Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Kassapa

16. TƯƠNG ƯNG KASSAPA

(Ca-Diếp)

Chương về Kassapa

SN 16.1 Hài Lòng Santuṭṭha

Tại Sāvatthī.

"Tỷ kheo, Kassapa hài lòng với bất kỳ loại y nào, và tán thán sự hài lòng như vậy. Ông không cố gắng kiếm y một cách không đúng đắn. Ông không buồn lòng nếu không nhận được y. Và nếu nhận được y, ông sử dụng nó mà không bị trói buộc, không say mê, không dính mắc, thấy được sự nguy hại và hiểu rõ lối thoát.

Kassapa hài lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào…

Kassapa hài lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào…

Kassapa hài lòng với bất kỳ loại thuốc men và vật dụng cho người bệnh nào…

Vậy các ngươi nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ hài lòng với bất kỳ loại y nào, và tán thán sự hài lòng như vậy. Chúng ta sẽ không cố gắng kiếm y một cách không đúng đắn. Chúng ta sẽ không buồn lòng nếu không nhận được y. Và nếu nhận được y, chúng ta sẽ sử dụng nó mà không bị trói buộc, không say mê, không dính mắc, thấy được sự nguy hại và hiểu rõ lối thoát.’

(Tất cả nên được kể đầy đủ theo cách tương tự.)

‘Chúng ta sẽ hài lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào…’ ‘Chúng ta sẽ hài lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào…’ ‘Chúng ta sẽ hài lòng với bất kỳ loại thuốc men và vật dụng cho người bệnh nào…’ Đó là cách các ngươi nên tu tập. Ta sẽ khuyên nhủ các ngươi bằng tấm gương của Kassapa hoặc người nào giống như ông. Các ngươi nên thực hành theo đó."

I. Tri Túc (S.ii,194)

1) … Trú ở Sàvatthi.

2. − Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

3. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

4. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

5. Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào… với bất cứ loại sàng tọa nào… với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập”.

7. Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các Ông; hay với người như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông cần phải thực hành như vậy.

SN 16.2 Không Cẩn Trọng Anottappī

Như vầy tôi nghe. Một thời, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Sāriputta đang ở gần Varanasi, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Mahākassapa, và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và nói với Mahākassapa:

"Thưa Tôn giả Kassapa, người ta nói rằng nếu không có nhiệt tâm (keenness / lòng sốt sắng, tinh tấn) và không khéo tinh tường (prudence / sự khôn ngoan, tánh cẩn thận) thì không thể đạt được giác ngộ, Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt), và nơi nương tựa tối thượng khỏi các khổ ách. Nhưng nếu có nhiệt tâm và khéo tinh tường thì có thể đạt được giác ngộ, Niết-bàn, và nơi nương tựa tối thượng khỏi các khổ ách.

Điều này đúng đến mức độ nào?"

"Thưa Tôn giả, hãy xem một Tỷ kheo không nuôi dưỡng nhiệt tâm bằng cách suy nghĩ: ‘Nếu các bất thiện pháp (unskillful qualities / những trạng thái tâm tiêu cực) chưa sinh khởi trong ta, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không từ bỏ các bất thiện pháp đã sinh, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không làm sinh khởi các thiện pháp (skillful qualities / những trạng thái tâm tích cực) chưa sinh, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu các thiện pháp đã sinh trong ta bị chấm dứt, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ Đó là cách ngài không có nhiệt tâm.

Và làm thế nào ngài không khéo tinh tường? Hãy xem một Tỷ kheo không nuôi dưỡng sự khéo tinh tường bằng cách suy nghĩ: ‘Nếu các bất thiện pháp chưa sinh khởi trong ta, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không từ bỏ các bất thiện pháp đã sinh, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không làm sinh khởi các thiện pháp chưa sinh, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu các thiện pháp đã sinh trong ta bị chấm dứt, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ Đó là cách ngài không khéo tinh tường. Đó là cách mà nếu không có nhiệt tâm và không khéo tinh tường thì không thể đạt được giác ngộ, Niết-bàn, và nơi nương tựa tối thượng khỏi các khổ ách.

Và làm thế nào ngài có nhiệt tâm? Hãy xem một Tỷ kheo nuôi dưỡng nhiệt tâm bằng cách suy nghĩ: ‘Nếu các bất thiện pháp chưa sinh khởi trong ta, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không từ bỏ các bất thiện pháp đã sinh, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không làm sinh khởi các thiện pháp chưa sinh, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu các thiện pháp đã sinh trong ta bị chấm dứt, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ Đó là cách ngài có nhiệt tâm.

Và làm thế nào ngài khéo tinh tường? Hãy xem một Tỷ kheo nuôi dưỡng sự khéo tinh tường bằng cách suy nghĩ: ‘Nếu các bất thiện pháp chưa sinh khởi trong ta, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không từ bỏ các bất thiện pháp đã sinh, chúng sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu ta không làm sinh khởi các thiện pháp chưa sinh, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ ‘Nếu các thiện pháp đã sinh trong ta bị chấm dứt, điều đó sẽ dẫn đến tai hại.’ Đó là cách ngài khéo tinh tường. Đó là cách mà nếu có nhiệt tâm và khéo tinh tường thì có thể đạt được giác ngộ, Niết-bàn, và nơi nương tựa tối thượng khỏi các khổ ách."

II. Không Biết Sợ (S.ii,195)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-lanại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).

2. Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:

4. − Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

5. Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?

I

6. − Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm.

Như vậy, này Hiền giả, là không nhiệt tâm.

II

7. Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ.

Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.

8. Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

III

9. Và này Hiền giả, thế nào là nhiệt tâm?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. "Các thiện pháp khởi lên nơi ta.

Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi lên nhiệt tâm.

Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.

IV

10. Và này Hiền giả, như thế nào là có biết sợ?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ.

Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.

11. Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

SN 16.3 Như Mặt Trăng Candūpama

Tại Sāvatthī.

"Tỷ kheo, các ngươi nên tiếp cận các gia đình như mặt trăng: thận trọng hành động và suy nghĩ, luôn luôn như một người mới đến, và không bao giờ thô lỗ. Giả sử một người nhìn xuống một cái giếng cũ, một vách đá gồ ghề, hoặc một vùng sông nước khó tiếp cận. Họ sẽ thận trọng hành động và suy nghĩ của mình. Tương tự như vậy, các ngươi nên tiếp cận các gia đình như mặt trăng: thận trọng hành động và suy nghĩ, luôn luôn như một người mới đến, và không bao giờ thô lỗ.

Kassapa tiếp cận các gia đình như mặt trăng: thận trọng hành động và suy nghĩ, luôn luôn như một người mới đến, và không bao giờ thô lỗ.

Các ngươi nghĩ sao, Tỷ kheo? Một Tỷ kheo như thế nào thì xứng đáng tiếp cận các gia đình?"

“Các lời dạy của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Thưa Ngài, xin Đức Phật hãy làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

Rồi Đức Phật vẫy tay trong không trung.

