Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Tương Ưng trong Rừng

9. TƯƠNG ƯNG RỪNG

Chương về Trong Rừng

SN 9.1 Ẩn Dật Vivekasutta

Tôi đã nghe như vầy. Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, trong buổi thiền định ban ngày, vị Tỷ kheo ấy đang suy nghĩ những điều xấu xa, bất thiện liên quan đến đời sống thế tục. Vị thiên nhân trú trong khu rừng đó có lòng thương cảm vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần vị Tỷ kheo, muốn sách tấn vị ấy, và nói lên những vần kệ:

"Ngươi vào rừng mong cầu sự ẩn dật,
tâm lại hướng ngoại.
Là một người, ngươi nên xua tan ham muốn với người đời.
Rồi ngươi sẽ hạnh phúc, thoát khỏi tham ái.

Chánh niệm, từ bỏ bất mãn;
hãy để chúng tôi nhắc nhở ngươi về con đường của người thiện.
Vực thẳm bụi trần thật khó vượt qua;
đừng để bụi trần dục lạc kéo ngươi xuống.

Như con chim dính đầy bụi đất
giũ sạch lớp bụi bám víu ấy bằng một cái lắc mình;
cũng vậy, một vị Tỷ kheo siêng năng, chánh niệm
giũ sạch lớp bụi bám víu ấy bằng một cái lắc mình."

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, vị Tỷ kheo cảm thấy cấp bách.

I. Viễn Ly (S.i,197)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ Tỷ-kheo ấy, trong lúc đi nghỉ ban ngày, khởi lên những tư tưởng ác, bất thiện, liên hệ đến gia đình.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

4. Sau khi đến, vị Thiện ấy nói lên những bài kệ với vị Tỷ-kheo này:

Ông ước muốn viễn ly,
Ðã sống trong rừng núi,
Nay tâm Ông vọng động,
Dong duổi theo ngoại giới.
Ông đối mặt với Ông,
Hãy chế ngự lòng dục,
Nhờ vậy, Ông hạnh phúc,
Thoát ly được tham ái.
Hãy từ bỏ bất mãn,
Sống an trú chánh niệm,
Ông thành người hiền thiện,
Ðược chúng tôi tán thán.
Trừ bụi trần địa ngục,
Thật rất khó vượt qua,
Ông chớ vận chuyển theo,
Các bụi trần dục vọng,
Như chim, thân dính bụi,
Rung thân khiến bụi rơi.
Cũng vậy vị Tỷ-kheo,
Tinh cần, trú chánh niệm,
Vùng vẫy khiến rơi rớt,
Những bụi đời dính thân.

5. Tỷ-kheo ấy được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.2 Hãy Đứng Dậy Upaṭṭhānasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, vị Tỷ kheo ấy đã ngủ gật trong lúc hành thiền ban ngày. Vị thiên nhân trú trong khu rừng đó có lòng thương cảm vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần vị Tỷ kheo, muốn sách tấn vị ấy, và nói lên những vần kệ:

"Hãy đứng dậy, Tỷ kheo! Sao lại nằm xuống?
Ngủ để làm gì?
Làm sao người bị khổ đau có thể ngủ yên
khi bị trúng tên?

Ngươi nên phát huy niềm tin
đã dẫn dắt ngươi xuất gia
từ bỏ đời sống thế tục.
Đừng để giấc ngủ chi phối."

"Các dục lạc là vô thường và không ổn định,
nhưng kẻ ngu si vẫn sa vào.
Giữa những người bị trói buộc,
— họ tự do và không vướng bận:
sao lại làm phiền một người xuất gia?

Bằng cách loại bỏ ham muốn và tham lam,
bằng cách vượt qua vô minh,
kiến thức ấy đã được thanh lọc hoàn hảo:
sao lại làm phiền một người xuất gia?

Bằng cách phá tan vô minh với kiến thức,
bằng sự đoạn tận các lậu hoặc,
họ không sầu, không muộn phiền:
sao lại làm phiền một người xuất gia?

Siêng năng, quyết tâm,
luôn luôn kiên trì mạnh mẽ,
hướng đến sự kết thúc:
sao lại làm phiền một người xuất gia?"

