Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) trong Vườn cây Jeta (Kỳ-đà), gần thành Sāvatthī (Xá-vệ).
Tại đó, Đức Phật… đã nói:
"Này các Tỷ kheo, những cây kèo của một ngôi nhà một tầng đều hướng về nóc nhà và gặp nhau ở nóc nhà, và khi nóc nhà bị phá bỏ thì tất cả chúng cũng bị phá bỏ theo. Cũng vậy, tất cả các phẩm chất bất thiện đều bắt nguồn từ vô minh (ignorance / sự thiếu hiểu biết) và quy tụ về vô minh, và khi vô minh bị phá bỏ thì tất cả chúng cũng bị phá bỏ theo.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống tinh tấn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Ở đây, Thế Tôn nói như sau:
3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn cao, phàm có những cây kèo xa nào, tất cả chúng đều đi đến góc nhọn, đều quy tựa vào góc nhọn, đều châu đầu vào góc nhọn, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những bất thiện pháp nào, tất cả chúng đều lấy vô minh làm cội rễ, đều lấy vô minh làm điểm tựa, đều châu đầu vào vô minh, tất cả chúng đều đâm đầu vào một gốc.
5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta hãy sống không phóng dật”.
Tại thành Xá-vệ.
Bấy giờ, Đức Phật lấy một ít đất dưới móng tay và nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các vị nghĩ sao? Cái nào nhiều hơn: một ít đất dưới móng tay của Ta, hay quả đất vĩ đại này?”
“Bạch Thế Tôn, quả đất vĩ đại nhiều hơn rất nhiều. Một ít đất dưới móng tay của Ngài thật nhỏ bé. So với quả đất vĩ đại, nó không đáng kể, không thể so sánh, không bằng một phần nhỏ.”
"Cũng vậy, chúng sanh được tái sanh làm người thì ít, trong khi những chúng sanh không được tái sanh làm người thì nhiều.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống tinh tấn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và nói với các Tỷ-kheo:
3. − Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
4. − Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
5. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ sống không phóng dật”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
"Này các Tỷ kheo, những gia đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông thì dễ bị bọn cướp và trộm cắp tấn công. Cũng vậy, bất kỳ Tỷ kheo nào chưa phát triển và tu tập tâm giải thoát bằng tình thương thì dễ bị các loài phi nhân tấn công. Những gia đình có ít phụ nữ và nhiều đàn ông thì khó bị bọn cướp và trộm cắp tấn công. Cũng vậy, một Tỷ kheo đã phát triển và tu tập tâm giải thoát bằng tình thương thì khó bị các loài phi nhân tấn công.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng tình thương. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe kiên cố của mình, duy trì, củng cố và thực hành nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, những gia đình nào có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm ghè não hại.
3. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không tu tập từ tâm giải thoát, không làm cho sung mãn, thời vị ấy dễ bị phi nhân não hại.
4. − Ví như, này các Tỷ-kheo, những gia đình nào có ít phụ nữ và nhiều đàn ông, thời gia đình ấy khó bị các đạo tặc, trộm ghè não hại.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
"Này các Tỷ kheo, giả sử có người cúng dường một trăm nồi cơm vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Và có người khác phát triển tâm từ ái, dù chỉ trong khoảng thời gian vắt sữa một con bò cái. Việc sau sẽ mang lại nhiều quả phúc hơn.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng tình thương. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe kiên cố của mình, duy trì, củng cố và thực hành nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, ai vào buổi sáng bố thí một trăm cái nồi, ai buổi trưa bố thí một trăm cái nồi, hay ai buổi chiều bố thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi trưa chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, hay ai buổi chiều chỉ trong thời gian bóp vú sữa con bò một lần (trong nháy mắt), tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự việc trước, quả có lớn hơn.
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
"Này các Tỷ kheo, giả sử có một ngọn giáo sắc bén. Và một người đàn ông đến và nghĩ, ‘Với bàn tay hoặc nắm đấm của mình, ta sẽ gấp ngọn giáo sắc bén này lại, làm nó nhàu nát, và uốn cong nó lại!’
Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Người đàn ông đó có khả năng làm như vậy không?"
