Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Uẩn

Năm mươi kinh đầu

22. TƯƠNG ƯNG UẨN

A. Năm Mươi Kinh Căn Bản

Phẩm Cha Của Nakula

SN 22.1 Cha Của Nakula Nakulapitusutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú trong xứ Bhagga, tại đồi Cá Sấu, trong vườn nai ở rừng Bhesakaḷā.

Lúc bấy giờ, gia chủ, cha của Nakula, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, con đã già, lớn tuổi, bậc trưởng lão. Con đã đến tuổi xế chiều và đã tới giai đoạn cuối của cuộc đời. Thân con có bệnh và thường xuyên không khỏe. Con ít khi được gặp các vị Tỷ kheo đáng kính. Xin Thế Tôn hãy khuyên dạy và chỉ bảo cho con. Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con.”

"Đúng vậy, gia chủ! Đúng vậy, gia chủ! Vì thân này có bệnh, được bao bọc trong lớp vỏ của nó. Nếu ai mang cái thân này mà dám nói mình khỏe mạnh dù chỉ trong một giờ, thì đó là gì nếu không phải là sự ngu si?

Vậy ông nên tu tập như thế này: ‘Dù thân ta có bệnh, tâm ta sẽ không bệnh.’ Đó là cách ông nên tu tập."

Và rồi gia chủ, cha của Nakula, hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng. Sau đó, ông đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Xá-lợi-phất nói với ông:

“Thưa gia chủ, các căn của ông thật trong sáng, và sắc diện của ông thật thanh tịnh và rạng rỡ. Hôm nay ông có được nghe một bài pháp thoại trước sự hiện diện của Thế Tôn không?”

“Thưa Tôn giả, còn có thể là gì khác được chứ? Vừa rồi Thế Tôn đã ban cho con vị cam lồ bất tử của một bài pháp thoại.”

“Nhưng Thế Tôn đã ban cho ông bài pháp thoại cam lồ như thế nào?”

Thế là cha của Nakula kể lại cho Xá-lợi-phất tất cả những gì đã xảy ra, và nói: “Đó là bài pháp thoại cam lồ mà Thế Tôn đã ban cho con.”

“Nhưng ông không cảm thấy cần phải hỏi thêm Thế Tôn câu này sao: ‘Bạch Thế Tôn, Ngài định nghĩa thế nào là người thân có bệnh và tâm có bệnh, và người thân có bệnh và tâm không bệnh’?”

“Thưa Tôn giả, chúng con sẽ đi một quãng đường dài để học ý nghĩa của lời này trước sự hiện diện của Tôn giả Xá-lợi-phất. Xin Tôn giả Xá-lợi-phất hãy tự mình làm rõ ý nghĩa của điều này.”

“Vậy thì, gia chủ, hãy lắng nghe và như lý tác ý (apply the mind rationally / suy nghĩ với trí tuệ), tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” cha của Nakula đáp. Xá-lợi-phất nói điều này:

"Và thế nào là một người thân có bệnh và tâm có bệnh? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo các phẩm chất của bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo các phẩm chất của bậc chân nhân. Họ coi sắc (form / rūpa / các hiện tượng vật chất) là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là sắc, sắc là của ta!’ Nhưng sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ coi thọ (feeling / vedanā / cảm giác) là tự ngã, tự ngã có thọ, thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là thọ, thọ là của ta!’ Nhưng thọ đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ coi tưởng (perception / saññā / sự nhận biết) là tự ngã, tự ngã có tưởng, tưởng trong tự ngã, hay tự ngã trong tưởng. Họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là tưởng, tưởng là của ta!’ Nhưng tưởng đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ coi hành (choices / saṅkhārā / các hoạt động của ý chí) là tự ngã, tự ngã có hành, hành trong tự ngã, hay tự ngã trong hành. Họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là hành, hành là của ta!’ Nhưng các hành đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ coi thức (consciousness / viññāṇa / sự nhận biết của tâm) là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Họ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là thức, thức là của ta!’ Nhưng thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Đó là thế nào một người thân có bệnh và tâm có bệnh.

Và thế nào là một người thân có bệnh và tâm không bệnh? Đó là khi một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ không bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là sắc, sắc là của ta!’ Vì vậy, khi sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ không coi thọ là tự ngã, tự ngã có thọ, thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Họ không bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là thọ, thọ là của ta!’ Vì vậy, khi thọ đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ không coi tưởng là tự ngã, tự ngã có tưởng, tưởng trong tự ngã, hay tự ngã trong tưởng. Họ không bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là tưởng, tưởng là của ta!’ Vì vậy, khi tưởng đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ không coi hành là tự ngã, tự ngã có hành, hành trong tự ngã, hay tự ngã trong hành. Họ không bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là hành, hành là của ta!’ Vì vậy, khi các hành đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ không coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Họ không bị ám ảnh bởi ý nghĩ: ‘Ta là thức, thức là của ta!’ Vì vậy, khi thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Đó là thế nào một người thân có bệnh và tâm không bệnh."

Đó là những gì Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói. Hài lòng, cha của Nakula hoan hỷ những gì Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói.

I. Phẩm Nakulapità

I. Nakulapità (Tạp, 5.5 Trưởng Giả, Ðại 2,33a) (Tăng 13.4, Ðại 2,573a) (S.iii,1)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.

2. Rồi gia chủ Nakulapità đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

4. − Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: “Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh”. Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.

5. Rồi gia chủ Nakulapità sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.

6. Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Nakulapità đang ngồi một bên:

− Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?

− Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại!

− Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?

7. − Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:

“− Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài!”

Ðược nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:

“− Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: 'Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”

Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.

8. − Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bịnh và tâm cũng bị bịnh? Cho đến như thế nào là thân bị bịnh, nhưng tâm không bị bịnh không?”

9. − Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

10. − Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Gia chủ Nakulapità vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

11. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

− Thế nào, này Gia chủ, là thân bịnh và tâm bịnh?

12. Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta!” khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!

13. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

14. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

15. Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!

16. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

17. Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh và tâm có bịnh.

18. Thế nào, này Gia chủ, là thân có bịnh nhưng tâm không có bịnh?

19. Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta” khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

20. Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

21. Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

22. Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!

23. Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

24. Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh, nhưng tâm không có bịnh.

25. Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapità hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta thuyết.

SN 22.2 Tại Devadaha Devadahasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú trong xứ của dòng họ Thích-ca, nơi có một thị trấn tên là Devadaha.

Lúc bấy giờ, một số Tỷ kheo đang hướng về phương Tây đã đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Ngài: “Bạch Thế Tôn, chúng con muốn đến một vùng đất phía Tây để cư trú ở đó.”

“Nhưng này các Tỷ kheo, các ông đã xin phép Xá-lợi-phất chưa?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn, chúng con chưa.”

“Các ông nên xin phép Xá-lợi-phất. Thầy ấy là người sáng suốt, và hỗ trợ các bạn đồng tu, các Tỷ kheo.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đang ngồi không xa Thế Tôn trong một lùm cây muồng hoàng yến. Và rồi các Tỷ kheo ấy hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Họ từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng. Sau đó, họ đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, và chào hỏi nhau.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên và nói với ngài: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, chúng tôi muốn đến một vùng đất phía Tây để cư trú ở đó. Chúng tôi đã xin phép Bậc Đạo Sư.”

“Thưa các Tôn giả, có những người sẽ chất vấn một Tỷ kheo đã đi xa—những vị quý tộc, bà-la-môn, gia chủ, và sa-môn sáng suốt—vì những người sáng suốt thì hay tò mò: ‘Nhưng Bậc Đạo Sư của các Tôn giả dạy điều gì? Ngài giải thích điều gì?’ Tôi tin rằng các Tôn giả đã nghe, học, suy ngẫm, và ghi nhớ giáo pháp một cách đúng đắn, và đã thâm nhập chúng bằng trí tuệ. Bằng cách đó, khi trả lời, các vị sẽ lặp lại những gì Thế Tôn đã nói và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật. Các vị sẽ giải thích phù hợp với giáo pháp, không có lý do chính đáng nào để bị phản bác và chỉ trích.”

“Thưa Tôn giả, chúng tôi sẽ đi một quãng đường dài để học ý nghĩa của lời này trước sự hiện diện của Tôn giả Xá-lợi-phất. Xin Tôn giả Xá-lợi-phất hãy tự mình làm rõ ý nghĩa của điều này.”

“Vậy thì, thưa các Tôn giả, hãy lắng nghe và như lý tác ý, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” họ đáp. Xá-lợi-phất nói điều này:

"Thưa các Tôn giả, có những người sẽ chất vấn một Tỷ kheo đã đi xa—những vị quý tộc, bà-la-môn, gia chủ, và sa-môn sáng suốt—vì những người sáng suốt thì hay tò mò: ‘Nhưng Bậc Đạo Sư của các Tôn giả dạy điều gì? Ngài giải thích điều gì?’ Khi bị hỏi như vậy, thưa các Tôn giả, các vị nên trả lời: ‘Thưa Tôn giả, Bậc Đạo Sư của chúng tôi giải thích về việc loại bỏ dục và tham.’

Khi các vị trả lời như vậy, những người sáng suốt đó có thể hỏi thêm: ‘Nhưng Bậc Đạo Sư của các Tôn giả giải thích việc loại bỏ dục và tham đối với điều gì?’ Khi bị hỏi như vậy, thưa các Tôn giả, các vị nên trả lời: ‘Bậc Đạo Sư của chúng tôi giải thích việc loại bỏ dục và tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.’

Khi các vị trả lời như vậy, những người sáng suốt đó có thể hỏi thêm: ‘Nhưng Ngài đã thấy điều bất lợi gì mà Ngài dạy việc loại bỏ dục và tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức?’ Khi bị hỏi như vậy, thưa các Tôn giả, các vị nên trả lời: ‘Nếu không thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với sắc, khi sắc đó suy tàn và hoại diệt, nó sẽ làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Nếu không thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với thọ… tưởng… hành… thức, khi thức đó suy tàn và hoại diệt, nó sẽ làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đây là điều bất lợi mà Bậc Đạo Sư của chúng tôi đã thấy nên Ngài dạy việc loại bỏ dục và tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.’

Khi các vị trả lời như vậy, những người sáng suốt đó có thể hỏi thêm: ‘Nhưng Ngài đã thấy lợi ích gì mà Ngài dạy việc loại bỏ dục và tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức?’ Khi bị hỏi như vậy, thưa các Tôn giả, các vị nên trả lời: ‘Nếu đã thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với sắc, khi sắc đó suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Nếu đã thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với thọ… tưởng… hành… thức, khi thức đó suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đây là lợi ích mà Bậc Đạo Sư của chúng tôi đã thấy nên Ngài dạy việc loại bỏ dục và tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.’

Nếu những người đã tiếp nhận và giữ gìn những phẩm chất bất thiện mà có thể sống hạnh phúc trong đời này, không phiền muộn, đau khổ, và sốt ruột; và nếu, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể mong đợi đi đến một nơi tốt đẹp, thì Thế Tôn đã không tán thán việc từ bỏ những phẩm chất bất thiện. Nhưng vì những người tiếp nhận và giữ gìn những phẩm chất bất thiện sống không hạnh phúc trong đời này, đầy phiền muộn, đau khổ, và sốt ruột; và vì, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể mong đợi đi đến một nơi xấu xa, nên Thế Tôn tán thán việc từ bỏ những phẩm chất bất thiện.

Nếu những người đã chấp nhận và giữ gìn những phẩm chất thiện mà phải sống không hạnh phúc trong đời này, đầy phiền muộn, đau khổ, và sốt ruột; và nếu, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể mong đợi đi đến một nơi xấu xa, thì Thế Tôn đã không tán thán việc chấp nhận những phẩm chất thiện. Nhưng vì những người chấp nhận và giữ gìn những phẩm chất thiện sống hạnh phúc trong đời này, không phiền muộn, đau khổ, và sốt ruột; và vì, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể mong đợi đi đến một nơi tốt đẹp, nên Thế Tôn tán thán việc chấp nhận những phẩm chất thiện."

Đây là những gì Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói. Hài lòng, các Tỷ kheo hoan hỷ những gì Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói.

II. Devadaha (Tạp 5.6, Tây, Ðại 2,33b) (Tăng 41.4, Ðại 2,745b) (S.iii,5)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.

2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.

− Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?

− Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.

− Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đang ngồi dưới cây ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.

5. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, các vị ấy nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

6. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

− Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.

7. − Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (sẽ hỏi): “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?” Ðể khi trả lời, các Tôn giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị đồng pháp nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.

8. − Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

9. − Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

10. − Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: “Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham”.

11. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sátđé-lị hiền trí… có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): “Ðối với cái gì, bậc Ðạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham”.

12. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): “Nhưng thấy sự nguy hiểm gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Ông cần phải trả lời như sau: “Này các Hiền giả, đối với sắc, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này chư Hiền giả, do thấy sự nguy hiểm này đối với sắc mà bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói lên sự điều phục dục và tham”.

13. Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí… các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): “Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành; bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành; bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức”.

14. Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các bất thiện pháp và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú, đây không phải là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

15. Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các bất thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống bị đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Do vậy, đây là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

16. Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Ðây không phải là sự thành tựu các thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

17. Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú. Do vậy, đây là sự thành tựu các thiện pháp, được Thế Tôn tán thán.

18. Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta nói.

SN 22.3 Với Hāliddikāni Hāliddikānisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Đại Ca-chiên-diên trú trong xứ Avanti gần Kuraraghara trên núi Dốc.

Lúc bấy giờ, gia chủ Hāliddikāni đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với ngài: "Thưa Tôn giả, điều này đã được Thế Tôn nói trong Phẩm Tám, trong ‘Những câu hỏi của Māgandiya’:

‘Từ bỏ nơi trú ẩn để lang thang không nhà,
một bậc hiền triết không gần gũi ai trong làng.
Thoát khỏi tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), không mong đợi gì,
họ sẽ không tranh cãi với người đời.’

Chúng ta nên hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn như thế nào?"

"Thưa gia chủ, sắc giới là nơi trú ẩn của thức. Người có thức bị trói buộc bởi tham ái đối với sắc giới được gọi là người lang thang từ nơi trú ẩn này đến nơi trú ẩn khác. Thọ giới là nơi trú ẩn của thức. Người có thức bị dính mắc vào tham ái đối với thọ giới được gọi là người lang thang từ nơi trú ẩn này đến nơi trú ẩn khác. Tưởng giới là nơi trú ẩn của thức. Người có thức bị dính mắc vào tham ái đối với tưởng giới được gọi là người lang thang từ nơi trú ẩn này đến nơi trú ẩn khác. Hành giới là nơi trú ẩn của thức. Người có thức bị dính mắc vào tham ái đối với hành giới được gọi là người lang thang từ nơi trú ẩn này đến nơi trú ẩn khác. Đó là thế nào một người lang thang từ nơi trú ẩn này đến nơi trú ẩn khác.

Và thế nào là một người lang thang không nơi trú ẩn? Bậc Như Lai đã từ bỏ mọi dục vọng, tham lam, ưa thích, và ái dục đối với sắc giới; mọi sự thu hút, nắm giữ, cố chấp trong tâm, khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Ngài đã chặt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, xóa sổ nó, để nó không thể khởi sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao Bậc Như Lai được gọi là người lang thang không nơi trú ẩn. Bậc Như Lai đã từ bỏ mọi dục vọng, tham lam, ưa thích, và ái dục đối với thọ giới… tưởng giới… hành giới… thức giới; mọi sự thu hút, nắm giữ, cố chấp trong tâm, khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Ngài đã chặt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, xóa sổ nó, để nó không thể khởi sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao Bậc Như Lai được gọi là người lang thang không nơi trú ẩn. Đó là thế nào một người lang thang không nơi trú ẩn.

Và thế nào là một người lang thang từ nơi ở này đến nơi ở khác? Dính mắc vào việc trôi dạt giữa các nơi ở để theo đuổi các cảnh sắc, người đó được gọi là người lang thang từ nơi ở này đến nơi ở khác. Dính mắc vào việc trôi dạt giữa các khu định cư để theo đuổi âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ, người đó được gọi là người lang thang từ nơi ở này đến nơi ở khác. Đó là thế nào một người lang thang từ nơi ở này đến nơi ở khác.

Và thế nào là một người lang thang không nơi ở? Bậc Như Lai đã từ bỏ sự dính mắc vào việc trôi dạt giữa các nơi ở để theo đuổi các cảnh sắc. Ngài đã chặt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, xóa sổ nó, để nó không thể khởi sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao Bậc Như Lai được gọi là người lang thang không nơi ở. Bậc Như Lai đã từ bỏ sự dính mắc vào việc trôi dạt giữa các khu định cư để theo đuổi âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý tưởng. Ngài đã chặt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, xóa sổ nó, để nó không thể khởi sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao Bậc Như Lai được gọi là người lang thang không nơi ở. Đó là thế nào một người lang thang không nơi ở.

Và làm thế nào một người gần gũi với người trong làng? Đó là khi một người giao du thân mật với người tại gia, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ—vui khi họ vui và buồn khi họ buồn—và tham gia vào công việc của họ. Đó là thế nào một người gần gũi với người trong làng.

Và làm thế nào một người không gần gũi với người trong làng? Đó là khi một Tỷ kheo không giao du thân mật với người tại gia, không chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ—không vui khi họ vui hay buồn khi họ buồn—và không tham gia vào công việc của họ. Đó là thế nào một người không gần gũi với người trong làng.

Và thế nào là một người không thoát khỏi tham dục? Đó là khi một người không thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với các thú vui giác quan. Đó là thế nào một người không thoát khỏi tham dục.

Và thế nào là một người thoát khỏi tham dục? Đó là khi một người thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với các thú vui giác quan. Đó là thế nào một người thoát khỏi tham dục.

Và làm thế nào một người có những mong đợi? Đó là khi một người nghĩ: ‘Trong tương lai, mong rằng ta sẽ có sắc như vậy, thọ như vậy, tưởng như vậy, hành như vậy, và thức như vậy!’ Đó là thế nào một người có những mong đợi.

Và làm thế nào một người không mong đợi gì? Đó là khi một người không nghĩ: ‘Trong tương lai, mong rằng ta sẽ có sắc như vậy, thọ như vậy, tưởng như vậy, hành như vậy, và thức như vậy!’ Đó là thế nào một người không mong đợi gì.

Và làm thế nào một người tranh cãi với người khác? Đó là khi một người tham gia vào loại thảo luận này: ‘Ông không hiểu giáo pháp và sự tu tập này. Tôi hiểu giáo pháp và sự tu tập này. Gì chứ, ông hiểu giáo pháp và sự tu tập này ư? Ông đang thực hành sai. Tôi đang thực hành đúng. Ông nói sau những gì đáng lẽ phải nói trước. Ông nói trước những gì đáng lẽ phải nói sau. Tôi nói đúng chủ đề, ông thì không. Những gì ông đã suy nghĩ rất nhiều đã bị bác bỏ. Học thuyết của ông đã bị bác bỏ. Cứ tiếp tục đi, hãy cứu lấy học thuyết của ông! Ông đã bị mắc bẫy; hãy tự thoát ra khỏi đây—nếu ông có thể!’ Đó là thế nào một người tranh cãi với người khác.

Và làm thế nào một người không tranh cãi với người khác? Đó là khi một Tỷ kheo không tham gia vào loại thảo luận này: ‘Ông không hiểu giáo pháp và sự tu tập này… hãy tự thoát ra khỏi đây—nếu ông có thể!’ Đó là thế nào một người không tranh cãi với người khác.

Vậy, thưa gia chủ, đó là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Thế Tôn đã nói ngắn gọn trong Phẩm Tám, trong ‘Những câu hỏi của Māgandiya’:

‘Từ bỏ nơi trú ẩn để lang thang không nhà,
một bậc hiền triết không gần gũi ai trong làng.
Thoát khỏi tham dục, không mong đợi gì,
họ sẽ không tranh cãi với người đời.’"

III. Hàliddikàni (Tạp, 20.15, Kha-lê, Ðại 2,144a) (S.iii,9)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna (Ma-ha Ca-chiên-diên) sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccàna rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn Giả Mahà Kaccàna :

  • Thưa Tôn Giả, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Màgandiya” như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng,
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

4. − Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.

8. Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia đình?

9. Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

10. Ðối với thọ giới, này Gia chủ…

11. Ðối với tưởng giới, này Gia chủ…

12. Ðối với hành giới, này Gia chủ…

13. Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

14. Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.

15. Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ… vào thanh tướng… vào hương tướng… vào vị tướng… vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.

16. Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào thanh tướng… vào hương tướng… vào vị tướng… vào xúc tướng… vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ.

17. Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.

18. Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hị lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.

19. Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.

20. Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt không đối với các dục.

21. Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là tuyệt không các dục.

22. Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là hư vọng hão huyền.

23. Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.

24. Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.

25. Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này… … Hãy thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.

26. Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Màgandiya” như sau:

"Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng.
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai".

Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

SN 22.4 Hāliddikāni (thứ 2) Dutiyahāliddikānisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Đại Ca-chiên-diên trú trong xứ Avanti gần Kuraraghara trên núi Dốc.

Lúc bấy giờ, gia chủ Hāliddikāni đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên… và hỏi ngài: "Thưa Tôn giả, điều này đã được Thế Tôn nói trong ‘Những câu hỏi của Sakka’: ‘Những vị sa-môn và bà-la-môn nào được giải thoát nhờ sự chấm dứt của ái dục đã đạt đến mục tiêu tối hậu, nơi nương tựa tối hậu khỏi khổ ách, đời sống phạm hạnh tối hậu, cứu cánh tối hậu, và là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.’

Chúng ta nên hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn như thế nào?"

"Thưa gia chủ, hãy xem xét bất kỳ dục vọng, tham lam, ưa thích, và ái dục nào đối với sắc giới; bất kỳ sự thu hút, nắm giữ, cố chấp trong tâm, khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Với sự chấm dứt, phai nhạt, đoạn diệt, từ bỏ, và buông bỏ điều đó, tâm được gọi là ‘được giải thoát tốt đẹp’.

Hãy xem xét bất kỳ dục vọng, tham lam, ưa thích, và ái dục nào đối với thọ giới… tưởng giới… hành giới… thức giới; bất kỳ sự thu hút, nắm giữ, cố chấp trong tâm, khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Với sự chấm dứt, phai nhạt, đoạn diệt, từ bỏ, và buông bỏ điều đó, tâm được gọi là ‘được giải thoát tốt đẹp’.

Vậy, thưa gia chủ, đó là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Thế Tôn đã nói ngắn gọn trong ‘Những câu hỏi của Sakka’: ‘Những vị sa-môn và bà-la-môn nào được giải thoát nhờ sự chấm dứt của ái dục đã đạt đến mục tiêu tối hậu, nơi nương tựa tối hậu khỏi khổ ách, đời sống phạm hạnh tối hậu, cứu cánh tối hậu, và là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.’"

IV. Hàliddikàni (Tạp 20.16 Kha-lê, Ðại 2,144c) (S.iii,12)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna sống giữa dân chúng Avanti, tại Kulaghara, bên bờ một vực núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna… rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn giả Mahà Kaccàna:

4. − Thế Tôn đã nói trong tập Các Câu hỏi Của Sakka như vầy: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời, loài Người”. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

5. − Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.

6. Ðối với thọ giới, này Gia chủ…

7. Ðối với tưởng giới, này Gia chủ…

8. Ðối với hành giới, này Gia chủ…

9. Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.

10. Như vậy, này Gia chủ, là ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến trong tập Các Câu hỏi Của Sakka: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào được giải thoát với sự đoạn tận khát ái, những vị ấy đã hoàn toàn đạt được toàn thiện, đã hoàn toàn đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đã hoàn toàn hành Phạm hạnh, đã hoàn toàn đạt được mục đích, là bậc tối thượng giữa loài Trời và loài Người”.

SN 22.5 Phát Triển Thiền Định Samādhisutta

Như vầy tôi nghe. Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy phát triển thiền định (immersion / samādhi / sự tập trung tâm trí). Một Tỷ kheo có thiền định sẽ hiểu biết một cách chân thật. Họ hiểu biết chân thật điều gì? Sự sinh khởi và đoạn diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

Và đâu là sự sinh khởi của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức? Đó là khi một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu.

Họ tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào điều gì? Họ tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào sắc. Điều này làm phát sinh sự ưa thích. Ưa thích sắc là sự nắm giữ. Sự nắm giữ của họ là điều kiện cho Hữu ái. Hữu ái là điều kiện cho sự tái sinh. Tái sinh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này sinh khởi.

Họ tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào thọ… tưởng… hành… thức. Điều này làm phát sinh sự ưa thích. Ưa thích thức là sự nắm giữ. Sự nắm giữ của họ là điều kiện cho Hữu ái. Hữu ái là điều kiện cho sự tái sinh. Tái sinh là điều kiện làm phát sinh già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này sinh khởi.

Đây là sự sinh khởi của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

Và đâu là sự đoạn diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức?

Đó là khi một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, hay tiếp tục bám víu.

Họ không tán thành, chào đón, hay tiếp tục bám víu vào điều gì? Họ không tán thành, chào đón, hay tiếp tục bám víu vào sắc. Kết quả là, sự ưa thích sắc chấm dứt. Khi sự ưa thích đó chấm dứt, sự nắm giữ chấm dứt. Khi sự nắm giữ chấm dứt, Hữu ái chấm dứt… Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Họ không tán thành, chào đón, hay tiếp tục bám víu vào thọ… tưởng… hành… thức. Kết quả là, sự ưa thích thức chấm dứt. Khi sự ưa thích đó chấm dứt, sự nắm giữ chấm dứt… Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.

Đây là sự đoạn diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức."

V. Thiền Ðịnh (Tạp 3.7-8 Thọ, Ðại 2,17a) (Tạp 3.1. Sanh Diệt, Ðại 2,15b) (Tạp 3.2 Bất Thừa, Ðại

2,15b) (S.iii,13)

1. Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi…

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỷ-kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

3. Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

6. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

7-10. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ… rồi an trú tưởng… rồi an trú các hành… rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là sắc tập khởi, đây là thọ tập khởi, đây là tưởng tập khởi, đây là hành tập khởi, đây là thức tập khởi.

12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn diệt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú.

13. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

14. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

15-16. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng… không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành, hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

17. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

18. Này các Tỷ-kheo, đây là sắc đoạn diệt, đây là thọ đoạn diệt, đây là tưởng đoạn diệt, đây là các hành đoạn diệt, đây là thức đoạn diệt.

SN 22.6 Độc Cư Paṭisallāṇasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, hãy thiền định trong độc cư. Một Tỷ kheo trong độc cư sẽ hiểu biết một cách chân thật. Họ hiểu biết chân thật điều gì? Sự sinh khởi và đoạn diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. …”

(Kể đầy đủ như trong kinh trước.)

VI. Tỉnh Mặc (Tạp, 3.7-8, Thọ, Ðại 2,17a) (S.iii,15)

1. Nhân duyên tại Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy trú tâm, dán tâm vào tỉnh mặc. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có tỉnh mặc hiểu biết một cách như thật.

3. Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt ( Như kinh trước, từ số 4 đến số 18 ).

SN 22.7 Lo Âu Vì Chấp Thủ Upādāparitassanāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về cách chấp thủ dẫn đến lo âu, và cách không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu. Hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Và làm thế nào chấp thủ dẫn đến lo âu? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Nhưng sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, và thức bám vào sự hoại diệt của sắc. Những lo âu chiếm lĩnh tâm trí họ, sinh ra từ việc bám vào sự hoại diệt của sắc, và khởi lên theo các nguyên lý tự nhiên. Vì vậy, họ trở nên sợ hãi, lo lắng, bận tâm, và lo âu vì chấp thủ.

Họ coi thọ là tự ngã…

Họ coi tưởng là tự ngã…

Họ coi hành là tự ngã…

Họ coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Nhưng thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, và thức bám vào sự hoại diệt của thức. Những lo âu chiếm lĩnh tâm trí họ, sinh ra từ việc bám vào sự hoại diệt của thức, và khởi lên theo các nguyên lý tự nhiên. Vì vậy, họ trở nên sợ hãi, lo lắng, bận tâm, và lo âu vì chấp thủ. Đó là cách chấp thủ dẫn đến lo âu.

Và làm thế nào không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu? Đó là khi một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Khi sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, thức không bám vào sự hoại diệt của sắc. Những lo âu—sinh ra từ việc bám vào sự hoại diệt của sắc và khởi lên theo các nguyên lý tự nhiên—không chiếm lĩnh tâm trí họ. Vì vậy, họ không trở nên sợ hãi, lo lắng, bận tâm, hay lo âu vì chấp thủ.

Họ không coi thọ là tự ngã…

Họ không coi tưởng là tự ngã…

Họ không coi hành là tự ngã…

Họ không coi thức là tự ngã… Khi thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, thức không bám vào sự hoại diệt của thức. Những lo âu—sinh ra từ việc bám vào sự hoại diệt của thức và khởi lên theo các nguyên lý tự nhiên—không chiếm lĩnh tâm trí họ. Vì vậy, họ không trở nên sợ hãi, lo lắng, bận tâm, hay lo âu vì chấp thủ. Đó là cách không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu."

VII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.11 Thủ Trước, Ðại 2,10c) (S.iii,15)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, người ấy quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

5. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm nhập nên khủng bố (uttàsavà), chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

6-7. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã… vị ấy quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có các hành, hay các hành trong tự ngã, hay tự ngã trong các hành. Ðối với vị ấy, các hành ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi các hành ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

8. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu não.

10. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

12. Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

13. Không quán tưởng như là tự ngã…

14. Không quán các hành như là tự ngã…

15. Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.

16. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự không chấp thủ, không ưu não.

SN 22.8 Lo Âu Vì Chấp Thủ (thứ 2) Dutiyaupādāparitassanāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về cách chấp thủ dẫn đến lo âu, và cách không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu. Hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói. Và làm thế nào chấp thủ dẫn đến lo âu? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe coi sắc như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’ Nhưng sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’ Nhưng thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách chấp thủ dẫn đến lo âu.

Và làm thế nào không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu? Đó là khi một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều coi sắc như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Khi sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Khi thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, nó không làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não. Đó là cách không chấp thủ dẫn đến thoát khỏi lo âu."

VIII. Chấp Thủ Và Ưu Não (Tạp 2.12, Hị Trước, Ðại 2,11a) (S.iii,18)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não…

Thế Tôn nói như sau:

3. − Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi”. Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

5. … quán thọ…

6. … quán tưởng…

7. … quán các hành…

8. … quán thức: “Ðây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi”. Thức ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi thức ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu não.

10. Này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử quán sắc: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi”. Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi sắc biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

12. … quán thọ: “Ðây không phải của tôi…”.

13. … quán tưởng: “Ðây không phải của tôi…”.

14. … quán các hành: “Ðây không phải của tôi…”…

15. … quán thức: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Thức ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

16. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không chấp thủ, không ưu não.

SN 22.9 Vô Thường Trong Ba Thời Kālattayaaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc của quá khứ và tương lai là vô thường, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về sắc quá khứ, không mong chờ hưởng thụ sắc tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức của quá khứ và tương lai là vô thường, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về thức quá khứ, không mong chờ hưởng thụ thức tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức hiện tại."

IX. Ba Thời Là Vô Thường (Tạp 1.8 Quá Khứ, Ðại 2,1c. Tạp 3.29-30 Lược Thuyết, Ðại 2,20a)

(S.iii,19)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối (anapekkha), đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3. Này các Tỷ-kheo, thọ là vô thường…

4. Này các Tỷ-kheo, tưởng là vô thường…

5. Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với các hành quá khứ không tiếc nuối, đối với các hành vị lai không hoan hỷ, đối với các hành hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

6. Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

SN 22.10 Khổ Trong Ba Thời Kālattayadukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc của quá khứ và tương lai là khổ, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về sắc quá khứ, không mong chờ hưởng thụ sắc tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức của quá khứ và tương lai là khổ, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về thức quá khứ, không mong chờ hưởng thụ thức tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức hiện tại."

X. Ba Thời Là Khổ

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham đoạn diệt.

3. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

4. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

SN 22.11 Vô Ngã Trong Ba Thời Kālattayaanattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc của quá khứ và tương lai là vô ngã, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về sắc quá khứ, không mong chờ hưởng thụ sắc tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức của quá khứ và tương lai là vô ngã, huống chi là hiện tại.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về thức quá khứ, không mong chờ hưởng thụ thức tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức hiện tại."

XI. Ba Thời Là Vô Ngã (S.iii,20)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

3. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

4. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

5. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

6. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.

Phẩm Vô Thường

SN 22.12 Vô Thường Aniccasutta

Như vầy tôi nghe. Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô thường.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

II. Phẩm Vô Thường

I. Vô Thường (Tạp 1.1 Vô thường, Ðại 2,1a) (S.iii,21)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvathi…

2. Tại đấy…

3-6. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường…, thọ là vô thường…, tưởng là vô thường… các hành là vô thường…, thức là vô thường.

7. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức… Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.13 Khổ Dukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là khổ.

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

II. Khổ (S.iii,21)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-7. − Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ…, thọ là khổ…, tưởng là khổ…, các hành là khổ…, thức là khổ…

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.14 Vô Ngã Anattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô ngã.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

III. Vô Ngã (S.iii,21)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-7. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã…, thọ là vô ngã…, tưởng là vô ngã…, các hành là vô ngã…, thức là vô ngã…

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta được giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.15 Cái Gì Vô Thường Yadaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thọ là vô thường…

Tưởng là vô thường…

Hành là vô thường…

Thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

IV. Cái Gì Vô Thường (Tạp 1.9, Vô Thường, Ðại 2,2a) (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3.− Sắc,này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.16 Cái Gì Khổ Yaṁdukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thọ là khổ…

Tưởng là khổ…

Hành là khổ…

Thức là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

V. Cái Gì Khổ (Tạp 1.10 Vô Thường. Ðại 2,2a) (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.17 Cái Gì Vô Ngã Yadanattāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thọ là vô ngã…

Tưởng là vô ngã…

Hành là vô ngã…

Thức là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

VI. Cái Gì Vô Ngã (S.iii,22)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã; cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.18 Vô Thường Cùng Với Nguyên Nhân Sahetuaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Nguyên nhân và lý do làm sắc sinh khởi cũng là vô thường. Vì sắc được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Thọ là vô thường…

Tưởng là vô thường…

Hành là vô thường…

Thức là vô thường. Nguyên nhân và lý do làm thức sinh khởi cũng là vô thường. Vì thức được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

VII. Có Nhân Là Vô Thường (Tạp 1.11 Nhân. Ðại 2,2a) (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Sắc đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thọ sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thọ đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thức đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui với trạng thái này nữa”.

SN 22.19 Khổ Cùng Với Nguyên Nhân Sahetudukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là khổ. Nguyên nhân và lý do làm sắc sinh khởi cũng là khổ. Vì sắc được tạo ra bởi cái khổ, làm sao nó có thể là hạnh phúc?

Thọ là khổ…

Tưởng là khổ…

Hành là khổ…

Thức là khổ. Nguyên nhân và lý do làm thức sinh khởi cũng là khổ. Vì thức được tạo ra bởi cái khổ, làm sao nó có thể là hạnh phúc?

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

VIII. Có Nhân Là Khổ (Tạp 1.12 Nhân. Ðại 2,2b) (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Sắc đã được cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc được?

4. Thọ, này các Tỷ-kheo, là khổ…

5. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là khổ…

6. Các hành, này các Tỷ-kheo, là khổ…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng khổ. Thức đã được cái khổ làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể lạc được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.20 Vô Ngã Cùng Với Nguyên Nhân Sahetuanattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô ngã. Nguyên nhân và lý do làm sắc sinh khởi cũng là vô ngã. Vì sắc được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao nó có thể là tự ngã?

