Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Dạ Xoa (Spirits)

10. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA

Chương Indaka

SN 10.1 Kinh Indaka Indakasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại thành Vương Xá, trên núi Đỉnh Indra, nơi ở của dạ xoa Indaka.

Lúc ấy, dạ xoa Indaka đến gặp Đức Phật và nói lên những vần kệ:

“Chư Phật dạy rằng sắc không phải linh hồn.
Vậy thì thân này biểu hiện ra sao?
Xương và gan từ đâu mà có?
Và làm sao nó bám vào trong bụng mẹ?”

"Đầu tiên là một giọt đông đặc;
từ đó một chồi nhỏ hiện ra;
tiếp theo thành một miếng thịt;
rồi sinh ra một khối u.
Từ khối u đó các chi hiện ra,
tóc đầu, lông mình, và móng.

Và bất cứ thứ gì người mẹ ăn—
thức ăn và đồ uống mẹ dùng—
nuôi dưỡng chúng ở đó,
con người trong bụng mẹ."

I. Indaka (S.i,206)

1) M ột thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), núi Indakuuta, tại trú xứ của Dạ-xoa Indaka.

2. Rồi Dạ-xoa Indaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:

Chư Phật, Ngài dạy rằng,
Sắc không phải sinh mạng,
Vậy sao sinh mạng này,
Lại có trong thân này?
Từ đâu xương thịt đến,
Trong thân thể hiện tại?
Làm sao sinh mạng này,
Gá dính trong thai tạng?

3. (Thế Tôn):

Trước tiên, Kalala,
Rồi từ Kalala,
Abbuda có mặt.
Rồi từ Abbuda,
Pesì (thịt mềm) được sanh ra.
Pesì sinh Ghana (thịt cứng),
Rồi đến Pasàkha (chi tiết),
Tóc, lông và các móng,
Tiếp tục được sanh ra.
Những gì người mẹ ăn,
Ðồ ăn, đồ uống nào,
Con người trong bụng mẹ,
Ở đấy, lấy nuôi dưỡng.

SN 10.2 Kinh Dạ Xoa Tên Sakka Sakkanāmasutta

Một thời Đức Phật trú tại thành Vương Xá, trên núi Linh Thứu.

Lúc ấy, một dạ xoa tên Sakka đến gặp Đức Phật và nói lên những vần kệ:

“Ngài đã từ bỏ mọi ràng buộc,
và hoàn toàn giải thoát.
Thật không hay cho ngài, Sa-môn,
khi lại đi chỉ dạy người khác.”

"Dù với bất kỳ lý do nào
mà mọi người ở cùng nhau, này Sakka,
người có trí tuệ không thể nào
không nghĩ đến người khác với lòng cảm thông.

Nếu ngài chỉ dạy người khác
với tâm trong sáng và tự tin,
lòng từ bi và đồng cảm của ngài
không tạo ra sự dính mắc."

II. Sakka (S.i,206)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

2. Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:

Thật không tốt lành gì,
Một Sa-môn như Ngài,
Ðã đoạn mọi triền phược,
Ðã sống chơn giải thoát,
Lại tiếp tục giảng dạy,
Những kẻ khác (tu học).

3. (Thế Tôn):

Này Dạ-xoa Sakka,

Dầu vì lý do gì,
Loài Người sống chung nhau,
Không một lý do nào,
Xứng đáng bậc trí tuệ,
Với lòng từ lân mẫn,
Nếu với tâm tín thành,
Giảng dạy những người khác,
Do vậy không hệ lụy,
Vì lòng từ lân mẫn.

SN 10.3 Kinh Sūciloma (Tóc Nhọn) Sūcilomasutta

Một thời Đức Phật trú gần Gayā, trên phiến đá ở nơi ở của dạ xoa Sūciloma (Tóc Nhọn).

Lúc bấy giờ, dạ xoa Khara (Lông Dựng) và Sūciloma (Tóc Nhọn) đang đi ngang qua không xa Đức Phật.

Khara nói với Sūciloma: “Đó là một Sa-môn.”

“Đó không phải Sa-môn, đó là kẻ giả mạo! Ta sẽ sớm biết ông ta là Sa-môn hay kẻ giả mạo.”

Rồi Sūciloma đến gần Đức Phật và dựa vào người Ngài, nhưng Đức Phật né ra.

Lúc ấy, Sūciloma nói với Đức Phật: “Ngài sợ sao, Sa-môn?”

“Này bạn, ta không sợ. Nhưng sự chạm của ông thật khó chịu.”

“Tôi sẽ hỏi ngài một câu, Sa-môn. Nếu ngài không trả lời, tôi sẽ làm ngài phát điên, hoặc làm nổ tung trái tim ngài, hoặc nắm chân ngài ném qua bờ bên kia sông Hằng!”

