Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Rāhula

18. TƯƠNG ƯNG RÀHULA

Chương Một

SN 18.1 Kinh Con Mắt, v.v. Cakkhusutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Rāhula đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng, “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách vắn tắt. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết đoán.”

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Con mắt là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, thì nó là khổ hay vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để được xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Cái tai là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Cái mũi là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Cái lưỡi là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thân thể là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Tâm là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, thì nó là khổ hay vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để được xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

"Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. Khi tham ái phai nhạt, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

(Mười bài kinh trong loạt này nên được thuật lại đầy đủ theo cách tương tự.)

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Mắt (S.ii,244)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràahula bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con để sau khi nghe, con có thể sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần!

4.− Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5. − Tai là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

6. − Mũi là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

7. − Lưỡi là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

8. Thân là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

9. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.

11. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.2 Kinh Sắc Trần, v.v. Rūpasutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Sắc (sights / hình ảnh, cảnh vật) là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … “… âm thanh … mùi … vị … xúc chạm … Pháp là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. …”

II. Sắc (S.ii,245)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-6. Thanh… Hương… Vị… Xúc…

7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Pháp là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc… nhàm chán pháp.

9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.3 Kinh Thức Viññāṇasutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Nhãn thức (consciousness / viññāṇa / sự nhận biết của giác quan) là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… nhĩ thức … tỷ thức … thiệt thức … thân thức … Ý thức là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. …”

III. Thức (S.ii,246)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

3-6. − Nhĩ thức… Tỷ thức…Thiệt thức… Thân thức…

7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ý thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán nhãn thức, nhàm chán nhĩ thức, nhàm chán tỷ thức, nhàm chán thiệt thức, nhàm chán thân thức, nhàm chán ý thức.

9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.4 Kinh Xúc Samphassasutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Nhãn xúc (contact / samphassa / sự tiếp xúc giữa giác quan, đối tượng và ý thức) là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… nhĩ xúc … tỷ xúc … thiệt xúc … thân xúc … Ý xúc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. …”

IV. Xúc (S.ii,246)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn xúc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

3-7. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhĩ xúc… Tỷ xúc… Thiệt xúc… Thân xúc… Ý xúc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán nhãn xúc, nhàm chán nhĩ xúc, nhàm chán tỷ xúc, nhàm chán thiệt xúc, nhàm chán thân xúc, nhàm chán ý xúc…

9. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.5 Kinh Thọ Vedanāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Thọ (feeling / vedanā / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính) sinh ra từ nhãn xúc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… thọ sinh ra từ nhĩ xúc … thọ sinh ra từ tỷ xúc … thọ sinh ra từ thiệt xúc … thọ sinh ra từ thân xúc … Thọ sinh ra từ ý xúc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với thọ sinh ra từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. …”

V. Thọ (S.ii,247)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Thọ do nhãn xúc sanh là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-6. − Thọ do nhĩ xúc sanh… Thọ do tỷ xúc sanh… Thọ do thiệt xúc sanh… Thọ do thân xúc sanh… Thọ do ý xúc sanh là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

7-8. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán thọ do nhãn xúc sanh, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm chán thọ do tỷ xúc sanh, nhàm chán thọ do thiệt xúc sanh, nhàm chán thọ do thân xúc sanh, nhàm chán thọ do ý xúc sanh…

Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.6 Kinh Nhận thức Saññāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Nhận thức (perception / saññā / sự nhận biết, ghi nhớ và đặt tên cho đối tượng) về sắc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… nhận thức về âm thanh … nhận thức về mùi … nhận thức về vị … nhận thức về xúc chạm … nhận thức về pháp là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nhận thức về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. …”

VI. Tưởng (S.ii,247)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tưởng là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-7. − Thanh tưởng… Hương tưởng… Vị tưởng… Xúc tưởng… Pháp tưởng là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc tưởng, nhàm chán thanh tưởng, nhàm chán hương tưởng, nhàm chán vị tưởng, nhàm chán xúc tưởng, nhàm chán pháp tưởng…

Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.7 Kinh Tư Sañcetanāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? (intention / sañcetanā / sự chủ ý, sự cố ý hướng tâm đến đối tượng) về sắc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… tư về âm thanh … tư về mùi … tư về vị … tư về xúc chạm … Tư về pháp là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với tư về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. …”

VII. Tư (S.ii,247)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tư là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-7. − Thanh tư… Hương tư… Vị tư… Xúc tư… Pháp tư là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc tư, nhàm chán thanh tư, nhàm chán hương tư, nhàm chán vị tư, nhàm chán xúc tư, nhàm chán pháp tư.

Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.8 Kinh Ái Taṇhāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Ái (craving / taṇhā / sự ham muốn, khao khát) đối với sắc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… ái đối với âm thanh … ái đối với mùi … ái đối với vị … ái đối với xúc chạm … Ái đối với pháp là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. …”

VIII. Ái (S.ii,248)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc ái là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-7. − Thanh ái… Hương ái… Vị ái… Xúc ái… Pháp ái là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc ái, nhàm chán thanh ái, nhàm chán hương ái, nhàm chán vị ái, nhàm chán xúc ái, nhàm chán pháp ái.

Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.9 Kinh Giới Dhātusutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Địa giới (element / dhātu / các yếu tố cơ bản cấu thành) là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… thủy giới … hỏa giới … phong giới … không giới … Thức giới là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, và thức giới …”

IX. Giới (S.ii,248)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ðịa giới là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

3-7. − Thủy giới… Hỏa giới… Phong giới… Thức giới là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

8-9. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán địa giới, nhàm chán thủy giới, nhàm chán hỏa giới, nhàm chán phong giới, nhàm chán không giới, nhàm chán thức giới.

Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.10 Kinh Uẩn Khandhasutta

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Uẩn (aggregates / khandha / năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sinh) sắc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“… thọ … nhận thức … hành (choices / saṅkhārā / các hoạt động có chủ ý của thân, khẩu, ý) … Thức là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

"Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với sắc, thọ, nhận thức, hành, và thức. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. Khi tham ái phai nhạt, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

X. Uẩn (S.ii,249)

1. … Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

3-6. − Thọ… Tưởng… Hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …

7. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành, nhàm chán thức.

8. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Chương Hai

SN 18.11 Kinh Con Mắt, v.v. Cakkhusutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật ở gần Sāvatthī. Khi ấy, Tôn giả Rāhula đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Con mắt là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, thì nó là khổ hay vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để được xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“… tai … mũi … lưỡi … thân … Tâm là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, thì nó là khổ hay vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để được xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

"Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Do nhàm chán, tham ái phai nhạt. Khi tham ái phai nhạt, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

(Mười bài kinh trong loạt này nên được thuật lại đầy đủ theo cách tương tự.)

II. Phẩm Thứ Hai

I. Mắt (S.ii,249)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi Tôn giả Ràhula, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:

3. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

4. − Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

5. − Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

6-17. − Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

18. − Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

19. − Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

20. − Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử có trí nhàm chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán thân, nhàm chán ý.

22. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.12–20 Chín Kinh về Sắc Trần, v.v. Rūpādisuttanavaka

Tại Sāvatthī.

“Này Rāhula, con nghĩ sao? Sắc là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … “… âm thanh … mùi … vị … xúc chạm … pháp …”

“… nhãn thức … nhĩ thức … tỷ thức … thiệt thức … thân thức … ý thức …”

“… nhãn xúc … nhĩ xúc … tỷ xúc … thiệt xúc … thân xúc … ý xúc …”

“… thọ sinh ra từ nhãn xúc … thọ sinh ra từ nhĩ xúc … thọ sinh ra từ tỷ xúc … thọ sinh ra từ thiệt xúc … thọ sinh ra từ thân xúc … thọ sinh ra từ ý xúc …”

“… nhận thức về sắc … nhận thức về âm thanh … nhận thức về mùi … nhận thức về vị … nhận thức về xúc chạm … nhận thức về pháp …”

“… tư về sắc … tư về âm thanh … tư về mùi … tư về vị … tư về xúc chạm … tư về pháp …”

“… ái đối với sắc … ái đối với âm thanh … ái đối với mùi … ái đối với vị … ái đối với xúc chạm … ái đối với pháp …”

“… địa giới … thủy giới … hỏa giới … phong giới … không giới … thức giới …”

“… sắc … thọ … nhận thức … hành … Thức là thường còn hay vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” …

“Thấy vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’”

II. Sắc (S.ii,250)

1. Tại Sàvatthi.

2. − Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?