Thọ là vô ngã…

Tưởng là vô ngã…

Hành là vô ngã…

Thức là vô ngã. Nguyên nhân và lý do làm thức sinh khởi cũng là vô ngã. Vì thức được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao nó có thể là tự ngã?

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

IX. Có Nhân Là Vô Ngã (S.iii,23)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Sắc đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã được?

4-6. Thọ… Tưởng… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô ngã…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô ngã. Thức đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu là ngã được?

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.21 Với Ānanda Ānandasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘sự đoạn diệt’. Điều này đề cập đến sự đoạn diệt của những gì?”

"Này Ānanda, sắc là vô thường, do duyên sinh, có nguồn gốc phụ thuộc, có khả năng kết thúc, biến mất, phai nhạt, và chấm dứt. Sự đoạn diệt của nó là điều mà ‘sự đoạn diệt’ đề cập đến.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô thường, do duyên sinh, có nguồn gốc phụ thuộc, có khả năng kết thúc, biến mất, phai nhạt, và chấm dứt. Sự đoạn diệt của nó là điều mà ‘sự đoạn diệt’ đề cập đến.

Khi người ta nói về ‘sự đoạn diệt’, đó là sự đoạn diệt của những điều này mà nó đề cập đến."

X. Ananda (S.iii,24)

1. Ở tại Sàvatthi… trong vườn…

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe nói đến. Do đoạn diệt những pháp nào, bạch Thế Tôn, được gọi là đoạn diệt?

4. − Sắc, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của sắc được gọi là đoạn diệt.

5. Thọ, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thọ được gọi là đoạn diệt.

6-7. Tưởng, này Ananda, là vô thường… Các hành, này Ananda, là vô thường…

8. Thức, này Ananda, là vô thường, hữu vi, do nhân duyên sanh khởi, chịu sự đoạn tận, chịu sự hoại diệt, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt. Sự đoạn diệt của thức được gọi là đoạn diệt.

9. Sự đoạn diệt của những pháp này, này Ananda, được gọi là đoạn diệt.

Phẩm Gánh Nặng

SN 22.22 Gánh Nặng Bhārasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về gánh nặng, người mang gánh nặng, việc mang lấy gánh nặng, và việc đặt gánh nặng xuống. Hãy lắng nghe…

Và gánh nặng là gì? Nên nói rằng, đó là năm thủ uẩn. Năm uẩn nào? Đó là các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Đây được gọi là gánh nặng.

Và ai là người mang gánh nặng? Nên nói rằng, đó là con người; vị tôn giả có tên và dòng họ như thế này, như thế kia. Đây được gọi là người mang gánh nặng.

Và việc mang lấy gánh nặng là gì? Đó là ái dục dẫn đến các kiếp sống tương lai, hòa trộn với sự ưa thích và tham lam, tìm thấy niềm vui ở bất cứ nơi nào nó đến. Đó là, ái dục đối với các thú vui giác quan, Hữu ái, và ái dục để chấm dứt sự tồn tại. Đây được gọi là việc mang lấy gánh nặng.

Và việc đặt gánh nặng xuống là gì? Đó là sự phai nhạt và chấm dứt hoàn toàn của chính ái dục đó không còn sót lại; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát nó, và không bám víu vào nó. Đây được gọi là việc đặt gánh nặng xuống."

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Sau đó, Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, tiếp tục nói:

"Năm uẩn quả là gánh nặng,
và con người là người mang gánh nặng.
Mang lấy gánh nặng là khổ đau trong đời,
và đặt gánh nặng xuống là hạnh phúc.

Khi gánh nặng được đặt xuống
mà không mang lấy gánh khác,
và đã nhổ tận gốc ái dục,
ông không còn đói khát, đã được dập tắt."

III. Phẩm Gánh Nặng

I. Gánh Nặng (Tạp, 2.3, Trọng Ðởm. Ðại 2,19a) (Tăng 25.4, Ðại 2,631c) (S.iii,25)

1-2. Ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi tìm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.

7. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống.

8. Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc (không khổ),
Ðặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðược giải thoát tịnh lạc!

SN 22.23 Toàn Tri Pariññasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông những điều cần được toàn tri, và sự toàn tri. Hãy lắng nghe…

Và những điều cần được toàn tri là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Đây được gọi là những điều cần được toàn tri.

Và sự toàn tri là gì? Sự chấm dứt của tham, sân, và si. Đây được gọi là sự toàn tri."

II. Liễu Tri (Parinna) (Tạp 3.22 Trì Pháp. Ðại 2,19a)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết những pháp cần phải liễu tri, phải được liễu tri. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói…

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải liễu tri? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp cần phải liễu tri, thọ là pháp cần phải liễu tri, tưởng là pháp cần phải liễu tri, các hành là pháp cần phải liễu tri, thức là pháp cần phải liễu tri. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là những pháp cần phải liễu tri.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là liễu tri? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si, này các Tỷ-kheo, được gọi là liễu tri.

SN 22.24 hiểu biết trực tiếp Abhijānasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, không hiểu biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn sắc, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ đau.

Không hiểu biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn thọ… tưởng… hành… thức, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ đau.

Bằng cách hiểu biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn sắc, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ đau.

Bằng cách hiểu biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn thọ… tưởng… hành… thức, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ đau."

III. Thắng Tri (Tạp 1.3, Vô Tri. Ðại 2,1a) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri sắc, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.

4. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thọ…

5-6. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri tưởng… không thắng tri các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri thức, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ, nên không có thể đoạn tận khổ.

8. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri sắc, liễu tri, ly tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.

9-11. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thọ… thắng tri tưởng… thắng tri các hành…

12. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri thức, liễu tri, ly tham, từ bỏ, nên có thể đoạn tận khổ.

SN 22.25 Dục Và Tham Chandarāgasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục và tham đối với sắc. Như vậy, sắc đó sẽ được từ bỏ, chặt đứt tận gốc, làm như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể khởi sinh trong tương lai.

Hãy từ bỏ dục và tham đối với thọ… tưởng… hành… thức. Như vậy, thức đó sẽ được từ bỏ, chặt đứt tận gốc, làm như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể khởi sinh trong tương lai."

IV. Dục Tham (Tạp 3.27 Tham, Ðại 2,19c) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Dục và tham (chandaràga) đối với sắc, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

4. Dục và tham đối với thọ, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, thọ ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

5. Dục và tham đối với tưởng…

6. Dục và tham đối với các hành…

7. Dục và tham đối với thức, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Như vậy, thức ấy sẽ được đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

SN 22.26 Vị Ngọt Assādasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—Ta đã nghĩ: ‘Vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc… thọ… tưởng… hành… và thức là gì?’

Rồi Ta nghĩ: ‘Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ sắc: đây là vị ngọt của nó. Sắc đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với sắc: đây là lối thoát của nó. Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ thọ… tưởng… hành… thức: đây là vị ngọt của nó. Thức đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với thức: đây là lối thoát của nó.’

Chừng nào Ta chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là kiếp tái sinh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa.’"

V. Vị Ngọt (Tạp 1.14, Vị, Ðại 2,2c) (S.iii,27)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:

4. “Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của sắc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thọ? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của tưởng? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của các hành? Cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thức?”

5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:

6. “Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc”.

7. “Do duyên thọ, lạc hỷ sanh…”…

8. “Do duyên tưởng, lạc hỷ sanh…”.

9. “Do duyên các hành, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của các hành. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của các hành; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của các hành. Sự nhiếp phục dục và tham đối với hành, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là sự xuất ly của các hành”.

10. “Do duyên thức, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của thức. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của thức; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham đối với thức, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là sự xuấy ly của thức”.

11. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

12. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

13. Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:

“Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 22.27 Vị Ngọt (thứ 2) Dutiyaassādasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta đã đi tìm vị ngọt của sắc, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi vị ngọt của sắc. Ta đã đi tìm sự nguy hại của sắc, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi sự nguy hại của sắc. Ta đã đi tìm lối thoát của sắc, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi lối thoát của sắc.

Ta đã đi tìm vị ngọt của thọ… tưởng… hành… và thức, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi vị ngọt của thức. Ta đã đi tìm sự nguy hại của thức, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi sự nguy hại của thức. Ta đã đi tìm lối thoát của thức, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ phạm vi lối thoát của thức.

Chừng nào Ta chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình… Nhưng khi Ta đã thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình…

Tri kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là kiếp tái sinh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa.’"

VI. Vị Ngọt (S.iii,29)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của sắc. Vị ngọt của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

4. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của sắc. Sự nguy hiểm của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự nguy hiểm của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

5. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự xuất ly của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

6-8. Này các Tỷ-kheo, Ta đi tìm cầu vị ngọt của thọ…

9-11. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của tưởng…

12-14. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của các hành…

15. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của thức. Vị ngọt của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

16. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của thức. Nguy hiểm của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Nguy hiểm của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

17. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của thức. Xuất ly của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Xuất ly của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

18-19. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật biết vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là sự nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng… Samôn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

20. Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: “Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 22.28 Vị Ngọt (thứ 3) Tatiyaassādasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu không có vị ngọt trong sắc, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì có vị ngọt trong sắc, chúng sanh bị kích thích bởi nó. Nếu sắc không có sự nguy hại, chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì sắc có sự nguy hại, chúng sanh nhàm chán với nó. Nếu không có lối thoát khỏi sắc, chúng sanh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có lối thoát khỏi sắc, chúng sanh thoát khỏi nó.

Nếu không có vị ngọt trong thọ… tưởng… hành… thức, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì có vị ngọt trong thức, chúng sanh bị kích thích bởi nó. Nếu thức không có sự nguy hại, chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì thức có sự nguy hại, chúng sanh nhàm chán với nó. Nếu không có lối thoát khỏi thức, chúng sanh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có lối thoát khỏi thức, chúng sanh thoát khỏi nó.

Chừng nào chúng sanh chưa thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, họ chưa thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—và họ không sống tách biệt, giải thoát, với một tâm trí không giới hạn.

Nhưng khi chúng sanh thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của năm thủ uẩn này theo đúng bản chất của chúng, họ đã thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—và họ sống tách biệt, giải thoát, với một tâm trí không giới hạn."

VII. Vị Ngọt (Tạp 1.13 Vị, Ðại 2,2bb) (S.iii,29)

1-2. Nhân duyên tại Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của sắc, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của sắc cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với sắc.

4. − Này Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của sắc, thời các loài hữu tình không có yếm ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm của sắc cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với sắc.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với sắc, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly của sắc cho nên các loài hữu tình có sự xuất ly đối với sắc.

6-8. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thọ…

9-11. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của tưởng…

12-14. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của các hành…

15. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thức, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của thức cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với thức.

16. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm đối với thức cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với thức.

17. Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly đối với thức cho nên các loài hữu tình có xuất ly đối với thức.

18. Này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này không như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, không thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.

19. Và này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này, như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.

SN 22.29 Hưởng Lạc Abhinandanasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu các ông hưởng lạc trong sắc, các ông hưởng lạc trong khổ đau. Nếu các ông hưởng lạc trong khổ đau, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi khổ đau.

Nếu các ông hưởng lạc trong thọ… tưởng… hành… thức, các ông hưởng lạc trong khổ đau. Nếu các ông hưởng lạc trong khổ đau, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi khổ đau.

Nếu các ông không hưởng lạc trong sắc, các ông không hưởng lạc trong khổ đau. Nếu các ông không hưởng lạc trong khổ đau, Ta nói rằng các ông thoát khỏi khổ đau.

Nếu các ông không hưởng lạc trong thọ… tưởng… hành… thức, các ông không hưởng lạc trong khổ đau. Nếu các ông không hưởng lạc trong khổ đau, Ta nói rằng các ông thoát khỏi khổ đau."

VIII. Hoan Hỷ (Tạp 1.7, Ư Sắc Hỷ Lạc, Ðại 2,1c)(Tạp 1.5, Ðại 2,1b) (S.iii,31)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ sắc, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi khổ.

4. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thọ…

5. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ tưởng…

6. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, ai hoan hỷ thức, người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy không giải thoát khỏi khổ.

8. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ sắc, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói, người ấy giải thoát khỏi khổ.

9. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thọ…

10. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ tưởng…

11. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ các hành…

12. Và này các Tỷ-kheo, ai không hoan hỷ thức, người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ,

Ta nói, người ấy giải thoát khỏi khổ.

SN 22.30 Sự Sinh Khởi Uppādasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sự sinh khởi, tiếp diễn, tái sinh, và biểu hiện của sắc là sự sinh khởi của khổ đau, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết.

Sự sinh khởi, tiếp diễn, tái sinh, và biểu hiện của thọ… tưởng… hành… thức là sự sinh khởi của khổ đau, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết.

Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của sắc là sự chấm dứt của khổ đau, sự lắng dịu của bệnh tật, và sự kết thúc của già và chết.

Sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của thọ… tưởng… hành… thức là sự chấm dứt của khổ đau, sự lắng dịu của bệnh tật, và sự kết thúc của già và chết."

IX. Sanh Khởi (Tạp 3.28 Sanh, Ðại 2,20a) (S.iii,31)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc sanh, trú, khởi, hiện hữu; cái ấy là khổ sanh, bệnh tật trú, già chết hiện hữu.

4-6. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ sanh, trú, khởi, hiện hữu… tưởng sanh, trú, khởi, hiện hữu… các hành sanh, trú, khởi, hiện, hữu…

7. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức sanh, trú, khởi, hiện hữu; cái ấy gọi là khổ sanh, bệnh tật trú, già chết hiện hữu.

8. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là sắc đoạn diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy gọi là khổ đoạn diệt, bệnh tật an chỉ, già chết biến mất.

9-11. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thọ đoạn diệt… tưởng đoạn diệt… các hành đoạn diệt…

12. Này các Tỷ-kheo, cái gọi là thức đoạn diệt, an chỉ, biến mất; cái ấy là khổ đoạn diệt, bệnh tật an chỉ, già chết biến mất.

SN 22.31 Gốc Rễ Của Khổ Não Aghamūlasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về khổ não và gốc rễ của khổ não. Hãy lắng nghe…

Và khổ não là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là khổ não. Đây được gọi là khổ não.

Và gốc rễ của khổ não là gì? Đó là ái dục dẫn đến các kiếp sống tương lai, hòa trộn với sự ưa thích và tham lam, tìm thấy niềm vui ở bất cứ nơi nào nó đến. Đó là, ái dục đối với các thú vui giác quan, Hữu ái, và ái dục để chấm dứt sự tồn tại. Đây được gọi là gốc rễ của khổ não."

X. Cội Gốc Của Ðau Khổ (S.iii,32)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về đau khổ và cội gốc của đau khổ. Hãy lắng nghe…

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là đau khổ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là đau khổ; thọ là đau khổ; tưởng là đau khổ; các hành là đau khổ; thức là đau khổ. Ðây, này các Tỷ-kheo, gọi là đau khổ.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cội gốc của đau khổ? Chính là khát ái này hướng tới tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

SN 22.32 Cái Dễ Vỡ Pabhaṅgusutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về cái dễ vỡ và cái không thể vỡ. Hãy lắng nghe…

Và cái dễ vỡ là gì? Cái không thể vỡ là gì? Sắc là dễ vỡ, nhưng sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của nó là cáikhông thể vỡ.

Thọ… tưởng… hành… thức là dễ vỡ, nhưng sự chấm dứt, lắng dịu, và kết thúc của nó là cái không thể vỡ."

XI. Hoại Pháp (Tạp 2,19, Hoại Pháp, Ðại 2,12b) (S.iii,32)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về hoại pháp và bất hoại pháp. Hãy lắng nghe…

4. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là hoại pháp? Cái gì là bất hoại pháp?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn diệt của sắc ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.

6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

7. Tưởng, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

8. Hành, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, là hoại pháp. Sự đoạn diệt của thức ấy, sự an chỉ, biến mất là bất hoại pháp.

Phẩm Không Phải Của Các Ông

SN 22.33 Không Phải Của Các Ông Natumhākasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông. Và cái gì không phải của các ông? Sắc không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.

Giả sử một người mang đi cỏ, gậy, cành, và lá trong vườn Jeta này, hoặc đốt chúng, hoặc làm gì họ muốn với chúng. Các ông có nghĩ: ‘Người này đang mang chúng ta đi, đốt chúng ta, hoặc làm gì họ muốn với chúng ta’ không?"

“Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì đối với chúng con, đó không phải là tự ngã cũng không thuộc về tự ngã.”

"Cũng vậy, này các Tỷ kheo, sắc không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông."

IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông

I. Không Phải Của Các Ông (Tạp 10.14 Kỳ Lâm, Ðại 2,10b) (S.iii,33)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

6. Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

7. Tưởng, này các Tỷ-kheo…

8. Các hành, này các Tỷ-kheo…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: “Người (ấy) mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.

11. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông… Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông… Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 22.34 Không Phải Của Các Ông (thứ 2) Dutiyanatumhākasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông. Và cái gì không phải của các ông?

Sắc không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông.

Hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của các ông."

II. Không Phải Của Các Ông (S.iii,34)

1-2. Nhân duyên ở Sàavatthi…

3. − Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

5. Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

6-8. Thọ, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông… Tưởng, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…

9. Thức, này các Tỷ-kheo, không phải của Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 22.35 Một Vị Tỷ Kheo Aññatarabhikkhusutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, ông được định nghĩa bởi những gì ông có ngầm hướng về. Ông không được định nghĩa bởi những gì ông không có ngầm hướng về.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Nếu con có ngầm hướng về đối với sắc, con được định nghĩa bởi điều đó. Nếu con có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, con được định nghĩa bởi điều đó.

Nếu con không có ngầm hướng về đối với sắc, con không được định nghĩa bởi điều đó. Nếu con không có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, con không được định nghĩa bởi điều đó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Nếu ông có ngầm hướng về đối với sắc, ông được định nghĩa bởi điều đó. Nếu ông có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, ông được định nghĩa bởi điều đó.

Nếu ông không có ngầm hướng về đối với sắc, ông không được định nghĩa bởi điều đó. Nếu ông không có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, ông không được định nghĩa bởi điều đó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn."

Và rồi vị Tỷ kheo đó hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi rời đi.

Lúc bấy giờ, vị Tỷ kheo đó, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán, chẳng bao lâu đã nhận ra mục tiêu tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ông sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống tại gia để xuất gia.

Ông hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì nữa cho nơi này.” Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

III. Tỷ Kheo (S.iii,35)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

[I]

2. Rồi một vị Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3. − Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp tùy miên, người ta sẽ được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy. Cái gì người ta không thiên chấp tùy miên, người ta sẽ không được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi điều Ta nói một cách vắn tắt?

6. − Bạch Thế Tôn, nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp tưởng, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp các hành, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh.

7. Bạch Thế Tôn, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp hành… Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Bạch Thế Tôn, với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, Tỷ-kheo! Lành thay, với lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh. Này Tỷ-kheo, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh… Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

9. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

[II]

10. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.36 Một Vị Tỷ Kheo (thứ 2) Dutiyaaññatarabhikkhusutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, ông bị đo lường bởi những gì ông có ngầm hướng về, và ông được định nghĩa bởi những gì ông bị đo lường. Ông không bị đo lường bởi những gì ông không có ngầm hướng về, và ông không được định nghĩa bởi những gì ông không bị đo lường.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Nếu con có ngầm hướng về đối với sắc, con bị đo lường bởi điều đó, và con được định nghĩa bởi những gì con bị đo lường. Nếu con có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, con bị đo lường bởi điều đó, và con được định nghĩa bởi những gì con bị đo lường.

Nếu con không có ngầm hướng về đối với sắc, con không bị đo lường bởi điều đó, và con không được định nghĩa bởi những gì con không bị đo lường. Nếu con không có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, con không bị đo lường bởi điều đó, và con không được định nghĩa bởi những gì con không bị đo lường.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Nếu ông có ngầm hướng về đối với sắc, ông bị đo lường bởi điều đó, và ông được định nghĩa bởi những gì ông bị đo lường. Nếu ông có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, ông bị đo lường bởi điều đó, và ông được định nghĩa bởi những gì ông bị đo lường.

Nếu ông không có ngầm hướng về đối với sắc, ông không bị đo lường bởi điều đó, và ông không được định nghĩa bởi những gì ông không bị đo lường. Nếu ông không có ngầm hướng về đối với thọ… tưởng… hành… thức, ông không bị đo lường bởi điều đó, và ông không được định nghĩa bởi những gì ông không bị đo lường.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

IV. Vị Tỷ Kheo (S.iii,37)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp một cách vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp (anuseti), cái ấy người ta được đo lường (anopuyti). Cái gì người ta được đo lường, cái ấy người ta được xưng danh (sankham gacchati). Cái gì người ta không thiên chấp, cái ấy người ta không được đo lường. Cái gì người ta không được đo lường, cái ấy người ta không được xưng danh.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.

5. − Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Nếu thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh.

7. Nếu không thiên chấp sắc, bạch Thế Tôn, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta được đo lường. Với cái gì được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ… Nếu thiên chấp tưởng… Nếu thiên chấp các hành… Nếu thiên chấp thức, với thức, người ta được đo lường. Với cái gì người ta được đo lường, với cái ấy, người ta được xưng danh. Nếu không thiên chấp sắc, này Tỷ-kheo, với sắc, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ… Nếu không thiên chấp tưởng… Nếu không thiên chấp các hành… Nếu không thiên chấp thức, với thức, người ta không được đo lường. Với cái gì người ta không được đo lường, với cái ấy, người ta không được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

9. Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

10. Rồi vị Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư…

11. Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.

SN 22.37 Với Ānanda Ānandasutta

Tại Sāvatthī.

Và rồi Tôn giả Ānanda… ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với ngài:

“Này Ānanda, giả sử họ hỏi ông: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, những gì là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng?’ Ông sẽ trả lời như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, giả sử họ hỏi con: ‘Những gì là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng?’ Con sẽ trả lời như thế này:

‘Thưa Tôn giả, sự sinh khởi của sắc là rõ ràng, sự biến mất của nó là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng. Sự sinh khởi của thọ… tưởng… hành… thức là rõ ràng, sự biến mất của nó là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng.’

Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Tốt lắm, tốt lắm, Ānanda. Sự sinh khởi của sắc là rõ ràng, sự biến mất của nó là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng. Sự sinh khởi của thọ… tưởng… hành… thức là rõ ràng, sự biến mất của nó là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại là rõ ràng.

Đó là cách ông nên trả lời một câu hỏi như vậy."

V. Ananda (S.iii,37)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

− Này Ananda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Nếu được hỏi vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?

4. − Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn,con sẽ trả lời như sau :

5. “Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ… Trong tưởng… Trong các hành… Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.

6. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, trong sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ… Trong tưởng… Trong các hành… Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ananda, trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, Này Ananda, Ông phải trả lời như vậy.

SN 22.38 Với Ānanda (thứ 2) Dutiyaānandasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với Ānanda:

“Này Ānanda, giả sử họ hỏi ông: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đã từng rõ ràng? Những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại sẽ rõ ràng? Những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đang rõ ràng?’ Ông sẽ trả lời như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, giả sử họ hỏi con: ‘Thưa Tôn giả Ānanda, những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đã từng rõ ràng? Những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại sẽ rõ ràng? Những gì là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đang rõ ràng?’ Con sẽ trả lời như thế này:

'Bất cứ sắc nào đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đã từng rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đã từng rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đã từng rõ ràng.

Bất cứ sắc nào chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó sẽ rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó sẽ rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại sẽ rõ ràng.

Bất cứ sắc nào đã sinh, và đã xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đang rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào đã sinh, và đã xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đang rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại đang rõ ràng.’ Đó là cách con sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Tốt lắm, tốt lắm, Ānanda. Bất cứ sắc nào đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đã từng rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đã từng rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại đã từng rõ ràng.

Bất cứ sắc nào chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó sẽ rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó sẽ rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại sẽ rõ ràng.

Bất cứ sắc nào đã sinh, và đã xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đang rõ ràng. Bất cứ thọ… tưởng… hành… thức nào đã sinh, và đã xuất hiện, sự sinh khởi, biến mất, và thay đổi trong khi tồn tại của nó đang rõ ràng. Đây là những thứ mà sự sinh khởi là rõ ràng, sự biến mất là rõ ràng, và sự thay đổi trong khi tồn tại đang rõ ràng.

Đó là cách ông nên trả lời một câu hỏi như vậy."

VI. Ananda (S.iii,38)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này Ananda, nếu Ông được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi như vậy, này Ananda, Ông trả lời như thế nào?

4. − Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:

5. "Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong những pháp này, Này Hiền giả, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.

6. Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.

7. Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu… Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ".

Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.

8. − Lành thay, lành thay, này Ananda! Này Ananda, đối với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức, thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ananda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.

9. Ðối với sắc chưa sanh, này Ananda, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức chưa sanh khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ananda, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.

10. Ðối với sắc đã sanh, này Ananda, đã hiện hữu, đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ… Ðối với tưởng… Ðối với các hành… Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ananda, Ông cần phải trả lời như vậy.

SN 22.39 Phù Hợp Với Giáo Pháp Anudhammasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thực hành phù hợp với giáo pháp, đây là những gì phù hợp với giáo pháp.

Họ nên sống đầy nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sống theo cách này, họ toàn tri sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Toàn tri sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, họ được giải thoát khỏi những thứ này. Họ được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

VII. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàavatthi…

3. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Ðối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.

4. Ai sống nhiều yếm ly đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri sắc… liễu tri thọ… liễu tri tưởng… liễu tri các hành… liễu tri thức. Do liễu tri sắc… thọ… tưởng… các hành… do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.40 Phù Hợp Với Giáo Pháp (thứ 2) Dutiyaanudhammasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thực hành phù hợp với giáo pháp, đây là những gì phù hợp với giáo pháp. Họ nên sống quan sát sự vô thường trong sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. … Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

VIII. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-5. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô thường trong sắc… Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.41 Phù Hợp Với Giáo Pháp (thứ 3) Tatiyaanudhammasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thực hành phù hợp với giáo pháp, đây là những gì phù hợp với giáo pháp. Họ nên sống quan sát sự khổ trong sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. … Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

IX. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-5. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán khổ trong sắc… Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.42 Phù Hợp Với Giáo Pháp (thứ 4) Catutthaanudhammasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thực hành phù hợp với giáo pháp, đây là những gì phù hợp với giáo pháp. Họ nên sống quan sát sự vô ngã trong sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. …

Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

X. Tùy Pháp (S.iii,41)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc… trong thọ… trong tưởng… trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức…

4. Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.

Phẩm Hãy Tự Mình Là Hòn Đảo

SN 22.43 Hãy Tự Mình Là Hòn Đảo Attadīpasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và là nơi nương tựa của các ông, không có nơi nương tựa nào khác.

Khi các ông sống như vậy, các ông nên xem xét nguyên nhân: ‘Sầu, bi, khổ, ưu, và não sinh ra và khởi lên từ đâu?’

Và, này các Tỷ kheo, sầu, bi, khổ, ưu, và não sinh ra và khởi lên từ đâu? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Nhưng sắc đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Họ coi thọ là tự ngã…

Họ coi tưởng là tự ngã…

Họ coi hành là tự ngã…

Họ coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Nhưng thức đó của họ bị suy tàn và hoại diệt, điều này làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Sầu, bi, khổ, ưu, và não được từ bỏ khi các ông hiểu được sự vô thường của sắc—sự hoại diệt, phai nhạt, và chấm dứt của nó—và các ông thấy một cách chân thật với chánh kiến rằng tất cả sắc, dù là quá khứ hay hiện tại, đều là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt. Khi những điều này được từ bỏ, không còn lo âu. Không có lo âu, các ông sống hạnh phúc. Một Tỷ kheo sống hạnh phúc được cho là đã được dập tắt về phương diện đó.

Sầu, bi, khổ, ưu, và não được từ bỏ khi các ông hiểu được sự vô thường của thọ…

tưởng…

hành…

thức—sự hoại diệt, phai nhạt, và chấm dứt của nó—và các ông thấy một cách chân thật với chánh kiến rằng tất cả thức, dù là quá khứ hay hiện tại, đều là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt. Khi những điều này được từ bỏ, không còn lo âu. Không có lo âu, các ông sống hạnh phúc. Một Tỷ kheo sống hạnh phúc được cho là đã được dập tắt về phương diện đó."

V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo.

I. Tự Mình Làm Hòn Ðảo (Ðại 2,8a) (S.iii,42)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác.

4. Với những ai sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác, hãy như lý quán sát: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?”

5. Và này các Tỷ-kheo, sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán (samamupassati) sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, nào sẽ khởi lên.

7. Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ…

8. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã…

9. Vị ấy quán các hành như là tự ngã…

10. Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức này của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi thức của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.

11. Này các Tỷ-kheo, biết sắc là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là (Tadanganibbuto) vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.

12. Này các Tỷ-kheo, biết thọ là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niếtbàn…

13. Này các Tỷ-kheo, biết tưởng là vô thường…

14. Này các Tỷ-kheo, biết các hành là vô thường…

15. Này các Tỷ-kheo, biết thức là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả thức xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niếtbàn…

SN 22.44 Pháp Hành Paṭipadāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông pháp hành dẫn đến sự sinh khởi của thân kiến và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thân kiến. Hãy lắng nghe…

Và pháp hành dẫn đến sự sinh khởi của thân kiến là gì? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân.

Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc.

Họ coi thọ là tự ngã…

Họ coi tưởng là tự ngã…

Họ coi hành là tự ngã…

Họ coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Đây được gọi là pháp hành dẫn đến sự sinh khởi của thân kiến. Và đó là lý do tại sao nó được gọi là một cách nhìn nhận sự vật dẫn đến sự sinh khởi của khổ đau.

Và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thân kiến là gì? Đó là khi một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân.

Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc.

Họ không coi thọ là tự ngã…

Họ không coi tưởng là tự ngã…

Họ không coi hành là tự ngã…

Họ không coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Đây được gọi là pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thân kiến. Và đó là lý do tại sao nó được gọi là một cách nhìn nhận sự vật dẫn đến sự chấm dứt của khổ đau."

II. Con Ðường (Ðại 2,8a) (S.iii,44)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường đưa đến thân kiến tập khởi và con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến thân kiến tập khởi?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.

6-8. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

9. … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

10. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến tập khởi. Con đường đưa đến thân kiến tập khởi có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến khổ tập khởi.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân; không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc.

13-15. … không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành…

16. … không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức.

17. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến sự khổ đoạn diệt.

SN 22.45 Vô Thường Aniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

Thọ là vô thường…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

Nếu tâm của một Tỷ kheo ly tham đối với sắc giới, thọ giới, tưởng giới, hành giới, và thức giới, nó được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

Được giải thoát, nó ổn định. Ổn định, nó mãn nguyện. Mãn nguyện, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

III. Vô Thường (Tạp 3,35, Thanh Tịnh, Ðại 2,21c) (S.iii,44)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Tưởng, này các Tỷ-kheo… Các hành, này các Tỷ-kheo…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, được giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc.

8. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đối với sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… đối với thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

SN 22.46 Vô Thường (thứ 2) Dutiyaaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thọ là vô thường…

Tưởng là vô thường…

Hành là vô thường…

Thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này, họ không có lý thuyết nào về quá khứ. Không có lý thuyết về quá khứ, họ không có lý thuyết nào về tương lai. Không có lý thuyết về tương lai, họ không cố chấp vào chúng. Không còn sùng tín và giáo điều (misapprehension of precepts and observances / giới cấm thủ / mê tín và rập khuôn), tâm trở nên ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức; nó được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

Được giải thoát, nó ổn định. Ổn định, nó mãn nguyện. Mãn nguyện, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

IV. Vô Thường (Tạp 3,36, Chánh Quán Sát, Ðại 2,21c) (S.iii,45)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường… Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

7. Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không có các tùy kiến về quá khứ. Do không có các tùy kiến về quá khứ nên không có các tùy kiến về tương lai. Do không có các tùy kiến về tương lai, kiên trì chấp thủ không có. Do không có kiên trì chấp thủ, đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức, tâm ly tham, giải thoát, không chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình được tịch tịnh một cách viên mãn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.47 Các Cách Nhìn Nhận Samanupassanāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào coi các loại sự vật khác nhau là tự ngã, tất cả đều coi năm thủ uẩn, hoặc một trong số chúng.

Năm uẩn nào? Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân.

Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Vì vậy, họ không thoát khỏi cách nhìn nhận này và ngã mạn ‘tôi là’. Chừng nào họ chưa thoát khỏi ngã mạn ‘tôi là’, năm căn được hình thành—mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Tâm, ý, và vô minh giới đều có mặt. Bị tác động bởi những cảm thọ sinh ra từ sự tiếp xúc với vô minh, một kẻ phàm phu ít nghe nghĩ ‘tôi là’, ‘tôi là cái này’, ‘tôi sẽ là’, ‘tôi sẽ không là’, ‘tôi sẽ có sắc’, ‘tôi sẽ không có sắc’, ‘tôi sẽ có tưởng’, ‘tôi sẽ không có tưởng’, ‘tôi sẽ không có tưởng cũng không không có tưởng’.

Năm căn vẫn ở nguyên vị trí của chúng. Nhưng một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều từ bỏ vô minh về chúng và làm phát sinh tri kiến. Với sự phai nhạt của vô minh và sự phát sinh của tri kiến, họ không nghĩ ‘tôi là’, ‘tôi là cái này’, ‘tôi sẽ là’, ‘tôi sẽ không là’, ‘tôi sẽ có sắc’, ‘tôi sẽ không có sắc’, ‘tôi sẽ có tưởng’, ‘tôi sẽ không có tưởng’, ‘tôi sẽ không có tưởng cũng không không có tưởng’."

V. Quán Kiến (Tạp 2,13, Giác, Ðại 2,11b) (S.iii,46)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tự ngã dưới nhiều hình thức sai khác, quán cả năm thủ uẩn hay quán một trong năm thủ uẩn.

4. Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, ở đây kẻ vô văn phàm phu không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Nếu quán như vậy, thời đi đến chấp kiến: “Tôi là”.

5. Này các Tỷ-kheo, khi đi đến chấp kiến: “Tôi là”, thời năm căn nhập vào avakkanti (hiện hữu), tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

6. Này các Tỷ-kheo, có ý, có các pháp, có vô minh giới. Cảm xúc bởi cảm thọ, (cảm thọ này) sanh do xúc chạm với vô minh; kẻ vô văn phàm phu đi đến chấp kiến: “Tôi là”, đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, đi đến chấp kiến: " Tôi sẽ là", đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ không là” đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với không tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do năm căn an trú ở đây, nhưng đối với vị Ða văn Thánh đệ tử, vô minh được đoạn trừ và minh khởi lên. Do vô minh được viễn ly, do minh sanh khởi, không đi đến chấp kiến: “Tôi là”, không đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu”… “Tôi sẽ không hiện hữu”… “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”… “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”… “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”… “Tôi sẽ hiện hữu với vô tưởng”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.

SN 22.48 Các Uẩn Khandhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về năm uẩn và năm thủ uẩn. Hãy lắng nghe…

Và năm uẩn là gì?

Bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: đây được gọi là sắc uẩn.

Bất kỳ loại thọ nào…

Bất kỳ loại tưởng nào…

Bất kỳ loại hành nào…

Bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: đây được gọi là thức uẩn.

Đây được gọi là năm uẩn.

Và năm thủ uẩn là gì?

Bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần, đi kèm với các lậu hoặc và có xu hướng làm nhiên liệu cho sự chấp thủ: đây được gọi là sắc uẩn liên quan đến chấp thủ.