“Ta không thấy ai trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn, các vị trời và loài người có thể làm điều đó với ta. Nhưng dù sao, ông cứ hỏi điều ông muốn.”

“Tham lam và tức giận từ đâu đến?
Từ đâu sinh ra bất mãn, ham muốn, và kinh hoàng?
Những suy nghĩ của tâm khởi nguồn từ đâu,
như con quạ được lũ trẻ thả bay.”

"Tham lam và tức giận đến từ đây;
từ đây sinh ra bất mãn, ham muốn, và kinh hoàng;
đây là nơi những suy nghĩ của tâm khởi nguồn,
như con quạ được lũ trẻ thả bay.

Sinh ra từ ái luyến, khởi nguồn từ chính mình,
như chồi non từ thân cây đa;
muôn vàn dính mắc vào dục lạc (sensual pleasures / những thú vui của giác quan)
giống như dây leo mã đậu
- lan khắp cánh rừng.

Những ai hiểu chúng từ đâu đến
sẽ loại bỏ chúng—hãy nghe đây, dạ xoa!
Họ vượt qua dòng lũ khó vượt này,
chưa từng được vượt qua, để không còn tái sinh."

III. Suciloma (S.i,207)

1. Một thời Thế Tôn ở Gayà, trên hòn đá Tankita tại trú xứ của Dạ-xoa Suciloma.

2. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara và Dạ-xoa Suciloma đi ngang qua, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3. Rồi Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Suciloma:

− Ðây là một Sa-môn.

4. − Ðây không phải Sa-môn. Ðây là Sa-môn giả. Hay ít nhất cho đến khi ta biết được Sa-môn hay Samôn giả.

5. Rồi Dạ-xoa Suciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền nghiêng thân về phía Thế Tôn.

6. Thế Tôn liền tránh né thân của mình.

7. Dạ-xoa Suciloma nói với Thế Tôn: − Có phải Sa-môn sợ ta?

8. − Này Hiền giả, Ta không sợ Ông. Nhưng xúc chạm với Ông là điều đáng ghét (pàpaka).

9. − Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng.

10. − Này Hiền giả, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta, hay nắm lấy chân Ta, quăng Ta qua bờ bên kia. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.

11. (Dạ-xoa):

Tham dục và sân hận,
Do nhân gì sanh khởi?
Bất mãn và thỏa mãn,
Sợ hãi từ đâu sanh?
Từ đâu được khởi lên,
Các tư tưởng, tư duy,
Như quạ được bầy trẻ,
Thả bay rồi kéo lại?

12. (Thế Tôn):

Tham dục và sân hận,
Do nhân này sanh khởi,
Bất mãn và thỏa mãn,
Sợ hãi từ đây sanh.
Từ đây được khởi lên,
Các tư tưởng, tư duy,
Như quạ được bầy trẻ,
Thả bay rồi kéo lại.
Chính do tham ái sanh,
Chính do tự ngã sanh.
Như cây nigroda (cây bàng),
Do từ thân cây sanh.
Phàm phu bám ác dục,
Như cây leo khắp rừng.
Những ai hiểu biết được,
Do nhân ấy sanh khởi,
Họ diệt trừ nhân ấy.
Hãy nghe, này Dạ-xoa,
Họ vượt bộc lưu này,
Bộc lưu thật khó vượt,
Từ trước chưa vượt qua,
Không còn phải tái sanh.

SN 10.4 Kinh Maṇibhadda Maṇibhaddasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Ma-kiệt-đà, tại miếu cây Maṇimālika, nơi ở của dạ xoa Maṇibhadda.

Lúc ấy, dạ xoa Maṇibhadda đến gặp Đức Phật và đọc lên vần kệ này trước sự hiện diện của Ngài:

“Người chánh niệm luôn được tốt lành;
người chánh niệm thịnh vượng trong hạnh phúc.
Mỗi ngày mới đều tốt hơn cho người chánh niệm,
và họ được giải thoát khỏi hận thù.”

"Người chánh niệm luôn được tốt lành;
người chánh niệm thịnh vượng trong hạnh phúc.
Mỗi ngày mới đều tốt hơn cho người chánh niệm,
nhưng họ chưa được giải thoát khỏi hận thù.

Nhưng người có tâm hoan hỷ trong sự bất hại,
suốt cả ngày lẫn đêm,
với tình thương cho tất cả chúng sinh—
họ không có hận thù với bất kỳ ai."

IV. Manibhadda (S.i,208)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha, tại điện thờ Manimàlaka, tại một trú xứ của Dạ-xoa Manibhadda.

