Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo ấy vâng đáp. Thế Tôn nói như sau:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, các a-tu-la (titans / một loài chúng sinh thường có xung đột với chư thiên) đã khởi binh chống lại chư thiên.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, gọi thiên tử Suvīra: ‘Này bạn Suvīra, các a-tu-la đang khởi binh chống lại chư thiên! Bạn hãy đi, và khởi binh chống lại các a-tu-la!’
‘Vâng, thưa ngài,’ Suvīra đáp. Nhưng vị ấy lại sao nhãng.
Lần thứ hai, Sakka lại gọi Suvīra: ‘Này bạn Suvīra, các a-tu-la đang khởi binh chống lại chư thiên! Bạn hãy đi, và khởi binh chống lại các a-tu-la!’
‘Vâng, thưa ngài,’ Suvīra đáp. Nhưng lần thứ hai, vị ấy lại sao nhãng.
Lần thứ ba, Sakka lại gọi Suvīra: ‘Này bạn Suvīra, các a-tu-la đang khởi binh chống lại chư thiên! Bạn hãy đi, và khởi binh chống lại các a-tu-la!’
‘Vâng, thưa ngài,’ Suvīra đáp. Nhưng lần thứ ba, vị ấy lại sao nhãng.
Khi ấy, Sakka nói với thiên tử Suvīra bằng thơ kệ:
‘Này Suvīra, hãy đến nơi nào
mà bạn có thể đạt được hạnh phúc
không cần làm lụng hay gắng sức—
và hãy đưa ta đi cùng!’‘Một kẻ lười biếng không làm gì,
và không làm nhiệm vụ của mình,
lại có thể thỏa mãn mọi mong muốn:
Này Sakka, xin hãy ban cho tôi ân huệ này!’‘Này Suvīra, hãy đến nơi nào
mà kẻ lười biếng không làm gì
lại được hưởng hạnh phúc bất tận—
và hãy đưa ta đi cùng!’‘Ôi Sakka, bậc đứng đầu chư thiên,
rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc
không sầu muộn, không căng thẳng:
Này Sakka, xin hãy ban cho tôi ân huệ này!’‘Nếu có nơi nào đó
mà người ta có thể sống hạnh phúc không cần làm lụng,
đó chắc chắn là con đường dẫn đến niết-bàn (extinguishment / sự chấm dứt khổ đau)!
Hãy đến đó, Suvīra,
và hãy đưa ta đi cùng!’
Vậy nên, này các Tỷ kheo, ngay cả Sakka, vua của chư thiên—trong khi hưởng quả của các nghiệp thiện và ác của mình, và cai trị như một vị chúa tể của các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba—cũng tán thán sự khởi xướng và năng lực. Huống nữa là các ông, đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được khéo giảng dạy như vậy, thật là tốt đẹp biết bao nếu các ông cố gắng, nỗ lực, và tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ!"
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
“− Này các Tỷ-kheo.” − Bạch Thế Tôn. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
4. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, các Asùra (A-tu-la) tấn công Thiên chủ. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
" − Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra".
" − Thưa vâng, Tôn giả".
Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
5. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
" − Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra".
" − Thưa vâng, Tôn giả"
Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
6. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Suvìra:
" − Này Suvìra thân yêu, các Asùra ấy tấn công chư Thiên. Này Suvìra thân yêu, hãy đi nghênh đánh các Asùra."
" − Thưa vâng, Tôn giả."
Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Suvìra vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật không chịu làm gì.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thiên tử Suvìra:
Không nỗ lực, tinh cần,
Vẫn đạt được an lạc,
Suvìra hãy đi,
Giúp ta đạt pháp ấy.
8. (Suvìra):
Kẻ nhác, không nỗ lực,
Và không làm việc gì,
Mọi ước vọng thành đạt,
Hướng tối thượng là gì?
(Này Sakka).
9. (Sakka):
Kẻ nhác, không nỗ lực,
Chứng được tối hậu lạc.
Suvìra hãy đi,
Giúp ta đạt pháp ấy.
10. (Suvìra):
Này Thiên chủ Sakka,
Không làm, chứng lạc ấy,
Không sầu, không nhiệt não,
Hướng tối thượng là gì?
(Này Sakka).
11. (Sakka):
Nếu không có làm gì,
Thời không có tái sanh,
Ðường ấy hướng Niết-bàn.
Suvìra, hãy đi,
Giúp ta đạt pháp ấy.
12. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy, sống nhờ quả công đức của mình, trị vì và cai trị chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sẽ là người tán thán nỗ lực và tinh tấn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông làm cho sáng chói, vị ấy khi các Ông xuất gia trong pháp luật khéo thuyết như vậy, nỗ lực, tinh cần hay tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ.
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo ấy vâng đáp. Thế Tôn nói như sau:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, các a-tu-la đã khởi binh chống lại chư thiên.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, gọi thiên tử Susīma: ‘Này bạn Susīma, các a-tu-la đang khởi binh chống lại chư thiên! Bạn hãy đi, và khởi binh chống lại các a-tu-la!’
‘Vâng, thưa ngài,’ Susīma đáp. Nhưng vị ấy lại sao nhãng.
Lần thứ hai …
Lần thứ ba …
Khi ấy, Sakka nói với thiên tử Susīma bằng thơ kệ:
‘Này Susīma, hãy đến nơi nào
mà bạn có thể đạt được hạnh phúc
không cần làm lụng hay gắng sức—
và hãy đưa ta đi cùng!’‘Một kẻ lười biếng không làm gì,
và không làm nhiệm vụ của mình,
lại có thể thỏa mãn mọi mong muốn:
Này Sakka, xin hãy ban cho tôi ân huệ này!’‘Này Susīma, hãy đến nơi nào
mà kẻ lười biếng không làm gì
lại được hưởng hạnh phúc bất tận—
và hãy đưa ta đi cùng!’‘Ôi Sakka, bậc đứng đầu chư thiên,
rằng chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc
không sầu muộn, không căng thẳng:
Này Sakka, xin hãy ban cho tôi ân huệ này!’‘Nếu có nơi nào đó
mà người ta có thể sống hạnh phúc không cần làm lụng,
đó chắc chắn là con đường dẫn đến niết-bàn!
Hãy đến đó, Susīma,
và hãy đưa ta đi cùng!’
Vậy nên, này các Tỷ kheo, ngay cả Sakka, vua của chư thiên—trong khi hưởng quả của các nghiệp thiện và ác của mình, và cai trị như một vị chúa tể của các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba—cũng tán thán sự khởi xướng và năng lực. Huống nữa là các ông, đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được khéo giảng dạy như vậy, thật là tốt đẹp biết bao nếu các ông cố gắng, nỗ lực, và tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ!"
1. Trú ở Sàvatthi, tại Jetavana.
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo.” “− Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
4. − Này các Tỷ-kheo, thuở xưa các A-tu-la tấn công chư Thiên. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma:
" − Này Susìma thân yêu, các A-tu-la ấy tấn công chư Thiên. Này Susìma thân yêu, hãy đi nghênh đánh các A-tu-la."
“− Thưa vâng, Tôn giả.”
Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Susìma vâng đáp Thiên chủ Sakka, nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
5. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma… nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
6. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi Thiên tử Susìma… nhưng phóng dật, không chịu làm gì.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thiên tử Susìma:
Không nỗ lực tinh cần,
Vẫn đạt được an lạc,
Susìma hãy đi,
Giúp ta đạt pháp ấy.
8. (Susìma):
Kẻ nhác không nỗ lực,
Và không làm được gì,
Mọi dục (Kàma) đều thành đạt,
Hướng tối thượng là gì?
(Này Sakka)
9. (Sakka):
Kẻ nhác không nỗ lực,
Chứng được tối hậu lạc,
Susìma hãy đi,
Giúp ta đạt pháp ấy.
10. (Susìma):
Này Thiên chủ Sakka,
Không làm, chứng lạc ấy,
Không sầu, không nhiệt não,
Hướng tối thượng là gì?
(Này Sakka).
11. (Sakka):
Nếu không có làm gì,
Thời không có tái sanh,
Ðường ấy hướng Niết-bàn,
Susìma, hãy đi,
Giúp ta đạt quả ấy.
12. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy, sống nhờ quả công đức của mình, trị vì và cai trị chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sẽ là người tán thán, nỗ lực và tinh tấn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông làm cho sáng chói vị ấy khi các Ông xuất gia trong pháp luật khéo thuyết như vậy, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng những gì chưa chứng, để ngộ những gì chưa ngộ.
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo ấy vâng đáp. Thế Tôn nói như sau:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, một trận chiến đã nổ ra giữa chư thiên và các a-tu-la. Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, nói với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba:
'Này các bạn, khi chư thiên đang chiến đấu, nếu các bạn sợ hãi hay kinh hoàng, chỉ cần nhìn lên ngọn cờ của ta. Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các bạn sẽ tan biến.
Nếu các bạn không thấy ngọn cờ của ta, thì hãy nhìn lên ngọn cờ của Pajāpati, vua của chư thiên. Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các bạn sẽ tan biến.
Nếu các bạn không thấy ngọn cờ của vị ấy, thì hãy nhìn lên ngọn cờ của Varuṇa, vua của chư thiên. Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các bạn sẽ tan biến.