Bất kỳ loại thọ nào…

Bất kỳ loại tưởng nào…

Bất kỳ loại hành nào…

Bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần, đi kèm với các lậu hoặc và có xu hướng làm nhiên liệu cho sự chấp thủ: đây được gọi là thức uẩn liên quan đến chấp thủ.

Đây được gọi là năm thủ uẩn."

VI. Các Uẩn (Tạp 2,23 Ấm, Ðại 2,13b) (S.iii,47)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn, hãy lắng nghe…

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là năm uẩn?

5. Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn.

6-8. Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có các hành gì…

9. Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức uẩn.

10. Những cái này, này các Tỷ-kheo, được gọi là năm uẩn.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn?

12. Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại… hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.

13-15. Này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có các hành gì…

16. Này các Tỷ-kheo, phàm có thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là thức thủ uẩn.

17. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là năm thủ uẩn.

SN 22.49 Với Soṇa Soṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Lúc bấy giờ, gia chủ Soṇa đi đến chỗ Thế Tôn… Thế Tôn nói với ông:

"Này Soṇa, có những sa-môn và bà-la-môn—dựa trên sắc, vốn là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt—coi mình như thế này: ‘Tôi hơn’, hoặc ‘Tôi bằng’, hoặc ‘Tôi kém’. Đó là gì nếu không phải là một sự thất bại trong việc thấy chân thật? Dựa trên thọ… tưởng… hành… thức, vốn là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, họ coi mình như thế này: ‘Tôi hơn’, hoặc ‘Tôi bằng’, hoặc ‘Tôi kém’. Đó là gì nếu không phải là một sự thất bại trong việc thấy chân thật?

Có những sa-môn và bà-la-môn—dựa trên sắc, vốn là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt—không coi mình như thế này: ‘Tôi hơn’, hoặc ‘Tôi bằng’, hoặc ‘Tôi kém’. Đó là gì nếu không phải là thấy chân thật? Dựa trên thọ… tưởng… hành… thức, vốn là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, họ không coi mình như thế này: ‘Tôi hơn’, hoặc ‘Tôi bằng’, hoặc ‘Tôi kém’. Đó là gì nếu không phải là thấy chân thật?

Ông nghĩ sao, Soṇa? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Vậy, Soṇa, ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

VII. Sona (Tạp 1,20, Thu-lữ-na, Ðại 2,6a) (S.iii,48)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con một gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3. Thế Tôn nói với Sona, con một gia chủ, đang ngồi một bên:

4. − Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán sắc vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay quán: “Ta bằng nhau”, hay quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!

5. … quán thọ vô thường, khổ, biến hoại…

6. … quán tưởng vô thường, khổ, biến hoại…

7. … quán các hành vô thường, khổ, biến hoại…

8. … quán thức vô thường, khổ, biến hoại là : “Ta tốt đẹp hơn”, hay quán: “Ta bằng nhau”, hay quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những người không thấy như thật!

9. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán sắc vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay không quán: “Ta bằng nhau”, hay không quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy như thật!

10-12. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành…

13. Này Sona, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không quán thức vô thường, khổ, biến hoại là: “Ta tốt đẹp hơn”, hay không quán: “Ta bằng nhau”, hay không quán: “Ta hạ liệt hơn”; những vị ấy đâu phải là những ai khác, nếu không phải là những vị thấy như thật!

14. Ông nghĩ thế nào, này Sona, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. − Thọ là thường hay vô thường?..

16. Tưởng là thường hay vô thường?..

17. Các hành là thường hay vô thường?..

18. Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý hay chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

19. − Do vậy, này Sona, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

20-22. Phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm các hành gì…

23. Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

24. Nếu thấy vậy, này Sona, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên chánh trí: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.50 Với Soṇa (thứ 2) Dutiyasoṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Lúc bấy giờ, gia chủ Soṇa đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với ông:

"Này Soṇa, có những sa-môn và bà-la-môn không hiểu sắc, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ không hiểu thọ… tưởng… hành… thức, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta không coi họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và không sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những sa-môn và bà-la-môn hiểu sắc, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu thọ… tưởng… hành… thức, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta coi họ là những sa-môn và bà-la-môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình."

VIII. Sona (Tạp 1,31, Thu-lữ-na, Ðại 2,6c) (S.iii,50)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagala (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.

3. Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:

4. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ… không biết rõ tưởng… không biết rõ các hành… không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

5. Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành… biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Samôn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 22.51 Sự Chấm Dứt Của Ưa Thích Nandikkhayasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng nó là vô thường: đó là chánh kiến của họ. Thấy đúng, họ trở nên nhàm chán. Khi sự ưa thích chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, sự ưa thích chấm dứt. Khi sự ưa thích và tham ái chấm dứt, tâm được giải thoát, và được gọi là giải thoát tốt đẹp.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng nó là vô thường: đó là chánh kiến của họ. Thấy đúng, họ trở nên nhàm chán. Khi sự ưa thích chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, sự ưa thích chấm dứt. Khi sự ưa thích và tham ái chấm dứt, tâm được giải thoát, và được gọi là giải thoát tốt đẹp."

IX. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,51)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát.

4-6. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường… tưởng vô thường… các hành vô thường…

7. Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy.

Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.

SN 22.52 Sự Chấm Dứt Của Ưa Thích (thứ 2) Dutiyanandikkhayasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy như lý tác ý đối với sắc. Hãy thấy một cách chân thật sự vô thường của sắc. Khi một Tỷ kheo làm điều này, họ trở nên nhàm chán với sắc. Khi sự ưa thích chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, sự ưa thích chấm dứt. Khi sự ưa thích và tham ái chấm dứt, tâm được giải thoát, và được gọi là giải thoát tốt đẹp.

Hãy như lý tác ý đối với thọ…

tưởng…

hành…

thức. Hãy thấy một cách chân thật sự vô thường của thức. Khi một Tỷ kheo làm điều này, họ trở nên nhàm chán với thức. Khi sự ưa thích chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, sự ưa thích chấm dứt. Khi sự ưa thích và tham ái chấm dứt, tâm được giải thoát, và được gọi là giải thoát tốt đẹp."

Năm mươi kinh giữa

X. Hỷ Ðược Ðoạn Tận (S.iii,52)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Hãy như lý tác ý sắc, này các Tỷ-kheo, hãy như thật quán (samanupassati) sắc là vô thường. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý sắc, như thật quán sắc là vô thường, vị ấy yếm ly đối với sắc. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.

4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thọ… tác ý tưởng… tác ý các hành…

5. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thức, như thật quán thức là vô thường, vị ấy yếm ly đối với thức. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là đã được khéo giải thoát.

B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa

Phẩm Dính Mắc

SN 22.53 Dính Mắc Upayasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, nếu các ông dính mắc, các ông không được giải thoát. Nếu các ông không dính mắc, các ông được giải thoát.

Chừng nào thức còn tồn tại, nó sẽ tồn tại dính mắc với sắc, được hỗ trợ bởi sắc, đặt nền tảng trên sắc. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với thọ…

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với tưởng…

Hoặc chừng nào thức còn tồn tại, nó sẽ tồn tại dính mắc với hành, được hỗ trợ bởi hành, đặt nền tảng trên hành. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Này các Tỷ kheo, giả sử các ông nói: ‘Ngoài sắc, thọ, tưởng, và hành, tôi sẽ mô tả sự đến và đi của thức, sự qua đời và tái sinh của nó, sự tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành của nó.’ Điều đó là không thể.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với sắc giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với thọ giới…

tưởng giới…

hành giới…

thức giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức. Vì thức đó không được thiết lập và không tăng trưởng, không có sức mạnh để tái tạo, nó được giải thoát.

Được giải thoát, nó ổn định. Ổn định, nó mãn nguyện. Mãn nguyện, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

I. Phẩm Tham Luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

4. Hay do tham luyến thọ … tham luyến tưởng … tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

5. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

6-10. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

11. Không có chỗ y chỉ ấy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát. Do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.54 Hạt Giống Bījasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có năm loại cây được nhân giống từ hạt. Năm loại nào? Cây được nhân giống từ rễ, thân, cành giâm, hoặc đốt; và những loại từ hạt thông thường là loại thứ năm.

Giả sử năm loại cây được nhân giống từ hạt này còn nguyên vẹn, không bị hư hỏng, không bị thời tiết làm hại, màu mỡ, và được giữ gìn tốt. Nhưng không có đất hoặc nước. Vậy thì năm loại cây được nhân giống từ hạt này có thể tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Giả sử năm loại cây được nhân giống từ hạt này còn nguyên vẹn, không bị hư hỏng, không bị thời tiết làm hại, màu mỡ, và được giữ gìn tốt. Và có đất và nước. Vậy thì năm loại cây được nhân giống từ hạt này có thể tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành không?”

“Có, bạch Thế Tôn.”

"Bốn nền tảng của thức nên được xem như là địa đại. Sự ưa thích và tham ái nên được xem như là thủy đại. Thức cùng với nhiên liệu của nó nên được xem như là năm loại cây được nhân giống từ hạt.

Chừng nào thức còn tồn tại, nó sẽ tồn tại dính mắc với sắc, được hỗ trợ bởi sắc, đặt nền tảng trên sắc. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với thọ…

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với tưởng…

Hoặc chừng nào thức còn tồn tại, nó sẽ tồn tại dính mắc với hành, được hỗ trợ bởi hành, đặt nền tảng trên hành. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Này các Tỷ kheo, giả sử các ông nói: ‘Ngoài sắc, thọ, tưởng, và hành, tôi sẽ mô tả sự đến và đi của thức, sự qua đời và tái sinh của nó, sự tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành của nó.’ Điều đó là không thể.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với sắc giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với thọ giới…

tưởng giới…

hành giới…

thức giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức. Vì thức đó không được thiết lập và không tăng trưởng, không có sức mạnh để tái tạo, nó được giải thoát.

Được giải thoát, nó ổn định. Ổn định, nó mãn nguyện. Mãn nguyện, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt… không còn gì nữa cho nơi này.’"

II. Chủng Tử (Tạp 2, Ðại 2,8c) (S.iii,54)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm loại chủng tử. Thế nào là năm? Chủng tử từ rễ, chủng tử từ thân, chủng tử từ đọt, chủng tử từ quả, và chủng tử từ chủng tử là thứ năm.

4. Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, nhưng không có đất, và không có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5. − Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, có đất và có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?

− Thưa được, bạch Thế Tôn.

6. − Này các Tỷ-kheo, ví như đất, bốn thức trú cần phải được xem như vậy. Ví như nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham cần phải được xem như vậy. Ví như năm loại chủng tử, này các Tỷ-kheo, thức cùng các món ăn cần phải được xem như vậy.

7. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

8-10. Do tham luyến thọ… Do tham luyến tưởng… Do tham luyến các hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được tồn tại. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

11. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

12. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

13-16. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới… đối với tưởng giới… đối với hành giới… đối với thức giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.

17. Không có chỗ y chỉ như vậy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.55 Lời Cảm Hứng Udānasutta

Tại Sāvatthī.

Ở đó, Thế Tôn đã nói lên lời cảm hứng này: “‘Nó có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Nó sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi.’ Một Tỷ kheo đưa ra một quyết tâm như vậy có thể cắt đứt các kiết sử thấp hơn.”

Khi Ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo hỏi Thế Tôn: “Nhưng bạch Thế Tôn, làm thế nào một Tỷ kheo đưa ra một quyết tâm như vậy có thể cắt đứt các kiết sử thấp hơn?”

"Này Tỷ kheo, hãy lấy một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của họ. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của họ.

Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là vô thường—là vô thường. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô thường—là vô thường.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là khổ—là khổ. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là khổ—là khổ.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là vô ngã—là vô ngã. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô ngã—là vô ngã.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh.

Họ không thực sự hiểu rằng sắc sẽ biến mất. Họ không thực sự hiểu rằng thọ… tưởng… hành… thức sẽ biến mất.

Nhưng một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã… Họ không coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là vô thường—là vô thường. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô thường—là vô thường.

Họ thực sự hiểu sắc… thọ… tưởng… hành… thức—vốn là khổ—là khổ.

Họ thực sự hiểu sắc… thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô ngã—là vô ngã.

Họ thực sự hiểu sắc… thọ… tưởng… hành… thức—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh.

Họ thực sự hiểu rằng sắc sẽ biến mất. Họ thực sự hiểu rằng thọ… tưởng… hành… thức sẽ biến mất.

Chính vì sự biến mất của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức mà một Tỷ kheo đưa ra một quyết tâm như vậy—‘Nó có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Nó sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi’—có thể cắt đứt các kiết sử thấp hơn."

"Bạch Thế Tôn, một Tỷ kheo đưa ra một quyết tâm như vậy có thể cắt đứt các kiết sử thấp hơn.

Nhưng làm thế nào họ phải biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này?"

"Này Tỷ kheo, một kẻ phàm phu ít nghe lo lắng về những điều không đáng lo. Vì một kẻ phàm phu ít nghe lo lắng: ‘Nó có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Nó sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi.’

Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng về những điều không đáng lo. Vì một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không lo lắng: ‘Nó có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Nó sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi.’

Chừng nào thức còn tồn tại, nó sẽ tồn tại dính mắc với sắc, được hỗ trợ bởi sắc, đặt nền tảng trên sắc. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với thọ…

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với tưởng…

Hoặc thức sẽ tồn tại dính mắc với hành, được hỗ trợ bởi hành, đặt nền tảng trên hành. Và với một chút ưa thích, nó sẽ tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành.

Giả sử, Tỷ kheo, ông nói: ‘Ngoài sắc, thọ, tưởng, và hành, tôi sẽ mô tả sự đến và đi của thức, sự qua đời và tái sinh của nó, sự tăng trưởng, gia tăng, và trưởng thành của nó.’ Điều đó là không thể.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với sắc giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức.

Nếu một Tỷ kheo đã từ bỏ tham ái đối với thọ giới…

tưởng giới…

hành giới…

thức giới, sự hỗ trợ bị cắt đứt, và không có nền tảng cho thức. Vì thức đó không được thiết lập và không tăng trưởng, không có sức mạnh để tái tạo, nó được giải thoát.

Được giải thoát, nó ổn định. Ổn định, nó mãn nguyện. Mãn nguyện, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình nhập Niết-bàn.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt… không còn gì nữa cho nơi này.’

Sự chấm dứt của các lậu hoặc là dành cho người biết và thấy điều này."

III. Lời Cảm Hứng (Tạp 2, Ðại 2,16c) (S.iii,55)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Ở đấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng như sau:

Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Như thế nào bạch Thế Tôn:

Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn?

4. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

5. Vị ấy không như thật biết rõ (pajànàti) sắc vô thường là sắc vô thường, không như thật biết rõ thọ vô thường là thọ vô thường, không như thật biết rõ tưởng vô thường là tưởng vô thường, không như thật biết rõ hành vô thường là hành vô thường, không như thật biết rõ thức vô thường là thức vô thường.

6. Không như thật biết rõ sắc khổ là sắc khổ, không như thật biết rõ thọ khổ… tưởng khổ… hành khổ… không như thật biết rõ thức khổ là thức khổ.

7. Không như thật biết rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, không như thật biết rõ thọ vô ngã… tưởng vô ngã… hành vô ngã… không như thật biết rõ thức vô ngã là thức vô ngã.

8. Không như thật biết rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, không như thật biết rõ thọ hữu vi… tưởng hữu vi… hành hữu vi… không như thật biết rõ thức hữu vi là thức hữu vi.

9. Không như thật biết rõ sắc sẽ biến diệt… thọ sẽ biến diệt… tưởng sẽ biết diệt… các hành sẽ biến diệt… không như thật biết rõ thức sẽ biến diệt.

10. Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

11. Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô thường là vô thường, thọ vô thường… tưởng vô thường… hành vô thường… thức vô thường là thức vô thường.

12. Vị ấy như thật thấy rõ sắc khổ là sắc khổ, thọ khổ… tưởng khổ… hành khổ… như thật thấy rõ thức khổ là thức khổ.

13. Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, thọ vô ngã… tưởng vô ngã… các hành vô ngã… thức vô ngã là thức vô ngã.

14. Vị ấy như thật thấy rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, thọ hữu vi… tưởng hữu vi… các hành hữu vi… thức hữu vi là thức hữu vi.

15. Vị ấy như thật thấy rõ sắc sẽ biến diệt là sắc sẽ biến diệt, thọ sẽ biến diệt… tưởng sẽ biến diệt… các hành sẽ biến diệt… thức sẽ biến diệt là thức sẽ biến diệt.

16. Do sắc biến diệt, thọ biến diệt, tưởng biến diệt, hành biến diệt, thức biến diệt, vị Tỷ-kheo nói lên lời cảm hứng:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.

17. − Dầu cho quyết tâm như vậy, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo có thể cắt đứt hạ phần kiết sử. Nhưng bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?

18. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ như sau:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có.
Tương lai sẽ không ta.

19. Và vị Ða văn Thánh đệ tử, này Tỷ-kheo, không hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; vị Ða văn Thánh đệ tử không có hoảng sợ như sau:

Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.

20. Này Tỷ-kheo, do tham luyến sắc, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

21-33. Do tham luyến thọ… do tham luyến tưởng… do tham luyến hành… do tham luyến thức, này Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.

24. Này Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.

25. Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.

26. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới…

27. Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với tưởng giới…

28. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với hành giới…

29. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.

30. Không có chỗ y chỉ như vậy thức không tăng trưởng, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.56 Các Vòng Của Thủ Uẩn Upādānaparipavattasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có năm thủ uẩn này. Năm uẩn nào? Các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

Chừng nào Ta chưa thực sự hiểu năm thủ uẩn này qua bốn vòng, Ta đã không tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã thực sự hiểu năm thủ uẩn này qua bốn vòng, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các vị sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người.

Và làm thế nào có bốn vòng? Ta đã hiểu biết trực tiếp sắc, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta đã hiểu biết trực tiếp thọ… tưởng… hành… thức, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó.

Và sắc là gì? Bốn đại, và sắc được tạo ra từ bốn đại. Đây được gọi là sắc. Sắc sinh khởi từ thức ăn. Khi thức ăn chấm dứt, sắc chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của sắc chính là bát chánh đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp sắc theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó—và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc: họ đang thực hành tốt. Những người thực hành tốt có một nền tảng vững chắc trong giáo pháp và sự tu tập này.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp sắc theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó—và do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát bằng cách không chấp thủ: họ được giải thoát tốt đẹp. Những người được giải thoát tốt đẹp là những bậc toàn thiện. Đối với những bậc toàn thiện, không có vòng luân hồi nào được tìm thấy.

Và thọ là gì? Có sáu loại thọ này: thọ sinh ra từ sự tiếp xúc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Đây được gọi là thọ. Thọ sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, thọ chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thọ chính là bát chánh đạo này…

Và tưởng là gì? Có sáu loại tưởng này: tưởng về cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý tưởng. Đây được gọi là tưởng. Tưởng sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, tưởng chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của tưởng chính là bát chánh đạo này…

Và hành là gì? Có sáu loại ý định này: ý định về cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý tưởng. Đây được gọi là hành. Hành sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, hành chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của hành chính là bát chánh đạo này…

Và thức là gì? Có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức. Đây được gọi là thức. Thức sinh khởi từ danh và sắc. Khi danh và sắc chấm dứt, thức chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thức chính là bát chánh đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp thức theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó—và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức: họ đang thực hành tốt. Những người thực hành tốt có một nền tảng vững chắc trong giáo pháp và sự tu tập này.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp thức theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó—và do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức, được giải thoát bằng cách không chấp thủ: họ được giải thoát tốt đẹp. Những người được giải thoát tốt đẹp là những bậc toàn thiện. Đối với những bậc toàn thiện, không có vòng luân hồi nào được tìm thấy."

IV. Thủ Chuyển (Tạp 2, Ðại 2,9b) (S.iii,58)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

4. Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

5. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

6. Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ… tưởng… hành… Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

8. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào do thắng tri sắc như vậy; do thắng tri sắc tập khởi như vậy, do thắng tri sắc đoạn diệt như vậy, do thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

9. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy… thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định.

11. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

12. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy… thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ!

13-15. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

16. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

18. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành, họ giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

19. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỷ -kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy… chánh định.

20. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

21. Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

SN 22.57 Bảy Trường Hợp Sattaṭṭhānasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, trong giáo pháp và sự tu tập này, một Tỷ kheo thuần thục trong bảy trường hợp và xem xét theo ba cách được gọi là bậc toàn thiện, thành tựu, bậc tối thượng.

Và làm thế nào một Tỷ kheo thuần thục trong bảy trường hợp? Đó là khi một Tỷ kheo hiểu sắc, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của sắc. Họ hiểu thọ… tưởng… hành… thức, sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của thức.

Và sắc là gì? Bốn đại, và sắc được tạo ra từ bốn đại. Đây được gọi là sắc. Sắc sinh khởi từ thức ăn. Khi thức ăn chấm dứt, sắc chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của sắc chính là bát chánh đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ sắc: đây là vị ngọt của nó. Sắc đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với sắc: đây là lối thoát của nó.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp sắc theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó; vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của nó—và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc: họ đang thực hành tốt. Những người thực hành tốt có một nền tảng vững chắc trong giáo pháp và sự tu tập này.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp sắc theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó; vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của nó—và do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát bằng cách không chấp thủ: họ được giải thoát tốt đẹp. Những người được giải thoát tốt đẹp là những bậc toàn thiện. Đối với những bậc toàn thiện, không có vòng luân hồi nào được tìm thấy.

Và thọ là gì? Có sáu loại thọ này: thọ sinh ra từ sự tiếp xúc qua mắt… thọ sinh ra từ sự tiếp xúc qua ý. Đây được gọi là thọ. Thọ sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, thọ chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thọ chính là bát chánh đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ thọ: đây là vị ngọt của nó. Thọ đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với thọ: đây là lối thoát của nó. …

Và tưởng là gì? Có sáu loại tưởng này: tưởng về cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý tưởng. Đây được gọi là tưởng. Tưởng sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, tưởng chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của tưởng chính là bát chánh đạo này…

Và hành là gì? Có sáu loại ý định này: ý định về cảnh sắc… ý định về ý tưởng. Đây được gọi là hành. Hành sinh khởi từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, hành chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của hành chính là bát chánh đạo này…

Và thức là gì? Có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức. Đây được gọi là thức. Thức sinh khởi từ danh và sắc. Khi danh và sắc chấm dứt, thức chấm dứt. Pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của thức chính là bát chánh đạo này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ thức: đây là vị ngọt của nó. Thức đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với thức: đây là lối thoát của nó.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp thức theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó; vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của nó—và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức: họ đang thực hành tốt. Những người thực hành tốt có một nền tảng vững chắc trong giáo pháp và sự tu tập này.

Những sa-môn và bà-la-môn nào đã hiểu biết trực tiếp thức theo cách này—và sự sinh khởi của nó, sự chấm dứt của nó, và pháp hành dẫn đến sự chấm dứt của nó; vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của nó—và do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức, được giải thoát bằng cách không chấp thủ: họ được giải thoát tốt đẹp. Những người được giải thoát tốt đẹp là những bậc toàn thiện. Đối với những bậc toàn thiện, không có vòng luân hồi nào được tìm thấy. Đó là cách một Tỷ kheo thuần thục trong bảy trường hợp.

Và làm thế nào một Tỷ kheo xem xét theo ba cách? Đó là khi một Tỷ kheo xem xét theo cách của các giới, các xứ, và duyên khởi. Đó là cách một Tỷ kheo xem xét theo ba cách.

Trong giáo pháp và sự tu tập này, một Tỷ kheo thuần thục trong bảy trường hợp và xem xét theo ba cách được gọi là bậc toàn thiện, thành tựu, bậc tối thượng."

V. Bảy Xứ (Sattatthàna) (Tạp 2, Ðại 2,10a; 498c; 875b) (Tăng 35, Ðại 2,754b) (S.iii,61)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, này các Tỷ-kheo, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một bậc tối thượng nhân.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo biết rõ (pajànati) sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của sắc, biết rõ sự nguy hiểm của sắc, biết rõ sự xuất ly của sắc.

6-8. … biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành…

9. … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của thức, biết rõ sự nguy hiểm của thức, biết rõ sự xuất ly của thức.

10. Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sắc. Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến sắc đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định…

11. Duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đây là sự nguy hại của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là xuất ly của sắc.

12. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

13. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: Thọ do nhãn xúc sanh… thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến… chánh định.

15. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là xuất ly của thọ.

16. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thọ là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thọ là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thọ là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

18-20. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt… thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

21. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các hành? Này các Tỷ-kheo, có sáu tư thân: Sắc tư… pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

22. Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của hành. Các hành vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của hành. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với các hành, đây là xuất ly của các hành.

23-24. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này… Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

25. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt đối với thức, tức là chánh tri kiến… chánh định.

26. Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức. Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thức, đây là xuất ly của thức.

27. Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.

28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ giải thoát, không chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.

29. Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ.

30. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách.

31. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng nhân.

SN 22.58 Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Sammāsambuddhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, một Bậc Như Lai, một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác được giải thoát bằng cách không chấp thủ, do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc. Họ được gọi là một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ cũng được giải thoát bằng cách không chấp thủ, do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc. Họ được gọi là một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ.

Một Bậc Như Lai, một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác được giải thoát bằng cách không chấp thủ, do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thọ…

tưởng…

hành…

thức. Họ được gọi là một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ cũng được giải thoát bằng cách không chấp thủ, do nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức. Họ được gọi là một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ.

Vậy thì, sự khác biệt giữa một Bậc Như Lai, một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, và một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ là gì?"

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Thế Tôn. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy tự mình làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ nó.”

“Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và như lý tác ý, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã làm phát sinh con đường chưa từng phát sinh, đã khai sinh con đường chưa từng được sinh ra, và đã giải thích con đường chưa từng được giải thích. Ngài là người biết con đường, người khám phá con đường, người chuyên gia về con đường. Và bây giờ các đệ tử sống theo con đường; họ tiếp thu nó sau này.

Đây là sự khác biệt giữa một Bậc Như Lai, một bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, và một Tỷ kheo được giải thoát bằng trí tuệ."

VI. Chánh Ðẳng Giác . (S.iii,54)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

4. Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

5-7. Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng… đoạn diệt các hành… đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ?

9. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì!

− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

10. Thế Tôn nói như sau:

− Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).

11. Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.

SN 22.59 Đặc Tính Vô Ngã Anattalakkhaṇasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Varanasi, trong vườn nai ở Isipatana. Ở đó, Thế Tôn nói với nhóm năm vị Tỷ kheo:

“Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Tôn giả,” họ đáp. Thế Tôn nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô ngã. Vì nếu sắc là tự ngã, nó sẽ không dẫn đến phiền não. Và các ông có thể ép buộc sắc: ‘Mong sắc của ta hãy như thế này! Mong nó đừng như thế kia!’ Nhưng vì sắc là vô ngã, nó dẫn đến phiền não. Và các ông không thể ép buộc sắc: ‘Mong sắc của ta hãy như thế này! Mong nó đừng như thế kia!’

Thọ là vô ngã…

Tưởng là vô ngã…

Hành là vô ngã…

Thức là vô ngã. Vì nếu thức là tự ngã, nó sẽ không dẫn đến phiền não. Và các ông có thể ép buộc thức: ‘Mong thức của ta hãy như thế này! Mong nó đừng như thế kia!’ Nhưng vì thức là vô ngã, nó dẫn đến phiền não. Và các ông không thể ép buộc thức: ‘Mong thức của ta hãy như thế này! Mong nó đừng như thế kia!’

Các ông nghĩ sao, các Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ là thường hằng hay vô thường?”…

“Tưởng là thường hằng hay vô thường?”…

“Hành là thường hằng hay vô thường?”…

“Thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Vậy các ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Bất kỳ loại thọ nào…

Bất kỳ loại tưởng nào…

Bất kỳ loại hành nào…

Các ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Hài lòng, nhóm năm vị Tỷ kheo hoan hỷ những gì Thế Tôn đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, tâm của nhóm năm vị Tỷ kheo đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66)

1. Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2. Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. − “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: “Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”

4. Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: “Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”

5. Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”

6. Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”

7. Tưởng là vô ngã…

8. Các hành là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!”

9. Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!”

10. Thức là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”

11. Và này các Tỷ-kheo, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”

12. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn!

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

13-15. − Thọ… Tưởng… Các hành…

16. Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17. − Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

18. Phàm thọ gì…

19. Phàm tưởng gì…

20. Phàm các hành gì…

21. Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

22. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

23. Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 22.60 Với Mahāli Mahālisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Mahāli người Licchavi đi đến chỗ Thế Tôn… và bạch Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa nói rằng: ‘Không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự ô nhiễm của chúng sanh. Chúng sanh bị ô nhiễm không có nguyên nhân hay lý do. Không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Chúng sanh được thanh tịnh không có nguyên nhân hay lý do.’ Thế Tôn nói gì về điều này?”

“Này Mahāli, có nguyên nhân và lý do cho sự ô nhiễm của chúng sanh. Chúng sanh bị ô nhiễm có nguyên nhân và lý do. Có nguyên nhân và lý do cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Chúng sanh được thanh tịnh có nguyên nhân và lý do.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, nguyên nhân và lý do cho sự ô nhiễm của chúng sanh là gì? Chúng sanh bị ô nhiễm có nguyên nhân và lý do như thế nào?”

"Này Mahāli, nếu sắc chỉ toàn là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong lạc thú—chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì sắc là lạc thú—thấm đẫm và ngập chìm trong lạc thú và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh bị kích thích bởi nó. Vì bị kích thích bởi nó, họ bị cuốn vào nó, và do đó họ trở nên ô nhiễm. Đây là một nguyên nhân và lý do cho sự ô nhiễm của chúng sanh. Đây là cách chúng sanh bị ô nhiễm có nguyên nhân và lý do.

Nếu thọ…

tưởng…

hành…

thức chỉ toàn là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong lạc thú—chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì thức là lạc thú—thấm đẫm và ngập chìm trong lạc thú và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh bị kích thích bởi nó. Vì bị kích thích bởi nó, họ bị cuốn vào nó, và do đó họ trở nên ô nhiễm. Đây là một nguyên nhân và lý do cho sự ô nhiễm của chúng sanh. Đây là cách chúng sanh bị ô nhiễm có nguyên nhân và lý do."

“Nhưng bạch Thế Tôn, nguyên nhân và lý do cho sự thanh tịnh của chúng sanh là gì? Chúng sanh được thanh tịnh có nguyên nhân và lý do như thế nào?”

"Này Mahāli, nếu sắc hoàn toàn là lạc thú—thấm đẫm và ngập chìm trong lạc thú và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì sắc là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong lạc thú—chúng sanh nhàm chán với nó. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được thanh tịnh. Đây là một nguyên nhân và lý do cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Đây là cách chúng sanh được thanh tịnh có nguyên nhân và lý do.

Nếu thọ…

tưởng…

hành…

thức hoàn toàn là lạc thú—thấm đẫm và ngập chìm trong lạc thú và không thấm đẫm trong đau khổ—chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì thức là đau khổ—thấm đẫm và ngập chìm trong đau khổ và không thấm đẫm trong lạc thú—chúng sanh nhàm chán với nó. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được thanh tịnh. Đây là một nguyên nhân và lý do cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Đây là cách chúng sanh được thanh tịnh có nguyên nhân và lý do."

VIII. Mahàli (Tạp 3,32, Phú-Lâu-Na, Ðại 2,20b)(Siii,68)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, trong rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các đại giảng đường.

2. Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahàli, người Licchavi, bạch Thế Tôn:

3. − Puràna Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp), bạch Thế Tôn, thuyết như sau: “Không nhân, không duyên là sự nhiễm ô của chúng sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Không nhân, không duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh được thanh tịnh”. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết như thế nào?

4. − Này Mahàli, có nhân, có duyên là sự nhiễm ô của chúng sanh. Này Mahàli, có nhân, có duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Này Mahàli, có nhân có duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Có nhân, có duyên, chúng sanh được thanh tịnh.

5. − Nhưng bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì là sự nhiễm ô của chúng sanh? Do có nhân gì, do có duyên gì chúng sanh bị nhiễm ô?

6. − Này Mahàli, nếu sắc nhứt hướng khổ, rơi trên đau khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng sanh không tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli, sắc là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối với sắc. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

7. Và này Mahàli, nếu thọ nhứt hướng khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời các chúng sanh không tham đắm đối với thọ. Và vì rằng, này Mahàli, thọ là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối với thọ. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

8-9. Và này Mahàli, nếu tưởng nhứt hướng khổ… nếu các hành nhứt hướng khổ…

10. Và này Mahàli, nếu thức nhứt hướng khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng sanh không tham đắm đối với thức. Vì rằng, này Mahàli, thức là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, do vậy chúng sanh tham đắm đối với thức. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên bị nhiễm ô. Này Mahali, đây là nhân, đây là duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.

11. − Bạch Thế Tôn, thế nào là nhân, thế nào là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh? Do có nhân như thế nào, có duyên như thế nào, chúng sanh được thanh tịnh?

12. − Này Mahàli, nếu sắc là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng sanh không nhàm chán đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli, sắc là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với sắc. Do yếm ly nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được thanh tịnh.

13. Này Mahàli, nếu thọ là nhứt hướng lạc…

14. Này Mahàli, nếu tưởng là nhứt hướng lạc…

15. Này Mahàli, nếu các hành là nhứt hướng lạc…

16. Này Mahàli, nếu thức là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng sanh không nhàm chán đối với thức. Và vì rằng, này Mahàli, thức là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với thức. Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được thanh tịnh.

SN 22.61 Bốc Cháy Ādittasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức đang bốc cháy.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’"

IX. Lửa Cháy (S.iii,58)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, đang bốc cháy; thọ đang bốc cháy; tưởng đang bốc cháy; hành đang bốc cháy; thức đang bốc cháy!

4. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”.

5. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.62 Phạm Vi Ngôn Ngữ Niruttipathasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có ba phạm vi thuật ngữ, nhãn hiệu, và mô tả này. Chúng không bị sai lạc, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị sai lạc bây giờ, cũng sẽ không bị. Các sa-môn và bà-la-môn sáng suốt không coi thường chúng. Ba phạm vi nào? Khi sắc đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘đã là’. Nó không phải là ‘là’ hay ‘sẽ là’.

Khi thọ…

tưởng…

hành…

thức đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘đã là’. Nó không phải là ‘là’ hay ‘sẽ là’.

Khi sắc chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘sẽ là’. Nó không phải là ‘là’ hay ‘đã là’.

Khi thọ…

tưởng…

hành…

thức chưa sinh, và chưa xuất hiện, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘sẽ là’. Nó không phải là ‘là’ hay ‘đã là’.

Khi sắc đã sinh, và đã xuất hiện, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘là’. Nó không phải là ‘đã là’ hay ‘sẽ là’.

Khi thọ…

tưởng…

hành…

thức đã sinh, và đã xuất hiện, sự chỉ định, nhãn hiệu, và mô tả của nó là ‘là’. Nó không phải là ‘đã là’ hay ‘sẽ là’.

Đây là ba phạm vi thuật ngữ, nhãn hiệu, và mô tả. Chúng không bị sai lạc, như chúng đã có từ ban đầu. Chúng không bị sai lạc bây giờ, cũng sẽ không bị. Các sa-môn và bà-la-môn sáng suốt không coi thường chúng.

Ngay cả những du sĩ trong quá khứ, Vassa và Bhañña của Ukkalā, những người tuân theo các học thuyết vô nhân, vô hành, và hư vô, cũng không tưởng tượng rằng ba phạm vi ngôn ngữ này nên bị chỉ trích hay từ chối. Tại sao vậy? Vì sợ bị đổ lỗi, tấn công, và lên án."