2. Rồi Dạ-xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Lành thay, thường chánh niệm,
Nhờ niệm, lạc tăng trưởng.
Có niệm, mai đẹp hơn,
Hận thù được giải thoát.

3. (Thế Tôn):

Lành thay, thường chánh niệm,
Nhờ niệm, lạc tăng trưởng,
Có niệm, mai đẹp hơn,
Hận thù chưa giải thoát.
Với ai trọn ngày đêm,
Tâm ý lạc, bất hại,
Từ tâm mọi hữu tình,
Vị ấy không thù hận.

SN 10.5 Kinh Sānu Sānusutta

Một thời Đức Phật trú gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ Viên, tu viện của ông Cấp Cô Độc.

Lúc bấy giờ, có một nữ cư sĩ có con trai tên là Sānu bị một dạ xoa nhập. Và khi người nữ cư sĩ ấy khóc, bà đã đọc những vần kệ này:

"Con đã nghe điều này từ các bậc A-la-hán.
Các dạ xoa sẽ không quấy nhiễu bất kỳ ai
sống đời phạm hạnh
bằng cách giữ ngày Bố-tát (sabbath / ngày sám hối và giữ giới)

trọn vẹn tám yếu tố
vào ngày mười bốn và mười lăm,
và ngày mùng tám của nửa tháng,
cũng như vào nửa tháng của các kỳ đặc biệt.
Nhưng hôm nay con lại thấy
các dạ xoa đang quấy nhiễu Sānu."

"Điều bà nghe từ các bậc A-la-hán là đúng.
Các dạ xoa sẽ không quấy nhiễu bất kỳ ai
sống đời phạm hạnh
bằng cách giữ ngày Bố-tát

trọn vẹn tám yếu tố
vào ngày mười bốn và mười lăm,
và ngày mùng tám của nửa tháng,
cũng như vào nửa tháng của các kỳ đặc biệt.

Khi Sānu tỉnh lại, hãy nói với nó
lời này của các dạ xoa:
Đừng làm điều ác
dù công khai hay bí mật.

Nếu con đã làm một điều ác,
hoặc đang làm nó bây giờ,
con sẽ không thoát khỏi khổ đau,
dù con có bay đi và trốn chạy."

“Mẹ ơi, người ta khóc cho người chết,
hoặc cho người còn sống nhưng đã biệt tăm.
Con còn sống và mẹ có thể thấy con,
vậy tại sao mẹ lại khóc cho con?”

"Con trai, người ta khóc cho người chết,
hoặc cho người còn sống nhưng đã biệt tăm.
Nhưng người đã từ bỏ các dục lạc
chỉ để quay lại đây một lần nữa:
người ta cũng khóc cho họ,
vì dù còn sống họ thực sự đã chết.

Con yêu, con đã được cứu khỏi than hồng,
mà lại muốn lao thẳng vào đó!
Con yêu, con đã được cứu khỏi vực thẳm,
mà lại muốn lao thẳng xuống đó!

Hãy tiếp tục tiến lên, đó là điều tốt nhất cho con!
Mẹ biết than phiền với ai đây?
Khi đồ vật của con đã được cứu khỏi đám cháy,
con có muốn chúng bị cháy lần nữa không?"

V. Sanu (S.i,209)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Sànu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh.

3. Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:

Con ta là La-hán,
Ðối với ta là vậy,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Nay ta thấy Sànu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy,
Nay ta thấy Sànu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Những ai sống Phạm hạnh,
Dạ-xoa không ám ảnh,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Người nói với Sànu,
Có trí và sáng suốt,
Ðây là lời Dạ-xoa,
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật.
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Ông không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy,
Chạy một mạch, chạy dài.

4. (Sànu được khỏi ám ảnh):

Này mẹ, người ta khóc,
Là khóc cho người chết,
Hay khóc cho người sống,
Nhưng không được thấy mặt?
Này mẹ, chúng thấy con,
Hiện có mặt đang sống.
Vậy sao mẹ khóc con,
Này người mẹ (thân yêu)?

5. (Bà mẹ):

Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết.
Nay con được kéo ra,
Khỏi than hừng đỏ rực,
Con còn muốn rơi vào,
Ðống than hồng ấy chăng?
Nay con được thoát ra,
Khỏi địa ngục (đau khổ),
Con còn muốn rơi vào,
Cõi địa ngục ấy chăng?
Hãy dong ruỗi đời con,
Ta chúc con hạnh phúc,
Hãy sống như thế nào,
Không làm ai bực phiền.
Ðồ vật thoát lửa cháy,
Con muốn đốt lại chăng?

SN 10.6 Kinh Piyaṅkara Piyaṅkarasutta

Một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất trú gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ Viên, tu viện của ông Cấp Cô Độc.

Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nậu-lâu-đà thức dậy lúc rạng đông và tụng đọc các đoạn kinh. Lúc ấy, mẹ của dạ xoa Piyaṅkara dỗ đứa con nhỏ của mình, nói rằng:

"Đừng làm ồn, Piyaṅkara!
Một vị Tỷ kheo đang tụng đọc các đoạn kinh.
Khi chúng ta hiểu một đoạn kinh,
chúng ta có thể thực hành vì lợi ích của mình.

Chúng ta hãy tự kiềm chế không làm hại chúng sinh,
và không nói lời dối trá.
Chúng ta nên rèn luyện tốt về đạo đức,
và hy vọng sẽ được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ."

VI. Piyankara (S.i,209)

1. Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú.

3. Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau:

Này Piyankara,
Chớ có sanh tiếng động,
Vị Tỷ-kheo đang tụng,
Những lời về pháp cú.
Nếu chúng ta biết được,
Học được pháp cú này,
Rồi như pháp hành trì,
Chúng ta được lợi ích.
Không sát hại sanh vật,
Không cố ý nói láo,
Tự học tập giới luật,
Chúng ta thoát ngạ quỷ.

SN 10.7 Kinh Punabbasu Punabbasusutta

Một thời Đức Phật trú gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ Viên, tu viện của ông Cấp Cô Độc.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo bằng một bài pháp thoại về Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt). Và các Tỷ kheo ấy đang chú tâm, hướng tâm, tập trung toàn ý và lắng nghe một cách tích cực.

Lúc ấy, mẹ của dạ xoa Punabbasu dỗ những đứa con nhỏ của mình, nói rằng:

"Im nào, Uttarā bé nhỏ!
Im nào, Punabbasu!
Vì mẹ muốn nghe giáo pháp
của Bậc Đạo Sư, Đức Phật tối thượng.

Kể từ khi Đức Thế Tôn nói về Niết-bàn,
sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc,
ta đã có một tình yêu bền vững
đối với giáo pháp này.

Trong thế gian này, con mình là quý;
trong thế gian này, chồng mình là quý;
nhưng còn lớn hơn thế là tình yêu của ta
đối với việc tìm cầu giáo pháp này.

Vì cả con trai lẫn chồng,
dù quý giá, cũng không thể giải thoát con khỏi khổ đau;
như việc lắng nghe chánh pháp
giải thoát chúng sinh khỏi khổ đau.

Trong thế giới này chìm trong khổ đau,
bị trói buộc bởi tuổi già và cái chết,
ta muốn nghe giáo pháp
mà Đức Phật đã giác ngộ,
giải thoát con khỏi tuổi già và cái chết.
Vậy nên im nào, Punabbasu!"

"Mẹ ơi, con không nói,
và Uttarā cũng im lặng.
Mẹ hãy chỉ tập trung vào giáo pháp,
vì nghe chánh pháp thật là hay.
Và chính vì chúng ta chưa hiểu giáo pháp
mà chúng ta sống trong khổ đau, mẹ ạ.

Ngài là ngọn hải đăng cho những ai lạc lối
giữa chư thiên và loài người.
Đức Phật, mang thân cuối cùng,
Bậc Mắt Sáng đang giảng dạy Chánh Pháp."

"Thật tốt khi con ta thật sáng suốt,
đứa con ta đã sinh ra và cho bú!
Con ta yêu mến giáo pháp thanh tịnh
của Đức Phật tối thượng.

Punabbasu, mong con được hạnh phúc!
Hôm nay, mẹ đã vươn lên.
Hãy nghe mẹ, Uttarā:
Mẹ đã thấy các sự thật cao quý!"

VII. Punabbasu (S.i,209)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn, tuyên thuyết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

3. Rồi một nữ Dạ-xoa, mẹ Punabbasu dỗ con nín như sau:

Hãy gìn giữ im lặng,
Này Uttarika!
Hãy gìn giữ im lặng,
Này Punabbasu!
Ðể mẹ được nghe pháp.
Ðạo Sư, tối thượng Phật,
Thế Tôn giảng Niết-bàn,
Thoát ly mọi triền phược,
Mẹ đối với pháp ấy,
Thật cực kỳ ái lạc.
Ðời ái lạc con mình,
Ðời ái lạc chồng mình,
Nhưng đối với đạo pháp,
Mẹ ái lạc nhiều hơn.
Con hay chồng dầu thân,
Không cứu ta thoát khổ,
Không như nghe diệu pháp,
Chúng sanh được thoát khổ.
Trong đau khổ đời sau,
Dính liền già và chết,
Chánh pháp Ngài giác ngộ,
Giải thoát khỏi già chết.
Mẹ muốn nghe pháp ấy
Hãy nín đi con ơi!
Này Punabbasu.