“Thưa không, bạch Thế Tôn. Tại sao không? Bởi vì không dễ để gấp ngọn giáo sắc bén đó lại, làm nó nhàu nát, và uốn cong nó lại bằng bàn tay hoặc nắm đấm. Người đó cuối cùng sẽ chỉ mệt mỏi và bực bội.”
"Cũng vậy, giả sử một Tỷ kheo đã phát triển tâm giải thoát bằng tình thương, đã tu tập nó, biến nó thành cỗ xe kiên cố, duy trì, củng cố và thực hành nó một cách đúng đắn. Nếu có loài phi nhân nào nghĩ rằng có thể khuất phục được tâm của vị ấy, thì cuối cùng chúng cũng sẽ chỉ mệt mỏi và bực bội.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng tình thương. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe kiên cố của mình, duy trì, củng cố và thực hành nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lao có lưỡi sắc bén. Rồi một người đến và nói: “Với tay hay với nắm tay, tôi sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại”.
3. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
4. Vì sao?
Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và bị não hại.
5. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.
6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
"Này các Tỷ kheo, giả sử có bốn cung thủ thiện xạ, được huấn luyện kỹ càng với những cây cung mạnh, đứng ở bốn phương. Và một người đàn ông đến và nghĩ, ‘Khi bốn cung thủ thiện xạ này bắn tên về bốn phương, ta sẽ bắt lấy chúng trước khi chúng chạm đất, và rồi ta sẽ mang chúng trở lại.’
Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Người đó có đủ tư cách để được gọi là ‘người có tốc độ phi thường, với tốc độ tối thượng’ không?"
“Nếu người đó có thể bắt được một mũi tên do chỉ một cung thủ thiện xạ bắn ra trước khi nó chạm đất và mang nó trở lại, thì người đó đã đủ tư cách để được gọi là ‘người có tốc độ phi thường, với tốc độ tối thượng’. Huống chi là những mũi tên do bốn cung thủ bắn ra!”
"Dù người đó nhanh đến đâu, mặt trời và mặt trăng còn nhanh hơn. Dù người đó nhanh đến đâu, dù mặt trời và mặt trăng nhanh đến đâu, và dù các vị trời chạy trước mặt trời và mặt trăng nhanh đến đâu, sự suy tàn của mạng sống còn nhanh hơn thế.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống tinh tấn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
3. Rồi một người đến và nói rằng: “Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật”.
4. − Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
5. − Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
6. − Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỷ-kheo là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ sống không phóng dật”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
"Ngày xưa, này các Tỷ kheo, người Dasāraha có một cái trống đất sét tên là Chỉ Huy. Mỗi khi trống Chỉ Huy bị nứt, họ lại sửa nó bằng cách đóng thêm một cái chốt khác. Nhưng rồi đến một lúc, vành gỗ ban đầu của cái trống Chỉ Huy đã biến mất và chỉ còn lại một khối toàn là chốt.
Cũng vậy, trong tương lai sẽ có những Tỷ kheo không muốn lắng nghe khi những bài kinh do Như Lai thuyết giảng—sâu sắc, thâm thúy, siêu việt, nói về tánh không (emptiness / trạng thái rỗng lặng, không có tự ngã cố hữu)—được tụng đọc. Họ sẽ không chủ động lắng nghe hay cố gắng để hiểu, cũng không cho rằng những lời dạy đó đáng để học hỏi và ghi nhớ.
Nhưng khi những bài kinh do các nhà thơ sáng tác—thơ ca, với những từ ngữ và câu cú hoa mỹ, do người ngoài sáng tác hoặc do các đệ tử nói—được tụng đọc, họ sẽ muốn lắng nghe. Họ sẽ chủ động lắng nghe và cố gắng để hiểu, và họ sẽ cho rằng những lời dạy đó đáng để học hỏi và ghi nhớ. Và đó là cách mà những bài kinh do Như Lai thuyết giảng—sâu sắc, thâm thúy, siêu việt, nói về tánh không—sẽ biến mất.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Khi những bài kinh do Như Lai thuyết giảng—sâu sắc, thâm thúy, siêu việt, nói về tánh không—được tụng đọc, chúng ta sẽ muốn lắng nghe. Chúng ta sẽ chủ động lắng nghe và cố gắng để hiểu, và chúng ta sẽ cho rằng những lời dạy đó đáng để học hỏi và ghi nhớ.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2.− Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasàrahà có một cái trống tên là Anaka.
3. Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dasàrahà đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian, này các Tỷ-kheo, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ tập lại.
4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.
5. Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
6. Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.
7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại Đại Lâm, trong ngôi giảng đường có mái nhọn, gần thành Vesālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỷ kheo, ngày nay người Licchavi sống dùng những khúc gỗ làm gối, và họ rèn luyện một cách siêng năng và nhiệt thành. Vua Ajātasattu (A-xà-thế) của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), con trai của công chúa xứ Videha, không tìm thấy điểm yếu, không có chỗ để tấn công. Nhưng trong tương lai, người Licchavi sẽ trở nên yếu đuối, với tay chân mềm mại và mỏng manh. Họ sẽ ngủ trên những chiếc giường êm ái với những chiếc gối lông vũ cho đến khi mặt trời mọc. Vua Ajātasattu của xứ Magadha, con trai của công chúa xứ Videha, sẽ tìm thấy điểm yếu, sẽ có chỗ để tấn công.
Ngày nay, các Tỷ kheo sống dùng những khúc gỗ làm gối, và họ thiền định một cách siêng năng và nhiệt thành. Ác ma Māra không tìm thấy điểm yếu, không có chỗ để tấn công. Nhưng trong tương lai, các Tỷ kheo sẽ trở nên yếu đuối, với tay chân mềm mại và mỏng manh. Họ sẽ ngủ trên những chiếc giường êm ái với những chiếc gối lông vũ cho đến khi mặt trời mọc. Ác ma Māra sẽ tìm thấy điểm yếu và sẽ có chỗ để tấn công.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống dùng những khúc gỗ làm gối, và chúng ta sẽ thiền định một cách siêng năng và nhiệt thành.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Mahàvana (Ðại Lâm), Kuutàgàrasàlà (Trùng Các giảng đường).
2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng bạch Thế Tôn”.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3. − Sống trên các gối rơm, này các Tỷ-kheo, là lối sống hiện nay của dân chúng Licchavi, không phóng dật, nhiệt tâm trong nhiệm vụ. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha không có được cơ hội, không có được đối tượng (để xâm lăng).
4. Trong tương lai, này các Tỷ-kheo, dân chúng Licchavi trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ajàtasattu, con bà Vedehi, vua nước Magadha, sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng (để xâm, lăng).
5. Sống trên các gối rơm, này các Tỷ-kheo, là nếp sống hiện nay của các Tỷ-kheo, không phóng dật, nhiệt tâm trong các nỗ lực. Ác ma không có cơ hội, không có đối tượng (để xâm lăng).
6. Trong tương lai, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo sẽ trở thành nhu nhược, tay chân mềm mỏng. Họ nằm trên những đồ nằm mềm mại. Họ ngủ cho đến mặt trời mọc trên những gối bông. Ác ma sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng (để xâm lăng).
7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ sống trên những gối rơm, không phóng dật, nhiệt tâm trong nỗ lực”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật trú tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika trong Vườn cây Jeta, gần thành Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỷ kheo trẻ tuổi nào đó đã đi thăm các gia đình quá thường xuyên.
Các Tỷ kheo nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đừng đi thăm các gia đình quá thường xuyên.”
Nhưng Tỷ kheo đó, khi được các Tỷ kheo khác góp ý, đã nói rằng: “Nhưng các vị Tỷ kheo lớn tuổi này nghĩ rằng họ có thể đi thăm các gia đình, vậy tại sao tôi lại không thể?”
Và rồi một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Đức Phật nói:
"Ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một cái hồ lớn trong rừng, với những con voi đầu đàn sống gần đó. Chúng lao xuống hồ và dùng vòi nhổ lên những củ sen. Chúng rửa sạch cho đến khi hết bùn đất trước khi nhai và nuốt. Điều đó tốt cho vẻ ngoài và sức mạnh của chúng, và sẽ không dẫn đến cái chết hay nỗi đau chết người.
Những con voi con, bắt chước những con voi đầu đàn to lớn, cũng lao xuống hồ và dùng vòi nhổ lên những củ sen. Nhưng chúng không rửa sạch, và khi còn dính bùn, chúng đã nhai và nuốt. Điều đó không tốt cho vẻ ngoài và sức mạnh của chúng, và dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.