Nếu các bạn không thấy ngọn cờ của vị ấy, thì hãy nhìn lên ngọn cờ của Īsāna, vua của chư thiên. Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các bạn sẽ tan biến.’
Tuy nhiên, khi họ nhìn lên những ngọn cờ đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của họ có thể tan biến hoặc không.
Tại sao vậy? Bởi vì Sakka chưa thoát khỏi tham, sân, si (greed, hate, and delusion / ba gốc rễ của mọi điều bất thiện). Vị ấy còn sợ hãi, kinh hoàng, lo lắng, và mau chóng bỏ chạy.
Nhưng, này các Tỷ kheo, Ta nói điều này: Nếu các ông đã đi vào một nơi hoang dã, hay đến gốc cây, hay vào một ngôi lều trống và các ông cảm thấy sợ hãi hay kinh hoàng, chỉ cần niệm tưởng đến Ta: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, đã diệt trừ mọi phiền não), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully awakened Buddha / bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn không thầy chỉ dạy), bậc minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), bậc thiện thệ (holy / bậc đã đi một cách tốt đẹp đến niết-bàn), bậc thế gian giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), bậc vô thượng sĩ điều ngự trượng phu (supreme guide for those who wish to train / bậc tối cao có khả năng giáo hóa chúng sinh), bậc thiên nhân sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), bậc Phật (awakened / bậc giác ngộ), bậc Thế Tôn (blessed / bậc được tôn kính trên đời).’ Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các ông sẽ tan biến.
Nếu các ông không thể niệm tưởng đến Ta, thì hãy niệm tưởng đến Pháp: ‘Giáo pháp đã được Thế Tôn khéo giảng—thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’ Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các ông sẽ tan biến.
Nếu các ông không thể niệm tưởng đến Pháp, thì hãy niệm tưởng đến Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các đệ tử của Đức Phật): ‘Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có hệ thống và đúng đắn. Tăng đoàn bao gồm bốn đôi, tám chúng. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng được dâng tặng, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước (merit / công đức, kết quả của hành động thiện) vô thượng cho đời.’ Khi đó, sự sợ hãi và kinh hoàng của các ông sẽ tan biến.
Tại sao vậy? Bởi vì Như Lai (Realized One / bậc đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) đã thoát khỏi tham, sân, và si. Ngài không sợ hãi, dũng cảm, táo bạo, và đứng vững."
Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thánh, bậc Đạo Sư, nói tiếp:
"Trong nơi hoang dã, tại gốc cây,
hay một ngôi lều trống, hỡi các Tỷ kheo,
hãy niệm tưởng đến Đức Phật,
và sẽ không có nỗi sợ nào đến với các ông.Nếu các ông không thể niệm tưởng đến Đức Phật—
bậc trưởng thượng trên đời, bậc đứng đầu loài người—
thì hãy niệm tưởng đến Pháp,
giải thoát, được khéo giảng.Nếu các ông không thể niệm tưởng đến Pháp—
giải thoát, được khéo giảng—
thì hãy niệm tưởng đến Tăng đoàn,
ruộng phước vô thượng.Như vậy, khi niệm tưởng đến Phật,
Pháp, và Tăng, hỡi các Tỷ kheo,
sự sợ hãi và kinh hoàng
và sự rùng mình sẽ không còn nữa."
1. (Thế Tôn) trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo.” “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
4. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
" − Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.
6. Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.
7. Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.
8. Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt."
9. Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.
10. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.
11. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỷ-kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: “Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”.
12. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.
13. Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.”
14. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
15. Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.”
16. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
17. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.
18. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói tiếp:
Này các vị Tỷ-kheo,
Trong rừng hay gốc cây,
Hay tại căn nhà trống,
Hãy niệm bậc Chánh Giác.
Các Ông có sợ hãi,
Sợ hãi sẽ tiêu diệt.
Nếu không tư niệm Phật,
Tối thượng chủ ở đời,
Và cũng là Ngưu vương,
Trong thế giới loài Người,
Vậy hãy tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.
Nếu không tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
Vậy hãy tư niệm Tăng,
Là phước điền vô thượng.
Vậy này các Tỷ-kheo,
Như vậy tư niệm Phật,
Tư niệm Pháp và Tăng,
Sợ hãi hay hoảng hốt,
Hay lông tóc dựng ngược,
Không bao giờ khởi lên.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, một trận chiến đã nổ ra giữa chư thiên và các a-tu-la.
Khi ấy, Vepacitti, vua của các a-tu-la, nói với các a-tu-la: ‘Này các bạn tốt của ta, nếu các a-tu-la chiến thắng chư thiên trong trận chiến này, hãy trói Sakka, vua của chư thiên, cả chân tay và cổ lại và đưa ông ta đến trước mặt ta trong thành trì của các a-tu-la.’
Trong khi đó, Sakka, vua của chư thiên, nói với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba: ‘Này các bạn tốt của ta, nếu chư thiên chiến thắng các a-tu-la trong trận chiến này, hãy trói Vepacitti cả chân tay và cổ lại và đưa hắn đến trước mặt ta trong Pháp đình của chư thiên.’
Trong trận chiến đó, chư thiên đã chiến thắng và các a-tu-la đã thua. Vì vậy, chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã trói Vepacitti cả chân tay và cổ lại và đưa hắn đến trước sự hiện diện của Sakka trong Pháp đình của chư thiên.
Và khi Sakka ra vào pháp đình, Vepacitti đã lăng mạ và sỉ nhục ông bằng những lời lẽ thô lỗ, cay nghiệt. Vì vậy, Mātali, người đánh xe, đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
‘Hỡi Maghavā, hỡi Sakka,
có phải vì sợ hãi hay vì yếu đuối
mà ngài chịu đựng những lời cay nghiệt như vậy
trước mặt Vepacitti?’‘Không phải vì sợ hãi hay yếu đuối
mà ta nhẫn nại với Vepacitti.
Vì làm sao một người có trí như ta
lại có thể gây gổ với một kẻ ngu?’‘Kẻ ngu sẽ càng hung hăng hơn
nếu không có ai ngăn chặn chúng.
Vì vậy, một người khôn ngoan nên ngăn chặn
một kẻ ngu bằng sự trừng phạt mạnh mẽ.’‘Ta nghĩ rằng đây là cách duy nhất
để ngăn chặn một kẻ ngu,
khi biết rằng người kia đang tức giận,
hãy chánh niệm và giữ bình tĩnh.’‘Tôi thấy lỗi này, hỡi Vāsava,
trong việc chỉ nhẫn nại.
Khi một kẻ ngu nghĩ rằng,
“Ông ta chịu đựng ta vì sợ hãi,”
kẻ ngốc đó sẽ càng tấn công ngài mạnh hơn,
như con bò đuổi theo người chạy trốn.’'Cứ để hắn nghĩ vậy nếu muốn, hoặc không—
“Ông ta chịu đựng ta vì sợ hãi.”
Trong các mục tiêu dẫn đến lợi ích cho chính mình,
không có gì tốt hơn sự nhẫn nại.Khi một người mạnh
chịu đựng một kẻ yếu,
họ gọi đó là sự nhẫn nại tối thượng,
vì kẻ yếu phải luôn nhẫn nại.Sức mạnh của sự điên rồ
thực ra chỉ là sự yếu đuối, họ nói.
Nhưng không ai có thể thách thức một người
mạnh mẽ, được giáo pháp bảo vệ.Khi bạn tức giận với một người đang tức giận
bạn chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn cho chính mình.
Khi bạn không tức giận với một người đang tức giận
bạn chiến thắng một trận chiến khó thắng.Khi bạn biết rằng người kia đang tức giận,
bạn hành động vì lợi ích của cả hai
chính bạn và người kia
nếu bạn chánh niệm và giữ bình tĩnh.Những người không quen thuộc với giáo pháp
coi người chữa lành cho cả hai
chính mình và người kia
là một kẻ ngu.’
Vậy nên, này các Tỷ kheo, ngay cả Sakka, vua của chư thiên—trong khi hưởng quả của các nghiệp thiện và ác của mình, và cai trị như một vị chúa tể của các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba—cũng tán thán sự nhẫn nại và nhu hòa. Huống nữa là các ông, đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được khéo giảng dạy như vậy, thật là tốt đẹp biết bao nếu các ông nhẫn nại và hiền hòa!"
1. Tại Sàvatthi, Jetavana… (như trên)…
2. Thế Tôn thuyết như sau:
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các Asura, rất là khốc liệt.
4. Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la gọi các A-tu-la:
“− Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la, rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka (hai tay, hai chân) và thứ năm là cổ và dắt vị ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la.”
5. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
“− Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói Vepacitti, vua các A-tu-la (hai tay, hai chân) thứ năm là cổ, và dắt vị ấy lên trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
6. Nhưng này các Tỷ-kheo trong trận chiến ấy chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên trói A-tu-la vương Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka, trong giảng đường Sudhamma.
8. Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, khi Thiên chủ Sakka đi vào và đi ra khỏi giảng đường Sudhamma, nhiếc mắng, mạ lị Thiên chủ Sakka với những lời thô ác, độc ngữ.
