(Anamatagga)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī, tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong rừng Jeta. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh (ignorance / sự không hiểu biết) che lấp và bị ái kiết sử (fetter of craving / sự trói buộc của lòng ham muốn) trói buộc. Giả sử có một người lượm hết tất cả cỏ, gậy, cành cây và lá cây trong Xứ Cây Mận Đen, gom chúng lại thành một đống, và chặt mỗi thứ thành những đoạn dài bốn inch. Người ấy sẽ đặt chúng xuống và nói: ‘Đây là mẹ của tôi, đây là bà của tôi.’ Cỏ, gậy, cành cây và lá cây của Xứ Cây Mận Đen sẽ hết trước khi người ấy kể hết các bà mẹ và các bà của mình.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Trong một thời gian dài như vậy, các con đã phải chịu đựng đau khổ, thống khổ, và tai họa, làm cho các nghĩa địa ngày càng thêm đầy. Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.
3. Thế Tôn nói như sau:
− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêmphù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêmphù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
6. Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
7. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Giả sử có một người lấy toàn bộ đất trên trái đất này vo thành những viên đất sét cỡ bằng hạt táo ta. Người ấy sẽ đặt chúng xuống và nói: ‘Đây là cha của tôi, đây là ông của tôi.’ Toàn bộ đất trên trái đất này sẽ hết trước khi người ấy kể hết các ông cha và các ông của mình.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Trong một thời gian dài như vậy, các con đã phải chịu đựng đau khổ, thống khổ, và tai họa, làm cho các nghĩa địa ngày càng thêm đầy. Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: “Ðây là cha tôi, đây là cha của cha tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
5. Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày càng lớn lên.
6. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Các con nghĩ sao? Cái nào nhiều hơn: dòng nước mắt mà các con đã đổ ra khi lang thang trong luân hồi suốt một thời gian dài như vậy—khóc lóc và than van vì phải gặp điều mình không ưa và xa lìa điều mình thương yêu—hay là nước trong bốn biển lớn?”
“Bạch Thế Tôn, theo như chúng con hiểu lời dạy của Ngài, dòng nước mắt mà chúng con đã đổ ra khi lang thang trong luân hồi còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.”
"Lành thay, lành thay, các Tỷ kheo! Thật tốt khi các con hiểu lời dạy của Ta như vậy. Dòng nước mắt mà các con đã đổ ra khi lang thang trong luân hồi quả thật nhiều hơn nước trong bốn biển lớn. Trong một thời gian dài, các con đã trải qua cái chết của mẹ… cha… anh… chị… con trai… con gái… mất người thân… mất của cải… hoặc mất mát vì bệnh tật. Vì phải gặp điều mình không ưa và xa lìa điều mình thương yêu, dòng nước mắt mà các con đã đổ ra khi lang thang trong luân hồi quả thật nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
4. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
5. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
6. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
7. Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
8. … các Ông chịu đựng con chết. …
9. … các Ông chịu đựng con gái chết…
10. … các Ông chịu đựng tai họa về bà con…
11. … các Ông chịu đựng tai họa về tiền của…
12. Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
13. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… bị tham ái trói buộc.
14. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc.
Các con nghĩ sao? Cái nào nhiều hơn: sữa mẹ mà các con đã uống khi lang thang trong luân hồi suốt một thời gian dài như vậy, hay là nước trong bốn biển lớn?"
“Bạch Thế Tôn, theo như chúng con hiểu lời dạy của Ngài, sữa mẹ mà chúng con đã uống khi lang thang trong luân hồi còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.”
"Lành thay, lành thay, các Tỷ kheo! Thật tốt khi các con hiểu lời dạy của Ta như vậy. Sữa mẹ mà các con đã uống khi lang thang trong luân hồi suốt một thời gian dài như vậy còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
4. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
5. − Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
6. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.
7. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
Khi ấy, một vị Tỷ kheo đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, một kiếp (eon / một khoảng thời gian rất dài) dài bao lâu?”