II. Săn Sóc, Hầu Hạ (S.i,197)

1. Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

4. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:

Tỷ-kheo, hãy thức dậy,
Sao Ông hãy còn nằm?
Ông được lợi ích gì,
Trong giấc ngủ của ông?
Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,
Bị đánh sao ngủ được?
Vì lòng tin, xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Tín ấy cần phát triển,
Chớ để ngủ chinh phục.

5. (Vị Tỷ-kheo):

Các dục là vô thường,
Chỉ kẻ ngu say đắm,
Ðã giải thoát triền phược,
Không còn bị ái trước.
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ðã nhiếp phục dục ái,
Vượt thoát (lưới) vô minh,
Với chánh trí thanh tịnh,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Với minh phá vô minh,
Ðoạn diệt các lậu hoặc,
Không sầu, không ưu não,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Tinh tấn và nhiệt tâm,
Thường dõng mãnh cầu tiến,
Hướng vọng đến Niết-bàn,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?

SN 9.3 Với Kassapagotta Kassapagottasutta

Có một thời, Tôn giả Kassapagotta đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapagotta, sau khi lui về hành thiền ban ngày, đã cố gắng khuyên bảo một người thợ săn bộ lạc. Khi đó, vị thiên nhân trú trong khu rừng đã đến gần Kassapagotta, muốn sách tấn ngài, và đọc những vần kệ này:

"Một người thợ săn bộ lạc lang thang trên những ngọn đồi hiểm trở
thiếu thông minh, thiếu suy xét.
Khuyên bảo anh ta thật lãng phí thời gian;
vị Tỷ kheo này đối với tôi có vẻ là một kẻ đần độn.

Người thợ săn bộ lạc nghe mà không hiểu,
nhìn mà không thấy.
Dù giáo pháp được nói ra,
kẻ ngu không hiểu được.

Dù ngài có thắp mười ngọn đèn
và mang đến cho anh ta, hỡi Kassapa,
anh ta cũng sẽ không thấy gì,
vì anh ta không có mắt để thấy."

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, Tôn giả Kassapagotta cảm thấy cấp bách.

III. Kassapagotta: Thợ Săn: (S.i,198)

1. Một thời, Tôn giả Kassapagotta trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapagotta, trong khi nghỉ ban ngày, khuyên dạy một người thợ săn.

3. Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

4. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Kassapagotta:

Trên sườn núi cheo leo,
Người thợ săn đang trèo,

Là hạng người thiếu trí,
Không sáng suốt, ngu si,
Tỷ-kheo có khuyên dạy,
Thật uổng phí thời gian.
Ta nghĩ làm như vậy,
Tự tỏ thiếu trí tuệ.
Có nghe cũng không hiểu,
Có nhìn cũng không thấy,
Dầu cho có thuyết pháp,
Kẻ ngu không thấy đích.
Tôn giả Kassapa,
Nếu Ông có cầm tay
Cho đến mười bó đuốc,
Người ấy không thấy được,
Các sắc pháp đối diện,
Vì người ấy không mắt.

5. Tôn giả Kassapagotta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.4 Nhiều Vị Tỷ Kheo Lên Đường Du Hành Sambahulasutta

Có một thời, nhiều vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Sau khi hoàn thành ba tháng an cư mùa mưa, các vị Tỷ kheo ấy đã lên đường du hành. Không thấy các vị Tỷ kheo, vị thiên nhân trú trong khu rừng đã khóc. Và nhân dịp đó, vị ấy đọc vần kệ này:

“Hôm nay thấy bao nhiêu chỗ ngồi trống vắng,
tôi nghĩ chắc họ đã không còn hài lòng.
Họ đã từng uyên bác, những nhà hùng biện xuất sắc!
Các đệ tử của Gotama đã đi đâu rồi?”

Khi vị ấy nói xong, một vị thiên nhân khác đáp lại bằng vần kệ này:

“Họ đã đến Magadha, họ đã đến Kosala,
và một số đang ở vùng đất của người Vajji.
Như những con nai lang thang không ràng buộc,
các vị Tỷ kheo sống không nơi ở cố định.”

IV. Ða Số hay Du Hành (S.i,199)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng.

2. Các Tỷ-kheo ấy an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, bắt đầu đi du hành.

3. Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, không thấy các Tỷ-kheo ấy, liền than van, ưu buồn, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:

Hôm nay tâm của ta,
Cảm thấy không vui vẻ,
Khi thấy nhiều chỗ ngồi,
Trống không, không có người.
Những bậc Ða văn ấy,
Thuyết pháp thật mỹ diệu.
Ðệ tử Gotama,
Hiện nay đang ở đâu?

