Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Liên Quan Về Các Giới

14. TƯƠNG ƯNG GIỚI

I. Phẩm Sai Biệt

Phần Một: Nội Giới Năm Kinh

Chương Về Sự Đa Dạng

SN 14.1 Sự Đa Dạng Của Các Giới Dhātunānattasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về sự đa dạng của các giới (diversity of elements / dhātu / sự đa dạng của yếu tố cơ bản). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

“Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Nhãn giới, sắc giới, và nhãn thức giới. Nhĩ giới, thanh giới, và nhĩ thức giới. Tỷ giới, hương giới, và tỷ thức giới. Thiệt giới, vị giới, và thiệt thức giới. Thân giới, xúc giới, và thân thức giới. Ý giới, pháp giới, và ý thức giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.”

I. Giới (Tạp 16.51 Giới, Ðại 2, 115c) (S.ii,140)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông giới sai biệt. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt?

4. Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

SN 14.2 Sự Đa Dạng Của Các Xúc Phassanānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc (contact / phassa / sự tiếp xúc). Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, và ý giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc? Nhãn giới làm phát sinh nhãn xúc. Nhĩ giới… tỷ giới… thiệt giới… thân giới… Ý giới làm phát sinh ý xúc. Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc."

II. Xúc (Tạp 16.52-53 Xúc, Ðại 2, 116a) (S.ii,140)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt?

4. Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, ý giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi?

6. Này các Tỷ-kheo, do duyên nhãn giới, nhãn xúc sanh khởi. Do duyên nhĩ giới… do duyên tỷ giới… do duyên thiệt giới… do duyên thân giới… do duyên ý giới, ý xúc sanh khởi.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi.

SN 14.3 Không Phải Sự Đa Dạng Của Các Xúc Nophassanānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc. Sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới. Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, và ý giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, trong khi sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới? Nhãn giới làm phát sinh nhãn xúc. Nhãn xúc không làm phát sinh nhãn giới. … Ý giới làm phát sinh ý xúc. Ý xúc không làm phát sinh ý giới. Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, trong khi sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới."

III. Và Không Phải Như Vậy (S.ii,141)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi; không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt?

4. Nhãn giới… ý giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi; không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi?

6. Này các Tỷ-kheo, do duyên nhãn giới, nhãn xúc sanh khởi; không phải do duyên nhãn xúc, nhãn giới sanh khởi… Do duyên ý giới, ý xúc sanh khởi; không phải do duyên ý xúc, ý giới sanh khởi.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi; không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

SN 14.4 Sự Đa Dạng Của Các Cảm Thọ Vedanānānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ (feeling / vedanā / cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính). Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, và ý giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ? Nhãn giới làm phát sinh nhãn xúc. Nhãn xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ nhãn xúc. … Ý giới làm phát sinh ý xúc. Ý xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ ý xúc. Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ."

IV. Thọ (S.ii,141)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt?

4. Nhãn giới… ý giới… này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

5. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi?

6. Này các Tỷ-kheo, do duyên nhãn giới, nhãn xúc sanh khởi. Do duyên nhãn xúc, thọ do nhãn xúc sanh sanh khởi… Do duyên ý giới, ý xúc sanh khởi. Do duyên ý xúc, thọ do ý xúc sanh sanh khởi.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi.

SN 14.5 Sự Đa Dạng Của Các Cảm Thọ (Thứ Hai) Dutiyavedanānānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc. Sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ. Sự đa dạng của các cảm thọ không làm phát sinh sự đa dạng của các xúc. Sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới. Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, và ý giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ, trong khi sự đa dạng của các cảm thọ không làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới? Nhãn giới làm phát sinh nhãn xúc. Nhãn xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ nhãn xúc. Cảm thọ sinh ra từ nhãn xúc không làm phát sinh nhãn xúc. Nhãn xúc không làm phát sinh nhãn giới. … Ý giới làm phát sinh ý xúc. Ý xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ ý xúc. Cảm thọ sinh ra từ ý xúc không làm phát sinh ý xúc. Ý xúc không làm phát sinh ý giới. Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ, trong khi sự đa dạng của các cảm thọ không làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc không làm phát sinh sự đa dạng của các giới."

V. Thọ (S.ii,142)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên thọ sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Nhãn giới… ý giới… này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi? Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên thọ sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

5-9. Này các Tỷ-kheo, do duyên nhãn giới, nhãn xúc sanh khởi. Do duyên nhãn xúc, thọ do nhãn xúc sanh sanh khởi. Không phải do duyên thọ do nhãn xúc sanh, nhãn xúc sanh khởi. Không phải do duyên nhãn xúc, nhãn giới sanh khởi… (như trên) …

10. Do duyên ý giới, ý xúc sanh khởi. Do duyên ý xúc, thọ do ý xúc sanh sanh khởi. Không phải do duyên thọ do ý xúc sanh, ý xúc sanh khởi. Không phải do duyên ý xúc, ý giới sanh khởi.

11. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên thọ sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên xúc sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

Phần Hai: Ngoại Giới Năm Kinh

SN 14.6 Sự Đa Dạng Của Các Giới Bên Ngoài Bāhiradhātunānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông về sự đa dạng của các giới. Và thế nào là sự đa dạng của các giới?

Là sắc giới (giới của cái thấy), thinh giới (giới của âm thanh), hương giới (giới của mùi), vị giới (giới của vị), xúc giới (giới của sự xúc chạm), và pháp giới (giới của ý tưởng hay pháp trần).

Đây gọi là sự đa dạng của các giới."

VI. Giới (S.ii,143)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về giới sai biệt. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, pháp giới.

4. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

SN 14.7 Sự Đa Dạng Của Các Nhận Thức Saññānānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức (perception / saññā /tưởng sự ghi nhận). Sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy (thought / saṅkappa / suy nghĩ, ý định). Sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn (desire / chanda / dục sự ham muốn). Sự đa dạng của các mong muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê (passion / pariḷāha / sự thiêu đốt, phiền não). Sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu (search / pariyesanā / hành động tìm kiếm). Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, và pháp giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức, và sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy, và sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn, và sự đa dạng của các mong muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê, và sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu?

Sắc giới làm phát sinh nhận thức về sắc. Nhận thức về sắc làm phát sinh tư duy về sắc. Tư duy về sắc làm phát sinh mong muốn đối với sắc. Mong muốn đối với sắc làm phát sinh đam mê vì sắc. Đam mê vì sắc làm phát sinh sự tìm cầu sắc. … Pháp giới làm phát sinh nhận thức về pháp. Nhận thức về pháp làm phát sinh tư duy về pháp. Tư duy về pháp làm phát sinh mong muốn đối với pháp. Mong muốn đối với pháp làm phát sinh đam mê vì pháp. Đam mê vì pháp làm phát sinh sự tìm cầu pháp.

Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức, và sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy, và sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn, và sự đa dạng của các mong muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê, và sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu."

VII. Tưởng (Tạp 16.54 Tưởng, Ðại 2, 116b) 16.52 Giới, 52 Xúc, 53 Thọ (S.ii,143)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Do duyên nhiệt tình sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Sắc giới… pháp giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh khởi; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi; do duyên nhiệt tình sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi?

5-9. Này các Tỷ-kheo, do duyên sắc giới, sắc tưởng sanh khởi. Do duyên sắc tưởng, sắc tư duy sanh khởi. Do duyên sắc tư duy, sắc dục sanh khởi. Do duyên sắc dục, sắc nhiệt tình sanh khởi. Do duyên sắc nhiệt tình, sắc tầm cầu sanh khởi…

10. Này các Tỷ-kheo, do duyên pháp giới, pháp tưởng sanh khởi. Do duyên pháp tưởng, pháp tư duy sanh khởi. Do duyên pháp tư duy, pháp dục sanh khởi. Do duyên pháp dục, pháp nhiệt tình sanh khởi. Do duyên pháp nhiệt tình, pháp tầm cầu sanh khởi.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Do duyên nhiệt tình sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi.

SN 14.8 Không Phải Sự Đa Dạng Của Các Sự Tìm Cầu Nopariyesanānānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức. Sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy. Sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn. Sự đa dạng của các mong muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê. Sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu. Sự đa dạng của các sự tìm cầu không làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê. Sự đa dạng của các đam mê không làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn. Sự đa dạng của các mong muốn không làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy. Sự đa dạng của các tư duy không làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức. Sự đa dạng của các nhận thức không làm phát sinh sự đa dạng của các giới. Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, và pháp giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức… sự đa dạng của các nhận thức không làm phát sinh sự đa dạng của các giới?

Sắc giới làm phát sinh nhận thức về sắc… Pháp giới làm phát sinh nhận thức về pháp… sự tìm cầu pháp. Sự tìm cầu pháp không làm phát sinh đam mê vì pháp. Đam mê vì pháp không làm phát sinh mong muốn đối với pháp. Mong muốn đối với pháp không làm phát sinh tư duy về pháp. Tư duy về pháp không làm phát sinh nhận thức về pháp. Nhận thức về pháp không làm phát sinh pháp giới.

Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức… sự đa dạng của các nhận thức không làm phát sinh sự đa dạng của các giới."

VIII. Và Không Phải Như Vậy (S.ii,144)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới phân biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt… tầm cầu sai biệt sanh khởi.

3. Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên nhiệt tình sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên dục sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

4-9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Sắc giới… pháp giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

10. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi? Do duyên tưởng sai biệt… tầm cầu sai biệt sanh khởi? Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên nhiệt tình sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên dục sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

11. Này các Tỷ-kheo, do duyên sắc giới, sắc tưởng sanh khởi. Do duyên sắc tưởng, sắc tư duy sanh khởi. Do duyên sắc tư duy, sắc dục sanh khởi. Do duyên sắc dục, sắc nhiệt tình sanh khởi. Do duyên sắc nhiệt tình, sắc tầm cầu sanh khởi. Không phải do duyên sắc tầm cầu, sắc nhiệt tình sanh khởi. Không phải do duyên sắc nhiệt tình, sắc dục sanh khởi. Không phải do duyên sắc dục, sắc tư duy sanh khởi. Không phải do duyên sắc tư duy, sắc tưởng sanh khởi. Không phải do duyên sắc tưởng, sắc giới sanh khởi.

12. Do duyên thanh giới…

13. Do duyên hương giới…

14. Do duyên vị giới…

15. Do duyên xúc giới…

16. Do duyên pháp giới, pháp tưởng sanh khởi. Do duyên pháp tưởng, pháp tư duy sanh khởi. Do duyên pháp tư duy, pháp dục sanh khởi… pháp tầm cầu sanh khởi. Không phải do duyên pháp tầm cầu, pháp nhiệt tình sanh khởi. Không phải do duyên pháp nhiệt tình, pháp dục sanh khởi. Không phải do duyên pháp dục, pháp tư duy sanh khởi. Không phải do duyên pháp tư duy, pháp tưởng sanh khởi. Không phải do duyên pháp tưởng, pháp giới sanh khởi.

17. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt… tầm cầu sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên nhiệt tình sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên dục sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

SN 14.9 Sự Đa Dạng Của Sự Đạt Được Bāhiraphassanānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức. Sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy. Sự đa dạng của các tư duy làm phát sinh sự đa dạng của các xúc. Sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm thọ. Sự đa dạng của các cảm thọ làm phát sinh sự đa dạng của các mong muốn. Sự đa dạng của các mong muốn làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê. Sự đa dạng của các đam mê làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu. Sự đa dạng của các sự tìm cầu làm phát sinh sự đa dạng của sự đạt được (gain / lābha / sự thu hoạch, lợi đắc). Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, và pháp giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức… sự đa dạng của các sự tìm cầu làm phát sinh sự đa dạng của sự đạt được?

Sắc giới làm phát sinh nhận thức về sắc. Nhận thức về sắc làm phát sinh tư duy về sắc. Tư duy về sắc làm phát sinh nhãn xúc. Nhãn xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ nhãn xúc. Cảm thọ sinh ra từ nhãn xúc làm phát sinh mong muốn đối với sắc. Mong muốn đối với sắc làm phát sinh đam mê vì sắc. Đam mê vì sắc làm phát sinh sự tìm cầu sắc. Sự tìm cầu sắc làm phát sinh sự đạt được sắc… Pháp giới làm phát sinh nhận thức về pháp. Nhận thức về pháp làm phát sinh tư duy về pháp. Tư duy về pháp làm phát sinh ý xúc. Ý xúc làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ ý xúc. Cảm thọ sinh ra từ ý xúc làm phát sinh mong muốn đối với pháp. Mong muốn đối với pháp làm phát sinh đam mê vì pháp. Đam mê vì pháp làm phát sinh sự tìm cầu pháp. Sự tìm cầu pháp làm phát sinh sự đạt được pháp.

Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức… sự đa dạng của các sự tìm cầu làm phát sinh sự đa dạng của sự đạt được."

IX. Xúc (S.ii,146)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Do duyên tư duy sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi. Do duyên thọ sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Do duyên nhiệt tình sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi. Do duyên tầm cầu sai biệt, sở đắc sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Sắc giới… pháp giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

4. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi? Do duyên tưởng sai biệt… sở đắc sai biệt sanh khởi?

5. Này các Tỷ-kheo, do duyên sắc giới, sắc tưởng sanh khởi. Do duyên sắc tưởng, sắc tư duy sanh khởi. Do duyên sắc tư duy, sắc xúc sanh khởi. Do duyên sắc xúc, thọ do sắc xúc sanh sanh khởi. Do duyên thọ do sắc xúc sanh, sắc dục sanh khởi. Do duyên sắc dục, sắc nhiệt tình sanh khởi. Do duyên sắc nhiệt tình, sắc tầm cầu sanh khởi. Do duyên sắc tầm cầu, sắc sở đắc sanh khởi.

6. Do duyên thanh giới…

7. Do duyên hương giới…

8. Do duyên vị giới…

9. Do duyên xúc giới…

10. Do duyên pháp giới, pháp tưởng sanh khởi. Do duyên pháp tưởng, pháp tư duy sanh khởi. Do duyên pháp tư duy, pháp xúc sanh khởi. Do duyên pháp xúc, thọ do pháp xúc sanh sanh khởi. Do duyên thọ do pháp xúc sanh, pháp dục sanh khởi. Do duyên pháp dục, pháp nhiệt tình sanh khởi. Do duyên pháp nhiệt tình, pháp tầm cầu sanh khởi. Do duyên pháp tầm cầu, pháp sở đắc sanh khởi.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi. Do duyên tầm cầu sai biệt, sở đắc sai biệt sanh khởi.

SN 14.10 Không Phải Sự Đa Dạng Của Sự Đạt Được Dutiyabāhiraphassanānattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức. Sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy. … các xúc … các cảm thọ … các mong muốn … các đam mê … Sự đa dạng của các sự tìm cầu làm phát sinh sự đa dạng của sự đạt được. Sự đa dạng của sự đạt được không làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu. Sự đa dạng của các sự tìm cầu không làm phát sinh sự đa dạng của các đam mê. … các mong muốn … các cảm thọ … các xúc … các tư duy … Sự đa dạng của các nhận thức không làm phát sinh sự đa dạng của các giới. Và thế nào là sự đa dạng của các giới? Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, và pháp giới. Đây được gọi là sự đa dạng của các giới.

Và làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức, và sự đa dạng của các nhận thức làm phát sinh sự đa dạng của các tư duy? các xúc … các cảm thọ … các mong muốn … các đam mê … các sự tìm cầu … sự đạt được … trong khi sự đa dạng của sự đạt được không làm phát sinh sự đa dạng của các sự tìm cầu … các đam mê … các mong muốn … các cảm thọ … các xúc … các tư duy … các nhận thức … các giới?

Sắc giới làm phát sinh nhận thức về sắc… Pháp giới làm phát sinh nhận thức về pháp… Sự tìm cầu pháp làm phát sinh sự đạt được pháp. Sự đạt được pháp không làm phát sinh sự tìm cầu pháp. Sự tìm cầu pháp không làm phát sinh đam mê vì pháp. Đam mê vì pháp không làm phát sinh mong muốn đối với pháp. Mong muốn đối với pháp không làm phát sinh cảm thọ sinh ra từ ý xúc. Cảm thọ sinh ra từ ý xúc không làm phát sinh ý xúc. Ý xúc không làm phát sinh tư duy về pháp. Tư duy về pháp không làm phát sinh nhận thức về pháp. Nhận thức về pháp không làm phát sinh pháp giới.

Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các nhận thức… sự đa dạng của các nhận thức không làm phát sinh sự đa dạng của các giới."