“Này Tỷ kheo, một kiếp thì dài. Không dễ để tính được nó kéo dài bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.”
“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ được không ạ?”
“Có thể,” Thế Tôn nói.
"Giả sử có một ngọn núi đá khổng lồ, dài một do tuần, rộng một do tuần, và cao một do tuần, không có vết nứt hay lỗ hổng, là một khối đặc. Và cứ mỗi một trăm năm trôi qua, có người lấy một tấm vải mịn từ xứ Kāsi lau qua nó một lần. Bằng cách đó, ngọn núi đá khổng lồ ấy sẽ bị mài mòn hết trước khi một kiếp kết thúc. Một kiếp dài đến như vậy. Và chúng ta đã luân hồi qua nhiều kiếp như vậy, nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn kiếp.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
4. − Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.
5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
6. − Có thể được, này Tỷ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỷ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỷ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
7. Như vậy dài, này các Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỷ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.
8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này… vừa đủ để giải thoát.
Tại Sāvatthī.
Khi ấy, một vị Tỷ kheo đến gặp Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, một kiếp dài bao lâu?”
“Này Tỷ kheo, một kiếp thì dài. Không dễ để tính được nó kéo dài bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm.”
“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ được không ạ?”
“Có thể,” Thế Tôn nói.
"Giả sử có một thành phố bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, và cao một do tuần, chứa đầy những hạt cải được nén chặt. Và cứ mỗi một trăm năm trôi qua, có người lấy ra một hạt cải. Bằng cách đó, đống hạt cải khổng lồ ấy sẽ hết trước khi một kiếp kết thúc. Một kiếp dài đến như vậy. Và chúng ta đã luân hồi qua nhiều kiếp như vậy, nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn kiếp.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…
3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
4. − Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.
5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
6. − Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỷ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
7. Như vậy dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.
8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này Tỷ-kheo… vừa đủ để giải thoát.
Tại Sāvatthī.
Khi ấy, một vài vị Tỷ kheo đến gặp Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, đã có bao nhiêu kiếp trôi qua?”
“Này các Tỷ kheo, đã có nhiều kiếp trôi qua. Không dễ để tính được đã có bao nhiêu kiếp trôi qua, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn kiếp.”
“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ được không ạ?”
“Có thể,” Thế Tôn nói.
"Giả sử có bốn vị đệ tử với tuổi thọ một trăm năm. Và mỗi ngày, mỗi vị nhớ lại một trăm ngàn kiếp. Bốn vị đệ tử đó sẽ qua đời sau một trăm năm và vẫn còn những kiếp mà họ chưa nhớ hết. Đã có nhiều kiếp trôi qua đến như vậy. Không dễ để tính được đã có bao nhiêu kiếp trôi qua, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn kiếp.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…
3. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?
4. − Rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
5. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
6. − Có thể được, này các Tỷ-kheo. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỷ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.
7. Nhiều như vậy, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
8. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.
Gần Rājagaha, trong Trúc Lâm. Khi ấy, một vị Bà-la-môn đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài.
Sau khi chào hỏi và trò chuyện xong, ông ngồi xuống một bên và hỏi Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, đã có bao nhiêu kiếp trôi qua?”
“Này Bà-la-môn, đã có nhiều kiếp trôi qua. Không dễ để tính được đã có bao nhiêu kiếp trôi qua, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn kiếp.”
“Nhưng thưa Tôn giả Gotama, ngài có thể đưa ra một ví dụ được không?”
“Ta có thể,” Thế Tôn nói.
"Hãy xem xét sông Hằng từ nơi nó bắt nguồn cho đến khi đổ ra biển. Giữa những nơi này, không dễ để tính được có bao nhiêu hạt cát, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn hạt cát. Số kiếp đã trôi qua còn nhiều hơn thế. Không dễ để tính được đã có bao nhiêu kiếp trôi qua, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn kiếp.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Trong một thời gian dài như vậy, ông đã phải chịu đựng đau khổ, thống khổ, và tai họa, làm cho các nghĩa địa ngày càng thêm đầy. Chừng ấy là đủ để ông nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
Khi Ngài nói vậy, vị Bà-la-môn thưa với Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy xem con là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”
1. … Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).
2. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn…
3. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
− Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?
4. − Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
5. − Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?
6. − Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.
7. Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.
8. Ví sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
9. Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
10. Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Giả sử một cây gậy được tung lên không trung. Đôi khi nó rơi xuống bằng đầu dưới, đôi khi bằng đoạn giữa, và đôi khi bằng đầu trên. Chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc cũng vậy. Đôi khi họ đi từ thế giới này sang thế giới khác, và đôi khi họ từ thế giới khác đến thế giới này.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được ném lên trên hư không, khi thì rơi trên đầu gốc, khi thì rơi chặng giữa, khi thì rơi đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi, khi thì từ thế giới này đi thế giới khác, khi thì từ thế giới khác đến thế giới này.
4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.
Một thời Thế Tôn ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Một người lang thang trong luân hồi trong một kiếp sẽ tích tụ một đống xương lớn bằng núi Vepulla này, nếu chúng được gom lại và không bị mất đi.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Rồi bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:
"Nếu xương của một người
trong một kiếp được gom lại,
sẽ chất thành một đống lớn bằng ngọn núi:
bậc Đại Tiên đã nói như vậy.Và đống xương này được tuyên bố là
lớn bằng núi Vepulla,
cao hơn cả núi Linh Thứu
trong dãy núi ở Magadha.Nhưng rồi, với chánh kiến,
một người thấy được các chân lý cao quý—
khổ, nguồn gốc của khổ,
sự vượt qua khổ,
và con đường thánh tám ngành
dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.Sau khi lang thang nhiều nhất là bảy lần nữa,
người ấy
chấm dứt khổ đau,
với sự đoạn tận của tất cả các kiết sử."
1. … Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
2. Tại đấy Thế Tôn…
3. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…
4. Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
6. Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.
Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Một thời Thế Tôn ở gần Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Khi các con thấy ai đó trong cảnh khốn cùng, đau khổ, các con nên kết luận rằng: ‘Trong suốt thời gian dài này, chúng ta cũng đã từng trải qua điều tương tự.’ Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi…
2. Tại đấy…
3. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
4. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.
5. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Khi các con thấy ai đó trong cảnh tốt đẹp, hạnh phúc, các con nên kết luận rằng: ‘Trong suốt thời gian dài này, chúng ta cũng đã từng trải qua điều tương tự.’
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi…
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…
3. Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy an lạc, may mắn, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.
4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Gần Rājagaha, trong Trúc Lâm. Khi ấy, ba mươi vị Tỷ kheo từ Pāvā đến gặp Thế Tôn. Tất cả họ đều sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và chỉ sở hữu ba y; nhưng tất cả họ vẫn còn các kiết sử. Họ đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Khi ấy, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ kheo này từ Pāvā sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và chỉ sở hữu ba y; nhưng tất cả họ vẫn còn các kiết sử. Sao ta không dạy cho họ Pháp theo cách mà tâm của họ được giải thoát khỏi các phiền não (defilements / những ô nhiễm trong tâm) bằng cách vô chấp thủ (not grasping / không còn bám víu) ngay khi còn ngồi trên ghế này?”
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc.
Các con nghĩ sao? Cái nào nhiều hơn: dòng máu mà các con đã đổ ra khi bị chặt đầu trong lúc lang thang trong luân hồi suốt một thời gian dài như vậy, hay là nước trong bốn biển lớn?"
“Bạch Thế Tôn, theo như chúng con hiểu lời dạy của Ngài, dòng máu mà chúng con đã đổ ra khi bị chặt đầu trong lúc lang thang trong luân hồi còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.”