X. Ngôn Lộ (S.iii,59)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là ba?

4. Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; sắc ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

5. Phàm thọ gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thọ ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

6. Phàm tưởng gì đã qua…

7. Phàm các hành gì đã qua…

8. Phàm thức gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thức ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

9. Phàm sắc gì chưa sanh, chưa hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “đã có”.

10. Phàm thọ gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, thọ ấy không được xác nhận là “đã có”.

11. Phàm tưởng gì…

12. Phàm các hành gì…

13. Phàm thức gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thức ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, thức ấy không được xác nhận là “đã có”.

14. Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã sanh, đã hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Sắc ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

15. Phàm thọ gì đã sanh, đã hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thọ ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.

16. Phàm tưởng gì…

17. Phàm các hành gì…

18. Phàm thức gì đã sanh, đã hiện hữu ; thức ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thức ấy không được xác nhận là “đã có”, thức ấy không được xác nhận là “sẽ có”.

19. Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.

20. Tuy vậy, dân chúng ở Ukkali, những vị thuyết pháp trong thời an cư mùa mưa, các vị vô nhân luận giả, các vị vô tác luận giả, các vị vô hữu luận giả, những vị ấy cũng không có nghĩ rằng ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ này không đáng quở trách, không đáng khinh miệt. Vì sao? Vì rằng, họ sợ quở trách, công kích, phẫn nộ, chỉ trích.

Phẩm Các Bậc A-la-hán

SN 22.63 Khi Ông Chấp Thủ Upādiyamānasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī trong vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Khi ông chấp thủ, này Tỷ kheo, ông bị Ma vương trói buộc. Không chấp thủ, ông được giải thoát khỏi Ác ma.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, khi con chấp thủ sắc, con bị Ma vương trói buộc. Không chấp thủ, con được giải thoát khỏi Ác ma. Khi con chấp thủ thọ… tưởng… hành… thức, con bị Ma vương trói buộc. Không chấp thủ, con được giải thoát khỏi Ác ma.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Khi ông chấp thủ sắc, ông bị Ma vương trói buộc. Không chấp thủ, ông được giải thoát khỏi Ác ma. Khi ông chấp thủ thọ… tưởng… hành… thức, ông bị Ma vương trói buộc. Không chấp thủ, ông được giải thoát khỏi Ác ma.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn."

Và rồi vị Tỷ kheo đó hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi rời đi.

Lúc bấy giờ, vị Tỷ kheo đó, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán, chẳng bao lâu đã nhận ra mục tiêu tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ông sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống tại gia để xuất gia.

Ông hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì nữa cho nơi này.” Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

II. Phẩm A-La-Hán

I. Chấp Trước (Tạp 1. Ðại 2,4b) (S.iii,73)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai chấp trước, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?

− Ai chấp trước sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước tưởng… Ai chấp trước các hành… Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

6. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn tắt này của Ta. Ai chấp trước sắc, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ… Ai chấp trước tưởng… Ai chấp trước các hành… Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và ra đi.

8. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, vì mục đích gì mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình mong cầu chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh; vị ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy chứng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.64 Tưởng Tượng Maññamānasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Khi ông tưởng tượng, này Tỷ kheo, ông bị Ma vương trói buộc. Không tưởng tượng, ông được giải thoát khỏi Ác ma.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, khi con tưởng tượng sắc, con bị Ma vương trói buộc. Không tưởng tượng, con được giải thoát khỏi Ác ma. Khi con tưởng tượng thọ… tưởng… hành… thức, con bị Ma vương trói buộc. Không tưởng tượng, con được giải thoát khỏi Ác ma.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Khi ông tưởng tượng sắc, ông bị Ma vương trói buộc. Không tưởng tượng, ông được giải thoát khỏi Ác ma. Khi ông tưởng tượng thọ… tưởng… hành… thức, ông bị Ma vương trói buộc. Không tưởng tượng, ông được giải thoát khỏi Ác ma.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

II. Suy Tưởng (S.iii,74)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lành thay, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con… nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai suy tưởng, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt:

6. − Ai suy tưởng sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai suy tưởng thọ… tưởng… hành… thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn tắt này của Ta. Này Tỷ-kheo, ai suy tưởng sắc, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai suy tưởng thọ… tưởng… các hành… Ai suy tưởng thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.65 Khi Ông Hưởng Lạc Abhinandamānasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Khi ông hưởng lạc, này Tỷ kheo, ông bị Ma vương trói buộc. Không hưởng lạc, ông được giải thoát khỏi Ác ma.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, khi con hưởng lạc trong sắc, con bị Ma vương trói buộc. Không hưởng lạc, con được giải thoát khỏi Ác ma. Khi con hưởng lạc trong thọ… tưởng… hành… thức, con bị Ma vương trói buộc. Không hưởng lạc, con được giải thoát khỏi Ác ma.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Khi ông hưởng lạc trong sắc, ông bị Ma vương trói buộc. Không hưởng lạc, ông được giải thoát khỏi Ác ma. Khi ông hưởng lạc trong thọ… tưởng… hành… thức, ông bị Ma vương trói buộc. Không hưởng lạc, ông được giải thoát khỏi Ác ma.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

III. Hoan Hỷ (S.iii,75)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3.. … Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ai hoan hỷ, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?

6. − Ai hoan hỷ sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai hoan hỷ thọ… tưởng… các hành… Ai hoan hỷ thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông đã hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt. Ai hoan hỷ sắc, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai hoan hỷ thọ… tưởng… các hành… Ai hoan hỷ thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.66 Vô Thường Aniccasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục vọng đối với bất cứ điều gì vô thường.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, sắc là vô thường; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô thường; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Sắc là vô thường; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô thường; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

IV. Vô Thường (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,76)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần…

4. − Cái gì vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ là vô thường… Tưởng là vô thường… Các hành là vô thường… Thức là vô thường, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.67 Khổ Dukkhasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục vọng đối với bất cứ điều gì là khổ.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, sắc là khổ; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là khổ; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Sắc là khổ; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là khổ; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

V. Khổ (S.iii,77)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là khổ, bạch Thế Tôn. Ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là khổ, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là khổ, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là khổ, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.68 Vô Ngã Anattasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục vọng đối với những gì là vô ngã.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, sắc là vô ngã; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô ngã; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Sắc là vô ngã; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô ngã; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

VI. Vô Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,77)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con… con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc là vô ngã, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô ngã, ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.69 Không Thuộc Về Tự Ngã Anattaniyasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục vọng đối với bất cứ điều gì không thuộc về tự ngã.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, sắc không thuộc về tự ngã; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức không thuộc về tự ngã; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Sắc không thuộc về tự ngã; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức không thuộc về tự ngã; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

VII. Không Ðáng Thuộc Tự Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3c) (S.iii,79)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi… Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con…

4. − Cái gì không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc không đáng thuộc tự ngã, bạch Thế Tôn, ở đây, con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức không đáng thuộc tự ngã, ở đây, con cần phải từ bỏ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời dạy vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng rãi. Sắc không đáng thuộc tự ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành…Thức không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.70 Chắc Chắn Gây Kích Thích Rajanīyasaṇṭhitasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán.”

“Này Tỷ kheo, hãy từ bỏ dục vọng đối với bất cứ điều gì bị mắc kẹt trong những gì gây kích thích.”

“Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Bậc Thánh!”

“Nhưng ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Ta như thế nào?”

"Bạch Thế Tôn, sắc bị mắc kẹt trong những gì gây kích thích; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức bị mắc kẹt trong những gì gây kích thích; con nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời nói ngắn gọn của Thế Tôn."

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Tốt lắm khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.

Sắc bị mắc kẹt trong những gì gây kích thích; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức bị mắc kẹt trong những gì gây kích thích; ông nên từ bỏ dục vọng đối với nó.

Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn." …

Và vị Tỷ kheo đó đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

VIII. Chỉ Trú Cho Ô Nhiễm (Tạp 1, Ðại 2,4a) (S.iii,79)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con…

4. − Cái gì làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

− Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu bạch Thiện Thệ.

5. − Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?

6. − Sắc làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, bạch Thế Tôn, ở đây con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, ở đây, con cần phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

7. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo. Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Sắc là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

8-9. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy… Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa!

SN 22.71 Với Rādha Rādhasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Rādha đi đến chỗ Thế Tôn… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài?”

"Này Rādha, một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài." …

Và Tôn giả Rādha đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

IX. Ràdha (Tạp 6, Ðại 2,37c) (S.iii,79)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2-3. Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn sau khi đến… bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”?

4. − Này Ràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần được thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5. Phàm có thọ…

6. Phàm có tưởng…

7. Phàm có các hành…

8. Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần được thấy như thật với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Này Ràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”.

10.. … Tôn giả Ràdha trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 22.72 Với Surādha Surādhasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Surādha nói với Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, nó trở nên bình yên và được giải thoát tốt đẹp?”

"Này Surādha, một người được giải thoát bằng cách không chấp thủ sau khi đã thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Một người được giải thoát bằng cách không chấp thủ sau khi đã thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, nó trở nên bình yên và được giải thoát tốt đẹp." …

Và Tôn giả Surādha đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

X. Suràdha (S.iii,80)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2-3… … Rồi Tôn giả Suràdha bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn”, vượt ngoài mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải thoát?

4. − Này Suràdha, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại… xa hay gần; sau khi thấy với chánh trí tuệ như thật tất cả các sắc là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, (vị ấy) được giải thoát, không có chấp thủ.

5-7. Phàm có thọ gì… có tưởng gì… có hành gì…

8. Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; sau khi như thật thấy với chánh trí tuệ tất cả các thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, (vị ấy) được giải thoát, không có chấp thủ.

9. Này Suràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn”, vượt ngoài mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải thoát.

10. Rồi Tôn giả Suràdha… trở thành một vị A-la-hán nữa.

Phẩm Ngứa Ngáy

SN 22.73 Vị Ngọt Assādasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, một kẻ phàm phu ít nghe không thực sự hiểu vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều thực sự hiểu vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.”

III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn

I. Vị Ngọt (S.iii,81)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành.

7. Không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

8-12. Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc… của thọ… của tưởng… của các hành… của thức.

SN 22.74 Nguồn Gốc Samudayasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, một kẻ phàm phu ít nghe không thực sự hiểu nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều thực sự hiểu nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.”

II. Tập Khởi (S.iii,82)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành…

7. Không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

8. Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

9-11. … của thọ… của tưởng… của các hành…

12. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

SN 22.75 Nguồn Gốc (thứ 2) Dutiyasamudayasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều thực sự hiểu nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.”

III. Tập Khởi (S.iii,82)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

4-6. … của thọ… của tưởng… của các hành…

7. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

SN 22.76 Các Bậc A-la-hán Arahantasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’ Cho đến nơi nào có nơi ở của chúng sanh, ngay cả cho đến đỉnh cao của sự tồn tại, các bậc A-la-hán là bậc đứng đầu và tốt nhất."

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Sau đó, Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, tiếp tục nói:

"Ôi! Hạnh phúc thay các bậc A-la-hán!
Ái dục không tìm thấy nơi họ,
ngã mạn ‘tôi là’ đã bị cắt đứt,
và lưới vô minh đã bị phá tan.

Họ đã đạt được sự bất động,
tâm họ không bị vẩn đục,
không có gì trên thế gian bám vào họ,
biểu hiện thần thánh, không tỳ vết.

Toàn tri năm uẩn,
lĩnh vực của họ là bảy phẩm chất tốt đẹp.
Những bậc chân nhân đó đáng được ca ngợi,
những người con chân chính của Thế Tôn.

Được phú cho bảy viên ngọc,
và được rèn luyện trong ba sự tu tập,
các vị đại anh hùng sống tiếp,
với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được từ bỏ.

Được phú cho mười yếu tố,
những người khổng lồ đó có thiền định.
Đây là những người tốt nhất trên thế gian,
ái dục không tìm thấy nơi họ.

Tri kiến của bậc thiện xảo đã khởi lên:
‘Túi xương này là cuối cùng của ta.’
Họ độc lập với người khác
trong cốt lõi của con đường tâm linh.

Không dao động trước sự phân biệt,
họ được giải thoát khỏi các kiếp sống tương lai.
Họ đã đạt đến cấp độ của những người được thuần hóa,
trên thế gian, họ là những người chiến thắng.

Trên, dưới, khắp nơi,
sự ưa thích không tìm thấy nơi họ.
Họ rống lên tiếng rống sư tử:
‘Các bậc giác ngộ là tối thượng trên thế gian!’"

IV. Các Vị A-La-Hán (S.iii,83)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-6. … thọ… tưởng… các hành là vô thường…

7. Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

8. Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành. … đối với thức.

9. Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

10. Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.

11. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.

2) Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.

3) Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.

4) Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.

5) Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.

Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.

6) Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.

7) Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.

8) Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!

SN 22.77 Các Bậc A-la-hán (thứ 2) Dutiyaarahantasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’

Cho đến nơi nào có nơi ở của chúng sanh, ngay cả cho đến đỉnh cao của sự tồn tại, các bậc A-la-hán là bậc đứng đầu và tốt nhất."

V. Các Vị A-La-Hán (S.iii,84)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường…

8. Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… đối với thức.

9. Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

10. Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư, cho đến tột đảnh của hữu, những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.

SN 22.78 Sư Tử Sīhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, vào buổi chiều, sư tử, vua của các loài thú, ra khỏi hang, ngáp, nhìn khắp bốn phương, và rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau đó, nó bắt đầu đi săn. Và bất cứ con vật nào nghe thấy tiếng rống của sư tử, vua của các loài thú, thường tràn đầy sợ hãi, kinh hoàng, và khiếp sợ. Chúng trở về hang ổ của mình, dù là trong một cái hố, dưới nước, hay trong một khu rừng; và các loài chim bay lên trời. Ngay cả những con voi hoàng gia, bị trói bằng dây nịt chắc chắn trong các làng, thị trấn, và kinh thành, cũng phá vỡ dây trói của chúng, và tiểu tiện và đại tiện trong kinh hoàng khi chúng chạy trốn đây đó. Đó là sức mạnh của sư tử, vua của các loài thú, đối với các loài vật, thật lừng lẫy và hùng mạnh.

Cũng vậy, khi một Bậc Như Lai xuất hiện trên thế gian—bậc A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu về tri kiến và hạnh kiểm, bậc Thánh, người biết thế gian, người dẫn đường tối cao cho những ai muốn tu tập, thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn kính—Ngài dạy giáo pháp: ‘Sắc là như vậy, nguồn gốc của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… Tưởng là như vậy… Hành là như vậy… Thức là như vậy, nguồn gốc của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.’

Bây giờ, có những vị trời sống lâu, xinh đẹp, và rất hạnh phúc, sống hàng thế kỷ trong các cung điện thần thánh của họ. Khi họ nghe giáo pháp này của Bậc Như Lai, họ thường tràn đầy sợ hãi, kinh hoàng, và khiếp sợ. ‘Ôi không! Hóa ra chúng ta là vô thường, mặc dù chúng ta nghĩ rằng chúng ta là thường hằng! Hóa ra chúng ta không tồn tại lâu dài, mặc dù chúng ta nghĩ rằng chúng ta là vĩnh cửu! Hóa ra chúng ta sống ngắn ngủi, mặc dù chúng ta nghĩ rằng chúng ta là bất tử! Hóa ra chúng ta là vô thường, không lâu dài, sống ngắn ngủi, và nằm trong thân kiến.’ Đó là sức mạnh của Bậc Như Lai trong thế giới với các vị trời, thật lừng lẫy và hùng mạnh."

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Sau đó, Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, tiếp tục nói:

"Thế Tôn, bậc thầy không ai sánh bằng
trong khắp thế gian với các vị trời,
chuyển bánh xe Pháp
từ chính tuệ giác của mình:

thân kiến, sự chấm dứt của nó,
nguồn gốc của thân kiến,
và bát chánh đạo
dẫn đến sự lắng dịu của khổ đau.

Và rồi các vị trời sống lâu,
thật xinh đẹp và huy hoàng,
sợ hãi và đầy kinh hoàng,
như các loài thú khác khi nghe tiếng sư tử.

‘Chúng ta chưa vượt qua thân kiến!
Hóa ra chúng ta là vô thường!’
Họ nói vậy khi nghe lời
của bậc A-la-hán, tự do và không bị ảnh hưởng."

VI. Sư Tử (S.iii,85)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn xung quanh bốn phương. Sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh, nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.

5. Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các cây đa cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy, tung cả phân và nước tiểu.

6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú; đối với loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết pháp: Ðây là sắc. Ðây là sắc tập khởi. Ðây là sắc đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Ðây là con đường đưa đến thức đoạn diệt.

8. Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.

10. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Khi Phật với thượng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ.

2) Sự đoạn diệt tự thân,
Sự hiện hữu tự thân,
Và đường Thánh Tám ngành
Ðưa đến khổ diệt tận,

3) Chư Thiên được trường thọ,
Có mỹ sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm, sợ hãi,
Như thú thấy sư tử.

4) Vì chưa thoát tự thân,
“Chúng ta là vô thường”,
Nghe lời bậc ứng Cúng,
Ðã giải thoát như vậy.

SN 22.79 Ngứa Ngáy Khajjanīyasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, bất cứ sa-môn và bà-la-môn nào nhớ lại nhiều loại kiếp sống quá khứ, tất cả đều nhớ lại năm thủ uẩn, hoặc một trong số chúng. Năm uẩn nào? ‘Tôi đã có sắc như vậy trong quá khứ.’ Nhớ lại như vậy, chỉ có sắc là họ nhớ lại. ‘Tôi đã có thọ… tưởng… hành… thức như vậy trong quá khứ.’ Nhớ lại như vậy, chỉ có thức là họ nhớ lại.

Và tại sao các ông gọi nó là sắc? Nó bị biến dạng; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘sắc’. Bị biến dạng bởi cái gì? Bị biến dạng bởi lạnh, nóng, đói, và khát, và bị biến dạng bởi sự tiếp xúc của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, và các loài bò sát. Nó bị biến dạng; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘sắc’.

Và tại sao các ông gọi nó là thọ? Nó cảm nhận; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thọ’. Và nó cảm nhận cái gì? Nó cảm nhận lạc, khổ, và trung tính. Nó cảm nhận; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thọ’.

Và tại sao các ông gọi nó là tưởng? Nó nhận biết; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘tưởng’. Và nó nhận biết cái gì? Nó nhận biết màu xanh, vàng, đỏ, và trắng. Nó nhận biết; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘tưởng’.

Và tại sao các ông gọi chúng là hành? Hành tạo ra các hiện tượng do duyên sinh; đó là lý do tại sao chúng được gọi là ‘hành’. Và các hiện tượng do duyên sinh mà chúng tạo ra là gì? Sắc là một hiện tượng do duyên sinh; hành là cái làm cho nó thành sắc. Thọ là một hiện tượng do duyên sinh; hành là cái làm cho nó thành thọ. Tưởng là một hiện tượng do duyên sinh; hành là cái làm cho nó thành tưởng. Hành là các hiện tượng do duyên sinh; hành là cái làm cho chúng thành hành. Thức là một hiện tượng do duyên sinh; hành là cái làm cho nó thành thức. Hành tạo ra các hiện tượng do duyên sinh; đó là lý do tại sao chúng được gọi là ‘hành’.

Và tại sao các ông gọi nó là thức? Nó nhận biết; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thức’. Và nó nhận biết cái gì? Nó nhận biết vị chua, đắng, cay, ngọt, nóng, nhẹ, mặn, và nhạt. Nó nhận biết; đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thức’.

Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều suy ngẫm về điều này: ‘Hiện tại tôi đang bị ngứa ngáy bởi sắc. Trong quá khứ tôi cũng bị ngứa ngáy bởi sắc giống như bây giờ. Nếu tôi mong chờ hưởng thụ sắc trong tương lai, tôi sẽ bị ngứa ngáy bởi sắc trong tương lai giống như hôm nay.’ Suy ngẫm như vậy, họ không lo lắng về sắc quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ sắc tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

'Hiện tại tôi đang bị ngứa ngáy bởi thọ…

tưởng…

hành…

thức. Trong quá khứ tôi cũng bị ngứa ngáy bởi thức giống như bây giờ. Nếu tôi mong chờ hưởng thụ thức trong tương lai, tôi sẽ bị ngứa ngáy bởi thức trong tương lai giống như hôm nay.’ Suy ngẫm như vậy, họ không lo lắng về thức quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ thức tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức hiện tại.

Các ông nghĩ sao, các Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Vậy các ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Các ông nên thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Đây được gọi là một vị Thánh đệ tử loại bỏ mọi thứ và không tích lũy chúng; người từ bỏ mọi thứ và không bám víu vào chúng; người vứt bỏ mọi thứ và không tích trữ chúng; người làm tan biến mọi thứ và không bị chúng che mờ.

Và những thứ gì họ loại bỏ và không tích lũy? Họ loại bỏ sắc và không tích lũy nó. Họ loại bỏ thọ… tưởng… hành… thức và không tích lũy nó.

Và những thứ gì họ từ bỏ và không bám víu? Họ từ bỏ sắc và không bám víu nó. Họ từ bỏ thọ… tưởng… hành… thức và không bám víu nó.

Và những thứ gì họ vứt bỏ và không tích trữ? Họ vứt bỏ sắc và không tích trữ nó. Họ vứt bỏ thọ… tưởng… hành… thức và không tích trữ nó.

Và những thứ gì họ làm tan biến và không bị che mờ? Họ làm tan biến sắc và không bị nó che mờ. Họ làm tan biến thọ… tưởng… hành… thức và không bị nó che mờ.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong, không còn gì nữa cho nơi này.’

Đây được gọi là một Tỷ kheo không loại bỏ cũng không tích lũy mọi thứ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã loại bỏ chúng. Họ không từ bỏ cũng không bám víu mọi thứ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã từ bỏ chúng. Họ không vứt bỏ cũng không tích trữ mọi thứ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã vứt bỏ chúng. Họ không làm tan biến cũng không bị che mờ bởi mọi thứ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã làm tan biến chúng.

Và những thứ gì họ không loại bỏ cũng không tích lũy, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã loại bỏ chúng? Họ không loại bỏ cũng không tích lũy sắc, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã loại bỏ nó. Họ không loại bỏ cũng không tích lũy thọ… tưởng… hành… thức, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã loại bỏ nó.

Và những thứ gì họ không từ bỏ cũng không bám víu, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã từ bỏ chúng? Họ không từ bỏ cũng không bám víu sắc, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã từ bỏ nó. Họ không từ bỏ cũng không bám víu thọ… tưởng… hành… thức, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã từ bỏ nó.

Và những thứ gì họ không vứt bỏ cũng không tích trữ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã vứt bỏ chúng? Họ không vứt bỏ cũng không tích trữ sắc, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã vứt bỏ nó. Họ không vứt bỏ cũng không tích trữ thọ… tưởng… hành… thức, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã vứt bỏ nó.

Và những thứ gì họ không làm tan biến cũng không bị che mờ, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã làm tan biến chúng? Họ không làm tan biến cũng không bị che mờ bởi sắc, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã làm tan biến nó. Họ không làm tan biến cũng không bị che mờ bởi thọ… tưởng… hành… thức, nhưng vẫn tồn tại sau khi đã làm tan biến nó.

Khi tâm của một Tỷ kheo được giải thoát như vậy, các vị trời cùng với Indra, Phạm thiên, và Đấng Sáng Tạo tôn thờ họ từ xa:

‘Kính lễ ngài, ôi bậc thuần chủng!
Kính lễ ngài, bậc tối thượng giữa loài người!
Chúng tôi không hiểu
nền tảng của sự nhập định của ngài.’"

VII. Ðáng Ðược Ăn (Tạp 2, Ðại 2,11) (S.iii,86)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.

4. Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng… có các hành… có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.

6. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.

7. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.

8. Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm… rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.

12. “Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.

13. “Ta nay bị tưởng chinh phục…”.

14. “Ta nay bị các hành chinh phục…”.

15. “Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.

16. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17-19. − Thọ… Tưởng… Các hành…

20. Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng… xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

22. Ðối với thọ…

23. Ðối với tưởng…

24. Ðối với các hành…

25. Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

26. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.

27. Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc…, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ…tưởng…các hành…giảm thiểu, không tăng trưởng thức.

28. Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc…thọ… tưởng… các hành… từ bỏ, không chấp thủ thức.

29. Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc… thọ… tưởng… các hành… xa lánh, không thân cận thức.

30. Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc… thọ… tưởng… các hành… phân tán, không huân tập thức.

31. Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

32. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.

33. Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ… tưởng… các hành… không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.

34. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ… tưởng… các hành… không từ bỏ, không chấp thủ thức.

35. Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ… tưởng… các hành… không phân tán, không huân tập thức.

36. Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ…tưởng…các hành…không phân tán, không huân tập thức.

37. Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:

38. Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!

SN 22.80 Những Người Ăn Xin Piṇḍolyasutta

Một thời Thế Tôn trú trong xứ của dòng họ Thích-ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, sau khi đã cho Tăng đoàn Tỷ kheo đi vì một lý do nào đó, vào buổi sáng Ngài mặc y, mang bát và y, vào Kapilavatthu để khất thực. Ngài đi khất thực ở Kapilavatthu. Sau bữa ăn, trên đường trở về từ khất thực, Ngài đến Đại Lâm để thiền định ban ngày, đi sâu vào đó, và ngồi dưới gốc một cây táo rừng non để thiền định.

Lúc bấy giờ, khi đang ở nơi riêng tư, ý nghĩ này nảy ra trong tâm Ngài: “Ta đã cho Tăng đoàn Tỷ kheo đi. Nhưng có những Tỷ kheo ở đây còn trẻ, mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự tu tập này. Không thấy Ta, họ có thể thay đổi và sa ngã. Nếu một con bê non không thấy mẹ, nó có thể thay đổi và sa ngã. … Hoặc nếu những cây non không được tưới nước, chúng có thể thay đổi và sa ngã. Cũng vậy, có những Tỷ kheo ở đây còn trẻ, mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự tu tập này. Không thấy Ta, họ có thể thay đổi và sa ngã. Tại sao Ta không hỗ trợ Tăng đoàn Tỷ kheo bây giờ như Ta đã làm trong quá khứ?”

Lúc bấy giờ, vị trời Sahampati biết được suy nghĩ của Thế Tôn. Dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hoặc co lại cánh tay, ông biến mất khỏi cõi trời và xuất hiện trước mặt Thế Tôn. Ông vắt y qua một vai, chắp tay hướng về Thế Tôn, và nói: “Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Bậc Thánh! Thế Tôn đã cho Tăng đoàn Tỷ kheo đi. Nhưng có những Tỷ kheo còn trẻ, mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự tu tập này. … Xin Thế Tôn hãy hoan hỷ với Tăng đoàn Tỷ kheo! Xin Thế Tôn hãy chào đón Tăng đoàn Tỷ kheo! Xin Thế Tôn hãy hỗ trợ Tăng đoàn Tỷ kheo bây giờ như Ngài đã làm trong quá khứ!”

Thế Tôn đồng ý bằng sự im lặng. Lúc bấy giờ, vị trời Sahampati, biết rằng Thế Tôn đã đồng ý, đảnh lễ, và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi biến mất ngay tại đó.

Lúc bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi ẩn dật và đến Tu viện Cây Đa, nơi Ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn. Sau đó, Ngài dùng thần thông để khiến các Tỷ kheo đến với Ngài một cách rụt rè, một mình hoặc từng cặp. Các Tỷ kheo đó đến gần Thế Tôn một cách rụt rè, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với họ:

"Đây là lối sống cuối cùng, này các Tỷ kheo, đó là dựa vào khất thực. Thế gian nguyền rủa các ông: ‘Ngươi là kẻ ăn xin, đi với bát trong tay!’ Tuy nhiên, những thiện nam tử chân chính chấp nhận nó vì một lý do tốt đẹp. Không phải để trốn tránh lệnh triệu tập của vua hay lệnh triệu tập của một tên cướp, hoặc vì các ông mắc nợ hay sợ hãi, hoặc để kiếm sống. Nhưng vì họ bị nhấn chìm bởi tái sinh, già, và chết; bởi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ bị nhấn chìm bởi khổ đau, chìm trong khổ đau. Và họ nghĩ, ‘Hy vọng tôi có thể tìm thấy sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau này.’

Đó là cách thiện nam tử này đã xuất gia. Tuy nhiên, họ thèm muốn các thú vui giác quan; họ say mê, đầy ác ý và ý định độc hại. Họ không có chánh niệm, thiếu nhận thức tình huống và thiền định, với tâm trí lang thang và các căn không được kiểm soát. Giả sử có một cây đuốc để đốt giàn thiêu, cháy ở cả hai đầu, và bôi phân ở giữa. Nó không thể được dùng làm gỗ trong làng hay trong rừng. Ta nói rằng người đó giống như thế này. Họ đã bỏ lỡ những thú vui của đời sống tại gia, và không hoàn thành mục tiêu của đời sống sa-môn.

Có ba tư tưởng bất thiện này. Tư tưởng về giác quan, ác ý, và tàn nhẫn. Và ba tư tưởng bất thiện này chấm dứt ở đâu mà không còn sót lại? Ở những người thiền định với tâm trí được thiết lập vững chắc trong bốn loại thiền tứ niệm xứ; hoặc những người phát triển thiền định vô tướng. Điều này là đủ động lực để phát triển thiền định vô tướng. Khi thiền định vô tướng được phát triển và tu luyện, nó rất có kết quả và lợi ích.

Có hai quan điểm này. Quan điểm ủng hộ sự tồn tại tiếp diễn và quan điểm ủng hộ sự chấm dứt tồn tại. Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều suy ngẫm về điều này: ‘Có bất cứ điều gì trên thế gian mà tôi có thể nắm giữ mà không có lỗi không?’ Họ hiểu: ‘Không có gì trên thế gian mà tôi có thể nắm giữ mà không có lỗi. Vì khi nắm giữ, tôi sẽ chỉ nắm giữ sắc, thọ, tưởng, hành, hoặc thức. Sự nắm giữ đó của tôi sẽ là điều kiện cho sự tồn tại tiếp diễn. Sự tồn tại tiếp diễn là điều kiện cho tái sinh. Tái sinh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này sinh khởi.’

Các ông nghĩ sao, các Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”…

"Vậy các ông nên thấy một cách chân thật…

Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

VIII. Người Khất Thực (Tạp 10, Ðại 2,71c) (Trung 34, Ðại 1,647a) (S.iii,91)

1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhàràma)

2. Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu để khất thực.

3. Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahàvana (Ðại Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahàvana, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.

4. Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:

5. "Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.

6. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước có thể đổi khác, biến đổi.

7. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!"

8. Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.

9. Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:

− Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.

10. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ có thể đổi khác, biến đổi.

11. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.

12. Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.

13. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!

14. Thế Tôn im lặng nhận lời.

15. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

16. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: “Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi”.

17. Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

18. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

− Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: “Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống”. Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra”.

19. Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh.

20. Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.

21. Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.

22. Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà không có phạm tội?”

23. Và vị ấy biết: “Không có cái gì ở trong đời ta chấp trước mà không có phạm tội”. Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ sắc… thọ… tưởng… các hành… Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

24. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

25-28. − Thọ… Tưởng… Hành… Thức… Do vậy, này các Tỷ-kheo, thấy vậy… Vị ấy biết: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.81 Tại Pārileyya Pālileyyasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn vào buổi sáng mặc y, mang bát và y, vào Kosambī để khất thực. Sau bữa ăn, trên đường trở về từ khất thực, Ngài tự mình sắp xếp chỗ ở. Mang bát và y, không thông báo cho các thị giả hay xin phép Tăng đoàn Tỷ kheo, Ngài lên đường đi lang thang một mình, không có bạn đồng hành.

Lúc bấy giờ, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, một trong các Tỷ kheo đến chỗ Tôn giả Ānanda và kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra. Ānanda nói: “Thưa Tôn giả, khi Thế Tôn rời đi như thế này, có nghĩa là Ngài muốn ở một mình. Lúc này không ai nên theo Ngài.”

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, đi từng chặng, đến Pārileyya, nơi Ngài ở dưới gốc một cây sala thiêng. Lúc bấy giờ, một số Tỷ kheo đến chỗ Tôn giả Ānanda và chào hỏi ngài.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên và nói với ngài: “Thưa Tôn giả, đã lâu rồi chúng tôi không được nghe một bài pháp thoại từ Thế Tôn. Chúng tôi muốn nghe một bài pháp thoại từ Thế Tôn.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda cùng với các Tỷ kheo đó đến Pārileyya để gặp Thế Tôn. Họ đảnh lễ và ngồi xuống một bên, và Thế Tôn đã giáo dục, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài pháp thoại.

Lúc bấy giờ, một trong các Tỷ kheo có ý nghĩ: “Làm thế nào để biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này?”

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, biết được dòng suy nghĩ của vị Tỷ kheo đó, nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, Ta đã dạy giáo pháp một cách phân tích. Ta đã phân tích dạy về bốn loại thiền tứ niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và bát chánh đạo. Đó là cách Ta đã dạy giáo pháp một cách phân tích. Mặc dù Ta đã dạy giáo pháp một cách phân tích, một Tỷ kheo nào đó có mặt ở đây vẫn có ý nghĩ này: ‘Làm thế nào để biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này?’

Và làm thế nào, này các Tỷ kheo, các ông biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này? Hãy lấy một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân.

Họ coi sắc là tự ngã. Nhưng sự coi đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. Và nguồn gốc, khởi nguyên, nơi sinh, và sự bắt đầu của hiện tượng do duyên sinh đó là gì? Khi một kẻ phàm phu ít nghe bị tác động bởi những cảm thọ sinh ra từ sự tiếp xúc với vô minh, ái dục khởi lên. Hiện tượng do duyên sinh đó được sinh ra từ đó. Vì vậy, hiện tượng do duyên sinh đó là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Và ái dục đó, cảm thọ đó, sự tiếp xúc đó, và vô minh đó cũng là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Đó là cách các ông nên biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này.

Có lẽ họ không coi sắc là tự ngã, nhưng họ vẫn coi tự ngã sở hữu sắc. Nhưng sự coi đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. …

Có lẽ họ không coi sắc là tự ngã, hay tự ngã sở hữu sắc, nhưng họ vẫn coi sắc trong tự ngã. Nhưng sự coi đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. …

Có lẽ họ không coi sắc là tự ngã, hay tự ngã sở hữu sắc, hay sắc trong tự ngã, nhưng họ vẫn coi tự ngã trong sắc. Nhưng sự coi đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. …

Có lẽ họ không coi sắc là tự ngã, hay tự ngã sở hữu sắc, hay sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Nhưng họ coi thọ là tự ngã… tưởng là tự ngã… hành là tự ngã… thức là tự ngã… Nhưng sự coi đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. Và nguồn gốc của hiện tượng do duyên sinh đó là gì? Khi một kẻ phàm phu ít nghe bị tác động bởi những cảm thọ sinh ra từ sự tiếp xúc với vô minh, ái dục khởi lên. Hiện tượng do duyên sinh đó được sinh ra từ đó. Vì vậy, hiện tượng do duyên sinh đó là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Và ái dục đó, cảm thọ đó, sự tiếp xúc đó, và vô minh đó cũng là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Đó là cách các ông nên biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này.

Có lẽ họ không coi sắc hay thọ hay tưởng hay hành hay thức là tự ngã. Tuy nhiên, họ có một quan điểm như vậy: ‘Tự ngã và vũ trụ là một và giống nhau. Sau khi chết, tôi sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, và không thể hoại diệt.’ Nhưng quan điểm thường kiến đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. Và nguồn gốc của hiện tượng do duyên sinh đó là gì? … Đó là cách các ông nên biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này.

