Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Chư Tăng

21. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO

Chương về Chư Tăng

SN 21.1 Kinh Kolita (Với Tôn giả Kolita)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên (Mahāmoggallāna) gọi các Tỷ kheo: “Này các hiền giả, các Tỷ kheo!”

“Thưa hiền giả,” họ đáp lời.

Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói điều này:

"Vừa rồi, thưa các hiền giả, khi đang độc cư thiền định, tôi có suy nghĩ thế này: ‘Người ta nói về một thứ gọi là “thánh im lặng”. Vậy thánh im lặng là gì?’

Tôi nghĩ rằng: ‘Khi sự có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / hướng ý nghĩ về một đề tài và giữ sự quan sát đề tài đó) đã được lắng dịu, một Tỷ kheo nhập và an trú vào thiền thứ hai, một trạng thái có hân hoan (rapture / sự hân hoan) và hạnh phúc (bliss / sự hạnh phúc) sinh ra từ định, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ ( without placing the mind and keeping it connected. / không hướng ý nghĩ về đề tài nào và chỉ im lặng để quan sát). Đây được gọi là thánh im lặng (noble silence / sự im lặng của bậc thánh).’

Và thế là, khi sự có tầm có tứ đã lắng dịu, tôi đã nhập và an trú vào thiền thứ hai, một trạng thái có niềm vui và an ổn sinh ra từ định, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ.

Trong khi tôi đang ở trong thiền định đó, nhận thức và sự tập trung đi kèm với tầm đã khởi lên làm phiền tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Moggallāna, Moggallāna! Đừng sao nhãng sự thánh im lặng, này Bà la môn! Hãy an định tâm con trong sự thánh im lặng; hãy hợp nhất tâm con và đưa nó vào định trong sự thánh im lặng.’

Và thế là, sau một thời gian, khi sự có tầm có tứ đã lắng dịu, tôi đã nhập và an trú vào thiền thứ hai…

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một người đệ tử đã đạt được thắng trí (direct knowledge / sự hiểu biết siêu việt) vĩ đại với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

I. Kolita (Tạp, Ðại 2, 132a) (S.ii,273)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Tại đấy, Tôn giả Mahà Moggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.

3. Tôn giả Mahà Moggallàna nói:

− Ở đây, này Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Thánh im lặng được gọi là Thánh im lặng. Thế nào là Thánh im lặng?”

4. Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm”. Như vậy gọi là Thánh im lặng.

5. Rồi này các Hiền giả, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Hiền giả, khi tôi an trú với sự an trú như vậy, các tưởng câu hữu với tầm, các tác ý hiện khởi và hiện hành.

6. Rồi này các Hiền giả, Thế Tôn bằng thần thông đến với tôi và nói: “Moggallàna, Moggallàna, chớ có phóng dật. Này Bà-la-môn, đối với Thánh im lặng, hãy an trú tâm vào Thánh im lặng, hãy chú nhất tâm vào Thánh im lặng, hãy chú định tâm vào Thánh im lặng”.

7. Rồi này các Hiền giả, sau một thời gian, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú vào Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Này các Hiền giả, nếu ai nói một cách chơn chánh, sẽ nói như sau: “Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí”. Người ấy nói một cách chơn chánh, sẽ nói về tôi: “Ðược bậc Ðạo Sư hỗ trợ, vị đệ tử chứng đạt đại thắng trí”.

SN 21.2 Kinh Upatissa (Với Tôn giả Upatissa)

Tại Sāvatthī.

Tại đó, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) gọi các Tỷ kheo: “Này các hiền giả, các Tỷ kheo!”

“Thưa hiền giả,” họ đáp lời. Tôn giả Xá Lợi Phất nói điều này:

“Vừa rồi, thưa các hiền giả, khi đang độc cư thiền định, con có suy nghĩ thế này: ‘Liệu có điều gì trên thế gian này mà sự tàn hoại và biến mất của nó sẽ làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ta không?’ Con nhận ra rằng: ‘Không có điều gì trên thế gian này mà sự tàn hoại và biến mất của nó sẽ làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ta.’”

