Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng về Sáu Trường Giác Quan

Năm mươi bài kinh đầu tiên

35. TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ

Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất

Chương về Vô Thường

SN 35.1 Nội tại là Vô thường Ajjhattāniccasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật ở gần thành Sāvatthī, tại Tịnh xá Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”

“Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Này các Tỷ kheo, mắt là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã (not-self / không có một cái ‘tôi’ hay ‘tự ngã’ thường hằng). Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến (right understanding / sự hiểu biết đúng đắn) như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Tai là vô thường. …

Mũi là vô thường. …

Lưỡi là vô thường. …

Thân là vô thường. …

Trí não là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn (learned noble disciple / người đệ tử cao quý có học thức rộng) trở nên nhàm chán (grows disillusioned / yếm ly / không còn hứng thú hay bám víu) với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát (freed / được tự do khỏi mọi ràng buộc). Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh (the spiritual journey / đời sống tâm linh) đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

I. Phẩm Vô Thường

1.I. Vô Thường (1) Nội (S. iv.1)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “− Này các Tỷ-kheo” − “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Thế Tôn nói như sau:

− Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4. Tai là vô thường…

5. Mũi là vô thường…

6. Lưỡi là vô thường…

7. Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.2 Nội tại là Khổ Ajjhattadukkhasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy như vậy … Họ hiểu rằng: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

2.II. Khổ (1) Nội (S.iv,1)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Tai là khổ… Mũi là khổ… Lưỡi là khổ… Thân là khổ…

8. Ý là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo… “… không còn trở lại trạng thái này nữa”.

SN 35.3 Nội tại là Vô ngã Ajjhattānattasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy như vậy … Họ hiểu rằng: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

3.III. Vô Ngã (1) Nội (S.iv,2)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Tai là vô ngã… Mũi là vô ngã… Lưỡi là vô ngã… Thân là vô ngã…

8. Ý là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.4 Ngoại tại là Vô thường Bāhirāniccasutta

"Này các Tỷ kheo, cảnh sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, vàý nghĩ là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, và ý nghĩ. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

4.IV. Vô Thường (2) Ngoại (S.iv,2)

1-2. …

3. − Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.5 Ngoại tại là Khổ Bāhiradukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, cảnh sắc là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ …”

5.V. Khổ (2) Ngoại (S.iv.3)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái nầy nữa”.

SN 35.6 Ngoại tại là Vô ngã Bāhirānattasutta

“Này các Tỷ kheo, cảnh sắc là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ …”

6.VI. Vô Ngã (2) Ngoại (S.iv.3)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.7 Nội tại là Vô thường trong Ba Thời Ajjhattāniccātītānāgatasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt trong quá khứ và tương lai là vô thường, huống chi là hiện tại.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn không lo lắng về mắt của quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ mắt trong tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham (dispassion / lòng tham nhạt dần), và đoạn diệt đối với mắt trong hiện tại.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não trong quá khứ và tương lai là vô thường, huống chi là hiện tại.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn không lo lắng về trí não của quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ trí não trong tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với trí não trong hiện tại."

7.VII. Vô Thường (3) Nội (S.iv.4)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không còn hoan hỷ đối với mắt tương lai; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Tai là vô thường… Mũi là vô thường… Lưỡi là vô thường… Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai ; đối với ý hiện tại đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.8 Nội tại là Khổ trong Ba Thời Ajjhattadukkhātītānāgatasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt trong quá khứ và tương lai là khổ, huống chi là hiện tại.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn không lo lắng về mắt của quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ mắt trong tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với mắt trong hiện tại. …"

8.VIII. Khổ (3) Nội (S.iv,4)

1-2. …

3-7. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không hoan hỷ đối với mắt tương lai ; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt…

Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là khổ, kể cả ý quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai ; đối với ý hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.9 Nội tại là Vô ngã trong Ba Thời Ajjhattānattātītānāgatasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt trong quá khứ và tương lai là vô ngã, huống chi là hiện tại.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn không lo lắng về mắt của quá khứ, họ không mong chờ hưởng thụ mắt trong tương lai, và họ thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với mắt trong hiện tại. …"

9.IX. Vô Ngã (3) Nội (S.iv,4)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không có hoan hỷ đối với mắt vị lai; đối với mắt hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là vô ngã, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (ý) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không hoan hỷ đối với ý vị lai ; đối với ý hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.10 Ngoại tại là Vô thường trong Ba Thời Bāhirāniccātītānāgatasutta

“Này các Tỷ kheo, cảnh sắc của quá khứ và tương lai là vô thường, huống chi là hiện tại. …”

10.X. Vô Thường (4) Ngoại (S.iv,5)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai ; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.11 Ngoại tại là Khổ trong Ba Thời Bāhiradukkhātītānāgatasutta

“Này các Tỷ kheo, cảnh sắc của quá khứ và tương lai là khổ, huống chi là hiện tại. …”

11.XI. Khổ (4) Ngoại (S.iv,5)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với các sắc tương lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

SN 35.12 Ngoại tại là Vô ngã trong Ba Thời Bāhirānattātītānāgatasutta

“Này các Tỷ kheo, cảnh sắc của quá khứ và tương lai là vô ngã, huống chi là hiện tại. …”

12.XII. Vô Ngã (4) Ngoại (S.iv,6)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với sắc vị lai ; đối với các sắc hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai ; đối với các pháp hiện tại, đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

Chương về Các Cặp

SN 35.13 Trước Khi Ta Giác Ngộ (Nội tại) Paṭhamapubbesambodhasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—Ta đã nghĩ: ‘Đâu là vị ngọt (gratification / sự hấp dẫn, sự thỏa mãn), sự nguy hại (drawback / tác hại, mặt trái), và sự xuất ly (escape / lối thoát, sự giải thoát khỏi) đối với mắt … tai … mũi … lưỡi … thân … và trí não?’

Rồi Ta nghĩ: 'Sự an vui và hạnh phúc khởi lên từ mắt: đây là vị ngọt của nó. Mắt là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ ham muốn và tham lam đối với mắt: đây là sự xuất ly của nó.

Sự an vui và hạnh phúc khởi lên từ tai … mũi … lưỡi … thân … trí não: đây là vị ngọt của nó. Trí não là vô thường, khổ, và có thể hoại diệt: đây là sự nguy hại của nó. Loại bỏ và từ bỏ ham muốn và tham lam đối với trí não: đây là sự xuất ly của nó.’

Chừng nào Ta chưa thật sự hiểu rõ sáu nội xứ này, về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng đúng như bản chất của chúng, Ta chưa tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối cao) của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn (ascetics / những người tu hành khổ hạnh) và bà la môn (brahmins / giai cấp tu sĩ Bà-la-môn giáo), các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã thật sự hiểu rõ sáu nội xứ này, về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng đúng như bản chất của chúng, Ta đã tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Tri và kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn tái sanh nữa.’"

II. Phẩm Song Ðôi

13.I. Chánh Giác (1) (S.iv,6)

1. Sàvatthi…

2. − Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồtát, Ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của mắt? Cái gì là vị ngọt… của tai? Cái gì là vị ngọt… của mũi? Cái gì là vị ngọt… của lưỡi? Cái gì là vị ngọt… của thân? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của ý?”

3-7. Này các Tỷ-kheo, về vấn đề này Ta suy nghĩ như sau: "Do duyên với mắt, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của mắt. Mắt vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của mắt. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với mắt là xuất ly của mắt… của tai… của mũi… của lưỡi… của thân…

8. Do duyên với ý, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của ý. Ý vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của ý. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với ý là xuất ly của ý".

9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

10. Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm và xuất ly là xuất ly, thời khi ấy, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

11. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.14 Trước Khi Ta Giác Ngộ (Ngoại tại) Dutiyapubbesambodhasutta

“Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—Ta đã nghĩ: ‘Đâu là vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly đối với cảnh sắc … âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … và ý nghĩ?’ …”

14.II. Chánh Giác (2) (S.iv,8)

1. …

2. − Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồtát, Ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của các sắc?.. của các tiếng… của các hương… của các vị… của các xúc? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của các pháp?”

3. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Do duyên các sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của các sắc. Các sắc vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của các sắc. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với các sắc, đấy là xuất ly của các sắc.

4-7. … các tiếng… các hương… các vị… các xúc…

8. Do duyên các pháp, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của các pháp. Các pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của các pháp. Nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với các pháp, đấy là xuất ly của các pháp".

9-10. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-lamôn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác… Ta xác chứng Ta đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

11. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.15 Tìm Kiếm Vị Ngọt (Nội tại) Paṭhamaassādapariyesanasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của mắt, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ vị ngọt của mắt. Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của mắt, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự nguy hại của mắt. Ta đã đi tìm kiếm sự xuất ly khỏi mắt, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự xuất ly khỏi mắt.

Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ vị ngọt của trí não. Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của trí não, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự nguy hại của trí não. Ta đã đi tìm kiếm sự xuất ly khỏi trí não, và Ta đã tìm thấy nó. Ta đã thấy rõ bằng trí tuệ toàn bộ sự xuất ly khỏi trí não.

Chừng nào Ta chưa thật sự hiểu rõ sáu nội xứ này, về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng đúng như bản chất của chúng, Ta chưa tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình …

Nhưng khi Ta đã thật sự hiểu rõ …

Tri và kiến khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng của Ta; nay không còn tái sanh nữa.’"

15.III. Vị NGọt (1) (S.iv,8)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của mắt. Có vị ngọt nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của mắt. Có nguy hiểm nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ- kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của mắt. Có xuất ly nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

3-6. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của tai… của mũi… của lưỡi… của thân…

7. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của ý. Có vị ngọt nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của ý. Có nguy hiểm nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của ý. Có xuất ly nào của ý, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của ý như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là sự xuất ly…

10. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.16 Tìm Kiếm Vị Ngọt (Ngoại tại) Dutiyaassādapariyesanasutta

“Này các Tỷ kheo, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của cảnh sắc, và Ta đã tìm thấy nó. …”

16.IV. Vị NGọt (2) (S.iv,9)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các sắc. Có vị ngọt nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các sắc. Có nguy hiểm nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

3-6. …các tiếng… các hương… các vị… các xúc…

7. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp. Có vị ngọt nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các pháp. Có nguy hiểm nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

8-9. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly…

10. Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

SN 35.17 Nếu Không Có Vị Ngọt (Nội tại) Paṭhamanoceassādasutta

"Này các Tỷ kheo, nếu không có vị ngọt trong mắt, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì có vị ngọt trong mắt, chúng sanh bị kích thích bởi nó. Nếu mắt không có sự nguy hại, chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì mắt có sự nguy hại, chúng sanh nhàm chán với nó. Nếu không có sự xuất ly khỏi mắt, chúng sanh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có sự xuất ly khỏi mắt, chúng sanh thoát khỏi nó.

Nếu không có vị ngọt trong tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi nó. Nhưng vì có vị ngọt trong trí não, chúng sanh bị kích thích bởi nó. Nếu trí não không có sự nguy hại, chúng sanh sẽ không nhàm chán với nó. Nhưng vì trí não có sự nguy hại, chúng sanh nhàm chán với nó. Nếu không có sự xuất ly khỏi trí não, chúng sanh sẽ không thoát khỏi nó. Nhưng vì có sự xuất ly khỏi trí não, chúng sanh thoát khỏi nó.

Chừng nào chúng sanh chưa thật sự hiểu rõ sáu nội xứ này, về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng đúng như bản chất của chúng, họ chưa thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người—và họ không sống không dính mắc (detached / không bám víu, không ràng buộc), giải thoát, với một tâm vô lượng (mind free of limits / tâm không bị giới hạn).

Nhưng khi chúng sanh thật sự hiểu rõ sáu nội xứ này, về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng đúng như bản chất của chúng, họ đã thoát khỏi thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người—và họ sống không dính mắc, giải thoát, với một tâm vô lượng."

17.V. Nếu Không Có (1) (S.iv,10)

1. …

2. − Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.

3. Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.

4. Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.

5-7. Nếu tai không có vị ngọt…

8-10. Nếu mũi không có vị ngọt…

11-13. Nếu lưỡi không có vị ngọt…

14-16. Nếu thân không có vị ngọt…

17. Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.

18. Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.

19. Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.

20. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh ấy cùng với các thế giới (như) Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.

21. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh cùng với các thế giới (như) Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.

SN 35.18 Nếu Không Có Vị Ngọt (Ngoại tại) Dutiyanoceassādasutta

“Này các Tỷ kheo, nếu không có vị ngọt trong cảnh sắc, chúng sanh sẽ không bị kích thích bởi chúng. …”

18.VI. Nếu Không Có (2) (S.iv,12)

(Như Kinh trước, chỉ thế vào sáu ngoại xứ: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp, thay cho sáu nội xứ của Kinh trước)

SN 35.19 Hoan Hỷ (Nội tại) Paṭhamābhinandasutta

"Này các Tỷ kheo, nếu các ông hoan hỷ với mắt, các ông hoan hỷ với khổ. Nếu các ông hoan hỷ với khổ, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi khổ.

Nếu các ông hoan hỷ với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, các ông hoan hỷ với khổ. Nếu các ông hoan hỷ với khổ, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi khổ.

Nếu các ông không hoan hỷ với mắt, các ông không hoan hỷ với khổ. Nếu các ông không hoan hỷ với khổ, Ta nói rằng các ông thoát khỏi khổ.

Nếu các ông không hoan hỷ với tai … mũi … lưỡi … thân … ý, các ông không hoan hỷ với khổ. Nếu các ông không hoan hỷ với khổ, Ta nói rằng các ông thoát khỏi khổ."

19.VII. Với Ưa Thích (1) (S.iv,13)

1. …

2. − Ai ưa thích mắt, này các Tỷ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai ưa thích tai… mũi… lưỡi… thân… Ai ưa thích ý, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

3. Và ai không ưa thích mắt, này các Tỷ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích tai… mũi… lưỡi… thân… Ai không ưa thích ý, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

SN 35.20 Hoan Hỷ (Ngoại tại) Dutiyābhinandasutta

“Này các Tỷ kheo, nếu các ông hoan hỷ với cảnh sắc, các ông hoan hỷ với khổ. Nếu các ông hoan hỷ với khổ, Ta nói rằng các ông không thoát khỏi khổ. …”

20.VIII. Ưa Thích (2) (S.iv,13)

1. …

2.− Ai ưa thích các sắc, này các Tỷ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai ưa thích các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

3. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỷ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

SN 35.21 Sự Khởi Sanh của Khổ (Nội tại) Paṭhamadukkhuppādasutta

"Này các Tỷ kheo, sự khởi sanh, tiếp diễn, tái sanh, và biểu hiện của mắt là sự khởi sanh của khổ, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết. Sự khởi sanh, tiếp diễn, tái sanh, và biểu hiện của tai … mũi … lưỡi … thân … và trí não là sự khởi sanh của khổ, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết.

Sự đoạn diệt, an tịnh, và chấm dứt của mắt là sự đoạn diệt của khổ, sự an tịnh của bệnh tật, và sự chấm dứt của già và chết. Sự đoạn diệt, an tịnh, và chấm dứt của tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là sự đoạn diệt của khổ, sự an tịnh của bệnh tật, và sự chấm dứt của già và chết."

21.IX. Sanh Khổ (1) (S.iv,14)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, mắt sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

3-6. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

7. Ý sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, già chết xuất hiện.

8. Và này các Tỷ-kheo, mắt đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

9-13… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

SN 35.22 Sự Khởi Sanh của Khổ (Ngoại tại) Dutiyadukkhuppādasutta

"Này các Tỷ kheo, sự khởi sanh, tiếp diễn, tái sanh, và biểu hiện của cảnh sắc là sự khởi sanh của khổ, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết. Sự khởi sanh, tiếp diễn, tái sanh, và biểu hiện của âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là sự khởi sanh của khổ, sự tiếp diễn của bệnh tật, và sự biểu hiện của già và chết.

Sự đoạn diệt, an tịnh, và chấm dứt của cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm, vàý nghĩ là sự đoạn diệt của khổ, sự an tịnh của bệnh tật, và sự chấm dứt của già và chết."

22.X. Sự SanhKhởi (2) (S.iv,14)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, các sắc sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

3-4. Các tiếng… Các hương…

5-6. Các vị… Các xúc…

7. Các pháp sanh khởi, chỉ trú, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật chỉ trú, già chết xuất hiện.

8. Và này các Tỷ-kheo, các sắc đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết tận diệt.

9-12. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

13. Các pháp đoạn diệt, chỉ tức, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chỉ tức, già chết diệt tận.

Chương về Tất Cả

SN 35.23 Tất Cả Sabbasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về tất cả (the all / sabba / toàn bộ mọi thứ). Hãy lắng nghe …

Và tất cả là gì? Đó chỉ là mắt và cảnh sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị, thân và xúc chạm, và trí não và ý nghĩ. Đây được gọi là tất cả.

Này các Tỷ kheo, giả sử có người nói: ‘Tôi sẽ bác bỏ tất cả này và mô tả một tất cả khác.’ Họ sẽ không có cơ sở cho điều đó, họ sẽ bị bối rối bởi các câu hỏi, và hơn nữa, họ sẽ trở nên bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì họ đã vượt ngoài phạm vi hiểu biết của họ."

III. Phẩm Tất Cả

23.I. Tất Cả (S.iv,15)

1. Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng ; mũi và các hương; lưỡi và các vị ; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.

4. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác ", thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!

SN 35.24 Từ Bỏ Pahānasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguyên tắc để từ bỏ tất cả. Hãy lắng nghe …

Và nguyên tắc để từ bỏ tất cả là gì? Mắt nên được từ bỏ. Cảnh sắc nên được từ bỏ. Mắt thức (eye consciousness / cái biết của mắt) nên được từ bỏ. Mắt xúc (eye contact / sự tiếp xúc của mắt) nên được từ bỏ. Cảm giác (feeling / thọ) đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng nên được từ bỏ.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não nên được từ bỏ. Ý nghĩ nên được từ bỏ. Ý thức (mind consciousness / cái biết của ý) nên được từ bỏ. Ý xúc (mind contact / sự tiếp xúc của ý) nên được từ bỏ. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên nên được từ bỏ.

Đây là nguyên tắc để từ bỏ tất cả."

24.II. Ðoạn Tận (1) (S.iv,15)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến đoạn tận tất cả?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận. Các sắc cần phải đoạn tận. Nhãn thức cần phải đoạn tận. Nhãn xúc cần phải đoạn tận. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận. Tai… Mũi…

7-8. Lưỡi cần phải đoạn tận. Các vị cần phải đoạn tận. Thiệt thức cần phải đoạn tận, thiệt xúc cần phải đoạn tận. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả.

SN 35.25 Từ Bỏ Bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn Abhiññāpariññāpahānasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguyên tắc để từ bỏ tất cả bằng hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / sự hiểu biết trực tiếp) và hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / sự hiểu biết toàn diện). Hãy lắng nghe …

Và nguyên tắc để từ bỏ tất cả bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn là gì? Mắt nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Cảnh sắc nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Mắt thức nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Mắt xúc nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn.Ý nghĩ nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Ý thức nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Ý xúc nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên nên được từ bỏ bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn.

Đây là nguyên tắc để từ bỏ tất cả bằng hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn."

25.III. Ðoạn Tận (2) (S.iv,16)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri (abhinnàparinnà). Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các sắc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Nhãn xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Tai… Mũi…

7-8. Lưỡi cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các vị cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Thiệt xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

9. Ý cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Các pháp cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý thức cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Ý xúc cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận nhờ thắng tri, liễu tri.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri.

SN 35.26 Không Hiểu biết hoàn toàn (Thứ nhất) Paṭhamaaparijānanasutta

"Này các Tỷ kheo, không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tất cả, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ. Và tất cả là gì, mà không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ?

Không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn mắt, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ. Không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ. Không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn ý nghĩ … ý thức … ý xúc … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Đây là tất cả, mà không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tất cả, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ. Và tất cả là gì, mà biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ?

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn mắt … tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ. Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn ý nghĩ … ý thức … ý xúc … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ.

Đây là tất cả, mà biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ."

26.IV. Liễu Tri (1) (Parjànàna) (S.iv,17)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

3. Và này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?

4-6. Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt, thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc, thời không có thể đoạn tận khổ đau… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

Không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp… ý thức… ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

10. Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái ấy, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

11. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả, thời có thể đoạn tận khổ đau.

12. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái gì thời có thể đoạn tận khổ đau?

13-15. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ mắt, thời có thể đoạn tận khổ đau ; thắng tri, liễu tri… các sắc… nhãn thức… nhãn xúc… có thể đoạn tận khổ đau. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ cảm thọ ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau… tai… các tiếng… tỷ thức… tỷ xúc… Cảm thọ do duyên tỷ xúc…

16-17… lưỡi… các vị… thiệt thức… thiệt xúc… cảm thọ do duyên thiệt xúc… thân… các xúc… thân thức… thân xúc… cảm thọ do duyên thân xúc…

18. Thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ ý, thời có thể đoạn tận khổ đau… các pháp… ý thức… ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ cảm thọ ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

19. Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.27 Không Hiểu biết hoàn toàn (Thứ hai) Dutiyaaparijānanasutta

"Này các Tỷ kheo, không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tất cả, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ. Và tất cả là gì, mà không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ?

Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Trí não, ý nghĩ, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức.

Đây là tất cả, mà không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tất cả, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ. Và tất cả là gì, mà biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ?

Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Trí não, ý nghĩ, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức.

Đây là tất cả, mà biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn nó, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ."

27.V. Liễu Tri (2) (S.iv,18)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.

3. Và này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?

4-6. Chính là mắt, là các sắc, là nhãn thức, là các pháp do nhãn thức nhận biết… tai… mũi…

7-8. Chính là lưỡi, là các vị, là thiệt thức,là các pháp do thiệt thức nhận biết…

9. Chính là thân, là các xúc, là thân thức, là các pháp do thân nhận biết…

10. Và chính là ý, là các pháp, là ý thức, là các pháp do ý thức nhận biết…

11. Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái ấy, nên không có thể đoạn tận khổ đau.

12. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái gì thời có thể đoạn tận khổ đau?

13-15. Chính là mắt, chính là các sắc, chính là nhãn thức, chính là các pháp do nhãn thức nhận biết… chính là tai… chính là mũi…

16-17. Chính là lưỡi, chính là các vị, chính là thiệt thức, chính là các pháp do thiệt thức nhận biết…

18. Chính là ý, chính là các pháp, chính là ý thức, chính là các pháp do ý thức nhận biết.

19. Này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.28 Bốc Cháy Ādittasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Gayā trên đỉnh Gayā cùng với một ngàn Tỷ kheo. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, tất cả đang bốc cháy. Và tất cả đang bốc cháy là gì?

Mắt đang bốc cháy. Cảnh sắc đang bốc cháy. Mắt thức đang bốc cháy. Mắt xúc đang bốc cháy. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng đang bốc cháy. Bốc cháy với gì? Bốc cháy với ngọn lửa của tham, sân, và si (delusion / sự mê mờ, không thấy rõ sự thật). Bốc cháy với sanh, già, và chết, với sầu, bi, khổ, ưu, và não.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Trí não đang bốc cháy. Ý nghĩ đang bốc cháy. Ý thức đang bốc cháy. Ý xúc đang bốc cháy. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng đang bốc cháy. Bốc cháy với gì? Bốc cháy với ngọn lửa của tham, sân, và si. Bốc cháy với sanh, già, và chết, với sầu, bi, khổ, ưu, và não, Ta nói.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, tâm của một ngàn Tỷ kheo đã được giải thoát khỏi các phiền não (defilements / lậu hoặc / những ô nhiễm tinh thần) do không bám giữ (not grasping / vô chấp thủ).

28.VI. Bị Bốc Cháy (S.iv,19)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasiisa cùng với một ngàn Tỷ-kheo.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Và này các Tỷ-kheo, tất cả cái gì đều bị bốc cháy?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân,lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưa, não… Tai… Mũi…

6-7. Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy. Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não… Thân…

8. Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… đối với tai… đối với mũi… đối với lưỡi… đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa”.

10. Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

11. Và trong khi lời giải đáp này được nói lên, tâm của một ngàn Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 35.29 Bị Áp Bức Addhabhūtasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, tất cả đều bị áp bức. Và tất cả bị áp bức là gì?

Mắt bị áp bức. Cảnh sắc bị áp bức. Mắt thức bị áp bức. Mắt xúc bị áp bức. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng bị áp bức. Bị áp bức bởi gì? Bị áp bức bởi ngọn lửa của tham, sân, và si. Bị áp bức bởi sanh, già, và chết, bởi sầu, bi, khổ, ưu, và não, Ta nói.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não bị áp bức. Trí não nghĩ bị áp bức. Trí não thức bị áp bức. Trí não xúc bị áp bức. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng bị áp bức. Bị áp bức bởi gì? Bị áp bức bởi tham, sân, và si. Bị áp bức bởi sanh, già, và chết, bởi sầu, bi, khổ, ưu, và não, Ta nói.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

29.VII. Mù Lòa (S.iv,20)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ-kheo, cái gì mù lòa?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não… Tai… Mũi…

6. Lưỡi là mù lòa. Các vị là mù lòa. Thiệt thức là mù lòa. Thiệt xúc là mù lòa. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não.

7. Thân là mù lòa…

8. Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.30 Pháp Hành Thích Hợp để Nhổ Bỏ Samugghātasāruppasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông pháp hành thích hợp để nhổ bỏ mọi ảo tưởng (conceiving / hình thành trong đầu, nghĩ ra, tưởng tượng). Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói. …

Và pháp hành thích hợp để nhổ bỏ mọi ảo tưởng là gì?

Đó là khi một Tỷ kheo không ảo tưởng bất cứ điều gì là mắt, không ảo tưởng nó trong mắt, không ảo tưởng nó như là mắt, và không ảo tưởng rằng ‘mắt là của tôi.’ Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảnh sắc, họ không ảo tưởng nó trong cảnh sắc, họ không ảo tưởng nó như là cảnh sắc, và họ không ảo tưởng rằng ‘cảnh sắc là của tôi.’ Họ không ảo tưởng mắt thức … mắt xúc … Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên. Họ không ảo tưởng nó trong đó, họ không ảo tưởng nó như là đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Họ không ảo tưởng nó trong đó, họ không ảo tưởng nó như là đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là tất cả, họ không ảo tưởng nó trong tất cả, họ không ảo tưởng nó như là tất cả, và họ không ảo tưởng rằng ‘tất cả là của tôi.’ Không ảo tưởng, họ không bám giữ vào bất cứ điều gì trên đời. Không bám giữ, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình đạt Niết-bàn (personally become extinguished / tự mình chứng ngộ sự dập tắt hoàn toàn khổ đau).

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

Đây là pháp hành thích hợp để nhổ bỏ mọi ảo tưởng."

30.VIII Thích Hợp (1) (Sàruppa) (S.iv,21)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: “Các sắc là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường: “Nhãn thức là của ta”. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, không tư lường trên nhãn xúc, không tư lường từ nhãn xúc, không tư lường: “Nhãn xúc là của ta”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy của ta”… Tai… Mũi…

7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường trên các vị, không tư lường từ các vị, không tư lường: “Các vị là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt thức, không tư lường trên thiệt thức, không tư lường từ thiệt thức, không tư lường: “Thiệt thức là của ta”. Vị ấy không tư lường thiệt xúc, không tư lường trên thiệt xúc, không tư lường từ thiệt xúc, không tư lường: “Thiệt xúc là của ta”. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”.

9. … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường trên các pháp, không tư lường từ các pháp, không tư lường: “Các pháp là của ta”. Vị ấy không tư lường ý thức, không tư lường trên ý thức, không tư lường từ ý thức, không tư lường: “Ý thức là của ta”. Vị ấy không tư lường ý xúc, không tư lường trên ý xúc, không tư lường từ ý xúc, không tư lường: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, từ đấy cái ấy bị đổi khác. Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh.

10. Cho đến các uẩn, giới, xứ, này các Tỷ-kheo, vị ấy không tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không tư lường như vậy nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ nên không ái luyến. Do không ái luyến nên tự mình được hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

SN 35.31 Pháp Hành Dẫn đến Nhổ Bỏ (Thứ nhất) Paṭhamasamugghātasappāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng. Hãy lắng nghe …

Và pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng là gì? Đó là khi một Tỷ kheo không ảo tưởng bất cứ điều gì là mắt, không ảo tưởng nó trong mắt, không ảo tưởng nó như là mắt, và không ảo tưởng rằng ‘mắt là của tôi.’ Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc. Và họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên. Họ không ảo tưởng nó trong đó, họ không ảo tưởng nó như là đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Vì bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó là, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó trong, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó như, và bất cứ điều gì ông ảo tưởng là ‘của tôi’: điều đó trở thành một cái khác. Thế giới dính mắc vào sự tồn tại, chỉ hoan hỷ trong sự tồn tại, nhưng rồi nó lại trở thành một cái khác.

Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … Họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Họ không ảo tưởng nó trong đó, họ không ảo tưởng nó như là đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Vì bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó là, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó trong, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó như, và bất cứ điều gì ông ảo tưởng là ‘của tôi’: điều đó trở thành một cái khác. Thế giới dính mắc vào sự tồn tại, chỉ hoan hỷ trong sự tồn tại, nhưng rồi nó lại trở thành một cái khác.

Cho đến khi các uẩn (aggregates / năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sanh), giới (elements / các yếu tố cơ bản của thực tại), và xứ (sense fields / các trường của giác quan) còn mở rộng, họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cái đó, họ không ảo tưởng nó trong cái đó, họ không ảo tưởng nó như là cái đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘cái đó là của tôi.’ Không ảo tưởng, họ không bám giữ vào bất cứ điều gì trên đời. Không bám giữ, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình đạt Niết-bàn.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

Đây là pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng."

31.IX. Thích Hợp (2) (S.iv,23)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc… không tư lường nhãn thức… không tư lường nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu…

7-8. … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường thiệt thức, không tư lường thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy laụ của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

9. … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

10. Này các Tỷ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

SN 35.32 Pháp Hành Dẫn đến Nhổ Bỏ (Thứ hai) Dutiyasamugghātasappāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng. Hãy lắng nghe …

Và pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng là gì?

Các ông nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.” …

"Tai … mũi … lưỡi …

thân … trí não …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân … Họ trở nên nhàm chán với trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Đây là pháp hành dẫn đến nhổ bỏ mọi ảo tưởng."

32.X. Thích Hợp (3) (S,iv,24)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

−… Tai… Các tiếng… Nhĩ thức… Nhĩ xúc…

… Mũi… Các hương… Tỷ thức… Tỷ xúc…

7-8. … Thiệt… Các vị… Thiệt thức… Thiệt xúc…

… Thân… Các xúc… Thân thức… Thân xúc…

9. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… đối với tai… đối với mũi… đối với với lưỡi… đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

Chương về Có Thể Tái Sanh

SN 35.33–42 Mười Bài Kinh về Có Thể Tái Sanh, v.v. Jātidhammāsutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, tất cả đều có tái sanh pháp (liable to be reborn / có bản chất phải tái sinh). Và tất cả có sanh pháp là gì? Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là có sanh pháp. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng là có sanh pháp.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là có sanh pháp. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng là có sanh pháp.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán … Họ hiểu rằng: ‘… không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có lão pháp (liable to grow old / có bản chất phải già đi). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có bệnh pháp (liable to fall sick / có bản chất phải bệnh tật). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có tử pháp (liable to die / có bản chất phải chết). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có sầu pháp (liable to sorrow / có bản chất phải sầu muộn). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có nhiễm ô pháp (liable to be corrupted / có bản chất bị ô nhiễm). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có tận pháp (liable to end / có bản chất phải chấm dứt). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có diệt pháp (liable to vanish / có bản chất phải tan biến). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có sanh khởi pháp (liable to originate / có bản chất phải sinh khởi). …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều có đình chỉ pháp (liable to cease / có bản chất phải ngừng lại). …”

IV. Phẩm Sanh Pháp

33.I. Sanh (S.iv,26)

1. Sàvatthi. Tại đấy…

2. − Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả phải bị sanh?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh… Tai… Mũi…

6-7. … Lưỡi… Thân…

8. Ý phải bị sanh. Các pháp phải bị sanh. Ý thức phải bị sanh. Ý xúc phải bị sanh. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh.

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

34.II. Bị Già (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già…

35.III. Bị Bệnh (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị bệnh…

36.IV. Bị Chết (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị chết…

37.V. Bị Sầu (S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị sầu…

38.VI. Bị Phiền Não ( S.iv,27)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị phiền não…

39.VII. Bị Ðoạn Tận (khaya) (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn tận…

40.VIII. Bị Tiêu Diệt (Vaya) (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tiêu diệt…

41.IX. Tập Khởi (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị tập khởi…

42.X. Ðoạn Diệt (S.iv,28)

− Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị đoạn diệt…

Chương về Tất Cả là Vô Thường

SN 35.43–51 Chín Bài Kinh về Vô Thường, v.v. Aniccādisuttanavaka

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, tất cả là vô thường. Và tất cả là vô thường là gì? Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là vô thường. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng là vô thường.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng là vô thường.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán …

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

“Này các Tỷ kheo, tất cả là khổ. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả là vô ngã. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả cần được hiểu biết trực tiếp. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả cần được hiểu biết hoàn toàn. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả cần được từ bỏ. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả cần được chứng ngộ. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả cần được hiểu biết trực tiếphiểu biết hoàn toàn. …”

“Này các Tỷ kheo, tất cả đều phiền muộn. …”

V. Phẩm Vô Thường

43.I. Vô Thường (S.iv,28)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Tất cả, này các Tỷ-kheo, là vô thường…

44.II. Khổ… (S.iv,28)

45.III. Vô Ngã… (S.iv,28)

46.IV. Cần Phải Thắng Tri… (abhinneyyam) (S.iv,29)

47.V. Cần Phải Liễu Tri… (parinneyyam) (S.iv,29)

48.VI. Cần Phải Ðoạn Tận… (S.iv,29)

49. VII. Cần Phải Chứng Ngộ… (sacchikàtabbam)(S.iv,29)

50.VIII. Cần Phải Thắng Tri, Liễu Tri… (abhinnà parinneyyam) (S.iv,29)

51.IX. Bị Phiền Lụy… (upadduta) (S.iv,29)

SN 35.52 Bị Rối Loạn Upassaṭṭhasutta

"Này các Tỷ kheo, tất cả đều bị rối loạn. Và tất cả bị rối loạn là gì? Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc bị rối loạn. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng bị rối loạn.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc bị rối loạn. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng bị rối loạn.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán …

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Năm mươi bài kinh thứ hai

52.X. Bị Áp Ðảo… (upassattha) (S.iv,29)

1. …

2. − Tất cả, này các Tỷ-kheo, bị áp đảo. Và này các Tỷ-kheo, cái gì bị áp đảo?

3-5. Mắt, này các Tỷ-kheo, bị áp đảo. Các sắc bị áp đảo. Nhãn thức bị áp đảo. Nhãn xúc bị áp đảo. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị áp đảo… Tai… Mũi…

5-6. Lưỡi… Thân…

7. Ý bị áp đảo. Các pháp bị áp đảo. Ý thức bị áp đảo. Ý xúc bị áp đảo. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị áp đảo.

8. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai

Chương về Vô Minh

SN 35.53 Từ Bỏ Vô Minh Avijjāpahānasutta

Tại Sāvatthī.

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để từ bỏ vô minh (ignorance / sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế) và làm khởi sanh minh (knowledge / sự hiểu biết, trí tuệ)?”

"Này Tỷ kheo, khi biết và thấy mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh. Và cũng khi biết và thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh.

Khi biết và thấy tai … mũi … lưỡi … thân …

Khi biết và thấy trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh. Và cũng khi biết và thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh.

Đó là cách biết và thấy để từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh."

I. Phẩm Vô Minh

Nhân duyên ở Sàtthi.

53.I. Vô Minh (S.iv,30)

1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

4. − Này Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi. Do biết, do thấy các sắc là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Do biết, do thấy ý là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.54 Từ Bỏ Xiềng Xích Saṁyojanappahānasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các xiềng xích (The fetters / kiết sử / dịch là ‘cái cùm’, ‘xiềng xích’, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) được từ bỏ?”

“Này Tỷ kheo, khi biết và thấy mắt là vô thường, các xiềng xích được từ bỏ …”

54.II Kiết Sử (1) (S.iv,31)

1. …

3.− Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được đoạn tận?

4-9. − Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô thường, các kiết sử được đoạn tận… Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô thường, các kiết sử được đoạn tận.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được đoạn tận.

SN 35.55 Nhổ Bỏ các Xiềng Xích Saṁyojanasamugghātasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các xiềng xích được nhổ bỏ?”

“Này Tỷ kheo, khi biết và thấy mắt là vô ngã, các xiềng xích được nhổ bỏ …”

55.III. Kiết Sử (2) (S.iv,31)

1-2. …

3. − Do biết như thế nào, bạch Thế Tôn, do thấy như thế nào, các kiết sử được nhổ sạch?

