnh hay yếu.
Vậy hãy để ngài thưởng thức lễ vật hảo hạng của bà.

Với tâm an tịnh, ngài đã rời xa đám đông,
ngài đi lại như một con voi đã được thuần hóa, không bị xáo động.
Ngài là một Tỷ kheo có giới đức tốt đẹp, với tâm giải thoát hoàn toàn.
Vậy hãy để ngài thưởng thức lễ vật hảo hạng của bà.

Với niềm tin không lay chuyển vào ngài,
hãy dâng cúng lễ vật của bà
— cho người xứng đáng.
Giờ đây khi bà đã thấy bậc thánh nhân đã vượt qua bờ kia,
— thưa bà,
hãy tạo phước đức vì hạnh phúc tương lai!"

Với niềm tin không lay chuyển vào ngài,
bà đã dâng cúng lễ vật của mình
— cho người xứng đáng.
Sau khi thấy bậc thánh nhân đã vượt qua bờ kia,
— vị bà-la-môn phu nhân
đã tạo phước đức vì hạnh phúc tương lai.

III. Phạm Thiên .

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ con một nữ Bà-la-môn, tên là Brahmadeva đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn.

3. Rồi Tôn giả Brahmadeva sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay hiện tại với thắng trí tự mình chứng đắc, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Và Tôn giả Brahmadeva trở thành một vị A-la-hán.

4. Rồi Tôn giả Brahmadeva vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Trong khi bộ hành thứ lớp khất thực ở Sàvatthi, Tôn giả Brahmadeva đi đến nhà người mẹ của mình.

5. Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn, mẹ Tôn giả Brahmadeva, thường làm lễ cúng dường Phạm thiên.

6. Rồi Phạm thiên Sahampati suy nghĩ: “Nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva này, thường làm lễ cúng dường Phạm thiên. Vậy ta hãy đến bà ấy và làm cho bà chấn động”.

7. Rồi Phạm thiên Sahampati, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trong nhà mẹ Tôn giả Brahmadeva.

8. Rồi Phạm thiên Sahampati đứng giữa hư không, nói lên bài kệ này với nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva:

Ôi! Nữ Bà-la-môn,
Phạm thiên giới rất xa,
Chính Bà thường cúng dường,
Cho chính Phạm thiên ấy,
Món cúng dường như vậy,
Không món ăn Phạm thiên.
Người bập bẹ làm gì,
Chưa biết Phạm thiên đạo.
Này nữ Bà-la-môn,
Brahmadeva này
Là con trai của bà,
Ngài đoạn mọi sanh y,
Chứng pháp siêu Thiên giới,
Khất sĩ, không sở hữu,
Không nuôi dưỡng một ai.
Vị ấy nay đã đến,
Nhà Bà để khất thực,
Xứng đáng được cúng dường,
Thâm hiểu các Thánh điển,
Các căn khéo tu tập,
Nhơn, Thiên xứng cúng dường.
Vất ngoài mọi tà ác,
Thoát ly mọi nhiễm ô.
Ngài đi, tìm độ thực,
Lắng dịu mọi ưu phiền,
Về sau ngài không có,
Về trước, ngài cũng không.
Vắng lặng, không mù quáng,
Não phiền, không đắm say.
Ngài bỏ rơi gậy gộc,
Ðối kẻ yếu, người mạnh.
Mong ngài được thọ hưởng,
Món thượng, vị Bà dâng,
Không bị ác quân phá,
Tâm tư thuần lắng dịu.
Như voi thuần, ngài đi,
Thoát ly mọi ái dục.
Vị Tỷ-kheo trì giới,
Tâm tư khéo giải thoát,
Hãy mời ngài thọ hưởng
Thượng vị Bà cúng dường.
Bà hãy dâng cúng dường.
Lên ngài, Bà tin tưởng,
Với lòng tin bất động,
Xứng đáng Bà cúng dường.
Hãy làm điều phước đức,
Dành an lạc đời sau.
Này nữ Bà-la-môn,
Nay Bà đã thấy Ngài.
Bậc Thánh nhân ẩn sĩ,
Bậc vượt khỏi bộc lưu.

9. Bà hãy dâng cúng dường
Lên ngài, Bà tin tưởng,
Với lòng tin bất động,
Xứng đáng Bà cúng dường.
Bà đã làm công đức,
Dành an lạc đời sau,
Này Nữ Bà-la-môn,
Nay bà đã thấy ngài,
Bậc Thánh nhân ẩn sĩ,
Bậc vượt khỏi bộc lưu.

SN 6.4 Cùng với Phạm Thiên Baka Bakabrahmasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī, tại Tịnh xá Anāthapiṇḍika trong Rừng Jeta.

Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka có một tà kiến (harmful misconception / cái thấy sai lầm, lệch lạc) như sau: “Cái này là thường hằng, cái này là vĩnh cửu, cái này là bất diệt, cái này là toàn vẹn, cái này không thể hoại diệt. Vì đây là nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và không có lối thoát nào khác ngoài nơi này.”

Khi ấy, Đức Phật biết được suy nghĩ của Phạm thiên Baka. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Phạm thiên Baka thấy Đức Phật từ xa đến và nói với ngài: “Xin mời, thiện hữu! Chào mừng, thiện hữu! Đã lâu lắm rồi ngài mới có dịp đến đây. Vì nơi này là thường hằng, là vĩnh cửu, là bất diệt, là toàn vẹn, không thể hoại diệt. Vì đây là nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và không có lối thoát nào khác ngoài nơi này.”

Khi vị ấy nói xong, Đức Phật nói với vị ấy: “Than ôi, Phạm thiên Baka đã lạc vào vô minh! Than ôi, Phạm thiên Baka đã lạc vào vô minh! Bởi vì cái thực sự là vô thường, không bền vững, tạm bợ, không toàn vẹn, và có thể hoại diệt, thì vị ấy lại nói là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, toàn vẹn, và không thể hoại diệt. Và nơi có sinh, già, chết, qua đời, và tái sinh, thì vị ấy lại nói là không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và mặc dù có một lối thoát khác ngoài nơi này, vị ấy lại nói rằng không có lối thoát nào khác ngoài nơi này.”