Khi ngài nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với ngài: “Ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất ư? Điều đó sẽ không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong hiền giả sao?”

“Ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất, điều đó cũng sẽ không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong tôi. Tuy nhiên, tôi sẽ nghĩ rằng: ‘Than ôi, Bậc Đạo Sư lừng lẫy, thật hùng mạnh và oai đức, đã biến mất! Nếu Đức Phật còn tại thế lâu dài, điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc cho dân chúng, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.’”

“Hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn tùy miên (I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit / sự tạo ra ‘cái tôi’, ‘cái của tôi’, và khuynh hướng ngã mạn ngủ ngầm). Vì vậy, ngay cả khi Bậc Đạo Sư tàn hoại và biến mất, điều đó cũng không làm khởi sinh sầu, bi, khổ, ưu, não trong ngài.”

II. Upatissa… (S.ii,274)

1. Nhơn duyên ở Sàvatthi.

2. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

3. Tôn giả Sàriputta nói:

− Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?”.

Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ: “Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta, sầu bi khổ ưu não”.

4. Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta:

− Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Sàriputta, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, não.

5. − Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Ananda, khi bị biến hoại, trạng thái đổi khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu bi khổ ưu não. Nhưng ta có thể suy nghĩ: “Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.

6. − Như vậy đối với Tôn giả Sàriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên được khéo đoạn trừ đã lâu ngày.

7. Do vậy, đối với Tôn giả Sàriputta, dầu cho bậc Ðạo Sư có biến hoại, trạng huống có đổi khác, cũng không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

SN 21.3 Kinh Đống Muối (Ghaṭasutta)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên đang trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Vào buổi chiều muộn, Tôn giả Xá Lợi Phất ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Mục Kiền Liên và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật xong, Tôn giả Xá Lợi Phất ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Đại Mục Kiền Liên:

“Thưa hiền giả Moggallāna, các căn của hiền giả thật trong sáng, và sắc diện của hiền giả thật thanh tịnh và rạng rỡ. Có phải hiền giả đã trải qua một ngày trong một pháp thiền an tịnh không?”

“Thưa hiền giả, tôi đã trải qua một ngày trong một pháp thiền thô thiển. Nhưng tôi đã có một buổi pháp đàm.”

“Hiền giả đã pháp đàm với ai vậy?”

“Với Đức Phật.”

“Nhưng thưa hiền giả, Đức Phật đang ở rất xa. Ngài đang trú gần Sāvatthī trong vườn của ông Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Có phải hiền giả đã đến gặp Ngài bằng thần thông, hay Ngài đã đến gặp hiền giả?”

“Không thưa hiền giả, tôi không đến gặp Ngài bằng thần thông, và Ngài cũng không đến gặp tôi. Thay vào đó, Đức Phật đã hướng thiên nhãn (clairvoyance / con mắt thấy được các cõi khác) và thiên nhĩ (clairaudience / tai nghe được các cõi khác) của Ngài về phía tôi, và tôi cũng hướng thiên nhãn và thiên nhĩ của mình về phía Ngài.”

“Nhưng hai vị đã pháp đàm về điều gì?”

"Thưa hiền giả, tôi đã bạch với Đức Phật: ‘Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người tinh tấn. Một người tinh tấn được định nghĩa như thế nào?’

Khi tôi nói vậy, Đức Phật dạy: ‘Này Moggallāna, đó là khi một Tỷ kheo sống với nghị lực được khơi dậy: “Cứ để da, gân, và xương còn lại! Cứ để thịt và máu trong thân ta khô héo đi! Ta sẽ không ngừng nỗ lực cho đến khi đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, nghị lực, và sự bền bỉ của con người.” Đó là cách một người được gọi là tinh tấn.’

Đó là buổi pháp đàm mà tôi đã có với Đức Phật."

“Thưa hiền giả, bên cạnh Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôi chỉ như vài viên sỏi bên cạnh dãy Himalaya, vua của các loài núi. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên thật hùng mạnh và oai đức, nếu muốn, ngài có thể sống trọn vẹn tuổi thọ.”