4. Khi nghe nói vậy, một vị Thiên khác nói lên những bài kệ cho vị Thiên ấy:

Họ đi Magadha,
Họ đi Kosala,
Và một số vị ấy,
Ði đến đất Vajjà.
Như nai thoát bẫy sập,
Chạy nhảy khắp bốn phương.
Tỷ-kheo không nhà cửa,
Sống giải thoát như vậy.

SN 9.5 Với Ānanda Ānandasutta

Có một thời, Tôn giả Ānanda đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đã dành quá nhiều thời gian thông báo cho các tín đồ thế tục. Khi đó, vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm Tôn giả Ānanda, muốn điều tốt nhất cho ngài. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần ngài, muốn sách tấn ngài, và đọc những vần kệ này:

“Ngài đã đến chốn rừng sâu, gốc cây,
với Niết-bàn trong tim.
Hãy thực hành thiền định, hỡi Gotama, đừng sao nhãng!
Sự ồn ào náo nhiệt này có ích gì cho ngài?”

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, Tôn giả Ānanda cảm thấy cấp bách.

V. Ananda (S.i,199)

1. Một thời, Tôn giả Ananda trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda sống quá bận rộn bởi nhiều liên hệ với cư sĩ.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy thương xót Tôn giả Ananda, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn giả Ananda. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Ananda:

Ông đã quyết lựa chọn,
Ðời sống dưới gốc cây,
Tâm Ông quyết nhập một
Với mục đích Niết-bàn.
Cù-đàm, hãy Thiền tư,
Và sống, chớ phóng dật,
Ðối với Ông, ích gì,
Tạp thoại, vô vị ấy?

4. Tôn giả Ananda, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.6 Với Anuruddha Anuruddhasutta

Có một thời, Tôn giả Anuruddha đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Khi đó, một vị thiên nữ tên là Penelope thuộc cõi trời Ba Mươi Ba đã từng là bạn đời của Tôn giả Anuruddha trong một kiếp trước. Vị ấy đến gặp Tôn giả Anuruddha và đọc những vần kệ này:

“Hãy đặt tâm của ngài ở đó,
nơi ngài đã từng sống;
giữa các vị trời của cõi Ba Mươi Ba,
nơi mọi ham muốn đều được thỏa mãn!
Dẫn đầu một đoàn tùy tùng
gồm các thiên nữ, ngài sẽ tỏa sáng!”

“Các thiên nữ đang ở trong một tình trạng đáng thương,
bị kẹt trong thực tại hữu hình.
Và những chúng sinh ấy cũng ở trong một tình trạng đáng thương,
những ai quyến luyến các thiên nữ.”

“Họ không biết đến lạc thú
những ai không thấy Vườn Hoan Hỷ!
Đó là nơi ở của các vị trời quyền uy,
đoàn chúng vinh quang của cõi Ba Mươi!”

"Này kẻ ngu, ngươi không hiểu sao
lời dạy của các bậc A-la-hán:
tất cả các pháp hữu vi là vô thường,
bản chất của chúng là sinh và diệt;
đã sinh ra, chúng phải hoại diệt;
sự lắng dịu của chúng là an lạc.

Hỡi Penelope, người dệt lưới—
không còn nơi ở nào cho ta trong cõi trời nữa.
Luân hồi sinh tử đã chấm dứt,
bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa."

VI. Anuruddha. (S.i,200)

1. Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Rồi một Thiên nữ ở chúng Tàvatimsa, tên là Jàlinii, đời trước là vợ của Tôn giả Anuruddha, đi đến Tôn giả Anuruddha.

3. Sau khi đến, vị ấy nói lên bài kệ với Tôn giả Anuruddha:

Hãy hướng tâm tư Ông,
Vào đời trước của Ông,
Giữa Tam thập tam thiên,
Mọi ái dục thành tựu,
Và Ông được chói sáng,
Giữa Thiên nữ đoanh vây.

4. (Anuruddha):

Bất hạnh thay Thiên nữ,
Họ kiên trú thân kiến,
Cũng bất hạnh, họ sanh,
Bị Thiên nữ chinh phục.

