Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Tương Ưng về Nhân Duyên

12. TƯƠNG ƯNG NHÂN DUYÊN

Chương về các Đức Phật

SN 12.1 Duyên Khởi Paṭiccasamuppādasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về duyên khởi (dependent origination / sự sinh khởi nhờ vào các điều kiện). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Vô minh (ignorance / sự không hiểu biết) là điều kiện cho hành (choices / các hành động có chủ ý) sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức (consciousness / sự nhận biết của tâm) sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc (name and form / tâm và thân) sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập (six sense fields / sáu giác quan và đối tượng của chúng) sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc (contact / sự tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng) sinh khởi. Xúc là điều kiện cho thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) sinh khởi. Thọ là điều kiện cho ái (craving / sự ham muốn, khao khát) sinh khởi. Ái là điều kiện cho thủ (grasping / sự bám víu, chấp giữ) sinh khởi. Thủ là điều kiện cho hữu (continued existence / quá trình tiếp diễn của sự sống) sinh khởi. Hữu là điều kiện cho sinh (rebirth / sự tái sinh) sinh khởi. Sinh là điều kiện cho lão tử (old age and death / sự già và chết), sầu, bi, khổ, ưu, não (sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress / buồn rầu, than khóc, đau đớn thể xác, buồn bã tinh thần, và phiền muộn) sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Đây được gọi là duyên khởi.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Đức Phật dạy.

I. Phẩm Phật Ðà.

I. Thuyết Pháp − (Tạp 12.16, Ðại 2,85a) (S.ii,1)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói:

− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi.

4. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là đoạn diệt.

5. Thế Tôn nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

SN 12.2 Phân Tích Vibhaṅgasutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng và phân tích cho các ngươi về duyên khởi. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc sinh khởi. Xúc là điều kiện cho thọ sinh khởi. Thọ là điều kiện cho ái sinh khởi. Ái là điều kiện cho thủ sinh khởi. Thủ là điều kiện cho hữu sinh khởi. Hữu là điều kiện cho sinh sinh khởi. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn (aggregates / năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sanh), và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử.

Và thế nào là sinh? Sự tái sinh, sự bắt đầu, sự thụ thai, sự đầu thai, sự biểu hiện của các uẩn, và sự có được các căn xứ của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây được gọi là sinh.

Và thế nào là hữu? Có ba trạng thái tồn tại này. Tồn tại trong dục giới (sensual realm / cõi của các ham muốn giác quan), sắc giới (realm of luminous form / cõi của các hình thể vi tế), và vô sắc giới (formless realm / cõi không có hình thể vật chất). Đây được gọi là hữu.

Và thế nào là thủ? Có bốn loại chấp thủ này. Chấp thủ vào dục (sensual pleasures / các thú vui giác quan), kiến (views / các quan điểm, tà kiến), sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances/ giới cấm thủ, mê tín và rập khuôn), và thuyết ngã (theories of a self / các lý thuyết về một cái tôi thường hằng). Đây được gọi là thủ.

Và thế nào là ái? Có sáu loại ái này. Ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Đây được gọi là ái.

Và thế nào là thọ? Có sáu loại thọ này. Thọ sinh ra từ xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là thọ.

Và thế nào là xúc? Có sáu loại xúc này. Xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là xúc.

Và thế nào là lục nhập? Căn xứ của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là lục nhập.

Và thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng (perception / sự nhận biết, tri giác), (intention / chủ ý, ý định), xúc, và tác ý (application of mind / sự chú tâm, hướng tâm). Đây được gọi là danh. Tứ đại (four principal states / bốn yếu tố chính: đất, nước, lửa, gió), và sắc do tứ đại tạo thành. Đây được gọi là sắc. Như vậy là danh và như vậy là sắc. Đây được gọi là danh sắc.

Và thế nào là thức? Có sáu loại thức này. Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là thức.

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành.

Và thế nào là vô minh? Không biết về khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Đây được gọi là vô minh.

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

II. Phân Biệt − (Tạp 12.16, Ðại 2,85a) (S.ii,2)

1. Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ).

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là thủ.

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái thân này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc thân này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.

13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.

15. Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.

16. Như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.3 Thực Hành Paṭipadāsutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về con đường sai và con đường đúng. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là con đường sai? Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Đây được gọi là con đường sai.

Và thế nào là con đường đúng? Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây được gọi là con đường đúng."

III. Con Ðường… (S.ii,4)

1.. … Trú ở Sàvatthi… (như trên).

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về tà đạo và chánh đạo. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà đạo? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà đạo.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh đạo? Do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh đạo.

SN 12.4 Về Phật Tỳ-bà-thi Vipassīsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Đức Phật Tỳ-bà-thi, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán (perfected one / bậc đã giác ngộ hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và viên mãn) đã có suy nghĩ này trước khi giác ngộ, khi Ngài vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ: ‘Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi, người đang hướng tâm đến giác ngộ, suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?’ Rồi, qua như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có sinh? Cái gì là điều kiện cho sinh?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi hữu tồn tại thì có sinh. Hữu là điều kiện cho sinh.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có hữu? Cái gì là điều kiện cho hữu?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thủ tồn tại thì có hữu. Thủ là điều kiện cho hữu.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có thủ? Cái gì là điều kiện cho thủ?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi ái tồn tại thì có thủ. Ái là điều kiện cho thủ.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có ái? Cái gì là điều kiện cho ái?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thọ tồn tại thì có ái. Thọ là điều kiện cho ái.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có thọ? Cái gì là điều kiện cho thọ?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi xúc tồn tại thì có thọ. Xúc là điều kiện cho thọ.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có xúc? Cái gì là điều kiện cho xúc?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi lục nhập tồn tại thì có xúc. Lục nhập là điều kiện cho xúc.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có lục nhập? Cái gì là điều kiện cho lục nhập?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc tồn tại thì có lục nhập. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có danh sắc? Cái gì là điều kiện cho danh sắc?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thức tồn tại thì có danh sắc. Thức là điều kiện cho danh sắc.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có thức? Cái gì là điều kiện cho thức?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi hành tồn tại thì có thức. Hành là điều kiện cho thức.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có hành? Cái gì là điều kiện cho hành?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi vô minh tồn tại thì có hành. Vô minh là điều kiện cho hành.’

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. ‘Sanh khởi, sanh khởi.’ Khi Bồ-tát Tỳ-bà-thi đang hướng tâm đến giác ngộ, nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ngài về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh? Khi cái gì diệt thì sinh diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi hữu không tồn tại thì không có sinh. Khi hữu diệt, sinh diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có hữu? Khi cái gì diệt thì hữu diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thủ không tồn tại thì không có hữu. Khi thủ diệt, hữu diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có thủ? Khi cái gì diệt thì thủ diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi ái không tồn tại thì không có thủ. Khi ái diệt, thủ diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có ái? Khi cái gì diệt thì ái diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thọ không tồn tại thì không có ái. Khi thọ diệt, ái diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có thọ? Khi cái gì diệt thì thọ diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi xúc không tồn tại thì không có thọ. Khi xúc diệt, thọ diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có xúc? Khi cái gì diệt thì xúc diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi lục nhập không tồn tại thì không có xúc. Khi lục nhập diệt, xúc diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có lục nhập? Khi cái gì diệt thì lục nhập diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc không tồn tại thì không có lục nhập. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có danh sắc? Khi cái gì diệt thì danh sắc diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thức không tồn tại thì không có danh sắc. Khi thức diệt, danh sắc diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có thức? Khi cái gì diệt thì thức diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi hành không tồn tại thì không có thức. Khi hành diệt, thức diệt.’

Rồi Bồ-tát Tỳ-bà-thi suy nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có hành? Khi cái gì diệt thì hành diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Bồ-tát Tỳ-bà-thi liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi vô minh không tồn tại thì không có hành. Khi vô minh diệt, hành diệt.’

Và như vậy, khi vô minh diệt, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. ‘Đoạn diệt, đoạn diệt.’ Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Bồ-tát Tỳ-bà-thi, người đang hướng tâm đến giác ngộ, về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác."

(Kể đầy đủ cho mỗi vị trong bảy vị Phật.)

IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi) (Tạp 15.2-3, Ðại 2,101a) (S.ii,5)

1. Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trước khi Ngài giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, đã khởi lên tư tưởng sau đây: “Thật sự thế giới này đang lâm nguy, bị sanh, bị già, bị chết, đoạn diệt và tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly, thoát khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào biết đến xuất ly, thoát khỏi già và chết”.

3. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết (sanh khởi)?”. Sau khi như lý tư duy, này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt, già chết có mặt. Do duyên sanh, già chết (sanh khởi)”.

4. Rồi Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, sanh có mặt? Do duyên gì, sanh sanh khởi?”. Sau khi như lý tư duy, này các Tỷ- kheo, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do hữu có mặt nên sanh có mặt. Do duyên hữu, sanh (sanh khởi)”.

5. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu có mặt? Do duyên gì, hữu (sanh khởi)?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thủ có mặt, nên hữu có mặt. Do duyên thủ, hữu sanh khởi”.

6. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thủ có mặt? Do duyên gì, thủ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do ái có mặt nên thủ có mặt. Do duyên ái, thủ sanh khởi”.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, ái có mặt? Do duyên gì, ái sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thọ có mặt nên ái có mặt. Do duyên thọ, nên ái sanh khởi”.

8. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thọ có mặt? Do duyên gì, thọ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ phát sinh minh kiến như sau: “Do xúc có mặt nên thọ có mặt. Do duyên xúc, thọ sanh khởi”.

9. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, xúc có mặt? Do duyên gì, xúc sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sáu xứ có mặt nên xúc có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi”.

10. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, sáu xứ có mặt? Do duyên gì, sáu xứ sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc có mặt nên sáu xứ có mặt. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi”.

11. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, danh sắc có mặt? Do duyên gì, danh sắc sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc có mặt. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi”.

12. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức có mặt? Do duyên gì, thức sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do hành có mặt nên thức có mặt. Do duyên hành, thức sanh khởi”.

13. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hành có mặt? Do duyên gì, hành sanh khởi?” Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”.

14. Như vậy, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

15. “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, với Bồ-tát Vipassì, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

16. Và này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên già, chết không có mặt? Do cái gì diệt, già, chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già chết không có mặt. Do sanh diệt nên già chết diệt”.

17. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên sanh không có mặt? Do cái gì diệt nên sanh diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do hữu không có mặt nên sanh không có mặt. Do hữu diệt nên sanh diệt”.

18. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên hữu không có mặt? Do cái gì diệt nên hữu diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thủ không có mặt nên hữu không có mặt. Do thủ diệt nên hữu diệt”.

19. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên thủ không có mặt? Do cái gì diệt nên thủ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do ái không có mặt nên thủ không có mặt. Do ái diệt nên thủ diệt”.

20. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên ái không có mặt? Do cái gì diệt nên ái diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thọ không có mặt nên ái không có mặt. Do thọ diệt nên ái diệt”.

21. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên thọ không có mặt? Do cái gì diệt nên thọ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do xúc không có mặt nên thọ không có mặt. Do xúc diệt nên thọ diệt”.

22. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên xúc không có mặt? Do cái gì diệt nên xúc diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do sáu xứ không có mặt nên xúc không có mặt. Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt”.

23. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt nên sáu xứ không có mặt? Do cái gì diệt nên sáu xứ diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt nên sáu xứ không có mặt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt”.

24. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên danh sắc không có mặt? Do cái gì diệt nên danh sắc diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt nên danh sắc không có mặt. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.

25. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên thức không có mặt? Do cái gì diệt nên thức diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do hành không có mặt nên thức không có mặt. Do hành diệt nên thức diệt”.

26. Rồi này các Tỷ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt nên hành không có mặt? Do cái gì diệt nên hành diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do vô minh diệt nên hành diệt”.

27. Như vậy, do vô minh diệt nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

28. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, trong các pháp từ trước chưa từng được nghe, đối với Bồ tát Vipassì, nhãn khởi nên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

SN 12.5 Thi-khí Sikhīsutta

“Đức Phật Thi-khí, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác …”

V. Sikhì (Thi-khí) (S.ii,9)

− Này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…

SN 12.6 Tỳ-xá-phù Vessabhūsutta

“Đức Phật Tỳ-xá-phù, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác …”

VI. Vessabhu (Tỳ-xá-phù) (S.ii,9)

− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Vessabhu, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…

SN 12.7 Câu-lưu-tôn Kakusandhasutta

“Đức Phật Câu-lưu-tôn, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác …”

VII. Kakusandha (Câu-lưu-tôn) (S.ii,9)

− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…

SN 12.8 Câu-na-hàm Koṇāgamanasutta

“Đức Phật Câu-na-hàm, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác …”

VIII. Konàgamana (Câu-na-hàm). (S.ii,9)

− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…

SN 12.9 Ca-diếp Kassapasutta

“Đức Phật Ca-diếp, bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác …”

IX. Kassapa (Ca-diếp) (S.ii,9)

− Rồi này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… (như trên)…

SN 12.10 Cồ-đàm Gotamasutta

"Này các Tỷ kheo, trước khi giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ—Ta đã suy nghĩ: ‘Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì tồn tại thì có sinh? … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … ‘Khi cái gì tồn tại thì có hành? Cái gì là điều kiện cho hành?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi vô minh tồn tại thì có hành. Vô minh là điều kiện cho hành.’

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. ‘Sanh khởi, sanh khởi.’ Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: 'Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh? … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có hành? Khi cái gì diệt thì hành diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi vô minh không tồn tại thì không có hành. Khi vô minh diệt, hành diệt.’

Và như vậy, khi vô minh diệt, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. ‘Đoạn diệt, đoạn diệt.’ Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác."

X. Mahà Sakya Muni Gotama: Ðại Thích-ca-mâu-ni Cù-đàm. (S.ii,10)

1. Tại Sàvatthi.

2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già chết”.

3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết có mặt. Do duyên sanh nên già chết sanh khởi”.

4-13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt…hữu… thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc…thức… hành… do duyên gì hành sanh khởi?”

Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.

14. Như vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức…(như trên)…hữu duyên sanh, sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

15. “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

16. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Do cái gì diệt, nên già chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già chết không có mặt. Do sanh diệt nên già chết diệt”.

17. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, sanh không có mặt. …hữu. …thủ. …ái. …thọ. …xúc. …sáu xứ…danh sắc. …thức. …hành… Do cái gì diệt, hành diệt?”

Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do duyên vô minh diệt nên hành diệt”.

27. Như vậy, vô minh diệt hành diệt; hành diệt, thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

28. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

Chương về Vật Thực

SN 12.11 Vật Thực Āhārasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. …

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực (fuels / thức ăn nuôi dưỡng) này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực (Solid food / thức ăn dạng vật chất), dù thô hay tế; xúc thực (contact as fuel / sự tiếp xúc làm thức ăn) là thứ hai, ý tư niệm thực (mental intention as fuel / ý định làm thức ăn) là thứ ba, và thức thực (consciousness as fuel / sự nhận biết làm thức ăn) là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của bốn loại vật thực này là gì? Là ái. Và nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của ái là gì? Là thọ. Và nguồn gốc của thọ là gì? Là xúc. Và nguồn gốc của xúc là gì? Là lục nhập. Và nguồn gốc của lục nhập là gì? Là danh sắc. Và nguồn gốc của danh sắc là gì? Là thức. Và nguồn gốc của thức là gì? Là hành. Và nguồn gốc của hành là gì? Là vô minh.

Và như vậy, vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

II. Phẩm Ðồ Ăn

XI. Các Loại Ðồ Ăn (Tạp 15,9 Thực Ðại 2, 101c) (S.ii,11)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Thắng Lâm) trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc )

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực. Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.

3. Và này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.

4. Ái này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Ái do thọ làm nhân, do thọ tập khởi, do thọ tác sanh, do thọ làm cho hiện hữu.

5. Thọ này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Thọ do xúc làm nhân, do xúc tập khởi, do xúc tác sanh, do xúc làm cho hiện hữu.

6. Xúc này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Xúc do sáu xứ làm nhân, do sáu xứ tập khởi, do sáu xứ tác sanh, do sáu xứ làm cho hiện hữu.

7. Sáu xứ này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Sáu xứ do danh sắc làm nhân, do danh sắc tập khởi, do danh sắc tác sanh, do danh sắc làm cho hiện hữu.

8. Danh sắc này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Danh sắc do thức làm nhân, do thức tập khởi, do thức tác sanh, do thức làm cho hiện hữu.

9. Thức này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Thức do hành làm nhân, do hành tập khởi, do hành tác sanh, do hành làm cho hiện hữu.

10. Những hành này, này các Tỷ-kheo, do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu?Các hành này do vô minh làm nhân, do vô minh tập khởi, do vô minh tác sanh, do vô minh làm cho hiện hữu.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức…(như trên )…như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

12. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt…(như trên)…như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.12 Phagguna Búi Tóc Moḷiyaphaggunasutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.”

Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Moḷiyaphagguna thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, vậy ai tiêu thụ thức thực?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói.

“Ta không nói về một người tiêu thụ. Nếu Ta nói về một người tiêu thụ, thì câu hỏi ai tiêu thụ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: ‘Thức là vật thực cho cái gì?’ Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: ‘Thức là vật thực làm điều kiện cho sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi cái đã được tái sinh có mặt, có lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc.’”

“Bạch Thế Tôn, vậy ai tiếp xúc?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói.

“Ta không nói về một người tiếp xúc. Nếu Ta nói về một người tiếp xúc, thì câu hỏi ai tiếp xúc mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: ‘Cái gì là điều kiện cho xúc?’ Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: ‘Lục nhập là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ.’”

“Bạch Thế Tôn, vậy ai cảm thọ?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói.

“Ta không nói về một người cảm thọ. Nếu Ta nói về một người cảm thọ, thì câu hỏi ai cảm thọ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: ‘Cái gì là điều kiện cho thọ?’ Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: ‘Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái.’”

“Bạch Thế Tôn, vậy ai khao khát?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói.

“Ta không nói về một người khao khát. Nếu Ta nói về một người khao khát, thì câu hỏi ai khao khát mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: ‘Cái gì là điều kiện cho ái?’ Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: ‘Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ.’”

“Bạch Thế Tôn, vậy ai chấp thủ?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói.

"Ta không nói về một người chấp thủ. Nếu Ta nói về một người chấp thủ, thì câu hỏi ai chấp thủ mới phù hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Do đó, câu hỏi phù hợp phải là: ‘Cái gì là điều kiện cho thủ?’ Và câu trả lời phù hợp cho câu hỏi này sẽ là: ‘Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu.’ … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Khi sáu xứ của xúc phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

XII. Moliya Phagguna (Tạp 15,10. Ðại 2,102) (S.ii,12).

1.…Trú Tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực. Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.

3. Khi được nói vậy, Tôn giả Moliya-Phagguna bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, ai ăn thức thực?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có ai ăn”. Nếu Ta nói: “Có kẻ ăn”, thời câu hỏi: “Có ai ăn” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, thức thực là cho ai?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Thức thực là duyên cho sự sanh thành, cho sự tái sanh trong tương lai. Khi cái ấy hiện hữu, có mặt thời sáu xứ có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc có mặt”.

4. − Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ cảm xúc”. Nếu Ta nói: “Có kẻ cảm xúc”, thời câu hỏi: “Ai cảm xúc” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, xúc sanh khởi?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi”.

5. − Bạch Thế Tôn, ai cảm thọ?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có người cảm thọ”. Nếu ta có nói: “Có người cảm thọ”, thời câu hỏi: “Ai cảm thọ?” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, thọ sanh khởi?”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên thọ, ái sanh khởi”.

6. − Bạch Thế Tôn, ai khát ái?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ khát ái”. Nếu Ta nói: “Có kẻ khát ái”, thời câu hỏi: “Ai khát ái” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, ái sanh khởi”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên ái, thủ sanh khởi”.

7. −Bạch Thế Tôn, ai chấp thủ?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi ấy không thích hợp. Ta không nói: “Có kẻ chấp thủ”. Nếu Ta nói: “Có kẻ chấp thủ”, thời câu hỏi: “Ai chấp thủ” là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, do duyên gì, thủ sanh khởi”, thời câu hỏi ấy thích hợp. Ở đây, câu trả lời thích hợp là như sau: “Do duyên ái, thủ sanh khởi. Do duyên thủ, hữu sanh khởi”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

8. Nhưng này Phagguna, do ly tham, đoạn diệt một cách hoàn toàn sáu xứ nên xúc diệt. Do xúc diệt, nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.13 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

XIII. Sa Môn, Bà La Môn (Tạp 14.10-11. Ðại 2,99a) (S.ii,14)

1. Trú ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ già, chết, không biết rõ già, chết tập khởi, không biết rõ già, chết đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt; không biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… không biết rõ các hành, không biết rõ các hành tập khởi, không biết rõ các hành đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-lamôn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

3. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào biết rõ già chết, biết rõ già chết tập khởi, biết rõ già chết đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt… biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… biết rõ các hành, biết rõ các hành tập khởi, biết rõ các hành đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại có thể với thắng trí tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.

SN 12.14 Sa-môn và Bà-la-môn (thứ 2) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Họ không hiểu những điều gì?

Họ không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Họ hiểu những điều gì?

Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu những điều này, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

XIV. Sa Môn, Bà La Môn (S.ii,15)

1.. … Trú ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào không biết rõ những pháp này, không biết rõ những pháp này tập khởi, không biết rõ những pháp này đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.

3. Những pháp gì họ không được biết rõ? Những pháp gì họ không được biết rõ tập khởi? Những pháp gì họ không được biết rõ đoạn diệt? Những pháp gì họ không được biết rõ con đường đưa đến đoạn diệt?

4. Họ không biết rõ già chết. Họ không biết rõ già chết tập khởi. Họ không biết rõ già chết đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Họ không biết rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức…Họ không biết rõ các hành. Họ không biết rõ các hành tập khởi. Họ không biết rõ các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ những pháp này. Họ không biết rõ những pháp này tập khởi. Họ không biết rõ pháp này đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.

5. Này các Tỷ-kheo, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Samôn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

6. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ được những pháp này, biết rõ được những pháp này tập khởi, biết rõ được những pháp này đoạn diệt, biết rõ được con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.

7. Họ biết rõ pháp gì? Họ biết rõ những pháp gì tập khởi? Họ biết rõ những pháp gì đoạn diệt? Họ biết rõ con đường đưa đến những pháp gì đoạn diệt?

8. Họ biết rõ già chết. Họ biết rõ già chết tập khởi. Họ biết rõ già chết đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt… sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… Họ biết rõ các hành. Họ biết rõ các hành tập khởi. Họ biết rõ các hành đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ biết rõ những pháp này. Họ biết rõ những pháp này tập khởi. Họ biết rõ những pháp này đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến của những pháp này đoạn diệt.

9. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Samôn, hay là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

SN 12.15 Ca-chiên-diên Kaccānagottasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tôn giả Ca-chiên-diên đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về điều gọi là ‘chánh kiến’ (right view / cái thấy đúng đắn). Chánh kiến được định nghĩa như thế nào?”

"Này Ca-chiên-diên, thế giới này phần lớn dựa vào hai khái niệm đối lập là tồn tại và không tồn tại.

Nhưng khi một người thấy được sự khởi sinh của thế giới với chánh trí tuệ, khái niệm về sự không tồn tại của thế giới sẽ không khởi lên. Và khi một người thấy được sự đoạn diệt của thế giới với chánh trí tuệ, khái niệm về sự tồn tại của thế giới sẽ không khởi lên.

Thế giới phần lớn bị trói buộc bởi sự lôi cuốn, chấp thủ, và cố chấp.

Nhưng nếu—đối với sự lôi cuốn, chấp thủ, sự cố định trong tâm, sự cố chấp, và khuynh hướng ngủ ngầm này—ngươi không bị lôi cuốn, không chấp thủ, và không cam kết với ý nghĩ ‘cái ta của tôi’, ngươi sẽ không còn nghi ngờ hay bất định rằng cái gì sinh khởi chỉ là khổ sinh khởi, và cái gì đoạn diệt chỉ là khổ đoạn diệt. Trí tuệ của ngươi về điều này không phụ thuộc vào người khác.