"Thưa hiền giả, bên cạnh Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi chỉ như vài hạt muối bên cạnh một đống muối. Tôn giả Xá Lợi Phất đã được Đức Phật tán thán, khen ngợi và ca tụng:

‘Xá Lợi Phất đầy trí tuệ,
giới đức, và an tịnh.
Ngay cả một Tỷ kheo đã vượt qua bờ kia
cũng chỉ có thể sánh bằng ngài mà thôi.’"

Và thế là hai bậc đại long tượng này đã đồng tình với những lời hay ý đẹp của nhau.

III. Cái Ghè (Tạp 18-14 Tịch Diệt, Ðại 2, 132c) (S.ii,275)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta và Tôn giả Mahà Moggallàna cùng ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, chung một tịnh xá.

3. Rồi Tôn giả Sàriputta, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu bèn ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:

− Này Hiền giả Moggallàna, các căn của Hiền giả thật là tịch tịnh; sắc mặt thật là thanh tịnh, trong sáng. Có phải hôm nay Tôn giả Mahà Moggallàna an trú với sự an trú tịnh lạc?

− Thưa Hiền giả, hôm nay tôi an trú với sự an trú thô thiển. Tôi có được một cuộc pháp thoại.

5. − Với ai, Tôn giả Mahà Moggallàna có được một cuộc đàm luận về Chánh pháp?

− Thưa Hiền giả, tôi có một cuộc pháp thoại với Thế Tôn.

6. − Ở xa, thưa Hiền giả, là Thế Tôn. Hiện nay Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Có phải Tôn giả Mahà Moggallàna đi đến Thế Tôn bằng thần thông hay Thế Tôn đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna bằng thần thông?

7. − Thưa Hiền giả, tôi không đi đến Thế Tôn bằng thần thông. Và Thế Tôn cũng không đi đến tôi bằng thần thông. Tôi như thế nào thời Thế Tôn được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy! Thế Tôn như thế nào thời tôi được thiên nhãn thanh tịnh, cả thiên nhĩ nữa như vậy.

8. − Như thế nào là cuộc pháp thoại giữa Tôn giả Mahà Moggallàna với Thế Tôn?

9. − Ở đây, thưa Hiền giả, tôi bạch với Thế Tôn:

“− Bạch Thế Tôn ở đây tinh cần, tinh tấn, được gọi là tinh cần, tinh tấn. Như thế nào bạch Thế Tôn là tinh cần, tinh tấn?”.

10. Khi được nói vậy, thưa Hiền giả, Thế Tôn nói với tôi:

“− Ở đây, này Moggallàna, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn: ‘Dầu cho da, dây gân và xương có khô héo, dầu thịt và máu có héo tàn trên thân tôi, cái gì có thể lấy sức lực của người, tinh tấn của người, nỗ lực của người có thể đạt được; nếu chưa đạt được, thời tinh tấn sẽ không bao giờ dừng nghỉ’. Như vậy, này Moggallàna, là sự tinh cần, tinh tấn”.

11. Như vậy, này Hiền giả, là cuộc pháp thoại giữa Thế Tôn và tôi.

12. Ví như, này Hiền giả, một đống hòn sạn nhỏ đem đặt dài theo Hy-mã-lạp sơn, vua các loài núi. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Mahà Moggallàna. Mong rằng Tôn giả Mahà Moggallàna, bậc đại thần thông, đại uy lực, nếu muốn hãy sống cho đến một kiếp.

13. Ví như, này Hiền giả, một nắm muối nhỏ được đem đặt dài theo một ghè muối lớn. Cũng vậy, là chúng tôi được đem đặt dài theo Tôn giả Sàriputta.

14. Tôn giả Sàriputta được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện xưng tán, tán thán, tán dương:

Như vị Xá-lợi-phất,
Về trí tuệ, giới luật,
Và cả về tịch tịnh,
Ông là bậc đệ nhất.
Tỷ-kheo đạt bỉ ngạn,
Cũng là bậc tối thượng.

