Một thời Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại Vườn của Jeta. Đức Phật đã nói điều này:
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Thưa Ngài, mong rằng chính Đức Phật sẽ làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”
“Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”
“Vâng, thưa Ngài,” họ đáp. Đức Phật đã nói điều này:
"Khi cơ thể (form / sắc / hình thức vật chất) tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Khi cảm giác (feeling / thọ) … nhận thức (perception / tưởng / nhận thức và tư duy) … hành (choices(lựa chọn) / các hành động, sự lựa chọn) … thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường) tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử (noble disciple / người học trò đã đạt được một trong bốn cấp độ giác ngộ) đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu (stream-enterer / người đã bước vào dòng thánh), không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Gió không thổi, sông không chảy, đàn bà mang thai không sanh, mặt trăng, mặt trời không mọc hay không lặn. Tất cả đều đứng vững như cột trụ”?
3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy ấy. Sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
− Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
4. − Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc, (tà) kiến này khởi lên: “Gió không thổi, sông không chảy, đàn bà có thai không sanh, mặt trăng, mặt trời không mọc hay không lặn. Tất cả đều đứng vững như cột trụ”.
5-7. Do có thọ… có tưởng… có các hành…
8. Do có thức, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức, (tà) kiến này khởi lên: “Gió không thổi… Tất cả đều đứng vững như cột trụ”.
9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: “Gió không thổi… Tất cả đều đứng vững như cột trụ”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-12. − Thọ… Tưởng… Các hành…
13. … Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: “Gió không thổi… Tất cả đều đứng vững như cột trụ”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
14. − Cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được đạt đến, được tìm cầu, được ý tư duy; cái ấy là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn?
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: “Gió không thổi… Tất cả đều đứng vững như cột trụ”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
15. − Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đối với sáu xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ tập khởi, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ; như vậy, này các Tỷ-kheo gọi là bậc Thánh đệ tử đã chứng được Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này được khởi lên: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
4. − Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc, (tà) kiến này được khởi lên: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
5-7. Do có thọ… tưởng… các hành…
8. Do có thức, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức, (tà) kiến này được khởi lên: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-12. −. … Thọ… Tưởng… Các hành…
13. Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
14. − Cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
15. − Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đối với sáu xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ, nghi hoặc được đoạn trừ;… đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ; như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là bậc Thánh đệ tử đã chứng được Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, tôi sẽ trở thành cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến và không thể hủy diệt’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, tôi sẽ trở thành cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến và không thể hủy diệt.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã và vũ trụ là một. Sau khi chết, tôi sẽ trở thành cái đó, thường hằng, vĩnh cửu, bất biến và không thể hủy diệt.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết, cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?
3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
4. − Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc, (tà) kiến này khởi lên: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết, cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.
5-7. … thọ… tưởng… các hành…
8. Do có thức, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức, (tà) kiến này khởi lên: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”.
9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không có chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết, cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-13. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết, cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
14. − Cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được đạt tới, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không có chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến này: “Cái ấy là tự ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi chết, cái ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
15. − Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đối với sáu xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ, nghi hoặc được đoạn trừ;… đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ; như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Thánh đệ tử chứng được Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Có thể tôi không tồn tại, và nó có thể không phải của tôi. Tôi sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của tôi’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Có thể tôi không tồn tại, và nó có thể không phải của tôi. Tôi sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của tôi.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Có thể tôi không tồn tại, và nó có thể không phải của tôi. Tôi sẽ không tồn tại, và nó sẽ không phải của tôi.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
(Như kinh trên, chỉ có sự sai khác về “tà kiến”).