Đây là cách chánh kiến được định nghĩa.

‘Tất cả đều tồn tại’: đây là một cực đoan.

‘Tất cả đều không tồn tại’: đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai (Realized One / bậc đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Phật) giảng dạy bằng trung đạo (middle way / con đường tránh hai cực đoan):

'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi. Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

XV. Kaccàyanagotta: (Ca-chiên-diên Thị) (Tạp 12.19 Ðại 2,85c) (S.ii,16)

1. Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ)…

2. Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:

− “Chánh kiến, chánh kiến”, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?

4. − Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.

5. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.

6. Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Ðây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến.

7. “Tất cả là có”, này Kaccàyana, là một cực đoan. “Tất cả là không có” là cực đoan thứ hai.

Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.

8. Vô minh duyên hành. Hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.16 Người Thuyết Pháp Dhammakathikasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘người thuyết Pháp’. Một người thuyết Pháp được định nghĩa như thế nào?”

"Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly (disillusionment / sự nhàm chán, không còn ảo tưởng), ly tham (dispassion / sự từ bỏ ham muốn), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt hoàn toàn) đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp’. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp’. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ, do yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt phiền não, trạng thái giải thoát cuối cùng) ngay trong đời này’.

Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly đối với sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … hành … Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp’. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp’. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ, do yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này’."

XVI. Vị Thuyết Pháp (Tạp 14.23-4. Thuyết Pháp, Ðại 2,100c) (S.ii,18)

1. Tại Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Thuyết pháp, thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến.

4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.

5. Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.

6. Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.

7. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… hành… (như trên)… Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.

8. Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.

9. Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.

SN 12.17 Với Ca-diếp, Du Sĩ Lõa Thể Acelakassapasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Du sĩ lõa thể Ca-diếp thấy Đức Phật từ xa đi tới. Ông đến gần Đức Phật và chào hỏi Ngài.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông đứng sang một bên và thưa với Đức Phật:

“Tôi muốn hỏi Tôn giả Cồ-đàm về một điểm, nếu ngài có thời gian để trả lời.”

“Này Ca-diếp, bây giờ không phải lúc để hỏi. Chúng ta đã vào khu dân cư.”

Lần thứ hai, và lần thứ ba, Ca-diếp thưa với Đức Phật và Đức Phật cũng trả lời như vậy. Khi được nói như vậy, Ca-diếp thưa với Đức Phật:

“Tôi không muốn hỏi nhiều.”

“Hãy hỏi điều ông muốn, này Ca-diếp.”

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khổ đau là do tự mình làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Ca-diếp,” Đức Phật nói.

“Vậy khổ đau là do người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Ca-diếp,” Đức Phật nói.

“Vậy, khổ đau là do cả mình và người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Ca-diếp,” Đức Phật nói.

“Vậy khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Ca-diếp,” Đức Phật nói.

“Vậy, không có cái gọi là khổ đau phải không?”

“Không phải là không có cái gọi là khổ đau. Khổ đau là có thật.”

“Vậy Tôn giả Cồ-đàm không biết hay không thấy khổ đau sao?”

“Không phải là Ta không biết hay không thấy khổ đau. Ta biết khổ đau, Ta thấy khổ đau.”

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói ‘không phải vậy’. Nhưng ngài lại nói rằng có cái gọi là khổ đau. Và ngài nói rằng ngài biết khổ đau, và ngài thấy khổ đau. Bạch Thế Tôn, xin hãy giải thích khổ đau cho tôi! Xin hãy dạy tôi về khổ đau!”

"Giả sử người làm nghiệp cũng là người chịu quả báo. Thì đối với người đã tồn tại từ ban đầu, khổ đau là do tự mình làm ra. Tuyên bố này nghiêng về thường kiến (eternalism / quan điểm cho rằng có một cái gì đó thường hằng, vĩnh cửu). Giả sử một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo. Thì đối với người bị cảm thọ chi phối, khổ đau là do người khác làm ra. Tuyên bố này nghiêng về đoạn kiến (annihilationism / quan điểm cho rằng sau khi chết là hết, không còn gì cả). Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi được nói như vậy, Ca-diếp thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Bạch Thế Tôn, con có thể được xuất gia (going forth / từ bỏ đời sống tại gia để tu hành), được thọ giới (ordination / nghi lễ chính thức trở thành tu sĩ) trước sự hiện diện của Đức Phật không?”

“Này Ca-diếp, nếu một người trước đây đã xuất gia trong một giáo phái khác muốn xuất gia, thọ giới trong giáo pháp và giới luật này, họ phải trải qua bốn tháng thời gian thử thách (probation / giai đoạn tập sự). Khi bốn tháng đã qua, nếu các Tỷ kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, thọ giới để trở thành tu sĩ. Tuy nhiên, Ta đã nhận ra sự khác biệt của mỗi cá nhân.”

“Bạch Thế Tôn, nếu cần bốn tháng thử thách trong trường hợp như vậy, con sẽ trải qua bốn năm thử thách. Khi bốn năm đã qua, nếu các Tỷ kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, thọ giới để trở thành tu sĩ.”

Và du sĩ lõa thể Ca-diếp đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Ca-diếp, sống một mình, ẩn dật, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết chí, đã sớm chứng ngộ được đỉnh cao tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài đã sống và đạt được mục đích mà những người con trai của gia đình chân chính từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà, bằng chính tuệ giác của mình.

Ngài hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa cho nơi này.” Và Tôn giả Ca-diếp đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

XVII. Loã Thể (Tạp 12.20, Ðại 2,86a Ðại 14,768) (S.ii,18)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực.

3. Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.

4. Ðứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.

− Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.

5. Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.

− Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.

6. Lần thứ ba, lõa thể Kassapa… (như trên)… Chúng ta đã vào trong làng.

Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.

− Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như Ông muốn.

7. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Kassapa.

8. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Kassapa.

9. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Kassapa.

10. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Kassapa.

11. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?

− Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.

12. − Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ.

− Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.

13. − Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?”, Ngài trả lời: “Không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Như vậy Tôn giả Gotama, không biết, không thấy khổ?”, Ngài trả lời: “Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ”. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ.

14. − Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu “khổ do tự mình làm ra”, như vậy có nghĩa là thường kiến.

Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: “Khổ do người khác làm ra”, như vậy có nghĩa là đoạn kiến.

15. Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo. Vô minh duyên hành, hành duyên thức… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham và đoạn diệt hoàn toàn vô minh, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

16. Khi được nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.

17. − Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

18. − Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.

19. Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.

20. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến; đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: “Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

21. Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 12.18 Với Timbaruka Timbarukasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi du sĩ (wanderer / người tu hành đi lang thang, không có nơi ở cố định) Timbaruka đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, lạc và khổ là do tự mình làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Timbaruka,” Đức Phật nói.

“Vậy lạc và khổ là do người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Timbaruka,” Đức Phật nói.

“Vậy, lạc và khổ là do cả mình và người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Timbaruka,” Đức Phật nói.

“Vậy lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra phải không?”

“Không phải vậy, này Timbaruka,” Đức Phật nói.

“Vậy, không có cái gọi là lạc và khổ phải không?”

“Không phải là không có cái gọi là lạc và khổ. Lạc và khổ là có thật.”

“Vậy Tôn giả Cồ-đàm không biết hay không thấy khổ đau sao?”

“Không phải là Ta không biết hay không thấy lạc và khổ. Ta biết lạc và khổ, Ta thấy lạc và khổ.”

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói ‘không phải vậy’. Nhưng ngài lại nói rằng có cái gọi là lạc và khổ. Và ngài nói rằng ngài biết lạc và khổ, và ngài thấy lạc và khổ. Bạch Thế Tôn, xin hãy giải thích lạc và khổ cho tôi! Xin hãy dạy tôi về lạc và khổ!”

"Giả sử rằng cảm thọ và người cảm thọ là một. Thì đối với người đã tồn tại từ ban đầu, lạc và khổ là do tự mình làm ra. Ta không nói điều này. Giả sử rằng cảm thọ là một chuyện và người cảm thọ là một chuyện khác. Thì đối với người bị cảm thọ chi phối, lạc và khổ là do người khác làm ra. Ta không nói điều này. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, du sĩ Timbaruka thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! … Con xin quy y Tôn giả Cồ-đàm, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

XVIII. Timbaruka (Tạp 12.21 Ðại 2, 86b) (S.ii,22)

1. Trú ở Sàvatthi…

2. Rồi du sĩ Timbaruka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, du sĩ Timbaruka bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ tự mình làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Timbaruka.

4. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải lạc khổ do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Timbaruka.

5. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải lạc khổ do tự mình làm ra và do người khác làm ra?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Timbaruka.

6. − Thưa Tôn giả Gotama, lạc khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra; vậy có phải lạc khổ do tự nhiên sanh?

Thế Tôn đáp:

− Không phải vậy, này Timbaruka.

7. − Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải không có lạc khổ?

8. − Này Timbaruka, không phải không có lạc khổ. Này Timbaruka, có lạc khổ.

− Nếu vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy lạc khổ.

9. − Này Timbaruka, không phải Ta không biết, không thấy lạc khổ. Này Timbaruka, Ta biết lạc khổ. Này Timbaruka, Ta thấy lạc khổ.

10. − Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do tự mình làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: " Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do người khác làm ra?", Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ do tự mình làm ra và do người khác làm ra?”, Ngài đáp: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, không phải do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, có phải lạc khổ do tự nhiên sanh?”, Ngài đáp: “Không phải vậy, này Timbaruka”. Ðược hỏi: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải lạc khổ không có?”, Ngài đáp: “Này Timbaruka, không phải không có lạc khổ, này Timbaruka, có lạc khổ”. Ðược hỏi: “Như vậy Tôn giả Gotama không biết, không thấy lạc khổ?”, Ngài đáp: “Này Timbaruka, không phải Ta không biết, không thấy lạc khổ. Này Timbaruka, Ta biết lạc khổ. Này Timbaruka, Ta thấy lạc khổ”. Vậy Tôn giả Gotama hãy nói lên cho con về lạc khổ. Vậy Tôn giả Gotama hãy thuyết cho con về lạc khổ.

11. − Sự cảm thọ và người cảm thọ là cùng một người. Này Timbaruka, như Ông nói ban đầu: “Lạc khổ do tự mình làm ra”, Ta nói không phải vậy.

12. Cảm thọ và người cảm thọ là khác nhau, này Timbaruka, như vậy đối với người bị cảm thọ, “lạc khổ do người khác làm ra”, Ta nói không phải vậy.

13. Này Timbaruka, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo.

Vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Do ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

14. Khi được nói vậy, du sĩ Timbaruka bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn… (như trên)… Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

SN 12.19 Người Trí và Kẻ Ngu Bālapaṇḍitasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, đối với một kẻ ngu bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Vì vậy có sự nhị nguyên của thân này và danh sắc bên ngoài. Xúc phụ thuộc vào sự nhị nguyên này. Khi tiếp xúc qua một trong sáu căn xứ, kẻ ngu trải nghiệm lạc và khổ.

Đối với một người trí bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Vì vậy có sự nhị nguyên của thân này và danh sắc bên ngoài. Xúc phụ thuộc vào sự nhị nguyên này. Khi tiếp xúc qua một trong sáu căn xứ, người trí trải nghiệm lạc và khổ.

Vậy, sự khác biệt giữa kẻ ngu và người trí là gì?"

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Đối với một kẻ ngu bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Nhưng kẻ ngu đã không từ bỏ vô minh đó hay chấm dứt ái dục đó. Tại sao vậy? Kẻ ngu đã không hoàn thành con đường tâm linh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Do đó, khi thân họ tan rã, kẻ ngu được tái sinh trong một thân khác. Khi được tái sinh trong một thân khác, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Đối với một người trí bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc, thân này đã được tạo ra. Nhưng người trí đã từ bỏ vô minh đó và chấm dứt ái dục đó. Tại sao vậy? Người trí đã hoàn thành con đường tâm linh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Do đó, khi thân họ tan rã, người trí không được tái sinh trong một thân khác. Không được tái sinh trong một thân khác, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy. Đây là sự khác biệt ở đây giữa kẻ ngu và người trí, đó là, việc sống đời sống phạm hạnh."

XIX. Bậc Hiền So Sánh Với Kẻ Ngu (Tạp 12.12, Ðại 2, 83c) (S.ii,23)

1.. … Trú Tại Sàvatthi.

2. − Ðối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người ngu cảm thọ lạc khổ.

3. Ðối với bậc Hiền, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị phạm ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người Hiền cảm thọ lạc khổ.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?

5. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho chúng con ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

6. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

7. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy không thoát khỏi đau khổ”.

8. Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Vị ấy thoát khỏi đau khổ”.

9. Này các Tỷ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu.

SN 12.20 Các Điều Kiện Paccayasutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về duyên khởi và các pháp duyên sinh (dependently originated phenomena / các hiện tượng sinh khởi do duyên). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và thế nào là duyên khởi? Sinh là điều kiện cho lão tử. Dù cho các bậc Như Lai có xuất hiện hay không, quy luật tự nhiên này vẫn tồn tại, sự đều đặn của các nguyên lý tự nhiên này, sự bất biến của các nguyên lý tự nhiên này, tức là y duyên tánh (specific conditionality / tính chất duyên khởi đặc thù). Một bậc Như Lai hiểu và liễu tri điều này, rồi Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và phơi bày nó. ‘Hãy xem,’ Ngài nói, ‘Sinh là điều kiện cho lão tử.’

Hữu là điều kiện cho sinh … Thủ là điều kiện cho hữu … Ái là điều kiện cho thủ …

Thọ là điều kiện cho ái … Xúc là điều kiện cho thọ … Lục nhập là điều kiện cho xúc … Danh sắc là điều kiện cho lục nhập …

Thức là điều kiện cho danh sắc …

Hành là điều kiện cho thức … Vô minh là điều kiện cho hành. Dù cho các bậc Như Lai có xuất hiện hay không, quy luật tự nhiên này vẫn tồn tại, sự đều đặn của các nguyên lý tự nhiên này, sự bất biến của các nguyên lý tự nhiên này, tức là y duyên tánh. Một bậc Như Lai hiểu và liễu tri điều này, rồi Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và phơi bày nó. ‘Hãy xem,’ Ngài nói, ‘Vô minh là điều kiện cho hành.’ Vì vậy, sự thật rằng điều này là thực, không phải không thực, không phải khác đi; tính chất duyên khởi đặc thù của nó: đây được gọi là duyên khởi.

Và thế nào là các pháp duyên sinh? Lão tử là vô thường, do duyên tạo, duyên sinh, có tính chất kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Sinh … Hữu … Thủ … Ái …

Thọ … Xúc … Lục nhập … Danh sắc …

Thức …

Hành … Vô minh là vô thường, do duyên tạo, duyên sinh, có tính chất kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Đây được gọi là các pháp duyên sinh.

Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng đắc các quả vị thánh) đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ về duyên khởi này và các pháp duyên sinh này như chúng thực sự là, thì không thể nào họ quay lại quá khứ, suy nghĩ: ‘Ta có tồn tại trong quá khứ không? Ta có không tồn tại trong quá khứ không? Ta là gì trong quá khứ? Ta như thế nào trong quá khứ? Sau khi là gì, ta đã trở thành gì trong quá khứ?’ Hoặc hướng về tương lai, suy nghĩ: ‘Ta sẽ tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ không tồn tại trong tương lai không? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Sau khi là gì, ta sẽ trở thành gì trong tương lai?’ Hoặc do dự về hiện tại, suy nghĩ: ‘Ta có phải là? Ta không phải là? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sanh này—nó từ đâu đến? Và nó sẽ đi về đâu?’ Tại sao vậy? Bởi vì thánh đệ tử đó đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ về duyên khởi này và các pháp duyên sinh này như chúng thực sự là."

XX. Duyên (Tạp 12.14, Ðại 2, 84b) (S.ii,25)

1. Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông lý duyên khởi và các pháp duyên sanh. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Do duyên sanh, này các Tỷ-kheo, già, chết khởi lên. Dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt định lý ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị.

4. Do duyên sanh, này các Tỷ-kheo, nên có già, chết. Do duyên hữu, này các Tỷ-kheo, nên có sanh. Do duyên thủ, này các Tỷ-kheo, nên có hữu. Do duyên ái, này các Tỷ-kheo, nên có thủ. Do duyên thọ, này các Tỷ-kheo, nên có ái. Do duyên xúc, này các Tỷ-kheo, nên có thọ. Do duyên sáu xứ, này các Tỷ-kheo, nên có xúc. Do duyên danh sắc, này các Tỷ-kheo, nên có sáu xứ. Do duyên thức, này các Tỷ-kheo, nên có danh sắc. Do duyên các hành, này các Tỷ-kheo, nên có thức. Do duyên vô minh, này các Tỷ-kheo, nên có hành. Dầu cho Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt tánh ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị.

5. Do duyên vô minh, này các Tỷ-kheo, có các hành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là như tánh, bất hư vọng tánh, bất dị như tánh, y duyên tánh ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lý duyên khởi.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là duyên sanh pháp? Già, chết, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.

7. Sanh, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.

8. Hữu, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh.

9. − 16) Thủ, này các Tỷ-kheo… ái, này các Tỷ-kheo… Thọ, này các Tỷ-kheo… Xúc, này các Tỷ-kheo… Sáu xứ, này các Tỷ-kheo… Danh sắc, này các Tỷ-kheo… Thức, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…

17. Vô minh, này các Tỷ-kheo, là vô thường hữu vi, duyên sanh, biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là duyên sanh pháp.

18. Do vì, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ lý duyên khởi này và các pháp duyên sanh này, nên chắc chắn vị ấy không chạy theo quá khứ (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt không quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Hay trước ta đã là gì, và nay trong quá khứ ta là gì?”

19. Hay không chạy theo tương lai (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong tương lai? Ta không có mặt trong tương lai? Ta sẽ làm gì trong tương lai? Ta có mặt như thế nào trong tương lai? Hay trước ta là gì, và nay trong tương lai ta sẽ là gì?”

20. Hay nay các vị ấy sẽ khởi lên những nghi ngờ về tự mình trong hiện tại như sau: “Ta hiện có mặt? Ta hiện không có mặt? Ta hiện là gì? Ta hiện có mặt như thế nào?” Sự kiện như vậy không xảy ra.

21. Vì sao? Vì rằng vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đã khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ, định lý duyên khởi này với các pháp duyên sanh này.

Chương về Mười Lực

SN 12.21 Mười Lực Dasabalasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một bậc Như Lai có mười lực và bốn loại tự tín. Với những điều này, Ngài chiếm vị trí của con bò đầu đàn, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp thiêng liêng.

Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ, như vậy là nguồn gốc của thọ, như vậy là sự chấm dứt của thọ. Như vậy là tưởng, như vậy là nguồn gốc của tưởng, như vậy là sự chấm dứt của tưởng. Như vậy là hành, như vậy là nguồn gốc của hành, như vậy là sự chấm dứt của hành. Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.

Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là:

Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

III. Phẩm Mười Lực

I. Mười Lực (Tăng 46,3, Ðại 2,776a) (S.ii,27)

1.. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, đầy đủ bốn vô sở úy, tự nhận vị trí Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa hội chúng, chuyển Pháp luân và nói rằng: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”.

Như vậy do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt.

3. Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4. Do ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.22 Mười Lực (thứ 2) Dutiyadasabalasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một bậc Như Lai có mười lực và bốn loại tự tín. Với những điều này, Ngài chiếm vị trí của con bò đầu đàn, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe pháp thiêng liêng.

Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ, như vậy là nguồn gốc của thọ, như vậy là sự chấm dứt của thọ. Như vậy là tưởng, như vậy là nguồn gốc của tưởng, như vậy là sự chấm dứt của tưởng. Như vậy là hành, như vậy là nguồn gốc của hành, như vậy là sự chấm dứt của hành. Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.

Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là:

Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Vì vậy, giáo pháp đã được Ta giải thích rõ ràng, làm sáng tỏ, mở ra, soi sáng, và loại bỏ những chắp vá. Chỉ cần bấy nhiêu là đủ để một người con trai của gia đình đã xuất gia vì niềm tin khơi dậy năng lực của mình. ‘Hoan hỷ thay, hãy để chỉ còn da, gân, và xương! Hãy để thịt và máu trong thân ta khô héo đi! Ta sẽ không ngừng cố gắng cho đến khi đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, năng lực, và nghị lực của con người.’

Một người lười biếng sống trong khổ đau, lẫn lộn với những phẩm chất xấu, bất thiện, và hủy hoại rất nhiều điều tốt đẹp của chính mình. Một người siêng năng sống hạnh phúc, xa lánh những phẩm chất xấu, bất thiện, và hoàn thành rất nhiều điều tốt đẹp của chính mình.

Điều tốt nhất không thể đạt được bởi điều tồi tệ nhất. Điều tốt nhất được đạt được bởi điều tốt nhất. Đời sống phạm hạnh này là tinh hoa, này các Tỷ kheo, và Bậc Đạo Sư đang ở trước mặt các ngươi.

Vì vậy, các ngươi nên khơi dậy năng lực để đạt được những gì chưa đạt được, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, suy nghĩ rằng: ‘Bằng cách này, sự xuất gia của chúng ta sẽ không lãng phí, mà sẽ có kết quả và màu mỡ. Và việc chúng ta sử dụng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh sẽ mang lại quả báo và lợi ích lớn lao cho những người đã cúng dường.’ Đó là cách các ngươi nên tu tập.

Xem xét những gì tốt cho chính mình, này các Tỷ kheo, là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng. Xem xét những gì tốt cho người khác là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng. Xem xét những gì tốt cho cả hai là đủ để các ngươi kiên trì với sự siêng năng."

II. Mười Lực (Tạp 14.6 Thập Lực, Ðại 2,98a) (S.ii,28)

1.. … Trú Tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

3-4… …

5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.

6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.

7. Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!

8. Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

9. Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.

SN 12.23 Các Điều Kiện Thiết Yếu Upanisasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não sâu kín) là dành cho người biết và thấy, không phải cho người không biết và không thấy. Dành cho người biết và thấy điều gì? ‘Như vậy là sắc, như vậy là nguồn gốc của sắc, như vậy là sự chấm dứt của sắc. Như vậy là thọ … Như vậy là tưởng … Như vậy là hành … Như vậy là thức, như vậy là nguồn gốc của thức, như vậy là sự chấm dứt của thức.’ Sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho người biết và thấy điều này.

Ta nói rằng tri kiến về sự đoạn tận này có một điều kiện thiết yếu, nó không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau và luân hồi).’ Ta nói rằng giải thoát có một điều kiện thiết yếu, nó không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Ly tham.’ Ta nói rằng ly tham có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Yếm ly.’ Ta nói rằng yếm ly có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Tri kiến như thật (truly knowing and seeing / sự biết và thấy đúng như bản chất sự vật).’ Ta nói rằng tri kiến như thật có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Định (immersion / sự tập trung tâm ý cao độ).’ Ta nói rằng định có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘An ổn (bliss / niềm vui, hạnh phúc vi tế).’ Ta nói rằng an ổn có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Khinh an (tranquility / sự yên ổn).’ Ta nói rằng khinh an có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Niềm vui (rapture / hỷ, niềm vui hân hoan).’ Ta nói rằng niềm vui có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Hoan hỷ (joy / sự vui mừng).’ Ta nói rằng hoan hỷ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Niềm tin (faith / tín).’ Ta nói rằng niềm tin có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Khổ.’ Ta nói rằng khổ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Sinh.’ Ta nói rằng sinh có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Hữu.’ Ta nói rằng hữu có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Thủ.’ Ta nói rằng thủ có một điều kiện thiết yếu. Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Ái.’ Ta nói rằng ái có một điều kiện thiết yếu.