15. Như vậy, hai bậc Long Tượng ấy (Nàgà) cùng nhau hoan hỷ, tán thán trong câu chuyện khéo nói, khéo thuyết.

SN 21.4 Kinh Vị Tỷ Kheo Trẻ (Navasutta)

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo trẻ, sau bữa ăn, khi đi khất thực về, đã vào trú xứ của mình, nơi vị ấy chỉ giữ sự thụ động và im lặng. Và vị ấy không giúp các Tỷ kheo khác khi đến lúc may y. Sau đó, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

Đức Phật bèn gọi một vị Tỷ kheo: “Này Tỷ kheo, hãy nhân danh ta nói với vị Tỷ kheo kia rằng Bậc Đạo Sư cho gọi.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tỷ kheo đó đáp lời. Vị ấy đến gặp vị Tỷ kheo kia và nói: “Thưa hiền giả, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.”

“Vâng, thưa hiền giả,” vị Tỷ kheo kia đáp lời. Vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với vị ấy:

“Có thật không, này Tỷ kheo, rằng sau bữa ăn, khi đi khất thực về, con đã vào trú xứ của mình, nơi con chỉ giữ sự thụ động và im lặng, và con đã không giúp các Tỷ kheo khác khi đến lúc may y?”

“Bạch Thế Tôn, con đang làm công việc của riêng mình.”

Khi ấy, Đức Phật, biết được dòng suy nghĩ của vị Tỷ kheo đó, đã nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, đừng phàn nàn về vị Tỷ kheo này. Vị Tỷ kheo này chứng được bốn tầng thiền—những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm trí được rèn luyện ở mức độ cao)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn hay trở ngại. Vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này, và sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Không phải bằng sự biếng nhác,
hay với chút sức mọn
mà chứng được Niết bàn (extinguishment / sự dập tắt, giải thoát khỏi mọi khổ đau),
sự giải thoát khỏi mọi khổ đau.

Vị Tỷ kheo trẻ này,
bậc tối thượng trong nhân loại,
mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương (Māra / hiện thân của sự cám dỗ và cái chết) và đoàn tùy tùng."

IV. Tân Tỷ Kheo (Ðại 2, 277c, 376a) (S.ii,277)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, yên lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.

3. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì) không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.

5. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

− Hãy đến, này Tỷ-kheo, nhân danh Ta, hãy gọi Tỷ-kheo ấy và nói: “Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.

6. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tỷ-kheo kia; sau khi đến nói với Tỷ-kheo ấy:

− Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

7. − Thưa vâng, này Hiền giả.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tỷ-kheo kia, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:

− Có thật chăng, này Tỷ-kheo, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, sau khi vào tịnh xá, Ông rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y?

− Bạch Thế Tôn, con làm việc của con.

9. Rồi Thế Tôn, với tâm của mình biết tâm Tỷ-kheo ấy, liền gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông chớ có bực phiền với Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này chứng được không có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không phiền phức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú. Vị ấy còn tự mình ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

10. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Kẻ sống buông thả này,
Kẻ ít nghị lực này,
Không thể đạt Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
Vị Tỷ-kheo trẻ này,
Là một người tối thượng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.

SN 21.5 Kinh Sujāta (Với Tôn giả Sujāta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Sujāta đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: “Vị thiện nam tử này đẹp cả hai phương diện. Vị ấy có ngoại hình thu hút, ưa nhìn, đáng mến, với vẻ đẹp vượt trội. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Vị Tỷ kheo này thật sự đẹp.
Tâm ngài chân thật,
không bị ràng buộc, không vướng mắc,
đạt được sự an tịnh do không còn chấp thủ.
Ngài mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng.”

V. Thiện Sanh (Tạp, Ðại 2, 276a, 374a) (S.ii,278)

1. Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Sujàta đi đến Thế Tôn.