4. (Punabbasu):

Thưa mẹ, con không nói,
Uttarà nín lặng.
Mẹ hãy lắng nghe pháp,
Nghe pháp được an lạc.
Vì không biết diệu pháp,
Chúng ta trôi sanh tử.
Giữa Nhân, Thiên mù quáng,
Ngài đem cho ánh sáng,
Giác ngộ, thân tối hậu,
Bậc Pháp nhãn thuyết pháp.

5. (Bà mẹ):

Hữu trí thay, con ta!
Con ta sanh ẵm ngực.
Nay con ta ái lạc,
Tịnh pháp Vô thượng Phật.

Này Punabbasu!
Hãy sống chơn an lạc,
Nay ta được sống lại,
Thấy được chơn Thánh đế,
Này con Uttara!
Hãy nghe theo lời ta.

SN 10.8 Kinh Sudatta Sudattasutta

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, trong Rừng Lạnh.

Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đã đến Vương Xá vì một công việc. Ông nghe tin rằng một vị Phật đã xuất hiện trên thế gian.

Ngay lập tức ông muốn đến gặp Đức Phật, nhưng ông nghĩ: “Hôm nay đã quá muộn để đến gặp Đức Phật. Ngày mai ta sẽ đến gặp Ngài.” Ông đi ngủ với tâm nghĩ về Đức Phật.

Trong đêm, ông thức dậy ba lần vì nghĩ rằng trời đã sáng. Rồi ông đến gần cổng Sivaka, và các phi nhân đã mở cổng cho ông.

Nhưng khi ông rời khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra. Ông cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng, và nổi da gà, và muốn quay trở lại.

Lúc ấy, dạ xoa Sivaka vô hình cất tiếng gọi:

"Một trăm con voi, một trăm con ngựa,
một trăm cỗ xe la kéo,
một trăm ngàn thiếu nữ
trang điểm với hoa tai ngọc báu:
những thứ này không đáng một phần mười sáu
của một bước chân tiến về phía trước!

Tiến lên, gia chủ!
Tiến lên, gia chủ!
Tiến về phía trước tốt hơn cho ông,
không phải quay lại!"

Rồi bóng tối tan biến và ánh sáng hiện ra với Anāthapiṇḍika. Nỗi sợ hãi, kinh hoàng và sự nổi da gà của ông lắng xuống.

Nhưng lần thứ hai, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra với ông. …

Lần thứ hai, dạ xoa Sivaka vô hình cất tiếng gọi …

“… Tiến về phía trước tốt hơn cho ông,
không phải quay lại!”

Rồi bóng tối tan biến và ánh sáng hiện ra với Anāthapiṇḍika. Nỗi sợ hãi, kinh hoàng và sự nổi da gà của ông lắng xuống.

Nhưng lần thứ ba, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra với ông. …

Lần thứ ba, dạ xoa Sivaka vô hình cất tiếng gọi …

“… Tiến về phía trước tốt hơn cho ông,
không phải quay lại!”

Rồi bóng tối tan biến và ánh sáng hiện ra với Anāthapiṇḍika. Nỗi sợ hãi, kinh hoàng và sự nổi da gà của ông lắng xuống. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Rừng Lạnh và đến gần Đức Phật.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã thức dậy lúc rạng đông và đang kinh hành trong không gian mở. Ngài thấy Anāthapiṇḍika đang đi tới từ xa. Vì vậy, Ngài bước xuống khỏi đường kinh hành, ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn, và nói với Anāthapiṇḍika: “Hãy đến đây, Sudatta.”

Lúc ấy, Anāthapiṇḍika nghĩ: “Đức Phật gọi tên ta!” Mỉm cười và vui mừng, ông cúi đầu dưới chân Đức Phật và nói với Ngài: “Thưa Ngài, con tin rằng Đức Phật đã ngủ ngon?”

"Một vị Bà-la-môn đã hoàn toàn dập tắt
luôn ngủ một cách an lành.
Các dục lạc không còn bám víu họ,
họ mát mẻ, không còn dính mắc.

Vì họ đã cắt đứt mọi chấp thủ,
và loại bỏ căng thẳng khỏi trái tim,
người bình an ngủ một cách an lành,
đã tìm thấy sự bình an trong tâm."

VIII. Sudatta. (S.i,210)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại rừng Sìta.

2. Lúc bấy giờ cư sĩ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đã đến Ràjagaha để làm một vài công việc.

3. Cư sĩ Anàthapindika được nghe đức Phật đã ra đời và muốn đến yết kiến Thế Tôn.

4. Rồi cư sĩ Anàthapindika suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Ngày mai mới phải thời ta đến yết kiến Thế Tôn”. Như vậy với ý nghĩ đi yết kiến đức Phật, ông Anàthapindika nằm ngủ. Trong đêm, ông ấy thức dậy ba lần, tưởng rằng trời đã sáng.