5. (Jàlinii):

Họ chưa biết hạnh phúc,
Chưa thấy Dandana,
Trú xứ các Thiền nhơn,
Danh xưng giới Tam thập.

6. (Anuruddha): Kẻ ngu, Bà không biết,

Lời nói bậc La-hán,
Mọi hành là vô thường,
Phải chịu luật sanh diệt,
Chúng sanh rồi chúng diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.
Hiện nay đối với ta,
Không còn chỗ trú xứ,
Trên cảnh giới chư Thiên,
Ôi này Jàlinì!
Ðường sanh tử đứt đoạn,
Nay tái sanh không còn.

SN 9.7 Với Nāgadatta Nāgadattasutta

Có một thời, Tôn giả Nāgadatta đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgadatta đã vào làng quá sớm và trở về muộn trong ngày. Khi đó, vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm Tôn giả Nāgadatta, muốn điều tốt nhất cho ngài. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần ngài, muốn sách tấn ngài, và đọc những vần kệ này:

"Vào làng quá sớm,
và trở về sau khi đã ở quá lâu trong ngày,
Nāgadatta giao du với người thế tục,
chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ.

Ta lo cho Nāgadatta; ngài quá liều lĩnh
trong sự quyến luyến với các gia đình.
Mong rằng ngài không rơi vào quyền lực của Thần Chết,
dưới sự chi phối của kẻ kết liễu!"

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, Tôn giả Nāgadatta cảm thấy cấp bách.

VII. Nàgadatta (S.i,200)

1. Một thời Tôn giả Nàgadatta trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgadatta đi vào làng quá sớm và trở về quá chiều.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tôn giả Nàgadatta, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn giả Nàgadatta.

4. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả Nàgadatta:

Này Nàgadatta,
Hãy vào (làng) đúng thời,
Và khi từ làng về,
Hãy về cho thật sớm.
Ông sống quá liên hệ,
Với các hàng cư sĩ,
Bị vấn vương quá nhiều,
Những cảm thọ khổ lạc.
Ta sợ kẻ bạt mạng,
Nàgadatta này,
Lại bị trói, bị buộc,
Trong gia đình thế sự.
Chớ để mình rơi vào,
Cường lực của tử thần,
Làm sao tránh né được,
Khỏi Ác ma chi phối!

5. Tôn giả Nàgadatta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.8 Bà Chủ Nhà Kulagharaṇīsutta

Có một thời, một vị sư đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, vị sư ấy đã trở nên quá thân thiết với công việc của một gia đình nọ. Vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm vị sư ấy, muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, muốn sách tấn vị ấy, vị thiên nhân đã hiện ra trong hình dạng của bà chủ nhà đó, đến gần vị sư, và nói lên những vần kệ:

“Trên bờ sông và trong các nhà khách,
trong các quán trọ và trên các con đường lớn,
người ta tụ tập và bàn tán:
chuyện gì đang xảy ra giữa ông và tôi?”

"Có rất nhiều âm thanh phiền nhiễu
mà một nhà tu khổ hạnh phải chịu đựng.
Nhưng họ không được nản lòng vì điều đó,
vì đó không phải là thứ làm ô uế ngươi.

Nếu ngươi giật mình vì mọi âm thanh nhỏ,
như một con nai trong rừng sợ gió,
họ sẽ gọi ngươi là ‘tâm trí bay nhảy’;
và việc tu tập của ngươi sẽ không thành công."

VIII. Gia Phụ hay Say Ðắm (S.i,201)

1. Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối với một gia đình.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy.

4. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:

Trên bờ sông, cửa chợ,
Tại trạm nghỉ, lộ trình,
Dân chúng thường tập hợp,
Tranh luận liền khởi lên.
Giữa ta và giữa Ông,
Có gì là sai khác?

5. (Vị Tỷ-kheo):

Nhiều tiếng qua tiếng lại,
Bậc khổ hạnh kham nhẫn,
Chớ cảm thấy bực phiền,
Chớ phát sinh nhiễm trước.
Ai bị tiếng rối loạn,
Như nai trong rừng rú,
Ðược gọi là khinh tâm,
Khó tu hành thành tựu.