3. Thế Tôn thấy Tôn giả Sujàta từ đằng xa đi đến; thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:

4. − Cả hai phương diện, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này thật sự chói sáng. Vị ấy đẹp trai, ưa nhìn, khả ái, đầy đủ với nhan sắc tối thượng. Vị ấy còn ngay trong hiện tại tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

5. Thế Tôn nói như vậy xong… Bậc Ðạo Sư, lại nói thêm:

Tỷ-kheo này sáng chói,
Với tâm tư chánh trực,
Ly kiết sử, ly ách,
Không chấp, không sanh lại,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.

SN 21.6 Kinh Lakuṇḍaka Bhaddiya (Với Tôn giả Bhaddiya Lùn)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Bhaddiya Lùn đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các con có thấy vị Tỷ kheo đang đến kia không—xấu xí, khó coi, dị dạng, và bị các Tỷ kheo khác coi thường?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà vị ấy chưa đạt được. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Ngỗng, diệc, và công,
voi và hươu sao—
dù thân hình không bằng nhau,
tất cả đều sợ sư tử.

Con người cũng vậy—
nếu một người nhỏ bé mà có trí tuệ,
họ mới thực sự là người vĩ đại,
chứ không phải kẻ ngốc có thân hình đẹp."

VI. Bhaddi (Tạp 38.2, Ố Sắc, Ðại 2, 276a, 374a) (S.ii,279)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi đến Thế Tôn.

3. Thế Tôn thấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya từ xa đi đến; sau khi thấy, liền gọi các Tỷ-kheo:

4. − Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kia đang đi đến, xấu xí, khó nhìn, còm lưng, bị các Tỷ-kheo khinh miệt?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

5. − Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa đắc. Và cả đến mục đích mà con một lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Tức vị ấy còn tự mình, ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

6. Thế Tôn thuyết như vậy, Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Thiên nga, cò, chim, công,
Voi và nai có chấm,
Tất cả sợ sư tử,
Dầu thân không đồng đều.
Cũng vậy, giữa loài Người,
Nếu kẻ có trí tuệ,
Ở đấy vị ấy lớn,

Không như thân kẻ ngu.

SN 21.7 Kinh Visākha (Với Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli)

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli, đang giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại. Lời của ngài trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc, thể hiện được ý nghĩa, đầy đủ và không phụ thuộc.

Vào buổi chiều muộn, Đức Phật ra khỏi nơi độc cư và đi đến giảng đường. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn và nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, ai đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại vậy?”

“Bạch Thế Tôn, đó là Tôn giả Visākha, con trai của Pañcāli.”

Khi ấy, Đức Phật nói với Visākha:

“Lành thay, lành thay, Visākha! Thật tốt khi con giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy và truyền cảm hứng cho các Tỷ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại, với những lời trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc, thể hiện được ý nghĩa, đầy đủ và không phụ thuộc.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Dù một người sáng suốt ở giữa những kẻ ngu si,
họ sẽ không biết nếu người ấy không nói.
Nhưng khi người ấy nói, họ sẽ biết,
người ấy đang dạy về trạng thái bất tử.

Người ấy nên nói và minh họa giáo pháp,
giương cao ngọn cờ của các bậc hiền triết.
Lời nói hay là ngọn cờ của các bậc hiền triết,
vì giáo pháp chính là ngọn cờ của các bậc hiền triết."

VII. Visàkha (Tạp, 38.8, Ban Xà Văn, Ðại 2, 277b,377c) (S.ii,280)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), tại Mahàvana (Ðại Lâm) chỗ Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla, trong giảng đường đang thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.

3. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

4. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, trong hội trường, ai đã thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước?

5. − Bạch Thế Tôn, Tôn giả Visàkha thuộc dòng họ Pancàla, trong hội trường thuyết giảng pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với những lời lễ độ, thân hữu, không phun nước miếng, giải thích nghĩa lý, thích hợp, không chấp trước.

6. Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Visàkha, thuộc dòng họ Pancàla và nói:

− Lành thay, lành thay, Visàkha! Lành thay, này Visàkha! Ông thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ… không chấp trước.