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường hay tế lễ. Không có quả hay kết quả của các hành động tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là mẹ và cha, hay những chúng sinh được hóa sinh. Và không có sa-môn hay bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và người mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác. Con người này được tạo thành từ tứ đại (the four principal states / bốn yếu tố chính: đất, nước, lửa, gió). Khi họ chết, đất trong cơ thể họ hòa nhập và hợp nhất với chất đất. Nước trong cơ thể họ hòa nhập và hợp nhất với chất nước. Lửa trong cơ thể họ hòa nhập và hợp nhất với chất lửa. Không khí trong cơ thể họ hòa nhập và hợp nhất với chất không khí. Các căn (faculties / các giác quan) được chuyển vào không gian. Bốn người khiêng một cái kiệu mang xác đi. Dấu chân của họ chỉ đường đến nghĩa địa. Xương trở nên trắng bệch. Các lễ vật dâng lên các vị thần cuối cùng cũng thành tro bụi. Cho đi là giáo lý của những kẻ ngu đần. Khi bất cứ ai khẳng định một giáo lý tích cực thì đó chỉ là những điều vô căn cứ, sai lầm và vô nghĩa. Cả người ngu và người trí đều bị hủy diệt và tiêu vong khi thân xác họ tan rã, và không còn tồn tại sau khi chết’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường hay tế lễ. … Cả người ngu và người trí đều bị hủy diệt và tiêu vong khi thân xác họ tan rã, và không còn tồn tại sau khi chết.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường hay tế lễ. … Cả người ngu và người trí đều bị hủy diệt và tiêu vong khi thân xác họ tan rã, và không còn tồn tại sau khi chết.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh. Ở đời, không có những vị Sa-môn chánh hạnh, chánh hướng, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới; thủy đại trở về trả lại cho thủy giới; hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới; phong đại trở về trả lại cho phong giới; các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi (đến chỗ hỏa táng), thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí. Lời nói của họ trống không, giả dối, khi họ thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết”?
3.− Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
4. (Như kinh trên, chỉ khác ở “tà kiến”).
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm phiền lòng, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Không có điều xấu nào được thực hiện khi họ giết người, trộm cắp, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình và nói dối. Nếu bạn dùng một bánh xe sắc bén để biến tất cả chúng sinh trên trái đất này thành một đống thịt, không có điều ác nào phát sinh từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu bạn đi dọc theo bờ nam sông Hằng để giết người, cắt xẻo và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, không có điều ác nào phát sinh từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu bạn đi dọc theo bờ bắc sông Hằng để cho đi, cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, không có công đức nào phát sinh từ đó, và không có kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, tiết chế và nói thật, không có công đức hay kết quả của công đức’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Người hành động không làm gì sai … không có công đức hay kết quả của công đức.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Người hành động không làm gì sai … không có công đức hay kết quả của công đức.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo. Bố thí, điều phục, cấm giới, tự chế, tôn trọng sự thật, không có phước đức, không đưa đến phước đức”?
4. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
(Như kinh trên, chỉ khác phần tà kiến").
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự ô nhiễm của chúng sinh. Chúng sinh bị ô nhiễm không có nguyên nhân hay lý do. Không có nguyên nhân hay lý do nào cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Chúng sinh được thanh tịnh không có nguyên nhân hay lý do. Không có sức mạnh, không có năng lượng, không có sức mạnh hay nghị lực của con người. Tất cả chúng sinh, tất cả sinh vật, tất cả hữu tình, tất cả linh hồn đều thiếu sự kiểm soát, sức mạnh và năng lượng. Được định hình bởi số phận, hoàn cảnh và bản chất, họ trải nghiệm an vui và đau khổ trong sáu cõi tái sinh’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Không có nguyên nhân hay lý do … họ trải nghiệm an vui và đau khổ trong sáu cõi tái sinh.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Không có nguyên nhân hay lý do … họ trải nghiệm an vui và đau khổ trong sáu cõi tái sinh.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình, tất cả sinh vật, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Họ bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của họ, bởi cá tánh của họ. Họ hưởng thọ khổ, lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ”?
3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
(Như các kinh trên, chỉ khác phần “tà kiến”) .