Và đó là gì? Các ngươi nên nói: ‘Thọ.’ … Các ngươi nên nói: ‘Xúc.’ … Các ngươi nên nói: ‘Lục nhập.’ … Các ngươi nên nói: ‘Danh sắc.’ … Các ngươi nên nói: ‘Thức.’ … Các ngươi nên nói: ‘Hành.’ … Ta nói rằng hành có một điều kiện thiết yếu, chúng không thiếu một điều kiện thiết yếu. Và điều kiện thiết yếu cho hành là gì? Các ngươi nên nói: ‘Vô minh.’

Vì vậy, vô minh là điều kiện thiết yếu cho hành. Hành là điều kiện thiết yếu cho thức. Thức là điều kiện thiết yếu cho danh sắc. Danh sắc là điều kiện thiết yếu cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện thiết yếu cho xúc. Xúc là điều kiện thiết yếu cho thọ. Thọ là điều kiện thiết yếu cho ái. Ái là điều kiện thiết yếu cho thủ. Thủ là điều kiện thiết yếu cho hữu. Hữu là điều kiện thiết yếu cho sinh. Sinh là điều kiện thiết yếu cho khổ. Khổ là điều kiện thiết yếu cho niềm tin. Niềm tin là điều kiện thiết yếu cho hoan hỷ. Hoan hỷ là điều kiện thiết yếu cho niềm vui. Niềm vui là điều kiện thiết yếu cho khinh an. Khinh an là điều kiện thiết yếu cho an ổn. An ổn là điều kiện thiết yếu cho định. Định là điều kiện thiết yếu cho tri kiến như thật. Tri kiến như thật là điều kiện thiết yếu cho yếm ly. Yếm ly là điều kiện thiết yếu cho ly tham. Ly tham là điều kiện thiết yếu cho giải thoát. Giải thoát là điều kiện thiết yếu cho tri kiến về sự đoạn tận.

Giống như khi trời mưa lớn trên đỉnh núi, và nước chảy xuống đồi để lấp đầy các hốc, khe, và suối nhỏ. Khi chúng đầy, chúng lấp đầy các ao. Các ao lấp đầy các hồ, các hồ lấp đầy các dòng suối, và các dòng suối lấp đầy các con sông. Và khi các con sông đầy, chúng lấp đầy đại dương.

Cũng vậy, vô minh là điều kiện thiết yếu cho hành. … Giải thoát là điều kiện thiết yếu cho tri kiến về sự đoạn tận."

III. Duyên (S.ii,29)

1.… Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, đối với người biết, này các Tỷ-kheo, đối với người thấy, Ta nói các lậu hoặc được đoạn diệt, không phải đối với người không biết, không phải đối với người không thấy.

3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào đối với người biết, đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người biết, như vậy đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, trong đoạn diệt ấy, trí về đoạn diệt, Ta nói rằng trí ấy có duyên, không phải không có duyên.

5. Và này các Tỷ-kheo, duyên của trí về đoạn diệt là gì? Giải thoát là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng giải thoát có duyên, không phải không có duyên.

6. Và này các Tỷ-kheo, duyên của giải thoát là gì? Ly tham là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ly tham có duyên, không phải không có duyên.

7. Và này các Tỷ-kheo, duyên của ly tham là gì? Yếm ly là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng yếm ly có duyên, không phải không có duyên.

8. Và này các Tỷ-kheo, duyên của yếm ly là gì? Tri kiến như chân là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tri kiến như chân có duyên, không phải không có duyên.

9. Và này các Tỷ-kheo, duyên của tri kiến như chân là gì? Ðịnh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng định có duyên, không phải không có duyên.

10. Và này các Tỷ-kheo, duyên của định là gì? Lạc là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lạc có duyên, không phải không có duyên.

11. Này các Tỷ-kheo, duyên của lạc là gì? Khinh an là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khinh an có duyên, không phải không có duyên.

12. Và này các Tỷ-kheo, duyên của khinh an là gì? Hỷ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ có duyên, không phải không có duyên.

13. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.

14. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.

15. Và này các Tỷ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên.

16. Và này các Tỷ-kheo, duyên của khổ là gì? Sanh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng sanh có duyên, không phải không có duyên.

17. Và này các Tỷ-kheo, duyên của sanh là gì? Hữu là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hữu có duyên, không phải không có duyên.

18. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hữu là gì? Thủ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng thủ có duyên, không phải không có duyên.

19. Và này các Tỷ-kheo, duyên của thủ là gì? Ái là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ái có duyên, không phải không có duyên.

20-25. Và này các Tỷ-kheo, duyên của ái là gì? Thọ là câu trả lời… (như trên)…

Xúc là câu trả lời…

Sáu xứ là câu trả lời… Danh sắc là câu trả lời…

Thức là câu trả lời…

Hành là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hành có duyên, không phải không có duyên.

26. Và này các Tỷ-kheo, duyên của hành là gì? Vô minh là câu trả lời.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.

27. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy.

28. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.

SN 12.24 Tín Đồ Các Tôn Giáo Khác Aññatitthiyasutta

Gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm. Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Rồi ngài khởi lên ý nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương-xá. Tại sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?”

Rồi ngài đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, có những vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Sa-môn Cồ-đàm nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng tôi nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì sa-môn Cồ-đàm đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng tôi nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?”

"Thưa các Tôn giả, Đức Phật đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nếu các vị nói điều này, các vị sẽ lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật. Các vị sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của ngài, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

Tôn giả A-nan đã nghe cuộc thảo luận này giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và các du sĩ ngoại đạo đó. Rồi A-nan đi khất thực ở Vương-xá. Sau bữa ăn, trên đường trở về từ chuyến khất thực, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

"Tốt lắm, tốt lắm, A-nan! Đúng như Xá-lợi-phất đã giải thích rất đúng. Ta đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc.

A-nan, có một lần Ta đang ở gần Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Rồi Ta đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Vương-xá để khất thực. Rồi Ta nghĩ: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương-xá. Tại sao mình không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?’

Rồi Ta đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, Ta ngồi xuống một bên. …"

(Các du sĩ đã hỏi Đức Phật những câu hỏi y hệt, và Ngài đã đưa ra những câu trả lời tương tự.)

“Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật đáng kinh ngạc, làm thế nào mà toàn bộ vấn đề được trình bày chỉ bằng một câu. Liệu có một lời giải thích chi tiết về vấn đề này vừa sâu sắc vừa có vẻ sâu sắc không?”

“Vậy thì, A-nan, hãy tự mình làm sáng tỏ vấn đề này.”

"Bạch Thế Tôn, giả sử họ hỏi con: ‘Thưa Tôn giả A-nan, nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của lão tử là gì?’ Con sẽ trả lời như thế này: ‘Thưa các Tôn giả, sinh là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của lão tử.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: ‘Nguồn gốc của sinh là gì?’ Con sẽ trả lời như thế này: ‘Hữu là nguồn gốc của sinh.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: ‘Nguồn gốc của hữu là gì?’ Con sẽ trả lời như thế này: ‘Thủ là nguồn gốc của hữu.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.

Giả sử họ hỏi con: ‘Nguồn gốc của thủ là gì?’ … ái … thọ … Giả sử họ hỏi con: ‘Nguồn gốc của xúc là gì?’ Con sẽ trả lời như thế này: ‘Lục nhập là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của xúc.’ ‘Khi sáu xứ của xúc phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, xúc diệt. Khi xúc diệt, thọ diệt. Khi thọ diệt, ái diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

IV. Ngoại Ðạo (S.ii,32)

1.… Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).

2. Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ: “Thật là quá sớm để vào Vương Xá khất thực. Ta hãy đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo”.

4. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Tôn giả liền ngồi xuống một bên.

Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:

5. − Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.

6. Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Sa-môn Gotama thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Sa-môn Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Sa-môn Gotama không đúng sự thực. Pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.

7. Chư Hiền giả, Thế Tôn đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, pháp được trả lời là thuận pháp, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.

8. Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc… Những Sa-môn, Bà-lamôn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.

9. Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.

10. Tôn giả Ananda nghe câu chuyện giữa Tôn giả Sàriputta với các du sĩ ngoại đạo ấy.

11. Rồi Tôn giả Ananda, đi khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda đem tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Sàriputta và các du sĩ ngoại đạo trình bày lên Thế Tôn.

12. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ananda, Ta nói rằng khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn, cũng không tìm được lý do để chỉ trích.

13. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-lamôn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.

14. Ở đây, nàyAnanda, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.

15. Này Ananda, một thời Ta trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

16. Rồi này Ananda, vào buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát đi vào Vương Xá để khất thực.

17. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm đi vào Vương Xá để khất thực. Vậy Ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”.

18. Rồi này Ananda, Ta đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến Ta nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Ta ngồi xuống một bên.

Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Ta đang ngồi một bên:

19. "− Này Hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Nay Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-lamôn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.

20. Ở đây, Tôn giả Gotama thuyết như thế nào? Chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Tôn giả Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Tôn giả Gotama không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích?"

21. Khi được nói vậy, này Ananda, Ta nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:

“− Này chư Hiền, Ta đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích”.

22. Ở đây, chư Hiền giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Có những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Có những Samôn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.

23. Ở đây, chư Hiền giả, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ do tự mình làm; họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.

24. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Làm sao tất cả nghĩa được nói chỉ trong một câu. Bạch Thế Tôn, nếu nghĩa này được nói rộng ra, nghĩa này sẽ sâu thẳm và có vẻ được xem là sâu thẳm.

25. − Vậy này Ananda, Ông hãy trình bày nghĩa ấy ở đây.

26. − Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, già, chết lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Già, chết, thưa các Tôn giả, lấy sanh làm nhân, lấy sanh tập khởi, lấy sanh tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

27. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: “Sanh, thưa các Tôn giả, lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

28. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Hữu, thưa các Tôn giả, lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

29-31. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, thủ lấy gì làm nhân… ái lấy gì làm nhân… thọ lấy gì làm nhân… (như trên)…”. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, xúc lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Xúc, thưa các Hiền giả, lấy sáu xứ làm nhân, lấy sáu xứ tập khởi, lấy sáu xứ tác sanh, lấy sáu xứ làm hiện hữu. Thưa các Hiền giả, do sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn các xúc xứ, xúc được đoạn diệt. Do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

SN 12.25 Với Bhūmija Bhūmijasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhūmija ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, có những vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ là do cả mình và người khác làm ra. Một số trong họ tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Đức Phật nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng ta nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng ta nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?”

"Thưa Tôn giả, Đức Phật đã nói rằng lạc và khổ là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nếu ngài nói điều này, ngài sẽ lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật. Ngài sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của ngài, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

Tôn giả A-nan đã nghe cuộc thảo luận này giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Bhūmija. Rồi Tôn giả A-nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.

"Tốt lắm, tốt lắm, A-nan! Đúng như Xá-lợi-phất đã giải thích rất đúng. Ta đã nói rằng lạc và khổ là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Hãy xem xét các vị sa-môn và bà-la-môn dạy về hiệu quả của hành động. Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng lạc và khổ phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc.

A-nan, chừng nào còn có thân, ý định tạo ra hành động của thân sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Chừng nào còn có lời nói, ý định tạo ra hành động của lời nói sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Chừng nào còn có tâm, ý định tạo ra hành động của tâm sẽ gây ra lạc và khổ cho chính mình. Nhưng những điều này chỉ áp dụng khi có vô minh làm điều kiện.

Tự mình khởi xướng hành động của thân, lời nói, và tâm, do đó mà lạc và khổ phát sinh trong chính mình. Hoặc người khác khởi xướng hành động … Tự mình có ý thức khởi xướng hành động … Hoặc tự mình vô thức khởi xướng hành động …

Vô minh bao gồm trong tất cả những điều này. Nhưng khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, không còn thân, không còn lời nói, và không còn tâm, do đó mà lạc và khổ không còn phát sinh trong chính mình. Không còn trường, không còn đất, không còn phạm vi, không còn cơ sở, do đó mà lạc và khổ không còn phát sinh trong chính mình."

V- Bhùmija** (Tạp 14.1 Phù di, Ðại 2.95b) (S.ii,37)

1.…Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Bhùmija, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng đậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhùmija thưa Tôn giả Sàriputta:

3. − Hiền giả Sàruputta, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm. Hiền giả Sàruputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm. Hiền giả Sariputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do người khác làm. Hiền giả Sàriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh.

4. Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn không tìm được lý do để chỉ trích?

5. − Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói lạc khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp, và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng tìm được lý do để chỉ trích.

6. Ở đây, này Hiền giả, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm; lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố là lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh; lạc khổ ấy chính do duyên xúc.

7. Ở đây, này Hiền giả, các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Các Sa-môn, Bàla-môn nào…(như trên)… Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.

8. Tôn giả Ananda được nghe chuyện này giữa Tôn giả Sàriputta với Tôn giả Bhùmija.

9. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda đem tất cả câu chuyện xảy ra như thế nào giữa Tôn giả Sàriputta với Tôn giả Bhùmija bạch lên Thế Tôn.

10. − Lành thay, lành thay! Này Ananda, Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ananda, Ta nói rằng khổ là do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào cật vấn Ta không có thể tìm được lý do để chỉ trích.

11. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Samôn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh; khổ lạc ấy chính do duyên xúc.

12. Ở đây, này Ananda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra.

13. Này Ananda, chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có lời nói, này Ananda, do nhân khẩu tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có ý, này Ananda, do nhân ý tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ.

14. Do duyên vô minh, hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

15. Hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác này Ananda làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

16. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda… (như trên)… Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

17. Hoặc tự mình, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

18. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda… (như trên)… Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

19. Này Ananda, trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối. Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Khẩu ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Chúng không phải là đồng ruộng, chúng không phải là căn cứ, chúng không phải là xứ, chúng không phải là luận sự; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.

SN 12.26 Với Upavāna Upavāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tôn giả Upavāna đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, có một số sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau là do người khác làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau là do cả mình và người khác làm ra. Có một số tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra.

Đức Phật nói gì về điều này? Ngài giải thích nó như thế nào? Chúng con nên trả lời như thế nào để lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Chúng con nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích?"

"Này Upavāna, Ta đã nói rằng khổ đau là do duyên sinh. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào xúc. Nói điều này, ngươi sẽ lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Ngươi sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp của Ta, và sẽ không có cơ sở hợp pháp nào để bác bỏ và chỉ trích.

Trong trường hợp những sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, điều đó cũng do xúc làm điều kiện.

Trong trường hợp những sa-môn và bà-la-môn tuyên bố rằng khổ đau là do tự mình làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc. … Trong trường hợp những người tuyên bố rằng khổ đau phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra, không thể nào họ sẽ trải nghiệm điều đó mà không có xúc."

VI. Upavàna (Ưu-ba-ma-na) (S.ii,41)

1.. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm. Bạch Thế Tôn lại có những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do người khác làm. Bạch Thế Tôn, lại có những Sa-môn, Bà-lamôn tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Bạch Thế Tôn, lại có những Sa-môn, Bà-lamôn tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.

4. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng con trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng con không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thực; pháp chúng con trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích?.

5. − Này Upavàna, Ta đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thực; pháp được trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.

6. Ở đây, này Upavàna, những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm ra; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ không do mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.

7. Ở đây, này Upavàna, những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn… (như trên)… Những Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.

SN 12.27 Các Điều Kiện Paccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử. Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Và thế nào là sinh? … Và thế nào là hữu? … Và thế nào là thủ? … Và thế nào là ái? … Và thế nào là thọ? … Và thế nào là xúc? … Và thế nào là lục nhập? … Và thế nào là danh sắc? … Và thế nào là thức? …

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành. Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu các điều kiện, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử’."

VII. Duyên (S.ii,42)

1.… Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… Như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, hủ bại, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vứt bỏ; đây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.

4. Do sanh khởi, già chết khởi. Do sanh diệt, già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết đoạn diệt tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?..

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?..

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?..

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?..

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?..

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?..

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?..

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?..

13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?.. (xem như trên, chương Một, phẩm Một, II. 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13)

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.

Do vô minh khởi, hành khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến sự đoạn diệt các hành. Tức là chánh tri kiến… chánh định.

15. Này các Tỷ-kheo, do vị Thánh đệ tử biết duyên như vậy, duyên tập khởi như vậy, duyên đoạn diệt như vậy; biết rõ con đường đưa đến đoạn diệt như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là đạt tri kiến, đạt kiến, đã đạt đến diệu pháp này, thấy được diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.

SN 12.28 Một Tỷ Kheo Bhikkhusutta

Tại Xá-vệ.

"Một Tỷ kheo hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử. Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Và thế nào là sinh? … Và thế nào là hữu? … Và thế nào là thủ? … Và thế nào là ái? … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức …

Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành. Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một Tỷ kheo hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử’."

VIII. Vị Tỷ Kheo (Tạp 14.14, Lão Tử, Ðại 2,99c) (S.ii.43)

1.. … Trú ở Sàvatthi.

2. Tại đây…

3. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hiểu rõ già chết, hiểu rõ già chết tập khởi, hiểu rõ già chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt…(như trên)…

4.… Hiểu rõ sanh…

5.… Hiểu rõ hữu…

6.… Hiểu rõ thủ…

7.… Hiểu rõ ái…

8.… Hiểu rõ thọ…

9.… Hiểu rõ xúc…

10.… Hiểu rõ sáu xứ…

11.… Hiểu rõ danh sắc…

12.… Hiểu rõ thức…

13.… Hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vứt bỏ; đây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.

15. Do sanh khởi, già chết khởi. Do sanh diệt, già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.

16-24. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh… (như trên)… Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu… Này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ… Này các Tỷ-kheo, thế nào là ái… là thọ… là xúc… là sáu xứ… là danh sắc… là thức?..

25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo: thân hành, khẩu hành, ý hành. Ba hành này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành.

Do vô minh khởi nên hành khởi. Do vô minh diệt nên hành diệt. Ðây chính là Thánh đạo tám ngành đưa đến hành đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến…(như trên)…chánh định.

26. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết rõ già chết như vậy, biết rõ già chết tập khởi như vậy, biết rõ già chết đoạn diệt như vậy, biết rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt như vậy.

27-36. Do biết rõ sanh như vậy… hữu… thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc… thức… Do biết rõ hành như vậy, biết rõ hành tập khởi như vậy, biết rõ hành đoạn diệt như vậy, do biết rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt như vậy.

37. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy được diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.

SN 12.29 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những vị sa-môn và bà-la-môn không hoàn toàn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hoàn toàn hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ không hoàn toàn hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta không xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hoàn toàn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hoàn toàn hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hoàn toàn hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Ta xem họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống với sự chứng ngộ đó bằng chính tuệ giác của mình."

IX. Sa Môn, Bà La Môn (Tạp 14,12-3, Sa-môn, Bà-la-môn, Ðại 2,99b) (S.ii,42)

1.…Trú ở Sàvatthi.

2-12. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không hiểu rõ già chết, không hiểu rõ già chết tập khởi, không hiểu rõ già chết đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt, không hiểu rõ sanh…(như trên)… Hữu…thủ…ái…thọ…xúc…sáu xứ…danh sắc…thức… không hiểu rõ hành, không hiểu rõ hành tập khởi, không hiểu rõ hành đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt;

13. Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bàla-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy cũng không có thể ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

14-24. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào hiểu rõ già chết, hiểu rõ già chết tập khởi, hiểu rõ già chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt, hiểu rõ sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt;

25. Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

SN 12.30 Sa-môn và Bà-la-môn (thứ 2) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Không thể nào họ sẽ an trú vượt qua được lão tử. Họ không hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ không hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Không thể nào họ sẽ an trú vượt qua được hành.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Có thể họ sẽ an trú vượt qua được lão tử. Họ hiểu về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Có thể họ sẽ an trú vượt qua được hành."

X. Sa Môn, Bà La Môn (như trên) (S.ii,46)

1.… Trú ở Sàvatthi.

2. Ở đây…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua già chết và an trú; sự kiện như vậy không xảy ra.

4-12. Không biết sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức…

13. Không biết hành, không biết hành tập khởi, không biết hành đoạn diệt, không biết con đường đưa đến hành đoạn diệt, họ chắc chắn vượt qua các hành và an trú; sự kiện như vậy không xảy ra.

14. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua già chết và an trú, sự kiện như vậy có xảy ra.

15-23. Biết sanh… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu xứ… danh sắc… thức… biết hành, biết hành tập khởi, biết hành đoạn diệt; biết con đường đưa đến hành đoạn diệt; họ chắc chắn vượt qua các hành và an trú; sự kiện như vậy có xảy ra.

Chương với Kaḷāra, người Quý tộc

SN 12.31 Cái Đã Thành Bhūtasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Xá-vệ.

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: "Này Xá-lợi-phất, điều này đã được nói trong ‘Con Đường đến Bờ Kia’, trong ‘Những Câu Hỏi của Ajita’:

‘Có những người đã thẩm định giáo pháp,
và nhiều loại người tu học ở đây.
Hãy nói cho tôi biết về hành vi của họ, hỡi bạn hiền,
khi được hỏi, vì bạn là người tỉnh thức.’

Chúng ta nên hiểu ý nghĩa chi tiết của câu nói ngắn gọn này như thế nào?"

Khi Ngài nói điều này, Xá-lợi-phất giữ im lặng.

Lần thứ hai …

Lần thứ ba …

Xá-lợi-phất giữ im lặng.

“Này Xá-lợi-phất, ngươi có thấy rằng cái này đã thành không?”

"Bạch Thế Tôn, một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng cái này đã thành. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã thành. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng nó khởi sinh với vật thực đó. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vật thực cho sự khởi sinh của nó. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng khi vật thực đó diệt, cái đã thành có khả năng diệt. Thấy điều này, người ấy đang thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái có khả năng diệt. Bằng cách này, người ấy là một người tu học.

Và, bạch Thế Tôn, người đã thẩm định giáo pháp là gì? Bạch Thế Tôn, một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng cái này đã thành. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã thành. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng nó khởi sinh với vật thực đó. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vật thực cho sự khởi sinh của nó. Một người thực sự thấy bằng chánh trí tuệ rằng khi vật thực đó diệt, cái đã thành có khả năng diệt. Thấy điều này, người ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với cái có khả năng diệt. Bằng cách này, người ấy đã thẩm định giáo pháp.

Bạch Thế Tôn, về những gì đã được nói trong ‘Con Đường đến Bờ Kia’, trong ‘Những Câu Hỏi của Ajita’:

‘Có những người đã thẩm định giáo pháp,
và nhiều loại người tu học ở đây.
Hãy nói cho tôi biết về hành vi của họ, hỡi bạn hiền,
khi được hỏi, vì bạn là người tỉnh thức.’

Đây là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì đã được nói ngắn gọn."

“Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất!” (Đức Phật lặp lại toàn bộ lời giải thích của Xá-lợi-phất, kết luận:)

Đây là cách để hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì đã được nói ngắn gọn."

IV. Phẩm Kalara - Vị Sát Ðế Lị

I. Sanh (Tạp 14.3 Tập sanh, Ðại 2,95b) (S.ii.47)

1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi.

I

2. Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:

− Này Sàriputta, trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:

Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!

Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.

3. Lần thứ hai, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta… (như trên)… Lần thứ hai, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.

4. Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:

− Này Sàriputta, trong kinh Karàyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:

Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!

Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.

II

5. − Này Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành? Này Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành?

6. − Cái này được sinh thành. Bạch Thế Tôn, vị ấy với chánh trí tuệ thấy như chơn cái này được sinh thành. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy thấy với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sự tục sanh do một loại đồ ăn.

Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị sự đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt. Sau khi thấy như chơn với chánh tri tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt. Như vậy, bạch Thế Tôn là bậc hữu học.

7. Và bạch Thế Tôn, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Bạch Thế Tôn, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ cái này được sinh thành. “Cái này được sinh thành”; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.

Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ. Như vậy, bạch Thế Tôn, là thuần thục pháp hữu vi.

8. Như vậy, bạch Thế Tôn, như đã được nói trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:

Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!

Bạch Thế Tôn, lời nói tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

III

9. − Lành thay, lành thay! Cái này được sinh thành, này Sàriputta, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, đối với cái được sinh thành. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn.

Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt với một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.

Như vậy, này Sàriputta, là bậc hữu học.

10. Và này Sàriputta, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Này Sàriputta, cái này được sinh thành, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.

Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.

Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ.

Như vậy, này Sàriputta, là thuần thục pháp hữu vi.

11. Như vậy, này Sàriputta, như đã được nói trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:

Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!

Này Sàriputta, lời nói tóm tắt này cần hiểu ý nghĩa một cách, rộng rãi như vậy.

SN 12.32 Với Kaḷāra, người Quý tộc Kaḷārasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi Tỷ kheo Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, Tỷ kheo Moḷiyaphagguna đã từ bỏ việc tu học và trở về đời sống thấp kém hơn.”

“Vị tôn giả đó chắc hẳn đã không tìm thấy sự hài lòng nào trong giáo pháp và giới luật này.”

“Vậy thì, Tôn giả Xá-lợi-phất đã tìm thấy sự hài lòng trong giáo pháp và giới luật này chưa?”

“Thưa Tôn giả, tôi không có sự bất định nào.”

“Nhưng còn tương lai thì sao?”

“Tôi không có nghi ngờ.”

Rồi Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.”’”

Vì vậy, Đức Phật gọi một trong các vị Tăng: “Này Tỷ kheo, hãy nhân danh Ta nói với Xá-lợi-phất rằng Bậc Đạo Sư triệu tập ông ấy.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tăng đó đáp lời. Ông đến gặp Xá-lợi-phất và nói với ngài: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, Bậc Đạo Sư triệu tập ngài.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Xá-lợi-phất đáp. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài: “Này Xá-lợi-phất, có thật là ngươi đã tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’ không?”

“Bạch Thế Tôn, con đã không trình bày vấn đề bằng những từ ngữ và câu cú này.”

“Này Xá-lợi-phất, dù một người con trai của gia đình tuyên bố giác ngộ như thế nào, những gì ông ấy đã tuyên bố nên được xem là như vậy.”

“Bạch Thế Tôn, con cũng đã không nói rằng con đã không trình bày vấn đề bằng những từ ngữ và câu cú này sao?”

“Này Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, làm thế nào ngài đã biết và thấy để tuyên bố giác ngộ: “Tôi hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’”?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Thưa các Tôn giả, vì sự đoạn diệt của nguồn gốc tái sinh, khi nó đã diệt, tôi biết “nó đã diệt”. Biết điều này, tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.”’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

“Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nhưng nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của tái sinh là gì?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Hữu là nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của tái sinh.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

“Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nguồn gốc của hữu là gì?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Thủ là nguồn gốc của hữu.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

“Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nguồn gốc của thủ là gì?’ … Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nguồn gốc của ái là gì?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Thọ là nguồn gốc của ái.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

“Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nhưng làm thế nào ngài đã biết và thấy để sự thưởng thức các cảm thọ không còn hiện hữu?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Thưa các Tôn giả, có ba cảm thọ. Ba cảm thọ nào? Lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ. Ba cảm thọ này là vô thường, và cái gì vô thường là khổ. Khi tôi hiểu điều này, sự thưởng thức các cảm thọ không còn hiện hữu.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất! Điểm tương tự cũng có thể được giải thích ngắn gọn theo cách này: ‘Khổ bao gồm bất cứ điều gì được cảm nhận.’

Nhưng Xá-lợi-phất, giả sử họ hỏi ngươi: ‘Nhưng thưa Tôn giả, làm thế nào ngài đã được giải thoát để tuyên bố giác ngộ: “Tôi hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’”?’ Ngươi sẽ trả lời như thế nào?"

“Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con điều này, con sẽ trả lời: ‘Vì sự giải thoát nội tâm với sự đoạn diệt của tất cả chấp thủ, tôi sống chánh niệm để các lậu hoặc không làm ô nhiễm tôi và tôi không coi thường chính mình.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Xá-lợi-phất! Điểm tương tự cũng có thể được giải thích ngắn gọn theo cách này: ‘Tôi không có sự bất định nào về các lậu hoặc được sa-môn nói đến. Tôi không có nghi ngờ rằng tôi đã từ bỏ chúng.’”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Khi Ngài đã nói xong, Bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và vào nơi ở của mình.

Rồi ngay sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỷ kheo: “Thưa các Tôn giả, câu hỏi đầu tiên mà Đức Phật hỏi tôi là điều mà tôi chưa từng xem xét trước đây, vì vậy tôi đã do dự. Nhưng khi Đức Phật đồng ý với câu trả lời của tôi, tôi nghĩ: ‘Nếu Đức Phật hỏi tôi cả ngày về vấn đề này bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau, tôi có thể trả lời cả ngày bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau. Nếu ngài hỏi tôi cả đêm, cả ngày lẫn đêm, trong hai ngày đêm, ba, bốn, năm, sáu, hoặc bảy ngày đêm, tôi có thể trả lời bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau trong bảy ngày đêm.’”

Rồi Kaḷāra, người quý tộc, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã rống lên tiếng rống sư tử của mình!” (Và ông kể lại cho Đức Phật tất cả những gì Xá-lợi-phất đã nói.)

“Này Tỷ kheo, Xá-lợi-phất đã liễu tri rõ ràng nguyên lý của giáo pháp, đến nỗi ông ấy có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào Ta có thể hỏi ông ấy bằng những từ ngữ và cách thức khác nhau cho đến ngày và đêm thứ bảy.”

II. Kalàra (S.ii,50)

1. … Trú ở Sàvatthi.

I

2. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya (dòng Sát-đế-lỵ) đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya nói với Tôn giả Sàriputta:

− Này Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo Moliyaphagguna đã từ bỏ học tập và hoàn tục.

− Vậy vị Tôn giả ấy, không tìm được sự an ủi trong Pháp và Luật này?

4. − Vậy Tôn giả Sàriputta đã đạt được sự an ủi trong Pháp và Luật này?

− Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì!

5. − Này Hiền giả, còn đối với tương lai?

− Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.

6. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

7. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:

− Con được biết, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta tuyên bố được chánh trí như sau: “Sanh đã tận; Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm; không còn trở lại trạng thái này nữa”.

8. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

− Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Sàriputta: “Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

9. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta: "Bậc

Ðạo Sư cho gọi Hiền giả".

10. − Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

II

11. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi một bên:

− Này Sàriputta, có đúng sự thật chăng là Ông có tuyên bố đã chứng được chánh trí: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?

− Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy.

12. − Vậy với pháp môn nào, này Sàriputta, Thiện nam tử nói đến sự chứng đắc trí, lời tuyên bố cần phải được xem đúng như lời tuyên bố.

13. − Bạch Thế Tôn, chính con đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy”.

14. − Nếu họ có hỏi Ông, này Sàriputta: “Ông biết như thế nào, này Sàriputta, Ông thấy như thế nào mà Ông tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa’ ?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

15. − Nếu họ có hỏi con, bạch Thế Tôn: “Hiền giả biết như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả thấy như thế nào mà tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta đã biết, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:

16. "Vì rằng này Hiền giả, trong (danh từ) tận diệt, ta hiểu được là sự tận diệt của nhân, chính do nhân ấy sanh sanh khởi. Sau khi hiểu được nghĩa tận diệt trong (danh từ) tận diệt, ta mới biết: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ "

Ðược hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

17. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi như vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

18. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, sanh lấy gì làm nhân… (như trên)… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Sanh lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

19. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

20. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, hữu lấy gì làm nhân… lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: “Hữu lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

21. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, thủ lấy gì làm nhân… (như trên)…”.

22-23. − Và này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

24. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Này Hiền giả, ái lấy thọ làm nhân, lấy thọ tập khởi, lấy thọ tác sanh, lấy thọ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

25. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Làm sao, này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

26. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào, cảm thọ diệu lạc không tồn tại?” Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn con trả lời như sau:

27. “Này Hiền giả, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này Hiền giả, ba cảm thọ này vô thường, khi biết được cái gì vô thường là khổ, thời cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại”.

Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn con trả lời như vậy.

28. − Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.

29. − Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?

30. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: “Hiền giả được giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: ‘Ta biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:

31. “Do tự giải thoát, chư Hiền giả, do đoạn diệt tất cả chấp thủ, ta sống an trú chánh niệm như vậy. Nhờ sống an trú chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy, và ta không chấp nhận tự ngã”.

Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.

32. − Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện) này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Những cái gì được vị Sa-môn gọi là lậu hoặc, ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được ta diệt tận. Ta không còn phân vân gì nữa.

33. Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

III

34. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi Thế Tôn đi chẳng lao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:

35. − Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ (trả lời câu) hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau:

36. "Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.

37. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.

38. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác.

39. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn hai đêm hai ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn hai đêm hai ngày.

40. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn ba đêm ba ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn ba đêm ba ngày.

41. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bốn đêm bốn ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn bốn đêm bốn ngày.

42. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày.

43. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày.

44. Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác".

IV

45. Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

46. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta đã rống lên tiếng rống con sư tử như sau: Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất, mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ (trả lời câu) hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau: “Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác. Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm… cho đến trọn đêm và trọn ngày… cho đến trọn ba… trọn bốn…, cho đến trọn năm… trọn sáu… trọn bảy đêm ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác”.

47. − Này các Tỷ-kheo, pháp giới ấy (Dhammadhàtu) được Sàriputta khéo thành đạt. Do khéo thành đạt pháp giới ấy, nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn ngày, với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Saụriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm và hai ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm hai ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn cả ba đêm ba ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến cả ba đêm ba ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn bốn đêm bốn ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến bốn đêm bốn ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm năm ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác, Sàriputta có thể trả lời cho Ta về ý nghĩa ấy cho đến trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.

SN 12.33 Nền Tảng của Tri Kiến Ñāṇavatthusutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến là gì? Tri kiến về lão tử, tri kiến về nguồn gốc của lão tử, tri kiến về sự đoạn diệt của lão tử, và tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử. Tri kiến về sinh … Tri kiến về hữu … Tri kiến về thủ … Tri kiến về ái … Tri kiến về thọ … Tri kiến về xúc … Tri kiến về lục nhập … Tri kiến về danh sắc … Tri kiến về thức … Tri kiến về hành, tri kiến về nguồn gốc của hành, tri kiến về sự đoạn diệt của hành, và tri kiến về con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành. Đây được gọi là bốn mươi bốn nền tảng của tri kiến.

Và thế nào là lão tử? Sự già nua, suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sinh lực suy giảm, và các giác quan suy thoái của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là lão (già). Sự qua đời, mệnh chung, tan rã, hoại diệt, sự chết, từ trần, sự tan vỡ của các uẩn, và việc đặt thân xác xuống của các chúng sanh khác nhau trong các cõi chúng sanh khác nhau. Đây gọi là tử (chết). Như vậy là lão, và như vậy là tử. Đây được gọi là lão tử.

Sinh là nguồn gốc của lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của lão tử chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đây là tri kiến của họ về hiện tượng hiện tại. Với hiện tượng hiện tại này được thấy, biết, tức thời, đạt được, và thấu hiểu, họ suy luận về quá khứ và tương lai.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong quá khứ đã trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ đều trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ sẽ trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ. Đây là tri kiến suy luận của họ.

Một thánh đệ tử đã thanh lọc và làm trong sạch hai tri kiến này—tri kiến về các hiện tượng hiện tại, và tri kiến suy luận. Khi một thánh đệ tử đã làm điều này, họ được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử’.

Và thế nào là sinh? … Và thế nào là hữu? … Và thế nào là thủ? … Và thế nào là ái? … Và thế nào là thọ? … Và thế nào là xúc? … Và thế nào là lục nhập? … Và thế nào là danh sắc? … Và thế nào là thức? … Và thế nào là hành? Có ba loại hành: thân hành, khẩu hành, và ý hành. Đây được gọi là hành.

Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh diệt, hành diệt. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của hành chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Một thánh đệ tử hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đây là tri kiến của họ về hiện tượng hiện tại. Với hiện tượng hiện tại này được thấy, biết, tức thời, đạt được, và thấu hiểu, họ suy luận về quá khứ và tương lai.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong quá khứ đã trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ đều trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ.

Bất kỳ sa-môn và bà-la-môn nào trong tương lai sẽ trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó, tất cả họ sẽ trực tiếp biết những điều này theo cách hoàn toàn giống như Ta bây giờ. Đây là tri kiến suy luận của họ.

Một thánh đệ tử đã thanh lọc và làm trong sạch hai tri kiến này—tri kiến về các hiện tượng hiện tại, và tri kiến suy luận. Khi một thánh đệ tử đã làm điều này, họ được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử’."

III. Những Căn Bản Của Trí (Tạp 14.15 Chủng Trí, Ðại 2, 99c) (S.ii,56)

1.… Ở Sàvatthi.

2.. … Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản của trí cho các Ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của trí?

4. Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí về con đường đưa đến già chết diệt.

5. Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa đến sanh diệt.

6. Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường đưa đến hữu diệt.

7. Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường đưa đến thủ diệt.

8. Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa đến ái diệt.

9. Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường đưa đến thọ diệt.

10. Xúc trí…

11. Sáu xứ trí…

12. Danh sắc trí…

13. Thức trí…

14. Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường đưa đến hành diệt.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.

15. Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ; đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.

16. Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.

17. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.

18. Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập (pariyogathena) hướng dẫn thái độ (nayam) của mình đối với quá khứ và tương lai.

19. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.

20. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ (abhijanissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí (anvaye nànam) của vị ấy.

21. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến, (dithisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ (nibbedhi kapanno), đã đứng gõ vào cửa bất tử.

22. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?..

23. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?..

24. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?..

25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?..

26. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?..

27. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?..

28. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?..

29. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?..

30. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?..

31. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.

32. Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh tập khởi diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.

33. Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy, biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập, hướng dẫn thái độ (nayam) của mình đối với quá khứ, tương lai.

34. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.

35. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.

36. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh, thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này, đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.

SN 12.34 Nền Tảng của Tri Kiến (thứ 2) Dutiyañāṇavatthusutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến là gì? Tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Cũng về quá khứ: tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Cũng về tương lai: tri kiến rằng sinh là điều kiện cho lão tử, và tri kiến rằng khi sinh không tồn tại, không có lão tử. Và cũng là tri kiến của họ rằng ngay cả tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên này cũng có khả năng kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt.

Tri kiến rằng hữu là điều kiện cho sinh … Tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Cũng về quá khứ: tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Cũng về tương lai: tri kiến rằng vô minh là điều kiện cho hành, và tri kiến rằng khi vô minh không tồn tại, không có hành. Và cũng là tri kiến của họ rằng ngay cả tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên này cũng có khả năng kết thúc, tan biến, phai nhạt, và đoạn diệt. Đây được gọi là bảy mươi bảy nền tảng của tri kiến."

IV. Những Căn Bản Của Trí (Tạp 14.16 Chủng Trí, Ðại 2, 99c) ( S.ii.59)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy mươi bảy căn bản của trí. Hãy nghe và khéo tư niệm… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy mươi bảy căn bản của trí?

3. Trí biết rằng già chết do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời không có già. Trí biết rằng trong quá khứ già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời không có già chết. Trí biết rằng trong tương lai già chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời sẽ không có già chết. Phàm khi nào có trí về trú pháp, chỗ ấy cũng có trí tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.

4. Trí biết rằng sanh do duyên hữu…

5. Trí biết rằng hữu do duyên thủ…

6. Trí biết rằng thủ do duyên ái…

7. Trí biết rằng ái do duyên thọ…

8. Trí biết rằng thọ do duyên xúc…

9. Trí biết rằng xúc do duyên sáu xứ…

10. Trí biết rằng sáu xứ do duyên danh sắc…

11. Trí biết rằng danh sắc do duyên thức…

12. Trí biết rằng thức do duyên hành…

13. Trí biết rằng hành do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời không có hành. Trí biết rằng trong quá khứ hành cũng do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời không có hành. Trí biết rằng trong tương lai hành cũng sẽ do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời sẽ không có hành. Phàm khi nào có trí về trú pháp, thời cũng có trí về tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.

14. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bảy mươi bảy căn bản của trí.

SN 12.35 Vô Minh là Điều Kiện Avijjāpaccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh."

Khi được nói như vậy, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói. “Ngươi có thể nói, ‘Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?’ Hoặc ngươi có thể nói, ‘Lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Sinh là điều kiện cho lão tử.’”

“Bạch Thế Tôn, sinh là gì, và nó thuộc về ai?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói. “Ngươi có thể nói, ‘Sinh là gì, và nó thuộc về ai?’ Hoặc ngươi có thể nói, ‘Sinh là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Hữu là điều kiện cho sinh.’”

“Bạch Thế Tôn, hữu là gì, và nó dành cho ai?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói. “Ngươi có thể nói, ‘Hữu là gì, và nó thuộc về ai?’ Hoặc ngươi có thể nói, ‘Hữu là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là đồng nhất, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Thủ là điều kiện cho hữu.’ … ‘Ái là điều kiện cho thủ.’ … ‘Thọ là điều kiện cho ái.’ … ‘Xúc là điều kiện cho thọ.’ … ‘Lục nhập là điều kiện cho xúc.’ … ‘Danh sắc là điều kiện cho lục nhập.’ … ‘Thức là điều kiện cho danh sắc.’ … ‘Hành là điều kiện cho thức.’”

“Bạch Thế Tôn, hành là gì, và chúng thuộc về ai?”

“Câu hỏi đó không phù hợp,” Đức Phật nói. "Ngươi có thể nói, ‘Hành là gì, và chúng thuộc về ai?’ Hoặc ngươi có thể nói, ‘Hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Này Tỷ kheo, nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Vô minh là điều kiện cho hành.’

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?’ hoặc ‘lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là một’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là khác nhau.’ Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Sinh là gì, và nó thuộc về ai?’ hoặc ‘sinh là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là một’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là khác nhau.’ Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Hữu là gì …’ ‘Thủ là gì …’ ‘Ái là gì …’ ‘Thọ là gì …’ ‘Xúc là gì …’ ‘Lục nhập là gì …’ ‘Danh sắc là gì …’ ‘Thức là gì …’

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Hành là gì, và chúng thuộc về ai?’ hoặc ‘hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là một’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là khác nhau.’ Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

V. Do Duyên Vô Minh (Tạp 14.17-8 Vô Minh Tăng, Ðại 2, 100a) (S.ii,60)

1. … Trú ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có thức… như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

3. − Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là già chết, và già chết này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Già chết là khác và người già và chết là khác”, hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên sanh nên có già chết”.

4. − Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Sanh là khác và người sanh là khác”, hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên hữu nên có sanh”.

5. − Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?

Thế Tôn nói:

− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể hỏi: “Thế nào là hữu và hữu này của ai?”, hay Ông có thể nói: “Hữu khác và người có hữu này khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): “Do duyên thủ nên có hữu”.

6. − Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?.. (như trên)… Do duyên ái nên có thủ.

7.… Do duyên thọ nên có ái…

8.… Do duyên xúc nên có thọ…

9.… Do duyên sáu xứ nên có xúc…

10.… Do duyên danh sắc nên có sáu xứ…

11.… Do duyên thức nên có danh sắc…

12.… Do duyên hành nên có thức…

13. − Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là của ai?

Thế Tôn đáp:

− Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên vô minh nên có các hành”. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).

14. Như câu hỏi: “Thế nào là già chết và già chết này là của ai?”. Hay “Già chết là khác và người có già chết là khác?” hay “Sinh mạng và thân thể này là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).

15. Như câu hỏi: “Thế nào là sanh và sanh này là của ai?”. Hay “Sanh là khác và người có sanh là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).

16. Thế nào là hữu…

17. Thế nào là thủ…

18. Thế nào là ái…

19. Thế nào là thọ…

20. Thế nào là xúc…

21. Thế nào là sáu xứ…

22. Thế nào là danh sắc…

23. Thế nào là thức… Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được đoạn tận…).

24. Như câu hỏi: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”. Hay “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.

SN 12.36 Vô Minh là Điều Kiện (thứ 2) Dutiyaavijjāpaccayasutta

Tại Xá-vệ.

"Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Này các Tỷ kheo, các ngươi có thể nói, ‘Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?’ Hoặc các ngươi có thể nói, ‘Lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là một, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Sinh là điều kiện cho lão tử.’

‘Sinh là gì …’ ‘Hữu là gì …’ ‘Thủ là gì …’ ‘Ái là gì …’ ‘Thọ là gì …’ ‘Xúc là gì …’ ‘Lục nhập là gì …’ ‘Danh sắc là gì …’ ‘Thức là gì …’ Các ngươi có thể nói, ‘Hành là gì, và chúng thuộc về ai?’ Hoặc các ngươi có thể nói, ‘Hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác.’ Nhưng cả hai câu này đều có cùng một ý nghĩa, chỉ khác cách diễn đạt. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là đồng nhất, thì không có đời sống phạm hạnh. Nếu các ngươi có quan điểm rằng linh hồn và thân xác là khác nhau, thì không có đời sống phạm hạnh. Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: ‘Vô minh là điều kiện cho hành.’

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Lão tử là gì, và lão tử này thuộc về ai?’ hoặc ‘lão tử là một chuyện, người sở hữu nó là một chuyện khác’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là đồng nhất’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là khác nhau’. Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thì bất kỳ sự lắt léo, lẩn tránh, và né tránh nào cũng được từ bỏ: ‘Sinh là gì …’ ‘Hữu là gì …’ ‘Thủ là gì …’ ‘Ái là gì …’ ‘Thọ là gì …’ ‘Xúc là gì …’ ‘Lục nhập là gì …’ ‘Danh sắc là gì …’ ‘Thức là gì …’ ‘Hành là gì, và chúng thuộc về ai?’ hoặc ‘hành là một chuyện, người sở hữu chúng là một chuyện khác’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là đồng nhất’, hoặc ‘linh hồn và thân xác là khác nhau’. Tất cả những điều này đều bị cắt đứt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

VI. Do Duyên Vô Minh (S.ii,63)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh nên có các hành. Do duyên hành nên có thức… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

3. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Thế nào là già chết và già chết này của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Già chết là khác và người có già chết là khác” hai câu này đồng một nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng là khác, thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng: “Do duyên sanh có già chết…”…

4. Thế nào là sanh?..

5. Thế nào là hữu?..

6. Thế nào là thủ?..

7. Thế nào là ái?..

8. Thế nào là thọ?..

9. Thế nào là xúc?..

10. Thế nào là sáu xứ?..

11. Thế nào là danh sắc?..

12. Thế nào là thức?..

13. − Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: “Các hành và người có các hành này khác”, hai câu hỏi ấy đồng nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo nói rằng: “Do duyên vô minh, có các hành”.

14. Do sự đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào…

15. Thế nào là sanh?..

16. Thế nào là hữu?..

17. Thế nào là thủ?..

18. Thế nào là ái?..

19. Thế nào là thọ?..

20. Thế nào là xúc?..

21. Thế nào là sáu xứ?..

22. Thế nào là danh sắc?..

23. Thế nào là thức?..

24. “Thế nào là hành và những hành này là của ai?” Hay “Các hành là khác và có ai có những hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả những loại liên hệ này được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.

SN 12.37 Không Phải Của Ngươi Natumhasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, thân này không phải của các ngươi hay của bất kỳ ai khác. Nó là nghiệp cũ, và cần được xem là được tạo ra bởi các hành và ý định, là thứ để được cảm thọ.

Một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

VII. Không Phải Của Ông (Tạp 12.13, Phi Nhữ Sở Hữu, Ðại 2, 84a) (S.ii,64)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, thân thể này không phải của các Ông, không phải của người khác.