7. Thế Tôn thuyết như vậy, bậc Thiện Thệ thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Họ biết bậc Hiền triết,
Khi vị này lẫn lộn,
Với các kẻ ngu si,
Dầu vị này không nói.
Và họ biết vị ấy,
Khi vị này nói lên,
Nói lên lời thuyết giảng,
Liên hệ đến bất tử;
Hãy để vị ấy nói,
Làm sáng chói Chánh pháp;
Hãy để vị nêu cao
Lá cờ các bậc Thánh.
Lá cờ bậc Hiền Thánh,
Là những lời khéo nói,
Lá cờ bậc Hiền Thánh,
Chính là lời Chánh pháp.

SN 21.8 Kinh Nanda (Với Tôn giả Nanda)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Nanda—em họ của Đức Phật về phía mẹ—mặc y được là ủi phẳng phiu, kẻ mắt, và mang một chiếc bát đen bóng loáng. Ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

“Này Nanda, là một thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin từ đời sống thế tục, con không nên mặc y được là ủi phẳng phiu, kẻ mắt, và mang một chiếc bát đen bóng loáng. Điều phù hợp với con là sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo (rag robes / y làm từ vải vụn nhặt được), và sống không bận tâm đến các thú vui giác quan.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Khi nào Ta sẽ thấy Nanda
trong rừng, mặc y phấn tảo,
sống bằng những mẩu thức ăn người lạ cúng dường,
không bận tâm đến các thú vui giác quan?”

Sau đó một thời gian, Tôn giả Nanda đã sống trong rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, và sống không bận tâm đến các thú vui giác quan.

VIII. Nanda (Ðại, 2, 277a, 375a) (S.ii,281)

1. Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Nanda, con di mẫu của Phật, đắp những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ mắt, cầm bát sáng chói, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi xuống một bên:

3. − Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại mang những y khéo ủi, khéo là, bôi vẽ con mắt và mang bát sáng chói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Nanda, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là sống trong rừng, sống đi khất thực, sống mặc áo phấn tảo, và sống không mong đợi các dục vọng.

4. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ta mong được nhìn thấy,
Nanda sống trong rừng,
Mặc áo phấn tảo y,
Sống với những đồ ăn,
Biết là đã vứt bỏ,
Không mong chờ dục vọng.

5. Rồi Tôn giả Nanda, sau một thời gian, trở thành một vị sống trong rừng, ăn đồ ăn khất thực, mang y phấn tảo, không mong đợi các dục vọng.

SN 21.9 Kinh Tissa (Với Tôn giả Tissa)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Tissa—em họ của Đức Phật về phía cha—đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Ngài trông khổ sở và buồn bã, nước mắt lưng tròng. Đức Phật bèn nói với ngài:

“Này Tissa, tại sao con lại ngồi đó khổ sở và buồn bã, nước mắt lưng tròng vậy?”

“Bạch Thế Tôn, đó là vì các Tỷ kheo vây quanh con từ mọi phía để chế nhạo và giễu cợt.”

“Đó là vì con sách tấn người khác, nhưng lại không chấp nhận sự sách tấn. Là một thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin từ đời sống thế tục, con không nên sách tấn người khác mà không chấp nhận sự sách tấn. Điều phù hợp với con là sách tấn người khác và chấp nhận sự sách tấn.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Tại sao con tức giận? Đừng tức giận!
Không tức giận thì tốt hơn, này Tissa.
Vì đời sống phạm hạnh này được sống
để loại bỏ sự tức giận, ngã mạn, và sự miệt thị.”

IX. Tissa (Tạp 38.7, Oa? Sư, Ðại 2,277b, 375b. (S.ii,281)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Tissa, cháu của phụ vương Thế Tôn đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy.

3. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa:

− Này Tissa, vì sao Ông ngồi khổ đau, sầu muộn, nước mắt tuôn chảy?

4. − Vì rằng, bạch Thế Tôn, các vị Tỷ-kheo nhất loạt mắng nhiếc và nhạo báng con.

5. − Vì rằng, này Tissa, Ông nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói.