SN 9.9 Một Người Vajji Vajjiputtasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo người Vajji đang trú gần Vesālī trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, người Vajji đang tổ chức một sự kiện suốt đêm ở Vesālī. Khi đó, vị Tỷ kheo ấy, rên rỉ vì tiếng ồn của các nhạc cụ được đánh và chơi, nhân dịp đó đã đọc vần kệ này:

“Chúng ta sống một mình trong hoang dã,
như một khúc gỗ bị vứt bỏ trong rừng.
Trong một đêm như thế này,
ai còn khổ hơn ta?”

Vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần vị Tỷ kheo, muốn sách tấn vị ấy, và nói lên những vần kệ:

“Ngươi sống một mình trong hoang dã,
như một khúc gỗ bị vứt bỏ trong rừng.
Rất nhiều người ghen tị với ngươi,
như những chúng sinh ở địa ngục ghen tị với những người lên thiên đàng.”

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, vị Tỷ kheo cảm thấy cấp bách.

IX. Vajjiputta: Bạt-kỳ Tử hay Tỳ-xá-lỵ (S.i,201)

1. Một thời, một Tỷ-kheo Vajjiputtaka trú ở Vesàli tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ một cuộc lễ được tổ chức suốt đêm ở Vesàli.

3. Tỷ-kheo ấy được nghe tiếng nhạc khí, tiếng cồng v.v… đánh lên, tiếng ồn ào khởi lên, liền than thở, nói lên ngay lúc ấy những bài kệ này:

Chúng ta sống một mình,
Trong khu rừng cô độc,
Như khúc gỗ lột vỏ,
Lăn lóc trong rừng sâu,
Trong đêm tối hân hoan,
Như hiện tại đêm nay,
Ai sống đời bất hạnh,
Như chúng ta hiện sống?

4. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, có lòng thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ:

5. Ông sống chỉ một mình,
Trong khu rừng cô độc,
Như khúc gỗ lột vỏ,
Lăn lóc trong rừng sâu.
Rất nhiều người thèm muốn,

Ðời sống như ông vậy,
Như kẻ đọa địa ngục,
Thèm muốn sanh thiên giới.

6. Rồi Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.10 Tụng Đọc Sajjhāyasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, vị Tỷ kheo ấy trước đây đã dành quá nhiều thời gian để tụng đọc. Nhưng một thời gian sau, vị ấy lại giữ sự thụ động và im lặng. Không nghe thấy giáo pháp, vị thiên nhân trú trong khu rừng đã đến gần vị Tỷ kheo ấy, và nói lên những vần kệ:

“Tỷ kheo, sao ngài không tụng đọc
— các đoạn kinh của giáo pháp,
sống cùng với các vị Tỷ kheo khác?
Khi nghe giáo pháp, niềm tin tăng trưởng;
và người tụng đọc được tán dương ngay trong đời này.”

“Ta đã từng nhiệt tình với
— các đoạn kinh của giáo pháp,
miễn là ta chưa nhận ra sự ly tham.
Nhưng rồi ta nhận ra sự ly tham, mà người thiện gọi là
sự lắng dịu bằng cách hiểu biết hoàn toàn
bất cứ điều gì được thấy, nghe, và suy nghĩ.”

X. Tụng Học Kinh Ðiển hay Pháp (S.i,202)

1. Một thời, một Tỷ-kheo sống giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy trước kia siêng năng tụng kinh rất nhiều, sau một thời gian, trở thành thụ động, im lặng, an phận.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy không được nghe pháp từ Tỷ-kheo ấy, liền đi đến vị ấy.

4. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:

Này Tỷ-kheo, sao Ông
Sống chung các Tỷ-kheo,
Lại không chịu tụng đọc,
Các kinh điển pháp cú?
Ai nghe thuyết Chánh pháp,
Tâm sanh được tịnh tín.
Và ngay đời hiện tại,
Ðược mọi người tán thán.

5. (Vị Tỷ-kheo):

Trước kia đối pháp cú,
Ta tha thiết tìm hiểu,
Cho đến khi chứng được,
Quả vị bậc ly dục;
Từ khi chứng ly dục,
Mọi thấy, nghe, xúc cảm,
Nhờ trí tuệ hiểu biết,
Ðều được bỏ một bên.
Chính các bậc Hiền thiện,
Giảng dạy là như vậy.