Cũng vậy, có những vị Tỷ kheo lớn tuổi, vào buổi sáng, mặc y, mang bát và y, vào thị trấn hoặc làng để khất thực. Ở đó, họ thuyết giảng giáo pháp, và các cư sĩ thể hiện niềm tin của họ. Và khi nhận được vật phẩm, họ sử dụng chúng mà không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy được những nguy hại và hiểu rõ sự thoát ly. Điều đó tốt cho vẻ ngoài và sức mạnh của họ, và không dẫn đến cái chết hay nỗi đau chết người.
Các Tỷ kheo trẻ tuổi, bắt chước các Tỷ kheo lớn tuổi, vào buổi sáng, mặc y, mang bát và y, vào thị trấn hoặc làng để khất thực. Ở đó, họ thuyết giảng giáo pháp, và các cư sĩ thể hiện niềm tin của họ. Nhưng khi nhận được vật phẩm, họ sử dụng chúng trong sự trói buộc, say đắm, dính mắc, không thấy được những nguy hại, không hiểu rõ sự thoát ly. Điều đó không tốt cho vẻ ngoài và sức mạnh của họ, và dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Khi nhận được vật phẩm, chúng ta sẽ sử dụng chúng mà không bị trói buộc, không say đắm, không dính mắc, thấy được những nguy hại và hiểu rõ sự thoát ly.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. Tại ngôi vườn ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ, một vị tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy:
− Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ.
3. Ðược nói vậy, vị Tỷ-kheo ấy nói:
− Những Tỷ-kheo Trưởng lão này nghĩ rằng, họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?.
4. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… rồi ngồi xuống một bên.
5. Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, có người tân Tỷ-kheo đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ. Các Tỷ-kheo nói với Tỷ-kheo ấy: “Tôn giả chớ có đi đến các gia đình quá nhiều thì giờ”. Ðược các Tỷ-kheo nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói: “Những Trưởng lão Tỷ-kheo này nghĩ rằng họ có thể đi đến các gia đình. Sao không phải ta?”
6. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, gần một hồ nước lớn, tại một khu rừng, các con voi sống ở đấy. Chúng lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ và rễ sen, rửa chúng thật sạch, làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Nhờ vậy, các con voi ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
7. Ðược huấn luyện theo các con voi lớn ấy, này các Tỷ-kheo, các con voi trẻ và nhỏ lặn xuống hồ, lấy vòi nhổ lên các củ, rễ sen, không rửa chúng thật sạch, không làm cho chúng sạch bùn rồi ăn chúng. Do vậy, các con voi ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy những con voi đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây các Trưởng lão Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Tại đấy họ thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình với các vị ấy. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Nhờ vậy, các Tỷ-kheo ấy được dung sắc và sức mạnh, và không vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
9. Nhưng này các Tỷ-kheo, được huấn luyện theo các Trưởng lão Tỷ-kheo, các tân Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực.
10. Tại đấy, các vị thuyết pháp. Các gia chủ hoan hỷ làm bổn phận của mình. Các Tỷ-kheo ấy thọ dụng các lợi đắc, tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không hiểu sự xuất ly với trí tuệ. Do vậy, các vị Tỷ-kheo ấy không được dung sắc và sức mạnh, và vì nhân duyên ấy họ đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
11. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ thọ dụng các lợi đắc, không tham đắm, không say mê, không phạm tội, thấy những nguy hiểm, hiểu rõ sự xuất ly với trí tuệ”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
Bấy giờ, có một Tỷ kheo nào đó giao du với các gia đình quá thường xuyên.
Các Tỷ kheo nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đừng giao du với các gia đình quá thường xuyên.”
Nhưng Tỷ kheo đó, khi được các Tỷ kheo khác góp ý, đã không dừng lại.
Và rồi một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Đức Phật nói:
"Ngày xưa, này các Tỷ kheo, một con mèo đang đứng bên một con hẻm, một cống rãnh, hay một thùng rác để săn một con chuột nhắt, nghĩ rằng, ‘Khi con chuột nhắt đó ra ngoài kiếm ăn, ta sẽ bắt nó ngay tại đó và ăn thịt!’ Và rồi con chuột nhắt đó ra ngoài kiếm ăn. Con mèo bắt được nó và vội vàng nuốt chửng mà không nhai. Nhưng con chuột nhắt đó đã ăn ruột và màng ruột của nó, dẫn đến cái chết và nỗi đau chết người.