6. Như vậy không xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại nói tất cả và không kham nhẫn người khác nói. Như vậy là xứng đáng cho Ông, này Tissa, là con một lương gia, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là đã nói lời kham nhẫn người khác nói.

7. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Sao Ông lại phẫn nộ?
Chớ có nên phẫn nộ,
Không phẫn nộ, Tissa,

Thật tốt đẹp cho Ông.
Hãy nhiếp phục phẫn nộ,
Kiêu mạn và xan tham,
Hỡi Tissa, hãy sống,
Sống đời sống Phạm hạnh.

SN 21.10 Kinh Vị Tỷ Kheo Tên Thera (Theranāmakasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo tên là Thera (Trưởng lão). Vị ấy sống một mình và tán thán việc sống một mình. Vị ấy vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi thiền riêng một mình, và chuyên tâm kinh hành một mình.

Sau đó, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, có một vị Tỷ kheo tên là Thera sống một mình và tán thán việc sống một mình.”

Đức Phật bèn gọi một vị Tỷ kheo: “Này Tỷ kheo, hãy nhân danh ta nói với Tỷ kheo Thera rằng Bậc Đạo Sư cho gọi.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tỷ kheo đó đáp lời. Vị ấy đến gặp Tôn giả Thera và nói: “Thưa hiền giả Thera, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.”

“Vâng, thưa hiền giả,” vị Tỷ kheo kia đáp lời. Vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với vị ấy:

“Có thật không, này Thera, rằng con sống một mình và tán thán việc sống một mình?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng con sống một mình và tán thán việc sống một mình theo cách nào?”

“Bạch Thế Tôn, con vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi thiền riêng một mình, và chuyên tâm kinh hành một mình. Đó là cách con sống một mình và tán thán việc sống một mình.”

“Đó là một kiểu sống một mình, Ta không phủ nhận. Nhưng về cách sống một mình được viên mãn một cách chi tiết, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị ấy đáp.

“Và này Thera, làm thế nào để việc sống một mình được viên mãn một cách chi tiết? Đó là khi những gì thuộc về quá khứ đã được từ bỏ, những gì thuộc về tương lai đã được buông xả, và lòng ham muốn và tham lam đối với các kiếp sống hiện tại đã được loại bỏ. Đó là cách sống một mình được viên mãn một cách chi tiết.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Bậc toàn thắng, bậc toàn giác, thật vô cùng trí tuệ,
không bị vấy bẩn giữa vạn pháp.
Ngài đã từ bỏ tất cả, giải thoát trong sự đoạn tận của ái dục:
Ta tuyên bố người ấy là người sống một mình.”

X. Tên Trưởng Lão (Tạp 38.19, Trưởng Lão, Ðại 2, 278a, 376b) (S.ii,282)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ một Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú. Vị ấy đi vào làng khất thực một mình, đi về một mình, ngồi vắng lặng một mình, đi kinh hành một mình.

3. Rồi các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo tên là Theranàmaka sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú… đi kinh hành một mình.

5. Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

− Này Tỷ-kheo, hãy đến, hãy nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Thera: “Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến Tỷ-kheo Thera.

6. Sau khi đến, Tỷ-kheo ấy nói với Tỷ-kheo Thera:

− Này Hiền giả Thera, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Thera vâng đáp Tỷ-kheo ấy và đi đến Thế Tôn.

7. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

8. Thế Tôn nói với Tôn giả Thera đang ngồi một bên:

− Có thật chăng, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh độc trú?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

9. − Như thế nào, này Thera, Ông sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú?

10. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi vào làng khất thực một mình, con đi về một mình, con ngồi vắng lặng một mình, con đi kinh hành một mình. Như vậy, bạch Thế Tôn, con sống độc trú và tán thán hạnh sống độc trú.

11. − Ðấy là sống độc trú, này Thera, Ta không nói đấy không phải vậy. Này Thera, có một cách làm viên mãn độc trú với các chi tiết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

12. − Này Thera, thế nào là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết? Ở đây, này Thera, cái gì đã qua được đoạn tận; cái gì sắp đến được từ bỏ; đối với những tự ngã, lợi đắc hiện tại, dục tham được khéo nhiếp phục. Như vậy, này Thera, là độc trú được làm viên mãn với các chi tiết.

13. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai chiến thắng tất cả,
Ai hiểu biết tất cả,
Ai là bậc Thiện trí,
Mọi pháp không ô nhiễm.
Ai từ bỏ tất cả,
Ái tận được giải thoát,
Ta nói chính người ấy,
Thật là vị độc trú.

SN 21.11 Kinh Mahākappina (Với Tôn giả Mahākappina)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tôn giả Mahākappina đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy ngài từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các con có thấy vị Tỷ kheo đang đến kia không—da trắng, người gầy, mũi cao?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà vị ấy chưa đạt được. Và vị ấy đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Giai cấp quý tộc là cao quý nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu minh và hạnh
là cao quý nhất giữa chư thiên và loài người.

Mặt trời rực rỡ ban ngày,
mặt trăng tỏa sáng ban đêm,
người quý tộc sáng ngời trong áo giáp,
và người Bà la môn sáng ngời trong thiền định.
Nhưng suốt cả ngày lẫn đêm,
Đức Phật tỏa sáng với vinh quang."

XI. Kappina (S.ii,284)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.

3. Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.

4. Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:

− Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

5. − Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

6. Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Sát-lỵ là tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh,
Với những ai nương tựa,
Vào vấn đề giai cấp.
Bậc Minh Hạnh cụ túc,
Tối thượng giữa Trời, Người,

Ngày, mặt trời chói sáng,
Ðêm, mặt trăng chói sáng,
Trong tấm áo chiến bào,
Sát-lỵ được chói sáng.
Trong Thiền định, Thiền tri,
Bà-là-môn chói sáng,
Nhưng suốt cả đêm ngày,
Phật chói sáng hào quang.

SN 21.12 Kinh Những Người Bạn Đồng Hành (Sahāyakasutta)

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, hai vị Tỷ kheo là bạn đồng hành, là đệ tử của Tôn giả Mahākappina, đến yết kiến Đức Phật.

Đức Phật thấy họ từ xa đi tới và nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các con có thấy hai vị Tỷ kheo đang đến kia không, họ là bạn đồng hành, là đệ tử của Tôn giả Mahākappina?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Hai vị Tỷ kheo đó rất hùng mạnh và oai đức. Không dễ gì tìm được một thành tựu nào mà họ chưa đạt được. Và họ đã chứng ngộ mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Họ sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Hai Tỷ kheo bạn đồng hành này
đã ở bên nhau từ lâu.
Chánh pháp đã gắn kết họ lại,
giáo pháp do Đức Phật tuyên thuyết.

Họ đã được Tôn giả Kappina huấn luyện thuần thục
trong giáo pháp do Bậc Thánh tuyên thuyết.
Họ mang thân cuối cùng này,
đã chiến thắng Ma vương và đoàn tùy tùng."

XII. Thân Hữu (S.ii,285)

1. … Trú ở Sàvatthi.

2. Rồi hai Tỷ-kheo thân hữu, đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina, đi đến Thế Tôn.

3. Thế Tôn thấy hai Tỷ-kheo ấy từ đàng xa đi đến.

4. Thấy vậy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:

− Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, hai Tỷ-kheo thân hữu ấy đang đi tới, cả hai là đệ tử của Tôn giả Mahà Kappina?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

5. − Hai Tỷ-kheo ấy có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia những Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Các vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đắc và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

6. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Tỷ-kheo thân hữu này,
Lâu ngày cùng chung sống,
Chung sống trong diệu pháp,
Diệu pháp, Phật thuyết giảng.
Tôn giả Kappina
Khéo léo huấn luyện họ,
Trong Chánh pháp vi diệu,
Do bậc Thánh thuyết giảng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.

[HẾT TẬP II - TƯƠNG ƯNG BỘ]

-ooOoo-

TẬP III: THIÊN UẨN