X. Xúc (S.ii,147)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi… xúc… thọ… dục… nhiệt tình… Do duyên tầm cầu sai biệt, sở đắc sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên sở đắc sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên nhiệt tình sai biệt… dục… thọ… xúc… tư duy… tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới sai biệt? Sắc giới… pháp giới; này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới sai biệt.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi… xúc… thọ… dục… nhiệt tình… tầm cầu… sở đắc… Không phải do duyên sở đắc sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi… dục… thọ… xúc… Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

5. Này các Tỷ-kheo, do duyên sắc giới, sắc tưởng sanh khởi… (như trên) …

6. Do duyên thanh giới…

7. Do duyên hương giới…

8. Do duyên vị giới…

9. Do duyên xúc giới…

10. Do duyên pháp giới, pháp tưởng sanh khởi. Do duyên pháp tưởng… pháp tầm cầu sanh khởi. Do duyên pháp tầm cầu, pháp sở đắc sanh khởi. Không phải do duyên pháp sở đắc, pháp tầm cầu sanh khởi. Không phải do duyên pháp tầm cầu, pháp nhiệt tình sanh khởi. Không phải do duyên pháp nhiệt tình, pháp dục sanh khởi. Không phải do duyên pháp dục, thọ do pháp xúc sanh sanh khởi. Không phải do duyên thọ do pháp xúc sanh, pháp xúc sanh khởi. Không phải do duyên pháp xúc, pháp tư duy sanh khởi. Không phải do duyên pháp tư duy, pháp tưởng sanh khởi. Không phải do duyên pháp tưởng, pháp giới sanh khởi.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên giới sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Do duyên tưởng sai biệt… tư duy… xúc… thọ… dục… nhiệt tình… tầm cầu… sở đắc… Không phải do duyên sở đắc sai biệt, tầm cầu sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tầm cầu sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên nhiệt tình sai biệt, dục sai biệt sanh khởi. Không phải do dục sai biệt, thọ sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên thọ sai biệt, xúc sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên xúc sai biệt, tư duy sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tư duy sai biệt, tưởng sai biệt sanh khởi. Không phải do duyên tưởng sai biệt, giới sai biệt sanh khởi.

Chương Hai

SN 14.11 Bảy Giới Sattadhātusutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, có bảy giới này. Bảy giới nào? Quang giới (element of light / giới của ánh sáng), tịnh giới (element of beauty / giới của vẻ đẹp), không vô biên xứ giới (element of the dimension of infinite space / giới của cõi không gian vô tận), thức vô biên xứ giới (element of the dimension of infinite consciousness / giới của cõi ý thức vô tận), vô sở hữu xứ giới (element of the dimension of nothingness / giới của cõi không có gì), phi tưởng phi phi tưởng xứ giới (element of the dimension of neither perception nor non-perception / giới của cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức), và diệt thọ tưởng giới (element of the cessation of perception and feeling / giới của sự chấm dứt nhận thức và cảm thọ). Đây là bảy giới.”

Khi Ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật: “Thưa Thế Tôn, do đâu mà mỗi giới này xuất hiện?”

“Này Tỷ kheo, quang giới xuất hiện do ám giới (element of darkness / giới của bóng tối). Tịnh giới xuất hiện do bất tịnh giới (element of ugliness / giới của sự xấu xí). Không vô biên xứ giới xuất hiện do sắc giới (element of form / giới của hình tướng vật chất). Thức vô biên xứ giới xuất hiện do không vô biên xứ giới. Vô sở hữu xứ giới xuất hiện do thức vô biên xứ giới. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới xuất hiện do vô sở hữu xứ giới. Diệt thọ tưởng giới xuất hiện do diệt giới (element of cessation / giới của sự chấm dứt).”

“Thưa Thế Tôn, làm thế nào để đạt được mỗi giới này?”

“Quang giới, tịnh giới, không vô biên xứ giới, thức vô biên xứ giới, và vô sở hữu xứ giới là những sự chứng đắc có nhận thức. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới là sự chứng đắc chỉ còn lại dư tàn của các hiện tượng được tạo tác. Diệt thọ tưởng giới là sự chứng đắc của sự chấm dứt.”

II. Phẩm Thứ Hai

I. Bảy (Pháp) Này (Tạp 17.1, Ðại 2, 116c) (S.ii,149)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bảy giới này.

Thế nào là bảy? Quang giới, Tịnh giới, Không vô biên xứ giới, Thức vô biên xứ giới, Vô sở hữu xứ giới, Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới, Diệt thọ tưởng giới.

Này các Tỷ-kheo, có bảy giới này.

3. Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Quang giới này với Tịnh giới, Không vô biên xứ giới, Thức vô biên xứ giới, Vô sở hữu xứ giới, Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới, và Diệt thọ tưởng giới. Bạch Thế Tôn, những giới này do duyên cái gì được hiển lộ?

4. − Này các Tỷ-kheo, Quang giới này do duyên u ám, giới này được hiển lộ.

5. Này các Tỷ-kheo, Tịnh giới này do duyên bất tịnh, giới này được hiển lộ.

6. Này các Tỷ-kheo, Không vô biên xứ giới này, do duyên sắc, giới này được hiển lộ.

7. Này các Tỷ-kheo, Thức vô biên xứ giới này do duyên Không vô biên xứ giới này được hiển lộ.

8. Này các Tỷ-kheo, Vô sở hữu xứ giới này do duyên Thức vô biên xứ giới này được hiển lộ.

9. Này các Tỷ-kheo, Phi tưởng phi phi tưởng xứ này do duyên Vô sở hữu xứ giới này được hiển lộ.

10. Này các Tỷ-kheo, Diệt thọ tưởng giới này do duyên diệt này được hiển lộ.

11. − Bạch Thế Tôn, Quang giới này với Tịnh giới, Không vô biên xứ giới, Thức vô biên xứ giới, Vô sở hữu xứ giới, Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới, với Diệt thọ tưởng giới; bạch Thế Tôn, bảy giới này Thiền chứng (Samàpatti) như thế nào?

12. − Này các Tỷ-kheo, Quang giới này với Tịnh giới, Không vô biên xứ giới, Thức vô biên xứ giới, Vô sở hữu xứ giới, những giới này lấy tưởng Thiền chứng (Sannàsamàpatti) được chứng đắc.

13. Này các Tỷ-kheo, Phi tưởng phi phi tưởng xứ giới này lấy hành hữu dư Thiền chứng được chứng đắc.

14. Này các Tỷ-kheo, Diệt thọ tưởng giới này lấy diệt đẳng nhập được chứng đắc.

SN 14.12 Có Nguyên Nhân Sanidānasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các tư duy về tham dục, ác ý và tàn nhẫn sinh khởi là có lý do, không phải không có lý do.

Và làm thế nào các tư duy về tham dục, ác ý và tàn nhẫn sinh khởi là có lý do, không phải không có lý do? Dục giới (element of sensuality / giới của ham muốn) làm phát sinh nhận thức về tham dục. Nhận thức về tham dục làm phát sinh tư duy về tham dục. Tư duy về tham dục làm phát sinh mong muốn về tham dục. Mong muốn về tham dục làm phát sinh đam mê về tham dục. Đam mê về tham dục làm phát sinh sự tìm cầu các lạc thú của giác quan. Một người phàm phu ít học khi tìm cầu các lạc thú của giác quan sẽ hành xử xấu ác theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Sân giới (element of malice / giới của ác ý) làm phát sinh nhận thức về ác ý. Nhận thức về ác ý làm phát sinh tư duy về ác ý. … mong muốn về ác ý … đam mê về ác ý … sự tìm cầu ác ý … Một người phàm phu ít học khi tìm cầu ác ý sẽ hành xử xấu ác theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Hại giới (element of cruelty / giới của sự tàn nhẫn) làm phát sinh nhận thức về tàn nhẫn. Nhận thức về tàn nhẫn làm phát sinh tư duy về tàn nhẫn. … mong muốn về tàn nhẫn … đam mê về tàn nhẫn … sự tìm cầu tàn nhẫn … Một người phàm phu ít học khi tìm cầu tàn nhẫn sẽ hành xử xấu ác theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Giả sử một người đánh rơi một ngọn đuốc đang cháy vào một bụi cỏ khô. Nếu họ không nhanh chóng dùng tay chân dập tắt nó, các sinh vật sống trong cỏ và gỗ sẽ bị hủy hoại.

Cũng vậy, một nhận thức bất thiện có thể sinh khởi trong một vị sa-môn hay bà-la-môn. Nếu họ không nhanh chóng từ bỏ, loại bỏ, tiêu diệt, và xóa sạch nó, họ sẽ phải chịu đau khổ trong đời này, với sự phiền muộn, thống khổ, và sốt não. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể bị tái sinh vào một nơi tồi tệ.

Các tư duy về sự từ bỏ, thiện chí, và vô hại sinh khởi là có lý do, không phải không có lý do.

Và làm thế nào các tư duy về sự từ bỏ, thiện chí, và vô hại sinh khởi là có lý do, không phải không có lý do? Ly dục giới (element of renunciation / giới của sự từ bỏ) làm phát sinh nhận thức về sự từ bỏ. Nhận thức về sự từ bỏ làm phát sinh tư duy về sự từ bỏ. Tư duy về sự từ bỏ làm phát sinh sự nhiệt thành với sự từ bỏ. Sự nhiệt thành với sự từ bỏ làm phát sinh lòng sốt sắng với sự từ bỏ. Lòng sốt sắng với sự từ bỏ làm phát sinh sự tìm cầu sự từ bỏ. Một vị thánh đệ tử có học khi tìm cầu sự từ bỏ sẽ hành xử tốt đẹp theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Vô sân giới (element of good will / giới của thiện chí) làm phát sinh nhận thức về thiện chí. Nhận thức về thiện chí làm phát sinh tư duy về thiện chí. … sự nhiệt thành với thiện chí … lòng sốt sắng với thiện chí … sự tìm cầu thiện chí. Một vị thánh đệ tử có học khi tìm cầu thiện chí sẽ hành xử tốt đẹp theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Bất hại giới (element of harmlessness / giới của sự vô hại) làm phát sinh nhận thức về vô hại. Nhận thức về vô hại làm phát sinh tư duy về vô hại. … sự nhiệt thành với vô hại … lòng sốt sắng với vô hại … sự tìm cầu vô hại. Một vị thánh đệ tử có học khi tìm cầu vô hại sẽ hành xử tốt đẹp theo ba cách: qua thân, khẩu, và ý.