Cũng vậy, hãy xem một nhà sư nào đó, vào buổi sáng, mặc y, mang bát và y, vào làng hoặc thị trấn để khất thực mà không phòng hộ thân, khẩu, ý, không thiết lập chánh niệm, và không thu thúc các giác quan. Ở đó, vị ấy thấy một người phụ nữ ăn mặc hở hang, với quần áo khêu gợi. Tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan) xâm chiếm tâm trí vị ấy, dẫn đến cái chết hoặc nỗi đau chết người.
Vì đó là cái chết trong sự tu tập của bậc Thánh khi từ bỏ việc tu tập và quay trở lại đời sống thấp kém. Và đó là nỗi đau chết người khi phạm phải một trong những tội ô nhiễm có thể sám hối.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ vào làng hoặc thị trấn để khất thực với sự phòng hộ thân, khẩu, ý, thiết lập chánh niệm, và thu thúc các giác quan.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. Lúc bấy giờ có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”.
3. Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
4. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… và bạch Thế Tôn:
5. − Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”. Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
6. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có con mèo đứng rình con chuột bên cạnh một đống rác tại một ống cống và nghĩ rằng: “Nếu có một con chuột nhắt nào đi kiếm ăn chạy ra, ta sẽ bắt lấy và ăn thịt”.
7. Rồi này các Tỷ-kheo, có con chuột nhắt vì kiếm ăn chạy ra. Và con mèo ấy bắt lấy nó, mau chóng hành động (sankharirva) và nuốt nó. Và con chuột nhắt ấy cắn ruột, cắn phủ tạng con mèo. Do nhân duyên ấy, con mèo đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, một số Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
9. Ở đấy, các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo. Sau khi các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo, tham dục não hại tâm. Các vị ấy bị tham dục não hại tâm, đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
10. Ðây là sự chết, này các Tỷ-kheo, trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục. Ðây là đau khổ gần như chết, này các Tỷ-kheo, tức là sự vi phạm một uế tội, một tội phạm còn có thể tuyên bố xuất gỡ được.
11. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Phòng hộ thân, phòng hộ lời nói, phòng hộ tâm, an trú chánh niệm, chế ngự các căn, chúng tôi sẽ đi vào làng hay thị trấn để khất thực”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
“Này các Tỷ kheo, các vị có nghe thấy một con chó rừng già đang tru lên lúc rạng đông không?”
“Thưa có, bạch Thế Tôn.”
"Con chó rừng già đó mắc một căn bệnh gọi là ghẻ lở. Tuy vậy, nó vẫn đi đến nơi nó muốn, đứng ở nơi nó muốn, ngồi ở nơi nó muốn, và nằm ở nơi nó muốn. Và cơn gió mát vẫn thổi vào nó. Một người nào đó ở đây tự xưng là đi theo dòng họ Thích Ca mà được trải nghiệm một kiếp sống như vậy cũng đã là may mắn rồi.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống tinh tấn.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
3. − Ðó là con-giả can, này các Tỷ-kheo, bị mắc bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.
4. Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng huống tự ngã như vậy.
5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ không phóng dật”.
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tại thành Xá-vệ.
“Này các Tỷ kheo, các vị có nghe thấy một con chó rừng già đang tru lên lúc rạng đông không?”
“Thưa có, bạch Thế Tôn.”
"Có lẽ vẫn còn một chút lòng biết ơn và tri ân trong con chó rừng già đó, nhưng lại không có chút nào ở một người nào đó ở đây tự xưng là đi theo dòng họ Thích Ca.
Vì vậy, các vị nên rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống có lòng biết ơn và tri ân. Chúng ta sẽ không quên dù là một việc nhỏ nhất người khác đã làm cho mình.’ Đó là cách các vị nên rèn luyện."
1. … Trú ở Sàvatthi.
2. − Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can tru lớn tiếng?.
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
3. − Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm tạ!
4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút ít gì làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
-ooOoo-