3. Thân này, này các Tỷ-kheo, phải được xem là do hành động, do sắp đặt, do sự cố ý, do sự cảm thọ trong quá khứ.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đa văn khéo léo chân chánh suy nghiệm định lý duyên khởi như sau:

5. "Cái này có mặt cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. "Tức là do duyên vô minh có các hành. Do duyên hành có thức… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

SN 12.38 Ý Định Cetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Khi không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ diệt, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

VIII. Cetanà: Tư Tâm Sở (Tạp 14.19, Tư Lường. Ðại 2,100a) (S.ii,65)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, cái chúng ta tư niệm, tư lường, có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường nhưng nếu có thầm ý, (canuseti), cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không có tư niệm, không có tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở duyên không có mặt thời thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng, nên trong tương lai tái hữu không sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu không có mặt trong tương lai, nên sanh, già chết, sầu, bi, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

SN 12.39 Ý Định (thứ 2) Dutiyacetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. … ái … thủ … hữu … sinh … lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, và não đến. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

IX. Tư Tâm Sở (Tạp 14.20 Tư Lường, Ðại 2, 100b) (S.ii,66)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, chúng ta tư lường, chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành (sở duyên) cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.

3. Do duyên danh sắc nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ… ái… thủ… hữu… sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường nhưng có thầm ý, thời cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.

5. Do duyên danh sắc nên có sáu xứ… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

6. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng nên danh sắc không hạ sanh. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

SN 12.40 Ý Định (thứ 3) Tatiyacetanāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, những gì các ngươi chủ ý hay hoạch định, và những gì các ngươi có khuynh hướng ngủ ngầm, sẽ trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có một khuynh hướng. Khi có một khuynh hướng, có sự đến và đi. Khi có sự đến và đi, có sự qua đời và tái hiện. Khi có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý hay hoạch định, nhưng vẫn có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Khi điểm tựa này tồn tại, thức được thiết lập. Khi thức được thiết lập và tăng trưởng, có một khuynh hướng. Khi có một khuynh hướng, có sự đến và đi. Khi có sự đến và đi, có sự qua đời và tái hiện. Khi có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ đến, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nếu các ngươi không chủ ý, không hoạch định, hay không có khuynh hướng ngủ ngầm, điều này không trở thành một điểm tựa cho sự tiếp nối của thức. Không có điểm tựa, thức không được thiết lập. Khi thức không được thiết lập và không tăng trưởng, không có khuynh hướng. Khi không có khuynh hướng, không có sự đến và đi. Khi không có sự đến và đi, không có sự qua đời và tái hiện. Khi không có sự qua đời và tái hiện, sinh, lão, và tử trong tương lai sẽ diệt, cũng như sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

X. Tư Tâm Sở (Tạp 14.21 Tư Lường, Ðại 2, 100b) (S.ii,66)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an trú.

3. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về (hệ trước: nati). Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường, nhưng chỉ có thầm ý, thời cái ấy là sở duyên cho thức an trú. Do sự có mặt của sở duyên nên thức an trú.

5. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi, nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

6. Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không có an trú.

7. Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Chương về Gia Chủ

SN 12.41 Nguy Hiểm và Đe Dọa Pañcaverabhayasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi gia chủ Cấp Cô Độc đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với gia chủ Cấp Cô Độc:

"Này gia chủ, khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu (stream-enterer / người đã nhập vào dòng thánh), và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.’

Năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan là gì? Bất kỳ ai giết hại chúng sanh đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc giết hại chúng sanh.

Bất kỳ ai trộm cắp đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc trộm cắp.

Bất kỳ ai có hành vi tà dâm đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ hành vi tà dâm.

Bất kỳ ai nói dối đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc nói dối.

Bất kỳ ai tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các đời sau, và trải nghiệm nỗi đau và buồn bã trong tâm. Mối nguy hiểm và đe dọa đó được dẹp tan đối với bất kỳ ai từ bỏ việc tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say. Đây là năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan.

Bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác, thành tựu về minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’

Họ có niềm tin vững chắc vào giáo pháp: ‘Giáo pháp được Đức Phật giải thích rõ ràng—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí có thể tự mình biết.’

Họ có niềm tin vững chắc vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có hệ thống, và đúng đắn. Tăng đoàn bao gồm bốn đôi, tám bậc cá nhân. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay chào, và là ruộng phước tối cao cho thế gian.’

giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, mang tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến định. Đây là bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có.

Và pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ là gì? Một thánh đệ tử cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; khi cái này không có, cái kia không có. Do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt. Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.’ Đây là pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.’"

V. Phẩm Gia Chủ - Thứ Năm

I. Năm Hận Thù Sợ Hãi (S.ii,68)

1. Trú ở Sàvatthi…

2. Rồi Gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên :

3. − Khi nào, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi, hận thù, khi nào được đầy đủ bốn dự lưu chi, khi nào Thánh lý (nàya) nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy, vị ấy nếu muốn có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định, Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu (của ta)”.

4. Thế nào là năm sợ hãi, hận thù được nhiếp phục?

5. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sát sinh, vì duyên sát sinh đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt sát sanh, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.

6. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho, vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt lấy của không cho, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.

7. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh trong các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt sống tà hạnh trong các dục vọng, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.

8. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người nói láo, và duyên nói láo đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt nói láo, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.

9. Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu men, rượu nấu, và duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt đắm say rượu men rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Năm sự sợ hãi oán thù này được nhiếp phục.

II

10. − Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?

11. Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử đầy đủ lòng tin bất động, đối với đức Phật: “Ðây là vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Tượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

12. Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu”.

13. Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời”.

14. Vị ấy đầy đủ các giới đức, được bậc Thánh quý mến, không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến tự do, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định, bốn Dự lưu chi này được đầy đủ.

15. Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập?

16. Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy định lý Duyên khởi như sau: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này diệt, cái kia diệt”.

17. Tức là do duyên vô minh có hành. Do duyên hành có thức… (như trên)… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Ðây là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập.

18. Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù này, khi nào đầy đủ bốn Dự lưu chi này, khi nào Thánh lý này nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định; Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.

SN 12.42 Nguy Hiểm và Đe Dọa (thứ 2) Dutiyapañcaverabhayasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.’

Năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan là gì? Giết hại chúng sanh … trộm cắp … hành vi tà dâm … nói dối … tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say … Đây là năm mối nguy hiểm và đe dọa mà họ đã dẹp tan.

Bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có là gì? Đó là khi một thánh đệ tử có niềm tin vững chắc vào Đức Phật … giáo pháp … Tăng đoàn … và giới đức của họ được các bậc thánh yêu mến. Đây là bốn yếu tố của bậc nhập lưu mà họ có.

Và pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ là gì? Một thánh đệ tử cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi … Đây là pháp cao quý mà họ đã thấy rõ và liễu tri bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dẹp tan năm mối nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của bậc nhập lưu, và đã thấy rõ và liễu tri pháp cao quý bằng trí tuệ, họ có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt tái sinh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp. Ta là một bậc nhập lưu! Ta không còn bị tái sinh vào các cõi thấp, và chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.’"

II. Năm Sợ Hãi Hận Thù (S.ii,70)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… (như trên)… Thế Tôn nói như sau:

3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù, đầy đủ bốn Dự lưu chi, và khi nào Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục… (như trên)… Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.

Thế nào là năm sợ hãi hận thù được nhiếp phục?

Này các Tỷ-kheo, sợ hãi hận thù do người sát sanh… này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho…

Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh trong các dục…

Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người nói láo…

Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu men, rượu nấu.

Năm sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.

4. Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đối với Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Ðầy đủ các giới đức được bậc Thánh quý mến…

Bốn Dự lưu chi này được đầy đủ.

5. Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy định lý Duyên khởi như sau:… Ðây là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập.

6. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được năm sợ hãi hận thù, được đầy đủ bốn Dưu lưu chi, Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập, vị ấy nếu muốn có thể tự mình tuyên bố cho mình: “Ta là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn điệt được bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được quyết định, Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của ta”.

SN 12.43 Khổ Dukkhasutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về nguồn gốc và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và, này các Tỷ kheo, nguồn gốc của khổ là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. … Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. … Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ.

Và sự chấm dứt của khổ là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. … Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. … Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ."

III. Khổ. (S.ii,71)

1. … Trú Tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sự tập khởi và sự đoạn diệt của khổ. Hãy nghe…

I

3. − Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?

4. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội nên xúc khởi. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.

5. Do duyên tai và các tiếng…

6. Do duyên mũi và các hương…

7. Do duyên lưỡi và các vị…

8. Do duyên thân và các xúc…

9. Do duyên ý và các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.

II

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?

11. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.

12. Do duyên lỗ tai và các tiếng, nên nhĩ thức sanh khởi…

13. Do duyên mũi và các hương, nên tỷ thức sanh khởi…

14. Do duyên lưỡi và các vị nên thiệt thức sanh khởi…

15. Do duyên thân và các xúc nên thân xúc sanh khởi…

16. Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

17. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.

SN 12.44 Thế Giới Lokasutta

Tại Xá-vệ.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi về nguồn gốc và sự chấm dứt của thế giới. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Và, này các Tỷ kheo, nguồn gốc của thế giới là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đây là nguồn gốc của thế giới.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. … Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. … Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. … Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đây là nguồn gốc của thế giới.

Và sự chấm dứt của thế giới là gì? Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế giới.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. … Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. … Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế giới."

IV. Thế Giới (S.ii,73)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế giới. Hãy nghe…

I

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?

4. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ họp, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh, nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.

5. Do duyên lỗ tai và các tiếng…

6. Do duyên lỗ mũi và các hương…

7. Do duyên lưỡi và các vị…

8. Do duyên thân và các xúc…

9. Do duyên ý với các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ… Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, đây là sự tập khởi của thế giới.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?

11. Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Ðây là sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này. Ðây là thế giới đoạn diệt.

12. Do duyên lỗ tai và các tiếng…

13. Do duyên lỗ mũi và các hương…

14. Do duyên lưỡi và các vị…

15. Do duyên thân và các xúc…

16. Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Ðây là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

17. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt.

SN 12.45 Tại Ñātika Ñātikasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Rồi trong khi Đức Phật đang nhập thất riêng, Ngài đã nói bài giảng pháp này:

"Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Tỷ thức khởi sinh phụ thuộc vào mũi và mùi hương. … Thiệt thức khởi sinh phụ thuộc vào lưỡi và vị. … Thân thức khởi sinh phụ thuộc vào thân và sự chạm. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Nhãn thức khởi sinh phụ thuộc vào mắt và sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Nhĩ thức khởi sinh phụ thuộc vào tai và âm thanh. … Ý thức khởi sinh phụ thuộc vào ý và các ý niệm. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho thọ. Thọ là điều kiện cho ái. Khi ái đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo đang đứng nghe lén Đức Phật. Đức Phật thấy ông và nói: “Này Tỷ kheo, ngươi có nghe bài giảng pháp đó không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Hãy học bài giảng pháp đó, ghi nhớ nó, và nhớ kỹ nó. Bài giảng pháp đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh.”

V. Nàtika (S.ii,84)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Nàtika, trong căn nhà gạch.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tọa tuyên thuyết pháp môn này:

3. − Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

4. Do duyên lỗ tai và các tiếng…

5. Do duyên lỗ mũi và các hương…

6. Do duyên lưỡi và các vị…

7. Do duyên thân và các xúc…

8. Do duyên ý và các pháp nên ý thức khởi lên. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

9. Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

10. Do duyên lỗ tai và các tiếng…

11. Do duyên lỗ mũi và các hương…

12. Do duyên lưỡi và các vị…

13. Do duyên thân và các xúc…

14. Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

II

15. Lúc bấy giờ một vị Tỷ-kheo đang đứng nghe trộm Thế Tôn.

16. Thế Tôn thấy vị Tỷ-kheo đang đứng nghe trộm.

17. Sau khi thấy, Thế Tôn nói với vị Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, Ông có nghe pháp môn này không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

18. − Này Tỷ-kheo, Ông hãy học pháp môn này. Này Tỷ-kheo, Ông hãy học thuộc lòng pháp môn này. Này Tỷ-kheo, pháp môn (này) liên hệ đến mục đích và căn bản Phạm hạnh.

SN 12.46 Một Vị Bà-la-môn Aññatarabrāhmaṇasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một vị bà-la-môn đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, người làm nghiệp có phải là người chịu quả báo không?”

“‘Người làm nghiệp là người chịu quả báo’: đây là một cực đoan, này bà-la-môn.”

“Vậy một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo phải không?”

"‘Một người làm nghiệp và một người khác chịu quả báo’: đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, vị bà-la-môn thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

VI. Một Vị (Bà-La-Môn) (Tạp 12.18 Tha, Ðại 2,85c) (S.ii,75)

1. … Trú Tại Sàvatthi.

2. Rồi một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động là người cảm thọ?

− Này Bà-la-môn, người hành động là người cảm thọ, ấy là một cực đoan.

4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải người hành động khác, người cảm thọ khác?

− Người hành động khác, và người cảm thọ khác, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Thế Tôn thuyết pháp theo trung đạo.

5. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

6. Khi được nói vậy, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

SN 12.47 Jānussoṇi Jāṇussoṇisutta

Tại Xá-vệ.

Rồi bà-la-môn Jānussoṇi đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Ngồi xuống một bên, ông thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, tất cả đều tồn tại phải không?”

“‘Tất cả đều tồn tại’: đây là một cực đoan, này bà-la-môn.”

“Vậy tất cả đều không tồn tại phải không?”

"‘Tất cả đều không tồn tại’: đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, bà-la-môn Jānussoṇi thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

VII. Jànussoni (S.ii,76)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm…

Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

3. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?

− Này Bà-la-môn, tất cả đều có, ấy là một cực đoan.

4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?

− Này Bà-la-môn tất cả đều không có, ấy là cực đoan thứ hai. Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.

5. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức… (như trên)… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh ấy một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

6. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!..

SN 12.48 Một Nhà Vũ Trụ Học Lokāyatikasutta

Tại Xá-vệ.

Rồi một bà-la-môn nhà vũ trụ học đến gặp Đức Phật … Ngồi xuống một bên, ông thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Cồ-đàm, tất cả đều tồn tại phải không?”

“‘Tất cả đều tồn tại’: đây là vũ trụ quan cổ xưa nhất, này bà-la-môn.”

“Vậy tất cả đều không tồn tại phải không?”

"‘Tất cả đều không tồn tại’: đây là vũ trụ quan thứ hai.

“Vậy, tất cả là một thể thống nhất phải không?”

"‘Tất cả là một thể thống nhất’: đây là vũ trụ quan thứ ba.

“Vậy tất cả là một thể đa nguyên phải không?”

"‘Tất cả là một thể đa nguyên’: đây là vũ trụ quan thứ tư.

Tránh hai cực đoan này, Như Lai giảng dạy bằng trung đạo: 'Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.'"

Khi Ngài nói điều này, bà-la-môn nhà vũ trụ học thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, Tôn giả Cồ-đàm! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Cồ-đàm hãy ghi nhớ con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”

VIII. Thuận Thế Phái (S.ii,77)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi một Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế đi đến Thế Tôn…

Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:

3. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?

− Này Bà-la-môn, tất cả đều có, là chấp kiến thứ nhất của thế gian.

4. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?

− Tất cả đều không có, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ hai của thế gian.

5. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là một?

− Tất cả đều là một, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ ba của thế gian.

6. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là nhiều?

− Tất cả đều là nhiều, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ tư của thế gian.

Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo.

7. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

8. Khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:

− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!.. con xin trọn đời quy ngưỡng.

SN 12.49 Một Thánh Đệ Tử Ariyasāvakasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: ‘Khi cái gì tồn tại, cái gì có? Do sự sinh khởi của cái gì, cái gì sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì danh sắc sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì lục nhập … xúc … thọ … ái … thủ … hữu … sinh … lão tử sinh khởi?’

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: ‘Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi hành tồn tại, thức sinh khởi. Khi thức tồn tại, danh sắc sinh khởi. Khi danh sắc tồn tại, lục nhập sinh khởi. Khi lục nhập tồn tại, xúc sinh khởi. Khi xúc tồn tại, thọ sinh khởi. Khi thọ tồn tại, ái sinh khởi. Khi ái tồn tại, thủ sinh khởi. Khi thủ tồn tại, hữu sinh khởi. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi.’ Họ hiểu: ‘Đây là nguồn gốc của thế giới.’

Một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: ‘Khi cái gì không tồn tại, cái gì không có? Do sự đoạn diệt của cái gì, cái gì diệt? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì danh sắc không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì lục nhập … xúc … thọ … ái … thủ … hữu … sinh … lão tử không sinh khởi?’

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: ‘Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi. Khi hành không tồn tại, thức không sinh khởi. Khi thức không tồn tại, danh sắc không sinh khởi. Khi danh sắc không tồn tại, lục nhập không sinh khởi. … hữu không sinh khởi … sinh không sinh khởi … Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.’ Họ hiểu: ‘Đây là sự đoạn diệt của thế giới.’

Một thánh đệ tử hiểu được thế giới, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng gõ cửa đến sự bất tử’."

IX. Thánh Ðệ Tử (Tạp 14,8 Thánh đệ tử. Ðại 2,98b) (S.ii,77)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”

3. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Do duyên sanh nên có già chết. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này”.

4. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, danh sắc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sáu xứ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, xúc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thọ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, ái không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thủ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, hữu không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”.

5. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên theo người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không không có mặt, sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu. Do xúc không có mặt, thọ không hiện hữu. Do thọ không có mặt, ái không hiện hữu. Do ái không có mặt, thủ không hiện hữu. Do thủ không có mặt, hữu không hiện hữu. Do hữu không có mặt, sanh không hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.

6. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế gian như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử này được gọi là kiến đạt… (như trên)… đã đứng gõ cửa bất tử.

SN 12.50 Một Thánh Đệ Tử (thứ 2) Dutiyaariyasāvakasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: ‘Khi cái gì tồn tại, cái gì có? Do sự sinh khởi của cái gì, cái gì sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì hành sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì thức sinh khởi? Khi cái gì tồn tại thì danh sắc … lục nhập … xúc … thọ … ái … thủ … hữu … sinh … lão tử sinh khởi?’

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: ‘Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi hành tồn tại, thức sinh khởi. Khi thức tồn tại, danh sắc sinh khởi. Khi danh sắc tồn tại, lục nhập sinh khởi. Khi lục nhập tồn tại, xúc sinh khởi. Khi xúc tồn tại, thọ sinh khởi. Khi thọ tồn tại, ái sinh khởi. Khi ái tồn tại, thủ sinh khởi. Khi thủ tồn tại, hữu sinh khởi. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi.’ Họ hiểu: ‘Đây là nguồn gốc của thế giới.’

Một thánh đệ tử có học không nghĩ rằng: ‘Khi cái gì không tồn tại, cái gì không có? Do sự đoạn diệt của cái gì, cái gì diệt? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì thức không sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì danh sắc … lục nhập … xúc … thọ … ái … thủ … hữu … sinh … lão tử không sinh khởi?’

Thay vào đó, một thánh đệ tử có học chỉ có tri kiến về điều này mà không phụ thuộc vào người khác: ‘Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi. Khi hành không tồn tại, thức không sinh khởi. Khi thức không tồn tại, danh sắc không sinh khởi. Khi danh sắc không tồn tại, lục nhập không sinh khởi. … Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.’ Họ hiểu: ‘Đây là sự đoạn diệt của thế giới.’

Một thánh đệ tử hiểu được thế giới, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Một thánh đệ tử như vậy được gọi là ‘người thành tựu về kiến’, ‘người thành tựu về thị kiến’, ‘người đã đến với chánh pháp’, ‘người thấy được chánh pháp này’, ‘người có tri kiến của bậc hữu học’, ‘người đã nhập vào dòng thánh’, ‘bậc thánh có trí tuệ thâm nhập’, và cũng là ‘người đang đứng đẩy mở cánh cửa đến sự bất tử’."

X. Thánh Ðệ Tử (S.ii,79)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Có phải do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, thức hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”.

3. Rồi này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do vô minh có mặt, hành hiện hữu. Do hành có mặt, thức hiện hữu. Do thức có mặt, danh sắc hiện hữu. Do danh sắc có mặt, sáu xứ hiện hữu. Do sáu xứ có mặt, xúc hiện hữu. Do xúc có mặt, thọ hiện hữu. Do thọ có mặt, ái hiện hữu. Do ái có mặt, thủ hiện hữu. Do thủ có mặt, hữu hiện hữu. Do hữu có mặt, sanh hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này.

4. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không suy nghĩ như sau: “Có phải, do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, các hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu… (như trên)… Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”

5. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu? Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không có mặt,sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu… (như trên)… Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.

6. Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế giới này như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là kiến đạt, vị ấy thấy diệu pháp này, vị ấy đầy đủ trí của bậc hữu học, vị ấy đầy đủ minh của bậc hữu học, đã nhập được Pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, là vị đã đứng gõ cửa bất tử.

Chương về Khổ

SN 12.51 Một Cuộc Điều Tra Parivīmaṁsanasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo đang điều tra, các ngươi định nghĩa như thế nào khi họ đang điều tra để chấm dứt hoàn toàn khổ đau?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, hãy lấy một Tỷ kheo đang điều tra: ‘Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc, khởi điểm, nơi sinh, và sự bắt đầu của khổ đau này là gì? Khi cái gì tồn tại thì lão tử sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì lão tử không sinh khởi?’ Trong khi điều tra, họ hiểu: ‘Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc của khổ đau này là sinh. Khi sinh tồn tại, lão tử sinh khởi. Khi sinh không tồn tại, lão tử không sinh khởi.’

Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt lão tử.

Rồi họ điều tra thêm: ‘Nhưng nguồn gốc của sinh này là gì? Khi cái gì tồn tại thì sinh sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì sinh không sinh khởi?’ Trong khi điều tra, họ hiểu: ‘Hữu là nguồn gốc của sinh. Khi hữu tồn tại, sinh sinh khởi. Khi hữu không tồn tại, sinh không sinh khởi.’

Họ hiểu về sinh, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt sinh.

Rồi họ điều tra thêm: ‘Nhưng nguồn gốc của hữu này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của thủ này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của ái này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của thọ này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của xúc này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của lục nhập này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của danh sắc này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của thức này là gì? …’ … ‘Nhưng nguồn gốc của các hành này là gì? Khi cái gì tồn tại thì hành sinh khởi? Khi cái gì không tồn tại thì hành không sinh khởi?’ Trong khi điều tra, họ hiểu: ‘Vô minh là nguồn gốc của hành. Khi vô minh tồn tại, hành sinh khởi. Khi vô minh không tồn tại, hành không sinh khởi.’

Họ hiểu về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt hành.

Nếu một cá nhân vô minh tạo ra một hành thiện, thức của họ sẽ đi vào một cõi thiện. Nếu họ tạo ra một hành ác, thức của họ sẽ đi vào một cõi ác. Nếu họ tạo ra một hành bất động, thức của họ sẽ đi vào một cõi bất động. Khi một Tỷ kheo đã từ bỏ vô minh và phát sinh trí tuệ, họ không tạo ra hành thiện, hành ác, hay hành bất động. Không lựa chọn hay chủ ý, họ không chấp thủ vào bất cứ điều gì trên thế gian. Không chấp thủ, họ không lo lắng. Không lo lắng, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’

Nếu họ cảm thấy một cảm thọ dễ chịu, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ đau đớn, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ trung tính, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không vui thích trong đó. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ dễ chịu, họ cảm nhận nó một cách tách rời. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ đau đớn, họ cảm nhận nó một cách tách rời. Nếu họ cảm thấy một cảm thọ trung tính, họ cảm nhận nó một cách tách rời.

Cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần.’ Cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần.’ Họ hiểu: ‘Khi thân tôi tan rã và mạng sống của tôi đã kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, vì tôi không còn vui thích trong đó nữa, sẽ trở nên nguội lạnh ngay tại đây. Chỉ còn lại di hài.’

