Một thời Tôn giả Xá Lợi Phất đang ở gần thành Xá Vệ, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Cấp Cô Độc. Khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Xá Vệ để khất thực. Ngài đi khất thực ở Xá Vệ. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, ngài đi vào Rừng Tối để hành thiền ban ngày, đi sâu vào trong đó, và ngồi dưới gốc cây để hành thiền.
Rồi vào buổi chiều muộn, Tôn giả Xá Lợi Phất xả thiền và đi đến Kỳ Viên, tu viện của ông Cấp Cô Độc. Tôn giả A Nan thấy ngài từ xa đi tới, và nói với ngài:
“Thưa hiền giả Xá Lợi Phất, các giác quan của ngài thật trong sáng, và sắc diện của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Hôm nay ngài đã thực hành thiền định gì vậy?”
“Thưa hiền giả, sau khi ly tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), ly các pháp bất thiện, tôi đã nhập và an trú trong sơ thiền, một trạng thái có hân hoan và an vui do ly dục sinh, với trạng thái có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / hướng ý nghĩ về một đề tài và giữ sự quan sát đề tài đó). Nhưng tôi không hề có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập sơ thiền’ hay ‘Tôi đã nhập sơ thiền’ hay ‘Tôi đang xả sơ thiền’.”
“Chắc hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã tạo, ngã sở tạo, và khuynh hướng ngầm hướng về (underlying tendencies / tùy miên, ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản) kiêu mạn. Đó là lý do tại sao ngài không có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập sơ thiền’ hay ‘Tôi đã nhập sơ thiền’ hay ‘Tôi đang xả sơ thiền’.”
Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-4. Ði khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực về, Tôn giả đi đến Andhavana để nghỉ trưa. Sau khi đi vào rừng Andha, Tôn giả đến ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.
5. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Jetavana, vườn ông Anàthapindika.
6. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàariputta từ xa đi đến; sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
− Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay, Hiền giả an trú với sự an trú nào?
7. − Ở đây, này Hiền giả, ly dục, ly pháp bất thiện, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ nhất”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ nhất”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ nhất”.
8. − Như vậy chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài, đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy, Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ nhất”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ nhất”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ nhất”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất và nói với ngài:
“Thưa hiền giả Xá Lợi Phất, các giác quan của ngài thật trong sáng, và sắc diện của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Hôm nay ngài đã thực hành thiền định gì vậy?”
“Thưa hiền giả, khi tầm và tứ đã lắng dịu, tôi đã nhập và an trú trong nhị thiền, một trạng thái có hân hoan và an vui do định sinh, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected/ không hướng ý nghĩ đến đề tài nào và không quan sát đề tài nào). Nhưng tôi không hề có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập nhị thiền’ hay ‘Tôi đã nhập nhị thiền’ hay ‘Tôi đang xả nhị thiền’.”
“Chắc hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã tạo, ngã sở tạo, và khuynh hướng ngầm hướng về kiêu mạn. Đó là lý do tại sao ngài không có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập nhị thiền’ hay ‘Tôi đã nhập nhị thiền’ hay ‘Tôi đang xả nhị thiền’.”
1-5. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi…
6. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
− Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú với sự an trú nào?
7. − Ở đây, này Hiền giả, làm cho lắng dịu tầm và tứ, tôi đã chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Tôi không có khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai”.
8. − Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài, đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy, Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất và nói với ngài:
“Thưa hiền giả Xá Lợi Phất, các giác quan của ngài thật trong sáng, và sắc diện của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Hôm nay ngài đã thực hành thiền định gì vậy?”
“Thưa hiền giả, với sự phai nhạt của hân hoan, tôi đã nhập và an trú trong tam thiền, nơi tôi an trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố, ‘Người có xả và chánh niệm thì an trú trong an vui.’ Nhưng tôi không hề có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập tam thiền’ hay ‘Tôi đã nhập tam thiền’ hay ‘Tôi đang xả tam thiền’.”