4-6. − Này các Tỷ-kheo, do biết, do thấy mắt là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch… Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc ; do biết, do thấy cảm thọ ấy là vô ngã, các kiết sử được nhổ sạch.

10. Do biết như vậy, này các Tỷ-kheo, do thấy như vậy, các kiết sử được nhổ sạch.

SN 35.56 Từ Bỏ Phiền Não Āsavapahānasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các phiền não được từ bỏ?” …

SN 35.57 Nhổ Bỏ Phiền Não Āsavasamugghātasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các phiền não được nhổ bỏ?” …

56-57.IV-V. Các Lậu Hoặc (1-2. (S.iv,32)

(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các lậu hoặc).

SN 35.58 Từ Bỏ các Khuynh Hướng Ngầm Anusayapahānasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các khuynh hướng ngầm hướng về (underlying tendencies / tùy miên, ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản) được từ bỏ?” …

SN 35.59 Nhổ Bỏ các Khuynh Hướng Ngầm Anusayasamugghātasutta

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để biết và thấy để các khuynh hướng ngầm hướng về được nhổ bỏ?” …

58-59.VI-VII. Các Tùy Miên (1-2. (S.iv,32)

(Như hai kinh trên, chỉ thế vào các tùy miên).

SN 35.60 Sự Hiểu biết hoàn toàn về Mọi Sự Bám Giữ Sabbupādānapariññāsutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguyên tắc để hiểu biết hoàn toàn về mọi sự bám giữ (grasping / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào). Hãy lắng nghe …

Và nguyên tắc để hiểu biết hoàn toàn về mọi sự bám giữ là gì?

Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, mắt xúc, và cảm giác. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ hiểu rằng: ‘Ta đã hiểu biết hoàn toàn sự bám giữ.’

Tai thức khởi lên tùy thuộc vào tai và âm thanh. …

Mũi thức khởi lên tùy thuộc vào mũi và mùi hương. …

Lưỡi thức khởi lên tùy thuộc vào lưỡi và vị. …

Thân thức khởi lên tùy thuộc vào thân và xúc chạm. …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với trí não, ý nghĩ, ý thức, ý xúc, và cảm giác. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ hiểu rằng: ‘Ta đã hiểu biết hoàn toàn sự bám giữ.’

Đây là nguyên tắc để hiểu biết hoàn toàn về mọi sự bám giữ."

60.VIII. Liễu Tri (Parijnnà) (S.iv,32)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ?

4. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã liễu tri chấp thủ”.

5-8. Do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức… Do duyên mũi và các hương… Do duyên lưỡi và các vị… Do duyên thân và các xúc…

9. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã liễu tri chấp thủ”.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến liễu tri tất cả chấp thủ.

SN 35.61 Sự Cạn Kiệt của Mọi Nhiên Liệu (Thứ nhất) Paṭhamasabbupādānapariyādānasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu. Hãy lắng nghe …

Và nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu là gì?

Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, mắt xúc, và cảm giác. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ hiểu rằng: ‘Ta đã làm cạn kiệt hoàn toàn sự bám giữ.’

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác.

Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với trí não, ý nghĩ, ý thức, ý xúc, và cảm giác. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ hiểu rằng: ‘Ta đã làm cạn kiệt hoàn toàn sự bám giữ.’

Đây là nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu."

61.IX. Ðược Chấm Dứt (1) (Pariyàdinnam) (S.iv,33)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ?

4. Do duyên con mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã chấm dứt chấp thủ”.

5-8. … tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này hợp lại có xúc. Do duyên xúc có thọ. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với thọ. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nhờ giải thoát, vị ấy biết rõ: “Ta đã chấm dứt chấp thủ”.

SN 35.62 Sự Cạn Kiệt của Mọi Nhiên Liệu (Thứ hai) Dutiyasabbupādānapariyādānasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu. Hãy lắng nghe …

Và nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu là gì?

Các ông nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … ý nghĩ … ý thức … ý xúc … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân …

Họ trở nên nhàm chán với trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

Đây là nguyên tắc để làm cạn kiệt mọi nhiên liệu."

62.X. Ðược Chấm Dứt (2) (S.iv,34)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ?

4. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường…

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

10. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy…

Ðối với tai… Ðối với mũi… Ðối với lưỡi… Ðối với thân…

Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Ðây, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến chấm dứt tất cả chấp thủ.

Chương với Migajāla

SN 35.63 Với Migajāla (Thứ nhất) Paṭhamamigajālasutta

Tại Sāvatthī.

Rồi Tôn giả Migajāla đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về người sống độc cư (lives alone / sống một mình, xa lánh). Người sống độc cư được định nghĩa như thế nào? Và sống có bạn đồng hành được định nghĩa như thế nào?”

"Này Migajāla, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng (relishing / sự thích thú, vui hưởng). Khi có sự hân thưởng, có ái dục (lust / ham muốn mãnh liệt). Khi có ái dục, có sự trói buộc (yoking / sự ràng buộc, khổ ách). Một Tỷ kheo bị trói buộc bởi sự hân thưởng được gọi là sống có bạn đồng hành.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng. Khi có sự hân thưởng, có ái dục. Khi có ái dục, có sự trói buộc. Một Tỷ kheo bị trói buộc bởi sự hân thưởng được gọi là sống có bạn đồng hành.

Một Tỷ kheo sống như thế này được gọi là sống có bạn đồng hành, ngay cả khi họ thường lui tới những nơi ở hẻo lánh trong rừng sâu và hoang dã, yên tĩnh và lặng lẽ, xa đám đông ồn ào, xa nơi ở của con người, và thích hợp cho việc ẩn tu. Tại sao vậy? Vì ái (craving / sự khao khát, ham muốn) là bạn đồng hành của họ, và họ chưa từ bỏ nó. Đó là lý do tại sao họ được gọi là sống có bạn đồng hành.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi không có sự hân thưởng, không có ái dục. Khi không có ái dục, không có sự trói buộc. Một Tỷ kheo không bị trói buộc bởi sự hân thưởng được gọi là sống độc cư.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi không có sự hân thưởng, không có ái dục. Khi không có ái dục, không có sự trói buộc.

Một Tỷ kheo không bị trói buộc bởi sự hân thưởng được gọi là sống độc cư. Một Tỷ kheo sống như thế này được gọi là sống độc cư, ngay cả khi họ sống trong một ngôi làng đông đúc Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, cư sĩ nam, và cư sĩ nữ; bởi các nhà cai trị và các vị đại thần của họ, và các tu sĩ của các tôn giáo khác và các đệ tử của họ. Tại sao vậy? Vì ái là bạn đồng hành của họ, và họ đã từ bỏ nó. Đó là lý do tại sao họ được gọi là sống độc cư."

II. Phẩm Migajàla

63.I. Bởi Migajàla (S.iv,35)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:

− “Sống một mình! Sống một mình!”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?

4. − Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

5-8. … có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

9. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.

10. Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.

11. Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.

12-14. Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

15-16. …Này Migajàla, có những vị do lưỡi nhận thức…

17. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajàla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.

18. Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajàla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.

19. Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình.

SN 35.64 Với Migajāla (Thứ hai) Dutiyamigajālasutta

Rồi Tôn giả Migajāla đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

"Này Migajāla, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng. Sự hân thưởng là nguồn gốc của khổ, Ta nói.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng. Sự hân thưởng là nguồn gốc của khổ, Ta nói.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi sự hân thưởng chấm dứt, khổ chấm dứt, Ta nói.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi sự hân thưởng chấm dứt, khổ chấm dứt, Ta nói."

Và rồi Tôn giả Migajāla tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật đã nói. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

Rồi Migajāla, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống thế tục để sống không nhà cửa.

Ngài hiểu rằng: “Sanh đã tận; phạm hạnh đã thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Migajāla đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

64.II. Migajàla (S.iv,37)

1. …

2. Rồi Tôn giả Migajàla đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajàla bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp ấy con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-6. − Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến sắc ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến sắc ấy nên hỷ sanh. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi… Các tiếng… Các hương…

7-8… Các vị… Các xúc…

9. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương, sống với tâm tham luyến pháp ấy ; do vị ấy hoan hỷ, tán dương sống với tâm tham luyến pháp ấy nên hỷ sanh. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi.

10-12. Này Migajàla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến sắc ấy ; do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến, không an trú tham luyến sắc ấy nên hỷ diệt. Này Migajàla, Ta nói rằng do hoan hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt… Các tiếng… Các hương…

13-14… Các vị… Các xúc…

15. Này Migajàla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến pháp ấy; do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, sống với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ diệt. Này Migajàla, Ta nói rằng do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt.

16. Rồi Tôn giả Migajàla, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

17. Rồi Tôn giả Migajàla sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là mục đích cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

18. Và Tôn giả Migajàla trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.65 Câu Hỏi của Samiddhi về Ma Paṭhamasamiddhimārapañhāsutta

Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc. Rồi Tôn giả Samiddhi đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘Ma’. Chúng ta định nghĩa Ma hay cái được gọi là Ma như thế nào?”

"Này Samiddhi, nơi nào có mắt, cảnh sắc, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào có tai, âm thanh, tai thức, và những gì có thể biết được bằng tai thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào có mũi, mùi hương, mũi thức, và những gì có thể biết được bằng mũi thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào có lưỡi, vị, lưỡi thức, và những gì có thể biết được bằng lưỡi thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào có thân, xúc chạm, thân thức, và những gì có thể biết được bằng thân thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào có trí não, ý nghĩ, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức, nơi đó có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào không có mắt, không có cảnh sắc, không có mắt thức, và không có những gì có thể biết được bằng mắt thức, nơi đó không có Ma hay cái được gọi là Ma.

Nơi nào không có tai … không có mũi … không có lưỡi … không có thân …

Nơi nào không có trí não, không có ý nghĩ, không có ý thức, và không có những gì có thể biết được bằng ý thức, nơi đó không có Ma hay cái được gọi là Ma."

65.III. Samiddhi (I) (S.iv,38)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2-3. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn… và bạch Thế Tôn:

− “Màra, Màra”, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Màra, hay là danh nghĩa Màra (Màrapannatti)?

4. − Này Samiddhi, chỗ nào có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có Màra, hay có danh nghĩa Màra.

5-6… có tai… có mũi…

7-8… có lưỡi… có thân…

9. Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, chỗ ấy có Màra, hay có danh nghĩa Màra.

10-12. Và này Samiddhi, chỗ nào không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có Màra, hay không có danh nghĩa Màra… tai… mũi…

13-14. Chỗ nào không có lưỡi… không có thân…

15. Chỗ nào không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy không có Màra, hay không có danh nghĩa Màra.

SN 35.66 Câu Hỏi của Samiddhi về Chúng Sanh Samiddhisattapañhāsutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘chúng sanh’. Chúng ta định nghĩa hay mô tả một chúng sanh như thế nào?” …

66.IV. Samiddhi (2) (S.iv,39)

1-2. …

3-15.− “Hữu tình, hữu tình (Satta)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là hữu tình, hay danh nghĩa hữu tình?.. (như trên)…

SN 35.67 Câu Hỏi của Samiddhi về Khổ Samiddhidukkhapañhāsutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘khổ’. Chúng ta định nghĩa khổ hay cái được gọi là khổ như thế nào?” …

67.V. Samiddhi (3) (S.iv,39)

1-2. …

3-15. − “Khổ, khổ”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là khổ, hay là danh nghĩa của khổ?.. (như trên)…

SN 35.68 Câu Hỏi của Samiddhi về Thế Gian Samiddhilokapañhāsutta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘thế gian’. Chúng ta định nghĩa thế gian hay cái được gọi là thế gian như thế nào?”

"Này Samiddhi, nơi nào có mắt, cảnh sắc, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức, nơi đó có thế gian hay cái được gọi là thế gian. Nơi nào có tai … mũi … lưỡi … thân … Nơi nào có trí não, ý nghĩ, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức, nơi đó có thế gian hay cái được gọi là thế gian.

Nơi nào không có mắt, không có cảnh sắc, không có mắt thức, và không có những gì có thể biết được bằng mắt thức, nơi đó không có thế gian hay cái được gọi là thế gian. Nơi nào không có tai … mũi … lưỡi … thân … Nơi nào không có trí não, không có ý nghĩ, không có ý thức, và không có những gì có thể biết được bằng ý thức, nơi đó không có thế gian hay cái được gọi là thế gian."

68.VI. Samiddhi (4) (S.iv,39)

1-2. …

3.… “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thế giới, hay là danh nghĩa thế giới?

4-9. − Chỗ nào, này Samiddhi, có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới, hay danh nghĩa thế giới… (như trên)… Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới hay có danh nghĩa thế giới.

10-15. Và tại chỗ nào, này Samiddhi, không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có thế giới, hay không có danh nghĩa thế giới… không có ý… tại chỗ ấy, không có thế giới hay không có danh nghĩa thế giới.

SN 35.69 Upasena và Con Rắn Độc Upasenaāsīvisasutta

Một thời, các Tôn giả Sāriputta và Upasena đang ở gần Rājagaha trong Rừng Lạnh, dưới Hang Mũ Rắn. Lúc đó, một con rắn độc rơi xuống người Upasena, và ngài gọi các Tỷ kheo: “Này các hiền giả, hãy đến, nhấc thân này lên một cái giường và mang ra ngoài trước khi nó tan rã ngay tại đây như một nắm cỏ khô.”

Khi ngài nói vậy, Sāriputta nói với ngài: “Nhưng chúng tôi không thấy bất kỳ sự suy giảm nào trong thân thể của ngài hay sự suy thoái của các căn của ngài. Vậy mà ngài nói: ‘Này các hiền giả, hãy đến, nhấc thân này lên một cái giường và mang ra ngoài trước khi nó tan rã ngay tại đây như một nắm cỏ khô.’”

"Thưa hiền giả Sāriputta, có thể có sự suy giảm trong thân thể hay sự suy thoái của các căn đối với người nghĩ rằng: ‘Tôi là mắt’ hay ‘mắt là của tôi.’ Hoặc ‘Tôi là tai … mũi … lưỡi … thân …’ Hoặc ‘Tôi là ý’ hay ‘trí não là của tôi.’

Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Vậy tại sao lại có sự suy giảm trong thân thể của tôi hay sự suy thoái của các căn của tôi?"

"Chắc hẳn là vì Tôn giả Upasena từ lâu đã hoàn toàn nhổ bỏ ngã tác (I-making / hành động tạo ra ‘cái tôi’), ngã sở tác (mine-making / hành động tạo ra ‘cái của tôi’), và khuynh hướng mạn tùy miên (underlying tendency to conceit / khuynh hướng ngầm của sự kiêu ngạo).

Đó là lý do tại sao ngài không nghĩ rằng: ‘Tôi là mắt’ hay ‘mắt là của tôi.’ Hoặc ‘Tôi là tai … mũi … lưỡi … thân …’ Hoặc ‘Tôi là ý’ hay ‘trí não là của tôi.’"

Rồi các Tỷ kheo đó nhấc thân của Upasena lên một cái giường và mang ra ngoài. Và thân của ngài đã tan rã ngay tại đó như một nắm cỏ khô.

69.VIl. Upasena (S.iv,40)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

2. Lúc bấy giờ, một con rắn độc rơi trên thân Tôn giả Upasena.

3. Rồi Tôn giả Upasena gọi các Tỷ-kheo:

− Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

4. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

− Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

5. Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

− Này chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây bị phân tán như một nắm rơm…

6. Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi”… “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời đối với các người ấy, này Hiền giả

Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Cái lưỡi là của tôi”… hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”, thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

7. Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: “Tôi là con mắt”, hay: “Con mắt là của tôi”… hay: “Tôi là cái lưỡi”, hay: “Lưỡi là của tôi”… hay: “Tôi là ý”, hay: “Ý là của tôi”.

8. Rồi các Tỷ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

9. Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm.

SN 35.70 Upavāna về Điều Hiển Nhiên trong Đời Này Upavāṇasandiṭṭhikasutta

Rồi Tôn giả Upavāna đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘một giáo pháp hiện tại, thiết thực (a teaching apparent in the present life / sandiṭṭhika / một lời dạy có thể thấy ngay trong đời này)’. Giáo pháp được gọi là hiện tại, thiết thực, có hiệu quả tức thì (immediately effective / akālika / không bị giới hạn bởi thời gian), đến để mà thấy (inviting inspection / ehipassika / mời gọi đến để tự mình kiểm chứng), có khả năng hướng thượng (relevant / opaneyyika / có thể áp dụng để đưa đến giải thoát), để người trí tự mình giác hiểu (so that sensible people can know it for themselves / paccattaṁ veditabbo viññūhi) theo cách nào?”

"Này Upavāna, hãy xem một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt. Họ trải nghiệm cả cảnh sắc và ham muốn đối với cảnh sắc. Có ham muốn đối với cảnh sắc trong họ, và họ hiểu điều đó. Vì là như vậy, đây là cách giáo pháp hiện tại, thiết thực, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.

Tiếp theo, hãy xem một Tỷ kheo nghe … ngửi … nếm … chạm …

Tiếp theo, hãy xem một Tỷ kheo biết một ý nghĩ bằng trí não. Họ trải nghiệm cả ý nghĩ và ham muốn đối với ý nghĩ. Có ham muốn đối với ý nghĩ trong họ, và họ hiểu điều đó. Vì là như vậy, đây là cách giáo pháp hiện tại, thiết thực, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.

Hãy xem một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt. Họ trải nghiệm cảnh sắc nhưng không có ham muốn đối với cảnh sắc. Không có ham muốn đối với cảnh sắc trong họ, và họ hiểu điều đó. Vì là như vậy, đây là cách giáo pháp hiện tại, thiết thực, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.

Tiếp theo, hãy xem một Tỷ kheo nghe … ngửi … nếm … chạm …

Tiếp theo, hãy xem một Tỷ kheo biết một ý nghĩ bằng ý. Họ trải nghiệm ý nghĩ nhưng không có ham muốn đối với ý nghĩ. Không có ham muốn đối với ý nghĩ trong họ, và họ hiểu điều đó. Vì là như vậy, đây là cách giáo pháp hiện tại, thiết thực, có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu."

70.VIII. Upavàna (1) (S.iv,41)

1. …

2. Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavàna bạch Thế Tôn:

− “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?

4. − Ở đây, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

5-6. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương…

7-8. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

9. Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vò ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

10. Ở đấy, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavàna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.

11-14. Lại nữa, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

15. Lại nữa, này Upavàna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavàna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavàna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu.

SN 35.71 Sáu Trường tiếp xúc (Thứ nhất) Paṭhamachaphassāyatanasutta

“Này các Tỷ kheo, bất kỳ ai không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng thì chưa hoàn thành phạm hạnh và còn xa rời giáo pháp và sự tu tập này.”

Khi Ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo nói với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ở đây, con bị lạc lối. Vì con không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng.”

“Ông nghĩ sao, này Tỷ kheo? Ông có coi mắt như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, Tỷ kheo! Và đối với mắt, ông sẽ thật sự thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Chỉ điều này là sự chấm dứt của khổ.

Ông có coi tai … mũi … lưỡi … thân …

Ông có coi ý như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, Tỷ kheo! Và đối với trí não, ông sẽ thật sự thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Chỉ điều này là sự chấm dứt của khổ.”

71.IX. Sáu Xúc Xứ (1) (S.iv,43)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con đã thất vọng (anassàsim). Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ được đoạn tận… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Ðây là khổ đoạn tận.

SN 35.72 Sáu Trường tiếp xúc (Thứ hai) Dutiyachaphassāyatanasutta

“Này các Tỷ kheo, bất kỳ ai không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng thì chưa hoàn thành phạm hạnh và còn xa rời giáo pháp và sự tu tập này.”

Khi Ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo nói với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ở đây, con bị lạc lối, thật sự lạc lối. Vì con không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng.”

“Ông nghĩ sao, này Tỷ kheo? Ông có coi mắt như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi’?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

"Tốt lắm, Tỷ kheo! Và đối với mắt, ông sẽ thật sự thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Bằng cách này, ông sẽ từ bỏ trường tiếp xúc thứ nhất, để không còn tái sanh trong tương lai nữa.

Ông có coi tai … mũi … lưỡi … thân …

Ông có coi ý như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây là tự ngã của tôi’?"

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Tốt lắm, Tỷ kheo! Và đối với trí não, ông sẽ thật sự thấy rõ bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Bằng cách này, ông sẽ từ bỏ trường tiếp xúc thứ sáu, để không còn tái sanh trong tương lai nữa.”

72.X. Sáu Xúc Xứ (2) (S.iv,44)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán con mắt: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy con mắt với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là khéo thấy; như vậy xúc xứ thứ nhứt này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai… tai… mũi…

7-8… lưỡi… thân…

9. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo? Ông có quán ý: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”?

− Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.

− Lành thay, này Tỷ-kheo. Ở đây, này Tỷ-kheo, do Ông như thật thấy ý với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”; như vậy là khéo thấy. Như vậy xúc xứ thứ sáu này sẽ được Ông đoạn tận, không còn tái sanh nữa trong tương lai.

SN 35.73 Sáu Trường tiếp xúc (Thứ ba) Tatiyachaphassāyatanasutta

“Này các Tỷ kheo, bất kỳ ai không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng thì chưa hoàn thành phạm hạnh và còn xa rời giáo pháp và sự tu tập này.”

Khi Ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo nói với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, ở đây, con bị lạc lối, thật sự lạc lối. Vì con không thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng.”

“Ông nghĩ sao, này Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

73.XI. Sáu Xúc Xứ (3) (S.iv,44)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xúc xứ; vị ấy không thành tựu Phạm hạnh, còn đứng xa Pháp và Luật này.

3. Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con thất vọng. Bạch Thế Tôn, con không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

5-8. − Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Chương về Bệnh

SN 35.74 Bệnh (Thứ nhất) Paṭhamagilānasutta

Tại Sāvatthī.

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, trong tu viện nọ có một Tỷ kheo còn trẻ và ít người biết đến. Vị ấy đang bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Xin Ngài hãy đến thăm vị ấy vì lòng từ bi.”

Khi Đức Phật nghe rằng Tỷ kheo đó còn trẻ và bị bệnh, hiểu rằng vị ấy không được nhiều người biết đến, Ngài đã đến thăm. Tỷ kheo đó thấy Đức Phật từ xa đi tới và cố gắng ngồi dậy trên giường.

Đức Phật nói với Tỷ kheo đó: “Được rồi, Tỷ kheo, đừng ngồi dậy. Có vài chỗ ngồi đã được trải sẵn, Ta sẽ ngồi ở đó.”

Ngài ngồi xuống chỗ đã được trải sẵn và nói với Tỷ kheo: “Ta hy vọng ông vẫn khỏe, Tỷ kheo; Ta hy vọng ông vẫn ổn. Ta hy vọng cơn đau của ông đang giảm dần, không tăng lên, sự giảm bớt của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không qua được. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm bớt.”

“Ta hy vọng ông không có hối hận hay ăn năn gì chứ?”

“Thật vậy, bạch Thế Tôn, con có không ít hối hận và ăn năn.”

“Ta hy vọng ông không có lý do gì để tự trách mình về giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức)?”

“Không, bạch Thế Tôn, con không có lý do gì để tự trách mình về giới đức.”

“Trong trường hợp đó, Tỷ kheo, tại sao ông lại có hối hận và ăn năn?”

“Bởi vì con hiểu rằng Đức Phật không dạy Pháp chỉ vì mục đích giới thanh tịnh (ethical purity / sự trong sạch về đạo đức).”

“Nếu vậy, ông hiểu chính xác mục đích của việc dạy Pháp là gì?”

“Con hiểu rằng Đức Phật đã dạy Pháp vì mục đích ly tham.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Thật tốt khi ông hiểu rằng Ta đã dạy Pháp vì mục đích ly tham. Vì đó thực sự là mục đích. Ông nghĩ sao, Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Tỷ kheo đó hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, pháp nhãn (vision of the Dhamma / con mắt thấy Pháp) trong sạch, không tì vết khởi lên trong Tỷ kheo đó:

“Phàm pháp gì có sanh khởi, pháp ấy đều có đoạn diệt.”

III. Phẩm Bệnh

74.I. Bệnh (1) (S.iv,46)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng từ mẫn.

4. Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng “Mới”, nghe tiếng “Bệnh”, khi biết được: “Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến” liền đi đến Tỷ-kheo ấy.

5. Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền gượng dậy trên giường.

6. Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:

− Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.

Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.

7. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

8. − Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.

− Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.

9. − Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.

− Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích thanh tịnh trì giới.

11. − Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và đoạn tham.

12. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.

13. Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn…

− Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

14. − Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

15. Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt”.

SN 35.75 Bệnh (Thứ hai) Dutiyagilānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, trong tu viện nọ có một Tỷ kheo còn trẻ và ít người biết đến. Vị ấy đang bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Xin Ngài hãy đến thăm vị ấy vì lòng từ bi.”

Khi Đức Phật nghe rằng Tỷ kheo đó còn trẻ và bị bệnh, hiểu rằng vị ấy không được nhiều người biết đến, Ngài đã đến thăm. Tỷ kheo đó thấy Đức Phật từ xa đi tới và cố gắng ngồi dậy trên giường.

Rồi Đức Phật nói với Tỷ kheo đó: “Được rồi, Tỷ kheo, đừng ngồi dậy. Có vài chỗ ngồi đã được trải sẵn, Ta sẽ ngồi ở đó.”

Ngài ngồi xuống chỗ đã được trải sẵn và nói với Tỷ kheo: “Ta hy vọng ông vẫn khỏe, Tỷ kheo; Ta hy vọng ông vẫn ổn. Ta hy vọng cơn đau của ông đang giảm dần, không tăng lên, sự giảm bớt của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

"Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không qua được. …

Con không có lý do gì để tự trách mình về giới đức."

“Trong trường hợp đó, Tỷ kheo, tại sao ông lại có hối hận và ăn năn?”

“Bởi vì con hiểu rằng Đức Phật không dạy Pháp chỉ vì mục đích giới thanh tịnh.”

“Nếu vậy, ông hiểu chính xác mục đích của việc dạy Pháp là gì?”

“Con hiểu rằng Đức Phật đã dạy Pháp vì mục đích vô thủ trước bát-niết-bàn (complete extinguishment by not grasping / Niết-bàn không còn bám giữ).”

"Tốt lắm, tốt lắm, Tỷ kheo! Thật tốt khi ông hiểu rằng Ta đã dạy Pháp vì mục đích vô thủ trước bát-niết-bàn. Vì đó thực sự là mục đích.

Ông nghĩ sao, Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … ý thức … ý xúc … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt … tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … ý thức … ý xúc … Họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Tỷ kheo đó hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, tâm của Tỷ kheo đó đã được giải thoát khỏi các phiền não do không bám giữ.

75.II. Bệnh (2) (S.iv,47)

1-10. (Hoàn toàn giống như kinh trước).

11. − Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?

− Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp Thế Tôn dạy là với mục đích tịch tịnh hoàn toàn, không chấp thủ.

12. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là với mục đích tịch tịnh hoàn toàn, không có chấp thủ.

13-14. (Như kinh trước)

15. Thế Tôn thuyết như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, tâmTỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

SN 35.76 Với Rādha về Vô Thường Rādhaaniccasutta

Tôn giả Rādha đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

"Này Rādha, ông nên từ bỏ ham muốn đối với cái vô thường. Và cái gì là vô thường? Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là vô thường. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng là vô thường. Ông nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Và cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng là vô thường. Ông nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Ông nên từ bỏ ham muốn đối với cái vô thường."

76.III. Ràdha (1) (S.iv,48)

1. …

2. Rồi Tôn giả Ràdha…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Cái gì vô thường, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-7. Và này Ràdha, cái gì là vô thường? Mắt, này Ràdha, là vô thường, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các sắc là vô thường… Nhãn thức là vô thường… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục… Tai… Mũi…

8-9. … Lưỡi… Thân…

10. Ý là vô thường, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các pháp… Ý thức… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là vô thường, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.77 Với Rādha về Khổ Rādhadukkhasutta

“Này Rādha, ông nên từ bỏ ham muốn đối với cái khổ. …”

77.IV. Ràdha (2) (S.iv,49)

1-2-3. …

4. − Phàm cái gì là khổ, này Ràdha, ở đây Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-10. Và này Ràdha, cái gì là khổ? Mắt, này Ràdha, là khổ; ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các pháp… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là khổ, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.78 Với Rādha về Vô Ngã Rādhaanattasutta

“Này Rādha, ông nên từ bỏ ham muốn đối với cái vô ngã. …”

78.V. Ràdha (2) (S.iv,49)

1-2-3. …

4. − Phàm cái gì là vô ngã, này Ràdha, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

5-9. Và này Ràdha, cái gì là vô ngã? Mắt, này Ràdha, là vô ngã; ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục. Các sắc… Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên ý xúc…

10. Ý là vô ngã… Các pháp… Ý thức… Ý xúc… Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô ngã. Ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

11. Phàm cái gì là vô ngã, này Ràdha, ở đây, Ông cần phải đoạn tận lòng dục.

SN 35.79 Từ Bỏ Vô Minh (Thứ nhất) Paṭhamaavijjāpahānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, có một pháp nào mà khi từ bỏ nó, một Tỷ kheo từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh không?”

“Có, Tỷ kheo.”

“Nhưng pháp đó là gì?”

“Vô minh là một pháp mà khi từ bỏ nó, một Tỷ kheo từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh.”

“Nhưng làm thế nào một Tỷ kheo biết và thấy để từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh?”

"Khi một Tỷ kheo biết và thấy mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh. Và cũng khi biết và thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh. …

Khi biết và thấy trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh. Và cũng khi biết và thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên là vô thường, vô minh được từ bỏ và minh khởi sanh.

Đó là cách một Tỷ kheo biết và thấy để từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh."

79.VI. Vô Minh (I) (S.iv,49)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Có một pháp gì, bạch Thế Tôn, (nếu) Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, thời vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?

− Có một pháp, này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.

4. − Một pháp ấy là gì, bạch Thế Tôn, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận và minh sanh khởi?

− Vô minh, này Tỷ-kheo, là một pháp, nếu Tỷ-kheo đoạn tận pháp ấy, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi.

5. − Tỷ-kheo biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào, vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi?

6. − Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết mắt, thấy mắt là vô thường nên vô minh đoạn tận, minh sanh khởi… tai… mũi…

7-11. … lưỡi… thân… ý…

12. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.80 Từ Bỏ Vô Minh (Thứ hai) Dutiyaavijjāpahānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, có một pháp nào mà khi từ bỏ nó, một Tỷ kheo từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh không?”

“Có, Tỷ kheo.”

“Nhưng pháp đó là gì?”

“Vô minh là một pháp mà khi từ bỏ nó, một Tỷ kheo từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh.”

“Nhưng làm thế nào một Tỷ kheo biết và thấy để từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh?”

"Hãy xem một Tỷ kheo đã nghe: ‘Không có gì đáng để khăng khăng.’ Khi một Tỷ kheo đã nghe rằng không có gì đáng để khăng khăng, họ hiểu biết trực tiếp tất cả mọi thứ. Khi hiểu biết trực tiếp tất cả mọi thứ, họ hiểu biết hoàn toàn tất cả mọi thứ. Khi hiểu biết hoàn toàn tất cả mọi thứ, họ thấy tất cả các dấu hiệu là khác. Họ thấy mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là khác. Và họ cũng thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên là khác. …

Họ thấy trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là khác. Và họ cũng thấy cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên là khác. Đó là cách một Tỷ kheo biết và thấy để từ bỏ vô minh và làm khởi sanh minh."

80.VII.Vô Minh (2) (S.iv,50)

1-5. (Như kinh trước)

6. − Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi… Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi… các sắc… nhãn thức… nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi.

7. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.

SN 35.81 Một Vài Tỷ Kheo Sambahulabhikkhusutta

Rồi một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: "Bạch Thế Tôn, đôi khi các du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: ‘Này các hiền giả, mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của sa môn Gotama là gì?’ Chúng con trả lời họ như thế này: ‘Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn khổ.’

Trả lời như vậy, chúng con tin rằng chúng con lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật. Chúng con tin rằng lời giải thích của chúng con phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích."

"Thật vậy, khi trả lời như vậy, các ông lặp lại những gì Ta đã nói, và không xuyên tạc Ta bằng một điều không thật. Lời giải thích của các ông phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích. Vì mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta là để hiểu biết hoàn toàn khổ.

Nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông: ‘Này các hiền giả, khổ đó là gì?’ Các ông nên trả lời họ: 'Này các hiền giả, mắt là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn điều này. Cảnh sắc … Mắt thức … Mắt xúc … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn điều này.

Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Trí não … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn điều này.

Đây là khổ đó. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn điều này.’ Khi bị các du sĩ ngoại đạo hỏi, đó là cách các ông nên trả lời họ."

81.VIII. Tỷ Kheo (S.iv,50)

1. …

2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại đạo hỏi chúng con: “Do mục đích gì, này các Hiền giả, các người sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy: “Vì mục đích liễu tri đau khổ, này chư Hiền, chúng tôi sống Phạm hạnh dưới Samôn Gotama”. Ðược hỏi vậy và được trả lời vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con đã nói lên quan điểm của Thế Tôn? Và có phải chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực? Có phải chúng con trả lời thuận pháp và đúng pháp? Và ai là người đồng pháp nói đúng pháp không tìm được lý do để chỉ trích?

4. − Thật vậy, này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy và được trả lời vậy, các Ông đã nói lên quan điểm của Ta. Và các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thực. Các Ông trả lời thuận pháp và đúng pháp. Và không có người đồng pháp nói đúng pháp nào tìm được lý do để chỉ trích. Với mục đích liễu tri đau khổ, này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống dưới Ta.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi các Ông như sau: “Này Hiền giả, thế nào là vì mục đích liễu tri đau khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11. “Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Các sắc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Ý là khổ, vì liễu tri như vậy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vì liễu tri cảm thọ ấy là khổ, nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Ðây, này chư Hiền, là khổ ấy. Vì liễu tri khổ ấy, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn”.

12. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông có thể trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

SN 35.82 Một Câu Hỏi về Thế Gian Lokapañhāsutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘thế gian’. Thế gian được định nghĩa như thế nào?”

"Nó hao mòn đi, Tỷ kheo, đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thế gian’. Và cái gì đang hao mòn đi? Mắt đang hao mòn đi. Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc đang hao mòn đi. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng đang hao mòn đi.

Tai … mũi … lưỡi … thân … Trí não … ý nghĩ … ý thức … ý xúc đang hao mòn đi. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng đang hao mòn đi.

Nó hao mòn đi, Tỷ kheo, đó là lý do tại sao nó được gọi là ‘thế gian’."

82.IX. Thế Giới (S.iv,52)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Phagguna bạch Thế Tôn:

4-6. − Có con mắt nào, bạch Thế Tôn, do con mắt ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung khát ái, đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau?.. tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

SN 35.83 Câu Hỏi của Phagguna Phaggunapañhāsutta

Và rồi Tôn giả Phagguna đến gặp Đức Phật … và nói với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, giả sử có người mô tả các vị Phật trong quá khứ đã hoàn toàn tịch diệt (quenched / dập tắt hoàn toàn), cắt đứt sự phân mảnh (proliferation / papañca / sự lan rộng của tư duy khái niệm), cắt đứt con đường, chấm dứt vòng luân hồi, và vượt qua mọi khổ đau. Có con mắt nào tồn tại mà qua đó họ có thể được mô tả không?

Có tai … mũi … lưỡi … thân tồn tại …? Có trí não nào tồn tại mà qua đó họ có thể được mô tả không?"

"Này Phagguna, giả sử có người mô tả các vị Phật trong quá khứ đã hoàn toàn tịch diệt, cắt đứt sự phân mảnh, cắt đứt con đường, chấm dứt vòng luân hồi, và vượt qua mọi khổ đau. Con mắt không tồn tại mà qua đó họ có thể được mô tả.

Tai … mũi … lưỡi … thân không tồn tại … Trí não không tồn tại mà qua đó họ có thể được mô tả."

9. Có ý nào, bạch Thế Tôn, do ý ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau?

10-12. − Không có con mắt nào, này Phagguna, do con mắt ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt mọi khổ đau… tai… mũi…

13-14. … Không có lưỡi… Không có thân…

15. Không có ý nào, này Phagguna, do ý ấy, có thể biết và tuyên bố về chư Phật quá khứ đã nhập Niếtbàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các hành tung (khát ái), đã chấm dứt luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau.

Chương với Channa

SN 35.84 Có Thể Hao Mòn Palokadhammasutta

Tại Sāvatthī.

Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về cái gọi là ‘thế gian’. Thế gian được định nghĩa như thế nào?”

"Này Ānanda, cái gì có thể hao mòn thì được gọi là thế gian trong sự tu tập của bậc Thánh. Và cái gì có thể hao mòn? Mắt có thể hao mòn. Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc có thể hao mòn. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên cũng có thể hao mòn.