“Này Gotama, chúng tôi bảy mươi hai người tạo phước
— giờ đây là những người nắm giữ quyền lực,
đã vượt qua sinh và lão.
Đây là lần tái sinh cuối cùng của chúng tôi với tư cách là Phạm thiên,
— hỡi bậc thầy tri thức.
Và bây giờ nhiều người cầu nguyện chúng tôi.”

“Nhưng, này Baka, tuổi thọ ở đây ngắn ngủi, không dài,
mặc dù ông nghĩ nó dài.
Ta biết rằng tuổi thọ của ông
là hai quinquadecillion năm, hỡi Phạm thiên.”

“Bạch Thế Tôn, tôi là người có tầm nhìn vô hạn,
đã vượt qua sinh, lão và sầu muộn.
Những giới luật và nghi lễ nào
— tôi đã thực hành trong quá khứ?
Xin hãy giải thích cho tôi để tôi có thể hiểu.”

"Ông đã cho nhiều người uống nước
những người bị khát và nóng bức.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Khi những người ở Bờ sông Nai bị bắt,
ông đã giải thoát những người bị bắt khi họ bị dẫn đi.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Khi một chiếc thuyền trên sông Hằng bị bắt
bởi một con rồng hung dữ thèm thịt người,
ông đã giải thoát nó bằng sức mạnh phi thường.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Ta từng là người hầu của ông tên là Kappa.
Ông nghĩ rằng anh ta thông minh và trung thành.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc."

“Ngài chắc chắn hiểu rõ tuổi thọ này của tôi.
Và những người khác, ngài cũng biết;
— đó là lý do ngài là Đức Phật.
Và đó là lý do tại sao vinh quang rực rỡ của ngài
chiếu sáng cả cõi trời Phạm thiên.”

IV. Phạm Thiên Baka (S.i.142)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: “Ðây là thường. Ðây là thường hằng. Ðây là thường trú. Ðây là viên mãn. Ðây là bất động. Ðây là không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và ở ngoài đây ra, không có một sự giải thoát nào khác”.

3. Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên Baka. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất ở Jetavana (Thắng Lâm) và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.

4. Phạm Thiên Baka thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền bạch Thế Tôn:

− Hãy đến đây, Tôn giả ! Ðón chào mừng Tôn giả! Thưa Tôn giả, đã từ lâu Tôn giả tạo ra cơ hội này, tức là đến đây. Thưa Tôn giả, đây là thường. Ðây là thường hằng. Ðây là thường trú. Ðây là viên mãn. Ðây là bất động. Ðây là không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi. Ngoài đây ra, không có một pháp giải thoát nào khác hơn.

5. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Phạm thiên Baka:

− Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ở đây, cái vô thường lại nói là thường. Cái không thường hằng lại nói là thường hằng. Cái không thường trú lại nói là thường trú. Cái không viên mãn lại nói là viên mãn. Cái không bất động lại nói là bất động. Và ở đây có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói ở đây không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Và có pháp giải thoát khác nữa lại nói là không có pháp giải thoát nào khác.

6. (Baka):

Này Ngài Gotama,
Bảy hai công đức nghiệp,
Chúng ta ngự thế giới,
Chinh phục sanh và già,
Ðây đời sống cuối cùng,
Thâm hiểu Thánh Vệ-đà,

Ðạt được Phạm thiên vị,
Nhiều người lễ bái ta.

7. (Thế Tôn):

Ngắn thay đời sống này,
Thọ mạng đâu có dài,
Chỉ có Ông, Baka,
Nghĩ rằng thọ mạng dài,
Ta biết thọ mạng Ông,
Này Brahma như vậy,
Khoảng trăm ngàn năm dư,
(Nirabbudànam).

8. (Baka):

Nếu Ngài là Thế Tôn,
Thấy được sự bất tận,
Ngài vượt qua, chinh phục,
Sanh già và sầu muộn,
Giới hạnh thuở xưa ấy,
Nào ích gì cho con,
Hãy nói lên cho con,
Ðể con biết rõ ràng.

9. (Thế Tôn):

Có khá đông nhiều người,
Khát nước và nhiệt não,
Quá khứ Ông cho uống,
Và cứu độ nhiều người.
Chính giới ấy, hạnh ấy
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức
Ta có nhớ như vậy.
Tại bờ sông Sơn Dương,
Khi quần chúng bị bắt,
Ông giải thoát cho họ,
Ông dắt trốn kẻ tù.
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.
Khi giữa dòng sông Hằng,
Có thuyền bị công hãm,
Bởi loại rắn bạo ngược
Muốn nuốt sống loài Người,
Với sức mạnh thần lực,
Ông chinh phục, giải cứu,
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của ông trong thời xưa,

Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.
Ta với tên Kappa,
Một thời đệ tử Ông,
Ta được Ông xác nhận,
Bậc thông minh trí tuệ,
Chính giới ấy, hạnh ấy,
Của Ông trong thời xưa,
Như kẻ ngủ được thức,
Ta có nhớ như vậy.

10. (Baka):

Chắc chắn Ngài được biết,
Thọ sanh con như vậy,
Ngài cũng biết người khác,
Vì Ngài, bậc Giác Ngộ.
Như vậy oai đức Ngài,
Chói sáng là như vậy,
Hào quang Ngài sáng chói,
An trú Phạm thiên giới.

SN 6.5 Một Vị Phạm Thiên Nào Đó Aññatarabrahmasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Phạm thiên nào đó có tà kiến như sau: “Không có sa-môn hay bà-la-môn nào có thể đến đây!”

Khi ấy, Đức Phật biết được suy nghĩ của vị Phạm thiên đó. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó. Rồi Đức Phật ngồi kiết già trên không trung, phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại (fire element / yếu tố lửa).

Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna nghĩ: “Hiện tại Đức Phật đang ở đâu?” Với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy những điều vượt ngoài tầm mắt thường) thanh tịnh và siêu phàm, ngài thấy Đức Phật đang ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại. Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó. Rồi Mahāmoggallāna—định vị ở phía đông, bên dưới Đức Phật—ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại.

Rồi Tôn giả Mahākassapa… định vị ở phía nam…

Tôn giả Mahākappina… định vị ở phía tây…

Tôn giả Anuruddha… định vị ở phía bắc, bên dưới Đức Phật, ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại.

Khi ấy, Mahāmoggallāna nói với vị Phạm thiên đó bằng những vần kệ:

“Thưa ngài, ngài vẫn còn giữ quan điểm cũ
mà ngài đã có trong quá khứ?
Hay ngài có thấy ánh hào quang
vượt trên cõi trời Phạm thiên không?”

“Thưa thiện hữu, tôi không còn giữ quan điểm đó
mà tôi đã có trong quá khứ.
Tôi thấy ánh hào quang
vượt trên cõi trời Phạm thiên.
Vậy làm sao hôm nay tôi có thể nói
rằng tôi là thường hằng và vĩnh cửu?”

Sau khi đã khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, Đức Phật biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra tại Rừng Jeta.

Khi ấy, vị Phạm thiên đó nói với một thành viên trong đoàn tùy tùng của mình: “Này thiện hữu, xin hãy đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna và nói với ngài rằng: ‘Thưa thiện hữu Moggallāna, có đệ tử nào khác của Đức Phật có thần thông và uy lực tương đương với các bậc đáng kính Moggallāna, Kassapa, Kappina, và Anuruddha không?’”

“Vâng, thưa thiện hữu,” thành viên tùy tùng đó trả lời. Vị ấy đến gặp Moggallāna và hỏi như đã được chỉ dẫn.

Khi ấy, Mahāmoggallāna nói với thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó bằng những vần kệ:

“Có nhiều đệ tử của Đức Phật
đã chứng đắc tam minh (three knowledges / ba loại trí tuệ cao siêu),
và đã đạt được thần thông,
— chuyên về đọc tâm ý người khác,
họ là những bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.”

Khi ấy, thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Mahāmoggallāna đã nói, đã đến gặp vị Phạm thiên đó và nói với vị ấy: "Thưa thiện hữu, Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói thế này:

‘Có nhiều đệ tử của Đức Phật
đã chứng đắc tam minh,
và đã đạt được thần thông,
— chuyên về đọc tâm ý người khác,
họ là những bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.’"

Đó là những gì thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó đã nói. Hài lòng, vị Phạm thiên đó đã tán thành những gì thành viên tùy tùng của mình nói.

V. Tà Kiến Khác (S.i.144)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, một Phạm thiên khác có khởi lên một ác tà kiến như sau: “Không một Sa-môn hay Bàla-môn nào có thể đến ở đây”.

3. Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên ấy. Như người lực sĩ…,… hiện ra trong Phạm thiên giới ấy.

4. Rồi Thế Tôn ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa.

5. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”.

6. Mahà Moggallàna, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.

7. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna ngồi kiết-già giữa hư không về phía đông, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.

8. Rồi Tôn giả Mahà Kasspa (Ðại Ca-diếp) khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Mahà Kassapa thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không…,… thấy vậy như nhà lực sĩ…,… cũng vậy, biến mất ở Jetavana, hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa ngồi kiết-già giữa hư không về phía Nam, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.

9. Rồi Mahà Kappina (Ðại Kiếp-tân-na) khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”

10. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Mahà Kappina thấy Thế Tôn…,… toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ…,… cũng vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kappina ngồi kiết-già giữa hư không về phía Tây, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.

11. Rồi Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà) khởi lên ý nghĩ: “Thế Tôn hiện nay đang trú ở đâu?”. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Anuruddha thấy…,… hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Anuraddha ngồi kiết-già giữa hư không về phía Bắc, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.

12. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên ấy:

Này Hiền giả, hôm nay,
Người còn giữ tà kiến
Như tà kiến của Ông,
Ðã gìn giữ thời xưa.
Ông có thấy hào quang
Siêu việt Phạm thiên giới?

13. (Phạm thiên ấy):

Này Thân hữu, nay tôi
Không còn giữ tà kiến,
Như tà kiến của tôi,
Ðã gìn giữ thời xưa.
Tôi có thấy hào quang,
Siêu việt Phạm thiên giới,
Làm sao tôi chấp nhận:
“Tôi là thường, là hằng”?

14. Rồi Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy dao động, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất tại Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Jetavana.

15. Rồi Phạm thiên ấy gọi một Phạm thiên chúng:

− Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna: “Thưa Tôn giả Moggallàna, bậc Thế Tôn ấy có những vị đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallàna, Kassapa, Kappina và Anuruddha?”

16. − Thưa vâng, Tôn giả.

Phạm thiên chúng ấy vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna.

17. Sau khi đến, vị ấy thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna:

− Thưa Tôn giả Moggallàna, bậc Thế Tôn ấy có những đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallàna, Kassapa, Kappina, Anuruddha?

18. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên chúng ấy:

Chứng ba minh thần lực,
Khéo đọc hiểu tâm người,
Bậc lậu tận La-hán,
Ðệ tử Phật rất nhiều.

19. Rồi Phạm thiên chúng ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallàna nói, đi đến Ðại Phạm thiên; sau khi đến, nói với vị Phạm thiên ấy:

− Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahà Moggallàna nói như sau:

"Chứng ba minh thần lực,
Khéo đọc hiểu tâm người,
Bậc lậu tận La-hán,
Ðệ tử Phật rất nhiều."

20. Phạm thiên chúng ấy nói như vậy. Vị Phạm thiên kia hoan hỷ, tín thọ lời nói của Phạm thiên chúng ấy.

SN 6.6 Vị Phạm Thiên Sao Nhãng Brahmalokasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày.

Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa. Nhưng Subrahmā nói với Suddhāvāsa: “Thiện hữu, bây giờ không phải là lúc thích hợp để đảnh lễ Đức Phật. Ngài đã nhập thất để thiền định ban ngày. Nhưng có một cõi trời Phạm thiên nọ đang thành công và thịnh vượng, trong khi vị Phạm thiên sống ở đó lại sao nhãng. Nào, chúng ta hãy đến cõi trời Phạm thiên đó và khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên ấy!”

“Vâng, thiện hữu,” Suddhāvāsa trả lời.

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, họ biến mất khỏi trước mặt Đức Phật và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Vị Phạm thiên đó thấy các vị trời kia từ xa đến và nói với họ: “Này các thiện hữu, các vị từ đâu đến vậy?”

“Thiện hữu, chúng tôi đến từ sự hiện diện của Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài không nên đến hầu cận Thế Tôn đó sao?”

Khi họ nói xong, vị Phạm thiên đó từ chối chấp nhận lời khuyên của họ. Vị ấy tự nhân mình lên một ngàn lần và nói với Subrahmā: “Thiện hữu, ngài không thấy rằng tôi có thần thông như vậy sao?”

“Tôi thấy điều đó, thiện hữu.”

“Vì tôi có thần thông và uy lực như vậy, tôi cần phải đến hầu cận vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác?”

Khi ấy, Subrahmā tự nhân mình lên hai ngàn lần và nói với vị Phạm thiên đó: “Thiện hữu, ngài không thấy rằng tôi có thần thông như vậy sao?”

“Tôi thấy điều đó, thiện hữu.”

“Đức Phật đó còn có thần thông và uy lực hơn cả ngài và tôi. Ngài không nên đến hầu cận Thế Tôn đó sao?”

Khi ấy, vị Phạm thiên đó nói với Subrahmā bằng những vần kệ:

“Có ba trăm con phượng hoàng,
— bốn con thiên nga, và năm con đại bàng.
Cung điện này thuộc về người đã thực hành thiền định.
Nó tỏa sáng, hỡi Phạm thiên,
chiếu sáng cả phương bắc!”

“Vậy thì sao nếu cung điện của ngài tỏa sáng,
chiếu sáng cả phương bắc?
Một người thông minh đã thấy được khiếm khuyết trong sắc tướng,
sự rung động kinh niên của nó, không còn vui thích trong đó.”

Rồi sau khi khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên đó, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa biến mất ngay tại đó. Và sau một thời gian, vị Phạm thiên đó đã đến hầu cận Đức Phật.

VI. Phóng Dật (S.i.146)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang Thiền tịnh độc cư vào buổi trưa.

3. Rồi hai Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Suddhavàsa đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, họ đứng mỗi người dựa vào một cột cửa.

4. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà nói với Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa:

− Này Tôn giả, nay không phải thời để hầu thăm Thế Tôn, Thế Tôn đang Thiền tịnh vào buổi trưa. Và có một Phạm thiên giới phồn vinh và thịnh vượng, tại đấy có Phạm thiên an trú, sống phóng dật. Này Tôn giả, hãy đi đến Phạm thiên giới ấy; sau khi đến hãy làm cho Phạm thiên ấy dao động.

5. − Thưa vâng, Thân hữu.

Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa vâng đáp Bích-chi Phạm thiên Subrahmà.

6. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa, như một lực sĩ…,… cũng vậy, các vị này biến mất trước mặt Thế Tôn và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.

7. Phạm thiên này thấy các Phạm thiên kia từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với các vị Phạm thiên kia:

− Này chư Tôn giả, chư Tôn giả từ đâu đến?

8. − Này Tôn giả, chúng tôi đến, sau khi được diện kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả, Tôn giả nên đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

9. Khi được nói vậy, Phạm thiên này không để ý đến lời nói ấy, tự mình biến hình thành một ngàn thân, rồi nói với Bích-chi Phạm thiên Subrahmà:

− Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta như vậy không?

10. − Này Tôn giả, ta có thấy thần lực, uy đức của Tôn giả như vậy.

11. − Này Tôn giả, thần lực và uy đức của ta như vậy, thời ta còn phải đi hầu thăm một Sa-môn hay Bàla-môn nào khác để làm gì?

12. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà tự thân biến hình thành hai ngàn thân rồi nói với Phạm thiên kia:

− Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta như vậy không?

13. − Này Tôn giả, tôi có thấy thần lực, uy đức của Tôn giả như vậy.

14. − Này Tôn giả, Thế Tôn có đại thần lực và đại uy đức thắng hơn Ông và ta nữa. Này Tôn giả, Tôn giả hãy đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.

15. Rồi Phạm thiên kia nói lên bài kệ với Bích-chi Phạm thiên Subrahmà:

Ba hàng kim sí điểu,
Và bốn hàng thiên nga,
Năm hàng trăm hổ cái
Rực rỡ và sáng chói,
Cung điện này chiếu diệu,
Bừng sáng cả Bắc phương.

16. (Bích-chi Phạm thiên Subrahmà):

Dầu cho cung điện Ông,
Rực rỡ và chói sáng,
Chiếu diệu cả vòm trời,
Bừng sáng cả Bắc phương.
Bậc Thiện Thệ sáng suốt,
Thấy nguy hiểm trong sắc,
Luôn luôn phải biến hoại,
Nên không ái lạc sắc.

17. − Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa; sau khi làm vị Phạm thiên ấy dao động, liền biến mất tại chỗ ấy.

18. Và Phạm thiên ấy, sau một thời gian đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.

SN 6.7 Về Kokālika Kokālikasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày. Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa.

Khi ấy, Subrahmā đọc bài kệ này về Tỷ kheo Kokālika trước sự hiện diện của Đức Phật:

“Người trí nào ở đây lại phán xét
những bậc vô lượng bằng cách đo lường họ?
Tôi nghĩ bất cứ ai làm điều đó
hẳn là một kẻ phàm phu, bị vô minh che lấp.”