Giả sử một người lấy một cái nồi đất nóng ra khỏi lò của thợ gốm và đặt nó xuống đất bằng phẳng. Hơi nóng của nó sẽ tan biến ngay tại đó, và những mảnh vỡ sẽ còn lại.

Cũng vậy, cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân đang đến gần.’ Cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của mạng sống đang đến gần.’ Họ hiểu: ‘Khi thân tôi tan rã và mạng sống của tôi đã kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, vì tôi không còn vui thích trong đó nữa, sẽ trở nên nguội lạnh ngay tại đây. Chỉ còn lại di hài.’

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Một Tỷ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có còn tạo ra hành thiện, hành ác, hay hành bất động không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có hành nào cả, với sự đoạn diệt của hành, thức có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có thức nào cả, danh sắc có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có danh sắc nào cả, lục nhập có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có lục nhập nào cả, xúc có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có xúc nào cả, thọ có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có thọ nào cả, ái có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có ái nào cả, thủ có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có thủ nào cả, hữu có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có hữu nào cả, sinh có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Và khi không có sinh nào cả, lão tử có còn được tìm thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, tốt lắm, này các Tỷ kheo! Đúng là như vậy, không khác. Hãy tin Ta về điều này, này các Tỷ kheo; hãy tin chắc. Đừng có nghi ngờ hay bất định trong vấn đề này. Chỉ có điều này là sự chấm dứt của khổ.”

VI. Phẩm Cây

I. Tư Lường (Tạp 12.10, Ðại 2,82c) (S.ii,80)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tư lường, phải tư lường như thế nào để chơn chánh diệt khổ một cách trọn vẹn?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

4. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

5. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đang tư lường, tư lường như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết; sự đau khổ này lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”

6. Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết, sự đau khổ này lấy sanh làm nhân, lấy sanh làm tập khởi, lấy sanh làm tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”.

7. Và vị ấy biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành.

8. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt già chết.

9. Tư lường thêm nữa, vị ấy tư lường như sau: “Còn hữu này, do cái gì làm nhân? Còn thủ này, do cái gì làm nhân? Còn ái này, do cái gì làm nhân? Còn thọ này, do cái gì làm nhân? Còn xúc này… Còn sáu xứ này… Còn danh sắc này… Còn thức này… Còn các hành này, do cái gì làm nhân, cái gì tập khởi, cái gì tác sanh, cái gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì không có mặt các hành không hiện hữu?”

10. Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt, các hành hiện hữu. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu”.

11. Và vị ấy biết các hành, biết các hành tập khởi, biết các hành đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến các hành đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành. Này các Tỷ kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt các hành.

12. Này các Tỷ-kheo, nếu người nào bị vô minh chi phối, dự tính làm phước hành, thức (của người ấy) đi đến phước. Nếu người ấy dự tính làm phi phước hành, thức (của người ấy) đi đến phi phước. Nếu người ấy dự tính làm bất động hành, thức (của người ấy) đi đến bất động.

13. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước hành, không dự tính làm bất động hành.

14. Không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

15. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.

16. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (visannutto).

17. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.

18. Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.

19. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

20. − Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

22. − Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

23. − Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

24. − Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

25. − Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

26. − Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

27. − Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

28. − Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

29. − Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

30. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.

SN 12.52 Chấp Thủ Upādānasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một khối lửa lớn đang cháy với mười, hai mươi, ba mươi, hoặc bốn mươi gánh củi. Và thỉnh thoảng có người ném vào cỏ khô, phân bò, hoặc củi. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, đống lửa sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một khối lửa lớn đang cháy với mười, hai mươi, ba mươi, hoặc bốn mươi gánh củi. Và không ai thỉnh thoảng ném vào cỏ khô, phân bò, hoặc củi. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, khối lửa lớn sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

II. Thủ (Tạp 12.4 Thủ, Ðại 2,80b) (S.ii,84)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống, thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ (upàdàniyadhammà), ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, và ném củi khô vào. Này các Tỷ-kheo, như vậy đống lửa lớn ấy được nuôi dưỡng, được tiếp tế, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, ví như một đống lửa lớn làm bằng mười xe củi, hay hai mươi xe củi, hay ba mươi xe củi, hay bốn mươi xe củi đang cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng ném cỏ khô vào, hay phân khô, hay củi khô vào. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đống lửa lớn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem lại, không được nuôi dưỡng, bị tắt.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.53 Các Kiết Sử Saṁyojanasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc tâm). Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và thỉnh thoảng có người đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, ngọn đèn dầu sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và không ai thỉnh thoảng đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, ngọn đèn dầu sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

III. Kiết Sử (Tạp 12.3, Phật Phước, Ðại 2,79c) (S.ii,86)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng rót dầu thêm và khơi tim lên. Này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng rót thêm dầu vào và không khơi tim lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngọn đèn ấy do (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt và do (nhiên liệu) khác không được đem thêm, không được nuôi dưỡng, sẽ bị tắt.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.54 Các Kiết Sử (thứ 2) Dutiyasaṁyojanasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và thỉnh thoảng có người đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, ngọn đèn dầu sẽ cháy trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Và không ai thỉnh thoảng đổ thêm dầu và điều chỉnh bấc. Khi nhiên liệu ban đầu được sử dụng hết và không có thêm nhiên liệu nào được thêm vào, ngọn đèn dầu sẽ bị dập tắt do không được nuôi dưỡng.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

IV. Kiết Sử ( S.ii,87)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ví như duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy có người thỉnh thoảng rót thêm dầu và khơi tim lên. Này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Này các Tỷ-kheo, ví như duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng rót thêm dầu và khơi tim lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngọn đèn dầu ấy do chính (nhiên liệu) được tiếp tế trước tiêu diệt, do (nhiên liệu) khác không được đem thêm, không được nuôi dưỡng, sẽ bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. … (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.55 Một Cây Lớn Mahārukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào nó lên, và nhổ rễ ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Họ sẽ chặt cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

V. Cây Lớn (Tạp 12,2 Ðại Thọ, Ðại 2,79b) (S.ii,87)

1. … Trú tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm sâu xuống dưới và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều đem lên nhựa sống cho cây ấy. Này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

5. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có một người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ các rễ lớn cho đến các rễ con, các rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc. Sau khi chặt cây thành từng khúc, người ấy bửa, sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi vun thành đống tro, người ấy sàng tro ấy giữa gió lớn hay đổ tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.

6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy được sự nguy hiểm trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.56 Một Cây Lớn (thứ 2) Dutiyamahārukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào chúng lên, và nhổ chúng ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Họ sẽ chặt cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

VI. Cây Lớn (S.ii,88)

1. … Trú tại Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ví như có một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm sâu xuống dưới và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều đem lên nhựa sống cho cây ấy. Này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ các rễ lớn… (như trên)… hay đổ tro vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho cây ấy không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.57 Một Cây Non Taruṇarukkhasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây non. Và thỉnh thoảng có người dọn dẹp xung quanh rễ, cung cấp đất, và tưới nước cho nó. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây non sẽ lớn lên, tăng trưởng, và trưởng thành.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây non. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. … Họ sẽ chặt cây non ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây non bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

VII. Cây Non (Tạp 12,1 Chủng Thọ, Ðại 2, 79a) (S.ii.89)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ được sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây non, có người thỉnh thoảng vun xới các rễ, thỉnh thoảng bỏ thêm phân, thỉnh thoảng tưới thêm nước. Này các Tỷ-kheo, cây non ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây non, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy, sau khi chặt đứt, người ấy đào cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con và rễ phụ. Rồi người ấy chặt cây ấy thành từng khúc. Sau khi chặt từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ thành từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa nắng và gió, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun thành đống tro. Sau khi vun thành đống tro, người ấy sàng tro ấy giữa gió lớn hay đổ tro ấy vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây non ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.58 Danh và Sắc Nāmarūpasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, danh sắc được hình thành. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, danh sắc được hình thành. …

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. … Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, danh sắc không được hình thành. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

VIII. Danh Sắc (S.ii, 90)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. … Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm thẳng xuống dưới và đâm ngang ra, tất cả rễ ấy đem lên nhựa sống. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể được đứng vững trong một thời gian dài.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi…

(như trên)…

5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có một người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ… (như trên)… Trong tương lai không thể sống lại được.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.59 Thức Viññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

"Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, thức được hình thành.

Thức là điều kiện cho danh sắc. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. …

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, thức được hình thành. …

Có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, thức không được hình thành. Khi thức diệt, danh sắc diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. … Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ dễ bị trói buộc bởi kiết sử. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, thức không được hình thành. Khi thức diệt, danh sắc diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

IX. Thức (S.ii, 91)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, thức được sanh khởi. Do duyên thức, nên danh sắc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

3. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, rễ của các cây ấy… (như trên)…

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, thức được sanh khởi. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

5. Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, thức không sanh. Do thức diệt nên danh sắc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ… (như trên)… trong tương lai không thể sống lại được.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, thức không có sanh khởi. Do thức diệt nên danh sắc diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

SN 12.60 Các Nguồn Gốc Nidānasutta

Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kuru, gần thị trấn Kammāsadamma của người Kuru. Rồi Tôn giả A-nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Đức Phật:

“Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn! Thật đáng kinh ngạc, duyên khởi này thật sâu sắc và có vẻ sâu sắc, nhưng đối với con nó lại có vẻ rõ ràng như ban ngày.”

"Không phải vậy, A-nan! Không phải vậy, A-nan! Duyên khởi này sâu sắc và có vẻ sâu sắc. Chính vì không hiểu và không thâm nhập được giáo pháp này mà chúng sanh này đã trở nên rối như tơ, vón như một cuộn chỉ, và rối như cỏ lau và sậy, và nó không thoát khỏi các nơi đọa lạc, các nơi xấu, các cõi thấp, và sự luân hồi.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sinh. Sinh là điều kiện cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Giả sử có một cây lớn. Và rễ của nó đâm xuống dưới và lan ra khắp nơi đều hút nhựa cây lên. Được nuôi dưỡng và cung cấp nhiên liệu bởi những thứ đó, cây lớn sẽ đứng vững trong một thời gian dài.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào sự thỏa mãn mà những thứ này mang lại, ái của các ngươi tăng trưởng. Ái là điều kiện cho thủ. Thủ là điều kiện cho hữu. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh.

Có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Giả sử có một cây lớn. Rồi một người đến với một cái xẻng và một cái rổ. Họ sẽ chặt cây tận gốc, đào chúng lên, và nhổ chúng ra, cho đến cả những sợi và thân nhỏ. Rồi họ sẽ chẻ cây ra từng mảnh, cắt các mảnh ra, và chẻ nó thành những mảnh vụn. Họ sẽ phơi khô những mảnh vụn trong gió và nắng, đốt chúng bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi họ sẽ sàng tro trong gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo dòng sông chảy xiết. Bằng cách này, cây lớn bị chặt tận gốc, làm cho giống như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Cũng vậy, có những thứ là nhiên liệu cho chấp thủ. Khi các ngươi tập trung vào những nhược điểm của những thứ này, ái của các ngươi diệt. Khi ái diệt, thủ diệt. Khi thủ diệt, hữu diệt. Khi hữu diệt, sinh diệt. Khi sinh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

X. Nhân (S.ii, 92)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammàsadamma.

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!

4. − Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Sâu xa thay, này Ananda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ananda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập (pháp này) mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

5. Này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn khổ uẩn này tập khởi.

6. Này Ananda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ananda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.

7. Cũng vậy, này Ananda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

8. Này Ananda, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

9. Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

10. Như vậy, này Ananda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

Chương Lớn

SN 12.61 Người Không Học Assutavāsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc. …

"Này các Tỷ kheo, khi nói đến thân này được tạo thành từ tứ đại, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tích tụ và tan rã, được tiếp nhận và đặt xuống. Đó là lý do tại sao, khi nói đến thân này, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng khi nói đến cái được gọi là ‘tâm’, cũng là ‘ý’, cũng là ‘thức’, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, hoặc được giải thoát. Tại sao vậy? Bởi vì trong một thời gian dài, họ đã dính mắc vào nó, coi nó là của mình, và lầm tưởng nó: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’ Đó là lý do tại sao, khi nói đến tâm này, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng một người phàm phu không được học hỏi thà coi thân này được tạo thành từ tứ đại là tự ngã của mình, còn hơn là tâm. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tồn tại trong một năm, hoặc hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hoặc một trăm năm, hoặc thậm chí lâu hơn.

Nhưng cái được gọi là ‘tâm’, cũng là ‘ý’, cũng là ‘thức’ sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm. Giống như một con khỉ di chuyển trong rừng. Nó nắm lấy một cành cây, buông nó ra, và nắm lấy một cành khác; rồi nó buông cành đó ra và nắm lấy một cành khác nữa. Cũng vậy, cái được gọi là ‘tâm’, cũng là ‘ý’, cũng là ‘thức’ sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm.

Trong trường hợp này, một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Vô minh là điều kiện cho hành sinh khởi.

Hành là điều kiện cho thức sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn dư tàn, hành diệt. Khi hành diệt, thức diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.’

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’"

VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy

I. Hạng Người Ít Nghe (Tạp 12.7 Vô Văn, Ðại 2, 81c)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.

3. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.

Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.

4. Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

5. Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.

Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

6. Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.

7. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

8. Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống, nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức sanh khởi… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

10. Do đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

11. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết được: “Ta giải thoát”, vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 12.62 Người Không Học (thứ 2) Dutiyaassutavāsutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, khi nói đến thân này được tạo thành từ tứ đại, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tích tụ và tan rã, được tiếp nhận và đặt xuống. Đó là lý do tại sao, khi nói đến thân này, một người phàm phu không được học hỏi có thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát. Nhưng khi nói đến cái được gọi là ‘tâm’, cũng là ‘ý’, cũng là ‘thức’, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, hoặc được giải thoát. Tại sao vậy? Bởi vì trong một thời gian dài, họ đã dính mắc vào nó, coi nó là của mình, và lầm tưởng nó: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’ Đó là lý do tại sao, khi nói đến tâm này, một người phàm phu không được học hỏi không thể trở nên yếm ly, ly tham, và được giải thoát.

Nhưng một người phàm phu không được học hỏi thà coi thân này được tạo thành từ tứ đại là tự ngã của mình, còn hơn là tâm. Tại sao vậy? Thân này được tạo thành từ tứ đại được thấy là tồn tại trong một năm, hoặc hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hoặc một trăm năm, hoặc thậm chí lâu hơn. Nhưng cái được gọi là ‘tâm’, cũng là ‘ý’, cũng là ‘thức’ sinh ra là một thứ và diệt đi là một thứ khác suốt cả ngày lẫn đêm.

Trong trường hợp này, một thánh đệ tử có học cẩn thận và như lý tác ý về chính duyên khởi: 'Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Đó là: Lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Khổ thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là đau đớn đó, khổ thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Bất khổ bất lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bất khổ bất lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại.

Khi bạn cọ hai que củi vào nhau, nhiệt được tạo ra và lửa được sinh ra. Nhưng khi bạn tách hai que củi ra và đặt chúng sang một bên, bất kỳ nhiệt tương ứng nào cũng sẽ diệt và dừng lại. Cũng vậy, lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại. Khổ thọ … Bất khổ bất lạc thọ khởi sinh phụ thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính. Với sự đoạn diệt của xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bất khổ bất lạc thọ tương ứng sẽ diệt và dừng lại.

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’"

II. Hạng Người Ít Nghe (Tạp 12,8 Vô Văn, Ðại 2, 82a) (S.ii,95)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, có thể viễn ly, có thể giải thoát đối với cái thân do bốn đại tạo thành này.

3. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả. Do vậy, ở đây, kể vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.

4. Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

5. Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

6. Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này, xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.

7. Vì sao? này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”.

9. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt.

10. Này các Tỷ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt.

11. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt.

13. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ nên lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy chấm dứt.

14. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ…

15. Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ ấy được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.

16. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên, biết rằng: “Ta đã giải thoát”, vị ấy biết rõ : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

SN 12.63 Thịt Con Puttamaṁsasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Và các ngươi nên xem đoàn thực như thế nào? Giả sử một cặp vợ chồng lên đường vượt sa mạc, mang theo lương thực hạn chế. Họ có một đứa con duy nhất, thân yêu và quý mến. Khi cặp vợ chồng đang vượt sa mạc, lượng lương thực hạn chế của họ sẽ cạn kiệt, và họ vẫn còn phần còn lại của sa mạc phải vượt qua. Rồi cặp vợ chồng đó sẽ khởi lên ý nghĩ: ‘Lượng lương thực hạn chế của chúng ta đã cạn kiệt, và chúng ta vẫn còn phần còn lại của sa mạc phải vượt qua. Tại sao chúng ta không giết đứa con duy nhất của mình, đứa con thân yêu và quý mến, và chuẩn bị thịt khô và tẩm gia vị? Rồi chúng ta có thể vượt qua sa mạc bằng cách ăn thịt con mình. Đừng để cả ba cùng chết.’ Rồi cặp vợ chồng đó sẽ giết đứa con duy nhất của mình, đứa con thân yêu và quý mến, và chuẩn bị thịt khô và tẩm gia vị. Họ sẽ vượt qua sa mạc bằng cách ăn thịt con mình. Và khi họ ăn thịt con mình, họ sẽ đấm ngực và khóc: ‘Con ơi, đứa con duy nhất của cha mẹ, con ở đâu? Con ơi, đứa con duy nhất của cha mẹ, con ở đâu?’

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Họ có ăn thức ăn đó để vui chơi, hưởng thụ, trang điểm, hay trang trí không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Họ có ăn thức ăn đó chỉ để có thể vượt qua sa mạc không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

"Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem đoàn thực. Khi đoàn thực được hiểu hoàn toàn, ham muốn đối với năm loại kích thích giác quan được hiểu hoàn toàn. Khi ham muốn đối với năm loại kích thích giác quan được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không bị trói buộc bởi bất kỳ kiết sử nào có thể khiến họ trở lại thế giới này.

Và các ngươi nên xem xúc thực như thế nào? Giả sử có một con bò bị lột da. Nếu nó đứng cạnh một bức tường, những sinh vật trên tường sẽ cắn nó. Nếu nó đứng dưới một cái cây, những sinh vật trên cây sẽ cắn nó. Nếu nó đứng trong nước, những sinh vật trong nước sẽ cắn nó. Nếu nó đứng ngoài trời, những sinh vật ngoài trời sẽ cắn nó. Bất cứ nơi nào con bò bị lột da đó đứng, những sinh vật ở đó sẽ cắn nó. Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem xúc thực. Khi xúc thực được hiểu hoàn toàn, ba cảm thọ được hiểu hoàn toàn. Khi ba cảm thọ được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy.

Và các ngươi nên xem ý tư niệm thực như thế nào? Giả sử có một hố than hồng sâu hơn chiều cao của một người, chứa đầy than hồng không có lửa cũng không có khói. Rồi một người muốn sống và không muốn chết, muốn hạnh phúc và ghê sợ đau khổ, đi đến. Hai người đàn ông khỏe mạnh sẽ nắm lấy tay anh ta và kéo anh ta về phía hố than hồng. Rồi ý định, mục đích, và mong muốn của người đó sẽ là đi thật xa. Tại sao vậy? Bởi vì người đó sẽ nghĩ: ‘Nếu tôi rơi vào hố than hồng đó, điều đó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người của tôi.’ Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem ý tư niệm thực. Khi ý tư niệm thực được hiểu hoàn toàn, ba loại ái được hiểu hoàn toàn. Khi ba loại ái được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy.

Và các ngươi nên xem thức thực như thế nào? Giả sử họ bắt một tên cướp, một tên tội phạm và trình diện hắn trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Xin hãy trừng phạt hắn theo ý Bệ hạ.’ Nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào buổi sáng bằng một trăm ngọn giáo!’ Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn. Rồi vào giữa trưa, nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, người đó thế nào rồi?’ ‘Hắn vẫn còn sống, tâu Bệ hạ.’ Nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào giữa ngày bằng một trăm ngọn giáo!’ Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn. Rồi vào cuối buổi chiều, nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, người đó thế nào rồi?’ ‘Hắn vẫn còn sống, tâu Bệ hạ.’ Nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, hãy đi và đánh người này vào cuối buổi chiều bằng một trăm ngọn giáo!’ Các quan của nhà vua đã làm theo lời dặn.

Các ngươi nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Người đàn ông đó có trải qua đau đớn và khổ sở vì bị đánh bằng ba trăm ngọn giáo một ngày không?"

“Bạch Thế Tôn, người đàn ông đó sẽ trải qua đau đớn và khổ sở vì bị đánh bằng một ngọn giáo, huống chi là ba trăm ngọn giáo!”

“Ta nói rằng đây là cách các ngươi nên xem thức thực. Khi thức thực được hiểu hoàn toàn, danh sắc được hiểu hoàn toàn. Khi danh sắc được hiểu hoàn toàn, một thánh đệ tử không còn gì phải làm nữa, Ta nói vậy.”

III. Thịt Ðứa Con (Tạp 15.11 Tử Nhục, Ðại 2, 102b) (S.ii,97)

1. …Ở Sàvatthi.

2. …Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.

3. Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc; thứ ba là tư niệm; thứ tư là thức.

Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

4. Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.

6. Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị chết hại”.

8. Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực (than khóc): “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”

9. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?

− Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.

10. − Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

11. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.

12. Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?

13. Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.

14. Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

15. Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?

16. Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố than hừng ấy).

17. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.

18. Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

19. Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?

20. Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.

21. Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” − “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.

22. Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” − “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.

23. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?

− Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!

24. − Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.

25. Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.

SN 12.64 Nếu Có Ham Muốn Atthirāgasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại vật thực này. Chúng duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra. Bốn loại đó là gì? Đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai, ý tư niệm thực là thứ ba, và thức thực là thứ tư. Đây là bốn loại vật thực duy trì các chúng sanh đã được sinh ra và giúp đỡ những chúng sanh sắp được sinh ra.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực … Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực … Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Giả sử một họa sĩ hoặc một người vẽ có một ít thuốc nhuộm, sơn mài đỏ, nghệ, chàm, hoặc hoa hồng điên. Và trên một tấm ván được đánh bóng hoặc một bức tường hoặc một tấm vải, họ sẽ tạo ra hình dạng của một người phụ nữ hoặc một người đàn ông, hoàn chỉnh với các chi chính và phụ.

Cũng vậy, nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực … Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực … Nếu có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức sẽ được thiết lập ở đó và tăng trưởng. Nơi nào thức được thiết lập và tăng trưởng, danh sắc được hình thành. Nơi nào danh sắc được hình thành, có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành tăng trưởng, có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó đầy sầu, muộn, và khổ não.

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não.

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực … Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực … Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não.

Giả sử có một ngôi nhà gỗ hoặc một hội trường có mái nhọn, với cửa sổ ở phía bắc, phía nam, hoặc phía đông. Khi mặt trời mọc và một tia sáng đi vào qua cửa sổ, nó sẽ chiếu vào đâu?"

“Vào bức tường phía tây, bạch Thế Tôn.”

“Nếu không có bức tường phía tây, nó sẽ chiếu vào đâu?”

“Xuống đất, bạch Thế Tôn.”

“Nếu không có đất, nó sẽ chiếu vào đâu?”

“Vào nước, bạch Thế Tôn.”

“Nếu không có nước, nó sẽ chiếu vào đâu?”

“Nó sẽ không chiếu vào đâu cả, bạch Thế Tôn.”

"Cũng vậy, nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với đoàn thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. …

Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với xúc thực … Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với ý tư niệm thực … Nếu không có ham muốn, thưởng thức, và ái đối với thức thực, thức không được thiết lập ở đó và không tăng trưởng. Nơi nào thức không được thiết lập và không tăng trưởng, danh sắc không được hình thành. Nơi nào danh sắc không được hình thành, không có sự tăng trưởng của hành. Nơi nào hành không tăng trưởng, không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, không có sinh, lão, và tử trong tương lai. Nơi nào không có sinh, lão, và tử trong tương lai, Ta nói rằng không có sầu, muộn, và khổ não."