Giả sử một người đánh rơi một ngọn đuốc đang cháy vào một bụi cỏ khô. Nếu họ nhanh chóng dùng tay chân dập tắt nó, các sinh vật sống trong cỏ và gỗ sẽ không bị hủy hoại.

Cũng vậy, một nhận thức bất thiện có thể sinh khởi trong một vị sa-môn hay bà-la-môn. Nếu họ nhanh chóng từ bỏ, loại bỏ, tiêu diệt, và xóa sạch nó, họ sẽ được hạnh phúc trong đời này, không còn phiền muộn, thống khổ, và sốt não. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể được tái sinh vào một nơi tốt đẹp."

II. Có Nhân (Ðại 2, 115c, Ðan Tạp 2, Ðại 2,497c, Ðại 2, 504) (S.ii,151)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có nhân, dục tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.

3. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, có nhân, dục tầm sanh khởi, không phải không nhân; có nhân, sân tầm sanh khởi, không phải không nhân; có nhân, hại tầm sanh khởi, không phải không nhân?

4. Này các Tỷ-kheo, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi. Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi. Do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi. Do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

5. Này các Tỷ-kheo, do duyên sân giới, sân tưởng sanh khởi. Do duyên sân tưởng, sân tư duy sanh khởi… sân dục… sân nhiệt tình… sân tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu sân tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

6. Này các Tỷ-kheo, do duyên hại giới, hại tưởng sanh khởi… hại tư duy… hại dục… hại nhiệt tình… hại tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu hại tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người ném bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Nếu người ấy không dập tắt gấp với tay và chân; như vậy, này các Tỷ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ gặp bất hạnh và tai họa.

8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với tưởng bất chánh khởi lên, không gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong đau khổ, với phiền lao, với sầu não, với nhiệt não; và sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ác thú.

9. Này các Tỷ-kheo, có nhân, xuất ly tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, vô sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, bất hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.

10. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào có nhân, xuất ly tầm sanh khởi, không phải không nhân; có nhân, vô sân tầm sanh khởi, khoâng phải không nhân; có nhân, bất hại tầm sanh khởi, không phải không nhân?

11. Này các Tỷ-kheo, do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi. Do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi. Do duyên xuất ly tư duy, xuất ly dục (chanda) sanh khởi. Do duyên xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình sanh khởi. Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

12. Này các Tỷ-kheo, do duyên vô sân giới, vô sân tưởng sanh khởi. Do duyên vô sân tưởng, vô sân tư duy sanh khởi… vô sân dục… vô sân nhiệt tình… vô sân tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu vô sân tầm cầu, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

13. Này các Tỷ-kheo, do duyên bất hại giới, bất hại tưởng sanh khởi. Do duyên bất hại tưởng, bất hại tư duy sanh khởi. Do duyên bất hại tư duy, bất hại dục sanh khởi. Do duyên bất hại dục, bất hại nhiệt tình sanh khởi. Do duyên bất hại nhiệt tình, bất hại tầm cầu sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do duyên tầm cầu bất hại tầm cầu, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người ném một bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Người ấy với tay và chân gấp dập tắt bó đuốc ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ không gặp bất hạnh và tai họa.

15. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với tưởng bất chánh khởi lên, gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, không có phiền lao, không có sầu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú.

SN 14.13 Tại Nhà Gạch Giñjakāvasathasutta

Một thời Đức Phật đang ở tại Ñātika trong nhà gạch. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Thưa Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

“Này các Tỷ kheo, một giới làm phát sinh một nhận thức, một quan điểm, và một tư duy.”

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Kaccāna thưa với Đức Phật: “Thưa Thế Tôn, đối với những người không phải là Phật toàn giác, có một quan điểm rằng họ thực sự là Phật toàn giác. Do đâu mà quan điểm này xuất hiện?”

"Đó là một điều lớn lao, này Kaccāna, đó là vô minh giới (element of ignorance / giới của sự thiếu hiểu biết). Một giới thấp kém làm phát sinh nhận thức thấp kém, quan điểm thấp kém, tư duy thấp kém, ý định thấp kém, mục đích thấp kém, mong muốn thấp kém, một con người thấp kém, và lời nói thấp kém. Người đó giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ những điều thấp kém. Ta nói rằng sự tái sinh của họ là thấp kém.

Một giới trung bình làm phát sinh nhận thức trung bình, quan điểm trung bình, tư duy trung bình, ý định trung bình, mục đích trung bình, mong muốn trung bình, một con người trung bình, và lời nói trung bình. Người đó giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ những điều trung bình. Ta nói rằng sự tái sinh của họ là trung bình.

Một giới cao thượng làm phát sinh nhận thức cao thượng, quan điểm cao thượng, tư duy cao thượng, ý định cao thượng, mục đích cao thượng, mong muốn cao thượng, một con người cao thượng, và lời nói cao thượng. Người đó giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ những điều cao thượng. Ta nói rằng sự tái sinh của họ là cao thượng."

III. Căn Nhà Bằng Gạch (Tạp, Ðại 2, 117a) (S.ii,153)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Natika, tại căn nhà bằng gạch.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”− “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, do duyên giới, tưởng sanh khởi, kiến sanh khởi, tầm sanh khởi.

4. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Saddha Kaccàyana bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, kiến này giữa những vị không Chánh Ðẳng Chánh Giác, có vị Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bạch Thế Tôn, kiến này do duyên gì được hiển lộ?

5. − Lớn thay, này Kaccàyana, là giới này, tức là vô minh giới.

6. Này Kaccàyana, do duyên liệt (hìna) giới, liệt tưởng, liệt kiến, liệt tầm, liệt tư (cetanà), liệt hy vọng (patthanà), liệt ước nguyện, liệt nhân (puggalà), liệt ngữ sanh khởi. Liệt là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng liệt là sự thọ sanh (uppatti) của vị ấy.

7. Này Kaccàyana, do duyên trung giới, trung tưởng, trung kiến, trung tầm, trung tư, trung hy vọng, trung ước nguyện, trung nhân, trung ngữ sanh khởi. Trung là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng trung là sự thọ sanh của vị ấy.

8. Này Kaccàyana, do duyên thắng giới, thắng tưởng, thắng kiến, thắng tầm, thắng tư, thắng hy vọng, thắng ước nguyện, thắng nhân, thắng ngữ sanh khởi. Thắng là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng thắng là sự thọ sanh của vị ấy.

SN 14.14 Khuynh Hướng Xấu Hīnādhimuttikasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt.

Trong quá khứ cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Trong tương lai cũng vậy, chúng sanh sẽ do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt."

IV. Liệt Ý Chí (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,154)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

3. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

4. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

5. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

SN 14.15 Cùng Đi Kinh Hành Caṅkamasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không xa Đức Phật. Tôn giả Mahāmoggallāna cũng đang làm như vậy, cũng như Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Puṇṇa con trai của Mantāṇī, Tôn giả Upāli, Tôn giả Ānanda, và Devadatta.

Bấy giờ Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các ông có thấy Sāriputta đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều có trí tuệ vĩ đại. Các ông có thấy Moggallāna đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều có thần thông vĩ đại. Các ông có thấy Kassapa đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều chủ trương hạnh khổ hạnh. Các ông có thấy Anuruddha đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều có thiên nhãn. Các ông có thấy Puṇṇa con trai của Mantāṇī đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều là những người thuyết pháp. Các ông có thấy Upāli đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều là chuyên gia về luật tu viện. Các ông có thấy Ānanda đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

“Tất cả các Tỷ kheo đó đều rất uyên bác. Các ông có thấy Devadatta đang đi kinh hành cùng với một vài Tỷ kheo không?”

“Vâng, thưa Thế Tôn.”

"Tất cả các Tỷ kheo đó đều có những mong muốn xấu xa.

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt.

Trong quá khứ, trong tương lai, và cả trong hiện tại, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt."

V. Nghiệp (Tạp, Ðại 2, 115a) (S.ii,155)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakùta (Linh Thứu) .

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3. Tôn giả Mahàmoggallàna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

4. Tôn giả Mahà Kassapa cùng với… không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5. Tôn giả Anuruddha cùng với… không xa Thế Tôn bao nhiêu.