"Tỷ kheo, bàn tay này không bị kẹt, không bị giữ, không bị vướng trong không trung. Tương tự như vậy, khi tiếp cận các gia đình, tâm của một Tỷ kheo không bị kẹt, không bị giữ, không bị vướng, khi nghĩ rằng: ‘Mong rằng những ai muốn vật chất sẽ có được chúng, và mong rằng những ai muốn công đức sẽ tạo được công đức!’ Họ cũng vui vẻ và hạnh phúc khi người khác nhận được thứ gì đó như khi chính họ nhận được. Một Tỷ kheo như vậy xứng đáng tiếp cận các gia đình.

Khi Kassapa tiếp cận các gia đình, tâm ông không bị kẹt, không bị giữ, không bị vướng, khi nghĩ rằng: ‘Mong rằng những ai muốn vật chất sẽ có được chúng, và mong rằng những ai muốn công đức sẽ tạo được công đức!’ Ông cũng vui vẻ và hạnh phúc khi người khác nhận được thứ gì đó như khi chính ông nhận được.

Các ngươi nghĩ sao, Tỷ kheo? Lời dạy của một Tỷ kheo như thế nào là trong sạch, và như thế nào là không trong sạch?"

“Các lời dạy của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Thưa Ngài, xin Đức Phật hãy làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Bất cứ ai giảng Pháp cho người khác với ý nghĩ: ‘Ồ! Mong rằng họ sẽ nghe lời dạy từ ta. Khi đã nghe, mong rằng họ sẽ có niềm tin vào lời dạy và thể hiện niềm tin đó với ta.’ Lời dạy của một Tỷ kheo như vậy là không trong sạch.

Bất cứ ai giảng Pháp cho người khác với ý nghĩ: ‘Giáo pháp đã được Đức Phật khéo giảng—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí có thể tự mình biết. Ồ! Mong rằng họ sẽ nghe lời dạy từ ta. Khi đã nghe, mong rằng họ sẽ hiểu lời dạy và thực hành theo đó.’ Vì vậy, họ dạy người khác vì sự tuyệt vời tự nhiên của giáo pháp, vì lòng từ bi, lòng nhân ái và sự cảm thông. Lời dạy của một Tỷ kheo như vậy là trong sạch.

Kassapa giảng Pháp cho người khác với ý nghĩ: ‘Giáo pháp đã được Đức Phật khéo giảng—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí có thể tự mình biết. Ồ! Mong rằng họ sẽ nghe lời dạy từ ta. Khi đã nghe, mong rằng họ sẽ hiểu lời dạy và thực hành theo đó.’

Như vậy, ông dạy người khác vì sự tuyệt vời tự nhiên của giáo pháp, vì lòng cảm thông, lòng nhân ái và sự cảm thông. Ta sẽ khuyên nhủ các ngươi bằng tấm gương của Kassapa hoặc người nào giống như ông. Các ngươi nên thực hành theo đó."

III. Ví Dụ Với Trăng (Tạp 41.18. Nguyệt Dụ, Ðại 2, 199a. Nguyệt Dụ Kinh, Ðại 2, 544b, Biệt Tạp 6.5,

Ðại 2, 444a) (S.v,197)

1. … Trú ở Sàvatthi…

2. − Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.

Kassapa, này các Tỷ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.

4. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Như thế nào một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?

5. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

6. Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:

− Ví như, này các Tỷ-kheo, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!”.

7. Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỷ-kheo, Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!”.

8. Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!

9. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.

10. Các Ông nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp không thanh tịnh? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp được thanh tịnh?

11. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

12. − Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

13. − Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Ðược hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ”, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.

14. − Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh (dhammasudhammata) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy là Tỷ-kheo thanh tịnh thuyết pháp.

15. Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác : “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”.

16. Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta đã giáo giới các Ông, hay với ai giống như Kassapa! Ðược giáo giới, các Ông phải như thật thực hành.

SN 16.4 Thăm Viếng Các Gia Đình Kulūpaka

Tại Sāvatthī.

“Các ngươi nghĩ sao, Tỷ kheo? Một Tỷ kheo như thế nào thì xứng đáng thăm viếng các gia đình? Và một Tỷ kheo như thế nào thì không xứng đáng thăm viếng các gia đình?”

“Các lời dạy của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …” Đức Phật nói điều này:

"Bất cứ ai thăm viếng các gia đình với ý nghĩ: ‘Mong họ sẽ cúng dường cho ta, mong họ đừng không cúng dường. Mong họ cúng dường nhiều, không ít. Mong họ cúng dường cho ta những thứ tốt đẹp, không phải thô xấu. Mong họ cúng dường nhanh chóng, không chậm trễ. Mong họ cúng dường cẩn thận, không cẩu thả.’ Nếu một Tỷ kheo với ý nghĩ như vậy đến một gia đình và họ không cúng dường, Tỷ kheo đó cảm thấy bị xem thường. Và họ trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Nếu họ chỉ cúng dường một ít… nếu họ cúng dường những thứ thô xấu… nếu họ cúng dường chậm trễ… nếu họ cúng dường cẩu thả, Tỷ kheo đó cảm thấy bị xem thường. Và họ trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Một Tỷ kheo như vậy không xứng đáng thăm viếng các gia đình.

Bất cứ ai thăm viếng các gia đình với ý nghĩ: 'Khi ở giữa các gia đình khác, làm sao ta có thể nghĩ rằng:

“Mong họ sẽ cúng dường cho ta, mong họ đừng không cúng dường. Mong họ cúng dường nhiều, không ít. Mong họ cúng dường cho ta những thứ tốt đẹp, không phải thô xấu. Mong họ cúng dường nhanh chóng, không chậm trễ. Mong họ cúng dường cẩn thận, không cẩu thả.”’ Nếu một Tỷ kheo với ý nghĩ như vậy đến một gia đình và họ không cúng dường, Tỷ kheo đó không cảm thấy bị xem thường. Và họ không trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Nếu họ chỉ cúng dường một ít… nếu họ cúng dường những thứ thô xấu… nếu họ cúng dường chậm trễ… nếu họ cúng dường cẩu thả, Tỷ kheo đó không cảm thấy bị xem thường. Và họ không trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Một Tỷ kheo như vậy xứng đáng thăm viếng các gia đình.

Kassapa thăm viếng các gia đình với ý nghĩ: 'Khi ở giữa các gia đình khác, làm sao ta có thể nghĩ rằng:

“Mong họ sẽ cúng dường cho ta, mong họ đừng không cúng dường. Mong họ cúng dường nhiều, không ít. Mong họ cúng dường cho ta những thứ tốt đẹp, không phải thô xấu. Mong họ cúng dường nhanh chóng, không chậm trễ. Mong họ cúng dường cẩn thận, không cẩu thả.”’ Với ý nghĩ như vậy, nếu ông đến một gia đình và họ không cúng dường, ông không cảm thấy bị xem thường. Và ông không trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Nếu họ chỉ cúng dường một ít… nếu họ cúng dường những thứ thô xấu… nếu họ cúng dường chậm trễ… nếu họ cúng dường cẩu thả, ông không cảm thấy bị xem thường. Và ông không trải qua đau khổ và buồn rầu vì điều đó. Ta sẽ khuyên nhủ các ngươi bằng tấm gương của Kassapa hoặc người nào giống như ông. Các ngươi nên thực hành theo đó."

IV. Ði Ðến Các Gia Ðình (Tạp 41.19 Thí Dụ. Ðại 2, 300a) ( Biệt Tạp 6.6, Ðại 2, 414c). (S.ii,200)

1. … Trú tại Sàvatthi.

2. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình? Tỷ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia đình?

3. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo…

Thế Tôn nói như sau:

4. − Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm như thế này đi đến các gia đình: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng”.

5. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho ít, không cho nhiều… cho đồ xấu không cho đồ tốt… cho chậm, không cho mau. Do vậy Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi đến các gia đình.

6. Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?”.

7. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo với tâm như vậy, khi đi đến các gia đình không được cho, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều… họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, cho chậm, không cho mau… cho bất kính, không phải kính trọng, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.

8. Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có bất kính”?”

9. Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính, không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.

10. Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các Ông hay với ai giống như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông hãy như vậy thọ trì.

SN 16.5 Tuổi Già Jiṇṇa

Như vầy tôi nghe. Gần Rājagaha, trong Trúc Lâm. Bấy giờ Tôn giả Mahākassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Kassapa:

“Ông đã già rồi, Kassapa. Những chiếc y phấn tảo bằng vải gai sờn cũ hẳn là gánh nặng cho ông. Vậy Kassapa, ông nên mặc y do các gia chủ cúng dường, nhận lời mời dùng bữa, và ở gần bên Ta.”

“Thưa Ngài, từ lâu con đã sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và chỉ sở hữu ba y; và con đã tán thán những điều này. Con là người ít ham muốn, biết đủ, sống riêng biệt, không giao du, và tinh tấn; và con đã tán thán những điều này.”

“Nhưng thấy được lợi ích gì, Kassapa, mà ông đã thực hành những điều này từ lâu?”

"Thưa Ngài, thấy được hai lợi ích, con đã thực hành những điều này từ lâu.

Con thấy được hạnh phúc cho chính mình trong đời này. Và con có lòng thương cảm đối với các thế hệ tương lai, nghĩ rằng: ‘Hy vọng những người đến sau có thể noi theo gương của ta.’ Vì họ có thể nghĩ: ‘Dường như các đệ tử đã giác ngộ của Đức Phật từ lâu đã sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và chỉ sở hữu ba y; và họ đã tán thán những điều này. Họ là những người ít ham muốn, biết đủ, sống riêng biệt, không giao du, và tinh tấn; và họ đã tán thán những điều này.’ Họ sẽ thực hành theo đó, điều này sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.

Thấy được hai lợi ích này, con đã thực hành những điều này từ lâu."

“Tốt lắm, tốt lắm, Kassapa! Ông đang hành động vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng thương cảm đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Vậy Kassapa, hãy mặc y phấn tảo bằng vải gai sờn cũ, đi khất thực, và ở trong rừng.”

V. Trở Về Già (Tạp 41.23, Lực Lão, Ðại 2, 301c Tăng 41.5, Ðại 2, 746a Biệt Tạp 6.10, Ðại 2, 416b)

(S.ii,202)

1. Như vầy tôi nghe.

Tại Ràjagaha, Veluvana…

2. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

− Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.

4. − Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

5. − Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng… đi khất thực… mang y phấn tảo… mang ba y… thiểu dục… tri túc… sống viễn ly… sống không giao thiệp… tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?

6. − Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng… con đi khất thực… con mang y phấn tảo… con mang ba y… con thiểu dục… con tri túc… con sống viễn ly… con sống không giao thiệp… con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.

7. Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): “Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng… những vị đi khất thực… những vị mang y phấn tảo… những vị mang ba y… những vị thiểu dục… những vị tri túc… những vị viễn ly… những vị không giao thiệp… những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần… họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc”.

8. Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng… con đi khất thực và tán thán hạnh khất thực… mang y phấn tảo… mang ba y… thiểu dục… tri túc… viễn ly… không giao thiệp… sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

9. − Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa, Ông đã thực hành (như vậy), vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

10. Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng!

SN 16.6 Lời Khuyên Ovāda

Gần Rājagaha, trong Trúc Lâm. Bấy giờ Tôn giả Mahākassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Kassapa:

“Kassapa, hãy khuyên dạy các Tỷ kheo! Hãy cho họ một bài Pháp thoại! Hoặc ông hoặc Ta nên khuyên dạy các Tỷ kheo và cho họ một bài Pháp thoại.”

"Thưa Ngài, các Tỷ kheo ngày nay khó khuyên dạy, họ có những phẩm chất khiến họ khó khuyên dạy. Họ thiếu kiên nhẫn, và không tiếp thu lời chỉ dạy một cách kính trọng.

Hãy xem vị Tỷ kheo tên là Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda. Vị ấy đã thi thố về việc học với vị Tỷ kheo tên là Abhiñjika, đệ tử của Anuruddha. Họ nói: ‘Nào, Tỷ kheo, ai có thể tụng nhiều hơn? Ai có thể tụng hay hơn? Ai có thể tụng lâu hơn?’"

Vậy Đức Phật gọi một trong các Tỷ kheo, “Này Tỷ kheo, hãy nhân danh Ta nói với Tỷ kheo tên là Bhaṇḍa, đệ tử của Ānanda, và Tỷ kheo tên là Abhiñjika, đệ tử của Anuruddha rằng bậc Đạo Sư cho gọi họ.”

“Vâng, thưa Ngài,” Tỷ kheo đó đáp. Vị ấy đến gặp các Tỷ kheo kia và nói, “Thưa các Tôn giả, bậc Đạo Sư cho gọi quý vị.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp. Họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với họ:

“Có thật không, các Tỷ kheo, rằng các ngươi đã thi thố về việc học, nói rằng: ‘Nào, Tỷ kheo, ai có thể tụng nhiều hơn? Ai có thể tụng hay hơn? Ai có thể tụng lâu hơn?’”

“Vâng, thưa Ngài.”

“Các ngươi có bao giờ biết Ta dạy Pháp như thế này chưa: ‘Này các Tỷ kheo, hãy thi thố về việc học để xem ai có thể tụng nhiều hơn, hay hơn và lâu hơn’?”

“Không, thưa Ngài.”

“Nếu các ngươi chưa bao giờ biết Ta dạy Pháp như thế này, vậy thì các ngươi biết và thấy điều gì, hỡi những kẻ rỗng tuếch này, mà sau khi đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được khéo giảng như vậy, các ngươi lại đi thi thố về việc học để xem ai có thể tụng nhiều hơn, hay hơn và lâu hơn?”

Rồi các Tỷ kheo đó cúi đầu sát chân Đức Phật và nói, “Chúng con đã phạm lỗi, thưa Ngài. Thật là ngu ngốc, dại dột, và không khéo tinh tường khi chúng con, sau khi đã xuất gia trong một giáo pháp và giới luật được khéo giảng như vậy, lại đi thi thố về việc học để xem ai có thể tụng nhiều hơn, hay hơn và lâu hơn. Xin Ngài hãy chấp nhận lỗi lầm của chúng con đúng như bản chất của nó, để chúng con sẽ tự kiềm chế trong tương lai.”

“Quả thật, các Tỷ kheo, các ngươi đã phạm lỗi. Thật là ngu ngốc, dại dột, và không khéo tinh tường khi các ngươi hành động như vậy. Nhưng vì các ngươi đã nhận ra lỗi lầm của mình đúng như bản chất của nó, và đã xử lý nó một cách đúng đắn, Ta chấp nhận. Vì đó là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh khi nhận ra một lỗi lầm đúng như bản chất của nó, xử lý nó một cách đúng đắn, và cam kết tự kiềm chế trong tương lai.”