SN 9.11 Những Suy Nghĩ Bất Thiện Akusalavitakkasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, trong buổi thiền định ban ngày, vị Tỷ kheo ấy đang suy nghĩ những điều xấu xa, bất thiện, đó là: những suy nghĩ về tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), ác ý, và tàn ác. Vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần vị Tỷ kheo, muốn sách tấn vị ấy, và nói lên những vần kệ:

"Vì không như lý tác ý (apply the mind irrationally / suy tư không với trí tuệ),
ngươi bị thiêu đốt bởi những suy nghĩ của mình.
Khi đã từ bỏ sự phi lý,
hãy chắc rằng những suy nghĩ của ngươi là hợp lý.

Suy nghĩ về Bậc Đạo Sư, về giáo pháp,
về Tăng đoàn, và về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của chính mình,
ngươi sẽ tìm thấy sự hoan hỷ,
và cả niềm vui và an ổn nữa, không nghi ngờ gì.
Và khi ngươi tràn đầy niềm vui,
ngươi sẽ chấm dứt khổ đau."

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, vị Tỷ kheo cảm thấy cấp bách.

XI. Bất Chánh Tư Duy : (S.i,203)

1. Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy, khi đang nghỉ ban ngày, khởi lên những tư duy ác, bất thiện, như dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.

3. Rồi vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót Tỷ-kheo, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

4. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo:

Ông tác ý bất chánh,
Nên say đắm tư duy.
Hãy từ bỏ bất chánh,
Hãy tư duy chơn chánh,
Nương tựa Phật, Pháp, Tăng,
Giữ giới, không thối chuyển,
Ông chắc chắn chứng đạt,
Hân hoan và hỷ lạc.
Với hân hoan sung mãn,
Ông chấm dứt khổ đau.

5. Rồi Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.12 Giữa Trưa Majjhanhikasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ. Vị thiên nhân trú trong khu rừng đã đến gần vị Tỷ kheo ấy và đọc vần kệ này trước mặt vị ấy:

“Trong sự tĩnh lặng của giữa trưa,
khi chim chóc đã yên vị,
khu rừng hùng vĩ thì thầm với chính nó:
điều đó đối với tôi thật đáng sợ!”

“Trong sự tĩnh lặng của giữa trưa,
khi chim chóc đã yên vị,
khu rừng hùng vĩ thì thầm với chính nó:
điều đó đối với tôi thật thú vị!”

XII. Giưã Trưa hay Tiếng Ðộng (S.i,203)

1. Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy đi đến Tỷ-kheo.

3. Sau khi đến, nói lên những bài kệ này trước mặt Tỷ-kheo:

Nay chính giờ giữa trưa,
Chim chóc đậu im lặng,
Rừng lớn vang tiếng động,
Khiến ta run, hoảng sợ.

4. (Vị Tỷ-kheo):

Nay chính giờ giữa trưa,
Chim chóc đậu im lặng,
Rừng lớn vang tiếng động,
Hoan hỷ đến với ta.

SN 9.13 Các Giác Quan Không Được Rèn Luyện Pākatindriyasutta

Có một thời, nhiều vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ. Họ bồn chồn, xấc xược, hay thay đổi, thô tục, nói năng bừa bãi, thất niệm, thiếu nhận thức tình huống và sự tập trung, với tâm trí lang thang và các giác quan không được kiểm soát.

Vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm các vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho họ. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần các vị Tỷ kheo, muốn sách tấn họ, và nói lên những vần kệ:

"Các vị Tỷ kheo đã từng sống hạnh phúc,
là đệ tử của Gotama.
Không ham muốn, họ đi khất thực;
không ham muốn, họ sử dụng nơi ở.
Biết rằng thế gian là vô thường
họ đã chấm dứt khổ đau.

Nhưng bây giờ họ đã tự làm cho mình khó chăm sóc,
như những người đứng đầu trong một ngôi làng.
Họ ăn rồi lại ăn rồi nằm xuống,
bất tỉnh trong nhà của người khác.

Đã chắp tay hướng về Tăng đoàn,
tôi chỉ nói ở đây về một số người.
Họ là những kẻ bị loại bỏ, không có người bảo vệ,
giống như những người đã qua đời.

Tôi đang nói về
những người sống sao nhãng.
Đối với những người sống siêng năng
tôi xin đảnh lễ."

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, các vị Tỷ kheo cảm thấy cấp bách.

