Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng với Rādha

23. TƯƠNG ƯNG RÀDHA

Chương Một Về Ma

SN 23.1 Về Ma Māra

Tại Sāvatthī.

Rồi Tôn giả Rādha đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘Ma’. Ma (Māra / Ma vương, kẻ giết người) được định nghĩa như thế nào ạ?”

“Này Rādha, khi có cơ thể (form / sắc / hình thức vật chất), ở đó có thể có Ma, hay kẻ sát nhân, hay kẻ bị sát hại. Vì vậy, con nên xem sắc là Ma, là kẻ sát nhân, là kẻ bị sát hại, là bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên, là sự đau khổ, là điều khốn khổ. Những ai thấy nó như vậy là thấy đúng đắn. Khi có cảm giác (feeling / vedanā / thọ)… nhận thức (perception / tưởng / nhận thức và tư duy)… hành (choices / saṅkhārā / hành động, lựa chọn)… thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường), ở đó có thể có Ma, hay kẻ sát nhân, hay kẻ bị sát hại. Vì vậy, con nên xem thức là Ma, là kẻ sát nhân, là kẻ bị sát hại, là bệnh tật, là ung nhọt, là mũi tên, là sự đau khổ, là điều khốn khổ. Những ai thấy nó như vậy là thấy đúng đắn.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, mục đích của việc thấy đúng đắn là gì ạ?”

“Sự nhàm chán (disillusionment / sự vỡ mộng, không còn ảo tưởng) là mục đích của việc thấy đúng đắn.”

“Nhưng mục đích của sự nhàm chán là gì ạ?”

Ly tham (dispassion / sự không còn ham muốn) là mục đích của sự nhàm chán.”

“Nhưng mục đích của ly tham là gì ạ?”

Giải thoát (freedom / sự tự do khỏi ràng buộc) là mục đích của ly tham.”

“Nhưng mục đích của giải thoát là gì ạ?”

Niết bàn (extinguishment / sự dập tắt) là mục đích của giải thoát.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, mục đích của Niết bàn là gì ạ?”

“Câu hỏi của con đã đi quá xa, này Rādha. Con không thể tìm ra giới hạn của các câu hỏi. Vì Niết bàn là đỉnh cao, đích đến, và điểm kết thúc của đời sống phạm hạnh.”

I. Phẩm Thứ Nhất

I. Màra (Tạp 6, Ðại 2,39b) (S.iii,188)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Màra, Màra”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?

4. − Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.

5-7. … Thọ… tưởng… các hành…

8. Nếu có thức, này Ràdha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy thức là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.

9. − Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?

− Chánh quán, này Ràdha, với mục đích nhàm chán.

10. − Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?

− Nhàm chán, này Ràdha, với mục đích ly tham.

11. − Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?

− Ly tham, này Ràdha, với mục đích được giải thoát.

12. − Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?

− Giải thoát, này Ràdha, với mục đích Niết-bàn.

13. − Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?

− Này Ràdha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niếtbàn, này Ràdha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh.

SN 23.2 Chúng Sanh Satta

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘chúng sanh’. Một chúng sanh (sentient being / sinh vật có cảm giác) được định nghĩa như thế nào ạ?”

"Này Rādha, khi con bám víu, dính mắc vào ham muốn, tham lam, thích thú, và ái (craving / sự khao khát, ham muốn) đối với sắc, khi đó một chúng sanh được nói đến. Khi con bám víu, dính mắc vào ham muốn, tham lam, thích thú, và ái đối với thọ… nhận thức… hành… thức, khi đó một chúng sanh được nói đến.

Giả sử có mấy đứa bé trai hay bé gái đang chơi với những lâu đài cát. Chừng nào chúng chưa thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái đối với những lâu đài cát đó, chúng còn trân trọng chúng, yêu thích chúng, quý trọng chúng, và coi chúng là của mình. Nhưng khi chúng đã thoát khỏi tham lam, ham muốn, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái đối với những lâu đài cát đó, chúng lấy tay chân phá tan, đập nát, và hủy hoại chúng, khiến chúng không thể chơi được nữa.

