Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahāmoggallāna đang ở trên núi Linh Thứu. Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi đến chỗ Tôn giả Lakkhaṇa và nói: “Này Hiền giả Lakkhaṇa, chúng ta hãy vào thành Rājagaha để khất thực.”
“Vâng, thưa Hiền giả,” Tôn giả Lakkhaṇa đáp.
Khi Tôn giả Mahāmoggallāna đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ngài mỉm cười ở một nơi. Tôn giả Lakkhaṇa bèn hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna: “Do nhân gì, duyên gì mà Tôn giả Moggallāna mỉm cười?”
“Này Hiền giả Lakkhaṇa, đây không phải lúc để hỏi câu này. Hãy hỏi ta khi chúng ta đang ở trước sự hiện diện của Đức Phật.”
Sau đó, Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahāmoggallāna đi khất thực ở Rājagaha. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, họ đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:
“Vừa rồi, khi Tôn giả Mahāmoggallāna đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ngài đã mỉm cười ở một nơi. Do nhân gì, thưa Tôn giả Moggallāna, duyên gì mà ngài mỉm cười?”
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một bộ xương đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ, cào và đâm vào sườn nó trong khi nó kêu la đau đớn. Ta đã nghĩ rằng: ‘Ôi, thật kỳ diệu, thật phi thường thay! Lại có thể có một hữu tình (sentient being / chúng sinh có cảm giác), một cá thể, một thân phận như vậy!’”
Bấy giờ, Đức Phật nói với các vị Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, có những đệ tử sống với đầy đủ thắng trí (vision and knowledge / sự thấy biết vượt trội), vì một đệ tử biết, thấy và chứng kiến một sự việc như vậy.
Trước đây, Ta cũng đã thấy chúng sinh ấy, nhưng Ta đã không nói ra. Vì nếu Ta nói ra, những người khác sẽ không tin Ta, và điều đó sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ lâu dài cho họ.
Chúng sinh ấy từng là một người mổ bò ngay tại thành Rājagaha này. Do kết quả của việc làm đó, nó đã bị thiêu đốt trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Bây giờ nó đang trải nghiệm quả báo còn sót lại của việc làm đó trong một thân phận như vậy."
(Tất cả các bài kinh này đều được kể đầy đủ như thế này.)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
3. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
4. Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
− Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
− Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
5. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
6. Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
− Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
− Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
7. Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
8. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
− Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
9. − Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
10. − Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!”
11. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
− Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Thật sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
12. Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
13. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một miếng thịt đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi nó kêu la đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người mổ bò ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. …
2. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên tiếng kêu đau đớn.
3. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một cục thịt đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi nó kêu la đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người săn chim ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không… đau đớn.
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông bị lột da đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người mổ cừu ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả… tôi thấy một bị da… cắn mổ nó, cắt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn…
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này…
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có lông là những thanh kiếm đang bay trong không trung. Và những thanh kiếm đó liên tục mọc lên rồi đâm vào thân thể ông ta trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người mổ heo ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này…
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có lông là những ngọn giáo đang bay trong không trung. Và những ngọn giáo đó liên tục mọc lên rồi đâm vào thân thể ông ta trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người săn hươu ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có lông là những mũi tên đang bay trong không trung. Và những mũi tên đó liên tục mọc lên rồi đâm vào thân thể ông ta trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một đao phủ ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có lông là những cây kim đang bay trong không trung. Và những cây kim đó liên tục mọc lên rồi đâm vào thân thể ông ta trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một người truyền lệnh chiến tranh ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không…
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người điều phục các loài thú (xin đọc Sùto thế cho Sùcako của nguyên bản).
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có lông là những cây kim đang bay trong không trung. Những cây kim đâm vào đầu ông ta rồi xuyên ra miệng, đâm vào miệng rồi xuyên ra ngực, đâm vào ngực rồi xuyên ra bụng, đâm vào bụng rồi xuyên ra đùi, đâm vào đùi rồi xuyên ra bắp chân, và đâm vào bắp chân rồi xuyên ra bàn chân. Và ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một kẻ chỉ điểm ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
2. Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông có tinh hoàn to như những cái nồi đang bay trong không trung. Khi đi, ông ta phải vác tinh hoàn lên vai. Và khi ngồi xuống, ông ta ngồi ngay trên chúng. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi ông ta la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một vị quan tham nhũng ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái đang đi giữa hư không.
2. Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi. Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.
3. Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
4. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một phán quan ở Ràjagaha này.
Như vầy tôi nghe. Một thời gần thành Rājagaha tại Trúc Lâm …
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông bị nhấn chìm ngập đầu trong một hố phân. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một kẻ ngoại tình ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm). …,…
2. − Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với đầu chìm trong hố phân.
3. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thông dâm ở tại Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn ông bị nhấn chìm trong một hố phân, đang dùng cả hai tay để ăn phân. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một bà-la-môn xấu tính ngay tại thành Rājagaha này. Vào thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp), ông ta đã mời chúng Tăng đến dùng bữa. Ông ta đổ đầy phân vào một cái máng và nói: ‘Thưa các ngài, xin cứ ăn tùy thích, và mang về những gì còn lại.’ …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
2. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một Bà-la-môn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỷ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: “Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về!”
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người phụ nữ bị lột da đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi bà ta la hét đau đớn. …” …
“Người phụ nữ đó từng là một người phụ nữ ngoại tình ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không. Những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một người gian phụ ở Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người đàn bà hôi mùi cá đang bay trong không trung. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi bà ta la hét đau đớn. …” …
“Người phụ nữ đó từng là một thầy bói ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người phụ nữ hôi hám, xấu xí đang đi trên hư không. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Người phụ nữ ấy, này các Tỷ-kheo, là một người bói toán ở chính Ràjagaha này.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một người phụ nữ bị cháy sém, mình đầy bồ hóng và mồ hôi, đang bay trong không trung, trong khi bà ta la hét đau đớn. …” …
“Người phụ nữ đó từng là hoàng hậu của vua xứ Kaliṅga. Bà ta có tính ghen tuông, và đã đổ một lò than nóng lên người vợ thứ của vua. …” …
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không… Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2. Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một thân người không đầu đang bay trong không trung. Mắt và miệng của nó nằm trên ngực. Kền kền, quạ và diều hâu liên tục đuổi theo, mổ và cào cấu trong khi nó la hét đau đớn. …” …
“Chúng sinh ấy từng là một đao phủ tên là Hārika ngay tại thành Rājagaha này. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
2. Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một vị Tỷ kheo đang bay trong không trung. Y ngoài, bát, dây lưng và thân thể của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa và sáng chói trong khi vị ấy la hét đau đớn. …” …
“Vị Tỷ kheo đó từng là một Tỷ kheo xấu trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa. …”
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỷ-kheo đi giữa hư không.
2. Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
3. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Tỷ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa đang thuyết pháp.
“Ta đã thấy một vị Tỳ kheo ni đang bay trong không trung. Y ngoài của vị ấy đang bốc cháy …” …
“Vị ấy từng là một Tỳ kheo ni xấu …”
1. … tôi thấy một Tỷ-kheo-ni đi giữa hư không.
2. Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy đỏ.
3. … là một ác Tỷ-kheo-ni…
“Ta đã thấy một vị Thức xoa ma na đang bay trong không trung. Y ngoài của vị ấy đang bốc cháy …” …
“Vị ấy từng là một Thức xoa ma na xấu …”
1. … tôi thấy một học nữ đi giữa hư không.
2. Y tăng-già-lê của vị ấy bị cháy…
3. … là một ác học nữ…
“Ta đã thấy một vị Sa di đang bay trong không trung. Y ngoài của vị ấy đang bốc cháy …” …
“Vị ấy từng là một Sa di xấu …”
1. … tôi thấy một Sa-di đi giữa hư không…
2-3. Y Tăng-già-lê của vị ấy bị cháy… là một ác Sa-di.
“Này Hiền giả, vừa rồi, khi ta đang đi xuống từ núi Linh Thứu, ta đã thấy một vị Sa di ni đang bay trong không trung. Y ngoài, bát, dây lưng và thân thể của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa và sáng chói trong khi vị ấy la hét đau đớn. Ta đã nghĩ rằng: ‘Ôi, thật kỳ diệu, thật phi thường thay! Lại có thể có một hữu tình, một cá thể, một thân phận như vậy!’”
Bấy giờ, Đức Phật nói với các vị Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, có những đệ tử sống với đầy đủ thắng trí, vì một đệ tử biết, thấy và chứng kiến một sự việc như vậy.
Trước đây, Ta cũng đã thấy vị Sa di ni ấy, nhưng Ta đã không nói ra. Vì nếu Ta nói ra, những người khác sẽ không tin Ta, và điều đó sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ lâu dài cho họ.
Vị Sa di ni đó từng là một Sa di ni xấu trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa. Do kết quả của việc làm đó, vị ấy đã bị thiêu đốt trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Bây giờ vị ấy đang trải nghiệm quả báo còn sót lại của việc làm đó trong một thân phận như vậy."
1. Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.
2. Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
3. Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy”.
4. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
− Sống với như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Sống với như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
5. Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
6. Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
-ooOoo-