5. Rồi cư sĩ Anàthapindika đi đến cửa Sìvatthika (nghĩa địa), và có những phi nhân mở cửa.

6. Và khi ông ra khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra. Ông sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược và muốn đi trở về.

7. Rồi Dạ-xoa Sìvaka ẩn hình, lên tiếng như sau:

Trăm voi và trăm ngựa,
Trăm xe do ngựa kéo,
Cả trăm ngàn thiếu nữ,
Ðược trang sức bông tai,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi tới này.
Cư sĩ, hãy tiến tới!
Cư sĩ, hãy tiến tới!
Tiến tới, tốt đẹp hơn,
Chớ có lui, thối bước!

8. Rồi với Anàthapindika, tối tăm biến mất, ánh sáng hiện ra. Và sợ hãi, hốt hoảng, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu hẳn xuống.

9. Lần thứ hai… (như trên)…

10. Lần thứ ba, với Anàthapindika, ánh sáng biến mất, bóng tối hiện ra. Và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược khởi lên. Và Anàthapindika muốn trở lui. Lần thứ ba, Dạ-xoa Sìvaka ẩn hình lên tiếng như sau :

Trăm voi và trăm ngựa,
Trăm xe do ngựa kéo,
Cả trăm ngàn thiếu nữ,
Ðược trang sức bông tai,

Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi tới này.
Cư sĩ, hãy tiến tới!
Cư sĩ, hãy tiến tới!
Tiến tới, tốt đẹp hơn,
Chớ có lui, thối bước!

11. Rồi với Anàthapindika, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra và sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược đã khởi lên được dịu bớt.

12. Rồi Anàthapindika đi đến rừng Sìta, đi đến Thế Tôn.

13. Lúc bấy giờ Thế Tôn thức dậy vào lúc đêm vừa mãn và đang đi kinh hành ngoài trời.

14. Thế Tôn thấy Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy, từ chỗ kinh hành đi xuống, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Anàthapindika:

− Hãy đến đây, Sudatta!

15. Rồi cư sĩ Anàthapindika nghĩ: “Thế Tôn kêu tên ta”, rồi cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngủ có an lạc chăng?

(Thế Tôn):

Bà-la-môn tịch tịnh,
Luôn luôn sống an lạc,
Không đèo bồng dục vọng,
Thanh lương, không sanh y,
Mọi ái trước đoạn diệt,
Tâm khổ não điều phục,
Tịch tịnh, sống an lạc,
Tâm tư đạt hòa bình.

SN 10.9 Kinh Tỷ-kheo-ni Sukkā (thứ nhất) Paṭhamasukkāsutta

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Sukkā đang giảng Pháp, được một hội chúng đông đảo vây quanh. Lúc ấy, một dạ xoa rất sùng kính Sukkā đã đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác, và nhân dịp đó đọc những vần kệ này:

"Có chuyện gì với những người ở Vương Xá vậy?
Họ ngủ như thể đã uống rượu mật!
Họ không đến dự nghe Sukkā
khi cô ấy đang giảng về trạng thái bất tử.

Nhưng người có trí tuệ—
như thể họ đang uống nó,
thật không thể cưỡng lại, ngon lành và bổ dưỡng,
như những người lữ hành tận hưởng một đám mây mát."

IX. Sukkà (S.i,212)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Sukkà, có đại chúng đoanh vây, đang thuyết pháp.

3. Rồi một Dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã tư này đến ngã tư khác ở Ràjagaha, và ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:

Này người Vương Xá thành,
Các Người đã làm gì,
Mà nay lại nằm dài,
Như say vì rượu ngọt.
Không hầu hạ Sukkà,
Ðang thuyết pháp bất tử?

Pháp ấy không trở lui,
Cam lồ không lưng vơi.
Ta nghĩ người trí tuệ
Uống nước (cam lồ) ấy,
Chẳng khác một đám mưa,
Ðối với kẻ lữ hành.

SN 10.10 Kinh Tỷ-kheo-ni Sukkā (thứ hai) Dutiyasukkāsutta

Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, một cư sĩ cúng dường thức ăn cho Tỷ-kheo-ni Sukkā. Lúc ấy, một dạ xoa rất sùng kính Sukkā đã đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác, và nhân dịp đó đọc những vần kệ này:

“Ôi! Ông ấy đã tạo ra thật nhiều phước báu!
Người cư sĩ ấy thật là có trí tuệ.
Ông ấy vừa cúng dường thức ăn cho Sukkā,
người đã giải thoát khỏi mọi ràng buộc.”