9. Rồi này các Tỷ - kheo, người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?
10. (Sakka):
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?
11. (Màtali):
Kẻ ngu càng nổi khùng,
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
12. (Sakka):
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh.
13. (Màtali):
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
14. (Sakka):
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
15. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa.
16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, một trận chiến đã nổ ra giữa chư thiên và các a-tu-la.
Khi ấy, Vepacitti, vua của các a-tu-la, nói với Sakka, vua của chư thiên: ‘Thưa vua của chư thiên, hãy để chiến thắng được quyết định bằng lời hay ý đẹp!’
‘Này Vepacitti, hãy để chiến thắng được quyết định bằng lời hay ý đẹp!’
Sau đó, chư thiên và các a-tu-la đã chỉ định một ban giám khảo, nói rằng: ‘Những vị này sẽ hiểu được những lời hay và lời dở của chúng ta.’
Khi ấy, Vepacitti, vua của các a-tu-la, nói với Sakka, vua của chư thiên: ‘Thưa vua của chư thiên, hãy đọc một bài kệ!’
Khi ông ta nói vậy, Sakka nói với ông ta: ‘Này Vepacitti, ông là vị trời lớn tuổi hơn ở đây. Hãy đọc một bài kệ.’
Vì vậy, Vepacitti đã đọc bài kệ này:
‘Kẻ ngu sẽ càng hung hăng hơn
nếu không có ai ngăn chặn chúng.
Vì vậy, một người thông minh nên ngăn chặn
một kẻ ngu bằng sự trừng phạt mạnh mẽ.’
Các a-tu-la hoan nghênh bài kệ của Vepacitti, trong khi chư thiên giữ im lặng.
Sau đó, Vepacitti nói với Sakka: ‘Thưa vua của chư thiên, hãy đọc một bài kệ!’ Vì vậy, Sakka đã đọc bài kệ này:
‘Ta nghĩ rằng đây là cách duy nhất
để ngăn chặn một kẻ ngu,
khi biết rằng người kia đang tức giận,
hãy chánh niệm và giữ bình tĩnh.’
Chư thiên hoan nghênh bài kệ của Sakka, trong khi các a-tu-la giữ im lặng.
Sau đó, Sakka nói với Vepacitti: ‘Này Vepacitti, hãy đọc một bài kệ!’ Vì vậy, Vepacitti đã đọc bài kệ này:
‘Tôi thấy lỗi này, hỡi Vāsava,
trong việc chỉ nhẫn nại.
Khi một kẻ ngu nghĩ rằng,
“Ông ta chịu đựng ta vì sợ hãi,”
kẻ ngốc đó sẽ càng tấn công ngài mạnh hơn,
như con bò đuổi theo người chạy trốn.’
Các a-tu-la hoan nghênh bài kệ của Vepacitti, trong khi chư thiên giữ im lặng.
Sau đó, Vepacitti nói với Sakka: ‘Thưa vua của chư thiên, hãy đọc một bài kệ!’ Vì vậy, Sakka đã đọc bài kệ này:
'Cứ để hắn nghĩ vậy nếu muốn, hoặc không—
“Ông ta chịu đựng ta vì sợ hãi.”
Trong các mục tiêu dẫn đến lợi ích cho chính mình,
không có gì tốt hơn sự nhẫn nại.Khi một người mạnh
chịu đựng một kẻ yếu,
họ gọi đó là sự nhẫn nại tối thượng,
vì kẻ yếu phải luôn nhẫn nại.Sức mạnh của sự điên rồ
thực ra chỉ là sự yếu đuối, họ nói.
Nhưng không ai có thể thách thức một người
mạnh mẽ, được giáo pháp bảo vệ.Khi bạn tức giận với một người đang tức giận
bạn chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn cho chính mình.
Khi bạn không tức giận với một người đang tức giận
bạn chiến thắng một trận chiến khó thắng.Khi bạn biết rằng người kia đang tức giận,
bạn hành động vì lợi ích của cả hai
chính bạn và người kia
nếu bạn chánh niệm và giữ bình tĩnh.Những người không quen thuộc với giáo pháp
coi người chữa lành cho cả hai
chính mình và người kia
là một kẻ ngu.’
Chư thiên hoan nghênh các bài kệ của Sakka, trong khi các a-tu-la giữ im lặng.
Sau đó, ban giám khảo bao gồm cả chư thiên và các a-tu-la đã nói điều này: 'Những bài kệ do Vepacitti nói ra gợi lên sự trừng phạt và bạo lực. Đó là cách gây ra tranh cãi, cãi vã, và tranh chấp. Những bài kệ do Sakka nói ra không gợi lên sự trừng phạt và bạo lực. Đó là cách để không có tranh cãi, cãi vã, và tranh chấp.
Sakka, vua của chư thiên, đã chiến thắng bằng lời hay ý đẹp!’
Và đó là cách Sakka đã chiến thắng bằng lời hay ý đẹp."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, một trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các Asura.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
" − Này Thiên chủ, hãy chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng."
" − Này Vepacitti, ta chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng."
4. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên và các Asura sắp các hội chúng và nói:
" − Hội chúng này sẽ phán đoán ai khéo nói, ai không khéo nói."
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“− Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
6. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“− Này Vepacitti, ở đây, Ông là vị Thiên lớn tuổi hơn. Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”.
7. Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti nói lên bài kệ này:
Kẻ ngu càng nổi khùng
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
8. Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la. Còn chư Thiên thời im lặng.
9. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“− Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
10. Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ chế ngự người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm, tâm an tịnh.
11. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
12. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“− Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”
(Vepacitti):
Hỡi này Vàsava,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lầm lỗi,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”.
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
13. Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, còn chư Thiên thời im lặng.
14. Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“− Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
15. Khi được nói vậy, này các Tỷ kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng.
Thường nhẫn kẻ yếu hèn,
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng.
Bị mắng, nhiếc mắng lại,
Sẽ hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
16. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
17. Rồi này các Tỷ-kheo, hội chúng chư Thiên và A-tu-la nói như sau:
18. "Những bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên là những lời bạo lực, những lời đao kiếm, đưa đến đấu tranh, bất hòa, gây hấn.
19. “Còn những bài kệ, Thiên chủ Sakka nói lên là những lời không thuộc bạo lực, những lời không thuộc đao kiếm, không đưa đến đấu tranh, không đưa đến bất hòa, không đưa đến gây hấn, thắng lợi đã về Thiên chủ Sakka, nhờ khéo nói”.
20. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thắng lợi về Thiên chủ Sakka nhờ khéo nói.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, một trận chiến đã nổ ra giữa chư thiên và các a-tu-la. Trong trận chiến đó, các a-tu-la đã chiến thắng và chư thiên đã thua. Bị đánh bại, chư thiên chạy về phía bắc với các a-tu-la truy đuổi.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với người đánh xe Mātali bằng thơ kệ:
‘Này Mātali, đừng đâm vào các tổ chim
trong rừng gòn đỏ bằng càng xe của ngươi.
Ta thà hy sinh mạng sống của chúng ta cho các a-tu-la
còn hơn là tước đi tổ của những con chim này.’
‘Vâng, thưa ngài,’ Mātali đáp. Và ông đã quay xe lại, với cỗ xe một ngàn con ngựa thuần chủng.
Khi ấy, các a-tu-la nghĩ: ‘Bây giờ xe của Sakka đã quay lại. Các a-tu-la sẽ phải chiến đấu với chư thiên lần thứ hai!’ Kinh hãi, họ lập tức rút lui về thành trì của các a-tu-la.
Và đó là cách Sakka đã chiến thắng bằng chánh pháp."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên và các A-tu-la, xảy ra cuộc chiến rất ác liệt.
3. Này các Tỷ-kheo, trong cuộc chiến ấy, các A-tu-la thắng trận, chư Thiên bại trận.
4. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên bại trận thời lui về phương Bắc, còn các A-tu-la đuổi theo họ.
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với người đánh xe Màtali:
Hỡi này Màtali,
Hãy giữ cho gọng xe,
Tránh khỏi các tổ chim,
Giữa các cây bông gòn.
Thà trao mạng sống ta,
Cho các A-tu-la,
Còn hơn khiến các chim,
Trở thành không tổ ấm.
6. “− Thưa vâng, Tôn giả”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, liền đánh xe trở lui, cỗ xe có ngàn con tuấn mã kéo.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, các A-tu-la suy nghĩ: “Nay cỗ xe có ngàn con tuấn mã kéo của Thiên chủ Sakka đã trở lui. Lần thứ hai, chư Thiên sẽ tiến đánh các A-tu-la”. Nghĩ vậy, họ sợ hãi lui vào trong thành phố A-tu-la.
8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka lại thắng trận, nhờ theo Chánh pháp.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, khi Sakka, vua của chư thiên, đang ở nơi riêng tư ẩn tu, ý nghĩ này nảy sinh trong tâm trí ông: ‘Ta sẽ không bao giờ phản bội ngay cả một kẻ thù đã thề.’
Và rồi Vepacitti, vua của các a-tu-la, biết được dòng suy nghĩ của Sakka, đã đến gần ông.
Sakka thấy Vepacitti đang đến từ xa, và nói với ông ta: ‘Dừng lại, Vepacitti, ngươi đã bị bắt!’