Tai … mũi … lưỡi … thân … Trí não … ý nghĩ … ý thức … ý xúc có thể hao mòn. Cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng có thể hao mòn.

Cái gì có thể hao mòn thì được gọi là thế gian trong sự tu tập của bậc Thánh."

IV. Phẩm Channa

84. I. Biến Hoại (Paloka) (S.iv,53)

1. …

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là thế giới?

4. − Cái gì chịu sự biến hoại (palokadhamma), này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. Và này Ananda, cái gì chịu sự biến hoại?

5-7. Mắt, này Ananda, chịu sự biến hoại. Các sắc chịu sự biến hoại. Nhãn thức chịu sự biến hoại. Nhãn xúc chịu sự biến hoại. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại… Tai… Mũi…

8-9… Lưỡi… Thân…

10. Ý chịu sự biến hoại. Các pháp chịu sự biến hoại. Ý thức chịu sự biến hoại. Ý xúc chịu sự biến hoại. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại.

11. Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, cái ấy gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.

SN 35.85 Thế Gian là Rỗng Không Suññatalokasutta

Và rồi Tôn giả Ānanda … nói với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói rằng ‘thế gian là rỗng không’. Câu nói ‘thế gian là rỗng không’ có nghĩa là gì?”

"Này Ānanda, người ta nói rằng ‘thế gian là rỗng không’ bởi vì nó rỗng không về tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã. Và cái gì rỗng không về tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã? Mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc là rỗng không về tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã. …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên cũng là rỗng không về tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã. Người ta nói rằng ‘thế gian là rỗng không’ bởi vì nó rỗng không về tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã."

85. II. Trống Không (S.iv,54)

1. …

2-3. Rồi Tôn giả Ananda… bạch Thế Tôn:

− “Trống không là thế giới, trống không là thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?

4. − Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã?

5-6. Mắt, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã.

11. Và vì rằng, này Ananda, không có tự ngã, hay không thuộc tự ngã nên được gọi trống không là thế giới này.

SN 35.86 Một Bài Giảng Ngắn Gọn Saṁkhittadhammasutta

Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda nói với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

“Ông nghĩ sao, Ānanda? Mắt là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.” …

"Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

86. III. Vắn Tắt (S.iv,54)

1-2. …

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda… bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-6. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− … Nhãn thức… Nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn… Tai… Mũi…

7-9. … Lưỡi… Thân… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Ananda, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.87 Với Channa Channasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Lúc đó, các Tôn giả Sāriputta, Mahācunda, và Channa đang ở trên núi Linh Thứu. Lúc đó, Tôn giả Channa đang bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng.

Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi thiền định, đến gặp Tôn giả Mahācunda và nói với ngài: “Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy đến thăm Tôn giả Channa và hỏi thăm bệnh tình của ngài.”

“Vâng, thưa hiền giả,” Mahācunda đáp.

Và rồi Sāriputta và Mahācunda đến thăm Channa và ngồi xuống những chỗ đã được trải sẵn. Sāriputta nói với Channa: “Tôi hy vọng ngài vẫn khỏe, hiền giả Channa; tôi hy vọng ngài vẫn ổn. Tôi hy vọng cơn đau của ngài đang giảm dần, không tăng lên, sự giảm bớt của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

"Thưa hiền giả Sāriputta, tôi không khỏe, tôi không qua được. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm bớt. Những cơn gió đâm vào đầu tôi rất dữ dội, cảm giác như một người đàn ông mạnh mẽ đang khoan vào đầu tôi bằng một mũi nhọn. Cơn đau trong đầu tôi rất dữ dội, cảm giác như một người đàn ông mạnh mẽ đang siết một dây da cứng quanh đầu tôi. Những cơn gió cắt vào bụng tôi rất dữ dội, như một người đồ tể khéo léo hay người học việc của họ đang rạch bụng một con bò bằng một con dao phay sắc bén. Cảm giác nóng rát trong cơ thể tôi rất dữ dội, cảm giác như hai người đàn ông mạnh mẽ nắm lấy một người yếu hơn bằng hai tay để đốt và thiêu anh ta trên một hố than hồng. Tôi không khỏe, tôi không qua được. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm bớt.

Thưa hiền giả Sāriputta, tôi sẽ tự kết liễu đời mình. Tôi không muốn sống."

"Xin đừng tự kết liễu đời mình! Tôn giả Channa, hãy cố gắng lên! Chúng tôi muốn ngài tiếp tục sống.

Nếu ngài không có thức ăn phù hợp, chúng tôi sẽ tìm cho ngài. Nếu ngài không có thuốc phù hợp, chúng tôi sẽ tìm cho ngài. Nếu ngài không có người chăm sóc có năng lực, chúng tôi sẽ tìm một người cho ngài.

Xin đừng tự kết liễu đời mình! Tôn giả Channa, hãy cố gắng lên! Chúng tôi muốn ngài tiếp tục sống."

"Thưa hiền giả Sāriputta, không phải là tôi không có thức ăn phù hợp; tôi có thức ăn phù hợp. Không phải là tôi không có thuốc phù hợp; tôi có thuốc phù hợp. Không phải là tôi không có người chăm sóc có năng lực; tôi có người chăm sóc có năng lực.

Hơn nữa, từ lâu nay tôi đã phụng sự Bậc Đạo Sư với lòng yêu thương, không phải không có tình yêu thương. Vì đó là điều đúng đắn cho một đệ tử phụng sự Bậc Đạo Sư với lòng yêu thương, không phải không có tình yêu thương. Các ngài nên nhớ điều này: ‘Tỷ kheo Channa sẽ tự kết liễu đời mình một cách không đáng bị khiển trách.’"

“Tôi muốn hỏi Tôn giả Channa về một điểm nào đó, nếu ngài có thời gian để trả lời.”

“Hãy hỏi đi, hiền giả Sāriputta. Khi tôi nghe xong, tôi sẽ biết.”

"Hiền giả Channa, ngài có coi mắt, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức theo cách này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?

Ngài có coi tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức theo cách này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?"

"Thưa hiền giả Sāriputta, tôi coi mắt, mắt thức, và những gì có thể biết được bằng mắt thức theo cách này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Tôi coi tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, ý thức, và những gì có thể biết được bằng ý thức theo cách này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi’."

“Hiền giả Channa, ngài đã thấy gì, ngài đã hiểu biết trực tiếp gì trong những điều này mà ngài coi chúng theo cách này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi’?”

“Thưa hiền giả Sāriputta, sau khi thấy sự đoạn diệt, sau khi hiểu biết trực tiếp sự đoạn diệt trong những điều này, tôi coi chúng theo cách này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi’.”

Khi ngài nói vậy, Tôn giả Mahācunda nói với Tôn giả Channa: "Vậy thì, hiền giả Channa, ngài nên thường xuyên chú tâm vào lời dạy này của Đức Phật:

‘Đối với người phụ thuộc thì có sự dao động. Đối với người độc lập thì không có sự dao động. Khi không có sự dao động thì có sự yên tĩnh. Khi có sự yên tĩnh thì không có sự thiên vị. Khi không có sự thiên vị, không có sự đến và đi. Khi không có sự đến và đi, không có sự chết và tái sanh. Khi không có sự chết và tái sanh, không có đời này hay đời sau hay khoảng giữa hai đời. Chỉ điều này là sự chấm dứt của khổ.’"

Và khi các Tôn giả Sāriputta và Mahācunda đã đưa ra lời khuyên này cho Tôn giả Channa, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Không lâu sau khi các Tôn giả đó rời đi, Tôn giả Channa đã tự kết liễu đời mình.

Rồi Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã tự kết liễu đời mình. Ngài đã tái sanh ở đâu trong kiếp sau?”

“Này Sāriputta, Tỷ kheo Channa đã không tuyên bố sự không đáng bị khiển trách của mình với ông sao?”

“Bạch Thế Tôn, có một ngôi làng của người Vajjian tên là Pubbajira. Ở đó, Channa có những gia đình thân thiện, thân mật, và hiếu khách.”

"Tỷ kheo Channa quả thực có những gia đình như vậy, Sāriputta. Nhưng điều này không đủ để Ta gọi ai đó là ‘đáng bị khiển trách’. Khi ai đó đặt thân này xuống và nắm lấy thân khác, Ta gọi họ là ‘đáng bị khiển trách’. Nhưng Tỷ kheo Channa đã không làm như vậy.

Ông nên nhớ điều này: ‘Tỷ kheo Channa đã tự kết liễu đời mình một cách không đáng bị khiển trách.’"

87. IV. Channa (S.iv,55)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàiputta, Tôn giả Mahà Cunda và Tôn giả Channa trú ở núi Gijjhakù.

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

4. Rồi Tôn giả Sàputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Cunda; sau khi đến nói với Tôn giả Mahà Cunda:

− Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Tôn giả Channa để hỏi thăm về bệnh hoạn.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Mahà Cunda vâng đáp Tôn giả Sàriputta.

5. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

6-7. Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:

− Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

− Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

8. Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

9. Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

10. Này Hiền giả, ví như một người đồ tể thiện xảo hay một đệ tử người đồ tể mổ bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng cắt mổ bụng của tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng… không phải giảm thiểu.

11. Này Hiền giả, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm một người yếu hơn với những cánh tay của mình, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng. Cũng vậy, này Hiền giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Này Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

12. Thưa Hiền giả Sàriputta, tôi sẽ đem lại con dao. Tôi không muốn sống nữa.

13. − Tôn giả Channa, chớ có đem lại con dao! Tôn giả Channa, hãy chịu đựng! Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng. Nếu Tôn giả Channa không có các món ăn, không có các dược phẩm thích hợp, thời tôi sẽ tìm các dược phẩm thích hợp cho Tôn giả Channa. Nếu Tôn giả Channa không có người hầu hạ thích ứng, thời tôi sẽ hầu hạ Tôn giả Channa. Tôn giả Channa chớ có đem lại con dao. Tôn giả Channa hãy chịu đựng. Chúng tôi muốn Tôn giả Channa chịu đựng.

14. − Thưa Hiền giả Sàriputta, không phải tôi không có các món ăn thích hợp, tôi có các món ăn thích hợp. Không phải tôi không có các dược phẩm thích hợp, tôi có các dược phẩm thích hợp. Không phải tôi không có những người hầu hạ thích ứng, tôi có những người hầu hạ thích ứng. Ðã lâu ngày tôi hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Ðây, thưa Hiền giả, là xứng đáng với người đệ tử. Vì rằng đã hầu hạ bậc Ðạo Sư với tâm thích thú, không phải không thích thú. Không có phạm tội, nếu Tỷ-kheo Channa đem lại con dao. Này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả hãy thọ trì như vậy.

15. − Chúng tôi sẽ hỏi Tôn giả Channa một câu, nếu Tôn giả Channa kham nhẫn được hỏi và trả lời.

− Hãy hỏi đi, Hiền giả Sàriputta, sau khi nghe, chúng ta sẽ biết.

16. − Này Hiền giả Channa, mắt, nhãn thức, những pháp do nhãn thức nhận biết, Hiền giả có quán: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?.. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Này Hiền giả Channa, ý, ý thức, các pháp do ý thức nhận biết, Hiền giả có quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

17. − Này Hiền giả Sàriputta, mắt, nhãn thức, các pháp do nhãn thức nhận biết, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

18. − Này Hiền giả Channa, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, do thấy gì, do thắng tri gì mà Hiền giả quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?

19. − Thưa Hiền giả Sàriputta, trong mắt, trong nhãn thức, trong các pháp do nhãn thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Trong tai… Trong mũi… Trong lưỡi… Trong thân… Thưa Hiền giả… Trong ý, trong ý thức, trong các pháp do ý thức nhận biết, sau khi thấy đoạn diệt, sau khi thắng tri đoạn diệt, tôi quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

20. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Mahà Cunda nói với Tôn giả Channa:

− Hiền giả Channa, Hiền giả cần phải luôn luôn chú ý đến lời dạy này của Thế Tôn: “Ai còn tham luyến, thời có dao động; ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an, thời không thiên chấp. Ai không thiên chấp (nati), thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Ðây là sự đoạn tận đau khổ”.

21. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda, sau khi giáo giới Tôn giả Channa với lời giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

22. Tôn giả Channa, sau khi hai vị Tôn giả ấy đi không bao lâu, liền đem lại con dao.

23. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

24. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Channa đã đem lại con dao. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy sẽ như thế nào?

− Có phải trước mặt Ông, này Sàriputta, Tỷ-kheo Channa đã tuyên bố là không phạm tội?

25. − Thưa có, bạch Thế Tôn. Có một làng của dân tộc Vajji tên là Pubbavijjhamam; tại đấy, có những gia đình thân hữu, có những gia đình thân thích với Tôn giả Channa, chính những gia đình ấy mới có lỗi.

26. − Này Sàriputta, những gia đình thân hữu và những gia đình thân thích ấy của Tôn giả Channa là những gia đình có lỗi. Tuy vậy, này Sàriputta, với sự việc như vậy, Ta không nói Channa là có lỗi. Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỷ-kheo Channa thời không vậy. Tỷ-kheo Channa không có tội lỗi khi đem lại con dao. Này Sàriputtra, Ông cần phải thọ trì như vậy.

SN 35.88 Với Puṇṇa Puṇṇasutta

Và rồi Tôn giả Puṇṇa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

"Này Puṇṇa, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng. Sự hân thưởng là nguồn gốc của khổ, Ta nói.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, điều này làm khởi sanh sự hân thưởng. Sự hân thưởng là nguồn gốc của khổ, Ta nói.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi sự hân thưởng chấm dứt, khổ chấm dứt, Ta nói. …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, sự hân thưởng chấm dứt. Khi sự hân thưởng chấm dứt, khổ chấm dứt, Ta nói.

Này Puṇṇa, bây giờ Ta đã cho ông lời khuyên ngắn gọn này, ông sẽ sống ở xứ nào?"

“Bạch Thế Tôn, có một xứ tên là Sunāparanta; con sẽ sống ở đó.”

“Người dân Sunāparanta hoang dã và thô lỗ, Puṇṇa. Nếu họ lăng mạ và sỉ nhục ông, ông sẽ nghĩ gì về họ?”

“Nếu họ lăng mạ và sỉ nhục con, con sẽ nghĩ: ‘Những người dân Sunāparanta này thật tử tế, thật sự tử tế, vì họ không đánh con bằng nắm đấm.’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Nhưng nếu họ đánh ông bằng nắm đấm, ông sẽ nghĩ gì về họ lúc đó?”

“Nếu họ đánh con bằng nắm đấm, con sẽ nghĩ: ‘Những người dân Sunāparanta này thật tử tế, thật sự tử tế, vì họ không ném đá vào con.’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Nhưng nếu họ ném đá vào ông, ông sẽ nghĩ gì về họ lúc đó?”

“Nếu họ ném đá vào con, con sẽ nghĩ: ‘Những người dân Sunāparanta này thật tử tế, thật sự tử tế, vì họ không đánh con bằng gậy.’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Nhưng nếu họ đánh ông bằng gậy, ông sẽ nghĩ gì về họ lúc đó?”

“Nếu họ đánh con bằng gậy, con sẽ nghĩ: ‘Những người dân Sunāparanta này thật tử tế, thật sự tử tế, vì họ không đâm con bằng dao.’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Nhưng nếu họ đâm ông bằng dao, ông sẽ nghĩ gì về họ lúc đó?”

“Nếu họ đâm con bằng dao, con sẽ nghĩ: ‘Những người dân Sunāparanta này thật tử tế, thật sự tử tế, vì họ không lấy mạng con bằng một con dao sắc.’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Nhưng nếu họ lấy mạng ông bằng một con dao sắc, ông sẽ nghĩ gì về họ lúc đó?”

“Nếu họ lấy mạng con bằng một con dao sắc, con sẽ nghĩ: ‘Có những đệ tử của Đức Phật đã tìm kiếm thứ gì đó để kết liễu đời mình vì họ kinh hãi, ghê tởm, và chán ghét thân thể và sự sống. Và con đã tìm thấy điều này mà không cần tìm kiếm!’ Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thế Tôn. Đó là những gì con sẽ nghĩ, bạch Thánh Tôn.”

“Tốt lắm, tốt lắm Puṇṇa! Có được sự tự chủ và an tịnh như vậy, ông sẽ hoàn toàn có khả năng sống ở Sunāparanta. Bây giờ, Puṇṇa, hãy đi khi ông thấy thuận tiện.”

Và rồi Puṇṇa hoan hỷ và đồng ý với lời của Đức Phật. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, giữ Ngài ở bên phải. Rồi ngài sắp xếp chỗ ở của mình và, mang theo bát và y, lên đường đến Sunāparanta.

Đi từng chặng, ngài đến Sunāparanta, và ở lại đó. Trong mùa mưa đó, ngài đã xác chứng cho khoảng năm trăm nam cư sĩ và năm trăm nữ cư sĩ. Và trong cùng mùa mưa đó, ngài đã chứng ngộ tam minh (three knowledges / ba loại trí tuệ siêu việt). Và trong cùng mùa mưa đó, ngài đã hoàn toàn tịch diệt (completely quenched / đạt được Niết-bàn cuối cùng).

Rồi một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, vị thiện nam tử tên Puṇṇa, người đã được Đức Phật khuyên dạy ngắn gọn, đã qua đời. Ngài đã tái sanh ở đâu trong kiếp sau?”

“Này các Tỷ kheo, Puṇṇa là người lanh lợi. Ngài đã thực hành theo giáo pháp, và không làm phiền Ta về giáo pháp. Puṇṇa đã hoàn toàn tịch diệt.”

88. V. Punna (S.iv,60)

1. …

2. Rồi Tôn giả Punna đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punna bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước, hỷ (nandì) sanh. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”. Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức… Này Punna, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước nên hỷ sanh. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”.

5. Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”… Này Punna, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Punna, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”.

6. Này Punna, sau khi được nghe giáo giới với lời giáo giới vắn tắt này của Ta, Ông sẽ trú tại quốc độ nào?

− Bạch Thế Tôn, có một quốc độ tên là Sunàparanta, tại đấy con sẽ ở.

7. − Thô bạo, này Punna, là người xứ Sunàparanta. Ðộc ác, này Punna, là người xứ Sunàparanta. Nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, chửi bới, nhiếc mắng Ông, thời này Punna, ở đây, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, chửi bới, nhiếc mắng con, ở đây, con sẽ nghĩ: “Thật là hiền thiện, người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không lấy tay đánh đập ta”. Như vậy, ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Như vậy, ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

8. − Nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đánh đập Ông bằng tay, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ thế nào?

− Nếu người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng tay, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng cục đất”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

9. − Nhưng nếu người xứ Sunàparanta, này Punna, đánh đập Ông bằng cục đất, thời ở đây, này Punna, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng cục đất, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng gậy”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

10. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đánh đập Ông với gậy, thời ở đây, này Punna, Ông nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta này, bạch Thế Tôn, sẽ đánh đập con với gậy, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng kiếm”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

11. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, lại đánh đập Ông bằng kiếm, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con với cây kiếm, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunàparanta này! Vì những người này không đoạn mạng ta với cây kiếm sắc bén”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

12. − Nhưng nếu những người xứ Sunàparanta, này Punna, sẽ đoạn mạng Ông với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, này Punna, Ông sẽ nghĩ như thế nào?

− Nếu những người xứ Sunàparanta, bạch Thế Tôn, sẽ đoạn mạng con với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Có những đệ tử của Thế Tôn, khi phiền não, tủi hổ và ghê tởm bởi thân và sinh mạng đã sử dụng đến con dao. Nay dầu không tìm đến ta vẫn được sử dụng con dao”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.

13. − Lành thay, lành thay, này Punna! Ðầy đủ với sự an tịnh tự điều này, Ông có thể sống tại quốc độ Sunàparanta. Này Punna, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

14. Rồi Tôn giả Punna hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, rồi bộ hành đi đến xứ Sunàparanta. Ngài tuần tự bộ hành và đến xứ Sunàparanta. Tại đây, Tôn giả Punna trú tại xứ Sunàparanta.

15. Và trong mùa mưa ấy, Tôn giả Punna độ cho khoảng 500 cư sĩ. Cũng trong mùa mưa ấy, Tôn giả chứng được ba minh. Và cũng trong mùa mưa ấy Tôn giả Punna viên tịch.

16. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

17. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thiện gia nam tử Punna, sau khi được Thế Tôn giáo giới một cách vắn tắt, đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy thế nào?

− Bậc Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Punna. Sở hành là đúng pháp và thuận pháp. Vị ấy không làm phiền não Ta với những kiện tụng về pháp. Hoàn toàn tịch diệt, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Punna.

SN 35.89 Với Bāhiya Bāhiyasutta

Rồi Tôn giả Bāhiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

“Ông nghĩ sao, Bāhiya? Mắt là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … cảm giác đau đớn, dễ chịu, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Và rồi Tôn giả Bāhiya tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật đã nói. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

Rồi Bāhiya, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống thế tục để sống không nhà cửa.

Ngài hiểu rằng: “Sanh đã tận; phạm hạnh đã thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Bāhiya đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

89. VI. Bàhiya (S.iv, 63)

1. …

2. Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4-8. − Ông nghĩ thế nào, này Bàhiya, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Nhãn thức… Nhãn xúc…

9.… Do duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Thấy vậy, này Bàhiya, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11. Và Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.90 Sự Dao Động (Thứ nhất) Paṭhamaejāsutta

"Này các Tỷ kheo, sự dao động (turbulence / ejā / sự rung chuyển, bất an của tâm) là một căn bệnh, một cái ung nhọt, một mũi tên (dart / phi tiêu, ám chỉ sự đau khổ xuyên thấu). Đó là lý do tại sao Như Lai sống không dao động, với mũi tên đã được rút ra.

Bây giờ, một Tỷ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta sống không dao động, với mũi tên đã được rút ra.’

Vậy thì họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là mắt, đừng ảo tưởng nó trong mắt, đừng ảo tưởng nó như là mắt, đừng ảo tưởng rằng ‘mắt là của tôi.’ Họ đừng ảo tưởng cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc … Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên. Họ đừng ảo tưởng nó trong đó, đừng ảo tưởng nó như là đó, và đừng ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là tai … mũi … lưỡi … thân … trí não … ý nghĩ … ý thức … ý xúc … Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Họ đừng ảo tưởng nó trong đó, đừng ảo tưởng nó như là đó, và đừng ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’

Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là tất cả, đừng ảo tưởng nó trong tất cả, đừng ảo tưởng nó như là tất cả, và đừng ảo tưởng rằng ‘tất cả là của tôi’.

Không ảo tưởng, họ không bám giữ vào bất cứ điều gì trên đời. Không bám giữ, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình đạt Niết-bàn.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

90. VII. Ái Nhiễm (Ejà) (S.iv,64)

1. …

2. − Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.

4. Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.

5-6. Chớ có nghĩ đến tai… Chớ có nghĩ đến mũi…

7-8. Chớ có nghĩ đến lưỡi… Chớ có nghĩ đến thân…

9. Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.

10. Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.

11. Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.91 Sự Dao Động (Thứ hai) Dutiyaejāsutta

"Này các Tỷ kheo, sự dao động là một căn bệnh, một cái ung nhọt, một mũi tên. Đó là lý do tại sao Như Lai sống không dao động, với mũi tên đã được rút ra.

Bây giờ, một Tỷ kheo có thể mong muốn: ‘Mong sao ta sống không dao động, với mũi tên đã được rút ra.’

Vậy thì họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là mắt, đừng ảo tưởng nó trong mắt, đừng ảo tưởng nó như là mắt, đừng ảo tưởng rằng ‘mắt là của tôi.’ Họ đừng ảo tưởng cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc … Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên. Họ đừng ảo tưởng nó trong đó, đừng ảo tưởng nó như là đó, và đừng ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’ Vì bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó là, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó trong, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó như, và bất cứ điều gì ông ảo tưởng là ‘của tôi’: điều đó trở thành một cái khác. Thế giới dính mắc vào sự tồn tại, chỉ hoan hỷ trong sự tồn tại, nhưng rồi nó trở thành một cái khác.

Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là tai … mũi … lưỡi … thân …

Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là ý … ý thức … ý xúc … Họ đừng ảo tưởng bất cứ điều gì là cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên. Họ đừng ảo tưởng nó trong đó, đừng ảo tưởng nó như là đó, và đừng ảo tưởng rằng ‘đó là của tôi.’ Vì bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó là, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó trong, bất cứ điều gì ông ảo tưởng nó như, và bất cứ điều gì ông ảo tưởng là ‘của tôi’: điều đó trở thành một cái khác. Thế giới dính mắc vào sự tồn tại, chỉ hoan hỷ trong sự tồn tại, nhưng rồi nó trở thành một cái khác.

Cho đến khi các uẩn, giới, và xứ còn mở rộng, họ không ảo tưởng bất cứ điều gì là cái đó, họ không ảo tưởng nó trong cái đó, họ không ảo tưởng nó như là cái đó, và họ không ảo tưởng rằng ‘cái đó là của tôi.’

Không ảo tưởng, họ không bám giữ vào bất cứ điều gì trên đời. Không bám giữ, họ không lo âu. Không lo âu, họ tự mình đạt Niết-bàn.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

91. VIII. Ái Nhiễm (S.iv,66)

1. …

2. − Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật, ái nhiễm là mụt nhọt, ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.

4-6. Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của ta”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của ta”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức… Chớ có nghĩ đến nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh (Bhavasatto), nên thế giới hoan hỷ tái sanh… tai… mũi…

7-8. … lưỡi… thân…

9. Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của ta”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của ta”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của ta”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: “Cái gì là của ta”, từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.

Này các Tỷ-kheo, cho đến uẩn, giới, xứ… chớ có nghĩ đến cái ấy, chớ có nghĩ đến trong cái ấy, chớ có nghĩ đến từ cái ấy, chớ có nghĩ đến: “Cái ấy là của ta”. Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.92 Tính hai mặt (Thứ nhất) Paṭhamadvayasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông về tính hai mặt (duality / dvaya / tính hai mặt). Hãy lắng nghe …

hai mặt là gì? Đó chỉ là mắt và cảnh sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và vị, thân và xúc chạm, và trí não và ý nghĩ. Đây được gọi là tính hai mặt .

Này các Tỷ kheo, giả sử có người nói: ‘Tôi sẽ bác bỏ hai mặt này và mô tả tính hai mặt khác.’ Họ sẽ không có cơ sở cho điều đó, họ sẽ bị bối rối bởi các câu hỏi, và hơn nữa, họ sẽ trở nên bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì họ đã vượt ngoài phạm vi hiểu biết của họ."

92. IX. Cả Hai (S.iv,67)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?

3. Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai.

4. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác”; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.

5. Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy.

SN 35.93 Tính hai mặt (Thứ hai) Dutiyadvayasutta

"Này các Tỷ kheo, thức tồn tại tùy thuộc vào tính hai mặt . Và hai mặt đó là gì?

Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Mắt là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Cảnh sắc là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Vì vậy, hai mặt này đang lung lay và sụp đổ; nó vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Mắt thức là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Và các nguyên nhân và lý do làm khởi sanh mắt thức cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Nhưng vì mắt thức đã khởi lên tùy thuộc vào các điều kiện vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Sự gặp gỡ, kết hợp, và nối liền của ba điều này được gọi là mắt xúc. Mắt xúc cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Và các nguyên nhân và lý do làm khởi sanh mắt xúc cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Nhưng vì mắt xúc đã khởi lên tùy thuộc vào các điều kiện vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Có xúc nên có cảm giác; có xúc nên có ý định; có xúc nên có nhận thức. Vì vậy những điều này cũng đang lung lay và sụp đổ; chúng vô thường, suy tàn, và hoại diệt.

Tai thức … Mũi thức … Lưỡi thức … Thân thức …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Trí não là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Ý nghĩ là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Vì vậy, hai mặt này đang lung lay và sụp đổ; nó vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Ý thức là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Và các nguyên nhân và lý do làm khởi sanh ý thức cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Nhưng vì ý thức đã khởi lên tùy thuộc vào các điều kiện vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Sự gặp gỡ, kết hợp, và nối liền của ba điều này được gọi là ý xúc. Ý xúc cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Và các nguyên nhân và lý do làm khởi sanh ý xúc cũng là vô thường, suy tàn, và hoại diệt. Nhưng vì ý xúc đã khởi lên tùy thuộc vào các điều kiện vô thường, làm sao nó có thể là thường hằng?

Có xúc nên có cảm giác; có xúc nên có ý định; có xúc nên có nhận thức. Vì vậy những điều này cũng đang lung lay và sụp đổ; chúng vô thường, suy tàn, và hoại diệt.

Đây là cách thức tồn tại tùy thuộc vào tính hai mặt ."

93. X. Cả Hai (S .iv,67)

1. …

2. − Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

3. Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do cảm xúc nên có cảm thọ (?), do cảm xúc nên có tư lường, do cảm xúc nên có hay biết (?). Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

4. Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức…

5. Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức…

6. Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức…

7. Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức…

8. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do cảm xúc nên có cảm thọ, do cảm xúc, nên có tư lường, do cảm xúc, nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.

Chương về Sáu

SN 35.94 Không Được Điều Phục, Không Được Phòng Hộ Adantaaguttasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, sáu trường tiếp xúc này mang lại khổ đau khi chúng không được điều phục, không được phòng hộ, không được bảo vệ, và không được chế ngự. Sáu là gì?

Trường tiếp xúc của mắt mang lại khổ đau khi nó không được điều phục, không được phòng hộ, không được bảo vệ, và không được chế ngự.

Trường tiếp xúc của tai … trường tiếp xúc của mũi … trường tiếp xúc của lưỡi … trường tiếp xúc của thân …

Trường tiếp xúc của trí não mang lại khổ đau khi nó không được điều phục, không được phòng hộ, không được bảo vệ, và không được chế ngự.

Sáu trường tiếp xúc này mang lại khổ đau khi chúng không được điều phục, không được phòng hộ, không được bảo vệ, và không được chế ngự.

Sáu trường tiếp xúc này mang lại hạnh phúc khi chúng được điều phục tốt, được phòng hộ tốt, được bảo vệ tốt, và được chế ngự tốt. Sáu là gì?

Trường tiếp xúc của mắt mang lại hạnh phúc khi nó được điều phục tốt, được phòng hộ tốt, được bảo vệ tốt, và được chế ngự tốt.

Trường tiếp xúc của tai … trường tiếp xúc của mũi … trường tiếp xúc của lưỡi … trường tiếp xúc của thân …

Trường tiếp xúc của trí não mang lại hạnh phúc khi nó được điều phục tốt, được phòng hộ tốt, được bảo vệ tốt, và được chế ngự tốt.

Sáu trường tiếp xúc này mang lại hạnh phúc khi chúng được điều phục tốt, được phòng hộ tốt, được bảo vệ tốt, và được chế ngự tốt."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Này các Tỷ kheo, chính là sáu trường tiếp xúc
dẫn người không chế ngự đến khổ đau.
Những ai hiểu cách chế ngự chúng
sống với niềm tin làm bạn, không mưng mủ.

Khi thấy những cảnh sắc dễ chịu
và cả những cảnh khó chịu,
hãy loại bỏ mọi ham muốn đối với cái dễ chịu,
không ghét bỏ cái ông không thích.

Khi nghe những âm thanh vừa ý và không vừa ý,
đừng rơi vào sự mê hoặc của những âm thanh ông thích,
hãy loại bỏ sự ghét bỏ đối với cái không vừa ý,
và đừng làm tổn thương tâm trí mình
- bằng cách nghĩ về những gì ông không thích.

Khi ngửi một mùi hương dễ chịu, thơm ngát,
và một mùi hôi thối, khó chịu,
hãy loại bỏ sự ghê tởm đối với cái khó chịu,
trong khi không khuất phục trước ham muốn đối với cái dễ chịu.

Khi thưởng thức một vị ngọt, ngon lành,
và đôi khi những vị đắng,
đừng dính mắc vào việc thưởng thức vị ngọt,
và đừng khinh miệt vị đắng.

Đừng say sưa với một xúc chạm dễ chịu,
và đừng run rẩy trước một xúc chạm đau đớn.
Hãy nhìn với tâm xả đối với hai mặt
- của những xúc chạm dễ chịu và đau đớn,
không thiên vị hay chống đối bất cứ điều gì.

Người ta thường để cho nhận thức của mình lan rộng;
nhận thức và lan rộng, họ bị thu hút.
Khi xua tan mọi suy nghĩ về đời sống tại gia,
hãy lang thang với ý định xuất gia.

Khi tâm được phát triển tốt như thế này
- đối với sáu giác quan,
nó không hề dao động trước các xúc chạm.
Này các Tỷ kheo, những ai đã làm chủ được tham và sân
sẽ vượt qua sanh và tử."

V. Phẩm Từ Bỏ

94. I. Thâu Nhiếp (S.iv,70)

1. …

2. − Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

3-5. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ… Tai… Mũi…

6-7. … Lưỡi… Thân…

8. Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

9. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

10. Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

11-13. Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc… Tai… Mũi…

14-15. … Lưỡi… Thân…

16. Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

17. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

18. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.

2) Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối sắc, ta không thích”.

3) Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
“Ðối tiếng, ta không thích”.

4) Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.

5) Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.

6) Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.

Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.

7) Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.

8) Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.

SN 35.95 Māluṅkyaputta Mālukyaputtasutta

Rồi Tôn giả Māluṅkyaputta đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe nó, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm.”

“Này Māluṅkyaputta, chúng ta phải nói gì với các Tỷ kheo trẻ, khi ngay cả một người già như ông, lớn tuổi và cao niên, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời, lại yêu cầu một lời khuyên ngắn gọn?”

“Bạch Thế Tôn, mặc dù con là một người già, lớn tuổi và cao niên, xin Đức Phật hãy dạy cho con Pháp một cách ngắn gọn! Xin Bậc Thánh Tôn hãy dạy cho con một cách ngắn gọn! Hy vọng con có thể hiểu được ý nghĩa của những gì Đức Phật nói. Hy vọng con có thể là người thừa kế giáo pháp của Đức Phật!”

“Ông nghĩ sao, Māluṅkyaputta? Ông có ham muốn hay tham lam hay yêu thích nào đối với những cảnh sắc được biết bởi mắt mà ông chưa thấy, chưa bao giờ thấy trước đây, ông không thấy, và ông không nghĩ sẽ được thấy không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Ông có ham muốn hay tham lam hay yêu thích nào đối với những âm thanh được biết bởi tai …

mùi hương được biết bởi mũi …

vị được biết bởi lưỡi …

xúc chạm được biết bởi thân …

ý nghĩ được biết bởi trí não mà ông chưa biết, chưa bao giờ biết trước đây, ông không biết, và ông không nghĩ sẽ được biết không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Trong trường hợp đó, đối với những gì có thể được thấy, nghe, suy tư, và biết: trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái suy tư sẽ chỉ là cái suy tư; trong cái biết sẽ chỉ là cái biết. Khi là như vậy, ông sẽ không ‘do đó’. Khi ông không ‘do đó’, ông sẽ không ‘trong đó’. Khi ông không ‘trong đó’, ông sẽ không ở đời này, đời sau, hay khoảng giữa hai đời. Chỉ điều này là sự chấm dứt của khổ.”

"Đây là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời tuyên bố ngắn gọn của Đức Phật:

'Khi ông thấy một cảnh sắc, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ cảnh sắc.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Khi ông nghe một âm thanh, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ âm thanh.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Khi ông ngửi một mùi hương, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ mùi hương.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Khi ông thưởng thức một vị, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ vị.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Khi ông cảm nhận một xúc chạm, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ xúc chạm.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Khi ông biết một ý nghĩ, chánh niệm bị mất
khi ông tập trung vào một nét khả ái.
Trải nghiệm nó với một tâm đầy ham muốn,
ông tiếp tục bám víu vào nó.

Nhiều cảm giác lớn dần
khởi lên từ ý nghĩ.
Tâm bị tổn hại
bởi tham ái và tàn nhẫn.
Chồng chất khổ đau như thế này,
ông được cho là xa rời sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với cảnh sắc
khi ông thấy một cảnh sắc với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi thấy một cảnh sắc
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với âm thanh
khi ông nghe một âm thanh với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi nghe một âm thanh
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với mùi hương
khi ông ngửi một mùi hương với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi ngửi một mùi hương
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với vị
khi ông thưởng thức một vị với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi thưởng thức một vị
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với xúc chạm
khi ông cảm nhận một xúc chạm với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi cảm nhận một xúc chạm
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.

Không có ham muốn đối với ý nghĩ
khi ông biết một ý nghĩ với chánh niệm.
Trải nghiệm nó với một tâm không ham muốn,
ông không tiếp tục bám víu vào nó.

Khi biết một ý nghĩ
nhận mặt và ngắm nhìn quen,
làm mòn, không tích chứa:
chánh niệm chính ở đây.
Làm xói mòn khổ đau như thế này,
ông được cho là ở gần sự tịch diệt.’