Có lẽ họ không coi sắc hay thọ hay tưởng hay hành hay thức là tự ngã. Họ cũng không có quan điểm như vậy: ‘Tự ngã và vũ trụ là một và giống nhau. Sau khi chết, tôi sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, và không thể hoại diệt.’ Tuy nhiên, họ có một quan điểm như vậy: ‘Tôi có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Tôi sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi.’ Nhưng quan điểm đoạn kiến đó chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. Và nguồn gốc của hiện tượng do duyên sinh đó là gì? … Đó là cách các ông nên biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này.

Có lẽ họ không coi sắc hay thọ hay tưởng hay hành hay thức là tự ngã. Họ cũng không có quan điểm như vậy: ‘Tự ngã và vũ trụ là một và giống nhau. Sau khi chết, tôi sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, và không thể hoại diệt.’ Họ cũng không có quan điểm như vậy: ‘Tôi có thể không là, và nó có thể không là của tôi. Tôi sẽ không là, và nó sẽ không là của tôi.’ Tuy nhiên, họ có những nghi ngờ và không chắc chắn. Họ không quyết định về giáo pháp chân chính. Sự nghi ngờ và không chắc chắn đó, sự không quyết định về giáo pháp chân chính, chỉ là một hiện tượng do duyên sinh. Và nguồn gốc của hiện tượng do duyên sinh đó là gì? Khi một kẻ phàm phu ít nghe bị tác động bởi những cảm thọ sinh ra từ sự tiếp xúc với vô minh, ái dục khởi lên. Hiện tượng do duyên sinh đó được sinh ra từ đó. Vì vậy, hiện tượng do duyên sinh đó là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Và ái dục đó, cảm thọ đó, sự tiếp xúc đó, và vô minh đó cũng là vô thường, do duyên sinh, và có nguồn gốc phụ thuộc. Đó là cách các ông nên biết và thấy để chấm dứt các lậu hoặc ngay trong đời này."

IX. Pàrileyya (Tạp 2, Ðại 2,13c) (S.iii,94)

1. Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

3. Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:

− Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

4. − Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.

5. Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pàlileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pàlileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.

6. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

7. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ananda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ananda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.

8. Rồi Tôn giả Ananda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi đến Pàlileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

9. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.

10. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”

11. Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.

12. Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”

13-16. Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy… xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

17. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

18. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã. Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

19. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

20-21. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ, có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong thọ.

22-23… … có thể quán tưởng… có thể quán các hành…

24.. … có thể quán thức như là tự ngã, có thể quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… xúc ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

25. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi… Do biết như vậy, thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

26. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng vị ấy có thể có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”.

27. Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy… thọ ấy… vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

28. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã… không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã… không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại” ; có thể không có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này.

29. Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.

30. Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.

SN 22.82 Đêm Trăng Rằm Puṇṇamasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī trong nhà sàn của mẹ Migāra ở Tu viện phía Đông, cùng với một Tăng đoàn lớn các Tỷ kheo. Lúc bấy giờ, đó là ngày trai giới—ngày rằm tháng mười lăm—và Thế Tôn đang ngồi ngoài trời được Tăng đoàn các Tỷ kheo vây quanh.

Lúc bấy giờ, một trong các Tỷ kheo đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y qua một vai, chắp tay hướng về Thế Tôn, và nói:

“Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn về một điểm nào đó, nếu Ngài có thời gian để trả lời.”

“Vậy thì, Tỷ kheo, hãy ngồi vào chỗ của mình và hỏi những gì ông muốn.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tỷ kheo đó đáp. Ông ngồi vào chỗ của mình và bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có phải đây là năm thủ uẩn, đó là: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức không?”

“Đúng vậy,” Thế Tôn đáp.

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Sau đó, ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng bạch Thế Tôn, gốc rễ của năm thủ uẩn này là gì?”

“Năm thủ uẩn này bắt nguồn từ dục vọng.” … “Nhưng bạch Thế Tôn, sự chấp thủ đó có phải là chính xác cùng một thứ với năm thủ uẩn không? Hay sự chấp thủ là một thứ và năm thủ uẩn là một thứ khác?”

“Cũng không phải. Đúng hơn, dục và tham đối với chúng là sự chấp thủ ở đó.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có các loại dục và tham khác nhau đối với năm thủ uẩn không?”

“Có thể,” Thế Tôn nói.

“Đó là khi một người nghĩ: ‘Trong tương lai, mong rằng ta sẽ có sắc như vậy, thọ như vậy, tưởng như vậy, hành như vậy, hoặc thức như vậy!’ Đó là cách có thể có các loại dục và tham khác nhau đối với năm thủ uẩn.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hỏi một câu hỏi khác:

“Bạch Thế Tôn, phạm vi của thuật ngữ ‘uẩn’ được áp dụng cho các uẩn là gì?”

“Bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: đây được gọi là sắc uẩn. Bất kỳ loại thọ nào… Bất kỳ loại tưởng nào… Bất kỳ loại hành nào… Bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: đây được gọi là thức uẩn. Đó là phạm vi của thuật ngữ ‘uẩn’ được áp dụng cho các uẩn.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hỏi một câu hỏi khác:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do tại sao sắc uẩn được tìm thấy? Nguyên nhân là gì, lý do tại sao thọ… tưởng… hành… thức uẩn được tìm thấy?”

“Bốn đại là lý do tại sao sắc uẩn được tìm thấy. Sự tiếp xúc là lý do tại sao các uẩn thọ, tưởng, và hành được tìm thấy. Danh và sắc là lý do tại sao thức uẩn được tìm thấy.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hỏi một câu hỏi khác:

“Bạch Thế Tôn, thân kiến khởi lên như thế nào?”

“Đó là khi một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Đó là cách thân kiến khởi lên.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó… hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng bạch Thế Tôn, thân kiến không khởi lên như thế nào?”

“Đó là khi một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ không coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Đó là cách thân kiến không khởi lên.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó… hỏi một câu hỏi khác:

“Bạch Thế Tôn, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát đối với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là gì?”

“Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ sắc: đây là vị ngọt của nó. Sắc đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với sắc: đây là lối thoát của nó. Niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ thọ… tưởng… hành… thức: đây là vị ngọt của nó. Thức đó là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ dục và tham đối với thức: đây là lối thoát của nó.”

Nói “Tốt lắm, bạch Thế Tôn”, vị Tỷ kheo đó hoan hỷ và tán đồng những gì Thế Tôn nói. Sau đó, ông hỏi một câu hỏi khác:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài?”

“Một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Họ thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần, tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Đó là cách để biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài.”

Lúc bấy giờ, một trong các Tỷ kheo có ý nghĩ:

“Vậy có vẻ như, này bạn hiền, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô ngã. Vậy thì tự ngã nào sẽ bị ảnh hưởng bởi những hành động được thực hiện bởi vô ngã?”

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, biết được dòng suy nghĩ của vị Tỷ kheo đó, nói với các Tỷ kheo:

"Có thể có một người vô ích nào đó ở đây—không biết và ngu dốt, tâm trí bị ái dục chi phối—nghĩ rằng họ có thể vượt qua lời chỉ dạy của bậc thầy. Họ nghĩ: ‘Vậy có vẻ như, này bạn hiền, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô ngã. Vậy thì tự ngã nào sẽ bị ảnh hưởng bởi những hành động được thực hiện bởi vô ngã?’ Này các Tỷ kheo, các ông đã được Ta giáo dục trong việc đặt câu hỏi liên quan đến tất cả những điều này trong tất cả các trường hợp như vậy.

Các ông nghĩ sao, các Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Vậy các ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’”

“Hai về các uẩn; chính xác như nhau;
— và có thể có;
về thuật ngữ; và về nguyên nhân;
hai câu hỏi về thân kiến;
vị ngọt; và cái với thức:
đây là mười câu hỏi
mà vị Tỷ kheo đã đến hỏi.”

X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Kinh Trung Bộ, trang 109, 110 Tham chiếu)

1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.

3. Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.

− Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.

4. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?

− Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

5. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:

− Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?

− Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.

6. − Lành thay, bạch Thế Tôn…

− Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?

− Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.

7. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:

− Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?

Thế Tôn đáp :

− Có thể có, này Tỷ-kheo.

Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau: “Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.

8. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu hỏi nữa:

− Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?

− Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì… Phàm tưởng gì… Phàm các hành gì… Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn.

9. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu hỏi nữa:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn?

Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?

− Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn.

10. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu khác:

− Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?

− Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc… thọ… tưởng… hành… quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức,hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.

11. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm câu nữa:

− Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?

− Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân kiến.

12. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy… hỏi thêm một câu nữa:

− Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc?.. của thọ… của tưởng… của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?

− Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ… Do duyên tưởng… Do duyên các hành… Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.

13. − Lành thay, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:

− Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?

− Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ gì… Phàm tưởng gì… Phàm các hành gì… Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!” Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.

14. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: “Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?”

15. Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:

− Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: “Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?” Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.

16. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

17-19. − Thọ… tưởng… các hành…

20. Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Do vậy… thấy vậy… vị ấy biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Phẩm Các Vị Trưởng Lão

SN 22.83 Với Ānanda Ānandasutta

Tại Sāvatthī.

Ở đó, Ānanda nói với các Tỷ kheo: “Thưa các Tôn giả, các Tỷ kheo!”

“Thưa Tôn giả,” họ đáp. Ānanda nói điều này:

"Thưa các Tôn giả, vị tôn giả tên là Puṇṇa con của Mantāṇī đã rất hữu ích cho tôi khi tôi mới xuất gia. Ngài đã cho tôi lời khuyên này: 'Thưa Tôn giả Ānanda, ý nghĩ “tôi là” xảy ra vì chấp thủ, không phải vì không chấp thủ. Chấp thủ cái gì? Ý nghĩ “tôi là” xảy ra vì chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, không phải vì không chấp thủ.

Giả sử có một người phụ nữ hoặc đàn ông trẻ, thanh xuân, và thích trang sức, và họ kiểm tra hình ảnh của mình trong một tấm gương sáng sạch hoặc một bát nước trong. Họ sẽ nhìn vì chấp thủ, không phải vì không chấp thủ. Cũng vậy, ý nghĩ “tôi là” xảy ra vì chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, không phải vì không chấp thủ.

Ông nghĩ sao, thưa Tôn giả Ānanda? Sắc là thường hằng hay vô thường?’

‘Vô thường, thưa Tôn giả.’

‘Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?’

‘Vô thường, thưa Tôn giả.’ …

‘Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: “… không còn gì nữa cho nơi này.”’

Thưa các Tôn giả, vị tôn giả tên là Puṇṇa con của Mantāṇī đã rất hữu ích cho tôi khi tôi mới xuất gia. Ngài đã cho tôi lời khuyên này. Và bây giờ khi tôi đã nghe giáo pháp này từ Tôn giả Puṇṇa con của Mantāṇī, tôi đã hiểu thấu giáo pháp."

IV. Phẩm Trưởng Lão

I. Ananda (Tạp 10, Ðại 2,66a) (S.iii,105)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Ananda ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đây, Tôn giả Ananda gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:

3. − Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantaniputta, lúc chúng ta mới tu học, đã giúp đỡ chúng ta nhiều. Vị ấy giáo giới chúng ta với lời giáo giới này: Này Hiền giả Ananda, do chấp thủ, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

4. Do chấp thủ gì, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ sắc, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ… tưởng… các hành… Do chấp thủ thức, khởi lên (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

5. Này Hiền giả Ananda, ví như một người đàn bà hay người đàn ông, hay người trẻ tuổi, ưa thích trang điểm, ngắm bóng mặt của mình trong một tấm gương sạch sẽ, trong sáng, hay trong một bát nước trong, thấy được do duyên chấp thủ, không phải không chấp thủ. Cũng vậy, này Hiền giả Ananda, do chấp thủ sắc, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ. Do chấp thủ thọ… tưởng… các hành… do chấp thủ thức, nên có (tư tưởng) “Tôi là”, không phải không chấp thủ.

6. Hiền giả Ananda, Hiền giả nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, Hiền giả.

7-10. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, Hiền giả.

11-12. − Do thấy vậy… vị ấy biết “…không còn trở lui trạng thái này nữa”.

13. Chư Hiền giả, Tôn giả Punna Mantàniputta, khi chúng tôi mới tu học, đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Tôn giả ấy giảng cho chúng tôi lời giáo giới này. Sau khi nghe Tôn giả Punna Mantàniputta thuyết pháp, chúng tôi hoàn toàn chứng tri (Chánh) pháp.

SN 22.84 Với Tissa Tissasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, em họ của Thế Tôn, thông báo cho một số Tỷ kheo:

“Thưa các Tôn giả, thân con cảm thấy như bị chuốc thuốc. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện lên trong tâm, và sự uể oải và buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời sống phạm hạnh không hài lòng, và có những nghi ngờ về giáo pháp.”

Lúc bấy giờ, một số Tỷ kheo đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

Thế là Thế Tôn nói với một trong các Tỷ kheo: “Này Tỷ kheo, hãy nhân danh Ta nói với Tỷ kheo Tissa rằng Bậc Đạo Sư triệu tập ông ấy.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” vị Tỷ kheo đó đáp. Ông đến chỗ Tissa và nói với ông: “Thưa Tôn giả Tissa, Bậc Đạo Sư triệu tập ông.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” Tissa đáp. Ông đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với ông:

“Có thật không, Tissa, rằng ông đã thông báo cho một số Tỷ kheo rằng thân ông cảm thấy như bị chuốc thuốc… và ông có những nghi ngờ về giáo pháp?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Tissa? Nếu ông không thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với sắc, khi sắc đó suy tàn và hoại diệt, nó có làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não không?”

“Có, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Tissa! Đúng là như vậy, Tissa, khi ông không thoát khỏi tham ái đối với sắc.

Nếu ông không thoát khỏi tham ái đối với thọ… tưởng… hành… thức, khi thức đó suy tàn và hoại diệt, nó có làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"

“Có, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Tissa! Đúng là như vậy, Tissa, khi ông không thoát khỏi tham ái đối với thức.

Ông nghĩ sao, Tissa? Nếu ông đã thoát khỏi tham lam, dục vọng, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái dục đối với sắc, khi sắc đó suy tàn và hoại diệt, nó có làm phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, và não không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Tissa! Đúng là như vậy, Tissa, khi ông đã thoát khỏi tham ái đối với sắc… thọ… tưởng… hành… thức.

Ông nghĩ sao, Tissa? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

"Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’

Giả sử, Tissa, có hai người. Một người không rành đường, người kia thì rành. Người không rành đường sẽ hỏi người rành đường, người này sẽ trả lời: ‘Hãy đến đây, thiện nam tử, đây là con đường. Đi xuống đó một giờ, ông sẽ thấy một ngã ba. Bỏ qua con đường bên trái, và đi con đường bên phải. Đi thêm một giờ nữa, ông sẽ thấy một khu rừng rậm. Đi thêm một giờ nữa, ông sẽ thấy một vùng đầm lầy thấp. Đi thêm một giờ nữa, ông sẽ thấy một vách đá lớn, dốc. Đi thêm một giờ nữa, ông sẽ thấy một công viên bằng phẳng, quang đãng.’

Ta đã tạo ra ví dụ này để làm rõ một điểm. Và đây là ý nghĩa của nó.

‘Một người không rành đường’ là một thuật ngữ chỉ một người phàm phu ít nghe.

‘Một người rành đường’ là một thuật ngữ chỉ Bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

‘Một ngã ba’ là một thuật ngữ chỉ sự nghi ngờ.

‘Con đường bên trái’ là một thuật ngữ chỉ tà đạo tám ngành, đó là, tà kiến… tà định.

‘Con đường bên phải’ là một thuật ngữ chỉ bát chánh đạo, đó là, chánh kiến… chánh định.

‘Một khu rừng rậm’ là một thuật ngữ chỉ vô minh.

‘Một vùng đầm lầy thấp’ là một thuật ngữ chỉ các thú vui giác quan.

‘Một vách đá lớn, dốc’ là một thuật ngữ chỉ sự tức giận và phiền muộn.

‘Một công viên bằng phẳng, quang đãng’ là một thuật ngữ chỉ sự dập tắt.

Hãy vui lên, Tissa, hãy vui lên! Ta ở đây để khuyên bảo ông, để hỗ trợ ông, và để dạy dỗ ông."

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Hài lòng, Tôn giả Tissa hoan hỷ những gì Thế Tôn đã nói.

II. Tissa (Tạp 10, Ðại 2,71a) (S.iii,106)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, nói với một số đông Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp.

3. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp”.

5. Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

− Ðến đây, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Tissa: “Hiền giả Tissa, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả!”

6. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Tissa; sau khi đến, nói với Tôn giả Tissa:

− Hiền giả Tissa! Bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

7. − Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Tissa vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8. Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa đang ngồi một bên:

− Có thật chăng, này Tissa, Ông đã nói như sau cho một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt… và ta nghi ngờ đối với các pháp”?

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

9. − Ông nghĩ thế nào, này Tissa? Ðối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

10-13. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… Như người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

14. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với thức, người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

15. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người chưa ly tham đối với thức.

16. Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, đối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

17.− Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với sắc. Ðối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… Như người đã ly tham đối với các hành, người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

18. − Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với thức.

19. Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

20-23. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

24-25. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

26. Ví như, này Tissa, có hai người. Một người không giỏi về đường sá, một người giỏi về đường sá. Trong hai người ấy, người không giỏi về đường sá này hỏi người giỏi về đường sá kia về con đường. Người ấy trả lời: “Hãy đi, này Bạn, đây là con đường. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây, hãy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm nước lớn. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một vực nước sâu. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả ái!”

27. Ðây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu rõ ý nghĩa. Và ý nghĩa như sau:

28. Người không giỏi về đường sá, này Tissa,là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

29. Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo tám ngành, tức là tà tri kiến… tà định. Con đường tay mặt, này Tissa, là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

30. Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho phẫn nộ, ưu não. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho Niếtbàn.

31. Hãy hoan hỷ, này Tissa! Hãy hoan hỷ, này Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).

32. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Tissa hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

SN 22.85 Với Yamaka Yamakasutta

Một thời Tôn giả Xá-lợi-phất trú gần Sāvatthī trong vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, một Tỷ kheo tên là Yamaka có một tà kiến nguy hại sau: “Theo như tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn, một Tỷ kheo đã chấm dứt các lậu hoặc sẽ bị tiêu diệt và hủy hoại khi thân hoại mạng chung, và không tồn tại sau khi chết.”

Một số Tỷ kheo nghe về điều này. Họ đến chỗ Yamaka và chào hỏi ông.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên và nói với ông: “Có thật không, thưa Tôn giả Yamaka, rằng ông có một tà kiến nguy hại như vậy: ‘Theo như tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn, một Tỷ kheo đã chấm dứt các lậu hoặc sẽ bị tiêu diệt và hủy hoại khi thân hoại mạng chung, và không tồn tại sau khi chết’?”

“Vâng, thưa các Tôn giả, đó là cách tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn.”

“Đừng nói vậy, Yamaka! Đừng xuyên tạc Thế Tôn, vì xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Và Thế Tôn sẽ không nói như vậy.” Nhưng dù được các Tỷ kheo đó khuyên răn, Yamaka vẫn ngoan cố bám vào tà kiến đó và khăng khăng tuyên bố nó.

Khi các Tỷ kheo đó không thể thuyết phục Yamaka từ bỏ tà kiến đó, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi gặp Tôn giả Xá-lợi-phất. Họ kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra, và nói: “Xin Tôn giả Xá-lợi-phất hãy đến gặp Tỷ kheo Yamaka vì lòng từ bi.” Xá-lợi-phất đồng ý bằng sự im lặng.

Lúc bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất ra khỏi nơi ẩn dật, đến chỗ Tôn giả Yamaka và chào hỏi ông. Ngồi xuống một bên, ngài nói với Yamaka:

“Có thật không, thưa Tôn giả Yamaka, rằng ông có một tà kiến nguy hại như vậy: ‘Theo như tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn, một Tỷ kheo đã chấm dứt các lậu hoặc sẽ bị tiêu diệt và hủy hoại khi thân hoại mạng chung, và không tồn tại sau khi chết’?”

“Vâng, thưa Tôn giả, đó là cách tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Yamaka? Sắc là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, thưa Tôn giả.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, thưa Tôn giả.”

"Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’

Ông nghĩ sao, thưa Tôn giả Yamaka? Ông có coi Bậc Như Lai là sắc không?"

“Không, thưa Tôn giả.”

“Ông có coi Bậc Như Lai là thọ… tưởng… hành… thức không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, thưa Tôn giả Yamaka? Ông có coi Bậc Như Lai ở trong sắc không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Hay ông coi Bậc Như Lai khác với sắc?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Ông có coi Bậc Như Lai ở trong thọ… hay khác với thọ… ở trong tưởng… hay khác với tưởng… ở trong hành… hay khác với hành… ở trong thức không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Hay ông coi Bậc Như Lai khác với thức?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, Yamaka? Ông có coi Bậc Như Lai sở hữu sắc, thọ, tưởng, hành, và thức không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, Yamaka? Ông có coi Bậc Như Lai là người không có sắc, thọ, tưởng, hành, và thức không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

“Trong trường hợp đó, thưa Tôn giả Yamaka, vì ông không thực sự tìm thấy Bậc Như Lai ngay trong đời này, có thích hợp để tuyên bố: ‘Theo như tôi hiểu giáo pháp của Thế Tôn, một Tỷ kheo đã chấm dứt các lậu hoặc sẽ bị tiêu diệt và hủy hoại khi thân hoại mạng chung, và không tồn tại sau khi chết’ không?”

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, trong sự vô minh của mình, tôi đã từng có tà kiến đó. Nhưng bây giờ khi tôi đã nghe giáo pháp từ Tôn giả Xá-lợi-phất, tôi đã từ bỏ tà kiến đó, và tôi đã hiểu thấu giáo pháp.”

“Thưa Tôn giả Yamaka, giả sử họ hỏi ông: ‘Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, điều gì xảy ra với một bậc A-la-hán, người đã chấm dứt các lậu hoặc?’ Ông sẽ trả lời như thế nào?”

"Thưa Tôn giả, nếu họ hỏi điều này, tôi sẽ trả lời như thế này: 'Thưa Tôn giả, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ đã chấm dứt và kết thúc.

Thọ… tưởng… hành… thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ đã chấm dứt và kết thúc.’ Đó là cách tôi sẽ trả lời một câu hỏi như vậy."

"Tốt lắm, tốt lắm, thưa Tôn giả Yamaka! Vậy thì, tôi sẽ cho ông một ví dụ để làm rõ ý nghĩa hơn nữa. Giả sử có một gia chủ hoặc con trai của gia chủ giàu có, có nhiều tiền và tài sản lớn, và có một vệ sĩ để bảo vệ. Rồi có một người đến muốn làm hại, gây thương tích, và đe dọa ông, và lấy mạng ông. Họ sẽ nghĩ: ‘Gia chủ này hoặc con trai của gia chủ này giàu có, có nhiều tiền và tài sản lớn, và có một vệ sĩ để bảo vệ. Sẽ không dễ dàng để lấy mạng ông ta bằng vũ lực. Tại sao mình không đến gần ông ta, rồi lấy mạng ông ta?’ Thế là anh ta đến chỗ gia chủ hoặc con trai của gia chủ đó và nói: ‘Thưa ngài, tôi sẽ phục vụ ngài.’ Họ sẽ phục vụ gia chủ hoặc con trai của gia chủ đó. Họ sẽ dậy trước ông và đi ngủ sau ông, và tỏ ra ngoan ngoãn, cư xử tốt và nói năng lịch sự. Gia chủ hoặc con trai của gia chủ sẽ coi họ như một người bạn và đồng hành, và tin tưởng họ. Nhưng khi người đó nhận ra rằng họ đã có được sự tin tưởng của gia chủ hoặc con trai của gia chủ, thì, khi họ biết ông ta ở một mình, họ sẽ lấy mạng ông ta bằng một con dao sắc.

Ông nghĩ sao, Yamaka? Khi người đó đến chỗ gia chủ hoặc con trai của gia chủ và đề nghị phục vụ ông ta, họ không phải là một kẻ giết người lúc đó sao, mặc dù ông ta không biết rằng đây là kẻ giết mình? Và khi họ dậy trước ông và đi ngủ sau ông, tỏ ra ngoan ngoãn, cư xử tốt và nói năng lịch sự, họ không phải là một kẻ giết người lúc đó sao, mặc dù ông ta không biết rằng đây là kẻ giết mình? Và khi, biết ông ta ở một mình, họ lấy mạng ông ta bằng một con dao sắc, họ không phải là một kẻ giết người lúc đó sao, mặc dù ông ta không biết rằng đây là kẻ giết mình?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

"Cũng vậy, một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ coi thọ… tưởng… hành… Họ coi thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là vô thường—là vô thường. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô thường—là vô thường.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là khổ—là khổ. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là khổ—là khổ.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là vô ngã—là vô ngã. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô ngã—là vô ngã.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh.

Họ không thực sự hiểu sắc—vốn là một kẻ giết người—là một kẻ giết người. Họ không thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là một kẻ giết người—là một kẻ giết người.

Họ bị thu hút bởi sắc, nắm giữ nó, và cam kết với ý nghĩ, ‘tự ngã của tôi’. Họ bị thu hút bởi thọ… tưởng… hành… thức, nắm giữ nó, và cam kết với ý nghĩ, ‘tự ngã của tôi’. Và khi ông đã dính líu và nắm giữ năm thủ uẩn này, chúng sẽ dẫn đến sự tổn hại và khổ đau lâu dài cho ông.

Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Họ không coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là vô thường—là vô thường. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô thường—là vô thường.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là khổ—là khổ. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là khổ—là khổ.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là vô ngã—là vô ngã. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là vô ngã—là vô ngã.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là do duyên sinh—là do duyên sinh.

Họ thực sự hiểu sắc—vốn là một kẻ giết người—là một kẻ giết người. Họ thực sự hiểu thọ… tưởng… hành… thức—vốn là một kẻ giết người—là một kẻ giết người.

Không bị thu hút bởi sắc, họ không nắm giữ nó, và cam kết với ý nghĩ, ‘tự ngã của tôi’. Không bị thu hút bởi thọ… tưởng… hành… thức, họ không nắm giữ nó, và cam kết với ý nghĩ, ‘tự ngã của tôi’. Và khi ông không bị thu hút và không nắm giữ năm thủ uẩn này, chúng sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ông."

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, đây là cách khi có những vị tôn giả như vậy làm bạn đồng tu để khuyên bảo và chỉ dạy vì lòng tốt và từ bi. Và sau khi nghe giáo pháp này của Tôn giả Xá-lợi-phất, tâm tôi đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.”

III. Yamaka (Tạp 5, Ðại 2,30c) (S.iii,109)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú tại Sàvatthi, Jetavena, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

3. Nhiều Tỷ-kheo nghe Tỷ-kheo Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

5. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Yamaka:

− Có thật chăng, này Hiền giả Yamaka, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

6. − Này chư Hiền, tôi đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp như vầy: “Như ta hiểu lời Thế Tôn… sau khi chết”.

7. − Chớ có nói vậy, Hiền giả Yamaka! Chớ có xuyên tạc Thế Tôn! Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt lành. Thế Tôn không có nói như sau: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

8. Dầu được các Tỷ-kheo ấy nói như vậy, Tôn giả Yamaka vẫn kiên trì, kiên cố chấp nhận ác tà kiến ấy, nói rằng: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

9. Vì rằng các Tỷ-kheo không thể làm cho Tôn giả Yamaka rời bỏ ác tà kiến ấy, các Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Tỷ-kheo Yamaka, thưa Hiền giả Sàriputta, có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”. Lành thay, nếu Tôn giả Sàriputta vì lòng lân mẫn đi đến Tỷ-kheo Yamaka.

10. Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.

11. Rồi Tôn giả Sàsriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Yamaka; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Yamaka những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

12. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Yamaka:

− Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp… không còn gì nữa sau khi chết”.

13. − Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời Thế Tôn thuyết pháp: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

14. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, này Hiền giả.

15-18. − Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, này Hiền giả.

19-20. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

21. Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

22-26. − Hiền giả có quán Như Lai là thọ… tưởng… hành… thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

27. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai ở trong sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Hiền giả có quán Như Lai ở ngoài sắc không?

− Thưa không, này Hiền giả.

28. − Hiền giả, có quán Như Lai ở trong thọ không?..

20. Hiền giả có quán Như Lai ở trong tưởng không?..

30. Hiền giả có quán Như Lai ở trong các hành không?..

31. Hiền giả có quán Như Lai ở trong thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Hiền giả có quán Như Lai là ngoài thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

32. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không?

− Thưa không, này Hiền giả.

33. − Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka? Hiền giả có quán cái không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức là Như Lai không?

− Thưa không, này Hiền giả.

34. − Và ở đây, Hiền giả Yamaka, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không thể tìm được một Như Lai thường chơn, thường trú, thời hợp lý chăng khi Hiền giả trả lời: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ tận diệt, không còn gì nữa sau khi chết”.

35. − Trước đây tôi vô trí nên có ác tà kiến ấy. Nay sau khi nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, ác tà kiến ấy được đoạn trừ, và pháp được tôi hoàn toàn chứng tri.

36. − Hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi Hiền giả: “Hiền giả Yamaka, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, Hiền giả Yamaka, Hiền giả trả lời như thế nào?

37. − Thưa Hiền giả, nếu có người hỏi tôi: “Này Hiền giả Yamaka, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ trở thành gì?”; được hỏi như vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời: “Sắc là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, này Hiền giả, cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là đoạn diệt, là tiêu diệt”. Ðược hỏi vậy, này Hiền giả, tôi sẽ trả lời như vậy.

38-39. Lành thay, lành thay, Hiền giả Yamaka! Hiền giả Yamaka, ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ để ý nghĩa này được hiểu rõ thêm nữa. Ví như, này Hiền giả Yamaka, một người gia chủ hay con của người gia chủ, là nhà hào phú, tiền nhiều,của nhiều, lại được bảo vệ. Rồi có người đến, muốn điều bất lợi, muốn điều bất hạnh, muốn điều bất an, muốn đoạt mạng sống người kia. Người ấy suy nghĩ: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này là nhà hào phú, tiền nhiều, của nhiều, lại được bảo vệ. Thật không dễ gì đoạt mạng sống nó bằng sức mạnh. Vậy ta hãy tìm cách xâm nhập rồi sẽ đoạt mạng sống”. Người ấy đi đến người gia chủ hay con của người gia chủ kia, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi xin được hầu hạ Tôn giả”. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia chấp nhận cho người ấy hầu hạ. Người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái. Người gia chủ hay con của người gia chủ kia tin tưởng người ấy, xem người ấy như thân hữu, tin tưởng người ấy, xem như tâm hữu, và đặt lòng tín cẩn vào người ấy. Này Hiền giả, khi người ấy đã tin tưởng rằng: “Người gia chủ hay con của người gia chủ này đã tín cẩn ta”, khi bắt gặp người con của gia chủ ở một chỗ thanh vắng, liền lấy con dao sắc bén, đoạt mạng sống người con của gia chủ.

40. Hiền giả Yamaka, Hiền giả nghĩ thế nào? Khi người ấy đến với người gia chủ hay con của người gia chủ kia và nói: “Thưa Tôn giả, tôi muốn hầu hạ Tôn giả”; khi ấy người ấy có phải là kẻ giết người không? Và dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.

41. Khi người ấy hầu hạ, dậy trước ngủ sau, sự việc nhanh nhẹn, cử chỉ đẹp lòng, lời nói khả ái, khi ấy dầu cho người ấy là kẻ giết người, người gia chủ hay con của người gia chủ cũng không nghĩ rằng: “Ta có một kẻ giết người”.

− Thưa vâng, này Hiền giả.

42-43.− Cũng vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

44. “Sắc là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thọ là vô thường”; tưởng là vô thường, người ấy không như thật biết rõ: “Tưởng là vô thường”; “Các hành là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Các hành là vô thường”; “Thức là vô thường”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.

45. “Sắc là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là khổ”; “Thọ là khổ”… “Tưởng là khổ”… “Các hành là khổ”… “Thức là khổ”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là khổ”.

46. “Sắc là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”; “Thọ là vô ngã”… “Tưởng là vô ngã”… “Các hành là vô ngã”… “Thức là vô ngã”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.

47. “Sắc là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”; “Thọ là hữu vi”… “Tưởng là hữu vi”… “Các hành là hữu vi”; “Thức là hữu vi”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.

48. “Sắc là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”; “Thọ là kẻ giết người”… “Tưởng là kẻ giết người”… “Các hành là kẻ giết người”… “Thức là kẻ giết người”, người ấy không như thật biết rõ: “Thức là kẻ giết người”.

49. Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Người ấy đến với thọ… với tưởng… với các hành… người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: “Thức là tự ngã của ta”. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy.

50. Này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh… tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.

51. “Sắc là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô thường”; “Thọ là vô thường”… “Tưởng là vô thường”… “Các hành là vô thường”… “Thức là vô thường”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô thường”.

52. “Sắc là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là khổ”… “Thọ là khổ”… “Tưởng là khổ”… “Các hành là khổ”… “Thức là khổ”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là khổ”.

53. “Sắc là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là vô ngã”… “Thọ là vô ngã”… “Tưởng là vô ngã”… “Các hành là vô ngã”… “Thức là vô ngã”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là vô ngã”.

54. “Sắc là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là hữu vi”… “Thọ là hữu vi”… “Tưởng là hữu vi”… “Các hành là hữu vi”… “Thức là hữu vi”, vị ấy như thật biết rõ: “Thức là hữu vi”.

55. “Sắc là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ: “Sắc là kẻ giết người”… “Thọ là kẻ giết người”… “Tưởng là kẻ giết người”… “Các hành là kẻ giết người”… “Thức là kẻ giết người”, vị ấy như thật biết rõ:

“Thức là kẻ giết người”.

56. Vị ấy không đến với sắc, không chấp thủ, không nhiếp trì: “Sắc là tự ngã của ta”. Không đến với thọ… với tưởng… với các hành… Không đến với thức, không chấp thủ, không nhiếp trì : “Thức là tự ngã của ta”. Ðối với năm thủ uẩn này, vị ấy không đi đến, không chấp thủ, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho vị ấy trong một thời gian dài.

57. − Như vậy, này Hiền giả Sàriputta, các Tôn giả ấy có được người như Hiền giả làm đồng Phạm hạnh, có lòng lân mẫn như vậy, muốn họ được hạnh phúc như vậy, bậc giáo giới như vậy, bậc giảng dạy như vậy.

58. Và nay, sau khi được nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.

SN 22.86 Với Anurādha Anurādhasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anurādha đang ở không xa Thế Tôn trong một túp lều hoang dã. Lúc bấy giờ, một số du sĩ của các tôn giáo khác đến chỗ Tôn giả Anurādha và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Anurādha, khi một bậc Như Lai mô tả một bậc Như Lai—một bậc tối thượng, cao nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả họ theo bốn cách này: Sau khi chết, một bậc Như Lai vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc cả hai vừa tồn tại vừa không còn tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không không còn tồn tại.”

Khi họ nói điều này, Tôn giả Anurādha nói với các du sĩ đó:

“Thưa các Tôn giả, khi một bậc Như Lai mô tả một bậc Như Lai—một bậc tối thượng, cao nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả họ khác với bốn cách này: Sau khi chết, một bậc Như Lai vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc cả hai vừa tồn tại vừa không còn tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không không còn tồn tại.” Khi ngài nói điều này, các du sĩ nói với ngài:

“Vị Tỷ kheo này chắc hẳn còn trẻ, mới xuất gia, hoặc là một Tỷ kheo lớn tuổi ngu ngốc, bất tài.” Sau đó, sau khi khiển trách Tôn giả Anurādha bằng cách gọi ngài là “trẻ” và “ngu ngốc”, các du sĩ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Ngay sau khi họ rời đi, Anurādha nghĩ:

“Nếu các du sĩ đó hỏi thêm, tôi nên trả lời họ như thế nào để lặp lại những gì Thế Tôn đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật? Tôi nên giải thích như thế nào cho phù hợp với giáo pháp của Ngài, để không có lý do chính đáng nào để bị phản bác và chỉ trích?”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Anurādha đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe tất cả những gì đã xảy ra.