6. Tôn giả Punna Mantàniputta cùng với… bao nhiêu.

7. Tôn giả Upàli cùng với… bao nhiêu.

8. Tôn giả Ananda cùng với… bao nhiêu.

9. Tôn giả Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

10. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Sàriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại trí tuệ.

11. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Moggallàna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại thần thông.

12. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy chủ trương hạnh đầu đà.

13. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc có thiên nhãn.

14. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Punna Mantàniputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc thuyết pháp.

15. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Upàli cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc trì luật.

16. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ananda cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đa văn.

17. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là ác dục.

18. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

19. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

20. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

21. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

SN 14.16 Với Kệ Tụng Sagāthāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Trong quá khứ…

Trong tương lai…

Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu.

Giống như phân hòa hợp với phân, nước tiểu với nước tiểu, nước bọt với nước bọt, mủ với mủ, và máu với máu. Cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu. Trong quá khứ… Trong tương lai… Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng xấu hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng xấu.

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt. Trong quá khứ…

Trong tương lai… Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt.

Giống như sữa hòa hợp với sữa, dầu với dầu, bơ với bơ, mật ong với mật ong, và mật đường với mật đường. Cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt. Trong quá khứ… Trong tương lai… Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. Những người có khuynh hướng tốt hòa hợp và tụ hội với những người có khuynh hướng tốt."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, Đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giao du sinh ràng buộc;
không giao du thì đoạn tuyệt.
Như người leo lên khúc gỗ nhỏ,
giữa biển lớn sẽ chìm sâu.

Cũng vậy, người sống tốt
sẽ chìm đắm khi nương tựa kẻ lười biếng.
Vì thế hãy tránh xa
kẻ lười biếng thiếu siêng năng.

Hãy sống cùng các bậc thánh
những người sống viễn ly, quyết tâm
và luôn luôn siêng năng;
những người trí tuệ thực hành thiền định."

VI. Kinh Với Các Bài Kệ (Tạp, Ðại 2,115a) (S.ii,157)

1. … Trú ở Sàvatthi.

I

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

3. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

4. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

5. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, phẩn cùng hòa hợp, cùng đi với phẩn; nước tiểu cùng hòa hợp, cùng đi với nước tiểu; nước miếng cùng hòa hợp, cùng đi với nước miếng; mủ cùng hòa hợp, cùng đi với mủ; máu cùng hòa hợp, cùng đi với máu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp với nhau, cùng đi với nhau. Các chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

7. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ…

8. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai…

9. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp với nhau, cùng đi với nhau. Các chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí.

II

10. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

11. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

12. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai…

13. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, sữa cùng hòa hợp, cùng đi với sữa; dầu cùng hòa hợp, cùng đi với dầu; thục tô cùng hòa hợp, cùng đi với thục tô; mật ong cùng hòa hợp, cùng đi với mật ong; mật mía cùng hòa hợp, cùng đi với mật mía. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

15. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ…

16. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai…

17. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

18. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Liên lạc, dục tình sanh,
Liên lạc, không được đoạn,
Như leo tấm ván nhỏ,
Bị chìm giữa sóng lớn.
Cũng vậy, đến kẻ nhác,
Kẻ sống thiện cũng chìm.

Do vậy, hãy tránh xa
Kẻ nhác, không tinh tấn,
Hãy cọng trú bậc Hiền,
Bậc Thánh sống viễn ly,
Thường siêng năng tinh tấn,
Tinh cần tu Thiền tịnh.

SN 14.17 Không Có Niềm Tin Assaddhasaṁsandanasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không có niềm tin với người không có niềm tin, người không biết xấu hổ với người không biết xấu hổ, người không biết sợ điều ác với người không biết sợ điều ác, người ít học với người ít học, người lười biếng với người lười biếng, người thất niệm với người thất niệm, và người không có trí tuệ với người không có trí tuệ.

Trong quá khứ cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Trong tương lai cũng vậy, chúng sanh sẽ do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người có niềm tin với người có niềm tin, người biết xấu hổ với người biết xấu hổ, người biết sợ điều ác với người biết sợ điều ác, người có học với người có học, người siêng năng với người siêng năng, người có chánh niệm với người có chánh niệm, và người có trí tuệ với người có trí tuệ. Trong quá khứ… Trong tương lai… Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …"

VII. Bất Tín (S.ii,159)

1. … Trú ở Sàvatthi.

I

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ác tuệ.

4. Kẻ tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tín. Kẻ biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết sợ. Kẻ nghe nhiều cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ nghe nhiều. Kẻ tinh cần cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tinh cần. Kẻ trì niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ trì niệm. Kẻ trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ trí tuệ.

5. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau.

6. Kẻ bất tín đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với kẻ biết thẹn. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với kẻ ác tuệ.

Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Kẻ bất tín sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn… với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với kẻ ác tuệ.

7. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn… với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ác tuệ.

II

8. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tín. Kẻ biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết sợ. Kẻ nghe nhiều cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ nghe nhiều. Kẻ tinh cần cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tinh cần. Kẻ trì niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ, cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

9. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ…

10. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai…

11. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tín… Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

SN 14.18 Bắt Đầu Với Người Không Có Niềm Tin Assaddhamūlakasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không có niềm tin với người không có niềm tin, người không biết xấu hổ với người không biết xấu hổ, người không có trí tuệ với người không có trí tuệ, người có niềm tin với người có niềm tin, người biết xấu hổ với người biết xấu hổ, và người có trí tuệ với người có trí tuệ. Trong quá khứ… Trong tương lai…

Hiện tại cũng vậy, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau. …

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không có niềm tin với người không có niềm tin, người không biết sợ điều ác với người không biết sợ điều ác, người không có trí tuệ với người không có trí tuệ, người có niềm tin với người có niềm tin, người biết sợ điều ác với người biết sợ điều ác, và người có trí tuệ với người có trí tuệ.

(Phần sau nên được kể đầy đủ như phần đầu.)

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp: người không có niềm tin… ít học… không có trí tuệ… người có niềm tin…

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp: người không có niềm tin… lười biếng… không có trí tuệ. người có niềm tin… siêng năng… có trí tuệ.

Chúng sanh do một giới mà hòa hợp: người không có niềm tin… thất niệm… không có trí tuệ. người có niềm tin… có chánh niệm… có trí tuệ."

VIII. Năm Kinh Về Căn Bản Bất Tín (S.ii,160)

1. … Trú tại Sàvatthi.

I

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn… với kẻ không biết thẹn. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tín. Kẻ biết thẹn… với kẻ biết thẹn. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

3. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau…

4. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau…

5. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau…

Kẻ bất tín… với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn… với kẻ không biết thẹn. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ…Kẻ có tín… với kẻ có tín. Kẻ biết thẹn… với kẻ biết thẹn. Kẻ có trí tuệ… với kẻ có trí tuệ.

II

6. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Như vậy, cần phải hiểu rộng.

Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ có tín… với kẻ có tín. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ có trí tuệ… với kẻ có trí tuệ.

7. … thời quá khứ…

8. … thời vị lai…

9. … thời hiện tại…

III

10. Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ có tín… với kẻ có tín. Kẻ nghe nhiều… với kẻ nghe nhiều. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

11. … thời quá khứ…

12. … thời vị lai…

13. … thời hiện tại…

IV

14. Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới…

Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ có tín… với kẻ có tín. Kẻ tinh cần. … với kẻ tinh cần. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

15. … thời quá khứ…

16. … thời vị lai…

17. … thời hiện tại…

V

18. Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ có tín… với kẻ có tín. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

19. … thời quá khứ…

20. … thời vị lai…

21. … thời hiện tại…

SN 14.19 Bắt Đầu Với Người Không Biết Xấu Hổ Ahirikamūlakasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không biết xấu hổ với người không biết xấu hổ… không biết sợ điều ác… không có trí tuệ. Người biết xấu hổ với người biết xấu hổ… biết sợ điều ác… có trí tuệ.

… không biết xấu hổ… ít học… không có trí tuệ. Người biết xấu hổ với người biết xấu hổ… có học… có trí tuệ.

… không biết xấu hổ… lười biếng… không có trí tuệ. Người biết xấu hổ với người biết xấu hổ… siêng năng… có trí tuệ.

… không biết xấu hổ… thất niệm… không có trí tuệ. Người biết xấu hổ với người biết xấu hổ… có chánh niệm… có trí tuệ."

IX. Bốn Kinh Về Căn Bản Không Biết Thẹn (S.ii,162)

1. … Trú ở Sàtthi.