‘Thưa ngài, xin đừng từ bỏ ý nghĩ mà ngài vừa có!’
‘Hãy thề đi, Vepacitti, rằng ngươi sẽ không phản bội ta.’
‘Bất cứ điều xấu nào xảy ra với kẻ nói dối,
hay với kẻ phỉ báng các bậc thánh,
hay với kẻ phản bội bạn bè,
hay với kẻ vô ơn,
những điều xấu đó cũng sẽ đến với
bất cứ ai phản bội ngài, hỡi phu quân của Sujā.’"
1. Ở Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka trong khi Thiền tịnh độc cư, khởi lên ý nghĩ sau đây: “Dầu ai là kẻ thù của ta. Ðối với họ, ta không có gian trá”.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, với tâm của mình biết tâm của Thiên chủ Sakka, liền đi đến Thiên chủ Sakka.
4. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thấy Vepacitti, vua các A-tu-la, từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vua A-tu-la:
“−Hãy đứng lại, này Vepacitti, Ông đã bị bắt”.
5. “− Này Thân hữu, tâm của Ông trước như thế nào, chớ có bỏ tâm ấy”.
6. “− Này Vepacitti, Ông có thể thề: ‘Ta không bao giờ gian trá’”.
7. (Vepacitti):
Ác báo do vọng ngôn,
Ác báo do báng Thánh,
Ác báo do phản bạn,
Ác báo do vong ân.
Này Sujampati,
Ai gian trá với Ông,
Người ấy sẽ thọ lãnh,
Các quả báo như vậy.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đã lui vào tịnh thất để thiền định ban ngày.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, và Verocana, vua của các a-tu-la, đã đến gần Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa. Sau đó, Verocana đã đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Một người nên nỗ lực
cho đến khi mục tiêu của mình được hoàn thành.
Khi các mục tiêu được hoàn thành, chúng sẽ tỏa sáng:
đây là lời của Verocana!”“Một người nên nỗ lực
cho đến khi mục tiêu của mình được hoàn thành.
Trong các mục tiêu tỏa sáng khi được hoàn thành,
không có gì tốt hơn sự nhẫn nại.”“Tất cả chúng sinh đều hướng đến mục tiêu,
tùy theo hoàn cảnh của mỗi loài.
Nhưng sự kết nối là niềm vui tối thượng
cho tất cả chúng sinh.
Khi các mục tiêu được hoàn thành, chúng sẽ tỏa sáng:
đây là lời của Verocana!”“Tất cả chúng sinh đều hướng đến mục tiêu,
tùy theo hoàn cảnh của mỗi loài.
Nhưng sự kết nối là niềm vui tối thượng
cho tất cả chúng sinh.
Trong các mục tiêu tỏa sáng khi được hoàn thành,
không có gì tốt hơn sự nhẫn nại.”
1. Nhân duyên ở Sàtthi.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang nghỉ trưa và ngồi Thiền tịnh.
3. Rồi Thiên chủ Sakka và A-tu-la vương Verocana vua các A-tu-la, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng, mỗi người dựa vào một cột cửa.
4. Rồi A-tu-la Verocana, vua các A-tu-la, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mọi người phải tinh tấn,
Cho đến đích thành tựu.
Khi mục đích thành tựu,
Thời chiếu diệu chói sáng,
Chính Verocana,
Ðã nói lời như vậy.
5. (Sakka):
Mọi người phải tinh tấn,
Cho đến đích thành tựu.
Khi mục đích thành tựu,
Thời chiếu diệu chói sáng,
Không gì tốt đẹp hơn,
So sánh với kham nhẫn.
6. (Verocana):
Tất cả loại chúng sanh,
Tự có mục đích mình,
Tại chỗ này, chỗ kia,
Tùy theo sự thích ứng.
Món ăn khéo chế biến,
Làm thỏa mãn mọi loài,
Khi mục đích thành tựu,
Thời chiếu diệu chói sáng,
Chính Verocana
Ðã nói lời như vậy.
7. (Sakka):
Tất cả loại chúng sanh,
Tự có mục đích mình,
Tại chỗ này, chỗ kia,
Tùy theo sự thích ứng.
Món ăn khéo chế biến,
Làm thỏa mãn mọi loài,
Khi mục đích thành tựu,
Thời chiếu diệu chói sáng,
Không gì tốt đẹp hơn,
So sánh với kham nhẫn.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, có nhiều ẩn sĩ có đạo đức, có phẩm hạnh tốt, đã định cư trong những lều lá ở một vùng hoang dã.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, và Vepacitti, vua của các a-tu-la, đã đến gặp các ẩn sĩ đó. Vepacitti đi ủng, đeo gươm, và mang một cây dù che nắng, đi vào am thất qua cổng chính. Ông ta đi thẳng qua mặt các ẩn sĩ, giữ khoảng cách với họ.
Sakka cởi ủng, đưa gươm cho người khác, và đặt dù che nắng xuống, đi vào am thất qua một cổng mà ông tình cờ thấy. Ông đứng ở cuối hướng gió so với các ẩn sĩ, chắp tay cung kính họ.
Khi ấy, các ẩn sĩ đó đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
‘Khi các ẩn sĩ đã xuất gia lâu năm,
mùi cơ thể của họ bay theo gió.
Ngài nên đi đi, hỡi vị ngàn mắt!
Mùi của các ẩn sĩ không sạch sẽ, hỡi vua của chư thiên.’‘Khi các ẩn sĩ đã xuất gia lâu năm,
hãy để mùi cơ thể của họ bay theo gió.
Chúng tôi khao khát mùi hương này, thưa các ngài,
như một vương miện hoa đầy màu sắc.
Chư thiên không thấy nó đáng ghê tởm.’"
1. Ở Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau trong những chòi lá trong rừng.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka và Vepacitti, vua các A-tu-la, đi đến các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
4. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, sau khi mang giày ống (hia), cầm đao kiếm, có lọng che, đi vào am thất bằng cửa chính, miệt thị và phạm thượng các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
5. Này các Tỷ-kheo, còn Thiên chủ Sakka thời cởi giày ống, giao kiếm cho người khác, xếp lọng, đi vào am thất bằng cửa phụ, đứng phía sau các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, chấp tay vái chào.
6. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Ðược gió thổi mang đi,
Từ đó thổi đến người.
Ôi vị có ngàn mắt,
Mùi hương các ẩn sĩ,
Không được cho thanh tịnh,
Này vị vua chư Thiên.
7. (Sakka):
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Hãy được gió mang đi,
Như vòng hoa nhiều loại,
Ðược trang sức trên đầu.
Chư Tôn giả, chúng tôi,
Ước mong được hương ấy,
Không gì ở nơi đây,
Làm chư Thiên ghê tởm.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, có nhiều ẩn sĩ có đạo đức, có phẩm hạnh tốt, đã định cư trong những lều lá trên bờ biển.
Lúc bấy giờ, một trận chiến đã nổ ra giữa chư thiên và các a-tu-la.
Khi ấy, các ẩn sĩ nghĩ: ‘Chư thiên thì theo chánh pháp, các a-tu-la thì phi chánh pháp. Chúng ta có thể gặp nguy hiểm từ các a-tu-la. Tại sao chúng ta không đến gặp Sambara, vua của các a-tu-la, và xin ông ta một lời cam kết an toàn.’
Sau đó, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, các ẩn sĩ đó đã biến mất khỏi những lều lá trên bờ biển và xuất hiện trước sự hiện diện của Sambara. Khi ấy, các ẩn sĩ đó đã nói với Sambara bằng thơ kệ:
‘Các ẩn sĩ đã đến gặp Sambara
để xin một lời cam kết an toàn.
Vì ngài có thể cho họ những gì ngài muốn,
dù là nguy hiểm hay an toàn.’‘Không có sự an toàn nào cho các ẩn sĩ,
những kẻ đồng hành đáng ghét của Sakka!
Mặc dù các ngươi xin ta sự an toàn,
ta sẽ chỉ cho các ngươi sự sợ hãi!’'Mặc dù chúng tôi xin ngài sự an toàn,
ngài chỉ cho chúng tôi sự sợ hãi.
Đây là những gì chúng tôi nhận được từ ngài:
mong rằng hiểm nguy vô tận sẽ đến với ngài!Gieo loại hạt nào,
thì gặt quả đó.
Người làm điều tốt được quả tốt,
người làm điều xấu được quả xấu.
Ngài đã gieo hạt giống của chính mình, bạn hỡi,
bây giờ ngài sẽ trải nghiệm quả báo.’
Sau đó, các ẩn sĩ đó, sau khi đã nguyền rủa Sambara, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, đã biến mất khỏi sự hiện diện của Sambara và xuất hiện trở lại trong những lều lá trên bờ biển.
Nhưng sau khi bị các ẩn sĩ nguyền rủa, Sambara đã thức giấc trong kinh hoàng ba lần đêm đó."
1. Ở Sàvatthi.
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau ở trong những chòi lá, trên bờ biển.
3. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, một trận chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất ác liệt.
4. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy suy nghĩ như sau: “Chư Thiên sống như pháp, các A-tu-la sống phi pháp. Chúng ta có thể nguy hiểm từ phía A-tu-la. Vậy chúng ta hãy đi đến Atu-la vương Sambara và xin được bảo đảm vô úy”.
5. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất trong các chòi lá trên bờ biển và hiện ra trước mặt A- tu-la vương Sambara.
6. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với A-tu-la vương Sambara:
7.
Các ẩn sĩ chúng tôi,
Ðến với Sambara,
Ðể xin Ngài bảo đảm,
Thí cho sự vô úy.
Hãy làm như Ngài muốn,
Hãy thí cho chúng tôi,
Những người đang sợ hãi,
Ðược khỏi phải sợ hãi.
8. (Sambara):
Ẩn sĩ như các Ông,
Không thể có vô úy,
Ðã phục vụ Sakka,
Vị trí không tốt lành,
Các Ông xin vô úy,
Ta cho sự sợ hãi.
9. (Các ẩn sĩ):
Chúng tôi xin vô úy,
Ông lại cho sợ hãi,
Ta nhận vậy từ Ông,
Trọn đời, Ông sợ hãi!
Tùy hột giống đã gieo,
Ông gặt quả như vậy.
Làm thiện được quả thiện,
Làm ác bị quả ác,
Giống đã gieo và trồng,
Ông sẽ hưởng kết quả.
10. Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, sau khi thốt lời chú nguyện chống A-tu-la vương Sambara, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, liền biến mất trước mặt A-tu-la vương Sambara và hiện ra trong các chòi lá trên bờ biển.
11. Này các Tỷ-kheo, A-tu-la vương Sambara, bị các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy chú nguyện như vậy, trong đêm ấy thức dậy hoảng hốt ba lần.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka. Bảy lời nguyện đó là gì?
Trọn đời, tôi sẽ phụng dưỡng cha mẹ. Trọn đời, tôi sẽ kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Trọn đời, tôi sẽ nói lời hòa nhã. Trọn đời, tôi sẽ không nói lời chia rẽ. Trọn đời, tôi sẽ sống tại gia với tâm không còn vết bẩn của sự keo kiệt, rộng lượng, sẵn sàng cho đi, yêu thích sự buông xả, chuyên tâm bố thí, yêu thích cho và chia sẻ. Trọn đời, tôi sẽ nói lời chân thật. Trọn đời, tôi sẽ không sân hận, hoặc nếu sân hận khởi lên, tôi sẽ nhanh chóng loại bỏ nó.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka.
Một người tôn kính cha mẹ,
và kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình,
có lời nói hòa nhã và lịch sự,
và đã từ bỏ sự chia rẽ;người chuyên tâm loại bỏ sự keo kiệt,
chân thật, và đã chế ngự được sân hận:
chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba
nói rằng họ thực sự là một chân nhân."
I. Chư Thiên Hay Cấm Giới (S.i,228)
1. Tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
3. Bảy cấm giới túc là gì?
4. “Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thực. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy”.
5. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
6.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông là một sinh viên tên là Magha. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Maghavā.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông là người đầu tiên bố thí. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Purindada, người ban tặng đầu tiên.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã bố thí một cách khéo léo. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sakka, người có khả năng.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã bố thí một nhà khách. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Vāsava, người cho trú ngụ.
Sakka suy nghĩ một ngàn điều trong một giờ. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sahassakkha, người có ngàn mắt.
Vợ của Sakka là một thiếu nữ a-tu-la tên là Sujā. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sujampati, phu quân của Sujā.
Sakka cai trị như một vị chúa tể của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Đó là lý do tại sao ông được gọi là vua của chư thiên.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka. Bảy lời nguyện đó là gì?
Trọn đời, tôi sẽ phụng dưỡng cha mẹ. Trọn đời, tôi sẽ kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Trọn đời, tôi sẽ nói lời hòa nhã. Trọn đời, tôi sẽ không nói lời chia rẽ. Trọn đời, tôi sẽ sống tại gia với tâm không còn vết bẩn của sự keo kiệt, rộng lượng, sẵn sàng cho đi, yêu thích sự buông xả, chuyên tâm bố thí, yêu thích cho và chia sẻ. Trọn đời, tôi sẽ nói lời chân thật. Trọn đời, tôi sẽ không sân hận, hoặc nếu sân hận khởi lên, tôi sẽ nhanh chóng loại bỏ nó.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka.
Một người tôn kính cha mẹ,
và kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình,
có lời nói hòa nhã và lịch sự,
và đã từ bỏ sự chia rẽ;người chuyên tâm loại bỏ sự keo kiệt,
chân thật, và đã chế ngự được sân hận:
chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba
nói rằng họ thực sự là một chân nhân."
1. Ở Sàvatthi, Jetavana.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
3. − Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà-la-môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
4. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được tên là Purindado.
5. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn (Sakkaccam), do vậy được tên là Sakka.
6. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vàsavo.
7. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được tên là Sahassa akkha (ngàn con mắt).
8. Này các Tỷ-kheo, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la tên là Sujà, do vậy được tên là Sujampati.
9. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
10. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
11. Thế nào là bảy cấm giới túc?
“Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy”.
12. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn làm người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở gần Vesālī, tại Rừng Lớn, trong giảng đường có mái nhọn.
Khi ấy, Mahāli người Licchavi đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Ngài đã thấy Sakka, vua của chư thiên chưa?”
“Ta đã thấy, này Mahāli.”
“Nhưng chắc chắn, bạch Thế Tôn, Ngài hẳn đã thấy một người nào đó trông giống Sakka. Vì Sakka rất khó thấy.”
"Này Mahāli, Ta hiểu Sakka. Và Ta hiểu những điều mà ông ta đã thực hiện và cam kết, những điều đã giúp ông ta đạt được địa vị của Sakka.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông là một sinh viên tên là Magha. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Maghavā.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã bố thí một cách khéo léo. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sakka, người có khả năng.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông là người đầu tiên bố thí. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Purindada, người ban tặng đầu tiên.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã bố thí một nhà khách. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Vāsava, người cho trú ngụ.
Sakka suy nghĩ một ngàn điều trong một giờ. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sahassakkha, người có ngàn mắt.
Vợ của Sakka là một thiếu nữ a-tu-la tên là Sujā. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Sujampati, phu quân của Sujā.
Sakka cai trị như một vị chúa tể của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Đó là lý do tại sao ông được gọi là Devānaminda, vua của chư thiên.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka. Bảy lời nguyện đó là gì?
Trọn đời, tôi sẽ phụng dưỡng cha mẹ. Trọn đời, tôi sẽ kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Trọn đời, tôi sẽ nói lời hòa nhã. Trọn đời, tôi sẽ không nói lời chia rẽ. Trọn đời, tôi sẽ sống tại gia với tâm không còn vết bẩn của sự keo kiệt, rộng lượng, sẵn sàng cho đi, yêu thích sự buông xả, chuyên tâm bố thí, yêu thích cho và chia sẻ. Trọn đời, tôi sẽ nói lời chân thật. Trọn đời, tôi sẽ không sân hận, hoặc nếu sân hận khởi lên, tôi sẽ nhanh chóng loại bỏ nó.
Trong một kiếp trước, khi Sakka còn là một con người, ông đã phát bảy lời nguyện. Và chính nhờ việc phát những lời nguyện này mà ông đã đạt được địa vị của Sakka.
Một người tôn kính cha mẹ,
và kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình,
có lời nói hòa nhã và lịch sự,
và đã từ bỏ sự chia rẽ;người chuyên tâm loại bỏ sự keo kiệt,
chân thật, và đã chế ngự được sân hận:
chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba
nói rằng họ thực sự là một chân nhân."
1. Như vầy tôi nghe.
2. Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm tại Trùng Các giảng đường.
3. Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
4. Ngồi xuống một bên, Mahàli, người Licchavi bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thấy Thiên chủ Sakka không?
5. − Này Mahàli, Ta có thấy Thiên chủ Sakka.
6. − Bạch Thế Tôn, có thể vị ấy tương tự giống Sakka. Bạch Thế Tôn, thật khó thấy Thiên chủ Sakka.
7. − Này Mahàli, Ta biết Sakka và các pháp tác thành Sakka. Chính do chấp trì các pháp ấy, Sakka được địa vị Sakka. Và Ta biết các pháp ấy.
8. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy là một thanh niên Bà la môn tên là Magha, do vậy được gọi là Maghavà.
9. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí từ thành này qua thành khác, do vậy được gọi là Purtindado.
10. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí một cách trọn vẹn, do vậy được gọi là Sakka.
11. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được gọi là Vàsavo.
12. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy có thể trong một thời gian rất ngắn, suy nghĩ đến ngàn sự việc, do vậy được gọi là Sahassa akkha (một ngàn con mắt).
13. Này Mahàli, Sakka trở thành người chồng của một thiếu nữ A-tu-la là Sujà, do vậy được gọi là Sujampati.
14. Này Mahàli, Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do vậy được gọi là Thiên chủ.
15. Này Mahàli, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc, Sakka được địa vị Sakka.
16. Thế nào là bảy cấm giới túc?
“Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa.Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đình với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ; nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ”.