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời tuyên bố ngắn gọn của Đức Phật."

“Tốt lắm, tốt lắm, Māluṅkyaputta! Thật tốt khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn như thế này.” Và Ngài lặp lại toàn bộ các câu kệ.

“Đây là cách hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Ta đã nói ngắn gọn.”

Và rồi Tôn giả Māluṅkyaputta tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật đã nói. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi. Rồi Māluṅkyaputta, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết tâm, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà các thiện nam tử chân chính xuất gia từ đời sống thế tục để sống không nhà cửa.

Ngài hiểu rằng: “Sanh đã tận; phạm hạnh đã thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Māluṅkyaputta đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

92. II. Thâu Nhiếp (S.iv,72)

1. …

2. Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế Tôn:

− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

4. − Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các Tỷ-kheo trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?

5. − Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ hiểu ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.

6. − Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt nhận thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay Ông không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

7. − Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước đây Ông không nghe, nay Ông không nghe, và

Ông không muốn nghe; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái hay không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

8. − Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước đây Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không muốn ngửi; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

9. − Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

10. − Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ, trước đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và Ông không muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11. − Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận thức, trước đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn nhận thức;ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

12. − Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ nghe được với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận biết được đối với những vật có thể nhận biết được.

13. Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy, nên Ông không có: “Ở nơi đây”. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có: “Ở nơi đây”, do vậy, này Màlukyaputta, Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Ðây là sự chấm dứt khổ đau.

14. − Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau:

1) Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sinh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết - bàn.

2) Nghe tiếng, niệm mê say,

Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðựơc gọi xa Niết-bàn.

3) Ngửi hương, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến tiếng an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ tiếng sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

4) Nếm vị, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến vị an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ vị sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

5) Cảm xúc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến xúc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ xúc sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

6) Biết pháp, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến pháp an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ pháp sanh,
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,

Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn

7) Vị ấy không tham sắc,
Thấy sắc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến sắc an trú.
Theo sắc, vị ấy thấy,
Tùy sắc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn

8) Vị ấy không tham tiếng,
Nghe tiếng, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến tiếng an trú.
Theo tiếng, vị ấy nghe,
Tùy tiếng, thọ cảm giác.
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

9) Vị ấy không tham hương,
Ngửi hương, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến hương an trú.
Theo hương, vị ấy ngửi,
Tùy hương, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.

10) Vị ấy không tham vị,
Nếm vị, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến vị an trú.
Theo vị, vị ấy nếm.
Tùy vị, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa.
Ðược gọi gần Niết-bàn.

11) Vị ấy không tham xúc,
Cảm xúc, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến xúc an trú,

Theo xúc, vị ấy cảm,
Tùy xúc, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

12) Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.

15. − Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi:

1) Thấy sắc, niệm mê say,
Tác ý đến ái tướng,
Tâm tham đắm cảm thọ,
Tham luyến sắc an trú.
Vị ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều loại, từ sắc sanh.
Tham dục và hại tâm,
Não hại tâm vị ấy,
Như vậy, khổ tích lũy,
Ðược gọi xa Niết-bàn.

2) - 11) …

12) Vị ấy không tham pháp,
Biết pháp, không ái luyến,
Tâm không dính cảm thọ,
Không luyến pháp an trú.
Theo pháp, vị ấy cảm,
Tùy pháp, thọ cảm giác,
Tiêu mòn, không tích lũy,
Như vậy, chánh niệm hành,
Như vậy, khổ không chứa,
Ðược gọi gần Niết-bàn.

Lời nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

16. Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ

Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

17. Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, chứng được mục đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

18. Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.96 Có Thể Suy Thoái Parihānadhammasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông ai là người có thể suy thoái, ai là người không có thể suy thoái, và sáu trường làm chủ. Hãy lắng nghe …

Và làm thế nào một người có thể suy thoái? Khi một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Giả sử Tỷ kheo đó dung thứ chúng và không từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, tiêu diệt chúng, và xóa bỏ chúng. Họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi đang suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là suy thoái.’

Hơn nữa, khi một Tỷ kheo nghe một âm thanh … ngửi một mùi hương … nếm một vị … cảm nhận một xúc chạm … biết một ý nghĩ bằng trí não, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Nếu Tỷ kheo đó dung thứ chúng và không từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, tiêu diệt chúng, và xóa bỏ chúng, họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi đang suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là suy thoái.’ Đó là cách một người có thể suy thoái.

Và làm thế nào một người không có thể suy thoái? Khi một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Giả sử Tỷ kheo đó không dung thứ chúng mà từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, tiêu diệt chúng, và xóa bỏ chúng. Họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi không suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là không suy thoái.’

Hơn nữa, khi một Tỷ kheo nghe một âm thanh … ngửi một mùi hương … nếm một vị … cảm nhận một xúc chạm … biết một ý nghĩ bằng trí não, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Giả sử Tỷ kheo đó không dung thứ chúng mà từ bỏ chúng, loại bỏ chúng, tiêu diệt chúng, và xóa bỏ chúng. Họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi không suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là không suy thoái.’ Đó là cách một người không có thể suy thoái.

Và sáu trường làm chủ là gì? Khi một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, các pháp xấu, bất thiện không khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Họ nên hiểu rằng: ‘Giác quan này đã được làm chủ. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là một trường làm chủ.’ … Hơn nữa, khi một Tỷ kheo biết một ý nghĩ bằng trí não, các pháp xấu, bất thiện không khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Họ nên hiểu rằng: ‘Giác quan này đã được làm chủ. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là một trường làm chủ.’ Đây là sáu trường làm chủ."

96. III. Thối Ðọa (Parihànam) (S.iv,76)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?

4-6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng (adhivàseti), không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp thối đọa,… tai nghe tiếng… mũi ngửi hương…

7-8. … lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng, không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp thối đọa.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp thối đọa.

11. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là pháp bất thối đọa.

12-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa… tai nghe tiếng… mũi ngửi hương…

15-16. … lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

17. Ở đây, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp bất thối đọa.

19. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thắng xứ?

20-24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Thế Tôn gọi đây là thắng xứ… tai…mũi… lưỡi… thân…

25. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Xứ này đã được nhiếp phục”. Và Thế Tôn gọi đây là thắng xứ.

SN 35.97 Người Sống Sao Nhãng Pamādavihārīsutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông ai là người sống sao nhãng (negligently / pamāda / buông lung, không chú tâm) và ai là người sống siêng năng (diligently / appamāda / không buông lung, tinh tấn). Hãy lắng nghe …

Và làm thế nào một người sống sao nhãng?

Khi ông sống với mắt căn không được chế ngự, tâm ông trở nên ô nhiễm khi đối diện với những cảnh sắc được biết bởi mắt. Khi tâm bị ô nhiễm, không có niềm vui (joy / pāmojja). Khi không có niềm vui, không có hân hoan (rapture / pīti). Khi không có hân hoan, không có khinh an (tranquility / sự yên ổn). Khi không có khinh an, có khổ đau. Khi một người đau khổ, tâm không thể nhập định (samādhi / sự tập trung tâm ý vào một điểm). Khi tâm không nhập định, các nguyên lý không trở nên rõ ràng. Bởi vì các nguyên lý chưa trở nên rõ ràng, ông được coi là sống sao nhãng.

Khi ông sống với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não không được chế ngự, tâm ông trở nên ô nhiễm khi đối diện với những ý nghĩ được biết bởi trí não. Khi tâm bị ô nhiễm, không có niềm vui. Khi không có niềm vui, không có hân hoan. Khi không có hân hoan, không có khinh an. Khi không có khinh an, có khổ đau. Khi một người đau khổ, tâm không thể nhập định. Khi tâm không nhập định, các nguyên lý không trở nên rõ ràng. Bởi vì các nguyên lý chưa trở nên rõ ràng, ông được coi là sống sao nhãng.

Đó là cách một người sống sao nhãng.

Và làm thế nào một người sống siêng năng?

Khi ông sống với mắt căn được chế ngự, tâm ông không trở nên ô nhiễm khi đối diện với những cảnh sắc được biết bởi mắt. Khi tâm không bị ô nhiễm, niềm vui nảy sinh. Khi vui vẻ, hân hoan nảy sinh. Khi tâm đầy hân hoan, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ta cảm thấy an vui (bliss / sukha). Và khi an vui, tâm nhập định. Khi tâm nhập định, các nguyên lý trở nên rõ ràng. Bởi vì các nguyên lý đã trở nên rõ ràng, ông được coi là sống siêng năng.

Khi ông sống với tai … mũi … lưỡi … thân … trí não được chế ngự, tâm ông không trở nên ô nhiễm khi đối diện với những ý nghĩ được biết bởi trí não. Khi tâm không bị ô nhiễm, niềm vui nảy sinh. Khi vui vẻ, hân hoan nảy sinh. Khi tâm đầy hân hoan, thân trở nên yên ổn. Khi thân yên ổn, người ta cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm nhập định. Khi tâm nhập định, các nguyên lý trở nên rõ ràng. Bởi vì các nguyên lý đã trở nên rõ ràng, ông được coi là sống siêng năng.

Đó là cách một người sống siêng năng."

96. IV. Sống Phóng Dật (Pamàdavihàri) (S.iv,78)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?

4-6. Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật… nhĩ căn… tỷ căn…

7-8. … thiệt căn… thân căn…

9. Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.

11. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?

12-14. Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật… nhĩ căn… tỷ căn…

15-16. … thiệt căn… thân căn…

17. Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.

SN 35.98 Chế Ngự Saṁvarasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông ai là người được chế ngự và ai là người không được chế ngự. Hãy lắng nghe …

Và làm thế nào một người không được chế ngự?

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi đang suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là suy thoái.’

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi đang suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là suy thoái.’

Đây là cách một người không được chế ngự.

Và làm thế nào một người được chế ngự?

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi không suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là không suy thoái.’

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ nên hiểu rằng: ‘Các thiện pháp của tôi không suy thoái. Vì đây là những gì Đức Phật gọi là không suy thoái.’

Đây là cách một người được chế ngự."

98. V. Nhiếp Hộ (Samvara) (S.iv,79)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về nhiếp hộ và không nhiếp hộ. Hãy lắng nghe.

3. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ?

4-6. Và này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta đã làm thối thất các thiện pháp”. Thế Tôn gọi đây là pháp thối đọa… Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức…

7-8. Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

9. Có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta đã làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là thối thất.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ.

11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nhiếp hộ?

12-14. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương và an trú với tâm không tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất… Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức…

15-16. Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

17. Và này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ Ðến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương và an trú với tâm không tham luyến; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: “Ta không làm thối thất các thiện pháp”. Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất.

18. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có nhiếp hộ.

SN 35.99 Nhập Định Samādhisutta

"Này các Tỷ kheo, hãy phát triển định. Một Tỷ kheo có định thật sự hiểu rõ. Họ thật sự hiểu rõ điều gì?

Họ thật sự hiểu rõ rằng mắt là vô thường. Họ thật sự hiểu rõ rằng cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc … cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên là vô thường. …

Họ thật sự hiểu rõ rằng trí não là vô thường. Họ thật sự hiểu rõ rằng ý nghĩ … ý thức … ý xúc … cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên là vô thường.

Này các Tỷ kheo, hãy phát triển định. Một Tỷ kheo có định thật sự hiểu rõ."

99. VI. Thiền Ðịnh (S.iv,80)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.

3. Và hiểu rõ như thật cái gì?

4-8.− Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường… tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.

10. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.

SN 35.100 Độc Cư Paṭisallānasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy thiền định trong độc cư (retreat / sự ẩn dật, tu tập một mình). Một Tỷ kheo trong độc cư thật sự hiểu rõ. Họ thật sự hiểu rõ điều gì?

Họ thật sự hiểu rõ rằng mắt là vô thường. Họ thật sự hiểu rõ rằng cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc … cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên là vô thường.

Này các Tỷ kheo, hãy thiền định trong độc cư. Một Tỷ kheo trong độc cư thật sự hiểu rõ."

100. VII. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.iv,80)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.

3. Và hiểu rõ gì như thật?

4-9. Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường… tai… lưỡi… thân… ý…

10. Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.

SN 35.101 Không Phải của Các Ông (Thứ nhất) Paṭhamanatumhākasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Và cái gì không phải của các ông?

Mắt không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Cảnh sắc … Mắt thức … Mắt xúc … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do mắt xúc làm duyên không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Trí não không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Ý nghĩ … Ý thức … Ý xúc … Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Giả sử một người mang đi cỏ, gậy, cành, và lá trong Tịnh xá Jeta này, hoặc đốt chúng, hoặc làm gì họ muốn với chúng. Các ông có nghĩ rằng: ‘Người này đang mang chúng ta đi, đốt chúng ta, hoặc làm gì họ muốn với chúng ta’ không?"

“Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì đối với chúng con, đó không phải là tự ngã cũng không thuộc về tự ngã.”

"Cũng vậy, mắt không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông."

101. VIII. Không Phải Của Các Ông (S.iv,81)

1. …

2. − Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông.

3. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

4-6. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông… Tai… Mũi…

7-8. … Lưỡi… Thân…

9. Ý không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các pháp không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: “Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.

11-16. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông… Nhãn thức không phải của các Ông… Nhãn xúc không phải của các Ông… Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 35.102 Không Phải của Các Ông (Thứ hai) Dutiyanatumhākasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Và cái gì không phải của các ông?

Mắt không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Cảnh sắc … Mắt thức … Mắt xúc …

Cảm giác dễ chịu, đau đớn, hay trung tính khởi lên do ý xúc làm duyên không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông."

102. IX. Không Phải Của Các Ông (S.iv,82)

(Như kinh trên từ 2 đến 9, không có ví dụ).

SN 35.103 Về Uddaka Udakasutta

"Này các Tỷ kheo, Uddaka con trai của Rāma, thường nói:

‘Đây rồi! Tuyệt đối là bậc tri giả!
Đây rồi! Tuyệt đối là bậc toàn thắng!
Đây rồi! Tuyệt đối là gốc rễ của ung nhọt
chưa được đào đã được đào lên!’

Mặc dù Uddaka con trai của Rāma không phải là bậc tri giả, ông ta nói ‘Ta là bậc tri giả.’ Mặc dù ông ta không phải là bậc toàn thắng, ông ta nói ‘Ta là bậc toàn thắng.’ Và mặc dù gốc rễ của ung nhọt chưa được đào lên, ông ta nói ‘Ta đã đào lên gốc rễ của ung nhọt.’

Đây là cách một Tỷ kheo sẽ nói một cách đúng đắn:

‘Đây rồi! Tuyệt đối là bậc tri giả!
Đây rồi! Tuyệt đối là bậc toàn thắng!
Đây rồi! Tuyệt đối là gốc rễ của ung nhọt
chưa được đào đã được đào lên!’

Và làm thế nào một người là bậc tri giả? Đó là khi một Tỷ kheo thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng. Đó là cách một Tỷ kheo là bậc tri giả.

Và làm thế nào một Tỷ kheo là bậc toàn thắng? Đó là khi một Tỷ kheo được giải thoát do không bám giữ sau khi thật sự hiểu rõ sáu trường tiếp xúc về nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của chúng. Đó là cách một Tỷ kheo là bậc toàn thắng.

Và làm thế nào một Tỷ kheo đã đào lên gốc rễ của ung nhọt chưa được đào? ‘Ung nhọt’ là một thuật ngữ chỉ thân này được tạo thành từ bốn đại, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có thể vô thường, hao mòn và xói mòn, tan rã và hủy diệt. ‘Gốc rễ của ung nhọt’ là một thuật ngữ chỉ ái. Đó là khi một Tỷ kheo đã từ bỏ ái, cắt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, xóa bỏ nó, để nó không thể khởi lên trong tương lai. Đó là cách một Tỷ kheo đã đào lên gốc rễ của ung nhọt chưa được đào.

Uddaka con trai của Rāma thường nói:

‘Đây rồi! Tuyệt đối là bậc tri giả!
Đây rồi! Tuyệt đối là bậc toàn thắng!
Đây rồi! Tuyệt đối là gốc rễ của ung nhọt
chưa được đào đã được đào lên!’

Mặc dù Uddaka con trai của Rāma không phải là bậc tri giả, ông ta nói ‘Ta là bậc tri giả.’ Mặc dù ông ta không phải là bậc toàn thắng, ông ta nói ‘Ta là bậc toàn thắng.’ Và mặc dù gốc rễ của ung nhọt chưa được đào lên, ông ta nói ‘Ta đã đào lên gốc rễ của ung nhọt.’

Nhưng đó là cách một Tỷ kheo sẽ nói một cách đúng đắn:

‘Đây rồi! Tuyệt đối là bậc tri giả!
Đây rồi! Tuyệt đối là bậc toàn thắng!
Đây rồi! Tuyệt đối là gốc rễ của ung nhọt
chưa được đào đã được đào lên!’"

Năm mươi bài kinh thứ ba

103. X. Uddaka (S.iv,83)

1. …

2. − Uddaka Ràmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:

"Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào".

Này các Tỷ-kheo, Uddaka Ràmaputta không phải bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả” không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia, chưa từng đào.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí (vedagù)? Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo minh trí.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành này, sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh là vô thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt. Gốc rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn từ trước chưa được đào lên.

7. Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Ràmaputta đã nói lên lời nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.

Này các Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:

Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.

Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba

Chương về Nơi An Ổn

SN 35.104 An Ổn khỏi Ách Bược Yogakkhemisutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông một bài giảng về giáo pháp, một lời giải thích về người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các khổ ách (sanctuary from the yoke / nơi trú ẩn an toàn khỏi các ràng buộc). Hãy lắng nghe …

Và bài giảng về giáo pháp, lời giải thích về người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các khổ ách là gì?

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Như Lai đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa bỏ chúng, để chúng không thể khởi lên trong tương lai. Ngài dạy việc trói buộc mình vào thiền định để từ bỏ chúng. Đó là lý do tại sao Như Lai được gọi là người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các khổ ách. …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Như Lai đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa bỏ chúng, để chúng không thể khởi lên trong tương lai. Ngài dạy việc trói buộc mình vào thiền định để từ bỏ chúng. Đó là lý do tại sao Như Lai được gọi là người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các khổ ách.

Đây là một bài giảng về giáo pháp, một lời giải thích về người đã tìm thấy sự an ổn khỏi các khổ ách."

I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách

104. I. Người Ðược An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách (S.iv,85)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách, pháp môn đúng pháp. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách?

4-8. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách… có những tiếng… có những hương… có những vị… có những xúc…

9. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những pháp ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được gọi là vị đã được an ổn khỏi các khổ ách.

10. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn đưa đến an ổn khỏi các khổ ách, là pháp môn đúng pháp.

SN 35.105 Vì Bám Giữ Upādāyasutta

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, vì bám giữ vào cái gì, mà sự an vui và khổ đau khởi lên trong chính mình?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Này các Tỷ kheo, khi có mắt, vì bám giữ vào mắt, sự an vui và khổ đau khởi lên trong chính mình. … Khi có trí não, vì bám giữ vào trí não, sự an vui và khổ đau khởi lên trong chính mình.

Các ông nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng bằng cách không bám giữ vào cái vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, liệu sự an vui và khổ đau có khởi lên trong chính mình không?”

“Không, bạch Thế Tôn.” …

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng bằng cách không bám giữ vào cái vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, liệu sự an vui và khổ đau có khởi lên trong chính mình không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

105. II. Chấp Thủ (S.iv,85)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ?

3. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4. − Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ… tai… mũi… lưỡi… thân… Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc, nội khổ.

5. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

6. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.106 Nguồn Gốc của Khổ Dukkhasamudayasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguồn gốc và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe …

Và này các Tỷ kheo, nguồn gốc của khổ là gì? Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Đây là nguồn gốc của khổ.

Và sự chấm dứt của khổ là gì? Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt, sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt. Khi sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt, tái sanh chấm dứt. Khi tái sanh chấm dứt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ. …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt, sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt. Khi sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt, tái sanh chấm dứt. Khi tái sanh chấm dứt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của khổ."

106. III. Khổ (S.iv,86)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về khổ tập khởi và khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?

4-9. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân… Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi, này các Tỷ-kheo.

10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?

11. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.

12-13. Do duyên tai… Do duyên mũi…

14-15. Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

16. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.

SN 35.107 Nguồn Gốc của Thế Gian Lokasamudayasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông nguồn gốc và sự chấm dứt của thế gian. Hãy lắng nghe …

Và này các Tỷ kheo, nguồn gốc của thế gian là gì? Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho bám giữ. Bám giữ là điều kiện cho sự tồn tại tiếp diễn. Sự tồn tại tiếp diễn là điều kiện cho tái sanh. Tái sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đây là nguồn gốc của thế gian. …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho bám giữ. Bám giữ là điều kiện cho sự tồn tại tiếp diễn. Sự tồn tại tiếp diễn là điều kiện cho tái sanh. Tái sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đây là nguồn gốc của thế gian.

Và sự chấm dứt của thế gian là gì? Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt, sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt. Khi sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt, tái sanh chấm dứt. Khi tái sanh chấm dứt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế gian. …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt … Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt. Đây là sự chấm dứt của thế gian."

107. IV. Thế Giới (S.iv,87)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về thế giới tập khởi và thế giới đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?

4. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.

5-7. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

8. Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh nên có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới tập khởi.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?

10-15. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đoạn diệt. Như vậy, đây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

16. Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt.

SN 35.108 Tôi Tốt Hơn Seyyohamasmisutta

“Này các Tỷ kheo, khi cái gì tồn tại, vì bám giữ vào cái gì và khăng khăng vào cái gì, mà người ta nghĩ ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi bằng’ hoặc ‘Tôi kém hơn’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Khi có mắt, vì bám giữ vào mắt và khăng khăng vào mắt, người ta nghĩ ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi bằng’ hoặc ‘Tôi kém hơn’. …

Khi có trí não, vì bám giữ vào ý và khăng khăng vào trí não, người ta nghĩ ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi bằng’ hoặc ‘Tôi kém hơn’.

Các ông nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Mắt là thường hay vô thường?"

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng bằng cách không bám giữ vào cái vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, liệu người ta có nghĩ ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi bằng’ hoặc ‘Tôi kém hơn’ không?”

“Không, bạch Thế Tôn.” …

“Trí não là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng bằng cách không bám giữ vào cái vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, liệu người ta có nghĩ ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi bằng’ hoặc ‘Tôi kém hơn’ không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

108. V. Thắng (S. iv,88)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”?

3. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

4-9. − Này các Tỷ-kheo, do có mắt, do chấp thủ mắt, do thiên chấp mắt nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”… Do có ý, do chấp thủ ý, do thiên chấp ý nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”.

10. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái vì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi”, hay “Thấp kém là tôi” không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11. − Tai là thường hay vô thường…

12. Mũi là thường hay vô thường…

13. Lưỡi là thường hay vô thường…

14. Thân là thường hay vô thường…

15. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi” không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

16. − Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.109 Những Gì Dễ Bị Trói Buộc Saṁyojaniyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông những gì dễ bị trói buộc, và sự trói buộc. Hãy lắng nghe …

Những gì dễ bị trói buộc là gì? Và sự trói buộc là gì? Mắt là thứ dễ bị trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự trói buộc.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thứ dễ bị trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự trói buộc. Đây được gọi là những gì dễ bị trói buộc, và đây là sự trói buộc."

109. VI. Kiết Sử (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử. Hãy lắng nghe. Thế nào là kiết sử?

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử và… kiết sử?

4-9. Này các Tỷ-kheo, mắt là pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử… Ý là pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử.

10. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là những pháp bị kiết sử và kiết sử.

SN 35.110 Những Gì Dễ Trở Thành Nhiên Liệu cho Sự Bám Giữ Upādāniyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông những gì trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ, và sự bám giữ. Hãy lắng nghe …

Những gì trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ là gì? Và sự bám giữ là gì? Mắt là thứ dễ trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự bám giữ.

Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thứ dễ trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ. Ham muốn và tham lam đối với nó là sự bám giữ. Đây được gọi là những gì trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ, và đây là sự bám giữ."

110. VII. Chấp Thủ (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị chấp thủ và chấp thủ. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ, và thế nào là chấp thủ?

4-9. Mắt, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ… Ý là pháp bị chấp thủ. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ.

10. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là những pháp bị chấp thủ, và chấp thủ.

SN 35.111 Hiểu biết hoàn toàn về Nội Tại Ajjhattikāyatanaparijānanasutta

"Này các Tỷ kheo, không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn mắt, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ.

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn mắt, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ.

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, có ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ."

111. VIII. Tuệ Tri (Pajànàti) (S.iv,89)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt nên không thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý nên không thể đoạn tận khổ đau.

8-13. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ ý nên có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.112 Hiểu biết hoàn toàn về Ngoại Tại Bāhirāyatanaparijānanasutta

"Này các Tỷ kheo, không biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn cảnh sắc … âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ, không ly tham và từ bỏ chúng, các ông không thể chấm dứt khổ.

Bằng cách biết trực tiếp và hiểu biết hoàn toàn cảnh sắc … âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ, có ly tham và từ bỏ chúng, các ông có thể chấm dứt khổ."

112. IX. Tuệ Tri (S.iv,90)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc nên không thể đoạn tận khổ đau… các tiếng… các hương… các vị… các xúc… Do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp nên không thể đoạn tận khổ đau.

8-13. Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau… tai… mũi… lưỡi… thân… Do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các pháp nên có thể đoạn tận khổ đau.

SN 35.113 Nghe Lén Upassutisutta

Một thời, Đức Phật ở tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Rồi trong khi Đức Phật đang ẩn tu riêng, Ngài đã nói bài giảng về giáo pháp này:

"Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho bám giữ. Bám giữ là điều kiện cho sự tồn tại tiếp diễn. Sự tồn tại tiếp diễn là điều kiện cho tái sanh. Tái sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ này khởi sanh.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho bám giữ. Bám giữ là điều kiện cho sự tồn tại tiếp diễn. Sự tồn tại tiếp diễn là điều kiện cho tái sanh. Tái sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não khởi lên. Đó là cách toàn bộ khối khổ này khởi sanh.

Mắt thức khởi lên tùy thuộc vào mắt và cảnh sắc. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt, sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt. Khi sự tồn tại tiếp diễn chấm dứt, tái sanh chấm dứt. Khi tái sanh chấm dứt, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, và não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt.

Tai … mũi … lưỡi … thân …

Ý thức khởi lên tùy thuộc vào trí não và ý nghĩ. Sự gặp gỡ của ba yếu tố này là xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Khi ái đó nhạt dần và chấm dứt không còn sót lại, sự bám giữ chấm dứt. Khi sự bám giữ chấm dứt … Đó là cách toàn bộ khối khổ này chấm dứt."

Lúc đó, có một Tỷ kheo đang đứng nghe lén Đức Phật. Đức Phật thấy vị ấy và nói: “Này Tỷ kheo, ông có nghe bài giảng về giáo pháp đó không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Hãy học bài giảng về giáo pháp đó, ghi nhớ nó, và nhớ kỹ nó. Bài giảng về giáo pháp đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống phạm hạnh.”

113. X. Nghe Trộm (upassuti) (S.iv,90)

1. Một thời Thế Tôn trú tại Nàtika, trong ngôi nhà bằng gạch.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tịnh, nói lên lời pháp giáo này (dhammapariyàyam):

3. − Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

4-7. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

8. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi.

9. Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được đoạn diệt.

10-13. Do duyên tai… Do duyên mũi… Do duyên lưỡi… Do duyên thân…

14. Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này được đoạn diệt.

15. Lúc bấy giờ một Tỷ-kheo đứng nghe trộm Thế Tôn.

16. Thế Tôn thấy Tỷ-kheo ấy đứng nghe trộm.

17. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:

− Này Tỷ-kheo, Ông có nghe pháp giáo này không?

− Thưa có nghe, bạch Thế Tôn.

− Này Tỷ-kheo, hãy học pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì pháp giáo này. Này Tỷ-kheo, pháp giáo này liên hệ đến mục đích, là cứu cánh Phạm hạnh.

Chương về Thế Gian và Các Loại Kích Thích Giác Quan

SN 35.114 Cạm Bẫy của Ma (Thứ nhất) Paṭhamamārapāsasutta

"Này các Tỷ kheo, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo bị mắc vào hang ổ của Ma, rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và bị vướng vào cạm bẫy của Ma. Họ bị trói buộc bởi những sợi dây của Ma, và Ác Ma có thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo bị mắc vào hang ổ của Ma, rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và bị vướng vào cạm bẫy của Ma. Họ bị trói buộc bởi Ma, và Ác Ma có thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo không bị mắc vào hang ổ của Ma, không rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và được giải thoát khỏi cạm bẫy của Ma. Họ được tự do khỏi những sợi dây của Ma, và Ác Ma không thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo không bị mắc vào hang ổ của Ma, không rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và được giải thoát khỏi cạm bẫy của Ma. Họ được tự do khỏi những sợi dây của Ma, và Ác Ma không thể làm với họ những gì hắn muốn."

II. Phẩm Thế Giới Dục Công Ðức

114. I. Màra (Ma) Lưới Bẫy (S.iv,91)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

8-13. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

SN 35.115 Cạm Bẫy của Ma (Thứ hai) Dutiyamārapāsasutta

"Này các Tỷ kheo, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo bị trói buộc trong những cảnh sắc được biết bởi mắt. Họ bị mắc vào hang ổ của Ma, rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và bị vướng vào cạm bẫy của Ma. Họ bị trói buộc bởi những sợi dây của Ma, và Ác Ma có thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo bị trói buộc trong những ý nghĩ được biết bởi trí não. Họ bị mắc vào hang ổ của Ma, rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và bị vướng vào cạm bẫy của Ma. Họ bị trói buộc bởi những sợi dây của Ma, và Ác Ma có thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo được giải thoát khỏi những cảnh sắc được biết bởi mắt. Họ không bị mắc vào hang ổ của Ma, không rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và được giải thoát khỏi cạm bẫy của Ma. Họ được tự do khỏi những sợi dây của Ma, và Ác Ma không thể làm với họ những gì hắn muốn.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, họ được gọi là một Tỷ kheo được giải thoát khỏi những ý nghĩ được biết bởi trí não. Họ không bị mắc vào hang ổ của Ma, không rơi vào tầm kiểm soát của Ma, và được giải thoát khỏi cạm bẫy của Ma. Họ được tự do khỏi những sợi dây của Ma, và Ác Ma không thể làm với họ những gì hắn muốn."

115. II. Màra (Ma) Lưới Bẫy (S.iv,92)

1. …

2-7. − Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo bị trói buộc trong các sắc do mắt nhận thức, đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục, bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức… tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo bị trói buộc trong các pháp do ý nhận thức, đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục, bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.

8-13. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức, khả lạc… hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các sắc do mắt nhận thức, không đi vào trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm… Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các pháp do ý nhận thức, không đi vào trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

SN 35.116 Đi đến Tận Cùng Thế Gian Lokantagamanasutta

“Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng không thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế gian bằng cách đi lại. Nhưng Ta cũng nói rằng không thể chấm dứt khổ đau mà không đến được tận cùng thế gian.”

Khi Ngài đã nói xong, Bậc Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và vào nơi ở của mình.

Ngay sau khi Đức Phật rời đi, các Tỷ kheo đó suy nghĩ: “Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa. … Ai có thể giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra?”

Rồi các Tỷ kheo đó nghĩ: “Tôn giả Ānanda này được Đức Phật khen ngợi và được các bạn đồng tu thông thái kính trọng. Ngài có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra. Chúng ta hãy đến gặp ngài và hỏi ngài về vấn đề này.”

Rồi các Tỷ kheo đó đến gặp Ānanda và chào hỏi ngài. Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, họ ngồi xuống một bên. Họ kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra và nói: “Xin Tôn giả Ānanda hãy giải thích điều này.”

"Này các hiền giả, giả sử có một người cần lõi cây. Và trong khi lang thang tìm kiếm lõi cây, anh ta bắt gặp một cây lớn đứng sừng sững với lõi cây. Nhưng anh ta lại bỏ qua rễ và thân cây, tưởng rằng lõi cây nên được tìm kiếm trong cành và lá.

Đó là hậu quả đối với các hiền giả. Mặc dù các vị đã đối mặt với Đức Phật, các vị đã bỏ qua Ngài, tưởng rằng các vị nên hỏi tôi về vấn đề này. Vì Ngài là Đức Phật, người biết và thấy. Ngài là tuệ nhãn, Ngài là tri kiến, Ngài là sự biểu hiện của nguyên lý, Ngài là sự biểu hiện của sự thiêng liêng. Ngài là bậc thầy, người tuyên bố, người làm sáng tỏ ý nghĩa, người ban tặng sự bất tử, chúa tể của chân lý, Như Lai. Đó là lúc nên đến gặp Đức Phật và hỏi về vấn đề này. Các vị nên ghi nhớ nó theo câu trả lời của Đức Phật."

"Chắc chắn Ngài là Đức Phật, người biết và thấy. Ngài là tuệ nhãn, Ngài là tri kiến, Ngài là sự biểu hiện của nguyên lý, Ngài là sự biểu hiện của sự thiêng liêng. Ngài là bậc thầy, người tuyên bố, người làm sáng tỏ ý nghĩa, người ban tặng sự bất tử, chúa tể của chân lý, Như Lai. Đó là lúc nên đến gặp Đức Phật và hỏi về vấn đề này. Chúng con nên ghi nhớ nó theo câu trả lời của Đức Phật.

Tuy nhiên, Tôn giả Ānanda được Đức Phật khen ngợi và được các bạn đồng tu thông thái kính trọng. Ngài có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra. Xin hãy giải thích điều này, nếu không phiền."

“Vậy thì hãy lắng nghe và chú tâm, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa hiền giả,” họ đáp. Ānanda nói điều này:

"Này các hiền giả, Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa:

‘Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng không thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế gian bằng cách đi lại. Nhưng Ta cũng nói rằng không thể chấm dứt khổ đau mà không đến được tận cùng thế gian.’

Đây là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này.

Bất cứ điều gì trong thế gian mà qua đó ông nhận thức thế gian và quan niệm thế gian thì được gọi là thế gian trong sự tu tập của bậc Thánh. Và qua cái gì trong thế gian mà ông nhận thức thế gian và quan niệm thế gian?

Qua mắt trong thế gian, ông nhận thức thế gian và quan niệm thế gian. Qua tai … mũi … lưỡi … thân … ý trong thế gian, ông nhận thức thế gian và quan niệm thế gian.

Bất cứ điều gì trong thế gian mà qua đó ông nhận thức thế gian và quan niệm thế gian thì được gọi là thế gian trong sự tu tập của bậc Thánh.

Khi Đức Phật đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa:

‘Này các Tỷ kheo, Ta nói rằng không thể biết, thấy hay đến được tận cùng thế gian bằng cách đi lại. Nhưng Ta cũng nói rằng không thể chấm dứt khổ đau mà không đến được tận cùng thế gian.’

Đó là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này.

Nếu các vị muốn, các vị có thể đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về điều này. Các vị nên ghi nhớ nó theo câu trả lời của Đức Phật."

“Vâng, thưa hiền giả,” các Tỷ kheo đó đáp. Rồi họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

Rồi họ nói: “Và Ānanda đã giải thích ý nghĩa cho chúng con theo cách này, với những từ và cụm từ này.”

“Này các Tỷ kheo, Ānanda là người lanh lợi, ngài có trí tuệ lớn. Nếu các ông đến gặp Ta và hỏi câu hỏi này, Ta sẽ trả lời nó chính xác theo cách Ānanda đã làm. Đó là ý nghĩa của nó, và đó là cách các ông nên ghi nhớ nó.”

116. III. Thế Giới Dục Công Ðức (S.iv,93)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới.

Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, khởi lên tư tưởng sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời nói vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”?

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”.

5. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

6. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

− Thưa Hiền giả Ananda, sau khi thuyết giảng lời vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt đến sự tận cùng thế giới”. Thưa Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời tuyên bố vắn tắt này cho chúng ta, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới’. Lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”. Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”. Mong Tôn giả Ananda hãy phân tích cho.

7. − Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc chư Tôn giả làm… Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

8. − Thưa Hiền giảAnanda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa naụy. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể giải thích một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Ananda phân tích cho, nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức (agarum katvà).

9. − Vậy chư Hiền hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda.

10. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: " Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt được sự tận cùng thế giới". Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu một cách rộng rãi như sau:

11. Này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. Và này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới? Do con mắt, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Do tai, này chư Hiền… Do mũi, này chư Hiền… Do lưỡi, này chư Hiền… Do thân, này chư Hiền… Do ý, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Ðây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.

12. Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt cho chư Hiền, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách không đạt đến sự tận cùng thế giới”. Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nhưng nếu muốn, chư Tôn giả hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

13. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tịnh xá: “Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng… sự tận cùng thế giới”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không được bao lâu, chúng con khởi lên ý nghĩ sau này: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng… sự tận cùng thế giới’. Lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”

14. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bạn đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này”. Và, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến Tôn giả Ananda và hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này.