X. Sukkà (S.i,212)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, một người cư sĩ đang cúng dường đồ ăn cho Tỷ-kheo-ni Sukkà.

3. Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã ba này ba khác ở Ràjagaha, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:

Cư sĩ có trí này,
Chắc hưởng nhiều công đức,
Ðã cúng dường món ăn,
Dâng cúng lên Sukkà,
Một vị đã giải thoát,
Tất cả mọi triền phược.

SN 10.11 Kinh Tỷ-kheo-ni Cīrā Cīrāsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, một cư sĩ cúng dường một chiếc y cho Tỷ-kheo-ni Cīrā. Lúc ấy, một dạ xoa rất sùng kính Cīrā đã đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác, và nhân dịp đó đọc những vần kệ này:

“Ôi! Ông ấy đã tạo ra thật nhiều phước báu!
Người cư sĩ ấy thật là có trí tuệ.
Ông ấy đã cúng dường một chiếc y cho Cīrā,
người đã giải thoát khỏi mọi ách trói buộc (yokes / những thứ ràng buộc).”

XI. Cirà hay Virà (S.i,215)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà.

3. Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:

Cư sĩ có trí này,
Chắc hưởng nhiều công đức,
Ðã cúng dường tấm y,
Dâng cúng lên Cirà,
Một vị đã giải thoát,
Tất cả mọi khổ ách.

SN 10.12 Kinh Āḷavaka Āḷavakasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Āḷavī, tại nơi ở của dạ xoa Āḷavaka.

Lúc ấy, dạ xoa Āḷavaka đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Đi ra, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi ra.

“Đi vào, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi vào.

Và lần thứ hai, dạ xoa Āḷavaka nói với Đức Phật: “Đi ra, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi ra.

“Đi vào, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi vào.

Và lần thứ ba, dạ xoa Āḷavaka nói với Đức Phật: “Đi ra, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi ra.

“Đi vào, Sa-môn!”

Nói: “Được thôi, bạn hiền,” Đức Phật đi vào.

Và lần thứ tư, dạ xoa Āḷavaka nói với Đức Phật:

“Đi ra, Sa-môn!”

“Này bạn, ta sẽ không đi ra. Hãy làm những gì ông phải làm.”

“Tôi sẽ hỏi ngài một câu, Sa-môn. Nếu ngài không trả lời, tôi sẽ làm ngài phát điên, hoặc làm nổ tung trái tim ngài, hoặc nắm chân ngài ném qua bờ bên kia sông Hằng!”

“Ta không thấy ai trong thế giới này với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các Sa-môn và Bà-la-môn, các vị trời và loài người có thể làm điều đó với ta. Nhưng dù sao, ông cứ hỏi điều ông muốn.”

“Cái gì là tài sản tốt nhất của một người?
Cái gì mang lại hạnh phúc khi được thực hành tốt?
Cái gì là hương vị ngọt ngào nhất?
Người ta nói có cuộc sống tốt nhất: họ sống như thế nào?”

“Niềm tin ở đây là tài sản tốt nhất của một người.
Giáo pháp mang lại hạnh phúc khi được thực hành tốt.
Sự thật là hương vị ngọt ngào nhất.
Người ta nói có cuộc sống tốt nhất là người sống bằng trí tuệ.”

“Làm sao để vượt qua dòng lũ?
Làm sao để vượt qua cơn đại hồng thủy?
Làm sao để vượt qua khổ đau?
Làm sao để được thanh tịnh?”

“Bằng niềm tin, ngài vượt qua dòng lũ,
và bằng sự siêng năng, ngài vượt qua cơn đại hồng thủy.
Bằng nghị lực, ngài vượt qua khổ đau,
và ngài được thanh lọc bởi trí tuệ.”

“Làm sao để có được trí tuệ?
Làm sao để kiếm được của cải?
Làm sao để có được danh tiếng tốt?
Làm sao để giữ được bạn bè?
Làm sao để người đã khuất không đau buồn
khi từ thế giới này sang thế giới bên kia?”

"Người siêng năng và sáng suốt
có được trí tuệ bằng cách mong muốn học hỏi,
có niềm tin vào các bậc A-la-hán,
và giáo pháp để đạt đến Niết-bàn.

Có trách nhiệm, hành động phù hợp,
và làm việc chăm chỉ, ngài kiếm được của cải.
Sự chân thật giúp ngài có được danh tiếng tốt.
Ngài giữ được bạn bè bằng cách cho đi.
Đó là cách người đã khuất không đau buồn
khi từ thế giới này sang thế giới bên kia.

Một gia chủ có niềm tin
có bốn phẩm chất này
sẽ không đau buồn sau khi qua đời:
sự thật, nguyên tắc, kiên định, và rộng lượng.