17. Này Mahali, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trọng bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
Một thời, Đức Phật đang trú ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo ấy vâng đáp. Thế Tôn nói như sau:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, có một người nghèo, khốn cùng và đáng thương. Họ đã khởi niềm tin, giữ đạo đức, học hỏi, thực hành rộng lượng, và có trí tuệ trong giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết. Sau khi thực hành những điều này, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời, trong cộng đồng của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Ở đó, họ vượt trội hơn các vị trời khác về vẻ đẹp và vinh quang.
Nhưng chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: ‘Ôi thưa ngài, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Vì khi vị trời này còn là một con người trong kiếp trước, họ đã nghèo, khốn cùng, và đáng thương. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ đã được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời, trong cộng đồng của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Ở đây họ vượt trội hơn các vị trời khác về vẻ đẹp và vinh quang.’
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, nói với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba: ‘Này các bạn, đừng phàn nàn về vị trời này. Khi vị trời này còn là một con người trong kiếp trước, họ đã khởi niềm tin, giữ đạo đức, học hỏi, thực hành rộng lượng, và có trí tuệ trong giáo pháp và giới luật do Như Lai tuyên thuyết. Sau khi thực hành những điều này, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ đã được tái sinh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời, trong cộng đồng của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Ở đây họ vượt trội hơn các vị trời khác về vẻ đẹp và vinh quang.’
Sau đó, Sakka, vua của chư thiên, hướng dẫn chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, đã đọc bài kệ này:
'Bất cứ ai có niềm tin vào Như Lai,
không lay chuyển và có nền tảng vững chắc;
có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) tốt đẹp,
được các bậc thánh ca ngợi và yêu mến;người có niềm tin vào Tăng đoàn,
và có chánh kiến (correct view / cái thấy đúng đắn):
họ được cho là không nghèo khó,
cuộc sống của họ không vô ích.Vì vậy, hãy để người khôn ngoan chuyên tâm
vào niềm tin, hành vi đạo đức,
sự tin tưởng, và sự thấu hiểu giáo pháp,
ghi nhớ lời dạy của các vị Phật.'"
1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “− Này các Tỷ-kheo.”
3. “− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
4. Thế Tôn nói như sau:
5. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một người ở tại thành Vương Xá này; người ấy nghèo khó, bần cùng, khốn khổ.
6. Người ấy chấp trì lòng tin trong pháp luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ.
7. Người ấy do chấp trì lòng tin trong pháp luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, thiên giới, đời này và cọng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh tiếng.
8. Ở đây, này các vị Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thiên tử này thuở xưa làm người nghèo khó, bần cùng, khốn khổ. Người
ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, đời này và cọng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh tiếng."
9. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên: “Này chư Thân hữu, chớ có bực tức với vị Thiên tử này. Này chư Thân hữu, vị Thiên tử này trước kia làm người, chấp trì lòng tin trong pháp luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ; người ấy do chấp trì lòng tin trong pháp luật do Như Lai tuyên thuyết, chấp trì giới, chấp trì văn, chấp trì thí, chấp trì tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh thiện thú, thiên giới, đời này và cọng trú với chư Thiên Tam thập tam thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư Thiên khác về dung sắc và danh xưng” .
10. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Ai tín thành Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Ai giữ giới thuần thiện,
Ðược bậc Thánh tán thán.
Ai tín thành chúng Tăng,
Chơn trực và chánh kiến,
Ðược gọi: “Không phải nghèo”,
Ðời sống không hư vọng.
Do vậy người có trí,
Phải kiên trì Phật giáo,
Tín thành và trì giới,
Trí kiến đúng Chánh pháp.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
Và rồi Sakka, vua của chư thiên, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, thế nào là một nơi đáng vui thích?”
"Đền thờ trong công viên và rừng rậm,
những hồ sen được làm đẹp đẽ,
không đáng một phần mười sáu
của một con người đáng vui thích.Dù ở làng hay nơi hoang dã,
trong thung lũng hay trên cao nguyên,
bất cứ nơi nào các bậc A-la-hán sống
đều là một nơi đáng vui thích."
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, địa cảnh nào khả ái, khả lạc?
(Thế Tôn):
Các cảnh vườn mỹ diệu,
Các khu rừng mỹ diệu,
Các ao sen khéo xây,
Ðược loài Người khả ái.
Thật sự chỉ đáng giá,
Thật là ít, nhỏ nhoi.
Tại làng hay tại rừng,
Chỗ đất thấp hay cao,
Chỗ nào La-hán trú,
Ðịa cảnh ấy khả ái.
Một thời, Đức Phật đang trú ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu.
Và rồi Sakka, vua của chư thiên, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ngài bằng thơ kệ:
“Đối với con người, những chúng sinh tìm kiếm phước báu,
những người cúng dường tế lễ,
tạo phước thế gian,
sự cúng dường ở đâu thì có quả báu lớn?”"Bốn vị đang thực hành đạo,
và bốn vị đã chứng quả.
Đây là Tăng đoàn chân chính,
với trí tuệ, đạo đức, và thiền định.Đối với con người, những chúng sinh tìm kiếm phước báu,
những người cúng dường tế lễ,
tạo phước thế gian,
những gì được cúng dường cho Tăng đoàn thì có quả báu lớn."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
2. Rồi Thiên tử Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Loài Người lễ tế đàn,
Chúng sanh mong công đức.
Ai làm các công đức,
Ðưa đến sự tái sanh,
Chỗ nào sự bố thí,
Ðược quả báo thật lớn?
4. (Thế Tôn):
Ai thành tựu bốn đạo,
Ai chứng đắc bốn quả,
Tăng chúng ấy chơn trực,
Giới, định, tuệ đầy đủ.
Loài Người lễ tế đàn,
Chúng sanh mong công đức.
Ai làm các công đức,
Ðưa đến sự tái sanh,
Bố thí cho chúng Tăng,
Ðược quả báo thật lớn.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đã lui vào tịnh thất để thiền định ban ngày. Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, và Phạm thiên Sahampati đã đến gần Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa.
Sau đó, Sakka đã đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:
“Hãy đứng lên, hỡi bậc anh hùng! Bậc chiến thắng, đã đặt gánh nặng xuống,
hãy đi khắp thế gian không còn nợ nần.
Tâm của Ngài đã hoàn toàn giải thoát,
như mặt trăng vào đêm rằm.”
"Thưa vua của chư thiên, đó không phải là cách đảnh lễ các bậc Như Lai. Đây mới là cách nên làm:
‘Hãy đứng lên, hỡi bậc anh hùng! Bậc chiến thắng, bậc trưởng đoàn,
hãy đi khắp thế gian không còn nợ nần.
Xin Thế Tôn hãy thuyết Pháp!
Sẽ có những người hiểu được!’"
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang nghỉ trưa Thiền tịnh.
3. Rồi Thiên chủ Sakka và Phạm thiên Sahampati đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi người đứng dựa vào một cột cửa.
4. Rồi Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðứng lên bậc Anh hùng,
Bậc chiến thắng chiến trường,
Ðã đặt gánh nặng xuống,
Không mắc nợ một ai,
Bộ hành khắp thế giới,
Tâm Ngài khéo giải thoát,
Chẳng khác gì mặt trăng,
Trong đêm rằm (chói sáng).
5. Phạm thiên Sahampati:
− Này Thiên chủ, kính lễ Như Lai không phải như vậy. Và này Thiên chủ, kính lễ Như Lai phải như thế này:
Ðứng lên, bậc Anh hùng,
Bậc chiến thắng chiến trường,
Lãnh đạo đoàn lữ hành,
Không mắc nợ một ai,
Bộ hành khắp thế giới,
Thế Tôn hãy thuyết pháp,
Có những người sẽ hiểu.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với người đánh xe Mātali: ‘Này Mātali thân mến, hãy thắng cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng. Chúng ta sẽ đến một công viên để ngắm cảnh.’
‘Vâng, thưa ngài,’ Mātali đáp. Ông thắng cỗ xe và báo cho Sakka: ‘Thưa ngài, cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng đã được thắng xong. Xin ngài đi tùy ý.’
Khi ấy, Sakka từ Cung điện Chiến Thắng đi xuống, chắp tay lên, và kính lễ các phương.
Vì vậy, Mātali, người đánh xe, đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
‘Những người thông thạo Tam Vệ-đà (three Vedas / ba bộ kinh cổ của Bà-la-môn giáo) thờ phụng ngài,
cũng như tất cả các quý tộc trên trái đất,
bốn vị đại vương,
và ba mươi vị vinh quang.
Vậy tên của vị trời
mà ngài thờ phụng là gì, hỡi Sakka?’'Những người thông thạo Tam Vệ-đà thờ phụng ta,
cũng như tất cả các quý tộc trên trái đất,
bốn vị đại vương,
và ba mươi vị vinh quang.Nhưng ta kính lễ những người thành tựu về giới đức,
những người đã tu tập thiền định lâu dài,
những người đã xuất gia chân chính
chuyên tâm vào đời sống phạm hạnh.Ta cũng thờ phụng những người tại gia,
những cư sĩ có đạo đức
tạo phước, này Mātali,
nuôi sống gia đình một cách đúng đắn.’‘Những người mà ngài thờ phụng
dường như là những người tốt nhất trên thế gian, hỡi Sakka.