15. Bạch Thế Tôn, với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, ý nghĩa được Tôn giả Ananda giải thích cho chúng con…

− Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy.

SN 35.117 Các Loại Kích Thích Giác Quan Kāmaguṇasutta

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ—khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—Ta đã nghĩ: ‘Tâm ta có thể thường lang thang đến năm loại kích thích giác quan mà ta đã từng trải qua—những thứ đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt—hoặc đến những thứ trong hiện tại, hoặc trong tương lai một chút.’

Rồi Ta nghĩ: ‘Theo cách riêng của mình, ta nên thực hành siêng năng, chánh niệm, và bảo vệ tâm đối với năm loại kích thích giác quan mà ta đã từng trải qua—những thứ đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt.’

Vì vậy, này các Tỷ kheo, tâm của các ông cũng có thể thường lang thang đến năm loại kích thích giác quan mà các ông đã từng trải qua—những thứ đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt—hoặc đến những thứ trong hiện tại, hoặc trong tương lai một chút. Vì vậy, theo cách riêng của mình, các ông nên thực hành siêng năng, chánh niệm, và bảo vệ tâm đối với năm loại kích thích giác quan mà các ông đã từng trải qua—những thứ đã qua, đã chấm dứt, và đã hoại diệt.

Vì vậy, các ông nên hiểu chiều không gian nơi mắt chấm dứt và nhận thức về cảnh sắc nhạt dần. Các ông nên hiểu chiều không gian nơi tai … mũi … lưỡi … thân … trí não chấm dứt và nhận thức về ý nghĩ nhạt dần."

Khi Ngài đã nói xong, Bậc Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và vào nơi ở của mình.

Ngay sau khi Đức Phật rời đi, các Tỷ kheo đó suy nghĩ: “Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa. … Ai có thể giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra?”

Rồi các Tỷ kheo đó nghĩ: “Tôn giả Ānanda này được Đức Phật khen ngợi và được các bạn đồng tu thông thái kính trọng. Ngài có khả năng giải thích chi tiết ý nghĩa của bài tóm tắt ngắn gọn này do Đức Phật đưa ra. Chúng ta hãy đến gặp ngài và hỏi ngài về vấn đề này.”

Rồi các Tỷ kheo đó đến gặp Ānanda và chào hỏi ngài. Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, họ ngồi xuống một bên. Họ kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra và nói: “Xin Tôn giả Ānanda hãy giải thích điều này.”

“Này các hiền giả, giả sử có một người cần lõi cây. …”

“Xin hãy giải thích điều này, nếu không phiền.”

“Vậy thì hãy lắng nghe và chú tâm, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa hiền giả,” họ đáp. Ānanda nói điều này:

"Này các hiền giả, Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa:

‘Vì vậy, các ông nên hiểu chiều không gian nơi mắt chấm dứt và nhận thức về cảnh sắc nhạt dần. Các ông nên hiểu chiều không gian nơi tai … mũi … lưỡi … thân … trí não chấm dứt và nhận thức về ý nghĩ nhạt dần.’

Và đây là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này.

Đức Phật đang đề cập đến sự chấm dứt của sáu xứ khi Ngài nói: ‘Vì vậy, các ông nên hiểu chiều không gian nơi mắt chấm dứt và nhận thức về cảnh sắc nhạt dần. Các ông nên hiểu chiều không gian nơi tai … mũi … lưỡi … thân … trí não chấm dứt và nhận thức về ý nghĩ nhạt dần.’

Đức Phật đã đưa ra bài tóm tắt ngắn gọn này, rồi vào nơi ở của mình mà không giải thích chi tiết ý nghĩa. Và đây là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này.

Nếu các vị muốn, các vị có thể đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về điều này. Các vị nên ghi nhớ nó theo câu trả lời của Đức Phật."

“Vâng, thưa hiền giả,” các Tỷ kheo đó đáp. Rồi họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe những gì đã xảy ra.

Rồi họ nói: “Và Ānanda đã giải thích ý nghĩa cho chúng con theo cách này, với những từ và cụm từ này.”

“Này các Tỷ kheo, Ānanda là người lanh lợi, ngài có trí tuệ lớn. Nếu các ông đến gặp Ta và hỏi câu hỏi này, Ta sẽ trả lời nó chính xác theo cách Ānanda đã làm. Đó là ý nghĩa của nó, và đó là cách các ông nên ghi nhớ nó.”

117. IV. Thế Giới Dục Công Ðức (S.iv,97)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta chưa giác ngộ, chưa thành Chánh đẳng Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta khởi lên ý nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm Ta đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai”. Rồi, này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Năm dục công đức mà tâm Ta trước kia cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính Ta, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm”.

3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại; ở đây, tâm các Ông đi đến cuồng nhiệt khi chúng có mặt hiện tại, và trở thành giảm thiểu khi chúng chưa đến, còn ở vị lai. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với năm dục công đức mà tâm các Ông trước đây cảm xúc, đã thuộc quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại. Ở đây, vì lợi ích cho chính các Ông, hãy sống không phóng dật, gìn giữ tâm chánh niệm.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.

5. Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.

6. Rồi các Tỷ-kheo, sau khi Thế Tôn ra đi chẳng bao lâu, khởi lên ý nghĩ sau đây: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời thuyết giảng này một cách vắn tắt… Ai có thể phân tích ý nghĩa lời tuyên bố một cách rộng rãi?”

7. Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán…”…

8-11. (Như kinh trên, từ số 5 đến số 9, chỉ khác về lời tuyên bố của Thế Tôn)

12. − Vậy chư Hiền, hãy lắng và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ nói.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda.

13. Tôn giả Ananda nói như sau:

− Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng vắn tắt này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham; các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý được đoạn diệt, pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’”. Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt này, không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Lời Thế Tôn nói, này chư Hiền, là thuộc về đoạn diệt sáu xứ. Do vậy, này chư Hiền, các xứ cần phải hiểu: “Chỗ nào mắt đoạn diệt, sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải hiểu biết”. Các xứ cần phải được hiểu như vậy.

14. Này chư Hiền, lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, ý nghĩa không được phân tích một cách rõ ràng, ý nghĩa ấy tôi hiểu một cách rõ ràng như vậy. Nếu muốn, chư Hiền hãy đi đến Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

15. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói lên vắn tắt cho chúng con, không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, Thế Tôn đi vào tịnh xá: “Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu. ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy pháp tưởng được ly tham, các xứ phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, sau khi nói lên lời thuyết giảng này cho chúng ta, nhưng không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá: `Do vậy, này các Tỷ-kheo, các xứ cần phải được hiểu: ‘Chỗ nào mắt đoạn diệt, chỗ ấy sắc tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu… Chỗ nào ý đoạn diệt, chỗ ấy các pháp tưởng được ly tham, các xứ cần phải được hiểu’. Các xứ cần phải hiểu như vậy’, nhưng ý nghĩa không được phân tích một cách rộng rãi, ai có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi?”.

16. Bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: "Tôn giả Ananda được bậc Ðạo Sư tán thán và được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Với lời Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, nhưng không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi.

Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này".

17. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda với những lý do này, với những câu này, với những chữ này, đã phân tích ý nghĩa.

− Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng sẽ trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy, hãy như vậy thọ trì.

SN 35.118 Câu Hỏi của Đế Thích Sakkapañhasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Và rồi Đế Thích, chúa tể của các vị trời, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?”

"Này chúa tể của các vị trời, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này."

118. V. Sakka (S.iv,101)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Gijjhakùta (Linh Thứu).

2. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập được Niết-bàn?

4. − Này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Vì có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.

5-8. Này Thiên chủ, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân cảm giác…

9. Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú. Do Tỷ-kheo ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Do có chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.

10. Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, ở đây một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn.

11-16. Và này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Do không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo nhập Niết-bàn. Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân cảm giác…

17. Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời do Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ vào cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Không chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy nhập Niết-bàn.

18. Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập Niết-bàn.

SN 35.119 Câu Hỏi của Pañcasikha Pañcasikhasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Và rồi vị Càn-thát-bà Pañcasikha đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?”

"Này Pañcasikha, có những cảnh sắc được biết bởi mắt …

ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt …

ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này."

119. IV. Pancasikha (S.iv,103)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

2. Rồi Pancasikha, con vị vua Gandhabba, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.

3. Ðứng một bên, Pancasikha, con Gandhabba, bạch Thế Tôn: “…(giống như kinh trước, câu hỏi và câu đáp giống như kinh trước)”.

SN 35.120 Sāriputta và Vị Đệ Tử Sāriputtasaddhivihārikasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta ở gần Sāvatthī trong Tịnh xá Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Rồi một Tỷ kheo nào đó đến gặp Tôn giả Sāriputta, và chào hỏi ngài.

Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, vị ấy ngồi xuống một bên, và nói với ngài: “Thưa hiền giả Sāriputta, một Tỷ kheo đệ tử của tôi đã từ bỏ sự tu tập và trở về đời sống thấp kém hơn.”

"Đó là như vậy, hiền giả, khi một người không phòng hộ các giác quan, ăn quá nhiều, và không chuyên tâm vào sự tỉnh thức. Hoàn toàn không thể cho một Tỷ kheo như vậy duy trì đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời. Nhưng hoàn toàn có thể cho một Tỷ kheo duy trì đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời nếu họ phòng hộ các giác quan, ăn uống điều độ, và chuyên tâm vào sự tỉnh thức.

Và làm thế nào một người phòng hộ các giác quan? Khi một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt, họ không bị cuốn vào các nét tướng và chi tiết. Nếu mắt căn không được chế ngự, các pháp xấu bất thiện của tham ái và sân hận sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, họ thực hành chế ngự, bảo vệ mắt căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Khi họ nghe một âm thanh bằng tai … Khi họ ngửi một mùi hương bằng mũi … Khi họ nếm một vị bằng lưỡi … Khi họ cảm nhận một xúc chạm bằng thân … Khi họ biết một ý nghĩ bằng trí não, họ không bị cuốn vào các nét tướng và chi tiết. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp xấu bất thiện của tham ái và sân hận sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, họ thực hành chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Đó là cách một người phòng hộ các giác quan.

Và làm thế nào một người ăn uống điều độ? Đó là khi một Tỷ kheo như lý tác ý (apply the mind rationally / suy nghĩ với trí tuệ) về thức ăn mà họ ăn: ‘Không phải để vui đùa, nuông chiều, trang điểm, hay trang trí, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh tổn hại, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Bằng cách này, tôi sẽ chấm dứt khó chịu cũ và không làm phát sinh khó chịu mới, và tôi sẽ có phương tiện để tiếp tục, không bị khiển trách, và sống thoải mái.’ Đó là cách một người ăn uống điều độ.

Và làm thế nào một người chuyên tâm vào sự tỉnh thức? Đó là khi một Tỷ kheo thực hành đi kinh hành và ngồi thiền vào ban ngày, thanh lọc tâm trí khỏi các chướng ngại. Trong canh đầu của đêm, họ tiếp tục thực hành đi kinh hành và ngồi thiền. Trong canh giữa, họ nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng bên phải, đặt một chân lên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác, và tập trung vào thời điểm thức dậy. Trong canh cuối, họ thức dậy và tiếp tục thực hành đi kinh hành và ngồi thiền, thanh lọc tâm trí khỏi các chướng ngại. Đó là cách một người chuyên tâm vào sự tỉnh thức.

Vì vậy, ông nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ phòng hộ các giác quan, ăn uống điều độ, và chuyên tâm vào sự tỉnh thức.’ Đó là cách ông nên tu tập."

120. VII. Sàriputta (S.iv,103)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Jetanvana, vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

− Tỷ-kheo đồng trú, thưa Tôn giả Sàriputta, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục.

4. − Này Hiền giả, như vậy xẩy đến cho vị nào không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy không xảy ra.

5. Này Hiền giả, một Tỷ-kheo hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác. Cho đến trọn đời, vị ấy có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, sự việc như vậy có xảy ra.

6. Và này Hiền giả, thế nào là hộ trì các căn? Này Hiền giả, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này Hiền giả, là sự hộ trì các căn.

7. Này Hiền giả, thế nào là tiết độ trong ăn uống? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng các món ăn. Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự mình làm đẹp mình mà chỉ để thân này được duy trì và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này Hiền giả, là tiết độ trong ăn uống.

8. Và này Hiền giả, như thế nào là chú tâm tỉnh giác? Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh một, trong khi vị ấy đi kinh hành và ngồi, tâm gột sạch các pháp triền cái. Ban đêm trong canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên hữu, trong tư thế con sư tử, chân này đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng đến lúc ngồi dậy.

Ban đêm trong canh cuối, khi vị ấy đi kinh hành và trong khi ngồi, tâm gột sạch khỏi các pháp triền cái. Như vậy, này Hiền giả, là chú tâm tỉnh giác.

9. Do vậy, này Hiền giả, cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm tỉnh giác”.

Như vậy, này Hiền giả, ông cần phải học tập.

SN 35.121 Lời Khuyên cho Rāhula Rāhulovādasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Sāvatthī trong Tịnh xá Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Rồi khi Ngài đang ẩn tu riêng, ý nghĩ này nảy ra trong tâm Ngài: “Các phẩm chất dẫn đến giải thoát đã chín muồi trong Rāhula. Tại sao ta không dẫn dắt nó xa hơn đến sự chấm dứt các phiền não?”

Rồi Đức Phật đắp y vào buổi sáng và, mang theo bát và y, đi khất thực ở Sāvatthī. Sau bữa ăn, trên đường trở về từ khất thực, Ngài gọi Tôn giả Rāhula: “Này Rāhula, hãy lấy tọa cụ của con. Chúng ta hãy đến Rừng Tối để thiền định trong ngày.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Rāhula đáp. Lấy tọa cụ của mình, ngài đi theo sau Đức Phật.

Lúc đó, nhiều ngàn vị trời theo sau Đức Phật, nghĩ rằng: “Hôm nay Đức Phật sẽ dẫn dắt Rāhula xa hơn đến sự chấm dứt các phiền não!”

Rồi Đức Phật đi sâu vào Rừng Tối và ngồi dưới gốc một cây trên chỗ ngồi đã được trải sẵn. Rāhula đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

“Con nghĩ sao, Rāhula? Mắt là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Cảnh sắc … mắt thức … mắt xúc là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Bất cứ điều gì bao gồm trong Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức) khởi lên do mắt xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Tai … mũi … lưỡi … thân … trí não là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Ý nghĩ … ý thức … ý xúc là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.” …

“Bất cứ điều gì bao gồm trong cảm giác, nhận thức, hành động, và thức khởi lên do ý xúc làm duyên: đó là thường hay vô thường?”

“Vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Khổ, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hoại diệt, có đáng để coi nó như thế này: ‘Cái này là của tôi, tôi là cái này, đây là tự ngã của tôi’?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Thấy như vậy, một vị Thánh đệ tử đa văn trở nên nhàm chán với mắt, cảnh sắc, mắt thức, và mắt xúc. Và họ trở nên nhàm chán với bất cứ điều gì bao gồm trong cảm giác, nhận thức, hành động, và thức khởi lên do mắt xúc làm duyên.

Họ trở nên nhàm chán với tai … mũi … lưỡi … thân …

Họ trở nên nhàm chán với trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc. Và họ trở nên nhàm chán với bất cứ điều gì bao gồm trong cảm giác, nhận thức, hành động, và thức khởi lên do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, lòng tham nhạt dần. Khi lòng tham nhạt dần, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết rằng mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói. Và trong khi bài kinh này đang được nói, tâm của Rāhula đã được giải thoát khỏi các phiền não do không bám giữ.

Và pháp nhãn trong sạch, không tì vết khởi lên trong hàng ngàn vị trời đó:

“Phàm pháp gì có sanh khởi, pháp ấy đều có đoạn diệt.”

121. VIII. Ràhula (S.iv, 105)

1. Một thời Thế Tôn ở trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tịnh, các tư niệm sau đây được khởi lên: “Ðã thuần thục là các pháp đưa đến giải thoát được chín muồi cho Ràhula. Vậy Ta hãy giảng dạy cho Ràhula những lời dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”.

3. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực, khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, gọi Tôn giả Ràhula:

− Này Ràhula, hãy cầm tọa cụ đi đến rừng Andha để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ràhula vâng đáp Thế Tôn, cầm lấy tọa cụ, và đi sau lưng Thế Tôn.

4. Lúc bấy giờ, rất nhiều ngàn Thiên nhân đi theo Thế Tôn và nghĩ rằng: “Hôm nay, Thế Tôn sẽ giảng dạy cho Ràhula những lời dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc”.

5. Rồi Thế Tôn đi sâu vào rừng Andha và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn dưới gốc cây. Rồi Tôn giả Ràhula, sau khi đảnh lễ Thế Tôn liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:

6. − Ông nghĩ thế nào, này Ràhula, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chánh quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Sắc là thường hay vô thường?..

Nhãn thức là thường hay vô thường?..

Nhãn xúc là thường hay vô thường?..

Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

7-8. − Tai… Mũi…

9-10. Lưỡi… Thân…

11. Ý là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Các pháp là thường hay vô thường?..

Ý thức là thường hay vô thường?..

Ý xúc là thường hay vô thường?..

Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng nếu quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

12. − Thấy vậy, này Ràhula, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc này khởi lên cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì; nhàm chán đối với pháp ấy… nhàm chán đối với tai… nhàm chán đối với mũi… nhàm chán đối với lưỡi… nhàm chán đối với thân… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, nhàm chán đối với pháp ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

13. Thế Tôn thuyết như vậy. Tôn giả Ràhula hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, tâm Tôn giả Ràhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Và hàng nhiều ngàn chư Thiên khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm các pháp gì được sanh khởi, tất cả đều bị đoạn diệt”.

SN 35.122 Những Pháp Dễ Bị Trói Buộc Saṁyojaniyadhammasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông những pháp dễ bị trói buộc, và sự trói buộc. Hãy lắng nghe …

Những pháp dễ bị trói buộc là gì? Và sự trói buộc là gì? Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là những pháp dễ bị trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với chúng là sự trói buộc.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … suy nghĩ được biết bởi ý, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là những pháp dễ bị trói buộc. Ham muốn và tham lam đối với chúng là sự trói buộc."

122. IX. Kiết Sử (S.iv,107)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử, Hãy lắng nghe.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử, thế nào là kiết sử?

3. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.

4-7. Này các Tỷ-kheo, có các tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân cảm giác…

8. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các pháp bị kiết sử. Chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.

SN 35.123 Những Pháp Dễ Trở Thành Nhiên Liệu cho Sự Bám Giữ Upādāniyadhammasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các ông những pháp trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ, và sự bám giữ. Hãy lắng nghe …

Những pháp trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ là gì? Và sự bám giữ là gì? Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là những pháp trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ. Ham muốn và tham lam đối với chúng là sự bám giữ.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là những pháp trở thành nhiên liệu cho sự bám giữ. Ham muốn và tham lam đối với chúng là sự bám giữ."

123. X. Chấp Thủ (S.iv,108)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng về các pháp bị chấp thủ và chấp thủ. Hãy lắng nghe.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ, thế nào là chấp thủ?

3-8. Này các Tỷ-kheo… (Giống như từ số 3 đến số 8 của kinh trên).

Chương về Các Gia Chủ

SN 35.124 Tại Vesālī Vesālīsutta

Một thời, Đức Phật ở gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn. Rồi gia chủ Ugga của Vesālī đến gặp Đức Phật, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?”

"Này gia chủ, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt.

Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt.

Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt.

Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này."

III. Phẩm Gia Chủ

124. I. Vesàli (S.iv,109)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Vesàli, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàli, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàli, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh (parinibbàyanti). Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-9. − Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn… (giống như kinh 118) … Này Gia chủ, Tỷ-kheo có chấp thủ, không được hoàn toàn tịch tịnh…

10. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số các loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh.

11-16. Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn… (giống như kinh 118) … Này Gia chủ, Tỷ-kheo không có chấp thủ, được hoàn toàn tịch tịnh…

17. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.125 Tại Xứ Vajjī Vajjīsutta

Một thời, Đức Phật ở tại xứ Vajjī tại Làng Voi. Rồi gia chủ Ugga của Làng Voi đến gặp Đức Phật, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?” …

(Kể đầy đủ như trong bài kinh trước.)

125. II. Vajji (S.iv,109)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajji tại làng Hatthi.

2. Rồi gia chủ Ugga, người làng Hatthi, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người làng Hatthi, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-16. (Giống như kinh trước) …

17. − Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, có một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.126 Tại Nāḷandā Nāḷandasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Nāḷandā trong vườn xoài của Pāvārika.

Rồi gia chủ Upāli đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?” …

(Kể đầy đủ như trong SN 35.124.)

126. III. Nàlanda (S.iv,110)

1. Một thời Thế Tôn ở tại Nàlanda, tại rừng Pàvàrikamba.

2. Rồi gia chủ Upàli đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Upàli bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?..

4-16. … (Như kinh trước)

17. − Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.127 Với Bhāradvāja Bhāradvājasutta

Một thời, Tôn giả Bhāradvāja Khất Sĩ đang ở gần Kosambī, trong Tu viện Ghosita. Rồi Vua Udena đến gặp Bhāradvāja Khất Sĩ và chào hỏi ngài. Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, vua ngồi xuống một bên, và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Bhāradvāja, có những Tỷ kheo trẻ tuổi, thanh xuân, với mái tóc đen nhánh, được ban phước của tuổi trẻ, đang ở độ tuổi sung mãn; và họ chưa bao giờ chơi đùa với những thú vui giác quan. Nguyên nhân là gì, lý do là gì mà họ thực hành đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời, duy trì nó trong một thời gian dài?”

"Thưa đại vương, điều này đã được Bậc Thế Tôn, người biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tuyên bố:

‘Này các Tỷ kheo, hãy coi những người phụ nữ tuổi mẹ mình như mẹ mình. Hãy coi những người phụ nữ tuổi chị mình như chị mình. Và hãy coi những người phụ nữ tuổi con gái mình như con gái mình.’

Đây là một nguyên nhân, thưa đại vương, đây là một lý do tại sao những Tỷ kheo trẻ này thực hành đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời, duy trì nó trong một thời gian dài."

“Nhưng thưa Tôn giả Bhāradvāja, tâm là phóng đãng. Đôi khi những suy nghĩ ham muốn khởi lên ngay cả đối với những người phụ nữ tuổi mẹ mình, tuổi chị mình, hay tuổi con gái mình. Có nguyên nhân nào khác, lý do nào khác mà những Tỷ kheo trẻ này sống đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời không?”

"Thưa đại vương, điều này đã được Bậc Thế Tôn, người biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tuyên bố:

‘Này các Tỷ kheo, hãy quán xét thân mình từ lòng bàn chân trở lên và từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và đầy những thứ dơ bẩn. Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng treo ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ nhờn, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’

Đây cũng là một nguyên nhân, thưa đại vương, đây là một lý do tại sao những Tỷ kheo trẻ này sống đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời, duy trì nó trong một thời gian dài."

“Điều này dễ làm đối với những Tỷ kheo đã phát triển sức chịu đựng thể chất, đạo đức, tâm, và trí tuệ. Nhưng nó khó làm đối với những Tỷ kheo chưa phát triển sức chịu đựng thể chất, đạo đức, tâm, và trí tuệ. Đôi khi tôi dự định tập trung vào một thứ gì đó như là xấu xí, nhưng chỉ có vẻ đẹp của nó hiện lên trong tâm. Có nguyên nhân nào khác, lý do nào khác mà những Tỷ kheo trẻ này sống đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời không?”

"Thưa đại vương, điều này đã được Bậc Thế Tôn, người biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tuyên bố:

‘Này các Tỷ kheo, hãy sống với các giác quan được phòng hộ. Khi các ông thấy một cảnh sắc bằng mắt, đừng bị cuốn vào các nét tướng và chi tiết. Nếu mắt căn không được chế ngự, các pháp xấu bất thiện của tham ái và sân hận sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, hãy thực hành chế ngự, bảo vệ mắt căn, và đạt được sự chế ngự của nó. Khi các ông nghe một âm thanh bằng tai … Khi các ông ngửi một mùi hương bằng mũi … Khi các ông nếm một vị bằng lưỡi … Khi các ông cảm nhận một xúc chạm bằng thân … Khi các ông biết một ý nghĩ bằng trí não, đừng bị cuốn vào các nét tướng và chi tiết. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp xấu bất thiện của tham ái và sân hận sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, hãy thực hành chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự của nó.’

Đây cũng là một nguyên nhân, thưa đại vương, đây là một lý do tại sao những Tỷ kheo trẻ này thực hành đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời, duy trì nó trong một thời gian dài."

"Thật không thể tin được, thưa Tôn giả Bhāradvāja, thật tuyệt vời! Lời này của Đức Phật đã được nói hay biết bao! Đây là nguyên nhân thực sự, đây là lý do tại sao những Tỷ kheo trẻ này thực hành đời sống phạm hạnh đầy đủ và trong sạch cho đến hết đời, duy trì nó trong một thời gian dài.

Vì đôi khi tôi cũng vào hậu cung với thân, khẩu, ý, chánh niệm, và các giác quan không được bảo vệ. Vào những lúc đó, những suy nghĩ ham muốn mạnh mẽ lấn át tôi. Nhưng đôi khi tôi vào hậu cung với thân, khẩu, ý, chánh niệm, và các giác quan được bảo vệ. Vào những lúc đó, những suy nghĩ ham muốn như vậy không lấn át được tôi.

Tuyệt vời, thưa Tôn giả Bhāradvāja! Tuyệt vời! Như thể ngài đang dựng lại cái bị lật đổ, hay tiết lộ cái bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Tôn giả Bhāradvāja đã làm cho giáo pháp trở nên rõ ràng bằng nhiều cách. Tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Từ hôm nay trở đi, xin Tôn giả Bhāradvāja hãy nhớ đến tôi như một cư sĩ đã quy y trọn đời."

127. IV. Bhàradvàja (S.iv,110)

1. Một thời Tôn giả Pindolabhàradvàja trú ở Kosambi, tại vườn Ghosità.

2. Rồi vua Udena đi đến Tôn giả Pindolabhàradvàja; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Pindolabhàradvàja những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, vua Udena thưa với Tôn giả Pindolabhàradvàja:

− Thưa Bhàradvàja, do nhân gì, do duyên gì, những Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn (addhànam apàdenti)?

4. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, đối với những người chỉ là mẹ, hãy an trú tâm người mẹ. Ðối với những người chỉ là chị, hãy an trú tâm người chị. Ðối với người chỉ là con gái, hãy an trú tâm người con gái. Thưa Ðại Vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

5. − Tham vọng (loba), này Bhàradvàja, là tâm. Ðôi khi đối với những người chỉ là mẹ, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là chị, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là con gái, tham pháp khởi lên. Này Bhàradvàja, có một nhân khác, có một duyên khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… một cách hoàn mãn?

6. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên từ đảnh tóc trở xuống, bao bọc bởi da và chứa đầy bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

7. − Này Bhàradvàja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân có tu tập, giới có tu tập, tâm có tu tập, tuệ có tu tập, thời như vậy thật là dễ dàng. Và này Bhàradvàja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân không có tu tập, giới không có tu tập, tâm không có tu tập, tuệ không có tu tập thời như vậy thật là khó khăn. Ðôi khi, này Bhàradvàja, có người nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ tác ý bất tịnh”, nhưng lại đi đến tịnh (tướng). Này Bhàradvàja, có nhân nào khác, duyên nào khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn?

8. − Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Sau khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy những Tỷ-kheo trẻ tuổi này… sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

9. − Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja, là lời khéo nói này của Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính nhân này, thưa Tôn giả Bhàradvàja, chính duyên này, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân, lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.

10. Tôi cũng vậy, thưa Tôn giả Bhàradvàja, khi nào tôi vào trong nội cung với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp chinh phục tôi. Nhưng thưa Tôn giả Bhàradvàja, trong khi tôi vào nội cung, với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp không chinh phục tôi.

11. Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja! Thưa Tôn giả Bhàradvàja, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Bhàradvàja dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Bhàradvàja, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Bhàradvàja hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

SN 35.128 Với Soṇa Soṇasutta

Một thời, Đức Phật ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.

Rồi gia chủ Soṇa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?” …

(Kể đầy đủ như trong SN 35.118.)

128. V. Sona (S.iv,113)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi Sona, con người gia chủ Sona, đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Sona, con người gia chủ, bạch Thế Tôn:

− Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, không được hoàn toàn tịch tịnh? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh? (… Giống như kinh trước…)

− Này Sona, đây là nhân, đây là duyên… do vậy, ở đây, một số loài hữu tình… ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.129 Với Ghosita Ghositasutta

Một thời, Tôn giả Ānanda ở gần Kosambī, trong Tu viện Ghosita. Rồi gia chủ Ghosita đến gặp Tôn giả Ānanda, và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả Ānanda, người ta nói về ‘sự đa dạng của các giới’. Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới theo cách nào?”

"Này gia chủ, mắt giới được tìm thấy, cũng như những cảnh sắc dễ chịu, và mắt thức. Cảm giác dễ chịu khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Mắt giới được tìm thấy, cũng như những cảnh sắc khó chịu, và mắt thức. Cảm giác đau đớn khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Mắt giới được tìm thấy, cũng như những cảnh sắc là cơ sở cho tâm xả, và mắt thức. Cảm giác trung tính khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính.

tai … mũi … lưỡi … thân … trí não giới được tìm thấy, cũng như những ý nghĩ dễ chịu, và ý thức. Cảm giác dễ chịu khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Ý giới được tìm thấy, cũng như những ý nghĩ khó chịu, và ý thức. Cảm giác đau đớn khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Ý giới được tìm thấy, cũng như những ý nghĩ là cơ sở cho tâm xả, và ý thức. Cảm giác trung tính khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính.

Đây là cách Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới."

129. VI. Ghosita (S.iv,113)

1. Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi gia chủ Ghosita đi đến Tôn giả Ananda…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ghosita thưa với Tôn giả Ananda:

− “Sai biệt về giới, sai biệt về giới”, thưa Tôn giả Ananda, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói đến sai biệt về giới?

4. − Này Gia chủ, khi nào nhãn giới, sắc khả ý, và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Này Gia chủ, khi nào nhãn giới, sắc không khả ý, và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Này Gia chủ, khi nào nhãn giới sắc trú xả và nhãn thức cùng khởi lên; do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

5. Này Gia chủ, khi nào nhĩ giới…

6. Này Gia chủ, khi nào tỷ giới…

7. Này Gia chủ, khi nào thiệt giới…

8. Này Gia chủ, khi nào thân giới…

9. Này Gia chủ, khi nào ý giới, pháp khả ý, và ý thức cùng khởi lên; do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Này Gia chủ, khi nào ý giới… pháp không khả ý và ý thức cùng khởi lên; do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Này Gia chủ, khi nào ý giới, pháp giới trú xả và ý thức cùng khởi lên; do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

10. Cho đến như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói đến về sai biệt các giới.

SN 35.130 Với Hāliddikāni Hāliddikānisutta

Một thời, Tôn giả Mahākaccāna ở tại xứ Avanti gần Kuraraghara trên núi Dốc.

Rồi gia chủ Hāliddikāni đến gặp Tôn giả Mahākaccāna … và hỏi ngài: “Bạch Thế Tôn, điều này đã được Đức Phật nói: ‘Sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm giác.’ Làm thế nào sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm giác?”

"Này gia chủ, đó là khi một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt và hiểu nó là dễ chịu. Có mắt thức; và cảm giác dễ chịu khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Rồi họ thấy một cảnh sắc và hiểu nó là khó chịu. Có mắt thức; và cảm giác đau đớn khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Rồi họ thấy một cảnh sắc và hiểu nó là cơ sở cho tâm xả. Có mắt thức; và cảm giác trung tính khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính.

Hơn nữa, một Tỷ kheo nghe một âm thanh bằng tai … ngửi một mùi hương bằng mũi … nếm một vị bằng lưỡi … cảm nhận một xúc chạm bằng thân … biết một ý nghĩ bằng trí não và hiểu nó là dễ chịu. Có ý thức; và cảm giác dễ chịu khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Rồi họ biết một ý nghĩ và hiểu nó là khó chịu. Có ý thức; và cảm giác đau đớn khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là đau đớn. Rồi họ biết một ý nghĩ và hiểu nó là cơ sở cho tâm xả. Cảm giác trung tính khởi lên tùy thuộc vào một xúc được trải nghiệm là trung tính.

Đó là cách sự đa dạng của các giới làm phát sinh sự đa dạng của các xúc, và sự đa dạng của các xúc làm phát sinh sự đa dạng của các cảm giác."

130. VII. Haliddhaka (S.iv,115)

1. Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna trú giữa dân chúng Avanti, tại Kuraraghara, trong một hang núi.

2. Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni thưa với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Thưa Tôn giả, Thế Tôn nói như sau: “Do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc. Do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ”. Như thế nào, thưa Tôn giả, do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc; do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ?

4. − Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có lạc xúc. Do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Khi mắt thấy sắc bất khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có khổ xúc. Do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi mắt thấy sắc trú xả, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ nhãn thức có bất khổ bất lạc xúc. Do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

5-9. Lại nữa, này Gia chủ, khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết pháp khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có lạc xúc. Do duyên lạc xúc khởi lên lạc thọ. Khi ý biết pháp bất khả ý, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có khổ xúc. Do duyên khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi ý biết pháp trú xả, nghĩ rằng: “Ðây là vậy, đây là vậy”, được biết rõ ý thức có bất khổ bất lạc xúc. Do duyên bất khổ bất lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc thọ.

10. Như vậy, này Gia chủ, do duyên sai biệt về giới khởi lên sai biệt về xúc. Do duyên sai biệt về xúc khởi lên sai biệt về thọ.

SN 35.131 Cha của Nakula Nakulapitusutta

Một thời, Đức Phật ở tại xứ Bhaggas tại Đồi Cá Sấu, trong công viên hươu ở Rừng Bhesakaḷā.

Rồi gia chủ cha của Nakula đến gặp Đức Phật … và hỏi Ngài: “Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này? Nguyên nhân là gì, bạch Thế Tôn, lý do là gì mà một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này?”

"Này gia chủ, có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt. Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo có nhiên liệu cho sự bám giữ thì không tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh không hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này.

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt. Có những âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng dễ mến, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, thức của họ không có đó làm nơi nương tựa và nhiên liệu cho sự bám giữ. Một Tỷ kheo không có sự bám giữ thì tịch diệt. Đó là nguyên nhân, đó là lý do tại sao một số chúng sanh hoàn toàn tịch diệt ngay trong đời này."

131. VIII. Nakulapità (S.iv,116)

1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi gia chủ Nakulapità…

3. Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không được hoàn toàn tịch tịnh? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại được hoàn toàn tịch tịnh?

4-9. − Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức… (như kinh 118)

10. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, không được hoàn toàn tịch tịnh.

11-16. Này Gia chủ, có những sắc do mắt nhận thức…

17. Này Gia chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, có một số loài hữu tình, ngay trong hiện tại, được hoàn toàn tịch tịnh.

SN 35.132 Với Lohicca Lohiccasutta

Một thời, Tôn giả Mahākaccāna ở tại xứ Avanti trong một túp lều hoang dã gần Makkarakaṭa.

Rồi một vài sinh viên, học trò của bà la môn Lohicca, đến gần túp lều hoang dã của Mahākaccāna trong khi đang thu lượm củi. Họ đi và lang thang khắp nơi quanh túp lều, gây ra một tiếng ồn khủng khiếp và đủ loại lời chế nhạo: “Những kẻ cạo đầu này, những sa môn giả, những kẻ nguyên thủy, những con cháu đen đủi từ chân của người thân chúng ta, Đức Chúa! Họ được tôn vinh, kính trọng, tôn kính, sùng bái, và quý mến bởi những kẻ giả vờ thừa hưởng văn hóa Vệ-đà.”

Và rồi Mahākaccāna rời khỏi nơi ở của mình và nói với những sinh viên trẻ đó: “Này các sinh viên trẻ, đừng ồn ào nữa. Tôi sẽ nói với các con về giáo pháp.”

Khi điều này được nói, các sinh viên trẻ im lặng. Rồi Mahākaccāna đọc những câu kệ này cho họ.

"Các bà la môn xưa đề cao đạo đức
và ghi nhớ các truyền thống cổ xưa.
Các giác quan của họ được phòng hộ, bảo vệ tốt,
và họ đã làm chủ được sự tức giận.

Những bà la môn đó, những người ghi nhớ
- các truyền thống cổ xưa
đã tận hưởng đức hạnh và thiền định.

Nhưng những người này đã lạc lối. Tự cho là tụng kinh,
họ sống mất cân bằng,
- phán xét mọi người theo dòng dõi của họ.
Bị sự tức giận làm chủ, họ cầm nhiều vũ khí,
tấn công cả người mạnh và người yếu.