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Có bảy chất này không được làm ra, không được tạo ra, không được sáng tạo, không có người sáng tạo, trơ trơ, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như một cây cột. Chúng không di chuyển, không suy thoái, không cản trở nhau. Chúng không thể gây ra an vui, đau khổ, hay cả an vui và đau khổ cho nhau. Bảy chất đó là gì? Các chất đất, nước, lửa, không khí; an vui, đau khổ, và linh hồn là thứ bảy. Bảy chất này không được làm ra, không được tạo ra, không được sáng tạo, không có người sáng tạo, trơ trơ, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như một cây cột. Chúng không di chuyển, không suy thoái, không cản trở nhau. Chúng không thể gây ra an vui, đau khổ, hay cả an vui và đau khổ cho nhau. Nếu bạn chặt đầu ai đó bằng một thanh gươm sắc, bạn không lấy đi mạng sống của ai cả. Thanh gươm chỉ đơn giản đi qua khoảng trống giữa bảy chất đó. Có 1,4 triệu bào thai chính, và 6.000, và 600. Có 500 nghiệp, và năm, và ba. Có nghiệp và nửa nghiệp. Có 62 con đường, 62 tiểu kiếp, sáu cõi tái sinh, và tám giai đoạn trong cuộc đời một người. Có 4.900 tu sĩ tà mạng ngoại đạo (Ājīvaka ascetics / một trường phái tu khổ hạnh thời Đức Phật), 4.900 du sĩ, và 4.900 tu sĩ lõa thể. Có 2.000 căn, 3.000 địa ngục, và 36 cõi bụi. Có bảy phôi có nhận thức, bảy phôi không có nhận thức, và bảy phôi không có nút thắt. Có bảy vị thần, bảy con người, và bảy yêu tinh. Có bảy hồ, bảy sông, 700 sông, bảy vách đá, và 700 vách đá. Có bảy giấc mơ và 700 giấc mơ. Có 8,4 triệu đại kiếp mà qua đó người ngu và người trí luân hồi trước khi chấm dứt khổ đau. Và ở đây không có chuyện như thế này: “Bằng giới luật này hay nghi lễ này hay khổ hạnh nhiệt thành này hay đời sống tâm linh này, tôi sẽ ép những nghiệp chưa chín muồi phải kết quả, hoặc loại bỏ những nghiệp cũ bằng cách trải nghiệm kết quả của chúng từng chút một”—vì điều đó không thể được. An vui và đau khổ đã được phân định. Sự luân hồi chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian giới hạn, vì vậy không có tăng hay giảm, không có tốt hơn hay tệ hơn. Giống như khi bạn ném một cuộn chỉ, nó sẽ lăn đi và tự tháo ra. Tương tự như vậy, sau khi luân hồi, người ngu và người trí sẽ chấm dứt khổ đau’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Có bảy chất này không được làm ra … người ngu và người trí sẽ chấm dứt khổ đau.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Có bảy chất này không được làm ra … người ngu và người trí sẽ chấm dứt khổ đau.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, khởi lên (tà) kiến như sau: “Có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc”?
3. Bảy thân ấy là gì? - Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc.
4. Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi.
5. Có tất cả là 1.400.000 chủng loại thác sanh, lại có thêm 6.000 và có thêm 600 nữa. Có 500 loại nghiệp và năm nghiệp (theo 5 căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), và bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, 4.900 sanh nghiệp, 4.900 kẻ du hành, 4.900 chỗ ở của loài Nàga, 2.000 căn, 3.000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai, 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (rừng hay hồ nhỏ), 7 papàta
(vực thẳm), 700 papàta (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng, có 8 trăm 40 vạn đại kiếp, trong thời gian ấy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.
6. Không có lời nguyền: "Với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn.
7. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ đoạn tận khổ đau".
8. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”).
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ là vĩnh cửu’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ là vĩnh cửu.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ là vĩnh cửu.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”. Ở đây “tà kiến” được thay bằng "thế gian là
thường").
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ không vĩnh cửu’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
“Khi cơ thể tồn tại …” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”).
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ là hữu hạn’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Vũ trụ là vô hạn’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Linh hồn và thân xác là một’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Linh hồn và thân xác là khác nhau’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai (A Realized One / Tathāgata / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) vẫn tồn tại sau khi chết’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không còn tồn tại sau khi chết’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’?” …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến”)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’ …
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” … “Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Cái được thấy, nghe, suy nghĩ, biết, đạt được, tìm kiếm và khám phá bởi tâm: cái đó là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Khi một thánh đệ tử đã từ bỏ hoài nghi trong sáu trường hợp này, và đã từ bỏ hoài nghi về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, họ được gọi là một thánh đệ tử đã dự lưu, không còn bị tái sinh vào cõi dữ, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ.”
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
− Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
3. − Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
4-8. − Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do thiên chấp sắc, (tà) kiến này khởi lên: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”… … thọ… tưởng… các hành… Do có thức, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ thức, do thiên chấp thức, khởi lên (tà) kiến này: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
9. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-13. … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức…
14. − Cái được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết đến, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư; cái ấy là thường hay vô thường?
− Vô thường, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
15. − Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đối với các xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ tập khởi, nghi hoặc được đoạn trừ, đối với khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn trừ, vị Thánh đệ tử như vậy được gọi là đã chứng được bậc Dự lưu, không bị thối đọa, chắc quyết hướng đến giác ngộ.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Và như vậy, khi khổ tồn tại, do bám giữ vào khổ và khăng khăng vào khổ, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Và như vậy, khi khổ tồn tại, do bám giữ vào khổ và khăng khăng vào khổ, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’”
(Kể lại đầy đủ như trong các bài kinh từ 2 đến 17 của chương trước.)