VII. Kokàlika (S.i,148)

1. Ở tại Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn Thiền tịnh độc cư vào buổi trưa.

3. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đứng mỗi người dựa vào một cái trụ cửa.

4. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Kokàlika nói lên bài kệ trước mặt Thế Tôn:

Ai là người có trí,
Biết nhận xét phân tích,
Lại muốn đem ước lượng,
Bậc siêu vượt ước lượng?
Ta nghĩ kẻ phàm phu,
Bị hạn chế bao vây,
Làm sao ước lượng được,
Bậc siêu vượt ước lượng?

SN 6.8 Về Katamorakatissaka Katamodakatissasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày. Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa.

Khi ấy, Suddhāvāsa đọc bài kệ này về Tỷ kheo Katamorakatissaka trước sự hiện diện của Đức Phật:

“Người trí nào ở đây lại phán xét
những bậc vô lượng bằng cách đo lường họ?
Tôi nghĩ bất cứ ai làm điều đó
hẳn là một kẻ ngu ngốc, bị vô minh che lấp.”

VIII. Tissaka (S.i,148)

1. Tại Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thiền tịnh độc cư vào buổi trưa.

3. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi người đứng dựa vào một cột trụ cửa.

4. Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Katamodaka Tissaka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Ai là người có trí,
Biết nhận xét phân tích,
Lại muốn đem ước lượng,
Bậc siêu vượt ước lượng?
Ta nghĩ người vô trí,
Bị hạn chế bao vây,
Làm sao ước lượng được,
Bậc siêu vượt ước lượng?

SN 6.9 Cùng với Phạm Thiên Tudu Turūbrahmasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Kokālika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình nguy kịch.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, vị trời độc lập xinh đẹp Tudu, chiếu sáng toàn bộ Rừng Jeta, đến gặp Tỷ kheo Kokālika, và đứng trên không trung nói với ông: “Này Kokālika, hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt.”

“Thưa ngài, ngài là ai?”

“Ta là Tudu, vị trời độc lập.”

“Chẳng phải Đức Phật đã tuyên bố ngài là một vị bất lai (non-returner / người không còn quay trở lại cõi dục) sao? Vậy chính xác thì ngài đang làm gì ở đây? Hãy xem ngài đã đi lạc xa đến mức nào!”

"Một người sinh ra
với một cái rìu trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi họ nói những lời xấu xa.

Khi bạn ca ngợi người đáng bị chỉ trích,
hoặc chỉ trích người đáng được ca ngợi,
bạn tự chọn lấy vận rủi bằng chính miệng mình:
bạn sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là một điều nhỏ nhặt,
nếu tất cả những gì bạn mất là tiền bạc
và tất cả những gì bạn sở hữu, ngay cả chính bạn.
Vận rủi thực sự khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hai quinquadecillion năm,
và thêm năm quattuordecillion năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc cao quý sẽ xuống địa ngục,
vì đã nhắm những lời nói và suy nghĩ xấu xa vào họ."

IX. Tudubrahmà (S.i, 149)

1. Tại Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokàlika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3. Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỷ-kheo Kokàlika.

4. Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỷ-kheo Kokàlika:

− Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.

5. − Ông là ai, này Hiền giả?

6. − Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.

7. − Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?

Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình;
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc,
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc (rủi may),
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen!
Lớn hơn, sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình!
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục.

SN 6.10 Cùng với Kokālika Kokālikasutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo Kokālika đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên và nói với ngài: “Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối.”

Khi điều này được nói ra, Đức Phật nói với Kokālika: “Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt.”

Lần thứ hai, Kokālika nói với Đức Phật: “Mặc dù con có niềm tin và sự tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối.”

Lần thứ hai, Đức Phật nói với Kokālika: “Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt.”

Lần thứ ba, Kokālika nói với Đức Phật: “Mặc dù con có niềm tin và sự tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối.”

Lần thứ ba, Đức Phật nói với Kokālika: “Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt.”

Khi ấy, Kokālika đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi rời đi. Không lâu sau khi ông rời đi, cơ thể ông nổi lên những mụn nhọt to bằng hạt cải. Những mụn nhọt lớn dần bằng hạt đậu xanh, rồi hạt đậu gà, rồi hạt táo tàu, rồi quả táo tàu, rồi quả myrobalan, rồi quả táo gỗ chưa chín, rồi quả táo gỗ chín. Cuối cùng chúng vỡ ra, mủ và máu chảy ra. Khi ấy, Tỷ kheo Kokālika chết vì căn bệnh đó. Ông đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Rừng Jeta, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và nói với ngài: “Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Kokālika đã qua đời. Ông đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.”

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

Khi ấy, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các Tỷ kheo tất cả những gì đã xảy ra.

Khi ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, tuổi thọ trong địa ngục Sen Hồng là bao lâu?”

“Rất dài, Tỷ kheo. Không dễ để tính toán nó kéo dài bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ không?”

“Có thể,” Đức Phật nói.

"Giả sử có một xe bò Kosala chứa hai mươi giạ hạt vừng. Và cứ sau mỗi trăm năm, có người lấy ra một hạt từ đó. Bằng cách này, xe bò Kosala chứa hai mươi giạ hạt vừng sẽ hết nhanh hơn một kiếp sống trong địa ngục Abbuda.

Bây giờ, hai mươi kiếp sống trong địa ngục Abbuda bằng một kiếp sống trong địa ngục Nirabbuda. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Nirabbuda bằng một kiếp sống trong địa ngục Ababa. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Ababa bằng một kiếp sống trong địa ngục Aṭaṭa. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Aṭaṭa bằng một kiếp sống trong địa ngục Ahaha. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Ahaha bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Vàng. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Vàng bằng một kiếp sống trong địa ngục Thơm Ngát. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Thơm Ngát bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Xanh. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Xanh bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Trắng. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Trắng bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Hồng.

Tỷ kheo Kokālika đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Một người sinh ra
với một cái rìu trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi họ nói những lời xấu xa.