Tất cả đều vô ích đối với người
- không phòng hộ các giác quan,
như của cải một người tìm thấy trong giấc mơ.
Nhịn ăn, ngủ trên đất trống,
tắm vào lúc bình minh, ba bộ kinh Vệ-đà,

da thú thô, tóc bện, và bụi bẩn,
các bài thánh ca, giới luật và nghi lễ,
- và các khổ hạnh nhiệt thành,
những cây gậy cong giả tạo đó,
và súc miệng bằng nước.
Những biểu tượng này của các bà la môn
chỉ được sử dụng để tạo ra lợi nhuận.

Một tâm thanh thản,
trong sáng và không bị xáo trộn,
tử tế với tất cả chúng sanh:
đó là con đường để đạt đến sự thiêng liêng!"

Rồi những sinh viên trẻ đó, bị xúc phạm và khó chịu, đến gặp bà la môn Lohicca và nói với ông: “Thưa thầy, xin thầy hãy biết điều này. Sa môn Mahākaccāna lên án và bác bỏ hoàn toàn các bài thánh ca của các bà la môn!”

Khi họ nói điều này, Lohicca bị xúc phạm và khó chịu. Rồi ông nghĩ: “Nhưng sẽ không thích hợp nếu ta lăng mạ hay sỉ nhục sa môn Mahākaccāna chỉ vì những gì ta đã nghe từ những sinh viên trẻ này. Tại sao ta không đến và hỏi ông ấy về điều đó?”

Rồi bà la môn Lohicca cùng với những sinh viên trẻ đó đến gặp Tôn giả Mahākaccāna và chào hỏi ngài.

Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với ngài: “Thưa Tôn giả Kaccāna, có phải một vài học trò trẻ của tôi đã đến đây thu lượm củi không?”

“Đúng vậy, thưa bà la môn.”

“Nhưng ngài có thảo luận gì với họ không?”

“Có.”

“Nhưng ngài đã thảo luận loại gì với họ?”

“Đây là cuộc thảo luận tôi đã có với những sinh viên trẻ này.” Và ngài lặp lại toàn bộ các câu kệ.

“Tôn giả Kaccāna đã nói về người không phòng hộ các giác quan. Ngài định nghĩa người không phòng hộ các giác quan như thế nào?”

"Thưa bà la môn, hãy xem một người thấy một cảnh sắc bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, họ giữ lấy nó, nhưng nếu nó khó chịu, họ không thích nó. Họ sống với chánh niệm về thân không được thiết lập và tâm bị hạn chế. Và họ không thật sự hiểu rõ sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ nơi những pháp xấu, bất thiện đã khởi lên đó chấm dứt không còn sót lại.

Khi họ nghe một âm thanh bằng tai …

Khi họ ngửi một mùi hương bằng mũi …

Khi họ nếm một vị bằng lưỡi …

Khi họ cảm nhận một xúc chạm bằng thân …

Khi họ biết một ý nghĩ bằng trí não, nếu nó dễ chịu, họ giữ lấy nó, nhưng nếu nó khó chịu, họ không thích nó. Họ sống với chánh niệm về thân không được thiết lập và một trái tim hạn hẹp. Và họ không thật sự hiểu rõ sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ nơi những pháp xấu, bất thiện đã khởi lên đó chấm dứt không còn sót lại.

Đó là cách một người không phòng hộ các giác quan."

"Thật không thể tin được, thưa Tôn giả Kaccāna, thật tuyệt vời! Ngài đã giải thích chính xác biết bao về một người có các giác quan không được phòng hộ!

Ngài cũng đã nói về một người phòng hộ các giác quan. Ngài định nghĩa một người phòng hộ các giác quan như thế nào?"

"Thưa bà la môn, hãy xem một Tỷ kheo thấy một cảnh sắc bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, họ không giữ lấy nó, và nếu nó khó chịu, họ không không thích nó. Họ sống với chánh niệm về thân được thiết lập và một trái tim vô lượng. Và họ thật sự hiểu rõ sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ nơi những pháp xấu, bất thiện đã khởi lên đó chấm dứt không còn sót lại.

Khi họ nghe một âm thanh bằng tai …

Khi họ ngửi một mùi hương bằng mũi …

Khi họ nếm một vị bằng lưỡi …

Khi họ cảm nhận một xúc chạm bằng thân …

Khi họ biết một ý nghĩ bằng trí não, nếu nó dễ chịu, họ không giữ lấy nó, và nếu nó khó chịu, họ không không thích nó. Họ sống với chánh niệm về thân được thiết lập và một trái tim vô lượng. Và họ thật sự hiểu rõ sự giải thoát của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ nơi những pháp xấu, bất thiện đã khởi lên đó chấm dứt không còn sót lại.

Đó là cách một người phòng hộ các giác quan."

"Thật không thể tin được, thưa Tôn giả Kaccāna, thật tuyệt vời! Ngài đã giải thích chính xác biết bao về một người có các giác quan được phòng hộ! Tuyệt vời, thưa Tôn giả Kaccāna! Tuyệt vời! Như thể ngài đang dựng lại cái bị lật đổ, hay tiết lộ cái bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Tôn giả Kaccāna đã làm cho giáo pháp trở nên rõ ràng bằng nhiều cách. Tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Từ hôm nay trở đi, xin Tôn giả Kaccāna hãy nhớ đến tôi như một cư sĩ đã quy y trọn đời.

Xin hãy đến gia đình tôi giống như ngài đến các gia đình của các cư sĩ ở Makkarakaṭa. Các chàng trai và cô gái bà la môn ở đó sẽ đảnh lễ ngài, đứng dậy khi ngài đến, và dâng cho ngài chỗ ngồi và nước. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ."

132. IX. Lohicca (S,iv,116)

1. Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna trú ở giữa dân chúng Avanti, tại Makkarakata, tại một chòi lá trong rừng.

2. Rồi một số đông đệ tử của Bà-la-môn Lohicca, là những thanh niên lượm củi, đi đến chòi lá trong rừng của Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, đi qua đi lại, đi vòng quanh chòi lá, cao tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại trò chơi nghịch ngợm: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân này, lại được các kẻ nô tì khuân vác cung kính, tôn trọng, cúng dường, lễ bái”.

3. Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna từ trong nhà bước ra và nói với các thanh niên ấy:

− Này các Thanh niên, chớ có làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông.

Khi nghe nói vậy, các thanh niên đều im lặng.

4. Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna nói lên những bài kệ với các thanh niên ấy:

1) Những bậc cổ nhân xưa,
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Các căn được hộ trì,
Ðược khéo léo chế ngự,
Họ nhiếp phục đoạn tận
Mọi tức giận phẫn nộ.

2) Họ hân hoan trong pháp,
Họ hân hoan trong Thiền,
Họ là Bà-la-môn,
Ghi nhớ các cổ luật.
Còn kẻ trốn luật này,
Chỉ lắp bắp tụng đọc,
Say mê trong giai cấp,
Họ bước đi khập khểnh.

3) Bị phẫn nộ nhiếp phục,

Dùng nhiều loại gậy gộc,
Họ rơi vào nguy hại,
Giữa kẻ tham, bậc Thánh,
Rỗng không là giới cấm,
Khi căn không chế ngự,
Như người được tài sản,
Trong cơn mộng nằm mơ.

4) Không ăn, quyết nhịn đói,
Nằm ngủ trên đất trần,
Sáng dậy, tắm sạch tội,
Tụng đọc ba Vệ-đà,
Mặc da thú thô cứng,
Bện tóc, da dính bùn,
Tụng đọc các thần chú,
Giới cấm thủ, khổ hạnh.

5) Giả dối và lừa đảo,
Sử dụng các gậy gộc,
Dùng nước để tắm rửa,
Dùng nước để súc miệng,
Ðó là những sắc tướng,
Các hàng Bà-la-môn,
Họ làm và thực hiện,
Mong hưởng những lợi nhỏ.

6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.

5. Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-lamôn Lohicca:

− Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahà Kaccàna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Lohicca tức giận và không vui.

6. Rồi Bà-la-môn Lohicca suy nghĩ: “Thật không thích đáng cho ta khi ta nghe một mình các thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ báng và công kích Sa-môn Mahà Kaccàna. Vậy, ta hãy đi đến và hỏi vị ấy”.

7. Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng với các thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

8. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Lohicca nói với Tôn giả Mahà Kaccàna:

− Tôn giả Kaccàna, có phải có một số đông đệ tử của chúng tôi, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi đã đến đây?

− Này Bà-la-môn, một số đông đệ tử của Ông, những thanh niên Bà-la-môn lượm củi có đến tại đây.

− Thưa Tôn giả Kaccàna, Tôn giả có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy không?

− Này Bà-la-môn, tôi có nói chuyện với những thanh niên Bà-la-môn ấy.

− Như thế nào là câu chuyện giữa Tôn giả Kaccàna với những thanh niên Bà-la-môn ấy?

− Này Bà-la-môn, như thế nầy là câu chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy:

1) Những bậc cổ nhân xưa
Tối thắng trong giới hạnh,
Các bậc Bà-la-môn
Ghi nhớ các cổ luật.

2-5. …

6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Trong sáng, không cấu uế,
Nhu thuận mọi chúng sanh,
Con đường đạt tối thượng.

Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc nói chuyện giữa tôi và các thanh niên Bà-la-môn ấy.

9. − Tôn giả Kaccàna có nói đến hộ trì các căn. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccàna, là hộ trì các căn?

10. − Ở đây, này Bà-la-môn, có người sau khi mắt thấy sắc, có tâm hướng đến các sắc khả ái, có tâm ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt không có dư tàn.

11-14. … sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc…

15. … sau khi ý biết các pháp, tâm hướng đến các pháp khả ái, tâm ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên, không có đoạn diệt, không có dư tàn.

16. Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn không có hộ trì.

17. − Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccàna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa các căn không hộ trì. Các căn có hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn giả Kaccàna đã nói như vậy; cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Kaccàna, là các căn có hộ trì?

18. − Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, tâm không hướng đến các sắc khả ái, tâm không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

19-22. … sau khi tai nghe tiếng… sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc…

23. … sau khi ý nhận biết các pháp, tâm không hướng đến các pháp khả ái, tâm không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do vậy, các ác bất thiện pháp đã khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

24. Như vậy, này Bà-la-môn, là các căn được hộ trì.

25. − Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Kaccàna, thật là hy hữu, thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa các căn được hộ trì. Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccàna! Thật vi diệu thay, Tôn giả Kaccàna! Thưa Tôn giả Kaccàna, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Kaccàna dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Kaccàna, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccàna hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả Kaccàna đi đến viếng các gia đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy, mong Tôn giả Kaccàna hãy đến viếng các gia đình Lohicca. Tại đấy, các thanh niên và thanh nữ sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccàna, sẽ soạn chỗ ngồi, hay cúng dường nước cho Tôn giả Kaccàna, và như vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an lạc trong một thời gian dài.

SN 35.133 Verahaccāni Verahaccānisutta

Một thời, Tôn giả Udāyī ở gần Kāmaṇḍā trong vườn xoài của bà la môn Todeyya.

Rồi một cậu bé là học trò của bà la môn phu nhân của gia tộc Verahaccāni đến gặp Udāyī và chào hỏi ngài. Khi những lời chào hỏi và trò chuyện lịch sự kết thúc, cậu ngồi xuống một bên. Udāyī đã giáo dục, khuyến khích, khơi dậy, và truyền cảm hứng cho sinh viên trẻ đó bằng một bài Pháp thoại.

Rồi sinh viên trẻ đó đến gặp bà la môn phu nhân của gia tộc Verahaccāni và nói với bà: “Thưa bà, xin bà hãy biết điều này. Sa môn Udāyī tuyên bố một giáo pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và được diễn đạt tốt. Và ngài tiết lộ một pháp hành hoàn toàn đầy đủ và trong sạch.”

“Vậy thì, sinh viên trẻ, hãy mời ngài nhân danh ta đến dùng bữa ngày mai.”

“Vâng, thưa bà,” cậu đáp. Cậu đến gặp Udāyī và nói: “Bạch Thế Tôn, xin Tôn giả Udāyī hãy nhận lời cúng dường bữa ăn ngày mai từ vợ của thầy con, bà la môn phu nhân của gia tộc Verahaccāni.” Udāyī đồng ý bằng sự im lặng.

Rồi khi đêm đã qua, Udāyī đắp y vào buổi sáng và, mang theo bát và y, đến nhà của bà la môn phu nhân, và ngồi xuống chỗ đã được trải sẵn. Rồi bà la môn phu nhân đã phục vụ và làm hài lòng Udāyī bằng chính tay mình với những món ăn tươi ngon và đã nấu chín.

Khi Udāyī đã ăn xong và rửa tay và bát, bà mang một đôi giày, ngồi trên một chiếc ghế cao, che đầu, và nói với ngài: “Thưa sa môn, hãy thuyết Pháp.”

“Sẽ có dịp cho điều đó, thưa chị,” ngài đáp, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Lần thứ hai, sinh viên trẻ đó đến gặp Tôn giả Udāyī …

Và lần thứ hai, sinh viên trẻ đó đến gặp bà la môn phu nhân của gia tộc Verahaccāni …

Bà nói với cậu: “Con cứ khen ngợi sa môn Udāyī như thế này. Nhưng khi ta yêu cầu ngài thuyết Pháp, ngài chỉ nói rằng sẽ có dịp cho điều đó, và rồi ngài đứng dậy và rời đi.”

“Thưa bà, đó là vì bà đã mang một đôi giày, ngồi trên một chiếc ghế cao, và che đầu trước khi mời ngài giảng dạy. Vì những người tốt tôn trọng giáo pháp.”

“Vậy thì, sinh viên trẻ, hãy mời ngài nhân danh ta đến dùng bữa ngày mai.”

“Vâng, thưa bà,” cậu đáp. …

Rồi bà la môn phu nhân đã phục vụ và làm hài lòng Udāyī bằng chính tay mình với những món ăn tươi ngon và đã nấu chín.

Khi Udāyī đã ăn xong và rửa tay và bát, bà tháo giày, ngồi trên một chiếc ghế thấp, bỏ khăn che đầu, và nói với ngài: “Bạch Thế Tôn, khi cái gì tồn tại, các bậc A-la-hán tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau? Khi cái gì không tồn tại, các bậc A-la-hán không tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau?”

“Thưa chị, khi có mắt, các bậc A-la-hán tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau. Khi không có mắt, các bậc A-la-hán không tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau. Khi có tai … mũi … lưỡi … thân … trí não, các bậc A-la-hán tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau. Khi không có ý, các bậc A-la-hán không tuyên bố rằng có sự an vui và khổ đau.”

Khi ngài nói điều này, bà la môn phu nhân nói với Udāyī: “Tuyệt vời, thưa ngài! Tuyệt vời! Như thể ngài đang dựng lại cái bị lật đổ, hay tiết lộ cái bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Tôn giả Udāyī đã làm cho giáo pháp trở nên rõ ràng bằng nhiều cách. Tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Từ hôm nay trở đi, xin Tôn giả Udāyī hãy nhớ đến tôi như một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

133. X. Verahaccàni (S.iv,121)

1. Một thời Tôn giả Udàyi trú ở Kàmandàya, tại vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.

2. Rồi một đệ tử thanh niên của nữ Bà-la-môn, thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udàyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3. Rồi Tôn giả Udàyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn ấy đang ngồi xuống một bên.

4. Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udàyi với bài pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:

− Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udàyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.

5. − Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Sa-môn Udàyi ngày mai đến dùng cơm.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến thưa với Tôn giả Udàyi:

− Tôn giả Udàyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi (là) buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.

Tôn giả Udàyi im lặng nhận lời.

6. Rồi Tôn giả Udàyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-lamôn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

7. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

8. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi (thấy) Tôn giả Udàyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udàyi:

− Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.

− Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.

Nói xong, Tôn giả Udàyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

9. Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Udàyi những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Udàyi với lời pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thanh niên Bà-la-môn đang ngồi xuống một bên.

10. Lần thứ hai, thanh niên Bà-la-môn ấy sau khi được Tôn giả Udàyi với pháp thoại, trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến nói với nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni:

− Nữ Tôn giả hãy biết, Sa-môn Udàyi thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.

11. − Như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, Ông nói lời tán thán Sa-môn Udàyi. Nhưng Sa-môn Udàyi khi được nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, sau khi trả lời: “Này Chị, thời ấy sẽ đến”, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi về tịnh xá.

12. − Thưa nữ Tôn giả, vì rằng nữ Tôn giả đã đi dép, ngồi trên chỗ cao, trùm đầu và nói: “Này Sa-môn, hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.

13. − Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udàyi đến dùng cơm.

− Thưa vâng, nữ Tôn giả.

Thanh niên Bà-la-môn ấy vâng đáp nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, đi đến Tôn giả Udàyi; sau khi đến, nói với Tôn giả Udàyi:

− Tôn giả Udàyi, hãy chấp nhận đạo sư phí của chúng tôi, (là) buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.

Tôn giả Udàyi im lặng nhận lời.

14. Rồi Tôn giả Udàyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bàla-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

15. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

16. Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udàyi:

− Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?

17. − Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc Ala-hán không trình bày lạc khổ… Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.

18. Khi được nói vậy, nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni thưa với Tôn giả Udàyi:

− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udàyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udàyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udàyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

Chương tại Devadaha

SN 35.134 Tại Devadaha Devadahasutta

Một thời, Đức Phật ở tại xứ Sakyan, gần thị trấn Sakyan tên là Devadaha. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:

"Đối với sáu trường tiếp xúc, này các Tỷ kheo, Ta không nói rằng tất cả các Tỷ kheo đều có việc phải làm với sự siêng năng, cũng không nói rằng không ai trong số họ có việc phải làm với sự siêng năng.

Ta nói rằng, đối với sáu trường tiếp xúc, các Tỷ kheo không có việc phải làm với sự siêng năng nếu họ là những bậc A-la-hán, với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những gì phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu của chính mình, đã hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của sự tồn tại tiếp diễn, và đã được giải thoát đúng đắn qua sự giác ngộ. Tại sao vậy?

Họ đã làm công việc của mình với sự siêng năng, và không có khả năng sao nhãng.

Ta nói rằng, đối với sáu trường tiếp xúc, các Tỷ kheo có việc phải làm với sự siêng năng nếu họ là những người đang tu tập, những người chưa đạt được ước nguyện của tâm mình, nhưng sống với khát vọng đạt đến sự an ổn tối cao khỏi các khổ ách. Tại sao vậy?

Có những cảnh sắc được biết bởi mắt vừa dễ chịu vừa khó chịu. Mặc dù trải nghiệm chúng lặp đi lặp lại, chúng không chiếm hữu tâm trí. Năng lượng của họ được khơi dậy và không mệt mỏi, chánh niệm của họ được thiết lập và sáng suốt, thân thể của họ yên ổn và không bị xáo trộn, và tâm của họ nhập định. Thấy quả của sự siêng năng này, Ta nói rằng những Tỷ kheo đó có việc phải làm với sự siêng năng đối với sáu trường tiếp xúc. …

Có những ý nghĩ được biết bởi trí não vừa dễ chịu vừa khó chịu. Mặc dù trải nghiệm chúng lặp đi lặp lại, chúng không chiếm hữu tâm trí. Năng lượng của họ được khơi dậy và không mệt mỏi, chánh niệm của họ được thiết lập và sáng suốt, thân thể của họ yên ổn và không bị xáo trộn, và tâm của họ nhập định. Thấy quả của sự siêng năng này, Ta nói rằng những Tỷ kheo đó có việc phải làm với sự siêng năng đối với sáu trường tiếp xúc."

IV. Phẩm Devadaha

134. I. Sát Na Ở Devadaha (S.iv,124)

1. Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.

2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

3. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?

4. Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật, đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.

5. Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?

6. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

7-10. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

11. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.

SN 35.135 Cơ Hội Khaṇasutta

"Các ông thật may mắn, này các Tỷ kheo, thật vô cùng may mắn, khi có cơ hội để sống đời phạm hạnh. Ta đã thấy địa ngục được gọi là ‘Liên quan đến Sáu Trường tiếp xúc’. Ở đó, bất cứ cảnh sắc nào ông thấy bằng mắt đều không dễ mến, không đáng khao khát; không mong muốn, không đáng mong muốn; khó chịu, không dễ chịu.

Bất cứ âm thanh nào ông nghe …

Bất cứ mùi hương nào ông ngửi …

Bất cứ vị nào ông nếm …

Bất cứ xúc chạm nào ông cảm nhận …

Bất cứ ý nghĩ nào ông biết bằng trí não đều không dễ mến, không đáng khao khát; không mong muốn, không đáng mong muốn; khó chịu, không dễ chịu. Các ông thật may mắn, này các Tỷ kheo, thật vô cùng may mắn, khi có cơ hội để sống đời phạm hạnh. Ta đã thấy thiên đường được gọi là ‘Liên quan đến Sáu Xúc Xứ’. Ở đó, bất cứ cảnh sắc nào ông thấy bằng mắt đều dễ mến, không khó chịu; đáng khao khát, không đáng ghét; dễ chịu, không khó chịu.

Bất cứ âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm …

Bất cứ ý nghĩ nào ông biết bằng trí não đều dễ mến, không khó chịu; đáng khao khát, không đáng ghét; dễ chịu, không khó chịu. Các ông thật may mắn, này các Tỷ kheo, thật vô cùng may mắn, khi có cơ hội để sống đời phạm hạnh."

135. II. Thâu Nhiếp (S.iv, 126)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội (khana) để sống Phạm hạnh.

3. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các địa ngục gọi là sáu xúc xứ địa ngục. Ở đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy sắc không khả lạc, không phải sắc khả lạc; thấy sắc không khả hỷ, không phải sắc khả hỷ; thấy sắc không khả ý, không phải sắc khả ý. Phàm tai nghe tiếng gì… Phàm mũi ngửi hương gì… Phàm lưỡi nếm vị gì… Phàm thân cảm xúc gì… Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp không khả lạc, không phải pháp khả lạc; nhận thức không phải khả hỷ, không phải pháp khả hỷ; nhận thức pháp không khả ý, không phải pháp khả ý.

Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội để sống Phạm hạnh.

4. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy các Thiên giới gọi là sáu xúc xứ Thiên giới. Tại đấy, phàm mắt thấy sắc gì, thấy sắc khả lạc, không phải sắc không lạc; thấy sắc khả hỷ, không phải sắc không khả hỷ; thấy sắc khả ý, không phải sắc không khả ý. Phàm tai nghe tiếng gì… Phàm mũi ngửi hương gì… Phàm lưỡi nếm vị gì… Phàm thân cảm xúc gì… Phàm ý nhận thức pháp gì, nhận thức pháp khả lạc, không phải không khả lạc; nhận thức pháp khả hỷ, không phải không khả hỷ; nhận thức pháp khả ý, không phải pháp không khả ý.

Này các Tỷ-kheo, các Ông được lợi đắc. Này các Tỷ-kheo, các Ông được khéo lợi đắc. Các Ông đã nắm được cơ hội để sống Phạm hạnh.

SN 35.136 Thích Cảnh Sắc (Thứ nhất) Paṭhamarūpārāmasutta

"Này các Tỷ kheo, chư thiên và loài người thích cảnh sắc, họ yêu chúng và tận hưởng chúng. Nhưng khi cảnh sắc hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, chư thiên và loài người sống trong khổ đau.

Chư thiên và loài người thích âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ, họ yêu chúng và tận hưởng chúng. Nhưng khi ý nghĩ hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, chư thiên và loài người sống trong khổ đau.

Như Lai đã thật sự hiểu rõ nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của cảnh sắc, vì vậy Ngài không thích, yêu, hay tận hưởng chúng. Khi cảnh sắc hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, Như Lai sống hạnh phúc.

Như Lai đã thật sự hiểu rõ nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của âm thanh … mùi hương … vị … xúc chạm … ý nghĩ, vì vậy Ngài không thích, yêu, hay tận hưởng chúng. Khi ý nghĩ hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, Như Lai sống hạnh phúc."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Cảnh sắc, âm thanh, vị, mùi hương,
xúc chạm và ý nghĩ, tất cả chúng—
chúng dễ mến, đáng khao khát, và thú vị
chừng nào ông còn có thể nói rằng chúng tồn tại.

Đối với cả thế giới với các vị trời của nó,
đây là những gì họ coi là hạnh phúc.
Và nơi chúng chấm dứt
được coi là khổ đau đối với họ.

Các bậc Thánh đã thấy rằng hạnh phúc
là sự chấm dứt của thực tại hữu thể.
Tuệ giác này của những người thấy
mâu thuẫn với cả thế giới.

Điều người khác nói là hạnh phúc
các bậc Thánh nói là khổ đau.
Điều người khác nói là khổ đau
các bậc Thánh biết là hạnh phúc.

Hãy xem, giáo pháp này khó hiểu,
nó làm cho những người vô minh bối rối.
Có bóng tối cho những người bị che khuất;
sự đen tối cho những người không thấy.

Nhưng những người tốt thì cởi mở;
như ánh sáng cho những người thấy.
Mặc dù gần gũi, họ không hiểu,
những kẻ ngu dốt không am hiểu giáo pháp.

Họ bị sa lầy trong ham muốn tái sanh,
trôi theo dòng chảy của các kiếp sống,
sa lầy trong lãnh địa của Ma:
giáo pháp này không dễ cho họ hiểu.

Ai, ngoài các bậc Thánh,
có đủ tư cách để hiểu trạng thái này?
Sau khi đã hiểu đúng trạng thái này,
những người vô nhiễm hoàn toàn tịch diệt."

136. III. Không Thâu Nhiếp (2) (S.iv 126)

1. …

2. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ… thích thú tiếng… thích thú hương… thích thú vị… thích thú xúc… Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,chư Thiên và Người đời sống đau khổ.

3. Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly của sắc, không có thích thú sắc, không có ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc… không thích thú tiếng… không thích thú hương… không thích thú vị… không thích thú xúc…

Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống an lạc.

4. Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Và toàn thể các pháp,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Như vậy, chúng được gọi.

2) Chư Thiên và Người đời,
Xem chúng là khả lạc,
Chỗ nào chúng đoạn diệt,
Thiên, Nhân thấy đau khổ.

3) Bậc Thánh thấy an lạc,
Khi thân kiến đoạn diệt,
Bậc Thánh xem trái ngược,
Mọi quan điểm của đời.

4) Ðiều người gọi là lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ.
Ðiều người gọi là khổ,
Thánh nhân biết là lạc.

5) Thấy pháp khó nhận biết,
Kẻ vô trí mê loạn,
Tối tăm đối vô minh,
Mù lòa đối không thấy.

6) Thiện nhân mắt rộng mở,
Thấy rõ ràng ánh sáng,
Sống gần, biết rõ ràng,
Thuần thục trong pháp lớn.

7) Bị tham sanh chinh phục,
Bị dòng hữu cuốn trôi,
Bị Ác ma chi phối,
Không giác ngộ pháp này.

8) Ngoài Thánh không có ai,
Giác ngộ con đường này,
Con đường đạt Niết-bàn,
Chánh trí thoát lậu hoặc.

SN 35.137 Thích Cảnh Sắc (Thứ hai) Dutiyarūpārāmasutta

"Này các Tỷ kheo, chư thiên và loài người thích cảnh sắc, họ yêu chúng và tận hưởng chúng. Nhưng khi cảnh sắc hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, chư thiên và loài người sống trong khổ đau. …

Như Lai đã thật sự hiểu rõ nguồn gốc, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của cảnh sắc, vì vậy Ngài không thích, yêu, hay tận hưởng chúng. Khi cảnh sắc hoại diệt, nhạt dần, và chấm dứt, Như Lai sống hạnh phúc. …"

5. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ… thích thú tiếng… thích thú hương… thích thú vị… thích thú xúc… Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ.

6. Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc, không thích thú sắc, không ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc… không thích thú tiếng… không thích thú hương… không thích thú vị… không thích thú xúc… Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị các pháp kích thích. Khi các pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc.

SN 35.138 Không Phải của Các Ông (Thứ nhất) Paṭhamanatumhākasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông. Và cái gì không phải của các ông? Mắt không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Tai … mũi … lưỡi … thân … ý không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Giả sử một người mang đi cỏ, gậy, cành, và lá trong Tịnh xá Jeta này, hoặc đốt chúng, hoặc làm gì họ muốn với chúng. Các ông có nghĩ rằng: ‘Người này đang mang chúng ta đi, đốt chúng ta, hoặc làm gì họ muốn với chúng ta’ không?"

“Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì đối với chúng con, đó không phải là tự ngã cũng không thuộc về tự ngã.”

"Cũng vậy, mắt không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông.

Tai … mũi … lưỡi … thân … ý không phải của các ông: hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho các ông."

137. V. Các Lậu (1) (S.iv,128)

1. …

2. Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Jeta này, có người mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy duyên làm một việc gì đối với cỏ, củi, cành và lá, thời các Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người ấy mang các Ông đi, đốt các Ông, hay tùy duyên làm một việc gì với các Ông?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không phải tự ngã, không thuộc tự ngã.

10. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Mắt không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

SN 35.139 Không Phải Của Con (2) Dutiyanatumhākasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ những gì không phải của các ông. Từ bỏ nó sẽ vì hạnh phúc và an lạc của các ông. Và cái gì không phải của các ông? Hình ảnh không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ vì hạnh phúc và an lạc của các ông.

Âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ vì hạnh phúc và an lạc của các ông.

Giả sử một người mang đi cỏ, gậy, cành, và lá trong vườn của Jeta này…

Cũng vậy, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ không phải của các ông: hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ vì hạnh phúc và an lạc của các ông."

138. V. Các Lậu (2) (S.iv,129)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng… (Như kinh trước, chỉ khác là thế vào các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, và các pháp).

SN 35.140 Nội Tại và Nguyên Nhân Là Vô Thường Ajjhattaaniccahetusutta

"Này các Tỷ kheo, mắt là vô thường (impermanent / không tồn tại mãi mãi, luôn thay đổi). Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra mắt cũng là vô thường. Vì mắt được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao nó có thể thường hằng được?

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là vô thường. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra trí não cũng là vô thường. Vì trí não được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao nó có thể thường hằng được?

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán (disillusioned / yếm ly / không còn hứng thú, thấy rõ sự thật) với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. Khi ham muốn tan biến, vị ấy được giải thoát (freed / thoát khỏi ràng buộc). Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh (rebirth / sự sinh trở lại trong vòng luân hồi) đã chấm dứt, phạm hạnh (spiritual journey / đời sống tu tập trong sạch) đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

139. VI. Nội Căn Do Nhân (1) (S.iv,129)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến mắt khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, mắt do nhân vô thường khởi lên, từ đâu sẽ thường còn được?

4-7. … tai… mũi… lưỡi… thân…

8. Này các Tỷ-kheo, ý là vô thường. Do nhân gì, do duyên gì khiến ý khởi lên, cái ấy cũng vô thường. Này các Tỷ-kheo, ý do nhân vô thường khởi lên, từ đâu có thể thường được?

9. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt… đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.141 Nội Tại và Nguyên Nhân Là Khổ Ajjhattadukkhahetusutta

"Này các Tỷ kheo, mắt là khổ (suffering / không thỏa mãn, không như ý). Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra mắt cũng là khổ. Vì mắt được tạo ra bởi cái khổ, làm sao nó có thể là an vui được?

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là khổ. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra trí não cũng là khổ. Vì trí não được tạo ra bởi cái khổ, làm sao nó có thể là an vui được?

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

140. VII. Nội Căn Do Nhân (2) (S.iv,130)

(Như kinh trên, chỉ khác khổ thế cho vô thường) …

SN 35.142 Nội Tại và Nguyên Nhân Là Vô Ngã Ajjhattānattahetusutta

"Này các Tỷ kheo, mắt là vô ngã (not-self / không có một cái ‘tôi’ hay ‘linh hồn’ cố định, bất biến). Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra mắt cũng là vô ngã. Vì mắt được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao nó có thể là ngã được?

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là vô ngã. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra trí não cũng là vô ngã. Vì trí não được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao nó có thể là ngã được?

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

141. VIII. Nội Căn Do Nhân (3) (S.iv,130)

(Như kinh trên, chỉ khác vô ngã thế cho vô thường) …

SN 35.143 Ngoại Tại và Nguyên Nhân Là Vô Thường Bāhirāniccahetusutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh là vô thường. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra hình ảnh cũng là vô thường. Vì hình ảnh được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao chúng có thể thường hằng được?

Âm thanh…

Mùi…

Vị…

Xúc chạm…

Ý nghĩ là vô thường. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra ý nghĩ cũng là vô thường. Vì ý nghĩ được tạo ra bởi cái vô thường, làm sao chúng có thể thường hằng được?

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

SN 35.144 Ngoại Tại và Nguyên Nhân Là Khổ Bāhiradukkhahetusutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh là khổ. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra hình ảnh cũng là khổ. Vì hình ảnh được tạo ra bởi cái khổ, làm sao chúng có thể là an vui được?

Âm thanh…

Mùi…

Vị…

Xúc chạm…

Ý nghĩ là khổ. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra ý nghĩ cũng là khổ. Vì ý nghĩ được tạo ra bởi cái khổ, làm sao chúng có thể là an vui được?

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

SN 35.145 Ngoại Tại và Nguyên Nhân Là Vô Ngã Bāhirānattahetusutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh là vô ngã. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra hình ảnh cũng là vô ngã. Vì hình ảnh được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao chúng có thể là ngã được?

Âm thanh…

Mùi…

Vị…

Xúc chạm…

Ý nghĩ là vô ngã. Nguyên nhân và lý do làm phát sinh ra ý nghĩ cũng là vô ngã. Vì ý nghĩ được tạo ra bởi cái vô ngã, làm sao chúng có thể là ngã được?

Thấy vậy… Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. Khi ham muốn tan biến, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

142 - 144. IX - X. Ngoại Căn Do Nhân (1) (2)(3)(S.iv,131)

(Như các kinh trước, chỉ thế vào sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, các pháp)…

Chương Về Cũ và Mới

SN 35.146 Sự Chấm Dứt Của Hành Động Kammanirodhasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con về nghiệp cũ (old deeds / hành động trong quá khứ và kết quả của chúng), nghiệp mới (new deeds / hành động trong hiện tại), nghiệp diệt (cessation of deeds / sự chấm dứt của hành động và kết quả), và con đường thực hành đưa đến nghiệp diệt. Hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói. …

Và thế nào là nghiệp cũ?

Mắt là nghiệp cũ. Cần phải thấy nó được tạo ra bởi hành (choices / các hành động, sự lựa chọn) và ý định, là thứ để cảm nhận.

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là nghiệp cũ. Cần phải thấy nó được tạo ra bởi hành và ý định, là thứ để cảm nhận.

Đây được gọi là nghiệp cũ.

Và thế nào là nghiệp mới?

Những hành động mà các con đang thực hiện qua thân, khẩu, và ý.

Đây được gọi là nghiệp mới.

Và thế nào là nghiệp diệt?

Khi các con trải nghiệm sự giải thoát do sự chấm dứt của hành động qua thân, khẩu, và ý.

Đây được gọi là nghiệp diệt.

Và thế nào là con đường thực hành đưa đến nghiệp diệt?

Đó chính là bát chánh đạo (noble eightfold path / con đường tám yếu tố chân chính) này, tức là: chánh kiến (right view / hiểu biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nghề nghiệp đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / nỗ lực đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / sự chú tâm, tỉnh thức đúng đắn), và chánh định (right immersion / sự tập trung tâm ý đúng đắn).

Đây được gọi là con đường thực hành đưa đến nghiệp diệt.

Vậy, này các Tỷ kheo, Ta đã dạy các con về nghiệp cũ, nghiệp mới, nghiệp diệt, và con đường thực hành đưa đến nghiệp diệt.

Vì lòng thương, Ta đã làm những gì một người thầy nên làm, người luôn mong muốn điều tốt nhất cho các đệ tử của mình. Đây là những gốc cây, và đây là những túp lều trống. Hãy thực hành thiền định (absorption / thiền na / trạng thái tâm tập trung cao độ), này các Tỷ kheo! Đừng sao nhãng! Để sau này không phải hối hận! Đây là lời chỉ dạy của Ta cho các con."

V. Mới Và Cũ

145. I. Nghiệp (S.iv,132)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về các nghiệp mới và cũ, sự đoạn diệt các nghiệp, con đường đưa đến sự đoạn diệt các nghiệp. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Sự đoạn diệt thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp, nhờ vậy cảm thấy giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp đoạn diệt.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt? Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

7. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã giảng cho các Ông nghiệp cũ, đã giảng nghiệp mới, đã giảng nghiệp đoạn diệt, đã giảng con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

8. Này các Tỷ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.

9. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

SN 35.147 Vô Thường Đưa Đến Niết Bàn Aniccanibbānasappāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một pháp hành đưa đến Niết bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt hoàn toàn khổ đau và nguyên nhân của nó). Hãy lắng nghe…

Và pháp hành đưa đến Niết bàn đó là gì?

