Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng Vacchagotta

33. TƯƠNG ƯNG VACCHAGOTA

Chương Về Vacchagotta

SN 33.1 Không Biết về Sắc Rūpaaññāṇasutta

Một thời Đức Phật trú tại Xá-vệ, trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Khi ấy, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? Đó là: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, hay hữu biên, hay vô biên; linh hồn và thân xác là một, hay chúng là khác nhau; sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại.”

“Này Vaccha, chính vì không biết về sắc (form / sắc / hình thức vật chất), sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó mà các loại tà kiến này phát sinh trên thế gian. Đây là nguyên nhân, đây là lý do.”

I. Vô Tri (1) (S.iii,257)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…

Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagota đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagota bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì? do duyên gì, này Tôn giả Gotama, một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn” hay “Thế giới là không thường còn”; hay “Thế giới hữu biên” hay “Thế giới vô biên”; hay “Sinh mạng và thân thể là một” hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

4. − Do vô tri đối với sắc, này Vaccha, do vô tri đối với sắc tập khởi, do vô tri đối với sắc đoạn diệt, do vô tri đối với con đường đưa đến sắc đoạn diệt, cho nên có những (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên đời: “Thế giới là thường còn”… hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Do nhân này, do duyên này, này Vaccha, có một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn…”. hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

SN 33.2 Không Biết về Cảm Giác Vedanāaññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? Đó là: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng … sau khi chết, một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không không tồn tại.”

“Này Vaccha, chính vì không biết về cảm giác (feeling / thọ), sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó mà các loại tà kiến này phát sinh trên thế gian. Đây là nguyên nhân, đây là lý do.”

Vô Tri (2)

(Như trên, ở đây là “vô tri đối với thọ”).

SN 33.3 Không Biết về Nhận Thức Saññāaññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? …”

“Này Vaccha, chính vì không biết về nhận thức (perception / tưởng / nhận thức và tư duy), sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó …”

Vô Tri (3)

(Như trên, ở đây là “vô tri đối với tưởng”).

SN 33.4 Không Biết về Hành Động Saṅkhāraaññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? …”

“Này Vaccha, chính vì không biết về hành (choices / các hành động, sự lựa chọn), sự sinh khởi của chúng, sự đoạn diệt của chúng, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của chúng …”

Vô Tri (4)

(Như trên, ở đây là “vô tri đối với các hành”).

SN 33.5 Không Biết về Thức Viññāṇaaññāṇasutta

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? …”

“Này Vaccha, chính vì không biết về thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường), sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó …”

Vô Tri (5)

(Như trên, ở đây là “vô tri đối với thức”).

SN 33.6–10 Năm Bài Kinh về Không Thấy Sắc, v.v. Rūpaadassanādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? …”

“Này Vaccha, chính vì không thấy Sắc …” “… cảm giác …” “… nhận thức …” “… hành …” “… thức, sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó …”

II. Vô Kiến (1-5)

(Như trên, ở đây là “vô kiến đối với sắc” … “thọ, …tưởng, …các hành, …thức”).

SN 33.11–15 Năm Bài Kinh về Không Thấu Hiểu Sắc, v.v. Rūpaanabhisamayādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

"Này Vaccha, chính vì không thấu hiểu Sắc …

cảm giác …

nhận thức …

hành …

thức …"

III. Không Hiện Quán** (anabhisamaya) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không hiện quán năm uẩn”).

SN 33.16–20 Năm Bài Kinh về Không Hiểu Rõ Sắc, v.v. Rūpaananubodhādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

"Này Vaccha, chính vì không hiểu rõ Sắc …

cảm giác …

nhận thức …

hành …

thức …"

IV. Không Liễu Tri** (anubodha) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không liễu tri năm uẩn”)

SN 33.21–25 Năm Bài Kinh về Không Thâm Nhập Sắc, v.v. Rūpaappaṭivedhādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không thâm nhập Sắc …”

V. Không Thông Ðạt (appativebha) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không thông đạt năm uẩn”)

SN 33.26–30 Năm Bài Kinh về Không Phân Biệt Sắc, v.v. Rūpaasallakkhaṇādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không phân biệt Sắc …”

VI. Không Ðẳng Quán (asallakkhana) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không đẳng quán năm uẩn”)

SN 33.31–35 Năm Bài Kinh về Không Nhận Ra Sắc, v.v. Rūpaanupalakkhaṇādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không nhận ra Sắc …”

VII. Không Tùy Quán (anupalakkhana) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không tùy quán năm uẩn”)

SN 33.36–40 Năm Bài Kinh về Không Phân Định Sắc, v.v. Rūpaappaccupalakkhaṇādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không phân định Sắc …”

VIII. Không Cận Quán (appaccupalakkhana) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không cận quán năm uẩn”)

SN 33.41–45 Năm Bài Kinh về Không Xem Xét Sắc, v.v. Rūpaasamapekkhaṇādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không xem xét Sắc …”

IX. Không Ðẳng Sát (asamapekkana) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không đẳng sát năm uẩn”).

SN 33.46–50 Năm Bài Kinh về Không Quán Xét Sắc, v.v. Rūpaappaccupekkhaṇādisuttapañcaka

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không quán xét Sắc …”

X. Không Cận Sát (appaccupekkhana) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không cận sát năm uẩn”)

SN 33.51–54 Bốn Bài Kinh về Không Trực Tiếp Trải Nghiệm Sắc, v.v. Rūpaappaccakkhakammādisuttacatukka

Tại Xá-vệ.

Khi ấy, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, do đâu, vì sao mà các loại tà kiến này lại phát sinh trên thế gian? …”

"Này Vaccha, chính vì không trực tiếp trải nghiệm Sắc …

cảm giác …

nhận thức …

hành …"

XI. Không Hiện Kiến (appaccakkhakamma) (1-5)

(Như trên, ở đây là “không hiện kiến năm uẩn”)

-ooOoo-

SN 33.55 Không Trực Tiếp Trải Nghiệm Thức Viññāṇaappaccakkhakammasutta

Tại Xá-vệ.

“Này Vaccha, chính vì không trực tiếp trải nghiệm thức, sự sinh khởi của nó, sự đoạn diệt của nó, và con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của nó mà các loại tà kiến này phát sinh trên thế gian. Đây là nguyên nhân, đây là lý do.”