IV. Có Tham (Tạp 15.12-4. Ðại 2,102c) (S.ii,101)

1. …Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

3. Thế nào là bốn? Ðoàn thực thô hoặc tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm là thứ ba, thức thực là thứ tư.

Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực… (như trên)…

6. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…

7. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một người thợ vẽ. Nếu có thuốc nhuộm hay sơn màu nghệ, màu xanh, hay màu đỏ, có một tấm bảng khéo đánh bóng, một bức tường hay tấm vải, có thể phác họa hình người đàn bà hay người đàn ông có đầy đủ chân tay.

9. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

10. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

11. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với niệm thực…

12. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

13. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

14. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

15. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực …

16. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

17. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có mái hay một dãy hành lang có mái, có cửa sổ phía Bắc, phía Nam, hay phía Ðông. Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng ngang qua cửa sổ chiếu vào, thời chiếu vào chỗ nào?

− Bạch Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.

18. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào?

− Bạch Thế Tôn, chiếu trên đất.

19. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có đất, thời chiếu vào chỗ nào?

− Bạch Thế Tôn, chiếu trên nước.

20. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có nước, thời chiếu vào chỗ nào?

− Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.

21. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái…

22. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

23. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…

24. Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú. Chỗ nào không có thức an trú, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

SN 12.65 Thành Phố Nagarasutta

Tại Xá-vệ.

"Này các Tỷ kheo, trước khi giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang hướng tâm đến giác ngộ—Ta đã suy nghĩ: ‘Than ôi, thế giới này đã rơi vào phiền não. Nó sinh ra, già đi, chết đi, qua đời, và được tái sinh, nhưng lại không hiểu làm thế nào để thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Ôi, khi nào mới tìm thấy được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?’ Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có lão tử? Cái gì là điều kiện cho lão tử?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh tồn tại thì có lão tử. Sinh là điều kiện cho lão tử.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có sinh? … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … Cái gì là điều kiện cho danh sắc?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thức tồn tại thì có danh sắc. Thức là điều kiện cho danh sắc.’ Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì tồn tại thì có thức? Cái gì là điều kiện cho thức?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc tồn tại thì có thức. Danh sắc là điều kiện cho thức.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: Thức này quay trở lại từ danh sắc, và không đi xa hơn thế. Đây là mức độ mà một người có thể được tái sinh, già đi, chết đi, qua đời, hoặc tái hiện. Đó là: danh sắc là điều kiện cho thức. Thức là điều kiện cho danh sắc. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập. Lục nhập là điều kiện cho xúc. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. ‘Sanh khởi, sanh khởi.’ Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có lão tử? Khi cái gì diệt thì lão tử diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi sinh không tồn tại thì không có lão tử. Khi sinh diệt, lão tử diệt.’ Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc? Khi cái gì diệt thì danh sắc diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi thức không tồn tại thì không có danh sắc. Khi thức diệt, danh sắc diệt.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: ‘Khi cái gì không tồn tại thì không có thức? Khi cái gì diệt thì thức diệt?’ Rồi, qua như lý tác ý, Ta liễu tri bằng trí tuệ: ‘Khi danh sắc không tồn tại, không có thức. Khi danh sắc diệt, thức diệt.’

Rồi Ta khởi lên ý nghĩ: Ta đã khám phá ra con đường đến giác ngộ. Đó là: Khi danh sắc diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. ‘Đoạn diệt, đoạn diệt.’ Nhãn, trí, tuệ, minh, và quang đã khởi lên trong Ta về những giáo pháp chưa từng được nghe từ ai khác.

Giả sử một người đang đi trong rừng. Họ sẽ thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà con người đã đi qua trong quá khứ. Đi theo nó, họ sẽ thấy một thành phố cổ, một kinh đô cổ, nơi con người đã sinh sống trong quá khứ. Nó thật đáng yêu, hoàn chỉnh với công viên, lùm cây, ao sen, và bờ kè. Rồi người đó sẽ thông báo cho một vị vua hoặc vị tể tướng của họ: ‘Thưa ngài, ngài nên biết điều này. Khi đi trong rừng, tôi đã thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà con người đã đi qua trong quá khứ. Đi theo nó, tôi đã thấy một thành phố cổ, một kinh đô cổ, nơi con người đã sinh sống trong quá khứ. Nó thật đáng yêu, hoàn chỉnh với công viên, lùm cây, ao sen, và bờ kè. Thưa ngài, ngài nên xây dựng lại thành phố đó!’ Rồi vị vua hoặc vị tể tướng đó sẽ cho xây dựng lại thành phố đó. Và sau một thời gian, thành phố đó đã thành công và thịnh vượng, đông dân, đầy người, đạt được sự tăng trưởng và mở rộng. Cũng vậy, Ta đã thấy một con đường cổ, một con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ.

Và con đường cổ đó, con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường cổ đó, con đường cổ xưa mà các vị Phật toàn giác đã đi qua trong quá khứ.

Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … Đi theo nó, Ta đã trực tiếp biết về hành, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Sau khi đã trực tiếp biết điều này, Ta đã nói với các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Và đó là cách đời sống phạm hạnh này đã trở nên thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rõ ràng ở bất cứ nơi nào có trời và người."

V. Thành Ấp (Tạp 12.5, Ðại 2,80b) (Tăng 384, Ðại 2) (S.ii,104)

1. …Tại Sàvatthi.

2. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”.

3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?"

4. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi”.

5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? thọ Hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?”

6. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?”

8. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau : “Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi”.

9. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi…”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

10. “Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

11. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?”

12. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt”.

13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?"

14. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.

15. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt ?”

16. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt”.

17. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. …(như trên)…Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.

18. “Ðoạn diệt, đoạn diệt”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

19. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.

20. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: “Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy”.

21. Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.

22. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.

23-31. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh… Ta thấy rõ hữu… Ta thấy rõ thủ… Ta thấy rõ ái… Ta thấy rõ thọ… Ta thấy rõ xúc… Ta thấy rõ sáu xứ… Ta thấy rõ danh sắc… Ta thấy rõ thức…

32. Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.

33. Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.

SN 12.66 Tự Vấn Sammasasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kuru, gần thị trấn Kammāsadamma của người Kuru. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, các ngươi có thực hiện việc tự vấn nội tâm không?”

Khi Ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con có thực hiện việc tự vấn nội tâm.”

“Nhưng này Tỷ kheo, ngươi thực hiện việc tự vấn nội tâm như thế nào?” Rồi vị Tỷ kheo đó trả lời, nhưng Đức Phật không hài lòng với câu trả lời.

Khi ông đã nói xong, Tôn giả A-nan thưa với Đức Phật: “Bây giờ là lúc, bạch Thế Tôn! Bây giờ là lúc, Bậc Thánh! Xin Đức Phật hãy nói về việc tự vấn nội tâm. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, A-nan, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:

"Hãy lấy một Tỷ kheo thực hiện việc tự vấn nội tâm: ‘Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nhưng nguồn gốc của khổ đau này là gì? Khi cái gì tồn tại thì lão tử sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì lão tử không sinh khởi?’ Trong khi xem xét, họ biết: ‘Khổ đau phát sinh trên thế gian bắt đầu từ lão tử có nhiều hình thức đa dạng. Nguồn gốc của khổ đau này là sự dính mắc. Khi sự dính mắc tồn tại, lão tử sinh khởi. Và khi sự dính mắc không tồn tại, lão tử không sinh khởi.’ Họ hiểu về lão tử, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt lão tử.

Họ thực hiện việc tự vấn nội tâm thêm: ‘Nhưng nguồn gốc của sự dính mắc này là gì? Khi cái gì tồn tại thì sự dính mắc sinh khởi? Và khi cái gì không tồn tại thì sự dính mắc không sinh khởi?’ Trong khi xem xét, họ biết: ‘Nguồn gốc của sự dính mắc này là ái. Khi ái tồn tại, sự dính mắc sinh khởi. Và khi ái không tồn tại, sự dính mắc không sinh khởi.’ Họ hiểu về sự dính mắc, nguồn gốc, sự đoạn diệt, và con đường phù hợp để đoạn diệt nó. Và họ thực hành theo con đường đó. Đây được gọi là một Tỷ kheo đang thực hành để chấm dứt hoàn toàn khổ đau, để đoạn diệt sự dính mắc.

Họ thực hiện việc tự vấn nội tâm thêm: ‘Nhưng ái đó khởi sinh ở đâu và lắng đọng ở đâu?’ Trong khi xem xét, họ biết: ‘Ái đó khởi sinh và lắng đọng trên bất cứ điều gì trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu. Và cái gì trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu? Mắt trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu, và chính ở đó ái khởi sinh và lắng đọng. Tai … mũi … lưỡi … thân … ý trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu, và chính ở đó ái khởi sinh và lắng đọng.’

Có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai sẽ thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ sẽ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ sẽ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ sẽ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ sẽ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ sẽ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Giả sử có một cốc đồng đựng đồ uống có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Rồi một người đàn ông đang vật lộn trong cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô, và khô héo đi đến. Họ sẽ nói với anh ta: ‘Này người đáng kính, cốc đồng đựng đồ uống này có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Hãy uống nếu ông muốn. Nếu ông uống, màu sắc, mùi thơm, và hương vị sẽ hấp dẫn, nhưng nó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.’ Anh ta sẽ không từ chối đồ uống đó. Vội vàng, không suy nghĩ, anh ta sẽ uống nó, dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.

Cũng vậy, có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ … tương lai … Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là thường hằng, là lạc, là ngã, là khỏe mạnh, và là an toàn. Ái của họ tăng trưởng. Khi ái của họ tăng trưởng, sự dính mắc của họ tăng trưởng. Khi sự dính mắc của họ tăng trưởng, khổ đau của họ tăng trưởng. Và khi khổ đau của họ tăng trưởng, họ không được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ đã từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ đã từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ đã được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ đã được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai sẽ thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ sẽ từ bỏ ái. Từ bỏ ái … họ sẽ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Giả sử có một cốc đồng đựng đồ uống có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Rồi một người đàn ông đang vật lộn trong cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô, và khô héo đi đến. Họ sẽ nói với anh ta: ‘Này người đáng kính, cốc đồng đựng đồ uống này có màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp. Nhưng nó đã được pha với thuốc độc. Hãy uống nếu ông muốn. Nếu ông uống, màu sắc, mùi thơm, và hương vị đẹp của nó sẽ làm ông sảng khoái. Nhưng uống nó sẽ dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.’ Rồi người đàn ông đó có thể nghĩ: ‘Tôi có thể giải khát bằng nước, sữa chua, đồ uống có gia vị, hoặc nước dùng. Nhưng tôi không nên uống đồ uống đó, vì nó sẽ gây hại và đau khổ lâu dài cho tôi.’ Anh ta sẽ từ chối đồ uống đó. Sau khi thẩm định, anh ta sẽ không uống nó, và nó sẽ không dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.

Cũng vậy, có những sa-môn và bà-la-môn trong quá khứ đã thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ đã từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ đã từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ đã được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ đã được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Sẽ có những sa-môn và bà-la-môn trong tương lai … Có những sa-môn và bà-la-môn trong hiện tại thấy những thứ có vẻ tốt đẹp và dễ chịu trên thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bệnh hoạn, và là nguy hiểm. Họ từ bỏ ái. Từ bỏ ái, họ từ bỏ sự dính mắc. Từ bỏ sự dính mắc, họ từ bỏ khổ đau. Từ bỏ khổ đau, họ được giải thoát khỏi sinh, lão, và tử, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

VI. Xúc Chạm, Biết Rõ (Tạp 12.9, Xúc Pháp. Ðại 2.82a) (S.ii,107)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn dân chúng Kuru tên là Kammàsadhamma.

2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: − “Này các Tỷ-kheo”. − “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có nắm giữ với nội xúc hay không?

4. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.

5. − Này các Tỷ-kheo, nhưng Ông nắm giữ nội xúc như thế nào?

6. Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.

7. Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

8. − Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

9. Thế Tôn nói như sau:

− Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.

10. Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”. Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.

11. Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.

12. … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…

13. … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…

14. … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…

15. … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…

16. … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.

17. Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.

18. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

19. Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.

20. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.

21. Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.

22. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

23. Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.

24. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…

25. … Những ai trong tương lai…

26. Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.

27. Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

28. Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.

Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.

29. Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.

30. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.

31. Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.

32. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.

33. Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy : “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.

34. Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.

35. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.

36. Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.

37-38. Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…

39. Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.

40. Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.

SN 12.67 Bó Sậy Naḷakalāpīsutta

Một thời Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Đại-ca-chiên-diên đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana.

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Đại-ca-chiên-diên ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, lão tử là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?”

“Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, lão tử không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, sinh là điều kiện cho lão tử.”

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy sinh là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?”

“Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, sinh không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, hữu là điều kiện cho sinh.”

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy hữu là do tự mình làm ra phải không? …” … “Thủ là do tự mình làm ra phải không? …” … “Ái là do tự mình làm ra phải không? …” … “Thọ là do tự mình làm ra phải không? …” … “Xúc là do tự mình làm ra phải không? …” … “Lục nhập là do tự mình làm ra phải không? …” … “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy danh sắc là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?”

“Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, danh sắc không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, thức là điều kiện cho danh sắc.”

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vậy thức là do tự mình làm ra phải không? Hay do người khác? Hay do cả mình và người khác? Hay nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra?”

“Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, thức không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, danh sắc là điều kiện cho thức.”

"Vừa rồi tôi hiểu ngài nói: ‘Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, danh sắc không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải chúng phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, thức là điều kiện cho danh sắc.’

Nhưng tôi cũng hiểu ngài nói: ‘Không, thưa Tôn giả Ca-chiên-diên, thức không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do người khác, cũng không phải do cả mình và người khác, cũng không phải nó phát sinh ngẫu nhiên, không do mình cũng không do người khác làm ra. Thay vào đó, danh sắc là điều kiện cho thức.’

Vậy chúng ta nên hiểu ý nghĩa của câu nói này như thế nào?"

"Vậy thì, thưa Tôn giả, tôi sẽ cho ngài một ví dụ. Vì nhờ ví dụ mà một số người trí hiểu được ý nghĩa của những gì được nói. Ví như có hai bó sậy dựa vào nhau mà đứng.

Cũng vậy, danh sắc là điều kiện cho thức sinh khởi. Thức là điều kiện cho danh sắc sinh khởi. Danh sắc là điều kiện cho lục nhập sinh khởi. Lục nhập là điều kiện cho xúc sinh khởi. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này phát sinh. Nếu kéo một trong hai bó sậy đó ra, bó kia sẽ ngã. Và nếu kéo bó kia ra, bó đầu tiên sẽ ngã.

Cũng vậy, khi danh sắc diệt, thức diệt. Khi thức diệt, danh sắc diệt. Khi danh sắc diệt, lục nhập diệt. Khi lục nhập diệt, xúc diệt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt."

"Thật không thể tin được, Tôn giả Xá-lợi-phất, thật đáng kinh ngạc! Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói điều này thật hay! Và chúng tôi có thể bày tỏ sự đồng ý với lời tuyên bố của Tôn giả Xá-lợi-phất trên ba mươi sáu cơ sở này.

Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp’. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp’. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với lão tử, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này’. Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly đối với sinh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … lục nhập … danh sắc … thức … hành … Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết giảng về Pháp’. Nếu vị ấy thực hành vì sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo giáo pháp’. Nếu vị ấy được giải thoát do không chấp thủ qua sự yếm ly, ly tham, và đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời này’."

VII.Bó Lau (Tạp 12.6 Lô, Ðại 2,81a) (S.ii,112)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàkotthita trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migàdàya (rừng nai).

2. Rồi Tôn giả Mahàkotthita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả

Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:

− Này Hiền giả Sàriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?

4. − Này Hiền giả Kotthita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.

5. − Này Hiền giả Sàriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

6. − Này Hiền giả Kotthita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, sanh cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.

7-18. − Này Hiền giả Sàriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…

19. … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

20. − Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.

21. − Này Hiền giả Sàriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

22. − Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.

23. − Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như sau: “Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không do tự mình làm ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức”.

24. Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như sau: “Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc”.

25. Này Hiền giả Sàriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?

− Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.

26. Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua (một bên), bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua (một bên), bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

27. − Thật vi diệu thay, Hiền giả Sàriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sàriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sàriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sàriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.

28. − Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là pháp tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.

SN 12.68 Tại Kosambī Kosambisutta

Một thời các tôn giả Musīla, Saviṭṭha, Nārada, và A-nan đang ở gần Kosambī trong tu viện của Ghosita. Rồi Tôn giả Saviṭṭha nói với Tôn giả Musīla:

“Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sinh là điều kiện cho lão tử không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sinh là điều kiện cho lão tử.”

“Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng hữu là điều kiện cho sinh … thủ là điều kiện cho hữu … ái là điều kiện cho thủ … thọ là điều kiện cho ái … xúc là điều kiện cho thọ … lục nhập là điều kiện cho xúc … danh sắc là điều kiện cho lục nhập … thức là điều kiện cho danh sắc … hành là điều kiện cho thức … vô minh là điều kiện cho hành không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng vô minh là điều kiện cho hành.”

“Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng khi sinh diệt, lão tử diệt không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng khi sinh diệt, lão tử diệt.”

“Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng khi hữu diệt, sinh diệt … khi thủ diệt, hữu diệt … khi ái diệt, thủ diệt … khi thọ diệt, ái diệt … khi xúc diệt, thọ diệt … khi lục nhập diệt, xúc diệt … khi danh sắc diệt, lục nhập diệt … khi thức diệt, danh sắc diệt … khi hành diệt, thức diệt … khi vô minh diệt, hành diệt không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng khi vô minh diệt, hành diệt.”

“Thưa Tôn giả Musīla, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn.”

“Vậy Tôn giả Musīla là một bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.” Khi ông nói điều này, Musīla giữ im lặng.

Rồi Tôn giả Nārada nói với Tôn giả Saviṭṭha: “Thưa Tôn giả Saviṭṭha, xin hãy để tôi trả lời những câu hỏi này. Hãy hỏi tôi và tôi sẽ trả lời chúng cho ngài.”

“Chắc chắn rồi, Tôn giả Nārada, hãy thử những câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi ngài và ngài có thể trả lời chúng cho tôi.”

(Saviṭṭha lặp lại chính xác loạt câu hỏi tương tự, và Nārada trả lời giống như Musīla đã làm.)

“Thưa Tôn giả Nārada, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, ngài có tự mình biết rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn không?”

“Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngoài niềm tin, sự tán thành, sự truyền khẩu, dòng suy luận hợp lý, hoặc sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết và thấy rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn.”

“Vậy Tôn giả Nārada là một bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.”

"Tôi đã thực sự thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn. Tuy nhiên tôi không phải là một bậc A-la-hán. Ví như có một cái giếng bên con đường sa mạc mà không có dây hay gàu. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng ngột ngạt, mệt mỏi, khát khô. Người ấy biết rằng có nước, nhưng không thể chạm vào nó bằng thân.

Cũng vậy, tôi đã thực sự thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng sự đoạn diệt của hữu là Niết-bàn. Tuy nhiên tôi không phải là một bậc A-la-hán."

Khi ông nói điều này, Tôn giả A-nan nói với Tôn giả Saviṭṭha: “Thưa Tôn giả Saviṭṭha, ngài có gì để nói với Tôn giả Nārada khi ông ấy nói như vậy không?”

“Thưa Tôn giả A-nan, tôi không có gì để nói với Tôn giả Nārada khi ông ấy nói như vậy, ngoại trừ những điều tốt đẹp và lành mạnh.”

VIII. Kosambi (Tạp 14.9, Miệt-sư-la. Ðại 2,98c) (S.ii,115)

1. Một thời Tôn giả Musìla, Tôn giả Sàvittha, Tôn giả Nàrada, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, vườn Ghosità.

I

2. Rồi Tôn giả Sàvittha nói với Tôn giả Musìla:

− Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng (àkàraparivitakkà), ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm (ditthinijjhànakhanti), Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”.

3. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi có biết được, tôi có thấy được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”.

4. − Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: "Do duyên hữu, nên sanh sinh khởi… (như trên)…

5. … “Do duyên thủ nên hữu sanh khởi”.

6. … “Do duyên ái nên thủ sanh khởi”.

7. … “Do duyên thọ nên ái sanh khởi”.

8. … “Do duyên xúc nên thọ sanh khởi”.

9. … “Do duyên sáu xứ nên xúc sanh khởi”.

10. … “Do duyên danh sắc nên sáu xứ sanh khởi”.

11. … “Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.

12. … “Do duyên hành nên thức sanh khởi”.

13. … “Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.

14. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết được, tôi thấy được: “Do duyên vô minh, các hành sanh khởi”.

15. − Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài sự thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.

16. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.

17. − Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do hữu diệt, nên sanh diệt”.

18-24… “Do thủ diệt, nên hữu diệt… Do ái diệt, nên thủ diệt… Do thọ diệt, nên ái diệt… Do xúc diệt nên thọ diệt… Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt… Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt… Do thức diệt, nên danh sắc diệt… Do hành diệt, nên thức diệt… Do vô minh diệt, nên hành diệt”.

25. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do vô minh diệt, nên hành diệt”

26. − Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: " Do hữu diệt là Niết-bàn".

27. − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự, các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niếtbàn”.

28. − Như vậy, Tôn giả Musìla là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc?.

29. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Musìla giữ im lặng.

II

30. Rồi Tôn giả Nàrada nói với Tôn giả Sàvittha:

− Này Hiền giả Sàvittha, lành thay nếu tôi được hỏi câu này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này, và tôi sẽ trả lời cho Hiền giả câu hỏi này.

31. − Tôn giả Nàrada hãy lấy câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn giả Nàrada câu hỏi này. Và Tôn giả Nàrada hãy trả lời cho tôi câu hỏi này.

32-57… − Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin… tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.

58. − Như vậy, Tôn giả Nàrada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc?

59. − Này Hiền giả, “Do hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ. Nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.

60. Ví như trên một con đường hoang vắng có một giếng nước. Tại đấy không có dây, không có gàu nước. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Người ấy ngó xuống giếng và biết được: “Giếng này có nước”, nhưng đứng chịu, thân thể không chạm nước.

61. Cũng vậy, này Hiền giả, “Hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ, nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.

III

62. Khi được nói vậy,Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàvittha:

− Này Hiền giả Sàvittha, nói như vậy thời Hiền giả nói gì về Tôn giả Nàrada?

63. − Này Hiền giả Ananda, nói như vậy, tôi không nói gì về Tôn giả Nàrada, ngoài sự tốt lành, ngoài sự tốt đẹp.

SN 12.69 Dâng Trào Upayantisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên của ông Cấp Cô Độc.

"Này các Tỷ kheo, khi đại dương dâng trào, nó làm cho các con sông dâng trào. Khi các con sông dâng trào, chúng làm cho các dòng suối dâng trào. Khi các dòng suối dâng trào, chúng làm cho các hồ dâng trào. Khi các hồ dâng trào, chúng làm cho các ao dâng trào.

Cũng vậy, khi vô minh dâng trào, nó làm cho hành dâng trào. Khi hành dâng trào, chúng làm cho thức dâng trào. Khi thức dâng trào, nó làm cho danh sắc dâng trào. Khi danh sắc dâng trào, chúng làm cho lục nhập dâng trào. Khi lục nhập dâng trào, chúng làm cho xúc dâng trào. Khi xúc dâng trào, nó làm cho thọ dâng trào. Khi thọ dâng trào, nó làm cho ái dâng trào. Khi ái dâng trào, nó làm cho thủ dâng trào. Khi thủ dâng trào, nó làm cho hữu dâng trào. Khi hữu dâng trào, nó làm cho sinh dâng trào. Khi sinh dâng trào, nó làm cho lão tử dâng trào.

Khi đại dương rút xuống, nó làm cho các con sông rút xuống. Khi các con sông rút xuống, chúng làm cho các dòng suối rút xuống. Khi các dòng suối rút xuống, chúng làm cho các hồ rút xuống. Khi các hồ rút xuống, chúng làm cho các ao rút xuống.