Đó là khi một Tỷ kheo thấy rằng mắt, hình ảnh, mắt thức (eye consciousness/ nhãn thức), và mắt xúc (eye contact / nhãn xúc) là vô thường. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là vô thường.

Vị ấy thấy rằng tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là vô thường.

Đây là pháp hành đưa đến Niết bàn."

146. II. Thích ứng (1) (S.iv,133)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy mắt là vô thường, thấy các sắc là vô thường, thấy nhãn thức là vô thường, thấy nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.

4-5. … tai… mũi…

6-7. … lưỡi… thân…

8. … thấy ý là vô thường, thấy các pháp là vô thường, thấy ý thức là vô thường, thấy ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.

9. Và này các Tỷ-kheo, đây là con đường thích ứng với Niết-bàn.

SN 35.148 Khổ Đưa Đến Niết Bàn Dukkhanibbānasappāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một pháp hành đưa đến Niết bàn. Hãy lắng nghe…

Và pháp hành đưa đến Niết bàn đó là gì?

Đó là khi một Tỷ kheo thấy rằng mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là khổ. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là khổ.

Vị ấy thấy rằng tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là khổ. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là khổ.

Đây là pháp hành đưa đến Niết bàn."

SN 35.149 Vô Ngã Đưa Đến Niết Bàn Anattanibbānasappāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một pháp hành đưa đến Niết bàn. Hãy lắng nghe…

Và pháp hành đưa đến Niết bàn đó là gì?

Đó là khi một Tỷ kheo thấy rằng mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô ngã. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là vô ngã.

Vị ấy thấy rằng tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô ngã. Và vị ấy thấy rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là vô ngã.

Đây là pháp hành đưa đến Niết bàn."

147-148. III-IV. Thích ứng (2) (3) (S.iv,134)

(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào khổ và vô ngã)

SN 35.150 Một Pháp Hành Đưa Đến Niết Bàn Nibbānasappāyapaṭipadāsutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một pháp hành đưa đến Niết bàn. Hãy lắng nghe…

Và pháp hành đưa đến Niết bàn đó là gì?

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Mắt là thường hằng hay vô thường?"

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay an vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?”

“Bạch Thế Tôn, không ạ.”

"Hình ảnh… mắt thức… mắt xúc…

Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên: cái đó là thường hằng hay vô thường?"

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, nó là khổ hay an vui?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Nhưng nếu nó là vô thường, khổ, và có tính hoại diệt, có đáng để xem nó như thế này không: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?”

“Bạch Thế Tôn, không ạ.”

"Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc. Và vị ấy trở nên nhàm chán với cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên.

Vị ấy trở nên nhàm chán với tai… mũi… lưỡi… thân… trí não… cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên. Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. Khi ham muốn tan biến, vị ấy được giải thoát. …

Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Đây là pháp hành đưa đến Niết bàn."

149. V. Thích ứng (4) (S.iv,135)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn…

(Như kinh 32)

SN 35.151 Một Học Trò Nội Trú Antevāsikasutta

"Này các Tỷ kheo, đời sống phạm hạnh này được sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy. Một Tỷ kheo sống với một học trò nội trú và một thầy dạy thì sống trong khổ và bất an. Một Tỷ kheo sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy thì sống trong an vui và thoải mái.

Và làm thế nào một Tỷ kheo sống với một học trò nội trú và một thầy dạy lại sống trong khổ và bất an?

Khi một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích (The fetters / kiết sử / dịch là ‘cái cùm’, ‘xiềng xích’, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm). Những phẩm chất đó cư ngụ bên trong. Vì có những phẩm chất xấu bất thiện cư ngụ bên trong, vị ấy được cho là có một học trò nội trú. Những phẩm chất đó làm chủ vị ấy. Vì bị làm chủ bởi những phẩm chất xấu bất thiện, vị ấy được cho là có một thầy dạy.

Hơn nữa, khi một Tỷ kheo nghe… ngửi… nếm… chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não, các pháp xấu, bất thiện khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Những phẩm chất đó cư ngụ bên trong. Vì có những phẩm chất xấu bất thiện cư ngụ bên trong, vị ấy được cho là có một học trò nội trú. Những phẩm chất đó làm chủ vị ấy. Vì bị làm chủ bởi những phẩm chất xấu bất thiện, vị ấy được cho là có một thầy dạy. Đó là cách một Tỷ kheo sống với một học trò nội trú và một thầy dạy lại sống trong khổ và bất an.

Và làm thế nào một Tỷ kheo sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy lại sống trong an vui và thoải mái?

Khi một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt, các pháp xấu, bất thiện không khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Những phẩm chất đó không cư ngụ bên trong. Vì không có những phẩm chất xấu bất thiện cư ngụ bên trong, vị ấy được cho là không có học trò nội trú. Những phẩm chất đó không làm chủ vị ấy. Vì không bị làm chủ bởi những phẩm chất xấu bất thiện, vị ấy được cho là không có thầy dạy.

Hơn nữa, khi một Tỷ kheo nghe… ngửi… nếm… chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não, các pháp xấu, bất thiện không khởi lên: những ký ức và suy nghĩ dễ dẫn đến xiềng xích. Những phẩm chất đó không cư ngụ bên trong. Vì không có những phẩm chất xấu bất thiện cư ngụ bên trong, vị ấy được cho là không có học trò nội trú. Những phẩm chất đó không làm chủ vị ấy. Vì không bị làm chủ bởi những phẩm chất xấu bất thiện, vị ấy được cho là không có thầy dạy.

Đó là cách một Tỷ kheo sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy lại sống trong an vui và thoải mái.

Đời sống phạm hạnh này được sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy. Một Tỷ kheo sống với một học trò nội trú và một thầy dạy thì sống trong khổ và bất an. Một Tỷ kheo sống không có học trò nội trú và không có thầy dạy thì sống trong an vui và thoải mái."

150. VI. Ðệ Tử Nội Trú (S.iv,136)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, không có các đệ tử nội trú, không có Ðạo Sư. Phạm hạnh này được sống.

4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư là sống an lạc, thoải mái.

5. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị khởi lên trói buộc, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú trong vị ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát (Samudàcaranti) vị ấy; các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy, được gọi là Ðạo sư.

7-10. … khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc khởi lên, chúng trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp nội trú ở trong vị ấy. Do vậy, được gọi là có đệ tử nội trú. Chúng theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp theo sát vị ấy. Do vậy, được gọi là có Ðạo sư.

12. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư, là sống đau khổ, không có thoải mái.

13. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc thoải mái?

14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng bị trói buộc không khởi lên, chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp không nội trú trong vị ấy. Cho nên, vị ấy được gọi là sống không có đệ tử nội trú. Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp không theo sát vị ấy. Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.

15-18. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

19. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ý biết pháp, các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng không khởi lên, chúng không trú ở trong vị ấy; các ác bất thiện pháp không nội trú ở trong vị ấy. Do vậy, được gọi là sống không có đệ tử nội trú. Chúng không theo sát vị ấy; các ác bất thiện pháp không theo sát vị ấy. Do vậy, vị ấy được gọi là không có Ðạo sư.

20. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.

Ðây, này các Tỷ-kheo, được gọi là Phạm hạnh không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư.

21. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có đệ tử nội trú, có Ðạo sư là sống đau khổ, không có thoải mái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không có đệ tử nội trú, không có Ðạo sư, là sống an lạc, thoải mái.

SN 35.152 Mục Đích Của Đời Sống Phạm Hạnh Là Gì? Kimatthiyabrahmacariyasutta

"Này các Tỷ kheo, nếu những du sĩ ngoại đạo hỏi các con: ‘Thưa các Tôn giả, mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Cồ-đàm là gì?’

Các con nên trả lời họ: ‘Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn (complete understanding/ liễu tri ) về khổ.’

Nếu những du sĩ ngoại đạo hỏi các con: ‘Thưa các Tôn giả, cái khổ đó là gì?’

Các con nên trả lời họ: 'Mắt là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn về điều này. Hình ảnh… Mắt thức… Mắt xúc… Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn về điều này.

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não… Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là khổ. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn về điều này. Đây chính là cái khổ đó. Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn về điều này.’

Khi bị những du sĩ ngoại đạo hỏi, đó là cách các con nên trả lời họ."

151. VII. Với Mục Ðích Gì? (S.iv,138)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Có cái gì, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?”; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

4. “Này chư Hiền, vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn”.

5. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: “Thế nào, này chư Hiền, là vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?”; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11. "Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Nhãn xúc là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

12. Ðây là khổ, này chư Hiền, vì liễu tri khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".

13. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời như vậy cho những du sĩ ngoại đạo ấy.

SN 35.153 Có Phương Pháp Nào Không? Atthinukhopariyāyasutta

“Này các Tỷ kheo, có một phương pháp nào—ngoài niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc—mà một Tỷ kheo có thể dựa vào để tuyên bố sự giác ngộ của mình không? Tức là: ‘Tôi hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.”’”

“Giáo pháp của chúng con lấy Đức Phật làm gốc rễ. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”

“Vậy thì, này các Tỷ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Có một phương pháp—ngoài niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc—mà một Tỷ kheo có thể dựa vào để tuyên bố sự giác ngộ của mình. Tức là: ‘Tôi hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.”’

Và phương pháp đó là gì? Lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Khi vị ấy có tham (greed / lòng tham, sự ham muốn), sân (hate / sự căm ghét, tức giận), và si (delusion / sự mê lầm, ảo tưởng) trong mình, vị ấy hiểu ‘Tôi có tham, sân, và si trong tôi.’ Khi vị ấy không có tham, sân, và si trong mình, vị ấy hiểu ‘Tôi không có tham, sân, và si trong tôi.’ Vì điều này là như vậy, những điều này có được hiểu bằng niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc không?"

“Bạch Thế Tôn, không ạ.”

“Chẳng phải chúng được hiểu bằng cách thấy chúng với trí tuệ sao?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

"Đây là một phương pháp—ngoài niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc—mà một Tỷ kheo có thể dựa vào để tuyên bố sự giác ngộ của mình. Tức là: ‘Tôi hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.”’

Hơn nữa, một Tỷ kheo nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Khi vị ấy có tham, sân, và si trong mình, vị ấy hiểu ‘Tôi có tham, sân, và si trong tôi.’ Khi vị ấy không có tham, sân, và si trong mình, vị ấy hiểu ‘Tôi không có tham, sân, và si trong tôi.’ Vì điều này là như vậy, những điều này có được hiểu bằng niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc không?"

“Bạch Thế Tôn, không ạ.”

“Chẳng phải chúng được hiểu bằng cách thấy chúng với trí tuệ sao?”

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Đây cũng là một phương pháp—ngoài niềm tin, sự tán thành, truyền khẩu, suy luận hợp lý, hay sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc—mà một Tỷ kheo có thể dựa vào để tuyên bố sự giác ngộ của mình. Tức là: ‘Tôi hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’”

152. VIII. Có Pháp Môn Nào? (S.iv,138)

1-2. …

3. − Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?

4. − Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

5. − Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoaụi kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận… trạng thái này nữa”.

6. Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?

− Thưa phải, bạch Thế Tôn.

− Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

8-11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: “Nội tâm ta có tham, sân, si”, hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?

− Thưa phải, bạch Thế Tôn.

13. − Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.154 Thành Tựu Về Các Căn Indriyasampannasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người ‘thành tựu về các căn’. Một người thành tựu về các căn được định nghĩa như thế nào?”

"Này Tỷ kheo, nếu một người hành thiền quan sát sự sinh và diệt trong mắt căn (eye faculty / nhãn căn), vị ấy trở nên nhàm chán với mắt căn.

Nếu vị ấy hành thiền quan sát sự sinh và diệt trong tai căn… mũi căn… lưỡi căn… thân căn… ý căn, vị ấy trở nên nhàm chán với ý căn.

Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. … Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Đây là cách một người thành tựu về các căn được định nghĩa."

153. IX. Căn (S.iv,140)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Các căn được thành tựu”, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, các căn được thành tựu?

4. − Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong nhãn căn, vị ấy nhàm chán đối với nhãn căn… trong nhĩ căn… trong tỷ căn… trong thiệt căn… trong thân căn… Nếu Tỷ-kheo quán sanh diệt trong ý căn, vị ấy nhàm chán đối với ý căn. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã được giải thoát”.Vị ấy biết rõ rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

5. Cho đến như vậy, Tỷ-kheo thành tựu các căn.

SN 35.155 Một Người Thuyết Pháp Dhammakathikapucchasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, người ta nói về một ‘người thuyết Pháp’. Một người thuyết Pháp được định nghĩa như thế nào?”

"Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự nhàm chán, ly tham (dispassion / không còn ham muốn), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt hoàn toàn) đối với mắt, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo thuyết Pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với mắt, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát nhờ không bám giữ (grasping / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào) qua sự nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với mắt, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết bàn ngay trong đời này’.

Nếu một Tỷ kheo giảng Pháp vì sự nhàm chán với tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, vì sự phai nhạt và đoạn diệt của nó, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo thuyết Pháp’.

Nếu vị ấy thực hành vì sự nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với trí não, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo thực hành đúng theo lời dạy’.

Nếu vị ấy được giải thoát nhờ không bám giữ qua sự nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với trí não, vị ấy đủ tiêu chuẩn để được gọi là một ‘Tỷ kheo đã đạt được Niết bàn ngay trong đời này’."

Năm mươi kinh thứ tư

154. X. Vị Thuyết Pháp (S.iv,141)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch

Thế Tôn, là vị thuyết pháp?

4. − Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thành tựu pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo chứng được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

5-8. … tai… mũi… lưỡi… thân…

9. Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp và thuận pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ý, được giải thoát không có chấp thủ, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư

Chương Về Sự Chấm Dứt Hỷ Lạc

SN 35.156 Nội Tại và Sự Chấm Dứt Hỷ Lạc Ajjhattanandikkhayasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng nó là vô thường: đó là chánh kiến của vị ấy. Thấy đúng, vị ấy trở nên nhàm chán. Khi hỷ lạc (relishing / sự thích thú, vui hưởng) chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát.

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng nó là vô thường: đó là chánh kiến của vị ấy. Thấy đúng, vị ấy trở nên nhàm chán. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát."

I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận

155. I. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (S.iv,142)

1. …

3. − Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy mắt vô thường là vô thường, thấy vậy là chánh tri kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận (nandi) nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

4-7. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy tai vô thường là vô thường… thấy mũi vô thường là vô thường… thấy lưỡi vô thường là vô thường… thấy thân vô thường là vô thường…

8. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy ý vô thường là vô thường, thấy vậy là chánh tri kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

SN 35.157 Ngoại Tại và Sự Chấm Dứt Hỷ Lạc Bāhiranandikkhayasutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng chúng là vô thường: đó là chánh kiến của vị ấy. Thấy đúng, vị ấy trở nên nhàm chán. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát.

Âm thanh… Mùi… Vị… Xúc chạm… Ý nghĩ thực sự là vô thường. Một Tỷ kheo thấy rằng chúng là vô thường: đó là chánh kiến của vị ấy. Thấy đúng, vị ấy trở nên nhàm chán. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát."

156. II. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (2)(S.iv,142)

(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc, các pháp).

SN 35.158 Chú Tâm, Nội Tại, và Sự Chấm Dứt Hỷ Lạc Ajjhattaaniccanandikkhayasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy như lý tác ý (apply the mind rationally / suy nghĩ với trí tuệ) đến mắt. Hãy thấy một cách chân thật tính vô thường của mắt. Khi một Tỷ kheo làm điều này, vị ấy trở nên nhàm chán với mắt. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát.

Hãy như lý tác ý đến tai… mũi… lưỡi… thân… trí não. Hãy thấy một cách chân thật tính vô thường của trí não. Khi một Tỷ kheo làm điều này, vị ấy trở nên nhàm chán với trí não. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát."

157. III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3)(S.iv,142)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

4-7. Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý tai… mũi… lưỡi… thân…

8. Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.

SN 35.159 Chú Tâm, Ngoại Tại, và Sự Chấm Dứt Hỷ Lạc Bāhiraaniccanandikkhayasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy như lý tác ý đến hình ảnh. Hãy thấy một cách chân thật tính vô thường của hình ảnh. Khi một Tỷ kheo làm điều này, vị ấy trở nên nhàm chán với hình ảnh. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát.

Hãy như lý tác ý đến âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ. Hãy thấy một cách chân thật tính vô thường của ý nghĩ. Khi một Tỷ kheo làm điều này, vị ấy trở nên nhàm chán với ý nghĩ. Khi hỷ lạc chấm dứt, tham ái chấm dứt. Khi tham ái chấm dứt, hỷ lạc chấm dứt. Khi hỷ lạc và tham ái chấm dứt, tâm được cho là hoàn toàn giải thoát."

158. IV. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (4)(S.iv,143)

(Như kinh trên chỉ thế vào các sắc, tiếng, hương, vị, xúc và các pháp )

SN 35.160 Về Định Tại Vườn Xoài Của Jīvaka Jīvakambavanasamādhisutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Rājagaha (Vương Xá) trong Vườn Xoài của Jīvaka (Kỳ-bà). Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, hãy phát triển định (immersion / samādhi / sự tập trung tâm ý). Đối với một Tỷ kheo có định, mọi thứ trở nên rõ ràng một cách chân thật. Và cái gì trở nên rõ ràng một cách chân thật?

Nó trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô thường. Và nó cũng trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên là vô thường.

Nó trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Và nó cũng trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên là vô thường.

Này các Tỷ kheo, hãy phát triển định. Đối với một Tỷ kheo có định, mọi thứ trở nên rõ ràng một cách chân thật."

159. V. Trong Vườn Xoài Jiivaka (1) (S,iv,143)

1. Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại vườn xoài Jiivaka.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

3. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có tâm định tĩnh, sự vật như thật hiển hiện. Và sự vật gì như thật hiển hiện?

4. Mắt vô thường như thật hiển hiện. Các sắc vô thường như thật hiển hiện. Nhãn thức vô thường như thật hiển hiện. Nhãn xúc vô thường như thật hiển hiện. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy vô thường như thật hiển hiện.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý vô thường như thật hiển hiện. Các pháp vô thường như thật hiển hiện. Ý thức vô thường như thật hiển hiện. Ý xúc vô thường như thật hiển hiện. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy vô thường như thật hiển hiện.

10. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Tỷ-kheo có tâm định tĩnh, sự vật như thật hiển hiện.

SN 35.161 Về Độc Cư Tại Vườn Xoài Của Jīvaka Jīvakambavanapaṭisallānasutta

Một thời Đức Phật trú tại gần Rājagaha (Vương Xá) trong Vườn Xoài của Jīvaka (Kỳ-bà). Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, hãy hành thiền trong độc cư (retreat / sống một mình, xa lánh). Đối với một Tỷ kheo hành thiền trong độc cư, mọi thứ trở nên rõ ràng một cách chân thật. Và cái gì trở nên rõ ràng một cách chân thật?

Nó trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô thường. Và nó cũng trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên là vô thường. …

Nó trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Và nó cũng trở nên rõ ràng một cách chân thật rằng cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên là vô thường.

Này các Tỷ kheo, hãy hành thiền trong độc cư. Đối với một Tỷ kheo hành thiền trong độc cư, mọi thứ trở nên rõ ràng một cách chân thật."

160. VI. Trong Vườn Xoài Jiivaka (2) (S.iv,144)

SN 35.162 Với Koṭṭhita Về Vô Thường Koṭṭhikaaniccasutta

Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita đến gặp Đức Phật… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí.”

"Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường? Mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô thường: con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là vô thường: con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Tai… mũi… lưỡi… thân… Trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường: con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là vô thường: con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường."

161. VII. Kotthika (1) (S.iv,145)

1. …

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

− Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Này Kotthika, cái gì là vô thường?

4. Mắt là vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Các sắc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Nhãn thức là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Nhãn xúc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Các pháp là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Ý thức là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Ý xúc là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

10. Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.

SN 35.163 Với Koṭṭhita Về Khổ Koṭṭhikadukkhasutta

Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita… nói với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy con Pháp một cách ngắn gọn. Khi con đã nghe, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí.”

"Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là khổ. Và cái gì là khổ?

Mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là khổ: con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là khổ; con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Tai… mũi… lưỡi… thân… Trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là khổ: con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là khổ: con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là khổ."

SN 35.164 Với Koṭṭhita Về Vô Ngã Koṭṭhikaanattasutta

"Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là vô ngã. Và cái gì là vô ngã?

Mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô ngã: con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là vô ngã: Con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Tai… mũi… lưỡi… thân… Trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc… Cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là vô ngã: con nên từ bỏ ham muốn đối với nó.

Này Koṭṭhita, con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì là vô ngã."

162-163. VIII-IX. Kotthika (2) (3)(S,iv,146)

(Hai kinh này giống kinh trên chỉ khác là một kinh nói đến khổ, một kinh nói đến vô ngã )

SN 35.165 Từ Bỏ Tà Kiến Micchādiṭṭhipahānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để từ bỏ được tà kiến (wrong view / hiểu biết sai lầm)?”

"Này Tỷ kheo, biết và thấy mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô thường, tà kiến sẽ được từ bỏ. …

Và cũng biết và thấy cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên là vô thường, tà kiến sẽ được từ bỏ.

Đây là cách để biết và thấy để từ bỏ được tà kiến."

164. X. Tà Kiến (S.iv,147)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, tà kiến được đoạn trừ?

4-9. − Tỷ-kheo do biết và thấy mắt là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Do biết và thấy nhãn thức là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ… Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ.

10. Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, do thấy như vậy nên tà kiến được đoạn trừ.

SN 35.166 Từ Bỏ Thân Kiến Sakkāyadiṭṭhipahānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để từ bỏ được thân kiến (substantialist view / sakkāya-diṭṭhi / quan niệm sai lầm rằng có một cái ‘tôi’ thường hằng trong năm uẩn)?”

"Này Tỷ kheo, biết và thấy mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là khổ, thân kiến sẽ được từ bỏ. …

Và cũng biết và thấy cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên là khổ, thân kiến sẽ được từ bỏ.

Đây là cách để biết và thấy để từ bỏ được thân kiến."

165. XI. Thân Kiến (S.iv,147)

(Như kinh trên, chỉ thế thân kiến cho tà kiến …).

SN 35.167 Từ Bỏ Ngã Kiến Attānudiṭṭhipahānasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào để một người biết và thấy để từ bỏ được ngã kiến (view of self / attānudiṭṭhi / quan niệm sai lầm về một cái ‘tôi’ cố hữu)?”

"Này Tỷ kheo, biết và thấy mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô ngã, ngã kiến sẽ được từ bỏ. …

Và cũng biết và thấy cảm giác lạc, khổ, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên là vô ngã, ngã kiến sẽ được từ bỏ."

166. XII. Ngã Kiến (S.iv,148)

(Như kinh trên, chỉ thế vào ngã kiến ).

Chương Sáu Mươi Kinh Tóm Tắt

SN 35.168 Ham Muốn Đối Với Nội Tại Vô Thường Ajjhattaaniccachandasutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường: các con nên từ bỏ ham muốn đối với chúng. Các con nên từ bỏ ham muốn đối với những gì vô thường."

II. Phẩm Sáu Mươi Lược Thuyết

167. I. Do Dục Niệm (18 kinh) (1) (S.iv,148)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, cái gì vô thường, ở đấy, các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường? (Như kinh 161, chỉ khác, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ).

SN 35.169 Tham Ái Đối Với Nội Tại Vô Thường Ajjhattaaniccarāgasutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ tham ái đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường…"

II. Do Dục Niệm (2)

(Như kinh trên, chỉ thế tham (ràga) cho dục niệm ).

SN 35.170 Ham Muốn và Tham Ái Đối Với Nội Tại Vô Thường Ajjhattaaniccachandarāgasutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn và tham ái đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường…"

III. Do Dục Niệm (3)

(Như kinh trên, chỉ thế dục và tham cho dục niệm)

SN 35.171–173 Ham Muốn, V.v. Đối Với Nội Tại Khổ Dukkhachandādisutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn… tham ái… ham muốn và tham ái đối với những gì là khổ. Và cái gì là khổ?

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là khổ…"

168. IV-VI. Do Dục Niệm (4), (5), (6). (S.iv,149)

1-2. …

3. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?

4. Mắt là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là khổ, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.174–176 Ham Muốn, V.v. Đối Với Nội Tại Vô Ngã Anattachandādisutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn… tham ái… ham muốn và tham ái đối với những gì là vô ngã. Và cái gì là vô ngã?

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô ngã…"

169. VII-IX. Do Lòng Dục (7), (8), (9), (S.iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô ngã?

4. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

9. Ý là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

10. Cái gì là vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.177–179 Ham Muốn, V.v. Đối Với Ngoại Tại Vô Thường Bāhirāniccachandādisutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn… tham ái… ham muốn và tham ái đối với những gì vô thường. Và cái gì là vô thường?

Hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô thường…"

170. X-XII. Do Lòng Dục (10), (11), (12) (S,iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?

4. Các sắc là vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp là vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì vô thường, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham.

SN 35.180–182 Ham Muốn, V.v. Đối Với Ngoại Tại Khổ Bāhiradukkhachandādisutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn… tham ái… ham muốn và tham ái đối với những gì là khổ. Và cái gì là khổ?

Hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là khổ…"

171. XIII-XV. Do Lòng Dục (13), (14), (15) (S.iv,150)

1-2. …

3. − Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?

4. Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp là khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

SN 35.183–185 Ham Muốn, V.v. Đối Với Ngoại Tại Vô Ngã Bāhirānattachandādisutta

"Này các Tỷ kheo, các con nên từ bỏ ham muốn… tham ái… ham muốn và tham ái đối với những gì là vô ngã. Và cái gì là vô ngã?

Hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô ngã…"

172. XVI-XVIII. Do Lòng Dục (16), (17), (18) (S.iv,151)

1-2. …

3. − Cái gì vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham… Và này các Tỷ-kheo, cái gì là vô ngã?

4. Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

5-8. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

9. Các pháp, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

10. Cái gì là vô ngã, này các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ lòng dục… lòng tham… lòng dục và tham…

SN 35.186 Nội Tại Đã Vô Thường Trong Quá Khứ Ajjhattātītāniccasutta

"Này các Tỷ kheo, trong quá khứ, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não đã là vô thường.

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. Khi ham muốn tan biến, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

173. XIX. Thuộc Quá Khứ (1)(9 kinh) (S.iv,151)

1-2. …

3-9. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc quá khứ.

10. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.187 Nội Tại Sẽ Vô Thường Trong Tương Lai Ajjhattānāgatāniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong tương lai, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não sẽ là vô thường…”

XX. Thuộc Quá Khứ (2)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc vị lai… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc vị lai.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.188 Nội Tại Là Vô Thường Trong Hiện Tại Ajjhattapaccuppannāniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường…”

XXI. Thuộc Quá Khứ (3)

1-2. …

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc hiện tại. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường, thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.189–191 Nội Tại Là Khổ Trong Ba Thời Ajjhattātītādidukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là khổ…”

174. XXII-XXIV. Thuộc Quá Khứ, (4), (5), (6), (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.192–194 Nội Tại Là Vô Ngã Trong Ba Thời Ajjhattātītādianattasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô ngã…”

175. XXV-XXVII. Thuộc Quá Khứ (7), (8), (9), (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.195–197 Ngoại Tại Là Vô Thường Trong Ba Thời Bāhirātītādianiccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô thường…”

176. XXVIII-XXX. Thuộc Quá Khứ (9 kinh) (10), (11), (12) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.198–200 Ngoại Tại Là Khổ Trong Ba Thời Bāhirātītādidukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là khổ…”

177. XXXI-XXXIII. Thuộc Quá Khứ (13), (14), (15) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.201–203 Ngoại Tại Là Vô Ngã Trong Ba Thời Bāhirātītādianattasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô ngã…”

178. XXXIV-XXXVI. Thuộc Quá Khứ (16), (17), (18) (S.iv,152)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.204 Nội Tại và Cái Vô Thường Trong Quá Khứ Ajjhattātītayadaniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não đã là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ …”

179. XXXVII. Cái Gì Vô Thường (18 kinh) (1)(S.iv,152)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Tai là vô thường… Mũi là vô thường… Lưỡi là vô thường… Thân là vô thường…

8. Ý là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.205 Nội Tại và Cái Vô Thường Trong Tương Lai Ajjhattānāgatayadaniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong tương lai, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não sẽ là vô thường. Cái gì vô thường là khổ…”

XXXVIII. Cái Gì Vô Thường (2)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc vị lai. Cái gì vô thường là khổ… (như kinh trên, chỉ khác đây thuộc vị lai).

SN 35.206 Nội Tại và Cái Vô Thường Trong Hiện Tại Ajjhattapaccuppannayadaniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. …”

XXXIX. Cái Gì Vô Thường (3)

(Như kinh trên, chỉ khác đây thuộc hiện tại)

SN 35.207–209 Nội Tại và Cái Khổ Trong Ba Thời Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là khổ. Cái gì khổ là vô ngã…”

180. XL-XLII. Cái Gì Vô Thường (4), (5), (6), (S.iv,154)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.210–212 Nội Tại và Cái Vô Ngã Trong Ba Thời Ajjhattātītādiyadanattasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ …”

181. XLIII-XLV. Cái Gì Vô Thường (7), (8), (9) (S,iv,154)

1-2. …

3. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi… (như trên)…

SN 35.213–215 Ngoại Tại và Cái Vô Thường Trong Ba Thời Bāhirātītādiyadaniccasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô thường. Cái gì vô thường là khổ…”

182. XLVI - XLVIII. Cái Gì Vô Thường (10), (11), (12) (S.iv,154)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô thường, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.216–218 Ngoại Tại và Cái Khổ Trong Ba Thời Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là khổ. Cái gì khổ là vô ngã…”

183. XLIX-LI. Cái Gì Vô Thường (13), (14), (15). (S.iv,155)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

4-7. Các pháp là khổ, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.219–221 Ngoại Tại và Cái Vô Ngã Trong Ba Thời Bāhirātītādiyadanattasutta

“Này các Tỷ kheo, trong quá khứ… tương lai… hiện tại, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô ngã. Và cái gì vô ngã nên được thấy một cách chân thật với chánh kiến như thế này: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ …”

184. LII-LIV. Cái Gì Vô Thường (16), (17), (18) (S.iv,155)

1-2. …

3. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi.

4-7. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc…

8. Các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ… thuộc vị lai… thuộc hiện tại… Cái gì vô ngã, cái ấy không phải là của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi. Như vậy, cần phải như thật quán cái ấy với chánh trí tuệ.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.222 Nội Xứ Là Vô Thường Ajjhattāyatanaaniccasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô thường.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

185. LV. Nội (3 kinh) (1) (S.iv,155)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô thường.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.223 Nội Xứ Là Khổ Ajjhattāyatanadukkhasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là khổ.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

LVI. Nội (2)

1-2. …

3-8. − Mắt, này các Tỷ-kheo, là khổ. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là khổ…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.224 Nội Xứ Là Vô Ngã Ajjhattāyatanaanattasutta

"Này các Tỷ kheo, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não là vô ngã.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

LVII. Nội (3)

1-2. …

3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô ngã… Tai… Mũi… Lưỡi… Thân… Ý là vô ngã.

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.225 Ngoại Xứ Là Vô Thường Bāhirāyatanaaniccasutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô thường.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

186. LVIII. Ngoại (3 kinh) (1) (S.iv,156)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô thường…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.226 Ngoại Xứ Là Khổ Bāhirāyatanadukkhasutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là khổ.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

LIX. Ngoại (2)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là khổ…

SN 35.227 Ngoại Xứ Là Vô Ngã Bāhirāyatanaanattasutta

"Này các Tỷ kheo, hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ là vô ngã.

Thấy vậy… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

LX. Ngoại (3)

1-2. …

3-8. − Các sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Các tiếng… Các hương… Các vị… Các xúc… Các pháp là vô ngã…

9. Thấy vậy… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Chương Về Biển Cả

SN 35.228 Biển Cả (1) Paṭhamasamuddasutta

"Này các Tỷ kheo, một phàm phu chưa được học hỏi, khi nói về biển cả. Thì đó không phải là biển cả trong sự tu tập của bậc Thánh. Biển cả đó chỉ là một khối nước lớn, một vùng biển nước rộng lớn. Với con người, mắt là một biển cả, dòng chảy của nó được tạo bằng hình ảnh.

Người nào có thể chịu đựng được những dòng chảy đó thì được cho là đã vượt qua biển cả của mắt, với sóng và xoáy nước, với cá sấu và quái vật nước mặn của nó. Vượt qua rồi, vị bà-la-môn đứng trên bờ bên kia.

Đối với một người, tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là một biển cả, và dòng chảy của nó được tạo nên từ ý nghĩ. Người nào có thể chịu đựng được những dòng chảy đó thì được cho là đã vượt qua biển cả của trí não, với sóng và xoáy nước, với cá sấu và quái vật nước mặn của nó. Vượt qua rồi, vị bà-la-môn đứng trên bờ bên kia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiêng Liêng, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Bậc trí tuệ đã vượt qua
- biển cả thật khó vượt,
với cá sấu và quái vật nước mặn,
- với sóng, xoáy nước, và hiểm nguy;
các vị đã hoàn thành phạm hạnh,
- và đi đến tận cùng thế giới,
các vị được gọi là ‘người đã vượt qua’.”

III. Phẩm Biển

187. I. Biển (1) (S.iv,157)

2. − “Biển, biển”, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỷ-kheo, là một khối nước lớn, là một dòng nước lớn.

3-7. Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai… Mũi… Lưỡi… Thân…

8. Ý, này các Tỷ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền.

9. Bậc Ðạo Sư nói như sau:

Ai vượt qua biển này,
Với cá mập, La-sát.
Với sóng biển hãi hùng,
Biển rất khó vượt qua,
Bậc tối thắng trí tuệ,
Ðã thành tựu Phạm hạnh,
Ðược gọi: “Ðến bờ kia”,
Ðã đạt thế giới biên.

SN 35.229 Biển Cả (2) Dutiyasamuddasutta

"Này các Tỷ kheo, một phàm phu chưa được học hỏi khi nói về biển cả. Thì đó không phải là biển cả trong sự tu tập của bậc Thánh. Đó chỉ là một khối nước lớn, một vùng biển nước rộng lớn.

Những hình ảnh qua con mắt, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là biển cả trong sự tu tập của bậc Thánh. Và chính ở đây mà thế giới này—với chư thiên, Ma vương (Māra / hiện thân của sự cám dỗ, cái chết và những trở ngại trên con đường tu tập), và các vị trời, dân chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người—phần lớn bị chìm đắm. Biển cả ấy trở nên rối ren, thắt nút như một cuộn chỉ, và bện lại như lau sậy, và nó không thoát khỏi các cõi mất mát, nơi xấu xa, địa ngục, vòng luân hồi.

Có những âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Đây được gọi là biển cả trong sự tu tập của bậc Thánh. Và chính ở đây mà thế giới này—với chư thiên, Ma vương, và các vị trời, dân chúng này với các sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người—phần lớn bị chìm đắm. Nó trở nên rối, thắt nút như một cuộn chỉ, và bện lại như lau sậy, và nó không thoát khỏi các cõi mất mát, nơi xấu xa, địa ngục, vòng luân hồi.

Những ai mà trong họ tham, sân, và vô minh
đã phai nhạt;
đã vượt qua biển cả thật khó vượt,
với cá sấu và quái vật nước mặn,
- với sóng và hiểm nguy.

Họ đã thoát khỏi bẫy rập, từ bỏ cái chết, và không còn chấp trước.
Họ đã từ bỏ khổ đau,
- nên không còn các kiếp sống tương lai.
Họ đã đi đến tận cùng, và không thể đo lường được;
và họ đã làm Tử Thần bối rối, Ta nói vậy."

188. II. Biển (2)(S.iv,157)

1. …

2. − “Biển, biển”, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một khối nước lớn, một dòng nước lớn.

3-5. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

6-7. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… có những hương do mũi nhận thức… có những vị do lưỡi nhận thức… có những xúc do thân nhận thức…

8. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luôn hồi!

SN 35.230 Ví Dụ Về Người Câu Cá Bāḷisikopamasutta

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người câu cá quăng một lưỡi câu có mồi vào một hồ nước sâu. Thấy mồi, một con cá sẽ nuốt nó. Và thế là con cá đã nuốt lưỡi câu sẽ gặp phải bi kịch và tai họa, và người câu cá có thể làm gì tùy ý với nó.

Cũng vậy, có sáu lưỡi câu này trên thế gian có nghĩa là bi kịch và sự tàn sát đối với các sinh vật. Sáu cái gì?

Có những hình ảnh được biết bởi mắt, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, vị ấy được gọi là một Tỷ kheo đã nuốt lưỡi câu của Ma vương. Vị ấy đã gặp phải bi kịch và tai họa, và Ác ma có thể làm gì tùy ý với vị ấy.

Có những âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, vị ấy được gọi là một Tỷ kheo đã nuốt lưỡi câu của Ma vương. Vị ấy đã gặp phải bi kịch và tai họa, và Ác ma có thể làm gì tùy ý với vị ấy.