“Ông nghĩ sao, Anurādha? Sắc là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” … "Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’

Ông nghĩ sao, Anurādha? Ông có coi một bậc Như Lai là sắc không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông có coi một bậc Như Lai là thọ… tưởng… hành… thức không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Anurādha? Ông có coi một bậc Như Lai ở trong sắc không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Hay ông coi một bậc Như Lai khác với sắc?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông có coi một bậc Như Lai ở trong thọ… hay khác với thọ… ở trong tưởng… hay khác với tưởng… ở trong hành… hay khác với hành… ở trong thức… hay khác với thức không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Anurādha? Ông có coi một bậc Như Lai sở hữu sắc, thọ, tưởng, hành, và thức không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ông nghĩ sao, Anurādha? Ông có coi một bậc Như Lai là người không có sắc, thọ, tưởng, hành, và thức không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Trong trường hợp đó, Anurādha, vì ông không thực sự tìm thấy một bậc Như Lai ngay trong đời này, có thích hợp để tuyên bố: ‘Thưa các Tôn giả, khi một bậc Như Lai mô tả một bậc Như Lai—một bậc tối thượng, cao nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả họ khác với bốn cách này: Sau khi chết, một bậc Như Lai vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc cả hai vừa tồn tại vừa không còn tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không không còn tồn tại’ không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Anurādha! Trong quá khứ, cũng như hôm nay, những gì Ta mô tả là khổ và sự chấm dứt của khổ.”

IV. Anuràdha (Tạp 5, Ðại 2,32c) (S.iii,116)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3. Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:

− Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

5. Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:

− Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

6. Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:

− Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.

7. Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

8. Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.

9. Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

10. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến… nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: 'Như Lai tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.

11. Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền. … không tồn tại sau khi chết”.

12. Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học… nhưng ngu dốt, không có học tập”.

13. Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học… liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

14. Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.

15. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

16-17. − Do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

18. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

“− Thọ… tưởng… các hành… thức là Như Lai không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

19. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như lai ở trong thọ… ở ngoài thọ… ở trong tưởng… ở ngoài tưởng… ở trong các hành… ở ngoài các hành… ở trong thức không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

20. − Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ "?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

22. − Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.

SN 22.87 Với Vakkali Vakkalisutta

Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali đang ở trong một lán của thợ gốm, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.

Lúc bấy giờ, ngài nói với những người chăm sóc mình: “Xin các Tôn giả, hãy đến chỗ Thế Tôn, và nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài. Hãy nói với Ngài: ‘Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, và bệnh nặng. Ngài cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Và sau đó nói: ‘Bạch Thế Tôn, xin hãy đến thăm Tỷ kheo Vakkali vì lòng từ bi.’”

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp. Họ đã làm như ngài yêu cầu. Thế Tôn đồng ý bằng sự im lặng.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn mặc y, mang bát và y, đến chỗ Tôn giả Vakkali. Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đến và cố gắng ngồi dậy trên giường.

Nhưng Thế Tôn nói với ngài: “Được rồi, Vakkali, đừng ngồi dậy. Có một số chỗ ngồi đã được trải sẵn, Ta sẽ ngồi ở đó.”

Ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn và nói với Vakkali: “Ta hy vọng ông vẫn khỏe, Vakkali; Ta hy vọng ông vẫn ổn. Và Ta hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm dần của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không ổn, con không qua được. Cơn đau của con rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm dần.”

“Ta hy vọng ông không có hối hận hay tiếc nuối gì?”

“Thật vậy, bạch Thế Tôn, con có không ít hối hận và tiếc nuối.”

“Ta hy vọng ông không có lý do gì để tự trách mình về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức)?”

“Không, bạch Thế Tôn, con không có lý do gì để tự trách mình về giới đức.”

“Trong trường hợp đó, Vakkali, tại sao ông lại có hối hận và tiếc nuối?”

“Từ lâu con đã muốn đến gặp Thế Tôn, nhưng thân thể con quá yếu.”

"Đủ rồi, Vakkali! Tại sao ông lại muốn thấy cái thân thối rữa này? Người nào thấy giáo pháp là thấy Ta. Người nào thấy Ta là thấy giáo pháp. Thấy giáo pháp, ông thấy Ta. Thấy Ta, ông thấy giáo pháp.

Ông nghĩ sao, Vakkali? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay hạnh phúc?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’”

Và rồi, sau khi cho Tôn giả Vakkali lời khuyên này, Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến núi Linh Thứu.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali nói với những người chăm sóc mình: “Hãy đến đây, các Tôn giả, hãy nâng giường của tôi và đưa tôi đến Tảng Đá Đen trên sườn núi Isigili. Không thể tưởng tượng được một người như tôi lại chết trong một khu vực có người ở!”

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp, và làm như ngài yêu cầu. Trong khi đó, Thế Tôn đã trải qua phần còn lại của đêm và ngày đó trên núi Linh Thứu.

Lúc bấy giờ, vào đêm khuya, hai vị trời rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ núi Linh Thứu, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, và đứng sang một bên.

Một vị trời nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Vakkali quyết tâm giải thoát!”

Và một vị trời khác nói với Ngài: “Ngài chắc chắn sẽ được giải thoát tốt đẹp!”

Đây là những gì các vị trời đó đã nói. Sau đó, họ đảnh lễ và đi quanh Thế Tôn theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi biến mất ngay tại đó.

Lúc bấy giờ, khi đêm đã qua, Thế Tôn nói với các Tỷ kheo:

"Hãy đến đây, các Tỷ kheo, hãy đến chỗ Tỷ kheo Vakkali và nói với ông ấy:

'Vakkali, hãy nghe lời của Thế Tôn và hai vị trời.

Đêm qua, hai vị trời rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ núi Linh Thứu, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, và đứng sang một bên.

Một vị trời nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Vakkali quyết tâm giải thoát!”

Vị trời kia nói với Ngài: “Ngài chắc chắn sẽ được giải thoát tốt đẹp!”

Và Thế Tôn nói: “Đừng sợ, Vakkali, đừng sợ! Cái chết của ông sẽ không phải là một cái chết tồi tệ; sự ra đi của ông sẽ không phải là một sự ra đi tồi tệ.”'"

“Vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo đó đáp. Họ đến chỗ Vakkali và nói với ngài:

“Vakkali, hãy nghe lời của Thế Tôn và hai vị trời.”

Lúc bấy giờ, Vakkali nói với những người chăm sóc mình: “Xin các Tôn giả, hãy giúp tôi xuống khỏi giường. Không thể tưởng tượng được một người như tôi lại nghe lời chỉ dạy của Thế Tôn khi ngồi trên một chiếc ghế cao.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp, và giúp ngài xuống khỏi giường. Họ lặp lại những gì Thế Tôn đã nói.

Vakkali nói: "Vậy thì, các Tôn giả, nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Hãy nói với Ngài: ‘Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Ngài cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Và sau đó nói: 'Sắc là vô thường. Con không nghi ngờ gì về điều đó. Con chắc chắn rằng cái gì vô thường là khổ. Và con chắc chắn rằng con không có dục vọng, tham lam hay yêu thích đối với những gì vô thường, khổ, và có thể hoại diệt.

Thọ là vô thường…

Tưởng là vô thường…

Hành là vô thường…

Thức là vô thường. Con không nghi ngờ gì về điều đó. Con chắc chắn rằng cái gì vô thường là khổ. Và con chắc chắn rằng con không có dục vọng, tham lam hay yêu thích đối với những gì vô thường, khổ, và có thể hoại diệt.'"

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp, và rời đi. Và rồi, không lâu sau khi các Tỷ kheo đó rời đi, Tôn giả Vakkali đã tự kết liễu đời mình.

Lúc bấy giờ, các Tỷ kheo đó đến chỗ Thế Tôn và kể lại thông điệp của Vakkali.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỷ kheo: “Hãy đến đây, các Tỷ kheo, chúng ta hãy đến Tảng Đá Đen trên sườn núi Isigili, nơi Vakkali, vị thiện nam tử, đã tự kết liễu đời mình.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn cùng với một số Tỷ kheo đến Tảng Đá Đen trên sườn núi Isigili. Thế Tôn thấy Vakkali từ xa nằm trên giường, đã từ bỏ các uẩn.

Lúc bấy giờ, một đám khói đen đang di chuyển về phía đông, tây, bắc, nam, trên, dưới, và ở giữa.

Thế Tôn nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các ông có thấy đám khói đen đó đang di chuyển về phía đông, tây, bắc, nam, trên, dưới, và ở giữa không?”

“Có, bạch Thế Tôn.”

“Đó là Ma vương Ác ma đang tìm kiếm thức của Vakkali, tự hỏi: ‘Thức của Vakkali được thiết lập ở đâu?’ Nhưng vì thức của ngài không được thiết lập, Vakkali đã được dập tắt.”

V. Vakkàli (Tạp 47, Ðại 2,346b) (Tăng 19, Ðại 2,642b) (S.iii,119)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3. Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:

− Ðến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: 'Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali.’”

4. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: “Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali”.

5. Thế Tôn im lặng nhận lời.

6. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.

7. Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.

8. Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

− Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy.

Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.

9. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

− Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.

10. − Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?

− Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

11. − Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?

− Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.

12. − Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?

− Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.

13. − Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.

14. − Này Vakkali, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15-16. − Do vậy, ở đây… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

17. Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới cho Tôn giả Vakkali với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

18. Rồi Tôn giả Vakkali, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền gọi các thị giả:

− Hãy đến ta, này chư Hiền, hãy nhắc cái giường ta và đi đến tảng đá đen (kàlasilà), tại sườn núi Isigili (hang của Tiên nhân). Làm sao người như ta, lại nghĩ đến mệnh chung trong một căn nhà?

19. − Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc chiếc giường với Tôn giả Vakkali đi đến tảng đá đen, tại sườn núi Isigili.

20. Thế Tôn, đêm ấy và ngày còn lại, trú tại núi Gijjhakuuta.

21. Rồi hai vị Thiên, trong khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Gijjakuuta, đi đến Thế Tôn… liền đứng một bên.

22. Ðứng một bên, một vị Thiên bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang có ý nghĩ muốn giải thoát.

23. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn:

− Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát.

24. Chư Thiên ấy nói như vậy xong; sau khi nói vậy, liền đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

25. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo:

− Hãy đến, này các Tỷ-kheo. Hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Vakkali như sau: "Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của hai vị Thiên nói với Thế Tôn. Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Gijjhakuuta, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali đang có ý nghĩ muốn giải thoát’. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn: 'Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát’. Và Hiền giả Vakkali, Thế Tôn nói với Hiền giả như sau: “Này Vakkali, chớ có sợ! Này Vakkali, chớ có sợ! Cái chết của Ông sẽ không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải ác hạnh!’”

26. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Vakkali; sau khi đến, thưa với Tôn giả Vakkali:

− Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của Thế Tôn và hai vị Thiên.

27. Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả:

− Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy.

28. − Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn giả Vakkali ra khỏi giường.

29. − Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn… đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ đến tự giải thoát”. Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: “Vị ấy, bạch Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát”. Và Thế Tôn, này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: “Chớ có sợ, này Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải là ác hạnh!”

30. − Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: 'Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường… Các hành là vô thường… Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.’”

31. − Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi.

32. Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao lâu liền đem lại con dao.

33. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: “Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này”.

34. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

35. Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen.

36. Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm trên giường, với vai co quắp lại.

37. Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc.

38. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Ðông… đi về phía bốn góc không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

39. − Ðó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: “thức của Thiện nam tử Vakkali an trú tại chỗ nào?”

40. Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niếtbàn một cách hoàn toàn!

SN 22.88 Với Assaji Assajisutta

Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Assaji đang ở trong một tu viện do một người Kassapa xây dựng, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Lúc bấy giờ, ngài nói với những người chăm sóc mình:

“Xin các Tôn giả, hãy đến chỗ Thế Tôn, và nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài. Hãy nói với Ngài: ‘Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Assaji bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Ngài cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Và sau đó nói: ‘Bạch Thế Tôn, xin hãy đến thăm Tỷ kheo Assaji vì lòng từ bi.’”

“Vâng, thưa Tôn giả,” các Tỷ kheo đó đáp. Họ đã làm như ngài yêu cầu. Thế Tôn đồng ý bằng sự im lặng.

Lúc bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi ẩn dật và đến chỗ Tôn giả Assaji. Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đến, và cố gắng ngồi dậy trên giường.

Nhưng Thế Tôn nói với ngài: “Được rồi, Assaji, đừng ngồi dậy. Có một số chỗ ngồi đã được trải sẵn, Ta sẽ ngồi ở đó.”

Ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn và nói: “Ta hy vọng ông vẫn khỏe, Assaji; Ta hy vọng ông vẫn ổn. Và Ta hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm dần của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không ổn, con không qua được. Cơn đau của con rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm dần.”

“Ta hy vọng ông không có hối hận hay tiếc nuối gì?”

“Thật vậy, bạch Thế Tôn, con có không ít hối hận và tiếc nuối.”

“Ta hy vọng ông không có lý do gì để tự trách mình về giới đức?”

“Không, bạch Thế Tôn, con không có lý do gì để tự trách mình về giới đức.”

“Trong trường hợp đó, Assaji, tại sao ông lại có hối hận và tiếc nuối?”

“Bạch Thế Tôn, trước khi con bị bệnh, con đã thiền định sau khi đã làm lắng dịu hoàn toàn quá trình vật lý. Nhưng bây giờ con không thể nhập định. Vì không thể nhập định, con nghĩ: ‘Mong rằng con không bị suy thoái!’”

"Assaji, có những sa-môn và bà-la-môn coi samādhi là cốt lõi, đánh đồng thiền định với đời sống sa-môn. Họ nghĩ: ‘Mong rằng chúng ta không bị suy thoái!’

Ông nghĩ sao, Assaji? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Thức là thường hằng hay vô thường?” …

"Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’

Nếu họ cảm thấy một cảm giác dễ chịu, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không ưa thích nó. Nếu họ cảm thấy một cảm giác đau đớn, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không ưa thích nó. Nếu họ cảm thấy một cảm giác trung tính, họ hiểu rằng nó là vô thường, rằng họ không bị dính mắc vào nó, và rằng họ không ưa thích nó. Nếu họ cảm thấy một cảm giác dễ chịu, họ cảm nhận nó một cách tách biệt. Nếu họ cảm thấy một cảm giác đau đớn, họ cảm nhận nó một cách tách biệt. Nếu họ cảm thấy một cảm giác trung tính, họ cảm nhận nó một cách tách biệt. Cảm nhận sự kết thúc của thân thể đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân thể đang đến gần.’ Cảm nhận sự kết thúc của cuộc sống đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của cuộc sống đang đến gần.’ Họ hiểu: ‘Khi thân tôi hoại diệt và cuộc sống của tôi kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, không còn được ưa thích nữa, sẽ trở nên mát mẻ ngay tại đây.’

Giả sử một ngọn đèn dầu phụ thuộc vào dầu và bấc để cháy. Khi dầu và bấc cạn kiệt, nó sẽ tắt do không được cung cấp nhiên liệu.

Cũng vậy, cảm nhận sự kết thúc của thân thể đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của thân thể đang đến gần.’ Cảm nhận sự kết thúc của cuộc sống đang đến gần, họ hiểu: ‘Tôi cảm nhận sự kết thúc của cuộc sống đang đến gần.’ Họ hiểu: ‘Khi thân tôi hoại diệt và cuộc sống của tôi kết thúc, mọi thứ được cảm nhận, không còn được ưa thích nữa, sẽ trở nên mát mẻ ngay tại đây.’"

VI. Assaji (Tạp 27, Ðại 2,267b) (S.iii,124)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

3. Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:

− Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: “Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau : 'Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji!’”

4. − Thưa vâng, Hiền giả!

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

5. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng… Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.

6. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.

7. Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:

− Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.

9. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:

10. − Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không?.. Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn!.. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!

11. − Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?

− Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

12. − Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?

− Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật.

13. − Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?

− Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: “Ta sẽ không thối thất”.

14. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ không thối thất!”

15-21. − Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn!.. Thức là thường hay vô thường?.. do vậy… thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

22. Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”.

23. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.

24. Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Vị ấy biết rõ rằng: “Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”

25. Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của (ngọn đèn) ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!

SN 22.89 Với Khemaka Khemakasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka đang ở trong Tu viện Cây Táo Ta, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.

Vào cuối buổi chiều, các Tỷ kheo trưởng lão đó ra khỏi nơi ẩn dật và nói với Tôn giả Dāsaka: “Xin Tôn giả Dāsaka, hãy đến chỗ Tỷ kheo Khemaka và nói với ngài: ‘Thưa Tôn giả Khemaka, các vị trưởng lão hy vọng ngài vẫn khỏe; họ hy vọng ngài vẫn ổn. Họ hy vọng rằng cơn đau của ngài đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm dần của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.’”

“Vâng, thưa các Tôn giả,” Dāsaka đáp. Ông đến chỗ Khemaka và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Khemaka, các vị trưởng lão hy vọng ngài vẫn khỏe; họ hy vọng ngài vẫn ổn. Họ hy vọng rằng cơn đau của ngài đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm dần của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Thưa Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua được. Cơn đau của tôi rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm dần.”

Lúc bấy giờ, Dāsaka đến chỗ các vị trưởng lão đó và kể cho họ nghe những gì đã xảy ra. Họ nói:

“Xin Tôn giả Dāsaka, hãy đến chỗ Tỷ kheo Khemaka và nói với ngài: ‘Thưa Tôn giả Khemaka, các vị trưởng lão nói rằng năm thủ uẩn này đã được Thế Tôn dạy, đó là: các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Ngài có coi bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã không?’”

“Vâng, thưa các Tôn giả,” Dāsaka đáp. Ông chuyển lời nhắn đến Khemaka, người đáp lại:

“Năm thủ uẩn này đã được Thế Tôn dạy, đó là: các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Tôi không coi bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã.”

Lúc bấy giờ, Dāsaka đến chỗ các vị trưởng lão đó và kể cho họ nghe những gì đã xảy ra. Họ nói:

“Xin Tôn giả Dāsaka, hãy đến chỗ Tỷ kheo Khemaka và nói với ngài: ‘Thưa Tôn giả Khemaka, các vị trưởng lão nói rằng năm thủ uẩn này đã được Thế Tôn dạy, đó là: các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Nếu, như có vẻ, Tôn giả Khemaka không coi bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã, thì ngài là một bậc A-la-hán, với các lậu hoặc đã chấm dứt.’”

“Vâng, thưa các Tôn giả,” Dāsaka đáp. Ông chuyển lời nhắn đến Khemaka, người đáp lại:

“Năm thủ uẩn này đã được Thế Tôn dạy, đó là: các thủ uẩn của sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Tôi không coi bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã, nhưng tôi không phải là một bậc A-la-hán, với các lậu hoặc đã chấm dứt. Vì khi nói đến năm thủ uẩn, tôi không thoát khỏi ngã mạn ‘tôi là’. Nhưng tôi không coi bất cứ điều gì là ‘tôi là cái này’.”

Lúc bấy giờ, Dāsaka đến chỗ các vị trưởng lão đó và kể cho họ nghe những gì đã xảy ra. Họ nói:

“Xin Tôn giả Dāsaka, hãy đến chỗ Tỷ kheo Khemaka và nói với ngài: 'Thưa Tôn giả Khemaka, các vị trưởng lão hỏi, khi ngài nói “tôi là”, ngài đang nói về cái gì? Có phải là sắc hay ngoài sắc? Có phải là thọ… tưởng… hành… thức, hay ngoài thức? Khi ngài nói “tôi là”, ngài đang nói về cái gì?”

“Vâng, thưa các Tôn giả,” Dāsaka đáp. Ông chuyển lời nhắn đến Khemaka, người đáp lại:

“Đủ rồi, thưa Tôn giả Dāsaka! Chạy qua chạy lại làm gì? Hãy mang gậy của tôi, tôi sẽ tự mình đến gặp các Tỷ kheo trưởng lão.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka, chống gậy, đến chỗ các Tỷ kheo trưởng lão đó và chào hỏi họ. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi xuống một bên. Họ nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Khemaka, khi ngài nói ‘tôi là’, ngài đang nói về cái gì? Có phải là sắc hay ngoài sắc? Có phải là thọ… tưởng… hành… thức, hay ngoài thức? Khi ngài nói ‘tôi là’, ngài đang nói về cái gì?”

"Thưa các Tôn giả, tôi không nói ‘tôi là’ với tham chiếu đến sắc, hay ngoài sắc. Tôi không nói ‘tôi là’ với tham chiếu đến thọ… tưởng… hành… thức, hay ngoài thức. Vì khi nói đến năm thủ uẩn, tôi không thoát khỏi ngã mạn ‘tôi là’. Nhưng tôi không coi bất cứ điều gì là ‘tôi là cái này’.

Nó giống như mùi hương của một bông súng xanh, hoặc một bông sen hồng hay trắng. Có đúng không khi nói rằng mùi hương thuộc về cánh hoa hay cuống hoa hay nhụy hoa?"

“Không, thưa Tôn giả.”

“Vậy thì, thưa các Tôn giả, nên nói như thế nào?”

“Nên nói rằng mùi hương thuộc về bông hoa.”

"Cũng vậy, thưa các Tôn giả, tôi không nói ‘tôi là’ với tham chiếu đến sắc, hay ngoài sắc. Tôi không nói ‘tôi là’ với tham chiếu đến thọ… tưởng… hành… thức, hay ngoài thức. Vì khi nói đến năm thủ uẩn, tôi không thoát khỏi ngã mạn ‘tôi là’. Nhưng tôi không coi bất cứ điều gì là ‘tôi là cái này’.

Mặc dù một vị Thánh đệ tử đã từ bỏ năm kiết sử thấp hơn, họ vẫn còn một dư âm của ngã mạn ‘tôi là’, ham muốn ‘tôi là’, và ngầm hướng về ‘tôi là’ chưa được diệt trừ. Sau một thời gian, họ thiền định quan sát sự sinh và diệt trong năm thủ uẩn. ‘Sắc là như vậy, nguồn gốc của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… Tưởng là như vậy… Hành là như vậy… Thức là như vậy, nguồn gốc của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.’ Khi họ làm như vậy, dư âm đó được diệt trừ.

Giả sử có một tấm vải bẩn và dơ, nên chủ nhân đưa nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt nhào nó kỹ với muối, dung dịch kiềm, và phân bò, và giũ nó trong nước trong. Mặc dù tấm vải đó sạch và sáng, nó vẫn còn một mùi hương còn sót lại của muối, dung dịch kiềm, hoặc phân bò chưa được diệt trừ. Người thợ giặt trả lại cho chủ nhân, người cất nó trong một chiếc hộp thơm. Và mùi hương còn sót lại đó sẽ được diệt trừ.

Cũng vậy, mặc dù một vị Thánh đệ tử đã từ bỏ năm kiết sử thấp hơn, họ vẫn còn một dư âm của ngã mạn ‘tôi là’, ham muốn ‘tôi là’, và ngầm hướng về ‘tôi là’ chưa được diệt trừ. Sau một thời gian, họ thiền định quan sát sự sinh và diệt trong năm thủ uẩn. ‘Sắc là như vậy, nguồn gốc của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… Tưởng là như vậy… Hành là như vậy… Thức là như vậy, nguồn gốc của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.’ Khi họ làm như vậy, dư âm đó được diệt trừ."

Khi ngài nói điều này, các Tỷ kheo trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka: “Chúng tôi không muốn làm phiền Tôn giả Khemaka với những câu hỏi của chúng tôi. Nhưng ngài có khả năng giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ các chỉ dẫn của Thế Tôn một cách chi tiết. Và đó chính là những gì ngài đã làm.”

Đó là những gì Tôn giả Khemaka đã nói. Hài lòng, các Tỷ kheo trưởng lão hoan hỷ những gì Tôn giả Khemaka đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, tâm của sáu mươi Tỷ kheo trưởng lão và của Tôn giả Khemaka đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc bằng cách không chấp thủ.

VII. Khemaka (Tạp 5, Ðại 2,29c) (S.iii,126)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3. Rồi các Tỷ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dàsaka:

− Hãy đến đây, này Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: “Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’”

4. − Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:

− Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: “Hiền giả có kham nhẫn được không? Này Hiền giả Khemaka… không phải tăng trưởng?”

5. − Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả… tôi không có thể chịu đựng… có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!

6. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Thưa chư Hiền, Tỷ-kheo Khemaka nói như sau: “Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả… có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!”

7. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: 'Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’”

8. − Thưa vâng, chư Hiền.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến…

− Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?”

9. − Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.

10. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!”

11. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: 'Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn…thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-lahán, các lậu hoặc đã được đoạn tận”."

12. − Thưa vâng, chư Hiền giả.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka…

− Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Nếu Tôn giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở, thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc”.

13.. … − Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.

14. Rồi Tôn giả Dàsaka đi đến Tỷ-kheo Trưởng lão… nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, thưa Hiền giả, tôi không quán cái gì là ngã hay là ngã sở. Tuy vậy, tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn, dầu cho tôi chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.

15. − Hãy đến đây, Hiền giả Dàsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: Thưa Hiền giả Khemaka, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói “Tôi là, là cái gì?” Hiền giả nói: “Tôi là sắc?” Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc”?. …; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”. Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói: “Tôi là, là cái gì?””

16. − Thưa vâng.

Tôn giả Dàsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka…

17. − Thôi vừa rồi, Hiền giả Dàsaka chạy qua, chạy lại như thế này để làm gì? Hãy đem gậy lại đây! Ta sẽ đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão!

18. Rồi Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo Trưởng lão những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

19. Các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka đang ngồi một bên:

− Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, là cái gì? Hiền giả nói: “Tôi là sắc?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc”… “là thọ… là tưởng… là các hành”…; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”; Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói “Tôi là”, là cái gì?

20. − Thưa chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”. Tôi không nói: “Tôi là khác sắc”… “là thọ… là tưởng… là các hành”… Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi cũng không nói: “Tôi là khác thức”. Dầu rằng, này các Hiền giả, Tôi có chứng được (tư tưởng): “Tôi là”, nhưng tôi không có quán : “Cái này là tôi”.

21. Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: “Hương thuộc về lá hay thuộc về sắc, hay thuộc về nhụy hoa”, nói như vậy có nói đúng không?

− Thưa không, này Hiền giả.

− Vậy chư Hiền, trả lời như thế nào là trả lời một cách đúng đắn?

Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là trả lời một cách đúng đắn.

22. Cũng vậy, này chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”; tôi không nói: “Tôi là khác sắc”… “Tôi là thọ”… “Tôi là tưởng”… “Tôi là các hành”… Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi không nói : “Tôi là khác thức”. Nhưng này chư Hiền, dầu rằng đối với năm thủ uẩn của tôi được có này, tôi không có quán: “Cái này là tôi”.

23. Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn nghĩ: “Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị”. Dư tàn kiêu mạn 'Tôi là", dư tàn dục 'Tôi là’, dư tàn tùy miên 'Tôi là’ chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”

24. Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn (?) “Tôi là”, các dư tàn ngã dục “Tôi là”, các dư tàn ngã tùy miên (?) “Tôi là”, mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.

25. Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã bay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ.

26-27. Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn “Tôi là”, dư tàn ngã dục “Tôi là”, dư tàn ngã tùy miên: “Tôi là” chưa được đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”. Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn “Tôi là”, ngã dục “tôi là”, ngã tùy miên “Tôi là” chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.

28. Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka:

− Không phải chúng tôi vì muốn phiền nhiễu Tôn giả Khemaka mà chúng tôi hỏi. Nhưng vì chúng tôi nghĩ rằng: " Tôn giả Khemaka có thể giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn".

29. Và rồi Tôn giả Khemaka đã giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn.

30. Tôn giả Khemaka thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo Trưởng lão hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Khemaka giảng.

31. Trong khi lời dạy này được nói lên, khoảng sáu mươi Tỷ-kheo được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, kể cả Tôn giả Khemaka.

SN 22.90 Với Channa Channasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Varanasi, trong vườn nai ở Isipatana.

Lúc bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Channa ra khỏi nơi ẩn dật. Cầm một chiếc chìa khóa, ngài đi từ nơi ở này đến nơi ở khác, đến chỗ các Tỷ kheo trưởng lão và nói: “Xin các Tôn giả trưởng lão hãy khuyên bảo và chỉ dạy cho con! Xin hãy cho con một bài pháp thoại để con có thể thấy giáo pháp!”

Khi ngài nói điều này, các Tỷ kheo trưởng lão nói với Tôn giả Channa:

“Thưa Tôn giả Channa, sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô thường. Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là vô ngã. Tất cả các điều kiện là vô thường. Tất cả các pháp là vô ngã.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa nghĩ: “Tôi cũng nghĩ như vậy. … Và tuy nhiên tâm tôi không nhảy vọt lên, không có được sự tự tin, không lắng xuống, và không quyết định về sự lắng dịu của tất cả các hoạt động, sự buông bỏ tất cả các chấp trước, sự chấm dứt của ái dục, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự dập tắt. Sự chấp thủ phát sinh từ lo âu. Và tâm trí quay trở lại suy nghĩ: ‘Vậy thì chính xác tự ngã của tôi là ai?’ Nhưng điều đó không xảy ra với người thấy giáo pháp. Ai có thể dạy cho tôi giáo pháp để tôi có thể thấy giáo pháp?”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa nghĩ: “Tôn giả Ānanda đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita. Ngài được Thế Tôn ca ngợi và được các bạn đồng tu sáng suốt kính trọng. Ngài hoàn toàn có khả năng dạy cho tôi giáo pháp để tôi có thể thấy giáo pháp. Vì tôi có rất nhiều niềm tin vào Tôn giả Ānanda, tại sao tôi không đến gặp ngài?”

Lúc bấy giờ, Channa sắp xếp chỗ ở của mình, mang bát và y, lên đường đến Kosambī. Ngài đến gặp Ānanda trong Tu viện của Ghosita, chào hỏi ngài, và kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra. Sau đó, ngài nói:

“Xin Tôn giả Ānanda hãy khuyên bảo và chỉ dạy cho con! Xin hãy cho con một bài pháp thoại để con có thể thấy giáo pháp!”

“Tôi đã rất vui mừng với Tôn giả Channa. Hy vọng ông đã mở lòng và cắt đứt sự cứng rắn của mình. Hãy lắng nghe kỹ, Channa. Ông có khả năng hiểu giáo pháp.”

Lúc bấy giờ, ngay lập tức Channa tràn đầy niềm hân hoan và vui sướng cao cả: “Có vẻ như tôi có khả năng hiểu giáo pháp!”

"Thưa Tôn giả Channa, tôi đã nghe và học trước sự hiện diện của Thế Tôn lời khuyên của Ngài cho Tỷ kheo Kaccānagotta:

'Kaccāna, thế giới này chủ yếu dựa vào nhị nguyên của sự tồn tại và không tồn tại.

Nhưng khi ông thực sự thấy nguồn gốc của thế giới với chánh kiến, khái niệm về không tồn tại đối với thế giới không xảy ra. Và khi ông thực sự thấy sự chấm dứt của thế giới với chánh kiến, khái niệm về sự tồn tại đối với thế giới không xảy ra.

Thế giới phần lớn bị trói buộc bởi sự thu hút, nắm giữ, và khăng khăng.

Nhưng nếu—khi nói đến sự thu hút, nắm giữ, cố chấp trong tâm, khăng khăng, và ngầm hướng về này—ông không bị thu hút, nắm giữ, và cam kết với ý nghĩ, “tự ngã của tôi”, ông sẽ không có nghi ngờ hay không chắc chắn rằng những gì phát sinh chỉ là khổ đau phát sinh, và những gì chấm dứt chỉ là khổ đau chấm dứt. Tri kiến của ông về điều này độc lập với người khác.

Đây là cách chánh kiến được định nghĩa.

“Tất cả tồn tại”: đây là một cực đoan.

“Tất cả không tồn tại”: đây là cực đoan thứ hai.

Tránh hai cực đoan này, Bậc Như Lai dạy bằng con đường trung đạo:

"Vô minh là điều kiện cho hành. Hành là điều kiện cho thức. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này sinh khởi.

Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn sót lại, hành chấm dứt. … Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt.“'”

“Thưa Tôn giả Ānanda, đây là cách khi có những vị tôn giả như vậy làm bạn đồng tu để khuyên bảo và chỉ dạy vì lòng tốt và từ bi. Và bây giờ khi tôi đã nghe giáo pháp này từ Tôn giả Ānanda, tôi đã hiểu thấu giáo pháp.”

VIII. Channa (Tạp 10, Ðại 2,66b) (S.iii,132)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão trú ở Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Channa, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác và nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:

− Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy được pháp.

3. Ðược nói vậy, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Channa:

− Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ là vô thường ; tưởng là vô thường; các hành là vô thường; thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã.

4. Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ như sau: "Ta cũng suy nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường; thọ… tưởng… các hành… thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả pháp là vô ngã.’

5. Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến (paritassanà), chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?"

6. Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ: “Ðây là Tôn giả Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp. Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ananda. Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ananda!”

7. Rồi Tôn giả Channa, sau khi dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát đi đến Kosambi, vườn Ghosita, chỗ Tôn giả Ananda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

8. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Channa nói với Tôn giả Ananda:

− Một thời, này Hiền giả Ananda, tôi ở Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi vào buổi chiều, này Hiền giả, tôi từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chiếc chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão: “Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp”.

9. Ðược nghe nói vậy, này Hiền giả, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với tôi: “Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ… tưởng… các hành… thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã”.

10. Về vấn đề ấy, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Ta cũng suy nghĩ như vầy: 'Sắc là vô thường… thức là vô thường. Sắc là vô ngã, thọ… tưởng… các hành… thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã’.

11. Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến, chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: 'Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?"

12. Rồi về vấn đề này, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ðây là Tôn giả Ananda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp! Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ananda! Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ananda”.

13. Tôn giả Ananda hãy giáo giới cho tôi! Tôn giả Ananda hãy giảng dạy cho tôi! Tôn giả Ananda hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp.

14. − Cho đến như vậy, thật sự tôi rất hoan hỷ đối với Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã làm cho sự việc rõ ràng. Tôn giả Channa đã phá vỡ chướng ngại. Hãy lóng tai, này Hiền giả Channa! Hiền giả có thể hiểu được Chánh pháp.

15. Ngay lúc ấy, Tôn giả Channa khởi lên hoan hỷ, hân hoan thù thắng khi nghe đến: “Ta có thể hiểu được pháp”.

16. − Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta: “Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccàna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccàna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccàna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú và thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: 'Ðây là tự ngã của tôi”. Với ai nghĩ rằng: 'Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccàna, là chánh trí".

17. “'Tất cả đều có’, này Kaccàna, là một cực đoan. 'Tất cả đều không có’ là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccàna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành diệt… Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”.

18. − Như vậy, này Hiền giả Ananda, là điều sẽ đến với các bậc Tôn giả nào có được những đồng Phạm hạnh như vậy, những vị có lòng từ mẫn, những vị muốn sự lợi ích, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, nghe được lời thuyết pháp này từ Tôn giả Ananda, tôi được an trú vững chắc trong Chánh pháp.

SN 22.91 Rāhula Rāhulasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Rāhula đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và bạch Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài?”

"Này Rāhula, một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để không có sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, hay ngầm hướng về về ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài."

IX. Ràhula (Tạp 1, Ðại 2,5a) (S.iii, 136)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?

4. − Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5-8. Phàm thọ gì… tưởng gì… các hành gì… Phàm thức gì, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Biết như vậy, này Ràhula, thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên.