“Chắc hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã tạo, ngã sở tạo, và khuynh hướng ngầm hướng về kiêu mạn. Đó là lý do tại sao ngài không có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập tam thiền’ hay ‘Tôi đã nhập tam thiền’ hay ‘Tôi đang xả tam thiền’.”
1-5. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Savatthi…
6. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
− Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, ly hỷ và trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là: “Xả niệm lạc trú”, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ ba”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ ba”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba”.
− Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian… hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất và nói với ngài:
“Thưa hiền giả Xá Lợi Phất, các giác quan của ngài thật trong sáng, và sắc diện của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Hôm nay ngài đã thực hành thiền định gì vậy?”
“Thưa hiền giả, với việc từ bỏ an vui và khổ đau, và sự chấm dứt của hỷ và ưu trước đó, tôi đã nhập và an trú trong tứ thiền, không khổ không vui, với xả và niệm thanh tịnh. Nhưng tôi không hề có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập tứ thiền’ hay ‘Tôi đã nhập tứ thiền’ hay ‘Tôi đang xả tứ thiền’.”
“Chắc hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã tạo, ngã sở tạo, và khuynh hướng ngầm hướng về kiêu mạn. Đó là lý do tại sao ngài không có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập tứ thiền’ hay ‘Tôi đã nhập tứ thiền’ hay ‘Tôi đang xả tứ thiền’.”
1-5. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi…
6. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến… với sự an trú nào?
7. − Ở đây, này Hiền giả, xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ tư”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ tư”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư”.
8. − Như vậy, chắc chắn Hiền giả… hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất …
“Thưa hiền giả, vượt hoàn toàn qua các nhận thức (perception / tưởng / nhận thức và tư duy) về hình sắc, với sự chấm dứt nhận thức về chướng ngại, không chú ý đến các nhận thức về sự đa dạng, nhận biết rằng ‘không gian là vô biên’, tôi đã nhập và an trú trong không vô biên xứ. …” …
1-6. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi…
… Tôn giả Ananda thấy… với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, vượt lên hoàn toàn sắc tưởng, đoạn diệt hữu đối tưởng, không tác ý các dị tưởng, với ý nghĩ: “Hư không là vô biên”, tôi chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ… hay “Tôi đã ra khỏi Không vô biên xứ”.
− Như vậy, chắc chắn Hiền giả… “Tôi đã ra khỏi Không vô biên xứ”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất …
“Thưa hiền giả, vượt hoàn toàn qua không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường) là vô biên’, tôi đã nhập và an trú trong thức vô biên xứ. …” …
1-6. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi…
… Tôn giả Ananda thấy… với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, với ý nghĩ: “Thức là vô biên”, tôi chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… hay “… đã ra khỏi Thức vô biên xứ”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất …
“Thưa hiền giả, vượt hoàn toàn qua thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả’, tôi đã nhập và an trú trong vô sở hữu xứ. …” …
1-6. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
… Tôn giả Ananda thấy… với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, với ý nghĩ: “Không có vật gì”, tôi chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… hay “… đã ra khỏi Vô sở hữu xứ”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất …
“Thưa hiền giả, vượt hoàn toàn qua vô sở hữu xứ, tôi đã nhập và an trú trong phi tưởng phi phi tưởng xứ. …” …
1-6. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
… Tôn giả Ananda thấy… với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, tôi chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ… hay “… đã ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.
Tại Xá Vệ.
Tôn giả A Nan thấy Tôn giả Xá Lợi Phất …
“Thưa hiền giả, vượt hoàn toàn qua phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi đã nhập và an trú trong sự diệt của nhận thức và cảm giác (feeling / thọ). Nhưng tôi không hề có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập diệt thọ tưởng định’ hay ‘Tôi đã nhập diệt thọ tưởng định’ hay ‘Tôi đang xả diệt thọ tưởng định’.”
“Chắc hẳn là vì Tôn giả Xá Lợi Phất từ lâu đã đoạn trừ hoàn toàn ngã tạo, ngã sở tạo, và khuynh hướng ngầm hướng về kiêu mạn. Đó là lý do tại sao ngài không có ý nghĩ: ‘Tôi đang nhập diệt thọ tưởng định’ hay ‘Tôi đã nhập diệt thọ tưởng định’ hay ‘Tôi đang xả diệt thọ tưởng định’.”