Tôi cũng sẽ thờ phụng
những người mà ngài thờ phụng, hỡi Sakka.’Sau khi nói điều này, Maghavā, vị thủ lĩnh,
vua của chư thiên, phu quân của Sujā,
sau khi đã kính lễ các phương
đã leo lên cỗ xe của mình."
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Ở đây… Thế Tôn nói:
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe như sau:
" − Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
4. " − Thưa vâng, Tôn giả".
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka; sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
" − Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời!"
5. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay và đảnh lễ các phương hướng.
6. Rồi này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Bậc Tam minh lễ Ngài,
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ Ngài,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
Dạ-xoa ấy tên gì,
Vị mà Ngài đảnh lễ,
Này Sakka?
7. (Sakka):
Bậc Tam minh lễ ta.
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ ta,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
(8)
Nhưng ta chỉ đảnh lễ,
Bậc thành tựu giới, luật,
Lâu ngày tu Thiền định,
Chơn chánh hành xuất gia,
Thành đạt và chứng được
Cứu cánh chơn Phạm hạnh.
Ngoài ra các gia chủ,
Làm công đức, giữ giới,
Nuôi dưỡng vợ đúng pháp,
Các cư sĩ như vậy,
Ta cũng sẽ đảnh lễ,
Hỡi này Màtali.
9. (Màtali):
Phải, tôi cũng được nghe,
Ở đời bậc tối thượng,
Sakka, Ngài đảnh lễ
Những vị Ngài đảnh lễ,
Tôi cũng đều đảnh lễ,
Ôi này Vàsava!
10. (Thế Tôn):
Maghavà nói vậy,
Vua Sujampati,
Ðảnh lễ các phương xong,
Lên xe dẫn đi đầu.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với người đánh xe Mātali: ‘Này Mātali thân mến, hãy thắng cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng. Chúng ta sẽ đến một công viên để ngắm cảnh.’
‘Vâng, thưa ngài,’ Mātali đáp. Ông thắng cỗ xe và báo cho Sakka: ‘Thưa ngài, cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng đã được thắng xong. Xin ngài đi tùy ý.’
Khi ấy, Sakka từ Cung điện Chiến Thắng đi xuống, chắp tay lên, và kính lễ Đức Phật.
Vì vậy, Mātali, người đánh xe, đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
‘Chư thiên và loài người
thờ phụng ngài, hỡi Vāsava.
Vậy tên của vị trời
mà ngài thờ phụng là gì, hỡi Sakka?’'Đó là Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác,
bậc Đạo Sư có danh hiệu vô song
trong thế gian này cùng với chư thiên—
đó là người mà ta thờ phụng, này Mātali.Những người mà trong họ tham, sân, và si
đã phai nhạt;
các bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi)—
đó là những người ta thờ phụng, này Mātali.Các bậc hữu học (trainees / những vị còn đang trên đường tu tập, chưa phải A-la-hán) thích thú với việc giảm bớt khổ đau,
siêng năng theo đuổi việc tu tập
để loại bỏ tham và sân,
và vượt qua si—
đó là những người ta thờ phụng, này Mātali.’‘Những người mà ngài thờ phụng
dường như là những người tốt nhất trên thế gian, hỡi Sakka.
Tôi cũng sẽ thờ phụng
những người mà ngài thờ phụng, hỡi Sakka.’Sau khi nói điều này, Maghavā, vị thủ lĩnh,
vua của chư thiên, phu quân của Sujā,
sau khi đã kính lễ Đức Phật,
đã leo lên cỗ xe của mình."
1. Tại Sàvatthi, Jetavana…
2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Màtali:
" − Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
3. " − Thưa vâng, Tôn giả".
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Sakka:
“Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã được thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời”.
4. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay kính lễ Thế Tôn.
5. Rồi Màtali, người đánh xe nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
6.
Thiên, Nhân kính lễ Ngài,
Hỡi này Vàsava.
Dạ-xoa ấy tên gì
Vị mà Ngài đảnh lễ,
Này Sakka?
7. (Sakka):
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,
Ðời này với chư Thiên,
Bậc Ðạo Sư tối thượng,
Vị ấy ta đảnh lễ,
Này Màtali!
Những vị đã đoạn trừ,
Tham, sân và vô minh,
Bậc lậu tận, La-hán,
Vị ấy ta đảnh lễ.
Bậc điều phục tham sân,
Vượt khỏi (màn) vô minh,
Hoan hỷ đoạn tái sanh,
Các bậc thuộc hữu học,
Không phóng dật, tu học,
Vị ấy ta đảnh lễ,
Này Màtali.
8. (Màtali):
Phải tôi cũng được nghe,
Ở đời bậc tối thượng,
Sakka Ngài đảnh lễ,
Những vị Ngài đảnh lễ,
Tôi cũng đều đảnh lễ,
Ôi này Vàsava.
9.
Maghavà nói vậy,
Vua Sujampati,
Ðảnh lễ Thế Tôn xong,
Lên xe, dẫn đi đầu.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Sakka, vua của chư thiên, đã nói với người đánh xe Mātali: ‘Này Mātali thân mến, hãy thắng cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng. Chúng ta sẽ đến một công viên để ngắm cảnh.’
‘Vâng, thưa ngài,’ Mātali đáp. Ông thắng cỗ xe và báo cho Sakka: ‘Thưa ngài, cỗ xe với một ngàn con ngựa thuần chủng đã được thắng xong. Xin ngài đi tùy ý.’
Khi ấy, Sakka từ Cung điện Chiến Thắng đi xuống, chắp tay lên, và kính lễ Tăng đoàn Tỷ kheo.
Vì vậy, Mātali, người đánh xe, đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
'Chính những người này nên thờ phụng ngài,
tức là những con người bị mắc kẹt trong thân thể hôi thối của họ,
chìm đắm trong một cái xác,
bị đói khát hành hạ.Vậy tại sao ngài lại ghen tị với những người
không nhà, hỡi Vāsava?
Hãy kể về lối sống của các ẩn sĩ,
hãy cho chúng tôi nghe những gì ngài nói.’'Đây là lý do tại sao ta ghen tị với những người
không nhà, này Mātali.
Khi họ rời khỏi một ngôi làng,
họ đi mà không lo lắng.Họ không tích trữ của cải trong kho,
cũng không trong nồi hay giỏ.
Họ tìm kiếm thức ăn do người khác chuẩn bị,
và, trung thành với lời nguyện của mình, sống bằng thức ăn đó.Những người chú tâm, có lời nói đầy trí tuệ,
sống một cách bình yên và tĩnh lặng.
Chư thiên chiến đấu với các a-tu-la,
và con người chiến đấu với nhau, này Mātali.Không chiến đấu giữa những người chiến đấu,
dập tắt (phiền não) giữa những người cầm vũ khí,
không chấp thủ giữa những người chấp thủ:
đó là những người ta thờ phụng, này Mātali.’‘Những người mà ngài thờ phụng
dường như là những người tốt nhất trên thế gian, hỡi Sakka.
Tôi cũng sẽ thờ phụng
những người mà ngài thờ phụng, hỡi Vāsava.’Sau khi nói điều này, Maghavā, vị thủ lĩnh,
vua của chư thiên, phu quân của Sujā,
sau khi đã kính lễ Tăng đoàn Tỷ kheo,
đã leo lên cỗ xe của mình."
1. Tại Sàvatthi, ở Jetavana.
2. Ở đây… Thế Tôn nói như sau:
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe Màtali:
" − Này Màtali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh".
4. " − Thưa vâng, Tôn giả".
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Màtali vâng đáp Thiên chủ Sakka, sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
" − Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã được thắng vào cổ xe. Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời".
5. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chấp tay đảnh lễ Tỷ-kheo Tăng.
6. Này các Tỷ-kheo, rồi người đánh xe Màtali nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
7.
Chắc họ đảnh lễ Ngài,
Những người thân bất tịnh,
Chìm sâu trong thi thể,
Bị đói khát dày vò,
Có gì họ ưa thích,
Ðối những vị xuất gia,
Hãy nói cho được biết,
Sở hành các ẩn sĩ,
Nhờ vậy chúng tôi nghe
Ðược tiếng nói của Ngài,
Hỡi này Vàsava!
8. (Sakka):
Ðối với xuất gia ấy,
Ðiều khiến ta ưa thích,
Khi họ từ làng về,
Họ đi không tham vọng,
Vựa lúa, không cất chứa,
Không ghè, không nồi niêu,
Những gì họ tìm kiếm,
Có người khác sẵn sàng.
Do vậy, họ nuôi sống,
Theo cung cách tốt đẹp.
Họ là bậc Hiền trí,
Khuyên nhủ lời tốt đẹp.
Hay họ giữ im lặng,
Trong tư thế trầm tĩnh.
Chư thiên chiến Tu-la,
Loài Người cũng gây chiến.
Hỡi này Màtali!
Không chiến giữa gây chiến,
Trầm tĩnh giữa đao gậy,
Không chấp giữa chấp trước.
Vậy ta kính lễ họ,
Hỡi này Màtali!
9. (Màtali):
9) Phải, tôi cũng được nghe,
Ở đời bậc tối thượng,
Sakka Ngài đảnh lễ.