SN 22.92 Rāhula (thứ 2) Dutiyarāhulasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, Rāhula bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, nó trở nên bình yên và được giải thoát tốt đẹp?”

"Này Rāhula, khi một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi,’ người đó được giải thoát bằng cách không chấp thủ.

Một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… hành… Khi một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi,’ người đó được giải thoát bằng cách không chấp thủ.

Đó là cách để biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo tác ‘tôi’, tạo tác ‘của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, nó trở nên bình yên và được giải thoát tốt đẹp."

X. Ràhula

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:

− Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?

4. − Phàm sắc gì, này Ràhula, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại… hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.

5-7. Phàm thọ gì… phàm tưởng gì… phàm các hành gì…

8. Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.

9. Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, được giải thoát, không có chấp thủ.

10. Do biết như vậy, này Ràhula, do thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.

Phẩm Hoa

SN 22.93 Dòng Sông Nadīsutta

Tại Sāvatthī.

"Giả sử, này các Tỷ kheo, có một dòng sông trên núi chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ. Nếu cỏ lau, cỏ kusa, sậy, cỏ hương bài, hoặc cây cối mọc ở hai bên bờ, chúng sẽ nhô ra trên sông. Và nếu một người bị dòng nước cuốn đi nắm lấy cỏ lau, cỏ kusa, sậy, cỏ hương bài, hoặc cây cối, nó sẽ gãy, và họ sẽ gặp tai họa vì điều đó.

Cũng vậy, một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân.

Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hay tự ngã trong sắc. Nhưng sắc của họ gãy, và họ gặp tai họa vì điều đó. Họ coi thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Nhưng thức của họ gãy, và họ gặp tai họa vì điều đó.

Các ông nghĩ sao, các Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Vậy các ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’”

V. Phẩm Hoa

I. Dòng Sông (Tạp 10, Ðại 2,70a) (S.iii,137)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.

4. Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.

6-8. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

9. …quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

11-14. − Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

15-16. Do vậy… Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.94 Hoa Pupphasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta không tranh cãi với thế gian; chính thế gian tranh cãi với Ta. Khi lời nói của các ông phù hợp với giáo pháp, các ông không tranh cãi với bất kỳ ai trên thế gian. Những gì người sáng suốt cho là không tồn tại, Ta cũng nói là không tồn tại. Những gì người sáng suốt cho là tồn tại, Ta cũng nói là tồn tại.

Và những gì người sáng suốt cho là không tồn tại, mà Ta cũng nói là không tồn tại? Sắc là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, và không thể hoại diệt.

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, và không thể hoại diệt. Đây là những gì người sáng suốt cho là không tồn tại, mà Ta cũng nói là không tồn tại.

Và những gì người sáng suốt cho là tồn tại, mà Ta cũng nói là tồn tại? Sắc là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt.

Thọ… Tưởng… Hành…

Thức là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt. Đây là những gì người sáng suốt cho là tồn tại, mà Ta cũng nói là tồn tại.

Có một hiện tượng thế gian trong thế giới mà Bậc Như Lai hiểu và thấu triệt. Sau đó, Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ nó.

Và hiện tượng thế gian đó trong thế giới là gì? Sắc là một hiện tượng thế gian trong thế giới mà Bậc Như Lai hiểu và thấu triệt. Sau đó, Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ nó.

Như vậy, Ta có thể làm gì với một người phàm phu ngu dốt, mù lòa và không thấy, người không biết hoặc không thấy?

Thọ…

Tưởng…

Hành…

Thức là một hiện tượng thế gian trong thế giới mà Bậc Như Lai hiểu và thấu triệt. Sau đó, Ngài giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ nó.

Như vậy, Ta có thể làm gì với một người phàm phu ngu dốt, mù lòa và không thấy, người không biết hoặc không thấy?

Giả sử có một bông súng xanh, hoặc một bông sen hồng hay trắng. Mặc dù nó nảy mầm và lớn lên trong nước, nó sẽ vươn lên trên mặt nước và đứng vững mà không bị nước bám vào. Cũng vậy, mặc dù Ta được sinh ra và lớn lên trong thế gian, Ta sống sau khi đã làm chủ thế gian, không bị thế gian làm ô uế."

II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng) (Tạp 2, Ðại 2,8b) (Siii,113)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời.

4. Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”. Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “có”, Ta cũng nói là “có”.

5. Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”?

6. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “không”.

7-9. Thọ… tưởng… các hành…

10. Người có trí ở đời không chấp nhận thức là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “không”.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì ở đời người có trí chấp nhận là “không”, Ta cũng nói là “không”.

12. Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là “có”, Ta cũng nói là “có”?

13. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận sắc là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

14-16. … thọ… tưởng… các hành…

17. Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời chấp nhận thức là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

18. Này các Tỷ-kheo, đây là cái gì người có trí ở đời chấp nhận là vô thường, không thường hằng, không thường trú, chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói là “có” (vậy).

19. Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.

20. Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ?

21. Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.

Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

22-24. Thọ… Tưởng… Các hành…

25. Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.

26. Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.

27. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm.

SN 22.95 Cục Bọt Pheṇapiṇḍūpamasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Ayojjhā trên bờ sông Hằng. Ở đó, Thế Tôn nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, giả sử sông Hằng này đang cuốn theo một cục bọt lớn. Và một người có mắt sáng sẽ thấy nó và chiêm nghiệm nó, xem xét nó cẩn thận. Và nó sẽ hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong một cục bọt?

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy và chiêm nghiệm bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; gần hay xa—xem xét nó cẩn thận. Và nó hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong sắc?

Giả sử vào mùa thu, khi trời mưa lớn, một bong bóng trên mặt nước hình thành và vỡ ngay lập tức. Và một người có mắt sáng sẽ thấy nó và chiêm nghiệm nó, xem xét nó cẩn thận. Và nó sẽ hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong một bong bóng nước?

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy và chiêm nghiệm bất kỳ loại thọ nào… xem xét nó cẩn thận. Và nó hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong thọ?

Giả sử vào tháng cuối cùng của mùa hè, vào buổi trưa, một ảo ảnh lung linh xuất hiện. Và một người có mắt sáng sẽ thấy nó và chiêm nghiệm nó, xem xét nó cẩn thận. Và nó sẽ hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong một ảo ảnh?

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy và chiêm nghiệm bất kỳ loại tưởng nào… xem xét nó cẩn thận. Và nó hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong tưởng?

Giả sử có một người cần lõi cây. Lang thang tìm kiếm lõi cây, họ sẽ cầm một chiếc rìu sắc và vào rừng. Ở đó, họ sẽ thấy một cây chuối lớn, thẳng và non và mọc không có khuyết điểm. Họ sẽ chặt nó ở gốc, chặt ngọn, và bóc các lớp vỏ cuộn lại. Nhưng họ sẽ không tìm thấy cả dác cây, huống chi là lõi cây. Và một người có mắt sáng sẽ thấy nó và chiêm nghiệm nó, xem xét nó cẩn thận. Và nó sẽ hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong một cây chuối?

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy và chiêm nghiệm bất kỳ loại hành nào… xem xét chúng cẩn thận. Và chúng hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong hành?

Giả sử một nhà ảo thuật hoặc học trò của họ biểu diễn một trò ảo thuật ở ngã tư. Và một người có mắt sáng sẽ thấy nó và chiêm nghiệm nó, xem xét nó cẩn thận. Và nó sẽ hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong một trò ảo thuật?

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy và chiêm nghiệm bất kỳ loại thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; gần hay xa—xem xét nó cẩn thận. Và nó hiện ra với họ như hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch, và không có thực chất. Vì có thể có lõi gì trong thức?

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán với sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Do nhàm chán, dục tham phai nhạt. Khi dục tham phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát. Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’"

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Sau đó, Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, tiếp tục nói:

"Sắc giống như một cục bọt;
thọ giống như một bong bóng;
tưởng giống như một ảo ảnh;
hành giống như một cây chuối;
và thức giống như một trò ảo thuật:
vậy đã dạy người bà con của Mặt Trời.

Dù ông chiêm nghiệm chúng thế nào,
xem xét chúng cẩn thận,
chúng trống rỗng và rỗng tuếch
khi ông nhìn chúng kỹ.

Về thân này,
người có trí tuệ bao la đã dạy
rằng khi ba thứ được từ bỏ,
ông sẽ thấy hình hài này bị vứt bỏ.

Sinh lực, hơi ấm, và ý thức:
khi chúng rời khỏi cơ thể,
nó nằm đó bị vứt bỏ,
thức ăn cho kẻ khác, không có tâm trí.

Quá trình này là như vậy,
ảo ảnh này, lời than thở của những kẻ ngu ngốc.
Nó được cho là một kẻ giết người,
vì không có lõi nào được tìm thấy ở đây.

Một Tỷ kheo năng nổ
nên xem xét các uẩn như thế này,
với nhận thức tình huống và chánh niệm
dù là ban ngày hay ban đêm.

Họ nên từ bỏ mọi ràng buộc,
và tạo ra một nơi nương tựa cho chính mình.
Họ nên sống như thể đầu mình đang cháy,
khao khát trạng thái không qua đi."

III. Bọt Nước (Tạp 10, Ðại 2,86b) (S.iii,114)

1. Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.

2. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?

6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng… Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?

8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì…

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?

10. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?

11. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?

13. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?

14. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

15. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.

2) Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn (các pháp),
Hiện rõ tánh trống không.

3) Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.

4) Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.

5) Cái thân liên tục này,
ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.

6) Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.

7) Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.

SN 22.96 Cục Phân Bò Gomayapiṇḍasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vị Tỷ kheo đó bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có bất kỳ sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không? Có bất kỳ thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không?”

“Này Tỷ kheo, không có sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Không có thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi.”

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhặt một cục phân bò, nói với các Tỷ kheo:

"Không có ngay cả một chút hóa thân nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Nếu có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không được tìm thấy. Nhưng vì không có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau được tìm thấy.

Ngày xửa ngày xưa, Ta là một vị vua quý tộc được tấn phong. Ta có 84.000 thành phố, với kinh đô Kusāvatī là hàng đầu. Ta có 84.000 cung điện, với cung điện tên là Nguyên Tắc là hàng đầu. Ta có 84.000 phòng, với phòng khách lớn là hàng đầu. Ta có 84.000 chiếc giường làm bằng ngà voi hoặc lõi cây hoặc vàng hoặc bạc, trải bằng những tấm chăn len—có lông xù hoặc thêu hoa—và trải bằng một tấm da hươu tốt, có một tán che phía trên và gối đỏ ở hai đầu. Ta có 84.000 con voi đực với đồ trang sức bằng vàng và cờ hiệu, được phủ bằng lưới vàng tuyết, với con voi đực hoàng gia tên là Sabbath là hàng đầu. Ta có 84.000 con ngựa với đồ trang sức bằng vàng và cờ hiệu, được phủ bằng lưới vàng tuyết, với con ngựa hoàng gia tên là Mây Sấm là hàng đầu. Ta có 84.000 cỗ xe với đồ trang sức bằng vàng và cờ hiệu, được phủ bằng lưới vàng tuyết, với cỗ xe tên là Chiến Thắng là hàng đầu. Ta có 84.000 viên ngọc, với viên ngọc báu là hàng đầu. Ta có 84.000 người phụ nữ, với Hoàng hậu Subhaddā là hàng đầu. Ta có 84.000 chư hầu quý tộc, với vị tướng quân báu là hàng đầu. Ta có 84.000 con bò sữa với dây cương lụa và xô đồng. Ta có 8.400.000.000 tấm vải tốt bằng vải lanh, cotton, lụa, và len. Ta có 84.000 suất ăn, được dâng lên Ta như lễ vật vào buổi sáng và buổi tối.

Trong số 84.000 thành phố đó, Ta chỉ ở một, kinh đô Kusāvatī. Trong số 84.000 dinh thự đó, Ta chỉ ở một, Cung điện Nguyên Tắc. Trong số 84.000 phòng đó, Ta chỉ ở phòng khách lớn. Trong số 84.000 chiếc giường đó, Ta chỉ sử dụng một, làm bằng ngà voi hoặc lõi cây hoặc vàng hoặc bạc. Trong số 84.000 con voi đực đó, Ta chỉ cưỡi một, con voi đực hoàng gia tên là Sabbath. Trong số 84.000 con ngựa đó, Ta chỉ cưỡi một, con ngựa hoàng gia tên là Mây Sấm. Trong số 84.000 cỗ xe đó, Ta chỉ đi một, cỗ xe tên là Chiến Thắng. Trong số 84.000 người phụ nữ đó, Ta chỉ được phục vụ bởi một, một thiếu nữ thuộc tầng lớp quý tộc hoặc nông dân. Trong số 8.400.000.000 tấm vải đó, Ta chỉ mặc một cặp, làm bằng vải lanh, cotton, lụa, và len tốt. Trong số 84.000 suất ăn đó, Ta chỉ có một, ăn nhiều nhất là một chén cơm với nước sốt phù hợp.

Và vì vậy, tất cả những hiện tượng do duyên sinh đó đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt. Các điều kiện thật vô thường, các điều kiện thật không ổn định, các điều kiện thật không đáng tin cậy. Điều này là quá đủ để các ông trở nên nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với tất cả các điều kiện."

IV. Phân Bò (Tạp 10, Ðại 2,67c) (Trang 11, Ðại 1,496a) (Trang 34, Ðại 1,645a) (S.iii,143)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-4. Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5-8. Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào… có thể có tưởng nào… có thể có các hành nào… có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9. − Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13. Này Tỷ-kheo, không có thọ nào… không có tưởng nào… không có các hành nào… không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14. Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỷ-kheo ấy:

15. − Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

16. Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

17. Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.

18. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.

19. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và là trùng các Mahàvyuuha là bậc nhất.

20. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.

21. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.

22. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valàhaka là bậc nhất.

23. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.

24. Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 châu báu, và Ma-ni châu là bậc nhất.

25. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 phụ nữ, và hoàng hậu Subhaddà là bậc nhất.

26. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 chư hầu Sát-đế-lị, và Binh chủ báu là bậc nhất.

27. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 con bò cái, với những dây thừng bằng vải đay mịn màng, và chậu sữa bằng bạc.

28. Này Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 áo bằng vải gai tinh tế, bằng vải lụa tinh tế, bằng vải len tinh tế, bằng vải bông tinh tế.

29. Này các Tỷ-kheo, khi Ta là… Ta có 84.000 dĩa bàn, và trên ấy các cơm sáng và cơm chiều được dọn lên.

30. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 đô thị ấy, đô thị Ta trú thời ấy là kinh đô Kusàvatì.

31. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cung điện ấy, cung điện Ta trú thời ấy là cung điện Dhamma.

32. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 trùng các ấy, trùng các Ta trú là trùng các Mahàvyuuha.

33. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 sàng tọa ấy, sàng tọa Ta thọ dùng thời ấy là sàng tọa bằng ngà, hay bằng lõi cây, hay bằng vàng, hay bằng bạc.

34. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con voi ấy, con voi Ta cưỡi thời ấy là voi chúa Uposatha.

35. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con ngựa ấy, con ngựa Ta cưỡi thời ấy là ngựa chúa Valàhaka.

36. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cỗ xe ấy, cỗ xe Ta cưỡi thời ấy là cỗ xe Vejayanta.

37. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 phụ nữ ấy, phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy là Khattiyàni hay Velàmikà.

38. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 áo mặc ấy, đôi áo Ta mặc thời ấy, hoặc bằng vải gai tinh tế, hay bằng lụa tinh tế, hay bằng len tinh tế, hay bằng vải bông tinh tế.

39. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 dĩa bàn ấy, một dĩa bàn Ta dùng để ăn một phần (nàlika) cơm, còn dĩa bàn thứ hai, Ta dùng để ăn đồ ăn tương đương.

40. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.

41. Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỷ-kheo, là các hành.

42. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.

SN 22.97 Móng Tay Nakhasikhāsutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vị Tỷ kheo đó bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có bất kỳ sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không? Có bất kỳ thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không?”

“Này Tỷ kheo, không có sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Không có thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi.”

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhặt một chút đất dưới móng tay, nói với vị Tỷ kheo đó:

"Không có ngay cả một chút sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Nếu có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không được tìm thấy. Nhưng vì không có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau được tìm thấy.

Không có ngay cả một chút thọ…

tưởng…

hành…

thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Nếu có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không được tìm thấy. Nhưng vì không có, việc sống đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau được tìm thấy.

Ông nghĩ sao, Tỷ kheo? Sắc là thường hằng hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… hành… thức là thường hằng hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Vậy ông nên thấy một cách chân thật… Thấy vậy… Họ hiểu: ‘… không còn gì nữa cho nơi này.’”

V. Ðầu Ngón Tay (Tăng 14, Ðại 2,617b) (S.iii,147)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4. − Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

5. Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào…

6. Bạch Thế Tôn, có thể có tưởng nào…

7. Bạch Thế Tôn, có thể có các hành nào…

8. Bạch Thế Tôn, có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

9. − Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

10-13. Này Tỷ-kheo, không có thọ nào… không có tưởng nào… không có các hành nào… không có thức nào, thức ấy lại thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

14. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trong đầu ngón tay và nói với Tỷ-kheo ấy:

15. − Này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

Nếu một sắc nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy, đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

16. Cho đến một thọ nhỏ như thế này, này các Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn, thường hằng, vĩnh trú. Nếu thọ nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú… có thể trình bày.

17. Cho đến một tưởng…

18. Cho đến một hành…

19. Cho đến một thức nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú. Nếu một thức nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một thức nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

20. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

21-22. Do vậy, thấy vậy… “… không có trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.98 Phiên Bản Đơn Giản Suddhikasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, vị Tỷ kheo đó bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, có bất kỳ sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không? Có bất kỳ thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi không?”

“Này Tỷ kheo, không có sắc nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi. Không có thọ… tưởng… hành… thức nào là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, không thể hoại diệt, và sẽ tồn tại mãi mãi.”

VI. Thanh Tịnh (hay Biển) (Tạp 18, Ðại 2,69c) (S.iii,149)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

4. − Có một sắc nào, bạch Thế Tôn, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú không?

5-8. Có một thọ… tưởng… hành… thức nào, bạch Thế Tôn, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú không?

9. − Không có một sắc nào, này Tỷ-kheo, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

10-13. Không có một thọ… một tưởng… các hành… một thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

SN 22.99 Dây Xích Gaddulabaddhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, luân hồi không có khởi đầu được biết đến. Không có điểm đầu tiên nào được tìm thấy của chúng sanh lang thang và luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc.

Có một thời điểm khi đại dương khô cạn và bốc hơi và không còn nữa. Nhưng Ta vẫn nói, không có sự chấm dứt khổ đau cho chúng sanh lang thang và luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc.

Có một thời điểm khi núi Tu-di, vua của các ngọn núi, bị đốt cháy và phá hủy, và không còn nữa. Nhưng Ta vẫn nói, không có sự chấm dứt khổ đau cho chúng sanh lang thang và luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc.

Có một thời điểm khi đại địa bị đốt cháy và phá hủy, và không còn nữa. Nhưng Ta vẫn nói, không có sự chấm dứt khổ đau cho chúng sanh lang thang và luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc.

Giả sử một con chó bị xích vào một cây cột hoặc trụ vững chắc. Nó sẽ chỉ tiếp tục chạy và vòng quanh cây cột hoặc trụ đó.

Cũng vậy, hãy lấy một kẻ phàm phu ít nghe, chưa từng thấy các bậc Thánh, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của họ. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không thuần thục hay tu tập theo giáo pháp của họ. Họ coi sắc… thọ… tưởng… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Họ chỉ tiếp tục chạy và vòng quanh sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Làm như vậy, họ không được giải thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ không được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Một vị Thánh đệ tử có nghe nhiều đã thấy các bậc Thánh, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc Thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và thuần thục và tu tập theo giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc… thọ… tưởng… hành… hay thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Họ không tiếp tục chạy và vòng quanh sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Bằng cách không làm như vậy, họ được giải thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Họ được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Họ được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

VII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10, Ðại 2,69b) (S.iii,149)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4. Có thể có một thời, này các Tỷ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

5. Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, Sineru(Tu-di), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi!

6. Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, đại địa đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi!

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã… quán thọ như là tự ngã… quán tưởng như là tự ngã… quán các hành như là tự ngã… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: “Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau”.

8. Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, được thấy các bậc Thánh… khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã… không quán thọ… không quán tưởng… không quán các hành… không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc… thọ… tưởng… các hành… thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: “Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ”.

SN 22.100 Dây Xích (thứ 2) Dutiyagaddulabaddhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, vòng luân hồi này không có khởi điểm nào được biết đến. Không thể tìm thấy điểm khởi đầu của các chúng sanh lang thang và luân chuyển, bị vô minh (ignorance / sự không biết, sự thiếu sáng suốt) che lấp và bị ái (craving / sự khao khát, ham muốn) trói buộc. Giả sử có một con chó bị buộc vào một cây cột hay trụ vững chắc bằng một sợi dây xích. Dù đi, đứng, ngồi, hay nằm, nó cũng chỉ ở ngay bên cạnh cây cột hay trụ đó.

Cũng vậy, một phàm phu chưa được học nhìn nhận sắc (form / hình thức) như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’ Họ nhìn nhận thọ… tưởng… các hành… thức như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’ Khi đi, họ đi ngay bên cạnh năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố tạo nên một chúng sanh mà sự chấp thủ vào đó gây ra đau khổ). Khi đứng… ngồi… nằm, họ nằm ngay bên cạnh năm thủ uẩn.

Vì vậy, các con nên thường xuyên kiểm tra tâm của mình: ‘Từ lâu, tâm này đã bị ô nhiễm bởi tham, sân, và si.’ Chúng sanh bị ô nhiễm vì tâm bị ô nhiễm. Chúng sanh được thanh tịnh vì tâm được thanh tịnh.

Này các Tỷ kheo, các con đã từng thấy bức tranh tên là ‘Hành’ chưa?"

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Bức tranh đó được tâm tạo ra, nhưng tâm còn phức tạp hơn thế nữa.

Vì vậy, các con nên thường xuyên kiểm tra tâm của mình: ‘Từ lâu, tâm này đã bị ô nhiễm bởi tham, sân, và si.’ Chúng sanh bị ô nhiễm vì tâm bị ô nhiễm. Chúng sanh được thanh tịnh vì tâm được thanh tịnh.

Ta không thấy một loài chúng sanh nào khác phức tạp như cõi súc sanh. Các sinh vật trong cõi súc sanh được tâm tạo ra, nhưng tâm còn phức tạp hơn thế nữa.

Vì vậy, các con nên thường xuyên kiểm tra tâm của mình: ‘Từ lâu, tâm này đã bị ô nhiễm bởi tham, sân, và si.’ Chúng sanh bị ô nhiễm vì tâm bị ô nhiễm. Chúng sanh được thanh tịnh vì tâm được thanh tịnh.

Giả sử một họa sĩ hay thợ vẽ có thuốc nhuộm, sơn cánh kiến, nghệ, chàm, hoặc màu son. Và trên một tấm ván được đánh bóng, một bức tường, hay một tấm vải, họ tạo ra hình một người phụ nữ hay một người đàn ông, với đầy đủ các chi phần chính và phụ.

Cũng vậy, khi một phàm phu chưa được học tạo ra một đời sống tương lai, tất cả những gì họ tạo ra chỉ là sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?” …

“Vì vậy, các con nên thấy một cách chân thật… Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

VIII. Dây Thằng (Hay Dây Buộc) (Tạp 10, Ðại 2,69c) (S.iii,151)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

7. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Này các Tỷ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy.

8. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

9. Này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỷ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy.

10. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài,tâm này bị tham, sân, si làm nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỷ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc… thọ… tưởng… các hành… liên tục làm cho hiện hữu thức.

12. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

13-14. − Do vậy, này các Tỷ-kheo… Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.

SN 22.101 Kinh Cái Rìu Vāsijaṭasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần) là dành cho người biết và thấy, không phải cho người không biết và không thấy. Dành cho người biết và thấy điều gì? ‘Sắc là như vậy, sự sanh khởi của sắc là như vậy, sự đoạn diệt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… Tưởng là như vậy… Các hành là như vậy… Thức là như vậy, sự sanh khởi của thức là như vậy, sự đoạn diệt của thức là như vậy.’ Sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho người biết và thấy điều này.

Khi một Tỷ kheo không chuyên tâm tu tập, vị ấy có thể mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm của vị ấy vẫn không được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các con nên nói: ‘Đó là vì vị ấy chưa tu tập.’ Chưa tu tập điều gì? Chưa tu tập tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, và bát chánh đạo.

Giả sử có một con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Nhưng nó đã không ấp chúng đúng cách để giữ ấm và cho nở. Con gà mái đó có thể mong muốn: ‘Ước gì gà con của ta có thể dùng mỏ và móng chân phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn!’ Nhưng chúng không thể phá vỡ và nở ra an toàn. Tại sao vậy? Bởi vì con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng đó đã không ấp chúng đúng cách để giữ ấm và cho nở.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo không chuyên tâm tu tập, vị ấy có thể mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm của vị ấy vẫn không được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các con nên nói: ‘Đó là vì vị ấy chưa tu tập.’ Chưa tu tập điều gì? Chưa tu tập tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, và bát chánh đạo.

Khi một Tỷ kheo chuyên tâm tu tập, vị ấy có thể không mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các con nên nói: ‘Đó là vì vị ấy đã tu tập.’ Đã tu tập điều gì? Đã tu tập tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, và bát chánh đạo.

Giả sử có một con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Và nó đã ấp chúng đúng cách để giữ ấm và cho nở. Con gà mái đó có thể không mong muốn: ‘Ước gì gà con của ta có thể dùng mỏ và móng chân phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn!’ Nhưng chúng vẫn có thể phá vỡ và nở ra an toàn. Tại sao vậy? Bởi vì con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng đó đã ấp chúng đúng cách để giữ ấm và cho nở.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo chuyên tâm tu tập, vị ấy có thể không mong muốn: ‘Ước gì tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ!’ Dù vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Tại sao vậy? Các con nên nói: ‘Đó là vì vị ấy đã tu tập.’ Đã tu tập điều gì? Đã tu tập tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, và bát chánh đạo.

Giả sử một người thợ mộc hay người học việc của ông ta thấy dấu ngón tay và ngón cái của mình trên cán rìu. Họ không biết cán rìu đã mòn đi bao nhiêu trong hôm nay, bao nhiêu hôm qua, và bao nhiêu trước đó. Họ chỉ biết nó đã mòn đi.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo chuyên tâm tu tập, vị ấy không biết các lậu hoặc đã mòn đi bao nhiêu trong hôm nay, bao nhiêu hôm qua, và bao nhiêu trước đó. Vị ấy chỉ biết chúng đã mòn đi. Giả sử có một con tàu đi biển được buộc lại bằng dây thừng. Trong sáu tháng, chúng bị mục nát trong nước. Sau đó, vào mùa lạnh, nó được kéo lên bờ, nơi những sợi dây thừng bị gió và nắng làm cho hư hỏng. Khi những đám mây gió mùa làm ướt nó bằng mưa, những sợi dây thừng sẽ dễ dàng đứt và mục rữa. Cũng vậy, khi một Tỷ kheo chuyên tâm tu tập, các kiết sử (fetters / những trói buộc của tâm) của vị ấy sẽ dễ dàng sụp đổ và mục rữa."

IX. Cán Búa (Hay Chiếc Thuyền) (Tạp 10, Ðại 2,67a) (S.iii,152)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.

4. Do biết cái gì, thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận.

5. Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu, hoặc không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

6. Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy bồ, đề phần. Không có tu tập Thánh đạo Tám ngành.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.

8. Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.

9. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

10. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

11. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ… Không có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

12. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

13. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.

15. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

16. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

17. Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ… có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.

18. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.

19. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay, từng ấy lậu hoặc của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được (các lậu hoặc) được hao mòn trên sự hao mòn (các lậu hoặc).

20. Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng, rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát (?).

21. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.

SN 22.102 Kinh nhận thức về vô thường Aniccasaññāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về vô thường (perception of impermanence / sự nhận thức về tính không bền vững) được tu tập và làm cho sung mãn, nó sẽ loại bỏ mọi dục ái (desire for sensual pleasures / ham muốn trong cõi dục), sắc ái (desire for rebirth in the realm of luminous form / ham muốn tái sanh vào cõi sắc), và Hữu ái. Nó loại bỏ mọi vô minh và nhổ sạch mọi ngã mạn (conceit ‘I am’ / sự kiêu ngạo cho rằng ‘có một cái tôi’).

Vào mùa thu, một người nông dân cày bằng một cái cày lớn sẽ cắt đứt mọi mạng lưới rễ cây. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Một người cắt sậy, sau khi cắt sậy, nắm lấy ngọn của chúng và giũ xuống, giũ qua lại, và giũ sạch. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Khi cuống của một chùm xoài bị cắt, tất cả những quả xoài dính vào cuống sẽ theo đó mà rụng xuống. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Các cây rui của một ngôi nhà một tầng đều hướng về đỉnh, dốc về đỉnh, và gặp nhau ở đỉnh, vì vậy đỉnh được cho là cao nhất trong số đó. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Trong tất cả các loại rễ thơm, rễ cam tùng được cho là tốt nhất. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Trong tất cả các loại lõi cây thơm, gỗ đàn hương đỏ được cho là tốt nhất. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Trong tất cả các loại hoa thơm, hoa nhài được cho là tốt nhất. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Tất cả các vị vua nhỏ đều là chư hầu của một vị chuyển luân vương, vì vậy vị chuyển luân vương được cho là đứng đầu trong số họ. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Ánh sáng của tất cả các vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, vì vậy ánh sáng của mặt trăng được cho là tốt nhất trong số đó. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Vào mùa thu, bầu trời trong và không có mây. Và khi mặt trời mọc lên trên bầu trời, xua tan mọi bóng tối của không gian, nó chiếu sáng, rực rỡ, và tỏa sáng. Cũng vậy, khi nhận thức về vô thường được tu tập và làm cho sung mãn, nó sẽ loại bỏ mọi dục ái, sắc ái, và hữu ái. Nó loại bỏ mọi vô minh và nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’.

Và làm thế nào để nhận thức về vô thường được tu tập và làm cho sung mãn để… nó nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’? ‘Sắc là như vậy, sự sanh khởi của sắc là như vậy, sự đoạn diệt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… Tưởng là như vậy… Các hành là như vậy… Thức là như vậy, sự sanh khởi của thức là như vậy, sự đoạn diệt của thức là như vậy.’

Đó là cách nhận thức về vô thường được tu tập và làm cho sung mãn để nó loại bỏ mọi dục ái, sắc ái, và hữu ái. Đó là cách nó loại bỏ mọi vô minh và nhổ sạch mọi ngã mạn ‘tôi là’."

năm mươi kinh cuối cùng

X. Vô Thường Tánh (Hay Tưởng) (Tạp 10, Ðại 2,70c) (S.iii,155)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cắt cỏ cắt đứt cây cỏ, nắm lấy đầu ngọn đập lên, đập xuống, đập tả, đập hữu, rồi quăng một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một chùm xoài bị cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn, hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là tối thượng hơn chúng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng… tất cả ngã mạn được tận trừ.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những rễ hương gì, hương anusàri đen là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi hương gì, hương chiên-đàn đỏ là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hoa hương gì, hương vassika là tối thượng hơn những hương ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. … tất cả ngã mạn được tận trừ.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả những vua ấy đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Vua Chuyển luân vương được gọi là vua tối thượng đối với họ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, ánh sáng các loại sao gì, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng được xem là tối thượng trong các ánh sáng ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo… tất cả ngã mạn được tận trừ.

13. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mở rộng và gột sạch mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, đuổi sạch tất cả u ám khỏi hư không, bừng sáng, chói sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.

14. Tu tập vô thường tưởng như thế nào, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào mà tất cả dục tham được đoạn tận… tất cả ngã mạn được tận trừ?

15. Ðây là sắc; đây là sắc tập khởi; đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức; đây là thức tập khởi; đây là thức đoạn diệt.

16. Vô thường tưởng được tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, được làm cho sung mãn như vậy, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận; tất cả hữu tham được đoạn tận; tất cả vô minh được đoạn tận; tất cả ngã mạn được tận trừ.

C. Năm Mươi Kinh Sau

Phẩm Về Các Phương Diện

SN 22.103 Kinh Các Phương Diện Antasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có bốn phương diện này. Bốn phương diện nào? Phương diện của thân kiến (substantial reality / quan niệm sai lầm về một thực thể bền vững), phương diện của sự sanh khởi của thân kiến, phương diện của sự đoạn diệt của thân kiến, và phương diện của con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Và phương diện của thân kiến là gì? Nên nói rằng: năm thủ uẩn. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Đây được gọi là phương diện của thân kiến.

Và phương diện của sự sanh khởi của thân kiến là gì? Đó là ái dục dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm kiếm sự vui thích nơi này nơi kia. Đó là, dục ái (craving for sensual pleasures / ham muốn trong cõi dục), Hữu ái, và vô hữu ái (craving to end existence / ham muốn chấm dứt sự tồn tại). Đây được gọi là phương diện của sự sanh khởi của thân kiến.

Và phương diện của sự đoạn diệt của thân kiến là gì? Đó là sự phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn của chính ái dục đó; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát khỏi nó, và không bám víu vào nó. Đây được gọi là phương diện của sự đoạn diệt của thân kiến.

Và phương diện của con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến là gì? Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây được gọi là phương diện của con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Đây là bốn phương diện."

I. Phẩm Biên

I. Biên Kinh (Tạp 3, Ðại 2,18b) (S.iii,157)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Có bốn biên này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Hữu thân biên, hữu thân tập khởi biên, hữu thân đoạn diệt biên, hữu thân đoạn diệt đạo biên.

4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân biên? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là năm thủ uẩn.

5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân tập khởi biên? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân tập khởi biên.

6. Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt biên? Chính là sự ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt biên.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt đạo biên? Chính là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt đạo biên.

SN 22.104 Kinh Khổ Dukkhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con về khổ, sự sanh khởi của khổ, sự đoạn diệt của khổ, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ. Hãy lắng nghe…

Và khổ là gì? Nên nói rằng: năm thủ uẩn. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Đây được gọi là khổ.

Và sự sanh khởi của khổ là gì? Đó là ái dục dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm kiếm sự vui thích nơi này nơi kia. Đó là, tham dục, Hữu ái, và vô hữu ái. Đây được gọi là sự sanh khởi của khổ.

Và sự đoạn diệt của khổ là gì? Đó là sự phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn của chính ái dục đó; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát khỏi nó, và không bám víu vào nó. Đây được gọi là sự đoạn diệt của khổ.

Và con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ là gì? Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây được gọi là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ."

II. Khổ (S.iii,158)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh… phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt.

SN 22.105 Kinh Thân Kiến Sakkāyasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con về thân kiến, sự sanh khởi của thân kiến, sự đoạn diệt của thân kiến, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Hãy lắng nghe…

Và thân kiến là gì? Nên nói rằng: năm thủ uẩn. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Đây được gọi là thân kiến.

Và sự sanh khởi của thân kiến là gì? Đó là ái dục dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm kiếm sự vui thích nơi này nơi kia. Đó là, tham dục, Hữu ái, và vô hữu ái. Đây được gọi là sự sanh khởi của thân kiến.

Và sự đoạn diệt của thân kiến là gì? Đó là sự phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn của chính ái dục đó; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát khỏi nó, và không bám víu vào nó. Đây được gọi là sự đoạn diệt của thân kiến.

Và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến là gì? Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây được gọi là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến."

III. Hữu Thân (Tạp 3, Ðại 2,18b) (S.iii,159)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về hữu thân, hữu thân tập khởi, hữu thân đoạn diệt, con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân? Phải trả lời rằng chính là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân tập khởi? Chính là khát ái này… Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân tập khởi.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu thân đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không có dư tàn khát ái ấy… sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu thân đoạn diệt.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến hữu thân đoạn diệt.