Cũng vậy, con nên phá tan, đập nát, và hủy hoại sắc, khiến nó không thể chơi được nữa. Và con nên thực hành để chấm dứt ái. Con nên phá tan, đập nát, và hủy hoại thọ… nhận thức… hành … thức, khiến nó không thể chơi được nữa. Và con nên thực hành để chấm dứt ái. Vì sự chấm dứt của ái là Niết bàn."

II. Chúng Sanh (Tạp 6, Ðại 2,40a) (S.iii,189)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?

4. − Này Ràdha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là sattà (chúng sanh).

5-7. … thọ… tưởng… các hành…

8. Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.

9. Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.

10. Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.

11. Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.

12-14. … thọ… tưởng… các hành…

15. … Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.

16. Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.

SN 23.3 Dây Dẫn Đến Tái Sanh Bhavanetti

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘sự chấm dứt của dây dẫn đến tái sanh’. Dây dẫn đến tái sanh (conduit to rebirth / bhavanetti / ống dẫn đến sự tồn tại) là gì? Và sự chấm dứt của dây dẫn đến tái sanh là gì ạ?”

"Này Rādha, bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với sắc; và bất kỳ sự lôi cuốn, nắm giữ, cố định trong tâm, sự khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó—đây được gọi là dây dẫn đến tái sanh. Sự chấm dứt của chúng là sự chấm dứt của dây dẫn đến tái sanh.

Bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với thọ… nhận thức… hành… thức; và bất kỳ sự lôi cuốn, nắm giữ, cố định trong tâm, sự khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó—đây được gọi là dây dẫn đến tái sanh. Sự chấm dứt của chúng là sự chấm dứt của dây dẫn đến tái sanh."

III. Sợi Dây Tái Sanh (Tạp 6, Ðại 2,37c) (S.iii,190)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

4. − Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

5-7… đối với thọ… với tưởng… với các hành…

8. Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

SN 23.4 Cần Được Hiểu Biết Toàn Diện Pariññeyya

Tại Sāvatthī.

Rồi Tôn giả Rādha đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

“Này Rādha, Ta sẽ dạy con những điều cần được hiểu biết toàn diện, sự hiểu biết toàn diện, và người đã hiểu biết toàn diện. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Rādha đáp. Đức Phật nói điều này:

"Và những điều gì cần được hiểu biết toàn diện? Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức). Đây được gọi là những điều cần được hiểu biết toàn diện.

Và sự hiểu biết toàn diện là gì? Là sự chấm dứt của tham, sân, và si. Đây được gọi là sự hiểu biết toàn diện.

Và người đã hiểu biết toàn diện là gì? Nên được nói là: một vị A-la-hán, một tôn giả có tên và dòng tộc như thế này, như thế kia. Đây được gọi là người đã hiểu biết toàn diện."

IV. Sở Biến Tri (Tạp 6, Ðại 2,37c) (Parinneyya) (S.iii,191)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:

− Này Ràdha, Ta sẽ thuyết về các pháp cần phải biến tri, sự biến tri. Và Ông đã được biến tri. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

4. − Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ràdha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này Ràdha, thế nào là pháp cần phải biến tri? Sắc, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thọ, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Tưởng, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Các hành, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thức, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Những pháp này, này Ràdha, là những pháp cần phải biến tri.

5. Và này Ràdha, thế nào là sự biến tri?

Này Ràdha, sự đoạn diệt tham, sự đoạn diệt sân, sự đoạn diệt si. Như vậy, này Ràdha, gọi là chánh biến tri.

6. Và này Ràdha, thế nào là người đã chánh biến tri? Bậc A-la-hán, cần phải trả lời như vậy. Bậc Tôn giả với tên như thế này, với dòng họ như thế này. Như vậy, này Ràdha, là người đã được chánh biến tri.

SN 23.5 Sa-môn và Bà-la-môn Samaṇa

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, có năm uẩn chấp thủ (grasping aggregates / pañcupādānakkhandhā / năm nhóm yếu tố ta bám víu vào) này. Năm uẩn nào? Các uẩn chấp thủ về Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức.

Có những vị Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / tu sĩ và giáo sĩ) không thực sự hiểu rõ vị ngọt (gratification / sự thỏa mãn, sự hấp dẫn), sự nguy hại (drawback / tác hại, nhược điểm), và sự thoát ly (escape / lối thoát) của năm uẩn chấp thủ này. Ta không coi họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và không sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình.