"Lành thay, lành thay, các Tỷ kheo! Thật tốt khi các con hiểu lời dạy của Ta như vậy. Dòng máu mà các con đã đổ ra khi bị chặt đầu trong lúc lang thang trong luân hồi quả thật nhiều hơn nước trong bốn biển lớn. Trong một thời gian dài, các con đã từng là bò, và dòng máu các con đã đổ ra khi bị chặt đầu lúc làm bò còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn. Trong một thời gian dài, các con đã từng là trâu… cừu… dê… hươu… gà… lợn… Trong một thời gian dài, các con đã từng là kẻ cướp, bị bắt vì cướp làng, cướp đường, hoặc ngoại tình. Và dòng máu các con đã đổ ra khi bị chặt đầu lúc làm kẻ cướp còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tán thán lời Thế Tôn dạy. Và trong khi bài pháp này đang được nói, tâm của ba mươi vị Tỷ kheo từ Pāvā đã được giải thoát khỏi các phiền não nhờ vô chấp thủ.
1. … Trú ở Vương Xá, Trúc Lâm.
2. Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
4. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
5. Thế Tôn nói như sau:
− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
6. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?
7. − Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
8. Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!
9. Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
10. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các Ông bị thương tích khi các Ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
11. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài…
12. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài…
13. … khi các Ông là dê, sanh ra làm dê…
14. … khi các Ông là nai, sanh ra làm nai…
15. … khi các Ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm…
16. … khi các Ông là heo, sanh ra làm heo…
17. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng bị bắt trong thời gian dài…
18. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài…
19. Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn.
20. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành…
21. Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
22. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là mẹ của các con.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…
3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ…
4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. … Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là cha của các con. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…
3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm cha…
Tại Sāvatthī.
“Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là anh em trai của các con. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.”
1. … Trú tại Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm anh…
Tại Sāvatthī.
“Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là chị em gái của các con. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm chị…
Tại Sāvatthī.
“Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là con trai của các con. … Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.”
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con trai…
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Không dễ để tìm thấy một chúng sanh nào mà trong suốt thời gian dài này chưa từng là con gái của các con.
Vì sao vậy? Vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Trong một thời gian dài như vậy, các con đã phải chịu đựng đau khổ, thống khổ, và tai họa, làm cho các nghĩa địa ngày càng thêm đầy. Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3. Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con gái.
4. Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, này các Tỷ-kheo, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
5. Như vậy, trong thời gian này, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, mộ phần càng ngày càng lớn lên. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Một thời Thế Tôn ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không thể biết được điểm khởi đầu. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của chúng sanh lang thang trong luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái kiết sử trói buộc. Này các Tỷ kheo, ngày xửa ngày xưa, núi Vepulla này có tên là Pācīnavaṁsa. Và vào thời đó, người ta được gọi là người Tivara. Tuổi thọ của người Tivara là 40.000 năm. Họ mất bốn ngày để leo lên núi Vepulla, và bốn ngày để đi xuống. Vào thời đó, đức Kakusandha, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác đã xuất hiện trên thế gian. Đức Kakusandha có một cặp đại đệ tử xuất sắc tên là Vidhura và Sañjīva. Hãy xem, này các Tỷ kheo! Tên của ngọn núi này đã biến mất, những người đó đã qua đời, và vị Phật đó đã bát-niết-bàn (fully quenched / sự tịch diệt hoàn toàn). Các pháp hữu vi thật vô thường, các pháp hữu vi thật không bền vững, các pháp hữu vi thật không đáng tin cậy. Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.