1-6. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi…
… Tôn giả Ananda thấy… với sự an trú nào?
7-8. − Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Nhưng này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay " Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định", hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
− Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
Một thời Tôn giả Xá Lợi Phất đang ở gần thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Khi ấy, ngài vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào thành Vương Xá để khất thực. Sau khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở Vương Xá, ngài ăn phần vật thực khất thực được bên một bức tường.
Khi ấy, nữ du sĩ Sucimukhī đến gần Tôn giả Xá Lợi Phất và nói với ngài:
“Thưa Sa-môn, ngài ăn bằng cách cúi mặt xuống à?”
“Không, thưa chị.”
“Vậy thì, ngài ăn bằng cách ngước mặt lên à?”
“Không, thưa chị.”
“Vậy thì, ngài ăn bằng cách quay mặt về các hướng chính à?”
“Không, thưa chị.”
“Vậy thì, ngài ăn bằng cách quay mặt về các hướng phụ à?”
“Không, thưa chị.”
“Khi được hỏi ngài có ăn bằng cách quay về tất cả các hướng này không, ngài đều trả lời ‘không, thưa chị’. Vậy chính xác thì ngài ăn như thế nào, thưa Sa-môn?”
"Này chị, những sa-môn và bà-la-môn nào kiếm sống bằng địa lý—một môn học thấp kém, một tà mạng—thì được cho là ăn bằng cách cúi mặt xuống.
Những sa-môn và bà-la-môn nào kiếm sống bằng chiêm tinh—một môn học thấp kém, một tà mạng—thì được cho là ăn bằng cách ngước mặt lên.
Những sa-môn và bà-la-môn nào kiếm sống bằng việc chạy việc vặt và đưa tin—một tà mạng—thì được cho là ăn bằng cách quay mặt về các hướng chính.
Những sa-môn và bà-la-môn nào kiếm sống bằng chỉ tay—một môn học thấp kém, một tà mạng—thì được cho là ăn bằng cách quay mặt về các hướng phụ.
Tôi không kiếm sống bằng bất kỳ phương tiện nào trong số này. Tôi khất thực một cách hợp đạo, và tôi ăn một cách hợp đạo."
Khi ấy, nữ du sĩ Sucimukhī đi khắp thành Vương Xá, từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác, và tuyên bố: “Các sa-môn Thích tử ăn một cách hợp đạo! Các sa-môn Thích tử ăn một cách không đáng chê trách! Hãy cúng dường vật thực cho các sa-môn Thích tử!”
1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng. đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực. Sau khi đi khất thực từng nhà một ở Ràjagaha (Vương Xá), Tôn giả ngồi dựa vào một bức tường, dùng đồ ăn khất thực.
3. Rồi một nữ du sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:
4. − Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?
− Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống.
5. − Vậy Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?
− Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên.
6. − Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?
− Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương chính.
7. − Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?
− Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương phụ.
8. − Ðược hỏi: “Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?” Ông trả lời: “Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên”. Ðược hỏi: “Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương chính”. Ðược hỏi: “Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?” Ông đáp: “Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương phụ”. Vậy này Samôn, Ông ăn, hành động như thế nào?
9. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn cúi mặt xuống.
10. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn ngưỡng mặt lên.
11. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; này Chị, các vị ấy được gọi các Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương chính.
12. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán, và các nghề hèn hạ; này Chị, các vị ấy được gọi những Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt về bốn phương phụ.
13. Còn ta, này Chị, ta không nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; ta cũng không nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán và các nghề hèn hạ. Ta tìm cầu món ăn một cách hợp pháp. Sau khi tìm món ăn một cách hợp pháp, ta dùng các món ăn ấy.
14. Rồi nữ tu sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác ở thành Vương Xá, và tuyên bố: “Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách hợp pháp. Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách không có lỗi lầm. Hãy cúng dường các món ăn cho Sa-môn Thích tử”.
-ooOoo-