VI. Giáo Giới (Tạp 41.30, Phụ Thắng, Ðại 2, 300b. Tăng 31.11 Vô Trách Tụng, Ðại 2, 673b Biệt Tạp

6.7, Ðại 2, 415a). (S.ii,203).

1. … Tại Ràjagaha, Veluvana…

2. Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

− Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4. − Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?”.

5. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

− Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha: “Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả”.

6. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:

− Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.

7. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

− Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với nhau như sau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?”

− Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

9. − Này các Tỷ-kheo, các Ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: ‘Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn?. Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?’ chăng?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các Ông lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?” như vậy ?

11. Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai.

12. − Thật sự, này các Tỷ-kheo, các Ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói với nhau: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?”.

Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, chúng ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các Ông!

13. Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!

SN 16.7 Lời Khuyên (thứ 2) Dutiyaovāda

Gần Rājagaha, trong Trúc Lâm. Bấy giờ Tôn giả Mahākassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên.

Đức Phật nói với ông, “Kassapa, hãy khuyên dạy các Tỷ kheo! Hãy cho họ một bài Pháp thoại! Hoặc ông hoặc Ta nên khuyên dạy các Tỷ kheo và cho họ một bài Pháp thoại.”

"Thưa Ngài, các Tỷ kheo ngày nay khó khuyên dạy, họ có những phẩm chất khiến họ khó khuyên dạy. Họ thiếu kiên nhẫn, và không tiếp thu lời chỉ dạy một cách kính trọng.

Thưa Ngài, bất cứ ai không có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, chứ không phải tăng trưởng, trong các thiện pháp, dù là ngày hay đêm.

Giống như mặt trăng trong tuần trăng khuyết. Dù là ngày hay đêm, vẻ đẹp, sự tròn đầy, ánh sáng, và đường kính và chu vi của nó chỉ suy giảm.

Tương tự như vậy, bất cứ ai không có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, chứ không phải tăng trưởng, trong các thiện pháp, dù là ngày hay đêm.

Một cá nhân không có niềm tin đang suy giảm. Một cá nhân không có lòng xấu hổ đang suy giảm. Một cá nhân không khéo tinh tường đang suy giảm. Một cá nhân lười biếng đang suy giảm. Một cá nhân không có trí tuệ đang suy giảm. Một cá nhân hay cáu kỉnh đang suy giảm. Một cá nhân hay gắt gỏng đang suy giảm. Khi không có các Tỷ kheo cố vấn thì có sự suy giảm.

Thưa Ngài, bất cứ ai có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các thiện pháp, dù là ngày hay đêm.

Giống như mặt trăng trong tuần trăng tròn. Dù là ngày hay đêm, vẻ đẹp, sự tròn đầy, ánh sáng, và đường kính và chu vi của nó chỉ tăng trưởng.

Tương tự như vậy, bất cứ ai có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các thiện pháp, dù là ngày hay đêm.

Một cá nhân có niềm tin không suy giảm. Một cá nhân có lòng xấu hổ không suy giảm. Một cá nhân khéo tinh tường không suy giảm. Một cá nhân siêng năng không suy giảm. Một cá nhân có trí tuệ không suy giảm. Một cá nhân có lòng từ ái không suy giảm. Một cá nhân có lòng nhân ái không suy giảm. Khi có các Tỷ kheo cố vấn thì không có sự suy giảm."

"Tốt lắm, tốt lắm, Kassapa! Bất cứ ai không có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì chỉ có thể mong đợi sự suy giảm, chứ không phải tăng trưởng…

Khi không có các Tỷ kheo cố vấn thì có sự suy giảm.

Bất cứ ai có niềm tin, lòng xấu hổ, sự khéo tinh tường, sự siêng năng, và trí tuệ đối với các thiện pháp thì có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm…

Khi có các Tỷ kheo cố vấn thì không có sự suy giảm."

VII. Giáo Giới (Tạp 41.21 Vô Tín, Ðại 2, 300c. Biệt Tạp 6.8, Ðại 2, 415b) (S.ii,205)

1. … Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).

2. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

− Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4. − Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!

5. Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

6. Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

7. Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Người phẫn nộ… Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

8. Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.

9. Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn…có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.

10. Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

11. − Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này Kassapa, không có lòng tin đối với thiện pháp… không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng.

12. Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, này Kassapa, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn… không có biết sợ… không có tinh tấn… không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.

13. Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn… Người không biết sợ… Người biếng nhác… Người ác trí tuệ… Người phẫn nộ… Người sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.

14. Với ai, này Kassapa, có lòng tin đối với thiện pháp… có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.

15. Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, này Kassapa, ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn… có biết sợ… có tinh tấn… có trí tuệ là sự tăng trưởng đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là sự tổn giảm.

16. Người có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Người biết thẹn… Người biết sợ… Người tinh tấn… Người có trí tuệ… Người không phẫn nộ… Người không sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có Tỷ-kheo giáo giới này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.

SN 16.8 Lời Khuyên (thứ 3) Tatiyaovāda

Gần Rājagaha, tại nơi cho sóc ăn. Bấy giờ Tôn giả Mahākassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

“Kassapa, hãy khuyên dạy các Tỷ kheo! Hãy cho họ một bài Pháp thoại! Hoặc ông hoặc Ta nên khuyên dạy các Tỷ kheo và cho họ một bài Pháp thoại.”

“Thưa Ngài, các Tỷ kheo ngày nay khó khuyên dạy, họ có những phẩm chất khiến họ khó khuyên dạy. Họ thiếu kiên nhẫn, và không tiếp thu lời chỉ dạy một cách kính trọng.”

"Kassapa, đó là vì trước đây các Tỷ kheo trưởng lão sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và chỉ sở hữu ba y; và họ đã tán thán những điều này. Họ là những người ít ham muốn, biết đủ, sống riêng biệt, không giao du, và tinh tấn; và họ đã tán thán những điều này.

Các Tỷ kheo trưởng lão mời một Tỷ kheo như vậy ngồi, nói rằng: ‘Hoan nghênh, Tỷ kheo! Vị Tỷ kheo này tên là gì? Vị Tỷ kheo này có bản tính tốt; vị ấy thực sự muốn tu tập. Xin mời Tỷ kheo ngồi.’

Rồi các Tỷ kheo trẻ tuổi nghĩ: ‘Dường như khi một Tỷ kheo sống trong rừng… và tinh tấn, và tán thán những điều này, các Tỷ kheo trưởng lão mời họ ngồi…’ Họ thực hành theo đó. Điều đó mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.

Nhưng ngày nay, Kassapa, các Tỷ kheo trưởng lão không sống trong rừng… và không tinh tấn; và họ không tán thán những điều này.

Khi một Tỷ kheo nổi tiếng và có danh vọng, nhận được y, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh, các Tỷ kheo trưởng lão mời họ ngồi: ‘Hoan nghênh, Tỷ kheo! Vị Tỷ kheo này tên là gì? Vị Tỷ kheo này có bản tính tốt; vị ấy thực sự quý mến các đồng tu của mình. Xin mời Tỷ kheo ngồi.’