Khi bạn ca ngợi người đáng bị chỉ trích,
hoặc chỉ trích người đáng được ca ngợi,
bạn tự chọn lấy vận rủi bằng chính miệng mình:
bạn sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là một điều nhỏ nhặt,
nếu tất cả những gì bạn mất là tiền bạc
và tất cả những gì bạn sở hữu, ngay cả chính bạn.
Vận rủi thực sự khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hai quinquadecillion năm,
và thêm năm quattuordecillion năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc cao quý sẽ xuống địa ngục,
vì đã nhắm những lời nói và suy nghĩ xấu xa vào họ."

X. Kokàlika (S.i,119)

1. Tại Sàvatthi.

2. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.

4. Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokàlika:

− Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.

5. Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng

ác dục. Họ bị ác dục chi phối.

6. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokalika:

− Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.

7. Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:

− … Họ bị ác dục chi phối.

8. Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỷ-kheo Kokàlika:

− … Sariputta và Moggallàna thật là hòa ái.

9. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.

10. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.

11. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.

12. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.

13. Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỷ-kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.

14. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.

15. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: " Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sàriputta và Moggattàna". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

16. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?

17. − Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.

18. − Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?

19. Thế Tôn đáp:

− Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khàrika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Sen trắng). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sàriputta và Moggallàna.

20. Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:

Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do nơi miệng của mình,
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen.
Lớn hơn sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình.
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,

Sẽ sa đọa địa ngục.

Chương Hai

SN 6.11 Cùng với Sanaṅkumāra Sanaṅkumārasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, bên bờ sông Sappinī.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, vị trời xinh đẹp Sanaṅkumāra, chiếu sáng toàn bộ bờ sông Sappinī, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

“Giai cấp quý tộc là tốt nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về tri thức và đức hạnh
là tốt nhất trong các vị trời và loài người.”

Đó là những gì vị trời Sanaṅkumāra đã nói, và bậc Đạo Sư đã tán thành. Khi ấy, vị trời Sanaṅkumāra, biết rằng bậc Đạo Sư đã tán thành, liền cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

II. Phẩm Thứ Hai

I. Sanamkumàra - Thường Ðồng tử (S.i,153)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), trên bờ sông Sappini.

2. Rồi Phạm thiên Sanamkumàra, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng bờ sông Sappini, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Phạm thiên Sanamkumàra nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Sát-đế-lỵ tối thắng,
Giữa người tin giai cấp.
Vị đầy đủ trí, đức,
Tối thắng giữa Nhơn, Thiên.

4. Phạm thiên Sanamkumàra nói như vậy, và bậc Ðạo Sư chấp nhận.

5. Rồi Phạm thiên Sanamkumàra biết được: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.

SN 6.12 Về Devadatta Devadattasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu, không lâu sau khi Devadatta đã rời đi.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ núi Linh Thứu, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

“Cây chuối bị hủy hoại bởi chính quả của nó,
cũng như cây tre và cây sậy.
Danh vọng hủy hoại kẻ tội lỗi,
như việc mang thai hủy hoại con la.”

II. Devadatta (S.i,153)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, trên núi Linh Thứu, khi Devadatta bỏ đi không bao lâu.

2. Rồi Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Devadatta:

Cây chuối bị trái giết,
Cũng vậy cây tre, lau.
Danh vọng giết kẻ ác,
Như thai giết con la.

SN 6.13 Tại Andhakavinda Andhakavindasutta

Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Magadha, tại Andhakavinda.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, trong khi một cơn mưa phùn nhẹ nhàng rơi xuống.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Andhakavinda, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Nên thường xuyên lui tới những nơi ở hẻo lánh,
và thực hành để được giải thoát khỏi các kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc tâm linh).
Nếu bạn không tìm thấy sự vui thích ở đó,
hãy sống trong Tăng đoàn, có hộ trì và chánh niệm.

Đi khất thực từ nhà này sang nhà khác,
với các giác quan được hộ trì, tỉnh táo và chánh niệm.
Nên thường xuyên lui tới những nơi ở hẻo lánh,
không còn sợ hãi, được giải thoát trong sự vô úy.

Nơi những con rắn đáng sợ trườn bò,
nơi sấm chớp lóe lên và trời gầm vang
trong đêm tối;
ở đó một Tỷ kheo thiền định, không hề rùng mình.

Vì điều này ta luôn thấy,
nó không chỉ là những gì kinh điển nói.
Trong một giáo pháp duy nhất
có một ngàn người chiến thắng Tử thần.

Và trong số những người đang tu học có hơn năm trăm,
và mười lần mười chục;
tất cả đều là những bậc nhập lưu (stream-enterers / người đã bước vào dòng thánh),
được giải thoát khỏi việc tái sinh vào cõi súc sanh.

Và đối với những người còn lại
mà tôi nghĩ đã chia sẻ công đức—
tôi thậm chí không thể đếm được họ,
vì sợ nói sai sự thật."

III. Andhakavinda (S.i,154)

1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda.

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, trong bóng đêm, trong khi trời mưa từng hột một.

3. Rồi Phạm thiên Sahampati, trong khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Andhakavinda, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

4. Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Hãy sống đời giải thoát,
Từ bỏ các kiết sử !
Nếu tại đấy không đạt
Ðiều Ông ưa, Ông thích,
Hãy sống giữa chúng Tăng,
Hộ trì, giữ chánh niệm,
Và bộ hành khất thực,
Nhà này đến nhà khác,
Các căn được hộ trì,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Hãy ở chỗ núi non,
Xa vắng các xóm làng,
Thoát ly mọi sợ hãi,
Vô úy, sống giải thoát.
Những chỗ có rắn độc,
Có đêm chớp, sấm vang,
Trong đêm đen tối mịt,
Vị Tỷ-kheo lặng ngồi,
Không run, không hoảng sợ,
Lông tóc không dựng ngược,
Chính mắt con thấy vậy,
Không phải chỉ nghe đồn.
Chính trong một Phạm hạnh,
Ngàn người thoát tử thần.
Hơn năm trăm hữu học,
Mười, mười lần một trăm,
Tất cả chúng Dự lưu,
Khỏi sanh loại bàng sanh.
Còn các vị còn lại,
Theo con đều hưởng phước,
Con đếm không kể xiết,
Sợ rơi vào vọng ngữ.