XIII. Không Chế Ngự Căn hay Nhiều Tỷ Kheo (S.i,203)

1. Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.

2. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót các Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến các Tỷ-kheo.

3. Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ với các Tỷ-kheo:

Xưa sống thật an lạc,
Chúng đệ tử Cù-đàm,
Không tham tìm món ăn,
Không tham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.

Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng,
Họ ăn, ăn ngã gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị,
Vất vưởng, không hướng dẫn.
Họ sống như ngạ quỉ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ, con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành con đảnh lễ.

4. Các Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

SN 9.14 Kẻ Trộm Hương Gandhatthenasutta

Có một thời, một vị Tỷ kheo đang trú tại xứ Kosala trong một khu rừng nọ.

Lúc bấy giờ, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực về, vị Tỷ kheo ấy đã xuống một hồ sen và ngửi một bông sen hồng. Vị thiên nhân trú trong khu rừng có lòng thương cảm vị Tỷ kheo ấy, và muốn điều tốt nhất cho vị ấy. Vì vậy, vị thiên nhân đã đến gần vị Tỷ kheo, muốn sách tấn vị ấy, và nói lên những vần kệ:

“Bông hoa dưới nước này chưa được cho.
Khi ngươi ngửi nó,
đây là một yếu tố của sự trộm cắp.
Này thiện hữu, ngươi là một kẻ trộm hương!”

"Ta không lấy, cũng không bẻ;
ta ngửi bông hoa dưới nước từ xa.
Vậy dựa trên bằng chứng nào
mà ngươi gọi ta là kẻ trộm hương?

Sao ngươi không buộc tội kẻ
làm những hành vi phá hoại như vậy
như đào rễ,
hay bẻ hoa?"

"Ta không có gì để nói
với một người là kẻ phá hoại thô bạo,
bẩn thỉu như một chiếc tã đã qua sử dụng.
Ngươi mới là người đáng để nói chuyện.

Đối với người không tì vết
luôn tìm kiếm sự trong sạch,
dù chỉ một chút ác nhỏ như đầu sợi tóc
cũng có vẻ lớn như một đám mây."

“Thật vậy, hỡi vị trời, ngài hiểu tôi,
và ngài đồng cảm với tôi.
Xin hãy nói với tôi một lần nữa,
bất cứ khi nào ngài thấy điều gì tương tự.”

“Ta không phải là người phụ thuộc vào ngươi,
cũng không phải là người hầu của ngươi.
Chính ngươi phải biết, Tỷ kheo,
con đường dẫn đến một nơi tốt đẹp.”

Được vị thiên nhân ấy thúc đẩy, vị Tỷ kheo cảm thấy cấp bách.

XIV. Sen Hồng hay Sen Trắng (S.i,204)

1. Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, đi xuống hồ nước và ngửi bông sen hồng.

3. Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo.

4. Sau khi đến, vị Thiên ấy liền nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo:

Hoa này từ nước sanh,
Không cho, Ông ngửi trộm.
Như vậy một loại trộm,
Ta gọi Ông trộm hương,
Này thân hữu của ta.

5. (Vị Tỷ-kheo):

Không lấy đi, không bẻ,
Ðứng xa, ta ngửi hoa,
Vậy do hình tướng gì,
Ðược gọi là “trộm hương”?
Ai đào rễ củ sen,
Ăn dùng các loại sen.
Do các hành động ấy,
Sao không gọi trộm hương?

6. (Vị Thiên):

Người ty tiện độc ác,
Như vải nhớp vú em,
Với hạng người như vậy,
Lời ta không liên hệ.

Nhưng chính thật cho Ông,
Chính lời ta tương ưng
Với người không cấu uế,
Thường hướng cầu thanh tịnh.
Với kẻ ác nhìn thấy,
Nhỏ như đầu sợi lông,
Vị ấy xem thật lớn,
Như đầu mây trên trời.

7. (Vị Tỷ-kheo):

Thật sự này Dạ-xoa,
Ông biết ta, thương ta,
Hãy nói lại với ta,
Khi thấy ta như vậy.

8. (Vị Thiên):

Ta không tùy thuộc Ông,
Ông cũng không làm bậy,
Này Tỷ-kheo nên biết,
Ông có thể sanh Thiên.

9. Vị Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.

-ooOoo-