Rồi các Tỷ kheo trẻ tuổi nghĩ: ‘Dường như khi một Tỷ kheo nổi tiếng và có danh vọng, nhận được y, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men và vật dụng cho người bệnh, các Tỷ kheo trưởng lão mời họ ngồi…’ Họ thực hành theo đó. Điều đó mang lại tai hại và đau khổ lâu dài cho họ. Và nếu có thể nói một cách đúng đắn rằng người tu hành bị nguy hiểm bởi chính sự nguy hiểm của một người tu hành, và bị đánh bại bởi sự thất bại của một người tu hành, thì chính là trong thời đại này điều đó có thể được nói một cách đúng đắn."

VIII. Giáo Giới (Tạp 41.22, Phật Vi Căn Bổn, Ðại 2, 301a. Biệt Tạp 6.9, Ðại 2, 415c). (S.ii,208)

1. … Trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

− Hãy giáo giới Tỷ-kheo, này Kassapa! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, này Kassapa! Ta hay Ông, này Kassapa, phải giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta, này Kassapa, hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4. − Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới.

5. − Này Kassapa, thuở xưa các Trưởng lão Tỷ-kheo là những vị ở rừng như vậy và tán thán ở rừng, là những vị đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, là những vị mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, là những vị mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, là những vị thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, là những vị tri túc và tán thán hạnh tri túc, là những vị viễn ly và tán thán hạnh viễn ly, là những vị không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp là những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.

6. Ở đây, vị Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng, đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, sống tri túc và tán thánh hạnh tri túc, sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly, sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; vị Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, vị Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!”

7. Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, đi khất thực… mang y phấn tảo… mang ba y… thiểu dục… tri túc… sống viễn ly… sống không giao thiệp… tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này”. Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy được hạnh phúc, được an lạc trong một thời gian dài.

8. Nhưng này, này Kassapa, các Trưởng lão Tỷ-kheo không sống ở rừng và không tán thán hạnh sống ở rừng, không đi khất thực và không tán thán hạnh khất thực, không mang y phấn tảo và không tán thán hạnh mang y phấn tảo, không mang ba y và không tán thán hạnh mang ba y, không thiểu dục và không tán thán hạnh thiểu dục, không tri túc và không tán thán hạnh tri túc, không sống viễn ly và không tán thán hạnh viễn ly, không sống không giao thiệp và không tán thán hạnh không giao thiệp, không tinh cần và không tán thán hạnh tinh cần.

9. Ở đây, Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!”

10. Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: ‘Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!’”. Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài.

Này Kassapa, ai nói một cách chơn chánh như sau: “Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh” Nói như vậy, này Kassapa, là nói một cách chơn chánh. Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh.

SN 16.9 Thiền Định và Thắng Trí Jhānābhiñña

Tại Sāvatthī.

"Tỷ kheo, bất cứ khi nào Ta muốn, hoàn toàn ly cách các thú vui giác quan, ly cách các bất thiện pháp, Ta nhập và an trú trong Sơ thiền, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ sự ly cách, trong khi có tầm có tứ(placing the mind and keeping it connected / chủ động hướng ý nghĩ đến đối tượng và giữ sự quan sát đối tượng đó). Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, khi tầm và tứ đã lắng dịu, Ta nhập và an trú trong Nhị thiền, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ sự định tĩnh, với sự trong sáng nội tâm và tâm hợp nhất, không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không có sự hướng ý nghĩ đến đối tượng nào hay duy trì sự quan sát đối tượng nào). Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, với sự phai nhạt của niềm vui, Ta nhập và an trú trong Tam thiền, nơi Ta thiền với tâm xả, chánh niệm và tỉnh giác, tự thân cảm nhận sự an ổn mà các bậc Thánh tuyên bố, ‘Với tâm xả và chánh niệm, người ấy thiền trong an ổn.’ Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, với việc từ bỏ lạc và khổ, và sự chấm dứt của hỷ và ưu trước đó, Ta nhập và an trú trong Tứ thiền, không lạc không khổ, với tâm xả và chánh niệm thanh tịnh. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, vượt qua hoàn toàn các nhận thức về hình sắc, với sự chấm dứt các nhận thức về sự va chạm, không chú tâm vào các nhận thức về sự đa dạng, ý thức rằng ‘không gian là vô tận’, Ta nhập và an trú trong không vô biên xứ. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, ý thức rằng ‘thức là vô tận’, Ta nhập và an trú trong thức vô biên xứ. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, ý thức rằng ‘không có gì cả’, Ta nhập và an trú trong vô sở hữu xứ. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, Ta nhập và an trú trong phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta nhập và an trú trong diệt thọ tưởng định. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, Ta vận dụng nhiều loại thần thông: biến một thành nhiều, nhiều thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn vào và trồi lên khỏi mặt đất như trong nước; đi trên mặt nước như trên đất liền; bay ngồi xếp bằng trên bầu trời như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, dù chúng hùng mạnh và quyền năng đến đâu. Ta điều khiển thân thể đến tận cõi Phạm thiên. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, Ta nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù gần hay xa. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, Ta hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, đã thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Ta hiểu tâm có tham là ‘tâm có tham’, và tâm không tham là ‘tâm không tham’; tâm có sân… tâm không sân… tâm có si… tâm không si… tâm co cụm… tâm phân tán… tâm quảng đại… tâm không quảng đại… tâm không phải là tối thượng… tâm là tối thượng… tâm nhập định (immersion / sự tập trung tâm ý, thiền định)… tâm không nhập định… tâm giải thoát… tâm không giải thoát… Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, Ta nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình. Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp tái sinh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới mở rộng, nhiều kiếp thế giới co lại và mở rộng. Ta nhớ: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.’ Và cứ thế, ta nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Và Kassapa cũng vậy.

Bất cứ khi nào Ta muốn, với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, Ta thấy chúng sinh qua đời và tái sinh—hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Ta hiểu chúng sinh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ. ‘Những chúng sinh thân mến này đã làm những điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi mất mát, nơi xấu, thế giới ngầm, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sinh thân mến này đã làm những điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân thể họ tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi tốt, cõi trời.’ Và cứ thế, với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, Ta thấy chúng sinh qua đời và tái sinh—hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Ta hiểu chúng sinh được tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ. Và Kassapa cũng vậy.

Ta đã chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) không còn lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần sâu kín) trong chính đời này. Và Ta sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng chính tuệ giác của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Và Kassapa cũng vậy."

IX. Thiền Và Thắng Trí (Tạp 41.21, Lực Lão, Ðại 2, 302a) (Biệt Tạp 6.11, Ðại 2, 416c) (S.ii,210)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. − Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ…

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

3. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

4. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.

5. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

6. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Ta nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng… chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.

7. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi Không vô biên xứ… chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.

8. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vượt lên mọi Thức vô biên xứ… chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.

9. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng… chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

10. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.

Tùy theo mong muốn… Kassapa cũng… chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.

11. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta chứng đạt các loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên, đi ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng chứng đạt được các loại thần thông… bay đến cõi Phạm thiên.

12. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Ngươụi, xa và gần.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với thiên nhĩ thanh tịnh… xa và gần.

13. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người với tâm của mình, Ta có thể biết như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham, tâm có sân biết là tâm có sân, tâm không sân biết là tâm không sân, tâm có si biết là tâm có si, tâm không si biết là tâm không si, tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú, tâm không chuyên chú biết là tâm không chuyên chú, đại hành tâm biết là đại hành tâm, không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành tâm, tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng, tâm vô thượng biết là tâm vô thượng, tâm Thiền định biết là tâm Thiền định, tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định, tâm giải thoát biết là tâm giải thoát, tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài Người; với tâm của mình, Kassapa cũng được biết như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham… tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”.

14. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… và các chi tiết.

15. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy các chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh ấy làm những ác hạnh về thân, lời, ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết các chúng sanh… đều do hạnh nghiệp của họ.

16. Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.

Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đạt và an trú.

SN 16.10 Khu Nhà của các Ni Sư Upassaya

Như vầy tôi nghe. Một thời, Tôn giả Mahākassapa đang ở gần Sāvatthī trong vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến gặp Mahākassapa và nói, “Kassapa, thưa ngài, chúng ta hãy đến một trong các khu nhà của ni sư.”

“Ngài đi đi, thưa Tôn giả Ānanda. Ngài có nhiều nhiệm vụ và trách nhiệm.”

Và lần thứ hai…

Và lần thứ ba, Ānanda nói, “Nào, Tôn giả Kassapa. Chúng ta hãy đến một trong các khu nhà của ni sư.”

Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đi cùng Tôn giả Ānanda làm thị giả đến một trong các khu nhà của ni sư, nơi ông ngồi trên chỗ đã được trải sẵn. Và rồi một vài ni sư đến gặp Mahākassapa, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Mahākassapa đã giáo huấn, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho các ni sư đó bằng một bài Pháp thoại, sau đó ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Nhưng ni sư Thullatissā không vui và buột miệng nói, “Tôn giả Mahākassapa nghĩ gì mà lại giảng Pháp trước mặt Tôn giả Ānanda, bậc hiền triết xứ Videha? Ông ta giống như một người bán kim mà lại nghĩ rằng mình có thể bán kim cho một người thợ làm kim!”

Mahākassapa nghe Thullatissā nói những lời này, và ông nói với Ānanda, “Có đúng vậy không, thưa Tôn giả Ānanda? Ta là người bán kim và ngài là người thợ làm kim? Hay ta là người thợ làm kim và ngài là người bán kim?”

“Xin hãy tha thứ cho cô ấy, thưa ngài. Người phụ nữ đó thật ngu ngốc.”

"Khoan đã, thưa Tôn giả Ānanda! Đừng để Tăng đoàn phải điều tra ngài thêm nữa!

Ngài nghĩ sao, thưa Tôn giả Ānanda? Có phải ngài là người mà Đức Phật đã nêu gương trước Tăng đoàn Tỷ kheo, nói rằng: ‘Tỷ kheo, bất cứ khi nào Ta muốn, hoàn toàn ly cách các thú vui giác quan, ly cách các bất thiện pháp, Ta nhập và an trú trong Sơ thiền, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ sự ly cách, trong khi có tầm có tứ. Và Ānanda cũng vậy’?"

“Không, thưa ngài.”

"Ta mới là người mà Đức Phật đã nêu gương trước Tăng đoàn Tỷ kheo, nói rằng: ‘Tỷ kheo, bất cứ khi nào Ta muốn, hoàn toàn ly cách các thú vui giác quan, ly cách các bất thiện pháp, Ta nhập và an trú trong Sơ thiền, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ sự ly cách, trong khi có tầm có tứ. Và Kassapa cũng vậy. …’

(Chín tầng thiền định tuần tự và năm thắng trí nên được kể đầy đủ.)

Ngài nghĩ sao, thưa Tôn giả Ānanda? Có phải ngài là người mà Đức Phật đã nêu gương trước Tăng đoàn Tỷ kheo, nói rằng: ‘Ta đã chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc trong chính đời này. Và Ta sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng chính tuệ giác của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Và Ānanda cũng vậy’?"

“Không, thưa ngài.”

"Ta mới là người mà Đức Phật đã nêu gương trước Tăng đoàn Tỷ kheo, nói rằng: ‘Ta đã chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc trong chính đời này. Và Ta sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng chính tuệ giác của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Và Kassapa cũng vậy.’

Thưa Tôn giả, ngài có thể nghĩ đến việc giấu một con voi đực cao ba hoặc ba mét rưỡi sau một chiếc lá cọ cũng giống như việc giấu sáu thắng trí của ta vậy."

Nhưng ni sư Thullatissā đã từ bỏ đời sống phạm hạnh.

X. Trú Xứ (Tạp 41.25, Thử Thời, Ðại 2. 302b. Biệt Tạp 6.12, Ðại 2, 417a) (S.ii,214)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

I

2. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa.

3. Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

− Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.

− Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

4. Lần thứ hai, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

− Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.

− Hãy đi, này Hiền giả Ananda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.

5. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Mahà Kassapa:

− Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.

6. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát cùng với Tôn giả Ananda, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

II

7. Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa, rồi ngồi xuống một bên.

8. Tôn giả Mahà Kassapa với pháp thoại giảng cho các vị Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.

9. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

10. Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ, nói lên những lời không hoan hỷ: “Làm sao Tôn giả Mahà Kassapa trước mặt Vedehamuni Ananda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahà Kassapa, trước mặt Vedehamuni Ananda lại nghĩ đến thuyết pháp”.

11. Tôn giả Mahà Kassapa nghe được lời nói này của Tỷ-kheo-ni Thullatissà.

III

12. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

− Thế nào, Hiền giả Ananda, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?

− Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn bà!

13. − Hãy đến, Hiền giả Ananda, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào?

14. Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ananda cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?

− Thưa Tôn giả, không phải vậy.

15. − Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?

16-29. (Chín thứ đệ định và năm trí giống như trên.)

30. Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có phải, này Ananda, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Ananda cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?

− Thưa Tôn giả, không phải vậy.

31. − Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau: “Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.

32. Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưỡi bề cao.

IV

33. Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.

SN 16.11 Y Phục Cīvara

Một thời, Tôn giả Mahākassapa đang ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn. Lúc đó, Tôn giả Ānanda đang du hành ở vùng Đồi Phía Nam cùng với một Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo.

Và vào thời điểm đó, ba mươi vị Tỷ kheo đệ tử của Ānanda đã từ bỏ việc tu học và trở về đời sống thấp kém hơn. Hầu hết họ đều là thanh niên.

Khi Tôn giả Ānanda đã du hành ở vùng Đồi Phía Nam bao lâu tùy thích, ngài lên đường đến Rājagaha, đến Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn. Ngài đến gặp Tôn giả Mahākassapa, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Mahākassapa nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Ānanda, vì lý do gì mà Đức Phật đã đặt ra quy tắc cấm ăn theo nhóm hơn ba người trong các gia đình?”

“Thưa ngài, Đức Phật đã đặt ra quy tắc đó vì ba lý do. Để kiểm soát những người khó tính và để các Tỷ kheo có tâm tốt được thoải mái. Để ngăn chặn những người có ý đồ xấu kết bè phái và chia rẽ Tăng đoàn. Và vì quan tâm đến các gia đình. Đó là ba lý do tại sao Đức Phật đã đặt ra quy tắc đó.”