(Những kinh I, II trong phẩm này là giống như những kinh trong Chương Ba, Kiến Tương Ưng từ số I cho đến số XVIII).
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Và như vậy, khi khổ tồn tại, do bám giữ vào khổ và khăng khăng vào khổ, tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’” …
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Và như vậy, khi khổ tồn tại, do bám giữ vào khổ và khăng khăng vào khổ, tà kiến này khởi lên: ‘Một Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’”
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã có hình tướng và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
(Những kinh này giống như các kinh trước chỉ khác là “tà kiến” được thay bằng "Tự ngã có
sắc, sau khi chết, không bệnh").
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không có hình tướng và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
(như trên, được thay bằng "Tự ngã không có sắc, sau khi chết, không bệnh ").
Tại Sāvatthī.
“‘Tự ngã vừa có hình tướng vừa không có hình tướng, và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
“‘Tự ngã không có hình tướng cũng không phải không có hình tướng, và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
“‘Tự ngã hoàn toàn an vui, và không bệnh tật sau khi chết’?” …
(… "Tự ngã là thuần lạc, sau khi chết, không bệnh ").
“‘Tự ngã chỉ toàn đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
“‘Tự ngã vừa an vui vừa đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
“‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết’?” …
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu tà kiến này có khởi lên không: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Không, thưa Ngài.”
“Và như vậy, cái gì vô thường thì là khổ. Khi cái này tồn tại, bám giữ vào nó, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Và như vậy, cái gì vô thường thì là khổ. Khi cái này tồn tại, bám giữ vào nó, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’”
(Kể lại đầy đủ như trong các bài kinh từ 20 đến 43 của chương thứ hai.)
I. (Như kinh Chương Một I, Kinh Nakulapità).
II- XXV . (Như kinh từ số I, Phẩm Trùng Thuyết 1, đến VII Phẩm Trùng Thuyết 2)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Và như vậy, cái gì vô thường thì là khổ. Khi cái này tồn tại, bám giữ vào nó, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’ Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.” …
“Nhưng khi không bám giữ vào cái vô thường, khổ và có tính hoại diệt, liệu một tà kiến như vậy có khởi lên không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Và như vậy, cái gì vô thường thì là khổ. Khi cái này tồn tại, bám giữ vào nó, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’”
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
“Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Gió không thổi; sông không chảy; phụ nữ mang thai không sinh con; mặt trăng và các vì sao không mọc cũng không lặn, mà đứng yên như một cây cột.’ Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó là: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’ không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó là: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’ không?”
“Không, thưa Ngài.”
"Vì vậy, các con nên thực sự thấy bất kỳ loại cơ thể nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả cơ thể—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Các con nên thực sự thấy bất kỳ loại cảm giác … nhận thức … hành động … thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’
Thấy vậy … Họ hiểu rằng: ‘… không còn gì phải làm ở nơi này nữa.’"
I - XXVII . Như kinh (I-II) Phẩm Trùng Thuyết 3) (S.iii,222)
-ooOoo-
(Kể lại đầy đủ như trong 24 bài kinh của chương thứ hai.)
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, do bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết’?”
“Thưa Ngài, các giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”
"Khi cơ thể tồn tại, do bám giữ vào cơ thể và khăng khăng vào cơ thể, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’ Khi cảm giác … nhận thức … hành động … thức tồn tại, do bám giữ vào thức và khăng khăng vào thức, tà kiến này khởi lên: ‘Tự ngã không an vui cũng không đau khổ, và khỏe mạnh sau khi chết.’
Này các Tỷ kheo, các con nghĩ sao? Cơ thể là thường hằng hay vô thường?"
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó là: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’ không?”
“Không, thưa Ngài.”
“Cảm giác … nhận thức … hành động … thức là thường hằng hay vô thường?”
“Vô thường, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”
“Là khổ, thưa Ngài.”
“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó là: ‘Đây là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’ không?”
“Không, thưa Ngài.”
"Vì vậy, các con nên thực sự thấy bất kỳ loại cơ thể nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả cơ thể—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Các con nên thực sự thấy bất kỳ loại cảm giác … nhận thức … hành động … thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với chánh kiến: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’
Thấy vậy, một thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán với cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức. Khi nhàm chán, ham muốn phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.
Họ hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì phải làm ở nơi này nữa.’"