Có những vị Sa-môn và Bà-la-môn thực sự hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của năm uẩn chấp thủ này. Ta coi họ là những Sa-môn và Bà-la-môn chân chính. Những tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình."

V. Sa Môn (S.iii,191)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-4. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:

− Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

5. Này Ràdha, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy không thể ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

6. Nhưng này Ràdha, những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, và được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 23.6 Sa-môn và Bà-la-môn (2) Dutiyasamaṇa

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, có năm uẩn chấp thủ này. Năm uẩn nào? Các uẩn chấp thủ về Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức.

Có những vị Sa-môn và Bà-la-môn không thực sự hiểu rõ sự khởi sanh, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của năm uẩn chấp thủ này … Những tôn giả đó không nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn …

Có những vị Sa-môn và Bà-la-môn thực sự hiểu rõ … Những tôn giả đó nhận ra mục đích của đời sống Sa-môn hay Bà-la-môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng chính tuệ giác của mình."

VI. Sa Môn (S.iii,192)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

4. − Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn… (như kinh trên, chỉ thêm sự tập khởi và sự đoạn diệt vào vị ngọt, sự nguy hiểm và sự
xuất ly của năm thủ uẩn) .

SN 23.7 Một Vị Nhập Lưu Sotāpanna

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

“Này Rādha, có năm uẩn chấp thủ này. Năm uẩn nào? Các uẩn chấp thủ về Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức. Khi một vị thánh đệ tử thực sự hiểu rõ sự khởi sanh, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của năm uẩn chấp thủ này, vị ấy được gọi là một thánh đệ tử, một vị Tu-đà-hoàn (stream-enterer / sotāpanna / người nhập dòng), không còn bị tái sanh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

VII. Bậc Dự Lưu (S.iii,192)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

4. − Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

5. Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề.

SN 23.8 Một Vị A-la-hán Arahanta

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

“Này Rādha, có năm uẩn chấp thủ này. Năm uẩn nào? Các uẩn chấp thủ về Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức. Một Tỷ kheo được giải thoát nhờ không còn chấp thủ sau khi thực sự hiểu rõ sự khởi sanh, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của năm uẩn chấp thủ này. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một vị A-la-hán, với các lậu hoặc (defilements / āsava / những ô nhiễm tiềm ẩn) đã tận, đã hoàn thành đời sống phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu của bản thân, đã hoàn toàn chấm dứt hữu kiết sử (fetter of continued existence / xiềng xích của sự tồn tại), và được giải thoát một cách đúng đắn nhờ chánh trí (enlightenment / trí tuệ đúng đắn).”

VIII. Bậc A-La-Hán (S.iii,192)

1-3. Nhân duyên ở Sàvatthi…

4. − Này Rdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn… thức thủ uẩn.

5. − Này Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí.

SN 23.9 Ham Muốn và Tham Lam Chandarāga

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với sắc. Như vậy, sắc đó sẽ được từ bỏ, được đoạn tận gốc rễ, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với thọ … nhận thức … hành … thức. Như vậy, thức đó sẽ được từ bỏ, được đoạn tận gốc rễ, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

IX. Dục Tham (S.iii,193)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3-4. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:

− Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, sắc sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

5-7. … đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

8. Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, đối với thức, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, thức sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

SN 23.10 Ham Muốn và Tham Lam (2) Dutiyachandarāga

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với sắc; và bất kỳ sự lôi cuốn, nắm giữ, cố định trong tâm, sự khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Như vậy, sắc đó sẽ được từ bỏ, được đoạn tận gốc rễ, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai.

Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn, tham lam, thích thú, và ái nào đối với thọ … nhận thức … hành … thức; và bất kỳ sự lôi cuốn, nắm giữ, cố định trong tâm, sự khăng khăng, và sự ngầm hướng về nó. Như vậy, thức đó sẽ được từ bỏ, được đoạn tận gốc rễ, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai."

X. Dục Tham (Siii, 193)

(Như kinh trên, chỉ thêm vào: “Phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên”) .

Chương Hai Về Ma

SN 23.11 Về Ma Māra

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘Ma’. Ma được định nghĩa như thế nào ạ?”

"Này Rādha, sắc là Ma, thọ là Ma, nhận thức là Ma, hành là Ma, thức là Ma.