“Vậy chính xác thì ngài đang làm gì, đi du hành cùng với những Tỷ kheo trẻ tuổi này? Họ không canh giữ các giác quan, họ ăn quá nhiều, và họ không chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Giống như ngài đang đi phá hoại mùa màng và làm tan nát các gia đình vậy! Đoàn tùy tùng của ngài đang tan rã, thưa Tôn giả Ānanda, và những người mới bắt đầu đang trượt dốc. Vậy mà cậu bé này không biết chừng mực!”

“Dù tóc tôi đã có sợi bạc, tôi vẫn không thoát khỏi việc bị Tôn giả Mahākassapa gọi là cậu bé.”

“Đó là vì ngài đi du hành với những Tỷ kheo trẻ tuổi này. … Đoàn tùy tùng của ngài đang tan rã, thưa Tôn giả Ānanda, và những người mới bắt đầu đang trượt dốc. Vậy mà cậu bé này không biết chừng mực!”

Ni sư Thullanandā nghe tin đồn rằng Tôn giả Mahākassapa đã khiển trách Tôn giả Ānanda, bậc hiền triết xứ Videha, bằng cách gọi ngài là một cậu bé.

Bà không vui và buột miệng nói, “Làm sao Tôn giả Mahākassapa, người trước đây theo một tôn giáo khác, lại dám khiển trách Tôn giả Ānanda, bậc hiền triết xứ Videha, bằng cách gọi ngài là một cậu bé?”

Mahākassapa nghe Thullanandā nói những lời này, và ông nói với Ānanda, "Quả thật, thưa Tôn giả Ānanda, ni sư Thullanandā đã nói năng hấp tấp và không suy xét.

Kể từ khi ta cạo tóc và râu, mặc y màu vàng nghệ, và xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà, ta không nhớ đã công nhận bất kỳ vị thầy nào khác ngoài Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Trước đây khi còn là một cư sĩ, ta đã nghĩ: ‘Cuộc sống tại gia chật chội và bụi bặm, cuộc sống xuất gia rộng mở. Không dễ cho một người sống tại gia để sống đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, như một vỏ ốc được đánh bóng. Tại sao ta không cạo tóc và râu, mặc y màu vàng nghệ, và xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà?’ Một thời gian sau, ta đã làm một chiếc y kép bằng vải vụn và, nhân danh các bậc A-la-hán trên thế gian, ta đã cạo tóc và râu, mặc y màu vàng nghệ, và xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà.

Khi đã xuất gia, ta đi dọc theo con đường giữa Rājagaha và Nāḷandā, nơi ta thấy Đức Phật đang ngồi tại Đền Nhiều Con Trai. Thấy Ngài, ta nghĩ: ‘Nếu ta có bao giờ được thấy một vị Thầy, đó sẽ là Đức Thế Tôn này! Nếu ta có bao giờ được thấy một bậc Thánh, đó sẽ là Đức Thế Tôn này! Nếu ta có bao giờ được thấy một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đó sẽ là Đức Thế Tôn này!’

Rồi ta cúi đầu sát chân Đức Phật và nói: ‘Thưa Ngài, Đức Phật là Thầy của con, con là đệ tử của Ngài! Đức Phật là Thầy của con, con là đệ tử của Ngài!’

Đức Phật nói với ta, 'Kassapa, nếu có ai nói với một đệ tử hết lòng như vậy rằng họ biết khi họ không biết, hoặc họ thấy khi họ không thấy, đầu của họ sẽ nổ tung. Nhưng Kassapa, khi Ta nói rằng Ta biết và thấy thì Ta thực sự biết và thấy.

Vậy con nên tu tập như thế này: “Ta sẽ thiết lập một ý thức sâu sắc về lòng xấu hổ và sự khéo tinh tường đối với các bậc trưởng lão, trung niên, và hạ lạp.” Đó là cách con nên tu tập.

Và con nên tu tập như thế này: “Bất cứ khi nào ta nghe một lời dạy liên quan đến những gì là thiện, ta sẽ chú ý, tác ý, tập trung hết lòng, và tích cực lắng nghe lời dạy đó.” Đó là cách con nên tu tập.

Và con nên tu tập như thế này: “Ta sẽ không bao giờ bỏ bê quán niệm về thân tràn đầy an lạc.” Đó là cách con nên tu tập.’

Và khi Đức Phật đã cho ta lời khuyên này, Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Trong bảy ngày, ta đã ăn của tín thí trong nước như một người mắc nợ. Vào ngày thứ tám, ta đã giác ngộ.

Và rồi Đức Phật rời khỏi con đường và đi đến gốc của một cây nào đó. Ta bèn trải chiếc y kép bằng vải vụn của mình gấp làm tư và nói với Ngài, ‘Thưa Ngài, xin hãy ngồi đây. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.’

Đức Phật ngồi trên chỗ đã được trải sẵn và nói với ta, ‘Kassapa, chiếc y kép bằng vải vụn này mềm mại.’

‘Thưa Ngài, xin hãy nhận chiếc y kép bằng vải vụn của con vì lòng thương cảm.’

‘Trong trường hợp đó, Kassapa, con có mặc chiếc y phấn tảo bằng vải gai sờn cũ của Ta không?’

‘Con sẽ mặc nó, thưa Ngài.’

Và thế là ta đã dâng chiếc y kép bằng vải vụn của mình cho Đức Phật, và Đức Phật đã dâng cho ta chiếc y phấn tảo bằng vải gai sờn cũ của Ngài.

Vì nếu có ai đáng được gọi là người con trai chân chính của Đức Phật, sinh ra từ miệng Ngài, sinh ra từ giáo pháp, được tạo ra bởi giáo pháp, là người thừa kế giáo pháp, và là người nhận chiếc y phấn tảo bằng vải gai sờn cũ của Ngài, thì đó chính là ta.

Bất cứ khi nào ta muốn, hoàn toàn ly cách các thú vui giác quan, ly cách các bất thiện pháp, ta nhập và an trú trong Sơ thiền, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ sự ly cách, trong khi có tầm có tứ. …

(Chín tầng thiền định tuần tự và năm thắng trí nên được kể đầy đủ.)

Ta đã chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc trong chính đời này. Và ta sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng chính tuệ giác của mình do sự đoạn tận các lậu hoặc.

Thưa Tôn giả, ngài có thể nghĩ đến việc giấu một con voi đực cao ba hoặc ba mét rưỡi sau một chiếc lá cọ cũng giống như việc giấu sáu thắng trí của ta vậy."

Nhưng ni sư Thullanandā đã từ bỏ đời sống phạm hạnh.

XI. Y Áo (Tạp 41.26, Chúng Giảm Thiểu, Ðại 2, 302c Biệt Tạp 6,13, Ðại 2, 417c) (S.ii,217)

1. Một thời Tôn giả Mahà Kassapa trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

I

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đang đi du hành ở Dakhinàgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo.

3. Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ tử của Tôn giả Ananda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn tục.

II

4. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kassapa rồi ngồi xuống một bên.

5. Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:

− Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ?

6. − Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ, để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa, do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ.

7. − Vậy thời vì sao, này Hiền giả Ananda, Hiền giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ananda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình!

8. − Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahà Kassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không có phật lòng.

9. − Thật vậy, này Hiền giả Ananda, Hiền giả du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ananda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.

III

10. Tỷ-kheo-ni Thullatissà được nghe Tôn giả Ananda, bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahà Kassapa không hài lòng và gọi là “đứa trẻ”.

11. Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissà không hoan hỷ và thốt ra những lời không hoan hỷ: “Sao Tôn giả Mahà Kassapa, trước kia là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn giả Ananda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?”

12. Tôn giả Mahà Kassapa được nghe những lời của Tỷ-kheo-ni Thullatissà nói như vậy.

13. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

− Này Hiền giả Ananda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissà thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả, vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.

14. Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên: “Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

15. Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

16. Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Ràjagaha và Nàlandà. Thấy vậy, ta suy nghĩ như sau: “Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn?”

17. Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

“− Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế Tôn. Con là đệ tử”.

18. Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:

− Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.

19. Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau: ‘Một tâm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên’. Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy.

20. Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau: ‘Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe’. Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy.

21. Do vậy, này Kassapa, Ông phải học tập như sau: ‘Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy’. Này Kassapa, Ông phải học tập như vậy".

22. Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

23. Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.

24. Rồi này Hiền giả, Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây.

25. Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:

“− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài”.

26. Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

27. Sau khi ngồi xuống, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:

“− Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của Ông”.

“− Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con”.

28. “− Này Kassapa, Ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?”.

" − Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn".

29. Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.

30. Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.

31. Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.

32-46. Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta… (chín thứ đệ định và năm thắng trí)…

47. Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

48. Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưỡi bề cao.

49. Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissà đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.

SN 16.12 Như Lai Sau Khi Chết Paraṁmaraṇa

Một thời, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Sāriputta đang ở gần Varanasi, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Mahākassapa, và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và nói với Mahākassapa:

“Thưa Tôn giả Kassapa, một Như Lai (realized one / bậc đã chứng ngộ) có còn tồn tại sau khi chết không?”

“Thưa Tôn giả, điều này chưa được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một Như Lai không còn tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng chưa được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một Như Lai vừa còn tồn tại vừa không còn tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng chưa được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một Như Lai không còn tồn tại cũng không không còn tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng chưa được Đức Phật tuyên bố.”

“Và tại sao điều này chưa được Đức Phật tuyên bố?”

“Bởi vì nó không lợi ích hay liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh. Nó không dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, tuệ giác, giác ngộ, và Niết-bàn. Đó là lý do tại sao nó chưa được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy bây giờ điều gì đã được Đức Phật tuyên bố?” “‘Đây là khổ’ đã được Đức Phật tuyên bố. ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự diệt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự diệt khổ’ đã được Đức Phật tuyên bố.”

“Và tại sao điều này đã được Đức Phật tuyên bố?”

“Bởi vì nó lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh. Nó dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, tuệ giác, giác ngộ, và Niết-bàn. Đó là lý do tại sao nó đã được Đức Phật tuyên bố.”

XII. Sau Khi Chết (Tạp 32.1, Ngoại Ðạo, Ðại 2, 226a) (Biệt Tạp 6.14, Ðại 2, 419a) (S.ii.222).

1. Một thời Tôn giả Mahà Kassapa và Tôn giả Sàriputta trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư

Tiên đọa xứ), ở Migadaya (Lộc Uyển).

2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:

− Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?

− Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

4. − Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?

− Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”.

5. − Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?

− Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết”.

6. − Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

7. Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy? Vì đây, này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.

8. Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì?

“Ðây là khổ”, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ tập”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố.

9. Vì sao, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy?

Vì đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.

SN 16.13 Sự Giả Mạo của Chánh Pháp Saddhammappatirūpaka

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, thưa Ngài, lý do là gì mà trước đây có ít học giới (training rules / các quy tắc tu tập) hơn nhưng lại có nhiều Tỷ kheo giác ngộ hơn? Và nguyên nhân là gì, lý do là gì mà ngày nay có nhiều học giới hơn và ít Tỷ kheo giác ngộ hơn?”

"Đúng là như vậy, Kassapa. Khi chúng sinh đang suy thoái và chánh pháp (true teaching / lời dạy chân chính) đang biến mất thì có nhiều học giới hơn và ít Tỷ kheo giác ngộ hơn. Chánh pháp không biến mất chừng nào tượng pháp (counterfeit of the true teaching / giáo pháp giả mạo, chỉ có hình thức) chưa xuất hiện trên thế gian. Nhưng khi tượng pháp xuất hiện trên thế gian thì chánh pháp biến mất.

Giống như vàng ròng, nó không biến mất chừng nào vàng giả chưa xuất hiện trên thế gian. Nhưng khi vàng giả xuất hiện trên thế gian thì vàng ròng biến mất.

Tương tự như vậy, chánh pháp không biến mất chừng nào tượng pháp chưa xuất hiện trên thế gian. Nhưng khi tượng pháp xuất hiện trên thế gian thì chánh pháp biến mất.

Không phải các yếu tố đất, nước, lửa, hay không khí làm cho chánh pháp biến mất. Thay vào đó, chính những kẻ ngu ngốc xuất hiện ngay tại đây làm cho chánh pháp biến mất. Chánh pháp không biến mất như một con tàu chìm ngay lập tức.

Có năm điều tai hại dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp. Năm điều gì? Đó là khi các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ thiếu sự tôn trọng và kính ngưỡng đối với Bậc Đạo Sư, giáo pháp, Tăng đoàn, sự tu tập, và sự định tĩnh. Năm điều tai hại này dẫn đến sự suy tàn và biến mất của chánh pháp.

Có năm điều dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và bền vững của chánh pháp. Năm điều gì? Đó là khi các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ duy trì sự tôn trọng và kính ngưỡng đối với Bậc Đạo Sư, giáo pháp, Tăng đoàn, sự tu tập, và sự định tĩnh. Năm điều này dẫn đến sự tiếp nối, tồn tại, và bền vững của chánh pháp."

XIII. Tượng Pháp (Tạp 32.2 Pháp Giảm Diệt, Ðại 2, 226b (Biệt Tạp 6.15, Ðại 2, 419b) (S.ii,223)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kassapa bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thuở trước, học giới có ít hơn nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ngày nay học giới có nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí ít hơn?.

4. − Sự việc xảy ra như vậy, này Kassapa, trong thời các chúng sanh suy giảm, trong thời diệu pháp biến mất, thời nhiều hơn là các học giới, ít hơn là các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí.

5. Này Kassapa, diệu pháp không biến mất cho đến khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và Kassapa khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.

6. Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.

7. Cũng vậy, này Kassapa, diệu pháp không biến mất, khi nào tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.

8-11. Này Kassapa, địa giới không làm diệu pháp biến mất, thủy giới… hỏa giới… phong giới không làm diệu pháp biến mất.

12. Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm diệu pháp biến mất.

13. Ví như, này Kassapa, chiếc thuyền bị chìm vì chở quá nặng. Không phải vì vậy, này Kassapa, diệu pháp bị biến mất.

14. Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?

15. Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp, sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng, sống không tôn kính, không tùy thuận học giới, sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.

Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp.

16. Và có năm pháp, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là năm?

17. Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định.

18. Chính năm pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của diệu pháp.

-ooOoo-