Cũng vậy, khi vô minh rút xuống, nó làm cho hành rút xuống. Khi hành rút xuống, chúng làm cho thức rút xuống. Khi thức rút xuống, nó làm cho danh sắc rút xuống. Khi danh sắc rút xuống, chúng làm cho lục nhập rút xuống. Khi lục nhập rút xuống, chúng làm cho xúc rút xuống. Khi xúc rút xuống, nó làm cho thọ rút xuống. Khi thọ rút xuống, nó làm cho ái rút xuống. Khi ái rút xuống, nó làm cho thủ rút xuống. Khi thủ rút xuống, nó làm cho hữu rút xuống. Khi hữu rút xuống, nó làm cho sinh rút xuống. Khi sinh rút xuống, nó làm cho lão tử rút xuống."

IX. Nước Thủy Triều Dâng (S.ii,118)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong vườn ông Anàthapindika.

2. Tại đây…

3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào biển lớn dâng lên thời các sông lớn dâng lên; khi nào các sông lớn dâng lên thời các sông nhỏ dâng lên; khi nào các sông nhỏ dâng lên thời các hồ lớn dâng lên; khi nào các hồ lớn dâng lên thời các hồ nhỏ dâng lên.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào vô minh dâng lên thời các hành dâng lên; khi nào các hành dâng lên thời thức dâng lên; khi nào thức dâng lên thời danh sắc dâng lên; khi nào danh sắc dâng lên thời sáu xứ dâng lên; khi nào sáu xứ dâng lên thời xúc dâng lên; khi nào xúc dâng lên thời thọ dâng lên; khi nào thọ dâng lên thời ái dâng lên; khi nào ái dâng lên thời thủ dâng lên; khi nào thủ dâng lên thời hữu dâng lên; khi nào hữu dâng lên thời sanh dâng lên; khi nào sanh dâng lên thời già chết dâng lên.

5. Này các Tỷ-kheo, biển lớn không dâng lên thời sông lớn không dâng lên; sông lớn không dâng lên thời sông nhỏ không dâng lên; sông nhỏ không dâng lên thời hồ lớn không dâng lên; hồ lớn không dâng lên thời hồ nhỏ không dâng lên.

6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh không dâng lên thời các hành không dâng lên; các hành không dâng lên thời thức không dâng lên; thức không dâng lên thời danh sắc không dâng lên; danh sắc không dâng lên thời sáu xứ không dâng lên; sáu xứ không dâng lên thời xúc không dâng lên; xúc không dâng lên thời thọ không dâng lên; thọ không dâng lên thời ái không dâng lên; ái không dâng lên thời thủ không dâng lên; thủ không dâng lên thời hữu không dâng lên; hữu không dâng lên thời sanh không dâng lên; sanh không dâng lên thời già chết không dâng lên.

SN 12.70 Du Sĩ Susīma Susimaparibbājakasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần thành Vương-xá, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, Đức Phật được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và Ngài nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Và Tăng đoàn Tỷ kheo cũng được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và họ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Nhưng các du sĩ theo các tôn giáo khác không được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và họ không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh.

Lúc bấy giờ, du sĩ Susīma đang cư trú tại Vương-xá cùng với một cộng đồng lớn các du sĩ.

Rồi cộng đồng của ông nói với Susīma: “Thưa Tôn giả Susīma, xin hãy sống đời sống phạm hạnh với sa-môn Cồ-đàm. Hãy ghi nhớ giáo pháp đó và để chúng tôi cùng ngài tụng lại. Khi chúng tôi đã ghi nhớ, chúng tôi sẽ tụng lại cho các cư sĩ. Bằng cách này, chúng tôi cũng sẽ được tôn kính, kính trọng, tôn thờ, sùng bái, và quý mến. Và chúng tôi sẽ nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh.”

“Vâng, thưa các Tôn giả,” Susīma đáp. Rồi ông đến gặp Tôn giả A-nan và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với A-nan: “Thưa Tôn giả A-nan, tôi muốn sống đời sống phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.”

Rồi A-nan đưa Susīma đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài: “Bạch Thế Tôn, du sĩ Susīma này nói rằng ông ấy muốn sống đời sống phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.”

“Vậy thì, A-nan, hãy cho Susīma xuất gia.” Và du sĩ Susīma đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật.

Lúc bấy giờ, một số Tỷ kheo đã tuyên bố giác ngộ trước sự hiện diện của Đức Phật: “Chúng con hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’”

Tôn giả Susīma nghe về điều này. Ông đến gặp các Tỷ kheo đó và chào hỏi họ. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với các Tỷ kheo đó: “Có thật là các Tôn giả đã tuyên bố giác ngộ trước sự hiện diện của Đức Phật không?”

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Nhưng biết và thấy như vậy, các ngài có vận dụng được nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu phàm) không? Tức là, tự nhân bản mình và trở lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn vào và ra khỏi đất như thể đó là nước; đi trên nước như thể đó là đất; bay ngồi chéo chân trên trời như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, những vật thể hùng mạnh và quyền năng như vậy. Các ngài có điều khiển được thân thể cho đến tận cõi trời Phạm thiên không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có, với thiên nhĩ thông (clairaudience / khả năng nghe được âm thanh siêu việt) đã được thanh lọc và siêu phàm, nghe được cả hai loại âm thanh, của con người và của trời, dù gần hay xa không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có hiểu được tâm của các chúng sanh và cá nhân khác, sau khi đã liễu tri chúng bằng tâm của mình không? Các ngài có hiểu tâm có tham là ‘tâm có tham’, và tâm không có tham là ‘tâm không có tham’ không? Các ngài có hiểu tâm có sân là ‘tâm có sân’, và tâm không có sân là ‘tâm không có sân’ không? Các ngài có hiểu tâm có si là ‘tâm có si’, và tâm không có si là ‘tâm không có si’ không? Các ngài có hiểu tâm co rút là ‘tâm co rút’, và tâm phân tán là ‘tâm phân tán’ không? Các ngài có hiểu tâm quảng đại là ‘tâm quảng đại’, và tâm không quảng đại là ‘tâm không quảng đại’ không? Các ngài có hiểu tâm không phải là tối thượng là ‘tâm không phải là tối thượng’, và tâm là tối thượng là ‘tâm là tối thượng’ không? Các ngài có hiểu tâm nhập định là ‘tâm nhập định’, và tâm không nhập định là ‘tâm không nhập định’ không? Các ngài có hiểu tâm giải thoát là ‘tâm giải thoát’, và tâm không giải thoát là ‘tâm không giải thoát’ không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ không? Tức là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp tái sinh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới mở rộng, nhiều kiếp thế giới co lại và mở rộng? Các ngài có nhớ: ‘Ở đó, tôi tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, tôi cũng tên là thế này, dòng họ của tôi là thế kia, tôi trông như thế này, và đó là thức ăn của tôi. Đây là cách tôi cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời tôi kết thúc. Khi tôi qua đời từ nơi đó, tôi được tái sinh ở đây.’ Các ngài có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có, với thiên nhãn thông (clairvoyance / khả năng nhìn thấy các cõi giới khác) đã được thanh lọc và siêu phàm, thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu—và hiểu được các chúng sanh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ không? ‘Những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều xấu bằng thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi đọa lạc, nơi xấu, cõi thấp, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều tốt bằng thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi tốt, cõi trời.’ Và như vậy, với thiên nhãn thông đã được thanh lọc và siêu phàm, các ngài có thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Và các ngài có hiểu được các chúng sanh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, các ngài có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về các giải thoát thanh tịnh là vô sắc, vượt qua sắc không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy thì, thưa các Tôn giả, làm thế nào có thể có một tuyên bố như vậy khi những điều này không được đạt được?”

“Thưa Tôn giả Susīma, chúng tôi được tuệ giải thoát (freed by wisdom / giải thoát nhờ trí tuệ).”

“Tôi không hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì các ngài đã nói ngắn gọn. Xin hãy dạy tôi vấn đề này để tôi có thể hiểu ý nghĩa chi tiết.”

“Thưa Tôn giả Susīma, dù ngài có hiểu hay không, chúng tôi được tuệ giải thoát.”

Rồi Susīma đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và báo cáo với Đức Phật tất cả những gì ông đã thảo luận với các Tỷ kheo đó.

“Này Susīma, trước tiên là tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên. Sau đó là tri kiến về Niết-bàn.”

“Bạch Thế Tôn, con không hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ngài đã nói ngắn gọn. Xin hãy dạy con vấn đề này để con có thể hiểu ý nghĩa chi tiết.”

"Này Susīma, dù ngươi có hiểu hay không, trước tiên là tri kiến về sự ổn định của các nguyên lý tự nhiên. Sau đó là tri kiến về Niết-bàn.

Ngươi nghĩ sao, Susīma? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tưởng là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Hành là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu chúng là vô thường, chúng là khổ hay lạc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu chúng là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi chúng như thế này không: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay lạc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Vì vậy, Susīma, ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả sắc—với chánh trí tuệ: ‘Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại thọ nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả thọ—với chánh trí tuệ: ‘Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại tưởng nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả tưởng—với chánh trí tuệ: ‘Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại hành nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả hành—với chánh trí tuệ: ‘Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Ngươi nên thực sự thấy bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hoặc hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài; thô hoặc tế; thấp kém hoặc cao quý; xa hoặc gần: tất cả thức—với chánh trí tuệ: ‘Đây không phải là của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy điều này, một thánh đệ tử có học trở nên yếm ly với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Khi yếm ly, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi họ được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’

Này Susīma, ngươi có thấy rằng sinh là điều kiện cho lão tử không?"

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng hữu là điều kiện cho sinh không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng thủ là điều kiện cho hữu không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng ái là điều kiện cho thủ không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng thọ là điều kiện cho ái … xúc là điều kiện cho thọ … lục nhập là điều kiện cho xúc … danh sắc là điều kiện cho lục nhập … thức là điều kiện cho danh sắc … hành là điều kiện cho thức … vô minh là điều kiện cho hành không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng khi sinh diệt, lão tử diệt không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng khi hữu diệt, sinh diệt không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ngươi có thấy rằng khi thủ diệt, hữu diệt … khi ái diệt, thủ diệt … khi thọ diệt, ái diệt … khi xúc diệt, thọ diệt … khi lục nhập diệt, xúc diệt … khi danh sắc diệt, lục nhập diệt … khi thức diệt, danh sắc diệt … khi hành diệt, thức diệt … khi vô minh diệt, hành diệt không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng biết và thấy như vậy, ngươi có vận dụng được nhiều loại thần thông không? …”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có, với thiên nhĩ thông đã được thanh lọc và siêu phàm, nghe được cả hai loại âm thanh, của con người và của trời, dù gần hay xa không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có hiểu được tâm của các chúng sanh và cá nhân khác, sau khi đã liễu tri chúng bằng tâm của mình không? …”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có nhớ lại được nhiều loại kiếp sống quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có, với thiên nhãn thông đã được thanh lọc và siêu phàm, thấy các chúng sanh qua đời và được tái sinh … theo nghiệp của họ không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy, biết và thấy như vậy, ngươi có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về các giải thoát thanh tịnh là vô sắc, vượt qua sắc không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy thì, Susīma, làm thế nào có thể có một tuyên bố như vậy khi những điều này không được đạt được?”

Rồi Tôn giả Susīma cúi đầu dưới chân Đức Phật và nói: “Con đã phạm lỗi, bạch Thế Tôn. Thật là ngu ngốc, dại dột, và bất thiện khi con đã xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy. Xin Thế Tôn, hãy chấp nhận lỗi lầm của con như nó là, để con sẽ tự kiềm chế trong tương lai.”

“Thật vậy, Susīma, ngươi đã phạm lỗi. Thật là ngu ngốc, dại dột, và bất thiện khi ngươi đã xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy. Giả sử họ bắt một tên cướp, một tên tội phạm và trình diện hắn trước nhà vua, nói rằng: ‘Tâu Bệ hạ, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Xin hãy trừng phạt hắn theo ý Bệ hạ.’ Nhà vua sẽ nói: ‘Hỡi các khanh, hãy đi và trói chặt tay người này ra sau lưng bằng một sợi dây chắc. Cạo đầu hắn và diễu hắn từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác trong tiếng trống khắc nghiệt. Rồi đưa hắn ra cổng phía nam và ở đó, phía nam thành phố, chặt đầu hắn.’ Các quan của nhà vua sẽ làm theo lời dặn. Ngươi nghĩ sao, Susīma? Người đàn ông đó có trải qua đau đớn và khổ sở vì điều đó không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Mặc dù người đàn ông đó sẽ trải qua đau đớn và khổ sở vì điều đó, việc xuất gia như một tên trộm trong một giáo pháp và giới luật được giải thích rõ ràng như vậy có kết quả đau đớn và cay đắng hơn. Và nó thậm chí còn dẫn đến cõi thấp. Nhưng vì ngươi đã nhận ra lỗi lầm của mình như nó là, và đã xử lý nó một cách đúng đắn, Ta chấp nhận nó. Vì đó là sự tăng trưởng trong sự tu tập của Bậc Thánh khi nhận ra một lỗi lầm như nó là, xử lý nó một cách đúng đắn, và cam kết kiềm chế trong tương lai.”

X. Susìma (Tạp 14.5 Ðại 2,96b) (S.ii,119)

1. Như vậy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng con sóc.

I

2. Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

3. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

4. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường, không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

II

5. Lúc bấy giờ du sĩ Susìma trú ở Ràjagaha cùng với đại chúng du sĩ.

6. Rồi hội chúng du sĩ của Susìma nói với du sĩ Susìma:

− Thưa Hiền giả Susìma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

7. − Thưa vâng, các Hiền giả.

Du sĩ Susìma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ananda; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

III

8. Ngồi xuống một bên, du sĩ Susìma nói với Tôn giả Ananda:

− Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này.

9. Rồi Tôn giả Ananda đưa du sĩ Susìma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

10. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, du sĩ Susìma này nói như sau: “Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này”.

11. − Vậy Ananda, hãy cho Susìma xuất gia.

12. Và du sĩ Susìma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn và được thọ đại giới.

13. Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: "Chúng tôi biết rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ "

IV

14. Tôn giả Susìma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”

15. Rồi Tôn giả Susìma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

16. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma nói với các Tỷ-kheo ấy:

− Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng con biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’”?

− Thưa có vậy, này Hiền giả.

17. − Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

18. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

19. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác, các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

20. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

21. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói, làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh. Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

22. − Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới, an trú vào tịch tịnh giải thoát?

− Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

23. − Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy, vừa không chứng được các pháp này?

24. −Này Hiền giả, không có chứng được gì.

25. − Như thế nào?

− Thưa Hiền giả Susìma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.

26. − Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư

Tôn giả!

27. − Này Hiền giả Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.

V

28. Rồi Tôn giả Susìma từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

29. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma trình bày lên Thế Tôn tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.

30. − Này Susìma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.

31. − Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn!

32. − Này Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không có biết, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn?

33. − Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

34. − Thọ là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

35. − Tưởng là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

36. − Các hành là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

37. − Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

38. − Do vậy, này Susìma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

39. Cái gì thuộc thọ quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

40. Cái gì thuộc tưởng quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

41. Cái gì thuộc hành quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

42. Cái gì thuộc thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

43. Này Susìma, thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

44. …

45. − “Do duyên thủ, hữu sanh khởi?” Này Susìma, Ông có thấy chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

46. − Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên ái, thủ sanh khởi”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

47. − “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên hành thức sanh khởi. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

48. − “Do sanh diệt, già chết diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

49. − “Do hữu diệt, nên sanh diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

50. − “Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

51. − Nhưng này, biết như vậy, thấy như vậy, Ông có chứng được các thần thông nhiều loại sai khác: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

52. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể nghe hai loại tiếng, tiếng chư Thiên và tiếng loài Người, tiếng xa và tiếng gần?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

53. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của chúng sanh sai khác, của loài Người sai khác. Với tâm có tham, Ông biết được tâm có tham… với tâm không giải thoát, Ông biết được là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, Ông biết được là tâm giải thoát?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

54. − Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác. Như một đời… (như trên)… Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác cùng với các nét đại cương và các chi tiết?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

55. − Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể thấy các chúng sanh chết đi sanh lại… Ông có thể biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

56. − Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, có phải sau khi vượt khỏi các sắc pháp, với thân cảm thọ vô sắc pháp Ông an trú với tịch tịnh giải thoát?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

57. − Nay ở đây, này Susìma, với câu trả lời như vậy, với những pháp này không chứng được, này Susìma, có phải Ông không làm được điều này?

VI

58. Rồi Tôn giả Susìma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Một tội lỗi con đã vi phạm, bạch Thế Tôn, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Con đã xuất gia như một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!

59. − Này Susìma, thật sự Ông đã phạm tội, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện, Ông đã xuất gia như người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.

60. Ví như, này Susìma, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào như Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các Ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt về phía sau, cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngả ba này đến ngả ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”.

Những người kia vâng theo lời vua dạy, lấy dây thật chắc trói cánh tay người ấy thật chặt về phía sau, cạo trọc đầu, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngả ba này tới ngả ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và chặt đầu người ấy tại thành phía Nam.

61. Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Người ấy do nhân duyên như vậy có cảm thọ khổ ưu hay không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

62. − Này Susìma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ khổ ưu, hay không cảm thọ khổ ưu, thời sự xuất gia với tư cách ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy phải rơi vào và chịu đựng khổ báo còn kịch liệt hơn và quả báo còn đau đớn hơn.

63. Này Susìma, Ông thấy phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên chúng ta chấp nhận tội ấy cho Ông. Này Susìma, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi thấy được phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.

Phẩm Sa-môn và Bà-la-môn

SN 12.71 Già và Chết Jarāmaraṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī, tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong rừng Jeta.

"Này các Tỷ kheo, có những Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / tu sĩ và giáo sĩ) không hiểu rõ về già và chết (old age and death / jarāmaraṇa), không hiểu rõ về sự sinh khởi của chúng, sự chấm dứt của chúng, và con đường đưa đến sự chấm dứt của chúng. Ta không xem họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả ấy không nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và không sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình.

Có những Sa-môn và Bà-la-môn hiểu rõ về già và chết, sự sinh khởi của chúng, sự chấm dứt của chúng, và con đường đưa đến sự chấm dứt của chúng. Ta xem họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả ấy nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ của mình."

VIII. Sa Môn, Bà La Môn: Phẩm Thứ Tám

71. I. Sa Môn, Bà La Môn (Tạp 14.12-3, Sa-môn, Bà-la-môn, Ðại 2,99b) (S.ii,129)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đây Thế Tôn…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bàla-môn không được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

4. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết… (như trên)… biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

SN 12.72–81 Mười Kinh về Sanh, v.v. Jātisuttādidasaka

Tại Sāvatthī.

“… họ không hiểu rõ về Sanh (Rebirth / jāti / sự tái sinh) …”

“… Hữu (continued existence / bhava / sự tồn tại) …”

“… Thủ (grasping / upādāna / sự bám víu) …”

“… Ái (craving / taṇhā / sự khao khát) …”

“… Thọ (feeling / vedanā / cảm giác) …”

“… Xúc (contact / phassa / sự tiếp xúc) …”

“… lục nhập (the six sense fields / saḷāyatana / sáu giác quan và đối tượng của chúng) …”

“… danh và sắc (name and form / nāmarūpa / tâm và vật chất) …”

“… Thức (consciousness / viññāṇa / sự nhận biết) …”

"… Hành (choices / saṅkhāra / các hoạt động có chủ ý) …

… họ hiểu rõ …"

(lặp lại tương tự)

72-80. (II-X).

… Trú ở Sàvatthi.

Họ không biết sanh…

Họ không biết hữu…

Họ không biết thủ…

Họ không biết ái…

Họ không biết thọ…

Họ không biết xúc…

Họ không biết sáu xứ…

Họ không biết danh sắc…

Họ không biết thức…

XI. (S.ii,130)

Họ không biết hành… Họ không biết hành tập khởi, họ không biết hành đoạn diệt, họ không biết con đường đưa đến hành đoạn diệt… … tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

Bậc Đạo Sư, v.v.

SN 12.82 Bậc Đạo Sư Satthusutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư (The Teacher / vị thầy) để thật sự biết về già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về sự sinh khởi của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về sự sinh khởi của già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về sự chấm dứt của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về sự chấm dứt của già và chết. Người nào không thật sự biết hay thấy về con đường đưa đến sự chấm dứt của già và chết thì nên tìm đến Bậc Đạo Sư để thật sự biết về con đường đưa đến sự chấm dứt của già và chết.”

(Tất cả các bản kinh rút gọn nên được nói đầy đủ.)

IX. Trung Lược Phẩm

…Trú ở Sàvatthi.

I. Ðạo Sư… (S.ii,130)

1. − Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến già chết đoạn diệt.

SN 12.83–92 Bậc Đạo Sư (Thứ hai) Dutiyasatthusuttādidasaka

“Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về Sanh …”

“… Hữu …”

“… Thủ …”

“… Ái …”

“… Thọ …”

“… Xúc …”

“… lục nhập …”

“… danh và sắc …”

“… Thức …”

“… Hành …”

(Tất cả nên được xử lý theo bốn sự thật.)

2. Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy sanh…

3. Này các Tỷ-kheo,. … không như thật biết và thấy hữu…

4. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thủ…

5. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy ái…

6. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thọ…

7. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy xúc…

8. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy sáu xứ…

9. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy danh sắc…

10. Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thức…

11. Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy hành, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến các hành đoạn diệt.

Mười một Phẩm về Tu tập, v.v.

SN 12.93–213 Mười một Phẩm về Tu tập, v.v. Sikkhāsuttādipeyyālaekādasaka

“Này các Tỷ kheo, người nào không thật sự biết hay thấy về già và chết thì nên tu tập (train / rèn luyện) để thật sự biết về già và chết. …”

“… hành thiền (practice meditation / thực hành thiền định) …”

“… khởi lên nhiệt thành (enthusiasm / lòng hăng hái) …”

“… nỗ lực (try vigorously / cố gắng hết sức) mạnh mẽ …”

“… kiên trì (persevere / bền bỉ) …”

“… sốt sắng (be keen / hăng hái, nhiệt tình) …”

“… khởi lên năng lượng (energy / tinh tấn) …”

“… bền bỉ (persist / kiên định) …”

“… chánh niệm (be mindful / giữ sự chú tâm đúng đắn) …”

“… tỉnh giác (use situational awareness / nhận biết rõ ràng hoàn cảnh) …”

“… cần mẫn (be diligent / siêng năng) …”

II. Học Tập (Tạp 15.4 Tu Tập, Ðại 2,101b) (S.ii,131)

… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải học tập để có như thật trí đối với già chết…(I.11)

III. Tu Tập (Yoga) (Tạp 15.5, Tam-ma-đề, Ðại 2,101b) (S.ii,131)

… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tu tập để có như thật trí đối với già chết…(I.11)

IV. Dục (S.ii,132)

… Dục cần phải thực hành…(I.11)

V. Nỗ Lực (S.ii,132)

… Nỗ lực cần phải thực hành…(I.11)

VI. Bất Thối Chuyển (S.ii,132)

… Bất thối chuyển cần phải thực hành…(I.11)

VII. Nhiệt Tâm (S.ii,132)

… Nhiệt tâm cần phải thực hành…(I.11)

VIII. Tinh Tấn (S.ii,132)

… Tinh tấn cần phải thực hành…(I.11)

IX. Kiên Trì (S.ii,132)

… Kiên trì cần phải thực hành…(I.11)

X. Chánh Niệm (S.ii,132)

… Chánh niệm cần phải thực hành…(I.11)

XI. Chánh Tri (S.ii,132)

… Chánh tri cần phải thực hành…(I.11)

XII. Không Phóng Dật (S.ii,132)

… Không phóng dật cần phải thực hành… (I.11)

-ooOoo-