Những vị Ngài đảnh lễ,
Tôi cũng đều đảnh lễ.
Ôi, này Vàsava!
10.
Maghavà nói vậy,
Vua Sujampati,
Ðảnh lễ Tăng chúng xong,
Lên xe dẫn đi đầu.
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
Và rồi Sakka, vua của chư thiên, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và nói với Ngài bằng thơ kệ:
“Khi thiêu đốt cái gì thì ngủ được an lành?
Khi thiêu đốt cái gì thì không còn sầu muộn?
Đâu là một thứ duy nhất
mà việc giết nó được Ngài tán thành?”“Khi sân hận được thiêu đốt thì ngủ được an lành.
Khi sân hận được thiêu đốt thì không còn sầu muộn.
Hỡi Vāsava, sân hận có gốc độc
và ngọn mật.
Các bậc thánh tán thành việc giết nó,
vì khi nó được thiêu đốt thì không còn sầu muộn.”
I. Sát Hại Gì? (S.i,237)
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Sát vật gì, được lạc?
Sát vật gì, không sầu?
Có một loại pháp gì,
Ngài tán đồng sát hại,
Tôn giả Gotama?
4. (Thế Tôn):
Sát phẫn nộ được lạc,
Sát phẫn nộ không sầu.
Phẫn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng,
Pháp ấy, bậc Hiền thánh
Tán đồng sự sát hại.
Sát pháp ấy, không sầu,
Hỡi này Vàsava!
Gần Sāvatthī trong Rừng Jeta.
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, có một dạ-xoa xấu xí và dị dạng. Hắn ngồi trên ngai vàng của Sakka, vua của chư thiên.
Nhưng chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: ‘Ôi thưa ngài, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Dạ-xoa xấu xí và dị dạng này đang ngồi trên ngai vàng của Sakka, vua của chư thiên.’ Nhưng chư thiên càng phàn nàn, dạ-xoa đó lại càng trở nên hấp dẫn, ưa nhìn, và đáng yêu hơn.
Vì vậy, chư thiên đã đến gặp Sakka và kể cho ông nghe những gì đã xảy ra, và nói thêm: ‘Chắc chắn, thưa ngài, đó phải là dạ-xoa ăn phẫn nộ (anger-eating spirit / một loài quỷ thần sống bằng sự tức giận của người khác)!’
Khi ấy, Sakka đến gặp dạ-xoa đó, vắt y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về dạ-xoa ăn phẫn nộ, và xưng tên mình ba lần: ‘Thưa ngài, tôi là Sakka, vua của chư thiên! Thưa ngài, tôi là Sakka, vua của chư thiên!’ Nhưng Sakka càng xưng tên mình, dạ-xoa đó lại càng trở nên xấu xí và dị dạng hơn, cho đến khi cuối cùng nó biến mất ngay tại đó.
Sau đó, Sakka, vua của chư thiên, hướng dẫn chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, đã đọc bài kệ này:
'Tâm ta không dễ bị khuấy động;
ta không dễ bị cuốn vào vòng xoáy.
Ta không tức giận lâu,
sân hận không tồn tại lâu trong ta.Khi ta tức giận, ta không nói lời cay nghiệt,
cũng không phô trương đức hạnh của mình.
Ta cẩn thận tự kiềm chế
vì lợi ích của chính mình.'"
1. Tại Sàvatthi, Jetavana.
2. Tại đây… Thế Tôn nói như sau:
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”.
5. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
6. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
7. “− Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?”
8. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: “Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!”.
9. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
10. Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự.
Tại Sāvatthī.
Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Vepacitti, vua của các a-tu-la, bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng. Vì vậy, Sakka đã đến thăm ông để hỏi thăm về bệnh tình của ông.
Vepacitti thấy Sakka đang đến từ xa, và nói với ông: ‘Hãy chữa bệnh cho tôi, thưa vua của chư thiên!’
‘Hãy dạy cho ta, Vepacitti, ma thuật Sambari.’
‘Tôi không thể làm điều đó, thưa ngài, cho đến khi tôi đã hỏi ý kiến các a-tu-la.’
Sau đó, Vepacitti, vua của các a-tu-la, đã hỏi các a-tu-la: ‘Này các bạn, tôi có thể dạy ma thuật Sambari cho Sakka, vua của chư thiên không?’
‘Đừng, thưa ngài, đừng dạy ma thuật Sambari cho Sakka!’
Vì vậy, Vepacitti đã nói với Sakka bằng thơ kệ:
‘Hỡi Maghavā, hỡi Sakka,
vua của chư thiên, phu quân của Sujā,
một pháp sư sẽ rơi vào địa ngục khủng khiếp—
như Sambara, trong một trăm năm.’"
1. Tại Sàvatthi…
2. Thế Tôn nói như sau:
3. − Này các Tỷ-kheo, thuở xưa A-tu-la Vepacitti, vua các A-tu-la bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
4. Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến A-tu-la để hỏi thăm tình trạng bịnh hoạn.
5. Này các Tỷ-kheo, Vepacitti từ đàng xa trông thấy Thiên chủ Sakka đi đến, thấy vậy liền nói với Thiên chủ Sakka:
“− Này Thiên chủ, hãy chữa bệnh cho tôi”.
6. “− Này Vepacitti, hãy nói tôi biết ảo thuật của Sambhara”.
7. “− Này Tôn giả, hãy chờ tôi hỏi ý kiến các A-tu-la.”
8. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la hỏi ý kiến các A-tu-la:
" − Chư Tôn giả, tôi có nên nói cho Thiên chủ Sakka, ảo thuật của Sambhara không?"
9. " − Thưa Tôn giả, Ngài không nên nói cho Thiên chủ Sakka ảo thuật của Sambhara".
10. Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la nói lên bài kệ này với Thiên chủ Sakka:
Ông thuộc dòng Magha,
Là Sakka, Thiên chủ,
Là chồng của Sujà,
Ảo thuật dắt dẫn đến,
Vực sâu của địa ngục,
Tại đấy Sambhara,
Ðã sống một trăm năm.
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, có hai Tỷ kheo đã xung đột. Một trong số họ đã phạm lỗi với người kia. Người phạm lỗi đã thú nhận với Tỷ kheo kia, nhưng vị ấy không chấp nhận. Sau đó, một số Tỷ kheo đã đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.
"Này các Tỷ kheo, có hai kẻ ngu. Một là người không nhận ra khi mình đã phạm lỗi. Và một là người không chấp nhận lời thú nhận của người đã phạm lỗi một cách đúng đắn. Đây là hai kẻ ngu.
Có hai người khôn ngoan. Một là người nhận ra khi mình đã phạm lỗi. Và một là người chấp nhận lời thú nhận của người đã phạm lỗi một cách đúng đắn. Đây là hai người khôn ngoan.
Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Sakka, vua của chư thiên, hướng dẫn chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, đã đọc bài kệ này:
‘Hãy kiểm soát cơn giận của bạn;
đừng để tình bạn phai tàn.
Đừng trách người vô tội,
và đừng nói những lời chia rẽ.
Vì sân hận nghiền nát kẻ xấu
như một ngọn núi.’"
1. Tại Sàvatthi… tại vườn ông Cấp Cô Ðộc.
2. Lúc bấy giờ hai Tỷ-kheo cãi lộn nhau. Ở đây, một Tỷ-kheo phạm tội, Tỷ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỷ-kheo kia. Tỷ-kheo ấy không chấp nhận.
3. Rồi Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
4. − Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai Tỷ-kheo cãi lộn nhau. Một Tỷ-kheo phạm tội. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy phát lộ tội phạm là tội phạm trước mặt Tỷ-kheo kia. Tỷ-kheo ấy không chấp nhận.
5. − Này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo này là ngu si: một vị không thấy phạm tội là phạm tội, một vị không chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ-kheo, hai vị Tỷ-kheo này là ngu si.
6. Này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo này là sáng suốt, một vị thấy phạm tội, một vị chấp nhận phát lộ tội phạm đúng pháp. Này các Tỷ- kheo, hai Tỷ-kheo này là sáng suốt.
7. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:
Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
Giữ tình bạn không phai,
Không đáng mắng, chớ mắng,
Không nên nói hai lưỡi,
Phẫn nộ quăng người ác,
Như đá rơi vực thẳm.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.
Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, thuở xưa, Sakka, vua của chư thiên, hướng dẫn chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, đã đọc bài kệ này:
‘Đừng để sân hận làm chủ,
đừng tức giận với những người đang tức giận.
Lòng từ và sự vô hại
luôn hiện diện trong các bậc thánh.
Vì sân hận nghiền nát kẻ xấu
như một ngọn núi.’"
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, để làm hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên tại hội trường Sudhamma, ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Chớ để lòng phẫn nộ,
Nhiếp phục, chi phối người!
Chớ để lòng sân hận,
Ðối trị với sân hận!
Không phẫn nộ, vô hại,
Bậc Thánh thường an trú.
Phẫn nộ quăng người ác,
Như đá rơi vực thẳm.
[HẾT TẬP I - TƯƠNG ƯNG BỘ]
-ooOoo-
TẬP II: THIÊN NHÂN DUYÊN