SN 6.14 Về Aruṇavatī Aruṇavatīsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī. Ở đó, ngài nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ trả lời. Đức Phật nói điều này:

"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một vị vua tên là Aruṇavā. Ông có một kinh đô tên là Aruṇavatī. Đức Phật Sikhī, bậc Thiện Thệ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã sống và được Aruṇavatī hỗ trợ. Đức Phật Sikhī có một cặp đệ tử thượng thủ xuất sắc tên là Abhibhū và Sambhava.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: ‘Này bà-la-môn, chúng ta hãy đến một trong các cõi trời Phạm thiên cho đến khi đến giờ ăn.’

‘Vâng, thưa ngài,’ Abhibhū trả lời. Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, họ biến mất khỏi Aruṇavatī và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: ‘Này bà-la-môn, hãy thuyết giảng Chánh pháp theo cảm hứng của con cho vị Phạm thiên đó, hội chúng của vị ấy, và các thành viên trong đoàn tùy tùng của vị ấy.’

‘Vâng, thưa ngài,’ Abhibhū trả lời. Rồi ngài đã giáo hóa, khuyến khích, truyền lửa, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài pháp thoại.

Nhưng vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy đã phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: ‘Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Làm thế nào mà một đệ tử lại có thể thuyết giảng Chánh pháp trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư?’

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: ‘Này bà-la-môn, vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy đang phàn nàn rằng một đệ tử lại thuyết giảng Chánh pháp trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư. Vậy thì, này bà-la-môn, hãy khuấy động họ nhiều hơn nữa!’

‘Vâng, thưa ngài,’ Abhibhū trả lời. Rồi ngài thuyết giảng Chánh pháp với thân thể hữu hình; với thân thể vô hình; với nửa thân dưới hữu hình và nửa thân trên vô hình; và với nửa thân trên hữu hình và nửa thân dưới vô hình.

Và vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy, tâm trí đầy kinh ngạc và thán phục, đã nghĩ: ‘Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Vị sa-môn có thần thông và uy lực như vậy!’

Khi ấy, Abhibhū nói với Đức Phật Sikhī: ‘Bạch Thế Tôn, con nhớ đã nói điều này giữa Tăng đoàn: “Đứng trong cõi trời Phạm thiên, con có thể làm cho giọng nói của mình được nghe thấy khắp một ngàn thiên hà.”’

‘Bây giờ là lúc, này bà-la-môn! Bây giờ là lúc, này bà-la-môn! Đứng trong cõi trời Phạm thiên, hãy làm cho giọng nói của con được nghe thấy khắp một ngàn thiên hà.’

‘Vâng, thưa ngài,’ Abhibhū trả lời. Đứng trong cõi trời Phạm thiên, ngài đọc bài kệ này:

'Hãy tỉnh thức! Hãy cố gắng hơn nữa!
Hãy tận tâm với giáo pháp của Đức Phật!
Hãy nghiền nát đội quân của Tử thần,
như một con voi nghiền nát một túp lều bằng sậy.

Bất cứ ai sẽ thiền định siêng năng
trong giáo pháp và sự rèn luyện này,
từ bỏ sự luân hồi qua các kiếp sống,
sẽ chấm dứt khổ đau.’

Sau khi đã khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên đó, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, Đức Phật Sikhī và Abhibhū đã biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên đó và hiện ra tại Aruṇavatī.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với các Tỷ kheo: ‘Này các Tỷ kheo, các con có nghe thấy Tỷ kheo Abhibhū đọc một bài kệ khi đang đứng trong một cõi trời Phạm thiên không?’

‘Chúng con có nghe, thưa ngài.’

‘Nhưng chính xác thì các con đã nghe thấy gì?’

'Đây là những gì chúng con đã nghe, thưa ngài:

"Hãy tỉnh thức! Hãy cố gắng hơn nữa!
Hãy tận tâm với giáo pháp của Đức Phật!
Hãy nghiền nát đội quân của Tử thần,
như một con voi nghiền nát một túp lều bằng sậy.

Bất cứ ai sẽ thiền định siêng năng
trong giáo pháp và sự rèn luyện này,
từ bỏ sự luân hồi qua các kiếp sống,
sẽ chấm dứt khổ đau."

Đó là những gì chúng con đã nghe, thưa ngài.’

‘Tốt lắm, tốt lắm, các Tỷ kheo! Thật tốt khi các con đã nghe Tỷ kheo Abhibhū đọc bài kệ này khi đang đứng trong một cõi trời Phạm thiên.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Hài lòng, các Tỷ kheo đã tán thành những gì Đức Phật nói.

IV. Arunavàti (S.i,155)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi…,…

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

3. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

4. Thế Tôn nói như sau:

5. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Arunavà. Này các Tỷ-kheo, kinh đô vua Arunavà này tên là Arunavati. Này các Tỷ-kheo, gần kinh đô Arunavati, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác an trú.

6. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử xuất chúng, thượng túc, tên là Abhibhu và Sambhava.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi Tỷ-kheo Abhibhu:

" − Này Bà-la-môn, chúng ta hãy đi đến một Phạm thiên giới cho đến thời dùng bữa ăn".

8. “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.

9. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy (hai vị) biến mất ở kinh đô Arunavati và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.

10. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Chánh Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:

" − Này Bà-la-môn, hãy nói bài pháp cho Phạm thiên này, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên".

11. “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuyên thuyết bài pháp cho Phạm thiên ấy, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên, khích lệ, làm họ phấn khởi, làm họ hoan hỷ.

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối và nói rằng: “Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?”.

13. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:

“− Này Bà-la-môn, Phạm thiên, Phạm thụ thiên, và Phạm chúng thiên ấy cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối, nói rằng: ‘Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?’ Vậy này Bà-la-môn, hãy làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên càng dao động bội phần hơn nữa”.