(2) Sắc:

− Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

(6-20. − Thanh… Hương… Vị… Xúc… Pháp…

III. Thức (S.ii,251)

(3-20. − Nhãn thức… Nhĩ thức… Tỷ thức… Thiệt thức… Thân thức… Ý thức…

IV. Xúc (S.ii,251)

(3-20. − Nhãn xúc… Nhĩ xúc… Tỷ xúc… Thiệt xúc… Thân xúc… Ý xúc…

V. Thọ (S.ii,251)

(3-20. − Thọ do nhãn xúc sanh… Thọ do nhĩ xúc sanh… Thọ do tỷ xúc sanh… Thọ do thiệt xúc sanh… Thọ do thân xúc sanh… Thọ do ý xúc sanh…

VI. Tưởng (S.ii,251)

(3-20. − Sắc tưởng… Thanh tưởng… Hương tưởng… Vị tưởng… Xúc tưởng… Pháp tưởng…

VII. Tư (S.ii,251)

(3-20. − Sắc tư… Thanh tư… Hương tư… Vị tư… Xúc tư… Pháp tư…

VIII. Ái (S.ii,251)

(3-20. − Sắc ái… Thanh ái… Hương ái… Vị ái… Xúc ái… Pháp ái…

IX. Giới (S.ii,251)

(3-20. − Ðịa giới… Thủy giới… Hỏa giới… Phong giới… Không giới… Thức giới…

X. Uẩn (S.ii,252)

(3-17. − Sắc… Thọ… Tưởng… Hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

(21-22. − Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 18.21 Kinh Tùy Miên Anusayasutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Rāhula đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để không còn cái tôi (I-making / sự tạo tác ‘cái tôi’), cái của tôi (mine-making / ngã sở tác sự tạo tác ‘cái của tôi’), hay kiêu ngạo ngầm (underlying tendency to conceit / mạn tùy miên / khuynh hướng ngấm ngầm của sự kiêu ngạo) đối với thân có thức này và tất cả các đối tượng bên ngoài?”

"Này Rāhula, một người thấy đúng sự thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Một người thấy đúng sự thật bất kỳ loại thọ … nhận thức … hành … thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để không còn sự tạo tác ‘cái tôi’, sự tạo tác ‘cái của tôi’, hay khuynh hướng ngấm ngầm của sự kiêu ngạo đối với thân có thức này và tất cả các đối tượng bên ngoài."

XI. Tùy Miên (Tạp, Ðại 2, 50c, Tạp, Ðại 2, 118c, S.22,91 Ràhula. Tạp, Ðại 2,55a) (S.ii,252)

1. … Tại Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, do biết thế nào, do thấy thế nào, trong thân có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?

4. − Này Ràhula, phàm sắc nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ nào… Phàm tưởng nào… Phàm hành nào… Phàm thức nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là : “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Này Ràhula, do biết như vậy, do thấy như vậy, trong thân có thức này với tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, không có ngã sở kiến, không có mạn tùy miên.

SN 18.22 Kinh Thoát Khỏi Kiêu Mạn Apagatasutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Rāhula đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘cái tôi’, sự tạo tác ‘cái của tôi’, và kiêu mạn đối với thân có thức này và tất cả các đối tượng bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, tâm trở nên an bình và được giải thoát tốt đẹp?”

"Này Rāhula, khi một người thấy đúng sự thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ (grasping / upādāna / sự bám víu, dính mắc).

Khi một người thấy đúng sự thật bất kỳ loại thọ … nhận thức … hành … Khi một người thấy đúng sự thật bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ.

Đó là cách để biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘cái tôi’, sự tạo tác ‘cái của tôi’, và kiêu mạn đối với thân có thức này và tất cả các đối tượng bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, tâm trở nên an bình và được giải thoát tốt đẹp."

XII. Viễn Ly (Tạp, Ðại 2, 50c. S.23,92 Ràhula) (Tạp, Ðại 2,b) (Tạp, Ðại 2, 119a). (S.ii,253)

1. … Tại Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly được ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, siêu việt mọi ngã mạn, tịch tịnh, giải thoát?

4. − Này Ràhula, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.

5. Này Ràhula, phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm hành gì… phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.

6. Này Ràhula, do biết như vậy, thấy như vậy, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt khỏi các ngã mạn, được tịch tịnh, giải thoát.

-ooOoo-