I

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy theo giới…

Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn, Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết thẹn… với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ… thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

II

3. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết thẹn. … với kẻ biết thẹn. Kẻ nghe nhiều… với kẻ nghe nhiều. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

III

4. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết thẹn… với kẻ biết thẹn. Kẻ tinh cần… với kẻ tinh cần. Kẻ trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

IV

5. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết thẹn. … với kẻ biết thẹn. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

6-8. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

SN 14.20 Bắt Đầu Với Người Không Biết Sợ Điều Ác Anottappamūlakasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không biết sợ điều ác với người không biết sợ điều ác… ít học… không có trí tuệ. Người biết sợ điều ác với người biết sợ điều ác… có học… có trí tuệ.

… người không biết sợ điều ác với người không biết sợ điều ác… lười biếng… không có trí tuệ. Người biết sợ điều ác với người biết sợ điều ác… siêng năng… có trí tuệ.

… người không biết sợ điều ác với người không biết sợ điều ác… thất niệm… không có trí tuệ. Người biết sợ điều ác với người biết sợ điều ác… có chánh niệm… có trí tuệ."

X. Ba Kinh Về Căn Bản Không Biết Sợ (S.ii,163)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ không biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe… với kẻ ít nghe. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ nghe nhiều… với kẻ nghe nhiều. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng với kẻ có trí tuệ.

3-5. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

6. Kẻ không biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ tinh cần… với kẻ tinh cần. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

7-9. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

10. Kẻ không biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ… với kẻ có trí tuệ.

11-13. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

SN 14.21 Bắt Đầu Với Người Ít Học Appassutamūlakasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người ít học với người ít học… lười biếng… không có trí tuệ. Người có học với người có học… siêng năng… có trí tuệ.

… người ít học với người ít học… thất niệm… không có trí tuệ. Người có học với người có học… có chánh niệm… có trí tuệ."

XI. Hai Kinh Về Ít Nghe (Tạp 16.50 Thiếu văn đẳng. Ðại 2,115c) (S.ii,164)

1. Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ ít nghe cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác… với kẻ biếng nhác. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ nghe nhiều… với kẻ nghe nhiều. Kẻ tinh cần… với kẻ tinh cần. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

3-5. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

6. Kẻ ít nghe cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ít nghe. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ nghe nhiều. … với kẻ nghe nhiều. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm… Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

7-9. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

SN 14.22 Bắt Đầu Với Người Lười Biếng Kusītamūlakasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người lười biếng với người lười biếng… thất niệm… không có trí tuệ… người siêng năng… có chánh niệm… có trí tuệ…”

(Kể đầy đủ cho quá khứ, tương lai, và hiện tại.)

XII. Biếng Nhác (S.ii,165)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ biếng nhác cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm. … với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ tinh cần… với kẻ tinh cần. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

3-5. … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.

Chương Về Các Cách Hành Động

SN 14.23 Thiếu Định Tĩnh Asamāhitasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không có niềm tin với người không có niềm tin… không biết xấu hổ… không biết sợ điều ác… thiếu định tĩnh… không có trí tuệ…

Người có niềm tin với người có niềm tin… biết xấu hổ… biết sợ điều ác… có định tĩnh… và người có trí tuệ với người có trí tuệ."

III. Phẩm Nghiệp ÐạoThứ Ba

I. Không Tịch Tịnh (S.ii,166)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn. … với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ không tịch tịnh… với kẻ không tịch tịnh. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ác tuệ.

4. Kẻ có tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có tín. Kẻ biết thẹn. … với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ tịch tịnh. … với kẻ tịch tịnh. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

SN 14.24 Không Có Đạo Đức Dussīlasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: người không có niềm tin với người không có niềm tin… không biết xấu hổ… không biết sợ điều ác… không có đạo đức… không có trí tuệ…

Người có niềm tin với người có niềm tin… biết xấu hổ… biết sợ điều ác… có đạo đức… và người có trí tuệ với người có trí tuệ."

II. Ác Giới (S.ii,166)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn. … với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ… với kẻ không biết sợ. Kẻ ác giới… với kẻ ác giới. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ác tuệ.

4. Kẻ có tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có tín. Kẻ biết thẹn. … với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ… với kẻ biết sợ. Kẻ trì giới… với kẻ trì giới. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.

SN 14.25 Năm Giới Pañcasikkhāpadasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: những người sát sanh với những người sát sanh, những người trộm cắp… tà dâm… nói dối… dùng bia, rượu, và các chất gây say…

Những người từ bỏ sát sanh… từ bỏ trộm cắp… từ bỏ tà dâm… từ bỏ nói dối… những người từ bỏ dùng bia, rượu, và các chất gây say với những người từ bỏ dùng bia, rượu, và các chất gây say."

III. Năm Học Pháp (S.ii,167)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ sát sanh. Kẻ lấy vật không cho. … với kẻ lấy vật không cho. Kẻ tà hạnh trong các dục… . với kẻ tà hạnh trong các dục. Kẻ nói láo… với kẻ nói láo. Kẻ đắm say rượu men, rượu nấu cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ đắm say rượu men, rượu nấu.

4. Kẻ từ bỏ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ từ bỏ sát sanh. Kẻ từ bỏ lấy vật không cho… với kẻ từ bỏ lấy vật không cho. Kẻ không tà hạnh trong các dục… với kẻ không tà hạnh trong các dục. Kẻ không nói láo… với kẻ không nói láo. Kẻ không đắm say rượu men, rượu nấu cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không đắm say rượu men, rượu nấu.

SN 14.26 Bảy Con Đường Hành Động Sattakammapathasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: những người sát sanh với những người sát sanh, những người trộm cắp… tà dâm… nói dối… nói lời chia rẽ… nói lời thô ác… nói lời vô ích…

Những người từ bỏ sát sanh… từ bỏ trộm cắp… từ bỏ tà dâm… từ bỏ nói dối… từ bỏ nói lời chia rẽ… từ bỏ nói lời thô ác… từ bỏ nói lời vô ích với những người từ bỏ nói lời vô ích."

IV. Bảy Nghiệp Ðạo (S.ii,167)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ sát sanh. Kẻ lấy vật không cho… với kẻ lấy vật không cho. Kẻ tà hạnh trong các dục… với kẻ tà hạnh trong các dục. Kẻ nói láo… với kẻ nói láo. Kẻ nói hai lưỡi…với kẻ nói hai lưỡi. Kẻ ác ngữ… với kẻ ác ngữ. Kẻ nói lời phù phiếm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ nói lời phù phiếm.

4. Kẻ từ bỏ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ từ bỏ sát sanh. Kẻ từ bỏ lấy vật không cho. … với kẻ từ bỏ lấy vật không cho. Kẻ từ bỏ tà hạnh trong các dục… với kẻ từ bỏ tà hạnh trong các dục. Kẻ từ bỏ nói láo… với kẻ từ bỏ nói láo. Kẻ từ bỏ nói lời hai lưỡi… với kẻ từ bỏ nói lời hai lưỡi. Kẻ từ bỏ ác ngữ… với kẻ từ bỏ ác ngữ. Kẻ từ bỏ nói lời phù phiếm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ từ bỏ nói lời phù phiếm.

SN 14.27 Mười Con Đường Hành Động Dasakammapathasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: những người sát sanh với những người sát sanh, những người trộm cắp… tà dâm… nói dối… nói lời chia rẽ… nói lời thô ác… nói lời vô ích… tham lam… ác ý… có tà kiến…

Những người từ bỏ sát sanh… từ bỏ trộm cắp… từ bỏ tà dâm… từ bỏ nói dối… từ bỏ nói lời chia rẽ… từ bỏ nói lời thô ác… từ bỏ nói lời vô ích… không tham lam… không ác ý… có chánh kiến với những người có chánh kiến."

V. Mười Nghiệp Ðạo (S.ii,167)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ sát sanh. Kẻ lấy vật không cho. … với kẻ lấy vật không cho. Kẻ tà hạnh trong các dục… với kẻ tà hạnh trong các dục. Kẻ nói láo… với kẻ nói láo. Kẻ nói hai lưỡi… với kẻ nói hai lưỡi. Kẻ ác ngữ… với kẻ ác ngữ. Kẻ nói lời phù phiếm… cùng đi với kẻ nói lời phù phiếm. Kẻ có tham tâm… với kẻ có tham tâm. Kẻ có sân tâm… với kẻ có sân tâm. Kẻ có tà kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có tà kiến.

4. Kẻ từ bỏ sát sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ từ bỏ sát sanh. Kẻ từ bỏ lấy vật không cho… với kẻ từ bỏ lấy vật không cho. Kẻ từ bỏ tà hạnh trong các dục… với kẻ từ bỏ tà hạnh trong các dục. Kẻ từ bỏ nói láo… với kẻ từ bỏ nói láo. Kẻ từ bỏ nói lời hai lưỡi… với kẻ từ bỏ nói lời hai lưỡi. Kẻ từ bỏ ác ngữ… với kẻ từ bỏ ác ngữ. Kẻ từ bỏ nói lời phù phiếm… với kẻ từ bỏ nói lời phù phiếm. Kẻ từ bỏ tham tâm… với kẻ từ bỏ tham tâm. Kẻ từ bỏ sân tâm… với kẻ từ bỏ sân tâm. Kẻ chánh kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ chánh kiến.