Ngày xửa ngày xưa, núi Vepulla này có tên là Vaṅkaka. Và vào thời đó, người ta được gọi là người Rohitassa. Tuổi thọ của người Rohitassa là 30.000 năm. Họ mất ba ngày để leo lên núi Vepulla, và ba ngày để đi xuống. Vào thời đó, đức Koṇāgamana, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác đã xuất hiện trên thế gian. Đức Koṇāgamana có một cặp đại đệ tử xuất sắc tên là Bhiyyosa và Uttara. Hãy xem, này các Tỷ kheo! Tên của ngọn núi này đã biến mất, những người đó đã qua đời, và vị Phật đó đã bát-niết-bàn. Các pháp hữu vi thật vô thường…
Ngày xửa ngày xưa, núi Vepulla này có tên là Supassa. Và vào thời đó, người ta được gọi là người Suppiya. Tuổi thọ của người Suppiya là 20.000 năm. Họ mất hai ngày để leo lên núi Vepulla, và hai ngày để đi xuống. Vào thời đó, đức Kassapa, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác đã xuất hiện trên thế gian. Đức Kassapa có một cặp đại đệ tử xuất sắc tên là Tissa và Bhāradvāja. Hãy xem, này các Tỷ kheo! Tên của ngọn núi này đã biến mất, những người đó đã qua đời, và vị Phật đó đã bát-niết-bàn. Các pháp hữu vi thật vô thường…
Ngày nay, núi Vepulla này được gọi là Vepulla. Và những người này được gọi là người Magadha. Tuổi thọ của người Magadha thì ngắn ngủi, vắn vỏi, và chóng qua. Một cuộc đời dài là một trăm năm hoặc hơn một chút. Người Magadha mất một giờ để leo lên núi Vepulla, và một giờ để đi xuống. Và bây giờ Ta là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác đã xuất hiện trên thế gian. Ta có một cặp đại đệ tử xuất sắc tên là Sāriputta và Moggallāna. Sẽ đến lúc tên của ngọn núi này sẽ biến mất, những người đó sẽ chết, và Ta sẽ hoàn toàn tịch diệt. Các pháp hữu vi thật vô thường, các pháp hữu vi thật không bền vững, các pháp hữu vi thật không đáng tin cậy. Chừng ấy là đủ để các con nhàm chán, ly tham, và giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi."
Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Rồi bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:
"Với người Tivara, đó là Pācīnavaṁsa,
với người Rohitassa, là Vaṅkaka,
Supassa với người Suppiya,
và Vepulla với người Magadha.Ôi! Các pháp hữu vi là vô thường,
có sanh có diệt;
đã sanh ra, chúng phải diệt;
sự tịch tịnh của chúng là an lạc."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
2. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…
3. Thế Tôn nói như sau:
− Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
4. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Pàcìnavamsa. Lúc bấy giờ, dân chúng được biết với tên là Tivàrà. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà có tuổi thọ đến 40.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà phải bốn ngày để leo lên núi Pàcìnavamsa, phải bốn ngày để leo xuống.
5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Vidhura và Sajìva.
6. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.
7. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
8. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vànkaka. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Rohita. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita có tuổi thọ đến 30.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita phải ba ngày để leo lên núi Vànkaka, phải ba ngày để leo xuống.
9. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Bhìyya và Suttara.
10. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
11. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Supassa. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Suppiya. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya có tuổi thọ đến 20.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya phải hai ngày để leo núi Supassa, phải hai ngày để leo xuống.
12. Lúc bấy giờ, Thế Tôn Kassapa, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Tissa và Bhàradvàja.
13. Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.
14. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.
15. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vepulla. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, dân chúng ấy được biết với tên là Magadhaka. Tuổi thọ dân chúng Magadhaka ấy, này các Tỷ-kheo, là ít, nhẹ, không bao nhiêu, họ sống lâu cho đến 100 tuổi hay hơn một chút. Dân chúng Magadhaka, này các Tỷ-kheo, leo lên núi Vepulla này trong một thời gian ngắn, leo xuống trong một thời gian ngắn.
16. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, Ta, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Ta có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Sàriputta và Moggallàna.
17. Một thời sẽ đến, này các Tỷ-kheo, tên của ngọn núi này sẽ biến mất, dân chúng sẽ mệnh chung, và Ta sẽ nhập diệt.
18. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để được nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
19. Thế Tôn nói như vậy, bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Pacinavamsa,
Với dân Tivàra.
Tên núi Vankaka
Với dân Rohita.
Tên núi Supassa
Với dân Suppiyà.
Tên núi Vepulla
Với dân Magadha,
Chư hành là vô thường,
Phải sanh rồi phải diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Chúng tịnh là an lạc.
-ooOoo-