14. “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hiện thân thuyết pháp, tàng thân thuyết pháp, hiện nửa thân dưới không hiện nửa thân trên thuyết pháp, hiện nửa thân trên không hiện nửa thân giữa thuyết pháp.

15. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên, tâm khởi lên hy hữu, kỳ diệu nói rằng: “Thật là hy hữu, thật là kỳ diệu, đại thần lực và đại uy lực của vị Sa-môn”.

16. Rồi Tỷ-kheo Abhibhu bạch Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:

"− Bạch Thế Tôn, con xác nhận với lời nói này giữa chúng Tỷ-kheo Tăng: “Ðứng ở Phạm thiên giới, con có thể khiến cho ngàn thế giới nghe được tiếng của con.”

17. “− Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bàla-môn, Ông hãy đứng ở Phạm thiên giới và làm cho ngàn thế giới nghe được tiếng nói của ông”.

18. “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đứng ở Phạm thiên giới và nói lên bài kệ này:

"Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo,
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
An trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau".

19. Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, sau khi làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên dao động, như người lực sĩ…,… biến mất ở Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Arunavati.

20. Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các vị Tỷ-kheo:

“− Này các Tỷ kheo, các Ông có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, nói lên không?”.

21. “− Bạch Thế Tôn, chúng con có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên.”

22. “− Này các Tỷ-kheo, như thế nào các ông nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng lên tại Phạm thiên giới đã nói lên?”

23. "− Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:

Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo.
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
Ai trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.

24. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên."

25. “− Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo. Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên”.

26. Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

SN 6.15 Đại Bát Niết Bàn Parinibbānasutta

Một thời, Đức Phật đang ở giữa hai cây sala trong rừng sala của người Malla tại Upavattana gần Kusinārā vào thời điểm ngài nhập Đại Bát Niết-bàn (full extinguishment / sự tịch diệt hoàn toàn).

Khi ấy, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, ta nói với tất cả các con: ‘Các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy siêng năng tinh tấn.’”

Đây là những lời cuối cùng của bậc Như Lai.

Khi ấy, Đức Phật nhập vào sơ thiền. Ra khỏi đó, ngài nhập vào nhị thiền. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi ngài nhập vào diệt thọ tưởng định.

Rồi ngài ra khỏi diệt thọ tưởng định và nhập vào phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ, không vô biên xứ, tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, và sơ thiền. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi nhị thiền và tam thiền. Rồi ngài nhập vào tứ thiền. Ra khỏi đó, Đức Phật ngay lập tức nhập Đại Bát Niết-bàn.

Khi Đức Phật nhập diệt, cùng với sự tịch diệt hoàn toàn, Phạm thiên Sahampati đọc bài kệ này:

“Tất cả chúng sanh trong thế giới này
đều phải đặt xuống tấm thân này.
Vì ngay cả một bậc Đạo Sư như thế,
không ai sánh bằng trên thế gian,
bậc Như Lai, đã đạt được năng lực,
Đức Phật cũng đã nhập diệt.”

Khi Đức Phật nhập diệt, Sakka, vua của các vị trời, đọc bài kệ này:

“Ôi! Các pháp hữu vi là vô thường,
bản chất của chúng là sinh và diệt;
đã sinh ra, chúng phải diệt;
sự an tịnh của chúng là hạnh phúc.”

Khi Đức Phật nhập diệt, Tôn giả Ānanda đọc bài kệ này:

“Khi ấy có sự kinh hoàng!
Khi ấy họ đã rùng mình!
Khi Đức Phật, người có đủ mọi phẩm chất tốt đẹp,
đã nhập diệt.”

Khi Đức Phật nhập diệt, Tôn giả Anuruddha đọc bài kệ này:

"Không còn hơi thở nữa
đối với bậc vô nhiễm có tâm vững chãi.
Không xao động, tận tâm với sự an tịnh,
bậc Minh Kiến đã nhập diệt.

Ngài đã chịu đựng những cảm giác đau đớn
mà không hề nao núng.
Sự giải thoát của tâm ngài
giống như ngọn đèn đã tắt."

V. Parinibhàna - Bát-Niết-Bàn (S.i,157)

1. Một thời Thế Tôn ở Kusinàrà, tại Upavattana, trong rừng cây ta-la, giữa dân chúng Mallà, giữa hai cây ta-la song thọ trong khi Ngài nhập Niết-bàn.

2. Rồi Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên các Ông, hãy tinh tấn, chớ phóng dật. Các pháp hữu vi là vô thường. Ðây là những lời cuối cùng của Như Lai.

3. Rồi Thế Tôn vào định sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ thư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ, Ngài vào Thức vô biên xứ. Ra Thức vô biên xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ. Ra Vô sở hữu xứ, Ngài vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

4. Ra Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ. Ra Vô sở hữu xứ, Ngài vào Thức vô biên xứ. Ra Thức vô biên xứ, Ngài vào Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ, Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Thế Tôn liền nhập diệt.

5. Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Phạm thiên Brahmà nói lên bài kệ:

Mọi sinh vật ở đời,
Tử bỏ thân năm uẩn,
Bậc Ðạo Sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt Luân trên đời,
Như Lai, đấng Hùng Lực,
Bậc Giác Ngộ nhập diệt.

6. Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Thiên chủ Sakha nói lên bài kệ:

Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Tịnh chỉ chúng, an lạc.

7. Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Tôn giả Anada nói lên bài kệ:

Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật lông tóc dựng ngược,
Bậc Thắng Tướng đầy đủ,
Bậc Giác Ngộ nhập diệt.

8. Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đa) nói lên bài kệ:

Không thở ra, thở vào,
Tâm trú vào chánh định,
Không tham ái, tịch tịnh,
Bậc Biến Nhãn diệt độ.
Với tâm an, bất động,
Ngài cảm thọ lâm chung,
Như đèn sáng chợt tắt,
Tâm giải thoát Niết-bàn.

-ooOoo-