Cứ hỏi những người khác nữa đi,
có nhiều Sa-môn và Bà-la-môn.
Xem có tìm thấy điều gì tốt hơn
sự thật, tự chủ, rộng lượng, và kiên nhẫn không."

"Tại sao bây giờ tôi lại phải hỏi
nhiều Sa-môn và Bà-la-môn?
Hôm nay tôi đã hiểu
điều gì tốt cho đời sau.

Thật sự là vì lợi ích của tôi
mà Đức Phật đã đến ở Āḷavī.
Hôm nay tôi đã hiểu
nơi nào sự cúng dường có quả báo lớn.

Chính tôi sẽ đi
từ làng này sang làng khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác,
đảnh lễ Đức Phật,
và sự tuyệt diệu của giáo pháp!"

XII. Alava (S.i,218)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở €lavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavakka.

2. Rồi Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, hãy đi ra!

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi ra.

− Này Sa-môn, hãy đi vào.

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi vào.

3. Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, hãy đi ra.

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi ra.

− Này Sa-môn, hãy đi vào.

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi vào.

4. Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, hãy đi ra.

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi ra.

− Này Sa-môn, hãy đi vào.

− Lành thay, Hiền giả.

Thế Tôn nói và đi vào.

5. Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavika nói với Thế Tôn:

− Này Sa-môn, hãy đi ra.

6. − Này Hiền giả, Ta không đi ra. Hãy làm gì Ông nghĩ là phải làm.

7. − Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông một câu hỏi. Nếu Ông không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Ông điên loạn, hay ta làm Ông bể tim, hay nắm lấy chân, ta sẽ quăng Ông qua bờ bên kia sông Hằng.

8. − Này Hiền giả, Ta không thấy một ai, ở thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm bể tim Ta hay nắm lấy chân, quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, hãy hỏi đi như Ông muốn.

9. (Dạ-xoa):

Cái gì đối người đời,
Là tài sản tối thượng?
Cái gì khéo hành trì,
Ðem lại chơn an lạc?
Cái gì giữa các vị,
Là vị ngọt tối thượng?
Phải sống như thế nào,
Ðược gọi sống tối thượng?

10. (Thế Tôn):

Lòng tin đối người đời,
Là tài sản tối thượng.
Chánh pháp khéo hành trì,
Ðem lại chơn an lạc.
Chân lý giữa các vị,
Là vị ngọt tối thượng.
Phải sống với trí tuệ,
Ðược gọi sống tối thượng.

11. (Dạ-xoa):

Làm sao vượt bộc lưu?
Làm sao vượt biển lớn?
Làm sao siêu khổ não?
Làm sao được thanh tịnh?

12. (Thế Tôn):

Với tín, vượt bộc lưu.
Không phóng dật, vượt biển.
Tinh tấn, siêu khổ não.
Với Trí, được thanh tịnh.

13. (Dạ-xoa):

Làm sao được trí tuệ?
Làm sao được tài sản?
Làm sao đạt danh xưng?
Làm sao kết bạn hữu?
Ðời này qua đời khác,
Làm sao không sầu khổ?

14. (Thế Tôn):

Ai tin tưởng Chánh pháp

Của bậc A-la-hán,
Pháp ấy khiến đạt được,
Niết-bàn (chơn an lạc),
Khéo học, không phóng dật,
Minh nhãn khéo phân biệt,
Nhờ hành trì như vậy,
Vị ấy được trí tuệ.
Làm gì khéo thích hợp,
Gánh vác các trách nhiệm,
Phấn chấn, thích hoạt động,
Như vậy được tài sản,
Chơn thật đạt danh xưng,
Bố thí kết bạn hữu,
Ðời này qua đời khác,
Như vậy không sầu khổ.
Tín nam gia chủ nào,
Tìm cầu bốn pháp này,
Chơn thực và chế ngự,
Kiên trì và xả thí,
Vị ấy sau khi chết,
Không còn phải sầu khổ.
Ðời này qua đời khác,
Sau chết, không sầu khổ.
Ta muốn Ông đến hỏi,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có những pháp nào khác,
Tốt hơn bốn pháp này:
Chơn thực và chế ngự,
Xả thí và kham nhẫn.

15. (Dạ-xoa):

Làm sao nay ta hỏi,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Khi nay ta được biết,
Nguyên nhân của đời sau.
Phật đến Alavi,
Thật lợi ích cho ta.
Nay ta được biết rõ,
Cho gì được quả lớn.
Nên ta sẽ bộ hành,
Làng này qua làng khác,
Thành này qua thành khác,
Ðảnh lễ Phật Chánh Giác,
Cùng đảnh lễ Chánh pháp,
Các vị chứng Pháp tánh.

-ooOoo-