SN 14.28 Bát Chánh Đạo Aṭṭhaṅgikasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: những người có tà kiến với những người có tà kiến… tà tư duy… tà ngữ… tà nghiệp… tà mạng… tà tinh tấn… tà niệm… tà định…

Những người có chánh kiến… chánh tư duy… chánh ngữ… chánh nghiệp… chánh mạng… chánh tinh tấn… chánh niệm… chánh định với những người có chánh định."

VI. Tám Chi (S.ii,168)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ tà kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tà kiến. Kẻ tà tư duy… Kẻ tà ngữ… Kẻ tà nghiệp… Kẻ tà mạng… Kẻ tà tinh tấn… Kẻ tà niệm… Kẻ tà định cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tà định.

4. Kẻ chánh kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ chánh kiến. Kẻ chánh tư duy… Kẻ chánh ngữ… Kẻ chánh nghiệp… Kẻ chánh mạng… Kẻ chánh tinh tấn… Kẻ chánh niệm… Kẻ chánh định cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ chánh định.

SN 14.29 Con Đường Mười Yếu Tố Dasaṅgasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, chúng sanh do một giới mà hòa hợp, tụ hội lại với nhau: những người có tà kiến với những người có tà kiến… tà tư duy… tà ngữ… tà nghiệp… tà mạng… tà tinh tấn… tà niệm… tà định… tà trí… tà giải thoát…

Những người có chánh kiến… chánh tư duy… chánh ngữ… chánh nghiệp… chánh mạng… chánh tinh tấn… chánh niệm… chánh định… chánh trí… chánh giải thoát với những người có chánh giải thoát."

(Kể đầy đủ cho quá khứ, tương lai, và hiện tại.)

VII. Mười Chi (S.ii,168)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

3. Kẻ tà kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tà kiến. Kẻ tà tư duy… Kẻ tà ngữ… Kẻ tà nghiệp… Kẻ tà mạng… Kẻ tà tinh tấn… Kẻ tà niệm… Kẻ tà định… Kẻ tà trí… Kẻ tà giải thoát cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tà giải thoát.

4. Kẻ chánh kiến cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ chánh kiến. Kẻ chánh tư duy… Kẻ chánh ngữ… Kẻ chánh nghiệp… Kẻ chánh mạng… Kẻ chánh tinh tấn… Kẻ chánh niệm… Kẻ chánh định… Kẻ chánh trí… Kẻ chánh giải thoát cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có chánh giải thoát.

Chương Bốn

SN 14.30 Bốn Giới Catudhātusutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. … “Này các Tỷ kheo, có bốn giới này. Bốn giới nào? Địa giới, thủy giới, hỏa giới, và phong giới. Đây là bốn giới.”

IV. Phẩm Thứ Tư

I. Bốn (S.ii,169)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn giới này.

Thế nào là bốn? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn giới này.

SN 14.31 Trước Khi Giác Ngộ Pubbesambodhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—Ta đã nghĩ: ‘Thế nào là vị ngọt (gratification / sự hấp dẫn, thỏa mãn), thế nào là sự nguy hại (drawback / sự bất lợi, tai hại), và thế nào là sự thoát ly (escape / lối thoát) đối với địa giới… thủy giới… hỏa giới… và phong giới?’

Rồi Ta nghĩ: ‘Sự vui thích và hạnh phúc phát sinh từ địa giới: đây là vị ngọt của nó. Việc địa giới là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ ham muốn và tham lam đối với địa giới: đây là sự thoát ly của nó. Sự vui thích và hạnh phúc phát sinh từ thủy giới… Sự vui thích và hạnh phúc phát sinh từ hỏa giới… Sự vui thích và hạnh phúc phát sinh từ phong giới: đây là vị ngọt của nó. Việc phong giới là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ ham muốn và tham lam đối với phong giới: đây là sự thoát ly của nó.’

Chừng nào Ta chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến và tuệ giác đã khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn tái sinh nữa.’"

II. Trước (S.ii,169)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa thành Chánh Ðẳng Giác, khi Ta còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:

3. “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong giới?”

4. Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:

5. “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên địa giới, đó là vị ngọt của địa giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, đó là nguy hiểm của địa giới. Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga), sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của địa giới”.

6. “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên thủy giới…”.

7. “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên hỏa giới…”.

8. “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên phong giới, đó là vị ngọt của phong giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của phong giới, đó là nguy hiểm của phong giới. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của phong giới”.

9. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim) như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

10. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

11. Tri và kiến đã khởi lên ở nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 14.32 Tìm Kiếm Vị Ngọt Acariṁsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của địa giới, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ vị ngọt của địa giới. Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của địa giới, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự nguy hại của địa giới. Ta đã đi tìm kiếm sự thoát ly khỏi địa giới, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự thoát ly khỏi địa giới.

Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của thủy giới… Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của hỏa giới… Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của phong giới…

Chừng nào Ta chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến và tuệ giác đã khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn tái sinh nữa.’"

III. Ta Ðã Ði (S.ii,171)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm vị ngọt của địa giới. Ta đã tìm được vị ngọt của địa giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy vị ngọt ấy.

3. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm nguy hiểm của địa giới. Ta đã tìm được nguy hiểm của địa giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy nguy hiểm ấy.

4. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm sự xuất ly của địa giới. Ta đã tìm được sự xuất ly của địa giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy sự xuất ly ấy.

5-7. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm vị ngọt của thủy giới…

8-10. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm vị ngọt của hỏa giới…

11. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm vị ngọt của phong giới. Ta đã tìm được vị ngọt của phong giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy vị ngọt ấy.

12. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm nguy hiểm của phong giới. Ta đã tìm sự được nguy hiểm của phong giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy nguy hiểm ấy.

13. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm sự xuất ly của phong giới. Ta đã tìm được sự xuất ly của phong giới. Với trí tuệ, Ta đã khéo thấy sự xuất ly ấy.

14. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta chưa như thật thắng tri, như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa được chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và đối với chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người.

15. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta đã như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và đối với chúng Sa-môn, Bà-la- môn với chư Thiên và loài Người.

16. Tri và kiến đã khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 14.33 Nếu Không Có Nocedaṁsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu không có vị ngọt trong địa giới, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì có vị ngọt trong địa giới, chúng sanh bị kích thích bởi nó. Nếu địa giới không có sự nguy hại, chúng sanh sẽ không chán ngán nó. Nhưng vì địa giới có sự nguy hại, chúng sanh chán ngán nó. Nếu không có sự thoát ly khỏi địa giới, chúng sanh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có sự thoát ly khỏi địa giới, chúng sanh thoát khỏi nó.

Nếu không có vị ngọt trong thủy giới… Nếu không có vị ngọt trong hỏa giới… Nếu không có vị ngọt trong phong giới…

Chừng nào chúng sanh chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, họ vẫn chưa thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—và họ không sống tách biệt, giải thoát, với một tâm trí không giới hạn.

Nhưng khi chúng sanh thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này đúng như chúng là, họ đã thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, quần chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—và họ sống tách biệt, giải thoát, với một tâm trí không giới hạn."

IV. Nếu Không Có Cái Này (S.ii,177)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của địa giới, thời chúng sanh có thể không tham đắm địa giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của địa giới, do vậy chúng sanh tham đắm địa giới.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu không có nguy hiểm của địa giới, thời chúng sanh có thể không nhàm chán địa giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có nguy hiểm của địa giới, do vậy chúng sanh nhàm chán địa giới.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly địa giới thời, chúng sanh có thể không xuất ly địa giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly của địa giới, do vậy chúng sanh xuất ly địa giới.

5-7. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thủy giới…

8-10. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của hỏa giới…

11. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của phong giới, thời chúng sanh có thể không tham đắm phong giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của phong giới, do vậy chúng sanh tham đắm phong giới.

12. Này các Tỷ-kheo, nếu không có nguy hiểm của phong giới, thời chúng sanh có thể không nhàm chán phong giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có nguy hiểm của phong giới, do vậy chúng sanh nhàm chán phong giới.

13. Và này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly của phong giới, thời chúng sanh có thể không xuất ly phong giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly phong giới, do vậy chúng sanh xuất ly phong giới.

14. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các chúng sanh đối với bốn giới này chưa như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, các chúng sanh này không sống với tâm viễn ly, không tương quan, không liên hệ, với những chướng ngại được từ bỏ đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng các chúng Sa-môn, Bà-lamôn, với chư Thiên và loài Người.

15. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào các chúng sanh đối với bốn giới này đã như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, các chúng sanh này sống với tâm viễn ly, không tương quan, không liên hệ với những chướng ngại được từ bỏ đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.