Thấy vậy, một vị thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán với sắc, thọ, nhận thức, hành, và thức. Khi nhàm chán, tham ái phai nhạt. Khi tham ái phai nhạt, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rằng mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

II. Phẩm Thứ Hai

I. Màra

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Màra, Màra”, bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Màra, bạch Thế Tôn?

4. − Sắc, này Ràdha, là Màra. Thọ là Màra. Tưởng là Màra. Hành là Màra. Thức là Màra.

5. Do thấy vậy, này Ràdha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 23.12 Thuộc Về Ma Māradhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘thuộc về Ma’. Cái gì thuộc về Ma ạ?”

"Này Rādha, sắc thuộc về Ma. Thọ, nhận thức, hành, và thức thuộc về Ma.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

II. Tánh Chất Của Màra .

(Như kinh trước, chỉ thay Màra bằng tánh chất của Màra (Màradhamma) ) .

SN 23.13 Vô Thường Anicca

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô thường’. Cái gì là vô thường ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức là vô thường.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

III. Vô Thường

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Vô thường, vô thường”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô thường?

4. − Sắc, này Ràdha, là vô thường. Thọ là vô thường. Tưởng là vô thường. Hành là vô thường. Thức là vô thường.

5. Do thấy vậy… Vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 23.14 Có Tính Chất Vô Thường Aniccadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘có tính chất vô thường’. Cái gì có tính chất vô thường ạ?

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất vô thường.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

IV. Vô Thường Tánh

(Kinh như trên, chỉ thay “vô thường” bằng “vô thường tánh”) .

SN 23.15 Khổ Dukkha

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘khổ’. Cái gì là khổ ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức là khổ.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

V. Khổ

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− “Khổ, khổ”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, thế nào là khổ?

4. − Sắc, này Ràdha, là khổ. Thọ là khổ. Tưởng là khổ. Các hành là khổ. Thức là khổ.

5. Do thấy vậy… Vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 23.16 Có Tính Chất Khổ Dukkhadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘có tính chất khổ’. Cái gì có tính chất khổ ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất khổ.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

VI. Khổ Tánh

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “khổ tánh”) .

SN 23.17 Vô Ngã Anatta

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô ngã’. Cái gì là vô ngã ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức là vô ngã.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

VII. Vô Ngã

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “vô ngã”) .

SN 23.18 Có Tính Chất Vô Ngã Anattadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘có tính chất vô ngã’. Cái gì có tính chất vô ngã ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất vô ngã.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

VIII. Vô Ngã Tánh

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “vô ngã tánh”).

SN 23.19 Có Tính Chất Đoạn Diệt Khayadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘có tính chất đoạn diệt’. Cái gì có tính chất đoạn diệt ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất đoạn diệt.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

IX. Tận Pháp

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “tận pháp” (khayadhamma: chịu sự đoạn tận)) .

SN 23.20 Có Tính Chất Tàn Lụi Vayadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘có tính chất tàn lụi’. Cái gì có tính chất tàn lụi ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất tàn lụi.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

X. Diệt Pháp

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “diệt pháp” (vayadhamma: chịu sự đoạn diệt)).

SN 23.21 Có Tính Chất Khởi Sanh Samudayadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘có tính chất khởi sanh’. Cái gì có tính chất khởi sanh ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất khởi sanh.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

XI. Tập Khởi Pháp (Samudayadhamma)

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “tập khởi pháp”).

SN 23.22 Có Tính Chất Chấm Dứt Nirodhadhamma

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘có tính chất chấm dứt’. Cái gì có tính chất chấm dứt ạ?”

"Này Rādha, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức có tính chất chấm dứt.

Thấy vậy … Vị ấy hiểu rõ: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

XII. Ðoạn Diệt Pháp (Nirodhadhamma)

(Như kinh trên, chỉ thay “khổ” bằng “đoạn diệt pháp”).

Chương Về Khát Vọng

SN 23.23–33 Mười một Kinh về Ma, v.v. Mārādisuttaekādasaka

Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách tóm tắt. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí.”

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì là Ma. Và cái gì là Ma? Sắc là Ma. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó.

Thọ …

Nhận thức …

Hành …

Thức là Ma. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì là Ma."

“Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì thuộc về Ma …”

“… vô thường …”

“… có tính chất vô thường …”

“… khổ …”

“… có tính chất khổ …”

“… vô ngã …”

“… có tính chất vô ngã …”

“… có tính chất đoạn diệt …”

“… có tính chất tàn lụi …”

“… có tính chất khởi sanh …”

III. Phẩm Sơ Vấn

I. Về Màra (Tạp quyển 6, Ðại 2,40c) (S.iii,198)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để con sau khi nghe pháp, có thể sống một mình, an tịch, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-23. − Cái gì là Màra, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, đoạn trừ lòng tham, đoạn trừ lòng dục và tham. Và cái gì là Màra, này Ràdha? Sắc, này Ràdha, là Màra; ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham. Thọ là Màra, ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham. Tưởng… Các hành… Thức là Màra, ở đây Ông cần đoạn trừ lòng dục, cần đoạn trừ lòng tham, cần đoạn trừ lòng dục và tham.

24. Cái gì thuộc về Ma tánh (Màradhamma), này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham…

25. Cái gì là vô thường…

26. Cái gì là vô thường tánh…

27. Cái gì là khổ…

28. Cái gì là khổ tánh…

29. Cái gì là vô ngã…

30. Cái gì là vô ngã tánh…

31. Cái gì là đoạn tận…

32. Cái gì là đoạn diệt…

33. Cái gì là tập khởi tánh, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham.

SN 23.34 Có Tính Chất Chấm Dứt Nirodhadhamma

Tại Sāvatthī.

Tôn giả Rādha thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách tóm tắt. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí.”

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì có tính chất chấm dứt. Và cái gì có tính chất chấm dứt? Sắc có tính chất chấm dứt. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó.

Thọ …

Nhận thức …

Hành …

Thức có tính chất chấm dứt. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì có tính chất chấm dứt."

II. Ðoạn Diệt Tánh (S.iii,199)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để con sau khi nghe pháp, có thể sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, đoạn trừ lòng tham, đoạn trừ lòng dục và tham. Và cái gì là đoạn diệt pháp, này Ràdha? Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham. Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là đoạn diệt pháp; ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục, cần phải đoạn trừ lòng tham, cần phải đoạn trừ lòng dục và tham.

Chương Về Việc Ngồi Gần

SN 23.35–45 Mười một Kinh về Ma, v.v. Mārādisuttaekādasaka

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì là Ma. Và cái gì là Ma? Sắc là Ma. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó. …

Thức là Ma. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì là Ma."

“Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì thuộc về Ma …”

“… vô thường …”

“… có tính chất vô thường …”

“… khổ …”

“… có tính chất khổ …”

“… vô ngã …”

“… có tính chất vô ngã …”

“… có tính chất đoạn diệt …”

“… có tính chất tàn lụi …”

“… có tính chất khởi sanh …”

IV. Phẩm Thân Cận

I. Màra (Phẩm III - Sơ vấn)

II. Màra Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

III. Vô Thường (Phẩm III - Sơ vấn)

IV. Vô Thường Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

V. Khổ (Phẩm III - Sơ vấn)

VI. Khổ Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

VII. Vô Ngã (Phẩm III - Sơ vấn)

VIII. Vô Ngã Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

IX. Tận Diệt (Phẩm III - Sơ vấn)

X. Ðoạn Diệt (Phẩm III - Sơ vấn)

XI. Tập Khởi (Phẩm III - Sơ vấn)

SN 23.46 Có Tính Chất Chấm Dứt Nirodhadhamma

Tại Sāvatthī.

Khi Tôn giả Rādha đang ngồi một bên, Đức Phật nói với ông:

"Này Rādha, con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì có tính chất chấm dứt. Và cái gì có tính chất chấm dứt? Sắc có tính chất chấm dứt. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó.

Thọ …

Nhận thức …

Hành …

Thức có tính chất chấm dứt. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với nó. Con nên từ bỏ bất kỳ ham muốn nào, bất kỳ tham lam nào, bất kỳ ham muốn và tham lam nào đối với bất cứ thứ gì có tính chất chấm dứt."

XII. Ðoạn Diệt Tánh (Phẩm III - Sơ vấn)

-ooOoo-