SN 22.106 Kinh Cần Được Liễu Tri Pariññeyyasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con những pháp cần được liễu tri, sự liễu tri, và người đã liễu tri. Hãy lắng nghe…

Và những pháp cần được liễu tri là gì? Sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Đây được gọi là những pháp cần được liễu tri.

Và sự liễu tri là gì? Sự đoạn tận tham, sân, và si. Đây được gọi là sự liễu tri.

Và người đã liễu tri là ai? Nên nói rằng: một vị A-la-hán, vị tôn giả có tên như vậy, thuộc dòng họ như vậy. Đây được gọi là người đã liễu tri."

IV. Sở Biến Tri (Tạp 3, Ðại 2,19a) (S.iii,159)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông các pháp cần phải biến tri, sự biến tri và con người đã biến tri. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp cần phải biến tri? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp cần phải biến tri. Thọ… tưởng… các hành… thức là pháp cần phải biến tri. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp cần phải biến tri.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự biến tri? Sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự biến tri.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con người đã biến tri? Cần phải trả lời là bậc A-la-hán. Bậc Tôn giả này, với tên như vậy, với dòng họ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con người đã biến tri.

SN 22.107 Kinh Sa-môn (1) Samaṇasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có năm thủ uẩn này. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu rõ một cách chân thật vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly của năm thủ uẩn này…

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu rõ một cách chân thật…"

V. Các Sa Môn (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Có năm thủ uẩn, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này… như thật biết rõ…; tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú.

SN 22.108 Kinh Sa-môn (2) Dutiyasamaṇasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có năm thủ uẩn này. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Có những vị sa-môn và bà-la-môn không hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly của năm thủ uẩn này… Những vị tôn giả đó không thực chứng được mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn…

Có những vị sa-môn và bà-la-môn hiểu rõ một cách chân thật… Những vị tôn giả đó thực chứng được mục đích của đời sống sa-môn hay bà-la-môn, và sống sau khi đã thực chứng điều đó bằng chính trí tuệ của mình."

VI. Các Sa Môn (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

4-5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này… biết rõ…; tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú.

SN 22.109 Kinh Tu-đà-hoàn Sotāpannasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, có năm thủ uẩn này. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Một vị thánh đệ tử hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly của năm thủ uẩn này. Một vị thánh đệ tử như vậy được gọi là một vị Tu-đà-hoàn (stream-enterer / người đã nhập dòng thánh), không còn bị tái sanh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

VII. Dự Lưu (S.iii,160)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Và khi nào vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị Ða văn Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối thất, đã được quyết định, hướng đến Chánh Ðẳng Giác.

SN 22.110 Kinh A-la-hán Arahantasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, có năm thủ uẩn này. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Một Tỷ kheo được giải thoát do không còn chấp thủ sau khi đã hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly của năm thủ uẩn này. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một vị A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu của mình, đã đoạn tận hữu kiết sử, và được giải thoát hoàn toàn nhờ trí tuệ.”

VIII. A-La-Hán (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

4. Và khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không có chấp thủ. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.

SN 22.111 Kinh Từ Bỏ Ham Muốn Chandappahānasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ mọi ham muốn, tham lam, thích thú, và ái dục đối với sắc. Như vậy, sắc đó sẽ được từ bỏ, bị chặt đứt tận gốc, làm cho như một thân cây cọ, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai.

Các con nên từ bỏ mọi ham muốn, tham lam, thích thú, và ái dục đối với thọ… tưởng… các hành… thức. Như vậy, thức đó sẽ được từ bỏ, bị chặt đứt tận gốc, làm cho như một thân cây cọ, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai."

IX. Dục Ðược Ðoạn Trừ (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, hãy đoạn trừ nó. Như vậy sắc ấy sẽ được đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

4-6. Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, hãy đoạn trừ nó. Như vậy, thức sẽ được đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

SN 22.112 Kinh Từ Bỏ Ham Muốn (2) Dutiyachandappahānasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ mọi ham muốn, tham lam, thích thú, và ái dục đối với sắc; và mọi sự lôi cuốn, sự chấp thủ, sự cố định của tâm, sự khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Như vậy, sắc đó sẽ được từ bỏ, bị chặt đứt tận gốc, làm cho như một thân cây cọ, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai.

Các con nên từ bỏ mọi ham muốn, tham lam, thích thú, và ái dục đối với thọ… tưởng… các hành… thức; và mọi sự lôi cuốn, sự chấp thủ, sự cố định của tâm, sự khăng khăng, và các sự ngầm hướng về nó. Như vậy, thức đó sẽ được từ bỏ, bị chặt đứt tận gốc, làm cho như một thân cây cọ, bị xóa sạch, và không thể sanh khởi trong tương lai."

X. Dục Ðược Ðoạn Trừ (S.iii,161)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm thủ trước, thiên chấp tùy miên nào đối với sắc… hãy đoạn trừ chúng. Như vậy, sắc ấy sẽ được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ…

4-6… Ðối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

7. Này các Tỷ-kheo, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm thủ trước, thiên chấp tùy miên nào đối với thức, hãy đoạn trừ chúng. Như vậy, thức ấy sẽ được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.

Phẩm Về Người Thuyết Pháp

SN 22.113 Kinh Vô Minh Avijjāsutta

Tại Sāvatthī.

Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Này Tỷ kheo, đó là khi một phàm phu chưa được học không hiểu rõ sắc, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu rõ thọ… tưởng… các hành… thức, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

II. Phẩm Thuyết Pháp

I. Vô Minh (Hay Vị Tỷ-kheo) (S.iii,162)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Cho đến như thế nào, một người là vô minh?

4-8. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, không biết rõ thọ… không biết rõ tưởng… không biết rõ các hành… không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Này Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh. Và cho đến như vậy, một người là vô minh.

SN 22.114 Kinh Minh Vijjāsutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi sang một bên, Tỷ kheo ấy thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh (knowledge / sự biết, sự sáng suốt) là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Này Tỷ kheo, đó là khi một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ sắc, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu rõ thọ… tưởng… các hành… thức, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

II. Minh (Hay Vị Tỷ-kheo) (S.iii,163)

1-4. Nhân duyên ở Sàvatthi… Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là minh? Cho đến như thế nào, một người là minh?

5. − Ở đây, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

6-8… biết rõ thọ… biết rõ tưởng… biết rõ các hành… biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Này Tỷ-kheo, đây gọi là minh. Và cho đến như vậy, một người là minh.

SN 22.115 Kinh Người Thuyết Pháp Dhammakathikasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi sang một bên, Tỷ kheo ấy thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một ‘người thuyết pháp’. Làm thế nào để xác định một người thuyết pháp?”

"Này Tỷ kheo, nếu một Tỷ kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ nhờ sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn trong chính đời này’.

Nếu một Tỷ kheo thuyết pháp về sự nhàm chán đối với thọ… tưởng… các hành… thức, về sự phai nhạt và đoạn diệt của nó, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với thức, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ nhờ sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với thức, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn trong chính đời này’."

III. Vị Thuyết Pháp (Tập 3, Ðại 2,5c) (S.iii,163)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Sau khi ngồi xuống, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được

(gọi) là vị thuyết pháp?

4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-7. Nếu Tỷ-kheo đối với thọ… Nếu Tỷ-kheo đối với tưởng… Nếu Tỷ-kheo đối với các hành…

8. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

SN 22.116 Kinh Người Thuyết Pháp (2) Dutiyadhammakathikasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi sang một bên, Tỷ kheo ấy thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một ‘người thuyết pháp’. Làm thế nào để xác định một người thuyết pháp? Làm thế nào để xác định một Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy? Và làm thế nào để xác định một Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn trong chính đời này?”

"Này Tỷ kheo, nếu một Tỷ kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ nhờ sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với sắc, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn trong chính đời này’.

Nếu một Tỷ kheo thuyết pháp về sự nhàm chán đối với thọ… tưởng… các hành… thức, về sự phai nhạt và đoạn diệt của nó, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thuyết pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với thức, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát do không còn chấp thủ nhờ sự nhàm chán, sự ly tham, và sự đoạn diệt đối với thức, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết-bàn trong chính đời này’."

IV. Vị Thuyết Pháp (S.iii,164)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là vị thuyết pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực hành pháp tùy pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị đã đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?

3-4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-7. Nếu Tỷ-kheo đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

8. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

SN 22.117 Kinh Sự Trói Buộc Bandhanasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy xem một phàm phu chưa được học, người chưa từng thấy các bậc thánh, và không khéo léo cũng không được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc thánh. Họ chưa từng thấy các bậc chân nhân, và không khéo léo cũng không được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ được gọi là một phàm phu chưa được học, bị trói buộc vào sắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ không thấy bờ bên này cũng không thấy bờ bên kia. Họ sanh ra trong trói buộc, chết đi trong trói buộc, và từ thế giới này đi đến thế giới khác trong trói buộc.

Họ coi thọ… tưởng… các hành… thức là tự ngã. Họ được gọi là một phàm phu chưa được học, bị trói buộc vào thức, cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ không thấy bờ bên này cũng không thấy bờ bên kia. Họ sanh ra trong trói buộc, chết đi trong trói buộc, và từ thế giới này đi đến thế giới khác trong trói buộc.

Một thánh đệ tử đã được học đã thấy các bậc thánh, và khéo léo và được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc thánh. Họ đã thấy các bậc chân nhân, và khéo léo và được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc chân nhân. Họ không coi sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ được gọi là một thánh đệ tử đã được học, không bị trói buộc vào sắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ thấy bờ bên này và bờ bên kia. Họ thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.

Họ không coi thọ… tưởng… các hành… thức là tự ngã. Họ được gọi là một thánh đệ tử đã được học, không bị trói buộc vào thức, cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ thấy bờ bên này và bờ bên kia. Họ thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy."

V. Trói Buộc (Tạp 2, Ðại 2,19b) (S.iii,164)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.

4-6. … quán thọ… quán tưởng… quán các hành…

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh… không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán thức như là tự ngã, tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của thức, bị trói buộc bởi các trói buộc của nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.

8. Còn vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, thấy rõ các bậc Thánh… tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, không bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, vị đã thấy bờ bên này, vị đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy được giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.

9-11. … Ðối với thọ… với tưởng… với các hành…

12. … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi sự trói buộc của thức, không bị trói buộc bởi sự trói buộc nội ngoại; vị đã thấy bờ bên này, đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.

SN 22.118 Kinh Chất Vấn Paripucchitasutta

Tại Sāvatthī.

“Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Các con có coi sắc như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, này các Tỷ kheo! Sắc nên được thấy một cách chân thật với chánh trí tuệ như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các con có coi thọ… tưởng… các hành… thức như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỷ kheo! Thức nên được thấy một cách chân thật với chánh trí tuệ như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’"

VI. Gỉải Thoát (Tạp 2, Ðại 2,19c) (S.iii,165)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Các Ông có quán sắc: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

3-5. … thọ… tưởng… các hành…

6. … các Ông có quán thức: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

7. Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.119 Kinh Chất Vấn (2) Dutiyaparipucchitasutta

Tại Sāvatthī.

“Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Các con có coi sắc như thế này không: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, này các Tỷ kheo! Sắc nên được thấy một cách chân thật với chánh trí tuệ như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Các con có coi thọ… tưởng… các hành… thức như thế này không: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, này các Tỷ kheo! Thức nên được thấy một cách chân thật với chánh trí tuệ như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’"

VII. Gỉải Thoát (Tạp 2, Ðại 2,19c) (S.iii,166)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Ông có quán sắc: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán sắc với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

3-5. … thọ… tưởng… các hành…

6. … các Ông có quán thức: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

7. Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.120 Kinh Những Pháp Dễ Bị Trói Buộc Saṁyojaniyasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con về những pháp dễ bị kiết sử trói buộc, và về kiết sử. Hãy lắng nghe…

Những pháp dễ bị kiết sử trói buộc là gì? Và kiết sử là gì?

Sắc là thứ dễ bị kiết sử trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với nó là kiết sử.

Thọ…

Tưởng…

Các hành…

Thức là thứ dễ bị kiết sử trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với nó là kiết sử.

Đây được gọi là những pháp dễ bị kiết sử trói buộc, và đây là kiết sử."

VIII. Kiết Sử (S.iii,166)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về các pháp bị trói buộc và sự trói buộc. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị trói buộc? Thế nào là sự trói buộc? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp bị trói buộc. Dục và tham đối với sắc là sự trói buộc của sắc.

5-7. … Thọ… Tưởng… Các hành…

8. Thức, này các Tỷ-kheo, là pháp bị trói buộc. Dục và tham đối với thức là sự trói buộc của thức.

9. Này các Tỷ-kheo, các pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là các pháp bị trói buộc. Ðây là sự trói buộc.

SN 22.121 Kinh Những Pháp Làm Nhiên Liệu Cho Sự Chấp Thủ Upādāniyasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con về những pháp làm nhiên liệu cho sự chấp thủ, và về sự chấp thủ. Hãy lắng nghe…

Những pháp làm nhiên liệu cho sự chấp thủ là gì? Và sự chấp thủ là gì?

Sắc là thứ dễ làm nhiên liệu cho sự chấp thủ. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự chấp thủ.

Thọ…

Tưởng…

Các hành…

Thức là thứ dễ làm nhiên liệu cho sự chấp thủ. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự chấp thủ.

Đây được gọi là những pháp làm nhiên liệu cho sự chấp thủ, và đây là sự chấp thủ."

IX. Chấp Thủ (S.iii,167)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về các pháp bị chấp thủ và sự chấp thủ. Hãy lắng nghe.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ? Thế nào là sự chấp thủ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với sắc là sự chấp thủ đối với sắc.

5-7. … Thọ… Tưởng… Các hành…

8. Thức, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với thức là sự chấp thủ đối với thức.

9. Này các Tỷ-kheo, các pháp này, được gọi là các pháp bị chấp thủ. Ðây là sự chấp thủ.

SN 22.122 Kinh Tỷ Kheo Có Giới Đức Sīlavantasutta

Một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la đang ở gần Ba-la-nại, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất và nói:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) nên như lý tác ý (apply the mind rationally / suy nghĩ với trí tuệ) đến những pháp nào?”

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, một Tỷ kheo có giới đức nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là xa lạ, là tan rã, là trống không, là vô ngã. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Một Tỷ kheo có giới đức nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là xa lạ, là tan rã, là trống không, là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo có giới đức, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả Tu-đà-hoàn.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn cũng nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả Tư-đà-hàm.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo Tư-đà-hàm nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Một Tỷ kheo Tư-đà-hàm cũng nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo Tư-đà-hàm, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả A-na-hàm.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo A-na-hàm nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Một Tỷ kheo A-na-hàm cũng nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo A-na-hàm, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng quả A-la-hán.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một vị A-la-hán nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, một vị A-la-hán cũng nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là xa lạ, là tan rã, là trống không, là vô ngã. Một vị A-la-hán không còn gì phải làm thêm, và không có gì cần phải cải thiện. Tuy nhiên, những pháp này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ dẫn đến sự an trú hạnh phúc trong đời này, và cũng dẫn đến chánh niệm và tỉnh giác.”

X. Vị Giữ Giới (Tạp 10, Ðại 2,65b) (S.iii,167)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2-3. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta… thưa như sau:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

4. − Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

5. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

6. Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.

7. − Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

8-9. − Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.

10. − Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?

11. − Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.

12. − Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

13-15. − Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường… vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.

16. − Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?

17. − Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

18. Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

SN 22.123 Kinh Có Học Thức Sutavantasutta

Một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la đang ở gần Ba-la-nại, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, đảnh lễ, ngồi sang một bên và nói:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo có học thức nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Một Tỷ kheo có học thức nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Năm uẩn nào? Đó là, thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Một Tỷ kheo có học thức nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo có học thức, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả Tu-đà-hoàn.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn cũng nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn này là vô thường… là vô ngã. Có khả năng rằng một Tỷ kheo Tu-đà-hoàn, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả Tư-đà-hàm.” … “Có khả năng rằng một Tỷ kheo Tư-đà-hàm, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng được quả A-na-hàm.” … “Có khả năng rằng một Tỷ kheo A-na-hàm, người như lý tác ý đến năm thủ uẩn, sẽ chứng quả A-la-hán.”

“Nhưng thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, một vị A-la-hán nên như lý tác ý đến những pháp nào?”

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, một vị A-la-hán nên như lý tác ý đến năm thủ uẩn là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là phiền não, là xa lạ, là tan rã, là trống không, là vô ngã. Một vị A-la-hán không còn gì phải làm thêm, và không có gì cần phải cải thiện. Tuy nhiên, những pháp này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ dẫn đến sự an trú hạnh phúc trong đời này, và cũng dẫn đến chánh niệm và tỉnh giác.”

XI. Vị Có Nghe (S.iii,169)

(Hoàn toàn như kinh trước, chỉ thay thế vị có nghe cho vị giữ giới ).

SN 22.124 Kinh Kappa Kappasutta

Tại Sāvatthī.

Bấy giờ, Tôn giả Kappa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để không còn sự tạo ra ‘cái tôi’, sự tạo ra ‘cái của tôi’, hay khuynh hướng ngã mạn ngủ ngầm đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài?”

"Này Kappa, một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Một người thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… các hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để không còn sự tạo ra ‘cái tôi’, sự tạo ra ‘cái của tôi’, hay khuynh hướng ngã mạn ngủ ngầm đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài."

XII. Kappa (Tạp 1, Ðại 2,4c) (S.iii,169)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Kappa đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, do thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, lại không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn?

4. − Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc thắng hay liệt, hoặc xa hay gần; tất cả sắc ấy cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

5-7. Phàm có thọ gì… tưởng gì… các hành gì…

8. Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải như quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn.

SN 22.125 Kinh Kappa (2) Dutiyakappasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi sang một bên, Tôn giả Kappa thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo ra ‘cái tôi’, sự tạo ra ‘cái của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, tâm trở nên an tịnh và được giải thoát tốt đẹp?”

"Này Kappa, một người được giải thoát do không còn chấp thủ sau khi đã thấy một cách chân thật bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Một người được giải thoát do không còn chấp thủ sau khi đã thấy một cách chân thật bất kỳ loại thọ… tưởng… các hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là cách để biết và thấy để tâm thoát khỏi sự tạo ra ‘cái tôi’, sự tạo ra ‘cái của tôi’, và ngã mạn đối với thân có thức này và tất cả các kích thích bên ngoài; và vượt qua sự phân biệt, tâm trở nên an tịnh và được giải thoát tốt đẹp."

XIII. Kappa (S.iii,170)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không còn các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?

3. − Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… tất cả sắc, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.

4-6. Phàm có thọ gì… tưởng… các hành…

7. Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.

8. Do biết như vậy, thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không có (các tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt ngoài kiêu mạn, khéo giải thoát.

Phẩm Về Vô Minh

SN 22.126 Kinh Có Tính Sanh Khởi Samudayadhammasutta

Tại Sāvatthī.

Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Này Tỷ kheo, đó là khi một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh khởi, là sắc có tính sanh khởi. Họ không hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính đoạn diệt, là sắc có tính đoạn diệt. Họ không hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh và diệt, là sắc có tính sanh và diệt.

Họ không hiểu rõ một cách chân thật thọ… tưởng… các hành… thức, vốn có tính sanh khởi, là thức có tính sanh khởi. Họ không hiểu rõ một cách chân thật thức, vốn có tính đoạn diệt, là thức có tính đoạn diệt. Họ không hiểu rõ một cách chân thật thức, vốn có tính sanh và diệt, là thức có tính sanh và diệt.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

Khi ông nói điều này, Tỷ kheo ấy thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Này Tỷ kheo, đó là khi một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh khởi, là sắc có tính sanh khởi. Họ hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính đoạn diệt, là sắc có tính đoạn diệt. Họ hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh và diệt, là sắc có tính sanh và diệt.

Họ hiểu rõ một cách chân thật thọ… tưởng… các hành… thức, vốn có tính sanh khởi, là thức có tính sanh khởi. Họ hiểu rõ một cách chân thật thức, vốn có tính đoạn diệt, là thức có tính đoạn diệt. Họ hiểu rõ một cách chân thật thức, vốn có tính sanh và diệt, là thức có tính sanh và diệt.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

III. Phẩm Vô Minh

I. Tập Pháp (Tạp 10, Ðại 2,64b) (S.iii,171)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

5-7. … “Thọ… Tưởng… Các hành…”.

8. … không như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi” là thức chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: “Thức chịu sự đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

9. Như vậy, này Tỷ-kheo, gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, bạch Thế Tôn? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

11. − Ở đây, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Sắc chịu sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

12-14. … “Thọ… Tưởng… Các hành…”.

15. … Như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi” là thức chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Thức chịu sự đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.

16. Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là minh, cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.127 Kinh Có Tính Sanh Khởi (2) Dutiyasamudayadhammasutta

Một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la đang ở gần Ba-la-nại, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana. …

Ma-ha Câu-hy-la nói với Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, đó là khi một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh khởi… có tính đoạn diệt… có tính sanh và diệt, là sắc có tính sanh và diệt.

Họ không hiểu rõ một cách chân thật thọ… tưởng… các hành… thức, vốn có tính sanh khởi… có tính đoạn diệt… có tính sanh và diệt, là thức có tính sanh và diệt.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

II. Tập Pháp (S.iii,172)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả Sàruputta? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

(… như kinh trên) .

SN 22.128 Kinh Có Tính Sanh Khởi (3) Tatiyasamudayadhammasutta

Một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la đang ở gần Ba-la-nại, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana. …

Ma-ha Câu-hy-la nói với Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, đó là khi một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật sắc, vốn có tính sanh khởi… có tính đoạn diệt… có tính sanh và diệt, là sắc có tính sanh và diệt.

Họ hiểu rõ một cách chân thật thọ… tưởng… các hành… thức, vốn có tính sanh khởi… có tính đoạn diệt… có tính sanh và diệt, là thức có tính sanh và diệt.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

III. Tập Pháp (S.iii,173)

1-2. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), tại vườn Lộc Uyển.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Minh, minh”, thưa Tôn giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả Sàriputta? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

(… như kinh trên) .

SN 22.129 Kinh Vị Ngọt Assādasutta

Tại Ba-la-nại. Ma-ha Câu-hy-la nói với Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

IV. Vi Ngọt

1-2. Tại Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Ðây là vô minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.130 Kinh Vị Ngọt (2) Dutiyaassādasutta

Tại Ba-la-nại.

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

V. Vị Ngọt (S.iii,174)

1-2. Tại Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. − “Minh, minh”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Như thế nào được gọi là minh?

4-8. Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc… của thọ… của tưởng… của các hành… như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Ðây gọi là vô minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.131 Kinh Sự Sanh Khởi Samudayasutta

Tại Ba-la-nại.

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

VI. Tập Khởi (S.iii,174)

1-2. Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. − “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Sàriputa, được nói đến là như vậy. Và thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

SN 22.132 Kinh Sự Sanh Khởi (2) Dutiyasamudayasutta

Tại Ba-la-nại. Ma-ha Câu-hy-la nói với Xá-lợi-phất:

“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

VII. Tập Khởi (S.iii,174)

1-2. Bàrànasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika thưa với Tôn giả Sàriputta:

− “Minh, minh” thưa Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

4. − Ở đây, thưa Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy được gọi là minh, này Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.133 Kinh Với Câu-hy-la Koṭṭhikasutta

Tại Ba-la-nại. Xá-lợi-phất nói với Ma-ha Câu-hy-la:

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

Khi ông nói điều này, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với ông:

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

VIII. Kotthika (S.iii,175)

1. Bàrànasi, Isipatana, Migadàya.

2. Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Vô minh, vô minh”, này Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy gọi là vô minh, thưa Hiền giả. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta và nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là minh?

11. − Ở đây, thưa Hiền giả, vị Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sắc.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy được gọi là minh.

SN 22.134 Kinh Với Câu-hy-la (2) Dutiyakoṭṭhikasutta

Tại Ba-la-nại.

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, một phàm phu chưa được học không hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

Khi ông nói điều này, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với ông:

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ một cách chân thật sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự thoát ly khi nói đến sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

IX. Kotthika (S.iii,175)

1. … Bàrànasi, Isipatana, Migadàya.

2-3. − “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào được gọi là minh?

11. − Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy, được gọi là minh.

SN 22.135 Kinh Với Câu-hy-la (3) Tatiyakoṭṭhikasutta

Cùng bối cảnh. Xá-lợi-phất nói với Ma-ha Câu-hy-la:

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Thưa Tôn giả, đó là khi một phàm phu chưa được học không hiểu rõ sắc, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ không hiểu rõ thọ… tưởng… các hành… thức, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách xác định một người vô minh."

Khi ông nói điều này, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với ông:

“Thưa Tôn giả Câu-hy-la, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Thưa Tôn giả, đó là khi một thánh đệ tử đã được học hiểu rõ sắc, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó. Họ hiểu rõ thọ… tưởng… các hành… thức, sự sanh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của nó.

Đây được gọi là minh. Và đây là cách xác định một người có minh."

X. Kotthika (S.iii,176)

1-2. Nhân duyên như trên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Vô minh, vô minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Và thế nào là vô minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là vô minh?

4. − Ở đây, thưa Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. … không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

9. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.

10. Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− “Minh, minh”, thưa Hiền giả Kotthika, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, thưa Hiền giả? Cho đến như thế nào, được gọi là minh?

11.− Ở đây, này Hiền giả, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.

16. Như vậy, này Hiền giả, được gọi là minh. Cho đến như vậy được gọi là minh.

Phẩm Về Trấu Cháy

SN 22.136 Kinh Trấu Cháy Kukkuḷasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức là trấu đang cháy.

Thấy được điều này, một thánh đệ tử đã được học sanh tâm nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Khi nhàm chán, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã hoàn thành, những việc cần làm đã được làm, không còn gì phải làm ở đây nữa.’"

IV. Phẩm Than Ðỏ

I. Than Ðỏ Hực (S.iii,177)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Sắc là than đỏ, này các Tỷ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

4. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

5. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.137 Kinh Vô Thường Aniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường.

Và cái gì là vô thường? Sắc là vô thường; các con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Các hành…

Thức là vô thường; các con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường."

II. Vô Thường (S.iii,177)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?

3. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường.

4-6. … Thọ… Tưởng… Các hành…

7. Thức là vô thường, ở đây, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

8. Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đây các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

SN 22.138 Kinh Vô Thường (2) Dutiyaaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ tham lam đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Sắc là vô thường; các con nên từ bỏ tham lam đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Các hành…

Thức là vô thường; các con nên từ bỏ tham lam đối với nó.

Các con nên từ bỏ tham lam đối với những gì vô thường."

III. Vô Thường

(Như kinh trên, chỉ khác là tham (ràga) thay thế cho dục (chanda).

SN 22.139 Kinh Vô Thường (3) Tatiyaaniccasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Sắc là vô thường; các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với nó.

Thọ…

Tưởng…

Các hành…

Thức là vô thường; các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với nó.

Các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với những gì vô thường."

IV. Vô Thường

(Như kinh trên, chỉ khác là cả dục và tham ).

SN 22.140 Kinh Khổ Dukkhasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là khổ. …”

SN 22.141 Kinh Khổ (2) Dutiyadukkhasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ tham lam đối với những gì là khổ. …”

SN 22.142 Kinh Khổ (3) Tatiyadukkhasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với những gì là khổ. …”

V-VI-VII. Khổ (1,2,3)

(Như kinh trên, chỉ khác là khổ thay thế cho vô thường ).

SN 22.143 Kinh Vô Ngã Anattasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là vô ngã. …”

SN 22.144 Kinh Vô Ngã (2) Dutiyaanattasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ tham lam đối với những gì là vô ngã. …”

SN 22.145 Kinh Vô Ngã (3) Tatiyaanattasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn và tham lam đối với những gì là vô ngã. …”

VIII-IX-X. Vô Ngã (1,2,3)

(Như kinh trên, chỉ khác là vô ngã thay thế cho khổ ).

SN 22.146 Kinh Tràn Đầy Sự Nhàm Chán Nibbidābahulasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì niềm tin, đây là điều phù hợp với giáo pháp. Vị ấy nên sống với tâm tràn đầy sự nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Sống theo cách này, vị ấy liễu tri sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. Liễu tri sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức, vị ấy được giải thoát khỏi những thứ này. Vị ấy được giải thoát khỏi sanh, già, và chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, và não. Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

XI. Thiện Nam Tử Khổ (Tạp 2, Ðại 2,12a) (S.iii,179)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.

4. Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.

5. Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.

SN 22.147 Kinh Quan Sát Vô Thường Aniccānupassīsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì niềm tin, đây là điều phù hợp với giáo pháp. Vị ấy nên sống quan sát tính vô thường trong sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. … Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

XII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, chỉ khác là “thấy vô thường” thay thế “sống nhàm chán”).

SN 22.148 Kinh Quan Sát Khổ Dukkhānupassīsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì niềm tin, đây là điều phù hợp với giáo pháp. Vị ấy nên sống quan sát khổ trong sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. … Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

?

SN 22.149 Kinh Quan Sát Vô Ngã Anattānupassīsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi một người thiện gia nam tử xuất gia vì niềm tin, đây là điều phù hợp với giáo pháp. Vị ấy nên sống quan sát vô ngã trong sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức. … Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau, Ta nói vậy.”

XIII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, ở đây chỉ khác là “thấy vô ngã” ).

Phẩm Về Các Quan Điểm

SN 22.150 Kinh Trong Tự Thân Ajjhattasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì, mà lạc và khổ sanh khởi trong tự thân?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc, lạc và khổ sanh khởi trong tự thân. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức, lạc và khổ sanh khởi trong tự thân.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu lạc và khổ có sanh khởi trong tự thân không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu lạc và khổ có sanh khởi trong tự thân không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

V. Phẩm Kiến

I. Nội (Tạp 7, Ðại 2,43b) (S.iii,180)

1-2. Ở Sàvatthi…

3. − Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, nội lạc, khổ khởi lên?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…,…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, do chấp thủ sắc, nội lạc, khổ khởi lên.

6-8… thọ… tưởng… các hành…

9. Do có thức, do chấp thủ thức, nội lạc, khổ khởi lên.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, nội lạc, khổ có thể khởi lên không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-13. … Thọ… Tưởng… Các hành…

14. − Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời nội lạc, khổ có thể sanh khởi không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.151 Kinh Đây Là Của Tôi Etaṁmamasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà một người nhìn nhận mọi thứ như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc… Khi thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, một người nhìn nhận nó như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, các con có nhìn nhận nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, các con có nhìn nhận nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

II. Cái Này Là Của Tôi (Tạp 7, Ðại 2,43a) (S.iii,181)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. − Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì mà quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5-9. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc… do có thức, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức nên quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn…

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-13. … Thọ… Tưởng… Các hành…

14. − Thức là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy và quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.152 Kinh Đây Là Tự Ngã Của Tôi Soattāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà quan điểm này sanh khởi: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, ta sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, và không thể hủy diệt’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, quan điểm này sanh khởi: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, ta sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, và không thể hủy diệt.’ Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, quan điểm này sanh khởi: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, ta sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, và không thể hủy diệt.’

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu quan điểm này có sanh khởi không: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, ta sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, và không thể hủy diệt’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu quan điểm này có sanh khởi không: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, ta sẽ là cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, và không thể hủy diệt’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

III. Ngã (Tạp 7, Ðại 2,43c) (S.iii,182)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

− Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, tà kiến này khởi lên: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

4. − Ðối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.

6-9. … thọ… tưởng… các hành…

10. Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-14. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn?

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Cái này là ngã, cái này là thế giới, cái này sau khi chết sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

15. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.153 Kinh Có Thể Nó Không Phải Của Tôi Nocamesiyāsutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà quan điểm này sanh khởi: ‘Có thể ta không tồn tại, và có thể nó không phải của ta. Ta sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của ta’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, quan điểm này sanh khởi: ‘Có thể ta không tồn tại, và có thể nó không phải của ta. Ta sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của ta.’ Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, quan điểm này sanh khởi: ‘Có thể ta không tồn tại, và có thể nó không phải của ta. Ta sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của ta.’

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu quan điểm này có sanh khởi không: ‘Có thể ta không tồn tại, và có thể nó không phải của ta. Ta sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của ta’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu quan điểm này có sanh khởi không: ‘Có thể ta không tồn tại, và có thể nó không phải của ta. Ta sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của ta’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

IV. Và Nếu Không Phải Của Tôi (S.iii,183)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì tà kiến như sau sanh khởi: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.

9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10-13. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.154 Kinh Tà Kiến Micchādiṭṭhisutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm) sanh khởi?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, tà kiến sanh khởi. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến sanh khởi.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu tà kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu tà kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

V. Tà Kiến (S.iii,184)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

− Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ gì, do thiên chấp gì, tà kiến khởi lên?

4. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Này các Tỷ-kheo, do có sắc, có chấp thủ, do thiên chấp sắc, khởi lên tà kiến.

6-9… thọ… tưởng… các hành…

Do có thức, có chấp thủ thức, do thiên chấp thức nên khởi lên tà kiến.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11-14. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 22.155 Kinh Thân Kiến Sakkāyadiṭṭhisutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà thân kiến sanh khởi?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, thân kiến sanh khởi. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, thân kiến sanh khởi.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu thân kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu thân kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

VI. Hữu Thân

(Giống như kinh trước, chỉ thế “hữu thân” cho “tà kiến”).

SN 22.156 Kinh Ngã Kiến Attānudiṭṭhisutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà ngã kiến (view of self / quan niệm sai lầm về một cái tôi) sanh khởi?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, ngã kiến sanh khởi. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, ngã kiến sanh khởi.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu ngã kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu ngã kiến có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

VII. Ngã Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thế “ngã kiến” (attànuditthi) cho “hữu thân”) .

SN 22.157 Kinh Sự Khăng Khăng Abhinivesasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà kiết sử, sự khăng khăng, và sự trói buộc sanh khởi?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, kiết sử, sự khăng khăng, và sự trói buộc sanh khởi. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, kiết sử, sự khăng khăng, và sự trói buộc sanh khởi.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu kiết sử, sự khăng khăng, và sự trói buộc có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.” …

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

VIII. Thiên Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thế bị trói buộc, thiên chấp kiết sử cho ngã kiến) .

SN 22.158 Kinh Sự Khăng Khăng (2) Dutiyaabhinivesasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do chấp thủ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà kiết sử, sự khăng khăng, sự trói buộc, và sự dính mắc sanh khởi?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi sắc tồn tại, do chấp thủ vào sắc và khăng khăng vào sắc, kiết sử, sự khăng khăng, sự trói buộc, và sự dính mắc sanh khởi. Khi thọ… tưởng… các hành… thức tồn tại, do chấp thủ vào thức và khăng khăng vào thức, kiết sử, sự khăng khăng, sự trói buộc, và sự dính mắc sanh khởi.

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Sắc là thường hay vô thường?"

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Nhưng nếu không chấp thủ vào cái vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, liệu kiết sử, sự khăng khăng, sự trói buộc, và sự dính mắc có sanh khởi không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

IX. Thiên Kiến

(Giống như kinh trước, chỉ thêm: Sự tham trước về sự trói buộc, thiên chấp các kiết sử).

SN 22.159 Kinh Với A-nan Ānandasutta

Tại Sāvatthī.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách tóm tắt. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí.”

“Con nghĩ sao, A-nan? Sắc là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem xét như vậy không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem xét như vậy không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.” …

“Thấy được điều này… Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở đây nữa.’”

X. Ananda (S.iii,187)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến… bạch Thế Tôn:

3. − Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để sau khi nghe pháp, con sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5-8. − Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

9. Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

-ooOoo-