SN 14.34 Hoàn Toàn Đau Khổ Ekantadukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu địa giới hoàn toàn đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong vui thích—chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì địa giới là vui thích—thấm đẫm và ngập chìm trong vui thích và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh bị kích thích bởi nó.

Nếu thủy giới… Nếu hỏa giới… Nếu phong giới…

Nếu địa giới hoàn toàn vui thích—thấm đẫm và ngập chìm trong vui thích và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh sẽ không chán ngán nó. Nhưng vì địa giới là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong vui thích—chúng sanh chán ngán nó.

Nếu thủy giới… Nếu hỏa giới… Nếu phong giới hoàn toàn vui thích—thấm đẫm và ngập chìm trong vui thích và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh sẽ không chán ngán nó. Nhưng vì phong giới là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong vui thích—chúng sanh chán ngán nó."

V. Khổ (S.ii,173)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, nếu địa giới thuần khổ, đầy những khổ, chìm đắm trong khổ, không chìm đắm trong lạc; thời các chúng sanh có thể không tham đắm địa giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, địa giới là lạc, đầy những lạc, chìm đắm trong lạc, không chìm đắm trong khổ, do vậy chúng sanh tham đắm địa giới.

3. Này các Tỷ-kheo, nếu thủy giới…

4. Này các Tỷ-kheo, nếu hỏa giới…

5. Này các Tỷ-kheo, nếu phong giới thuần khổ, đầy những khổ, chìm đắm trong khổ, không chìm đắm trong lạc, thời chúng sanh có thể không có tham đắm phong giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, phong giới là lạc, đầy những lạc, chìm đắm trong lạc, không chìm đắm trong khổ; do vậy các chúng sanh tham đắm phong giới.

6. Này các Tỷ-kheo, nếu địa giới thuần lạc, đầy những lạc, chìm đắm trong lạc, không chìm đắm trong khổ; thời các chúng sanh có thể không nhàm chán địa giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, địa giới là khổ, đầy những khổ, chìm đắm trong khổ, không chìm đắm trong lạc; do vậy các chúng sanh nhàm chán địa giới.

7. Này các Tỷ-kheo, nếu thủy giới…

8. Này các Tỷ-kheo, nếu hỏa giới…

9. Này các Tỷ- kheo, nếu phong giới thuần lạc, đầy những lạc, chìm đắm trong lạc, không chìm đắm trong khổ; thời các chúng sanh không nhàm chán phong giới. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, phong giới là khổ, đầy những khổ, chìm đắm trong khổ, không chìm đắm trong lạc; do vậy các chúng sanh nhàm chán phong giới.

SN 14.35 Vui Thích Abhinandasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu các ông vui thích trong địa giới, các ông vui thích trong đau khổ. Nếu các ông vui thích trong đau khổ, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi đau khổ. Nếu các ông vui thích trong thủy giới… Nếu các ông vui thích trong hỏa giới… Nếu các ông vui thích trong phong giới, các ông vui thích trong đau khổ. Nếu các ông vui thích trong đau khổ, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi đau khổ.

Nếu các ông không vui thích trong địa giới, các ông không vui thích trong đau khổ. Nếu các ông không vui thích trong đau khổ, Ta nói rằng các ông thoát khỏi đau khổ. Nếu các ông không vui thích trong thủy giới… Nếu các ông không vui thích trong hỏa giới… Nếu các ông không vui thích trong phong giới, các ông không vui thích trong đau khổ. Nếu các ông không vui thích trong đau khổ, Ta nói rằng các ông thoát khỏi đau khổ."

VI. Hoan Hỷ (S.ii,174)

I

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ địa giới, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.

3. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thủy giới…

4. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ hỏa giới…

5. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ phong giới, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.

II

6. Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ địa giới, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.

7. Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thủy giới…

8. Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ hỏa giới…

9. Này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ phong giới, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khổ.

SN 14.36 Sự Sinh Khởi Uppādasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự sinh khởi, tồn tại, tái sinh, và biểu hiện của địa giới là sự sinh khởi của đau khổ, sự tồn tại của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết. Sự sinh khởi, tồn tại, tái sinh, và biểu hiện của thủy giới… Sự sinh khởi, tồn tại, tái sinh, và biểu hiện của hỏa giới… Sự sinh khởi, tồn tại, tái sinh, và biểu hiện của phong giới là sự sinh khởi của đau khổ, sự tồn tại của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết.

Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của địa giới là sự chấm dứt của đau khổ, sự lắng dịu của bệnh tật, và sự kết thúc của già và chết. Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của thủy giới… Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của hỏa giới… Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của phong giới là sự chấm dứt của đau khổ, sự lắng dịu của bệnh tật, và sự kết thúc của già và chết."

VII. Sanh Khởi (S.ii,175)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Này các Tỷ-kheo, sự sanh khởi, sự an trú, sự tái sanh, sự tái hiện hữu của địa giới là sự sanh khởi của khổ, sự an trú của tham, sự tái hiện hữu của già chết.

3. Này các Tỷ-kheo… của thủy giới…

4. Này các Tỷ-kheo… của hỏa giới…

5. Này các Tỷ-kheo, sự sanh khởi, sự an trú, sự tái sanh, sự tái hiện hữu của phong giới là sự sanh khởi của khổ, sự an trú của tham, sự tái hiện hữu của già chết.

6. Này các Tỷ-kheo, sự đoạn diệt, tịnh chỉ, tiêu diệt của địa giới là sự đoạn diệt của khổ, sự tịnh chỉ của tham, sự tiêu diệt của già chết.

7. Này các Tỷ-kheo… của thủy giới…

8. Này các Tỷ-kheo. … của hỏa giới…

9. Này các Tỷ-kheo, sự đoạn diệt, tịnh chỉ, tiêu diệt của phong giới là sự đoạn diệt của khổ, sự tịnh chỉ của tham, sự tiêu diệt của già chết.

SN 14.37 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇabrāhmaṇasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có bốn giới này. Bốn giới nào? Địa giới, thủy giới, hỏa giới, và phong giới. Có những sa-môn và bà-la-môn không thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này. Ta không coi họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những sa-môn và bà-la-môn thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này. Ta coi họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình."

VIII. Sa Môn, Bà La Môn (S.ii,175)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn giới này. Thế nào là bốn? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

3. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với bốn giới này không như thật quán tri (pajànati) vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-lamôn ấy, giữa những Sa-môn, không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa những Bà-la-môn không được chấp nhận là Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy ngay trong hiện tại cũng không với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

4. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với bốn giới này như thật quán tri vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa những Sa-môn, được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa những Bà-la-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

SN 14.38 Sa-môn và Bà-la-môn (Thứ Hai) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có bốn giới này. Bốn giới nào? Địa giới, thủy giới, hỏa giới, và phong giới. Có những sa-môn và bà-la-môn không thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này…

(Kể đầy đủ.)

Có những sa-môn và bà-la-môn thực sự hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của bốn giới này…"

IX. Sa Môn, Bà La Môn (S.ii,176)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn giới này. Thế nào là bốn? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

3. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với bốn giới này, không như thật quán tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bàla-môn ấy… mục đích của Ba-la-môn hạnh.

4. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với bốn giới này, như thật quán tri… mục đích của Ba-la-môn hạnh.

SN 14.39 Sa-môn và Bà-la-môn (Thứ Ba) Tatiyasamaṇabrāhmaṇasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu địa giới, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ không hiểu thủy giới… hỏa giới… phong giới… Những vị tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những sa-môn và bà-la-môn hiểu địa giới, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu thủy giới… hỏa giới… phong giới… Những vị tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình."

X. Sa Môn, Bà La Môn (S.ii,176)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán tri địa giới tập khởi, không quán tri địa giới đoạn diệt, không quán tri con đường đưa đến địa giới đoạn diệt…

3. Này các Tỷ-kheo… không quán tri thủy giới…

4. Này các Tỷ-kheo… không quán tri hỏa giới…

5. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán tri phong giới, không quán tri phong giới tập khởi, không quán tri phong giới đoạn diệt, không quán tri con đường đưa đến phong giới đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa những vị Sa-môn, không được chấp nhận là Sa-môn, giữa những vị Bà-la-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn. Và những vị Tôn giả ấy ngay trong hiện tại không thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

6. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tri địa giới, quán tri địa giới tập khởi, quán tri địa giới đoạn diệt, quán tri con đường đưa đến địa giới đoạn diệt…

7. … quán tri thủy giới…

8. … quán tri hỏa giới…

9. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tri phong giới, quán tri phong giới tập khởi, quán tri phong giới đoạn diệt, quán tri con đường đưa đến phong giới đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các vị Sa-môn, được chấp nhận là Sa-môn, giữa các vị Bà-la-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

-ooOoo-