Có những hình ảnh được biết bởi mắt, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, vị ấy được gọi là một Tỷ kheo chưa nuốt lưỡi câu của Ma vương. Vị ấy đã bẻ gãy lưỡi câu, phá hủy nó. Vị ấy không gặp phải bi kịch và tai họa, và Ác ma không thể làm gì tùy ý với vị ấy.

Có những âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, chúng đáng yêu, đáng khao khát, dễ chịu, thú vị, thuộc về giác quan, và khêu gợi. Nếu một Tỷ kheo không tán thành, chào đón, và tiếp tục bám víu vào chúng, vị ấy được gọi là một Tỷ kheo chưa nuốt lưỡi câu của Ma vương. Vị ấy đã bẻ gãy lưỡi câu, phá hủy nó. Vị ấy không gặp phải bi kịch và tai họa, và Ác ma không thể làm gì tùy ý với vị ấy."

189. III. Người Câu Cá (S.iv,158)

1. …

2. − Ai đoạn trừ được tham, sân và vô minh, người ấy vượt qua biển khó vượt này, với các loài cá mập, các loài La-sát, với các làn sóng hãi hùng khó vượt này.

Vượt trói buộc, thoát chết,
Không còn có sanh y,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Không còn phải tái sanh.
Sanh tử được đoạn diệt,
Bậc không thể so sánh,
Ta nói, vị như vậy,
Ðã hóa mù Thần chết.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá trong hồ nước sâu, quăng xuống một lưỡi câu có mắc mồi. Một con cá, với mắt nhìn vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá ấy vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có sáu lưỡi câu này ở trong đời, đưa đến bất hạnh cho các loài hữu tình, đưa đến tai hại cho các loài chúng sanh. Thế nào là sáu?

4-8. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức…

9. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

10-14. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ các sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các

Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức… Có những hương do mũi nhận thức… Có những vị do lưỡi nhận thức… Có những xúc do thân nhận thức…

15. Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

SN 35.231 Ví Dụ Về Cây Có Mủ Khīrarukkhopamasutta

"Này các Tỷ kheo, hãy lấy bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào, khi đối diện với những hình ảnh được biết bởi mắt, vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những hình ảnh tầm thường lọt vào tầm nhìn của họ, chúng cũng khuất phục tâm trí họ, huống chi là những hình ảnh hấp dẫn. Tại sao vậy? Bởi vì họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng.

Khi đối diện với âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những ý nghĩ tầm thường lọt vào phạm vi của trí não, chúng cũng khuất phục tâm trí họ, huống chi là những ý nghĩ hấp dẫn. Tại sao vậy? Bởi vì họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng.

Giả sử có một cây có mủ—chẳng hạn như cây bồ đề, cây đa, cây si, hay cây sung—là một cây non mềm. Nếu một người đàn ông dùng một chiếc rìu sắc chặt nó đây đó, mủ có chảy ra không?"

"Bạch Thế Tôn, có ạ.

Tại sao vậy? Bởi vì nó vẫn còn mủ."

"Cũng vậy, hãy lấy bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào, khi đối diện với những hình ảnh được biết bởi mắt, vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những hình ảnh tầm thường lọt vào tầm nhìn của họ, chúng cũng khuất phục tâm trí họ, huống chi là những hình ảnh hấp dẫn. Tại sao vậy? Bởi vì họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng.

Khi đối diện với âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những ý nghĩ tầm thường lọt vào phạm vi của trí não, chúng cũng khuất phục tâm trí họ, huống chi là những ý nghĩ hấp dẫn. Tại sao vậy? Bởi vì họ vẫn còn tham, sân, và si, và chưa từ bỏ chúng.

Hãy lấy bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào, khi đối diện với những hình ảnh được biết bởi mắt, không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những hình ảnh hấp dẫn lọt vào tầm nhìn của họ, chúng cũng không khuất phục tâm trí họ, huống chi là những hình ảnh tầm thường. Tại sao vậy? Bởi vì họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng.

Khi đối diện với âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những ý nghĩ hấp dẫn lọt vào phạm vi của trí não, chúng cũng không khuất phục tâm trí họ, huống chi là những ý nghĩ tầm thường. Tại sao vậy? Bởi vì họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng.

Giả sử có một cây có mủ—chẳng hạn như cây bồ đề, cây đa, cây si, hay cây sung—đã khô héo, tàn lụi, và mục nát. Nếu một người đàn ông dùng một chiếc rìu sắc chặt nó đây đó, mủ có chảy ra không?"

“Bạch Thế Tôn, không ạ. Tại sao vậy? Bởi vì nó không còn mủ.”

"Cũng vậy, hãy lấy bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào, khi đối diện với những hình ảnh được biết bởi mắt, không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những hình ảnh hấp dẫn lọt vào tầm nhìn của họ, chúng cũng không khuất phục tâm trí họ, huống chi là những hình ảnh tầm thường. Tại sao vậy? Bởi vì họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng.

Khi đối diện với âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng. Nếu ngay cả những ý nghĩ hấp dẫn lọt vào phạm vi của trí não, chúng cũng không khuất phục tâm trí họ, huống chi là những ý nghĩ tầm thường. Tại sao vậy? Bởi vì họ không còn tham, sân, và si, và đã từ bỏ chúng."

190. IV. Cây Có Nhựa (S.iv,159)

1. …

2-6. − Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

7. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assattha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.

9. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

10-14. Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận… Ðối với các tiếng do tai nhận thức… Ðối với các hương do mũi nhận thức… Ðối với các vị do lưỡi nhận thức… Ðối với các xúc do thân nhận thức…

15. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

16. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si… si ấy đã đoạn tận… Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

SN 35.232 Với Koṭṭhita Koṭṭhikasutta

Một thời Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang ở gần Varanasi (Ba-la-nại), trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana. Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita ra khỏi độc cư, đến gặp Tôn giả Sāriputta, và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Sāriputta:

“Thưa Tôn giả Sāriputta, cái nào đúng? Mắt là xiềng xích của hình ảnh, hay hình ảnh là xiềng xích của mắt? Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là xiềng xích của ý nghĩ, hay ý nghĩ là xiềng xích của trí não?”

"Thưa Tôn giả Koṭṭhita, mắt không phải là xiềng xích của hình ảnh, cũng không phải hình ảnh là xiềng xích của mắt. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng không phải ý nghĩ là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó.

Giả sử có một con bò đen và một con bò trắng được buộc chung bằng một dây nài hay một cái ách. Có đúng không khi nói rằng con bò đen là cái ách của con bò trắng, hay con bò trắng là cái ách của con bò đen?"

“Thưa Tôn giả, không. Con bò đen không phải là cái ách của con bò trắng, cũng không phải con bò trắng là cái ách của con bò đen. Cái ách ở đây là sợi dây nài hay cái ách duy nhất mà chúng được buộc vào.”

"Cũng vậy, mắt không phải là xiềng xích của hình ảnh, cũng không phải hình ảnh là xiềng xích của mắt. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng không phải ý nghĩ là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó.

Nếu mắt là xiềng xích của hình ảnh, hoặc nếu hình ảnh là xiềng xích của mắt, thì việc sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không thể tìm thấy. Tuy nhiên, vì không phải như vậy, mà xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó, nên việc sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau là có thể tìm thấy.

Nếu tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là xiềng xích của ý nghĩ, hoặc nếu ý nghĩ là xiềng xích của trí não, thì việc sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không thể tìm thấy. Tuy nhiên, vì không phải như vậy, mà xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó, nên việc sống đời phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau là có thể tìm thấy.

Đây cũng là một cách để hiểu tại sao lại như vậy.

Đức Phật có mắt để thấy hình ảnh. Nhưng Ngài không có ham muốn và tham ái, vì tâm Ngài đã hoàn toàn giải thoát. Đức Phật có tai… mũi… lưỡi… Đức Phật có thân để cảm nhận xúc chạm. Nhưng Ngài không có ham muốn và tham ái, vì tâm Ngài đã hoàn toàn giải thoát. Đức Phật có trí não để biết ý nghĩ. Nhưng Ngài không có ham muốn và tham ái, vì tâm Ngài đã hoàn toàn giải thoát.

Đây cũng là một cách để hiểu tại sao mắt không phải là xiềng xích của hình ảnh, cũng không phải hình ảnh là xiềng xích của mắt. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng không phải ý nghĩ là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó."

191. V. Kotthika (S.iv,162)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasii, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt?.. Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các pháp là kiết sử của ý?

4. − Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

5. Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không.

− Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử.

Này Hiền giả, cũng vậy, con mắt cũng không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

6. Này Hiền giả, nếu con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, này Hiền giả, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc cũng không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố… Này Hiền giả, nếu ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, ý không phải là kiết sử của các pháp, hay các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố.

7. Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của sắc. Sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

8. Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt. Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn… Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn.

9. Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử… Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

SN 35.233 Với Kāmabhū Kāmabhūsutta

Một thời các Tôn giả Ānanda (A-nan) và Kāmabhū đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Kāmabhū ra khỏi độc cư, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Ānanda:

“Thưa Tôn giả Ānanda, cái nào đúng? Mắt là xiềng xích của hình ảnh, hay hình ảnh là xiềng xích của mắt? Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là xiềng xích của ý nghĩ, hay ý nghĩ là xiềng xích của trí não?”

"Thưa Tôn giả Kāmabhū, mắt không phải là xiềng xích của hình ảnh, cũng không phải hình ảnh là xiềng xích của mắt. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng không phải ý nghĩ là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó.

Giả sử có một con bò đen và một con bò trắng được buộc chung bằng một dây nài hay một cái ách. Có đúng không khi nói rằng con bò đen là cái ách của con bò trắng, hay con bò trắng là cái ách của con bò đen?"

“Thưa Tôn giả, không. Con bò đen không phải là cái ách của con bò trắng, cũng không phải con bò trắng là cái ách của con bò đen. Cái ách ở đây là sợi dây nài hay cái ách duy nhất mà chúng được buộc vào.”

“Cũng vậy, mắt không phải là xiềng xích của hình ảnh, cũng không phải hình ảnh là xiềng xích của mắt. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng không phải ý nghĩ là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là ham muốn và tham ái phát sinh từ cặp đôi đó.”

192. VI. Kàmabhù (S.iv,165)

(Tôn giả Kàmabhù đi đến Tôn giả Ananda và hỏi cùng một câu và được trả lời tương tự như kinh trước).

SN 35.234 Với Udāyī Udāyīsutta

Một thời các Tôn giả Ānanda (A-nan) và Udāyī đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Udāyī ra khỏi độc cư, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Ānanda:

“Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Phật đã giải thích, mở bày, và làm sáng tỏ bằng nhiều cách rằng thân này là vô ngã. Có thể giải thích thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường) theo cách tương tự không? Để giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích, và hiện minh rằng thức là vô ngã?”

"Có thể, thưa Tôn giả Udāyī.

Mắt thức có phát sinh phụ thuộc vào mắt và hình ảnh không?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Nếu nguyên nhân và lý do làm phát sinh mắt thức hoàn toàn và tuyệt đối chấm dứt không còn sót lại gì, mắt thức có còn được tìm thấy không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

"Theo cách này, cũng có thể hiểu được rằng thức là vô ngã.

Tai… mũi… lưỡi… thân… ý thức có phát sinh phụ thuộc vào trí não và ý nghĩ không?"

“Vâng, thưa Tôn giả.”

“Nếu nguyên nhân và lý do làm phát sinh ý thức hoàn toàn và tuyệt đối chấm dứt không còn sót lại gì, ý thức có còn được tìm thấy không?”

“Không, thưa Tôn giả.”

"Theo cách này, cũng có thể hiểu được rằng thức là vô ngã.

Giả sử có một người cần lõi cây. Lang thang tìm kiếm lõi cây, người đó sẽ cầm một chiếc rìu sắc và đi vào rừng. Ở đó, người đó sẽ thấy một cây chuối lớn, thẳng và non, mọc không có khuyết tật. Người đó sẽ chặt nó ở gốc, chặt rễ, chặt ngọn, và bóc các bẹ lá cuộn lại. Nhưng người đó thậm chí sẽ không tìm thấy giác cây, huống chi là lõi cây.

Cũng vậy, một Tỷ kheo thấy sáu trường tiếp xúc (fields of contact / xúc xứ) này không phải là ngã cũng không thuộc về ngã. Thấy như vậy, vị ấy không bám giữ vào bất cứ thứ gì trên thế gian. Không bám giữ, vị ấy không lo lắng. Không lo lắng, vị ấy tự mình đạt đến Niết bàn.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’"

193. VII. Udàyi (S.iv,166)

1. Một thời Tôn giả Ananda và Tôn giả Udàyi trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi Tôn giả Udàyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm… rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi thưa với Tôn giả Ananda:

− Thưa Hiền giả Ananda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Có thể chăng, cũng như vậy tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã?

− Này Hiền giả Udàyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Cũng như vậy, có thể tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã.

4-6. Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức?

− Thưa phải, Hiền giả.

− Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời nhãn thức có thể nêu rõ được không?

− Thưa không, Hiền giả.

− Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã… Có phải do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức?.. Có phải do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức?.. Có phải do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức?.. Có phải do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức?..

9. Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức?

− Thưa phải, Hiền giả.

− Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời ý thức có thể nêu rõ được không?

− Thưa không, Hiền giả.

− Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã.

10. Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn, thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được giác cây, còn nói gì lõi cây.

11. Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không quán thấy có tự ngã và thuộc ngã. Do thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ một cái gì ở trong đời. Do không chấp thủ, vị ấy không tham luyến. Do không tham luyến, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 35.235 Bài Giảng Về Sự Bốc Cháy Ādittapariyāyasutta

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một bài giảng về sự bốc cháy. Hãy lắng nghe…

Và bài giảng về sự bốc cháy là gì?

Thà các con tự làm tổn thương mắt căn của mình bằng một cây đinh sắt nung đỏ, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng, còn hơn là bị vướng vào các tướng qua các chi tiết trong những hình ảnh được biết bởi mắt. Vì nếu các con chết vào lúc thức của các ông vẫn còn bị trói buộc vào sự thỏa mãn trong các tướng hay chi tiết, có khả năng các con sẽ đi đến một trong hai nơi: địa ngục hoặc cõi súc sinh. Ta nói điều này vì đã thấy được sự nguy hại đó.

Thà các con tự làm tổn thương tai căn của mình bằng một cây dùi sắt nhọn…

Thà các con tự làm tổn thương mũi căn của mình bằng một cái kềm cắt móng tay sắc nhọn…

Thà các con tự làm tổn thương lưỡi căn của mình bằng một lưỡi dao cạo sắc bén…

Thà các con tự làm tổn thương thân căn của mình bằng một ngọn giáo sắc, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng, còn hơn là bị vướng vào các tướng qua các chi tiết trong những xúc chạm được biết bởi thân. Vì nếu các con chết vào lúc thức của các ông vẫn còn bị trói buộc vào sự thỏa mãn trong các tướng hay chi tiết, có khả năng các con sẽ đi đến một trong hai nơi: địa ngục hoặc cõi súc sinh. Ta nói điều này vì đã thấy được sự nguy hại đó.

Thà các con đi ngủ còn hơn. Vì Ta nói rằng giấc ngủ là vô ích, không kết quả, và là sự vô thức đối với người sống. Nhưng khi các con ngủ, các con sẽ không bị chi phối bởi những suy nghĩ có thể khiến các con gây chia rẽ trong Tăng đoàn. Ta nói điều này vì đã thấy được sự nguy hại đó.

Một vị Thánh đệ tử có học suy ngẫm về điều này: 'Quên việc làm tổn thương mắt căn bằng một cây đinh sắt nung đỏ, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên cũng là vô thường.

Quên việc làm tổn thương tai căn bằng một cây dùi sắt nhọn, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng tai, âm thanh, tai thức, và tai xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do tai xúc làm duyên cũng là vô thường.

Quên việc làm tổn thương mũi căn bằng một cái kềm cắt móng tay sắc nhọn, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng mũi, mùi, mũi thức, và mũi xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mũi xúc làm duyên cũng là vô thường.

Quên việc làm tổn thương lưỡi căn bằng một lưỡi dao cạo sắc bén, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng lưỡi, vị, lưỡi thức, và lưỡi xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do lưỡi xúc làm duyên cũng là vô thường.

Quên việc làm tổn thương thân căn bằng một ngọn giáo sắc, đang cháy, rực lửa và nóng bỏng đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng thân, xúc chạm, thân thức, và thân xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do thân xúc làm duyên cũng là vô thường.

Quên việc ngủ đi! Tốt hơn hết là ta nên tập trung vào sự thật rằng trí não, ý nghĩ, ý thức, và ý xúc là vô thường. Và cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên cũng là vô thường.’

Thấy vậy, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với mắt, hình ảnh, mắt thức, và mắt xúc. Và vị ấy trở nên nhàm chán với cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do mắt xúc làm duyên. Vị ấy trở nên nhàm chán với tai… mũi… lưỡi… thân… trí não… cảm giác khổ, lạc, hay trung tính phát sinh do ý xúc làm duyên.

Khi nhàm chán, ham muốn tan biến. Khi ham muốn tan biến, vị ấy được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết mình đã được giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

Đây là bài giảng về sự bốc cháy."

194. VIII. Với Lửa Cháy (S.iv,168)

1. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp?

2. Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không có chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các sắc do mắt nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

3. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các tiếng do tai nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung, hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này có thể xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

4-6. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu tỷ căn bị phá hủy với một cái kềm sắc bén, bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn… nếu thiệt căn bị hủy hoại với một con dao sắc bén hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn… nếu thân căn bị hủy hoại với một cái kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn…

7. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn là nằm ngủ. Nằm ngủ, Ta nói rằng là trống không đối với các loài có sinh mạng. Ta nói rằng là vô quả đối với các loài có sanh mạng. Ta nói rằng là mù mờ đối với các loài có sanh mạng. Vì rằng (nếu ngủ), thời không có suy nghĩ những vấn đề để có thể bị những vấn đề tư duy chinh phục, để có thể phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, thấy sự trống không (của nằm ngủ) và sự nguy hiểm (của tỉnh thức), Ta nói như vậy.

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Hãy dừng lại, chớ để nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mắt là vô thường. Các sắc là vô thường. Nhãn thức là vô thường. Nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’

9. Hãy dừng lại, chớ để nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, tai là vô thường. Các tiếng là vô thường. Nhĩ thức là vô thường. Nhĩ xúc là vô thường. Phàm duyên nhĩ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

10. Hãy dừng lại, chớ để tỷ căn bị hủy hoại với một cái kềm bằng sắc bén bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mũi là vô thường. Các hương là vô thường. Tỷ thức là vô thường. Tỷ xúc là vô thường. Phàm duyên tỷ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

11. Hãy dừng lại, chớ để thiệt căn bị hủy hoại bởi một con dao sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, lưỡi là vô thường. Các vị là vô thường. Thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường. Phàm duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

12. Hãy dừng lại, chớ để thân căn bị hủy hoại bởi một lưỡi kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, thân căn là vô thường. Các xúc là vô thường. Thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường. Phàm duyên thân xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.

13. Hãy dừng lại, chớ nằm ngủ (?). Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, ý căn là vô thường. Các pháp là vô thường. Ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’".

14. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy… nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

15. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn lửa cháy. Ðây là pháp môn Chánh pháp.

SN 35.236 Ví Dụ Về Tay và Chân (1) Paṭhamahatthapādopamasutta

"Này các Tỷ kheo, khi có tay, việc cầm lên và đặt xuống được tìm thấy. Khi có chân, việc đi và đến được tìm thấy. Khi có khớp, việc co và duỗi được tìm thấy. Khi có bụng, đói và khát được tìm thấy.

Cũng vậy, khi có mắt, lạc và khổ khởi lên bên trong do mắt xúc làm duyên. Khi có tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, lạc và khổ khởi lên bên trong do ý xúc làm duyên.

Khi không có tay, việc cầm lên và đặt xuống không được tìm thấy. Khi không có chân, việc đi và đến không được tìm thấy. Khi không có khớp, việc co và duỗi không được tìm thấy. Khi không có bụng, đói và khát không được tìm thấy.

Cũng vậy, khi không có mắt, lạc và khổ không khởi lên bên trong do mắt xúc làm duyên. Khi không có tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, lạc và khổ không khởi lên bên trong do ý xúc làm duyên."

195. IX. Ví Dụ Tay Và Chân (1) (S.iv,171)

1. − Nếu có các tay, này các Tỷ-kheo, thời có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có thấy đi tới và đi lui. Nếu có tay chân, thời có thấy co lại và duỗi ra. Nếu có bụng, thời có thấy đói và khát.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có mắt và do duyên nhãn xúc, thời khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu có ý, do duyên ý xúc thời khởi lên nội lạc, nội khổ.

3. Nếu không có các tay, này các Tỷ-kheo, thời không có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu không có chân, thời không có thấy đi tới và đi lui. Nếu không có tay chân, thời không có thấy co lại và duỗi ra. Nếu không có bụng, thời không có thấy đói và khát.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu không có mắt, không có duyên nhãn xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu không có lưỡi, không có duyên thiệt xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ… Nếu không có ý, không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ.

SN 35.237 Ví Dụ Về Tay và Chân (2) Dutiyahatthapādopamasutta

"Này các Tỷ kheo, khi có tay, có việc cầm lên và đặt xuống. Khi có chân, có việc đi và đến. Khi có khớp, có việc co và duỗi. Khi có bụng, có đói và khát.

Cũng vậy, khi có mắt, lạc và khổ khởi lên bên trong do mắt xúc làm duyên. Khi có tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, lạc và khổ khởi lên bên trong do ý xúc làm duyên.

Khi không có tay, không có việc cầm lên và đặt xuống. Khi không có chân, không có việc đi và đến. Khi không có khớp, không có việc co và duỗi. Khi không có bụng, không có đói và khát.

Cũng vậy, khi không có mắt, lạc và khổ không khởi lên bên trong do mắt xúc làm duyên. Khi không có tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, lạc và khổ không khởi lên bên trong do ý xúc làm duyên."

196. X. Ví Dụ Tay Và Chân (2) (S.iv,172)

1-4. − Nếu có các tay, này các Tỷ-kheo, thời có lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có đi tới và đi lui… Nếu không có ý và không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc và nội khổ…

Chương Về Ví Dụ Rắn Độc

SN 35.238 Ví Dụ Về Rắn Độc Āsīvisopamasutta

"Này các Tỷ kheo, giả sử có bốn con rắn độc chết người. Rồi một người muốn sống và không muốn chết, muốn được hạnh phúc và ghê sợ khổ đau đi đến.

Họ sẽ nói với người đó: ‘Này thiện nam, đây là bốn con rắn độc chết người. Chúng phải được định kỳ nhấc lên, tắm rửa, cho ăn, và cho ngủ. Nhưng khi một trong bốn con rắn độc này nổi giận với ông, ông sẽ gặp phải cái chết hoặc đau đớn chết người. Vậy thì, này thiện nam, hãy làm những gì cần phải làm.’

Rồi người đó, kinh hãi trước bốn con rắn độc đó, sẽ chạy trốn đây đó.

Họ sẽ nói với người đó: ‘Này thiện nam, có năm kẻ thù chết người đang đuổi theo ông, nghĩ rằng: “Khi chúng ta thấy hắn, chúng ta sẽ giết hắn ngay tại chỗ!” Vậy thì, này thiện nam, hãy làm những gì cần phải làm.’

Rồi người đó, kinh hãi trước bốn con rắn độc và năm kẻ thù chết người đó, sẽ chạy trốn đây đó.

Họ sẽ nói với người đó: ‘Này thiện nam, có một kẻ giết người thứ sáu ẩn nấp đang đuổi theo ông với thanh gươm tuốt trần, nghĩ rằng: “Khi ta thấy hắn, ta sẽ chặt đầu hắn ngay tại chỗ!” Vậy thì, này thiện nam, hãy làm những gì cần phải làm.’

Rồi người đó, kinh hãi trước bốn con rắn độc, năm kẻ thù chết người và kẻ giết người ẩn nấp, sẽ chạy trốn đây đó.

Người đó sẽ thấy một ngôi làng trống. Nhưng bất cứ ngôi nhà nào người đó vào đều trống không, hoang vắng, và trống rỗng. Và bất cứ vật dụng nào người đó chạm vào đều trống không, rỗng tuếch, và trống rỗng.

Họ sẽ nói với người đó: ‘Này thiện nam, có bọn cướp càn quét làng mạc, và chúng đang tấn công. Vậy thì, này thiện nam, hãy làm những gì cần phải làm.’

Rồi người đó, kinh hãi trước bốn con rắn độc, năm kẻ thù chết người, kẻ giết người ẩn nấp và bọn cướp, sẽ chạy trốn đây đó.

Người đó sẽ thấy một trận lụt lớn, bờ bên này thì đáng ngờ và nguy hiểm, trong khi bờ bên kia là nơi an toàn không còn nguy hiểm. Nhưng không có thuyền đò hay cầu để qua sông.

Rồi người đó nghĩ: ‘Tại sao ta không thu gom cỏ, gậy, cành, và lá để kết một chiếc bè? Cưỡi trên bè, và chèo bằng tay và chân, ta có thể an toàn đến được bờ bên kia.’

Và người đó đã làm đúng như vậy. Vượt qua và đi đến bờ bên kia, vị bà-la-môn đứng trên bờ bên kia.

Ta đã đặt ra ví dụ này để làm rõ một điểm. Và đây là điểm đó.

‘Bốn con rắn độc chết người’ là một thuật ngữ chỉ bốn đại địa (principal states / mahābhūta / bốn yếu tố cơ bản cấu thành vật chất): địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.

‘Năm kẻ thù chết người’ là một thuật ngữ chỉ năm thủ uẩn, đó là: Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức).

‘Kẻ giết người thứ sáu ẩn nấp với thanh gươm tuốt trần’ là một thuật ngữ chỉ hỷ lạc và tham ái.

‘Ngôi làng trống’ là một thuật ngữ chỉ sáu nội xứ. Nếu một người sáng suốt, có năng lực, thông minh điều tra điều này liên quan đến mắt, nó hiện ra trống không, rỗng tuếch, và trống rỗng. Nếu một người sáng suốt, có năng lực, thông minh điều tra điều này liên quan đến tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, nó hiện ra trống không, rỗng tuếch, và trống rỗng.

‘Bọn cướp càn quét làng mạc’ là một thuật ngữ chỉ sáu ngoại xứ. Mắt bị tấn công bởi cả hình ảnh dễ chịu và khó chịu. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não bị tấn công bởi cả ý nghĩ dễ chịu và khó chịu.

‘Trận lụt lớn’ là một thuật ngữ chỉ bốn bộc lưu (floods / ogha / dòng lũ cuốn trôi): dục bộc (lũ của dục lạc), hữu bộc (lũ của ham muốn tái sinh), kiến bộc (lũ của các quan điểm sai lầm), và vô minh bộc (lũ của sự không hiểu biết).

‘Bờ bên này đáng ngờ và nguy hiểm’ là một thuật ngữ chỉ thân kiến (substantial reality / sakkāya / quan niệm sai lầm về một thực thể cố hữu).

‘Bờ bên kia, một nơi an toàn không còn nguy hiểm’ là một thuật ngữ chỉ Niết bàn.

‘Chiếc bè’ là một thuật ngữ chỉ bát chánh đạo, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

‘Chèo bằng tay và chân’ là một thuật ngữ chỉ sự khơi dậy năng lượng.

‘Vượt qua, đi đến bờ bên kia, vị bà-la-môn đứng trên bờ’ là một thuật ngữ chỉ một vị A-la-hán (perfected one / bậc đã hoàn thiện, giác ngộ)."

IV. Phẩm Rắn Ðộc

197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)

1-2. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi… gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm”.

4. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: ‘Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

5. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: ‘Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó’. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

6. Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: “Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm”.

7. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.

8. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: “Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.

9. Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.

10. Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:

11. Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

12. Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

13. Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.

14. Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không… Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.

15. Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.

16. Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

17. Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.

18. Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.

19. Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.

20. Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

21. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc Ala-hán.

SN 35.239 Ví Dụ Về Cỗ Xe Rathopamasutta

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo có ba phẩm chất, vị ấy tràn đầy hân hoan và an vui ngay trong đời này, và đã đặt nền tảng cho việc chấm dứt các phiền não (defilements / kilesa / những ô nhiễm của tâm). Ba phẩm chất nào?

Vị ấy hộ trì các căn, ăn uống điều độ, và chuyên tâm tỉnh thức.

Và làm thế nào một Tỷ kheo hộ trì các căn?

Khi một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt, vị ấy không nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Nếu mắt căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ mắt căn, và đạt được sự chế ngự nó.

Khi vị ấy nghe một âm thanh bằng tai…

Khi vị ấy ngửi một mùi bằng mũi…

Khi vị ấy nếm một vị bằng lưỡi…

Khi vị ấy cảm nhận một xúc chạm bằng thân…

Khi vị ấy biết một ý nghĩ bằng trí não, vị ấy không nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, vị ấy thực hành sự chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự nó.

Giả sử một cỗ xe được thắng những con ngựa thuần chủng tại một ngã tư bằng phẳng, với một cây roi thúc ngựa sẵn sàng. Một người đánh xe khéo léo, một bậc thầy xa phu, có thể lên xe, tay phải cầm dây cương và tay trái cầm roi. Người ấy sẽ lái đi và về bất cứ nơi nào mình muốn, bất cứ khi nào mình muốn.

Cũng vậy, một Tỷ kheo rèn luyện để bảo vệ, kiểm soát, thuần hóa, và bình ổn sáu giác quan này.

Đó là cách một Tỷ kheo hộ trì các căn.

Và làm thế nào một Tỷ kheo ăn uống điều độ?

Đó là khi một Tỷ kheo suy xét một cách hợp lý về thức ăn mà vị ấy ăn: ‘Không phải để vui đùa, hưởng thụ, trang điểm, hay trang trí, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh bị tổn hại, và để hỗ trợ phạm hạnh. Bằng cách này, ta sẽ chấm dứt những khó chịu cũ và không làm phát sinh những khó chịu mới, và ta sẽ có phương tiện để tiếp tục, không bị chê trách, và sống một cách thoải mái.’

Giống như một người bôi thuốc mỡ lên vết thương chỉ để nó có thể lành; hoặc người tra dầu vào trục xe chỉ để nó có thể chở hàng.

Cũng vậy, một Tỷ kheo suy xét một cách hợp lý về thức ăn mà vị ấy ăn: ‘Không phải để vui đùa, hưởng thụ, trang điểm, hay trang trí, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh bị tổn hại, và để hỗ trợ phạm hạnh. Bằng cách này, ta sẽ chấm dứt những khó chịu cũ và không làm phát sinh những khó chịu mới, và ta sẽ có phương tiện để tiếp tục, không bị chê trách, và sống một cách thoải mái.’

Đó là cách một Tỷ kheo ăn uống điều độ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo chuyên tâm tỉnh thức?

Đó là khi một Tỷ kheo thực hành đi kinh hành hay ngồi thiền vào ban ngày, gột sạch tâm khỏi các chướng ngại. Ban đêm, trong canh đầu của đêm, vị ấy tiếp tục thực hành đi kinh hành hay ngồi thiền. Trong canh giữa, vị ấy nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng về bên phải, đặt một chân lên trên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác, và chú tâm vào thời điểm thức dậy. Trong canh cuối, vị ấy thức dậy và tiếp tục thực hành đi kinh hành hay ngồi thiền, gột sạch tâm khỏi các chướng ngại.

Đây là cách một Tỷ kheo chuyên tâm tỉnh thức.

Khi một Tỷ kheo có ba phẩm chất này, vị ấy tràn đầy hân hoan và an vui ngay trong đời này, và đã đặt nền tảng cho việc chấm dứt các phiền não."

198. II. Hỷ Lạc (S.iv,175)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy, một Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba? Hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm tỉnh giác.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặc biệt đang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa đi tới đi lui, như thế nào và tại chỗ nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì, học chế ngự, học điều ngự, học tịnh chỉ sáu căn này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc vào một vết thương để chữa lành vết thương ấy. Ví như một người bôi dầu vào trục xe với mục đích để có thể chở đồ nặng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.

8. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh một, khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. Ban đêm trong canh cuối cùng, vị ấy thức dậy và trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác.

9. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc.

SN 35.240 Ví Dụ Về Con Rùa Kummopamasutta

"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một con rùa đang gặm cỏ dọc bờ sông vào buổi chiều. Cùng lúc đó, một con chó rừng cũng đang săn mồi dọc bờ sông. Con rùa thấy con chó rừng từ xa đang săn mồi, nên nó rút các chi và cổ vào trong mai, và giữ im lặng bất động.

Nhưng con chó rừng cũng thấy con rùa từ xa đang gặm cỏ. Nó liền đến gần con rùa và chờ đợi, nghĩ rằng, ‘Khi con rùa kia thò một trong các chi hoặc cổ ra khỏi mai, ta sẽ chộp lấy nó ngay, xé ra và ăn thịt!’

Nhưng khi con rùa đó không thò một trong các chi hoặc cổ ra khỏi mai, con chó rừng thất vọng bỏ đi, vì không tìm thấy kẽ hở nào.

Cũng vậy, Ác ma Māra luôn chờ đợi gần bên, nghĩ rằng: ‘Hy vọng ta có thể tìm thấy một kẽ hở ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hoặc trí não.’ Đó là lý do tại sao các con nên sống với các căn được hộ trì.

Khi các con thấy một hình ảnh bằng mắt, đừng nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Nếu mắt căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, hãy thực hành sự chế ngự, bảo vệ mắt căn, và đạt được sự chế ngự nó.

Khi các con nghe một âm thanh bằng tai…

Khi các con ngửi một mùi bằng mũi…

Khi các con nếm một vị bằng lưỡi…

Khi các con cảm nhận một xúc chạm bằng thân…

Khi các con biết một ý nghĩ bằng trí não, đừng nắm bắt tướng chung và tướng riêng. Nếu ý căn không được chế ngự, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ trở nên áp đảo. Vì lý do này, hãy thực hành sự chế ngự, bảo vệ ý căn, và đạt được sự chế ngự nó.

Khi các con sống với các căn được hộ trì, Ma vương sẽ thất vọng bỏ đi, vì không tìm thấy kẽ hở nào, giống như con chó rừng đã bỏ đi khỏi con rùa.

Một Tỷ kheo nên thu nhiếp ý nghĩ của mình
như con rùa rút các chi vào mai.
Độc lập, không làm phiền người khác,
đã dập tắt phiền não: vị ấy sẽ không trách móc ai."

199. III. Con Rùa (S.iv,177)

1-2. …

3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một con rùa, vào buổi chiều, đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giả can, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông.

4. Này các Tỷ-kheo, con rùa từ đàng xa trông thấy con giả can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.

5. Này các Tỷ-kheo, con giả can từ đàng xa trông thấy con rùa, đi đến con rùa sau khi đến, đứng một bên và nghĩ rằng: “Khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn”.

6. Nhưng, này các Tỷ-kheo, vì rằng con rùa không thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giả can nhàm chán con rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ác ma thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các Ông với ý nghĩ: “Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt… từ cái lưỡi… hay từ ý”.

8. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi mùi… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, khi nào các Ông sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các Ông và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giả can đối với con rùa.

Như rùa dấu thân phần,
Trong mai rùa của nó.
Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,

Thâu nhóm mọi tâm tư,
Không nương tựa một ai,
Không hại một người nào,
Hoàn toàn đạt tịch tịnh,
Không nói xấu một ai.

SN 35.241 Ví Dụ Về Khúc Gỗ (1) Paṭhamadārukkhandhopamasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Kosambī bên bờ sông Hằng.

Thấy một khúc gỗ lớn đang được dòng nước cuốn đi, Ngài nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các con có thấy khúc gỗ lớn kia đang được dòng nước sông Hằng cuốn đi không?”

“Bạch Thế Tôn, có ạ.”

"Này các Tỷ kheo, giả sử khúc gỗ đó không va vào bờ bên này hay bờ bên kia, không chìm ở giữa, không mắc cạn trên gò. Và giả sử nó không bị người hay phi nhân lấy đi, không bị cuốn vào xoáy nước, và không bị mục nát. Trong trường hợp đó, khúc gỗ đó sẽ hướng, xuôi, và nghiêng về phía biển. Tại sao vậy? Bởi vì dòng chảy của sông Hằng hướng, xuôi, và nghiêng về phía biển.

Cũng vậy, giả sử các con không va vào bờ bên này hay bờ bên kia, không chìm ở giữa, không mắc cạn trên gò. Và giả sử các con không bị người hay phi nhân lấy đi, không bị cuốn vào xoáy nước, và không bị mục nát từ bên trong. Trong trường hợp đó, các con sẽ hướng, xuôi, và nghiêng về phía Niết bàn. Tại sao vậy? Bởi vì chánh kiến hướng, xuôi, và nghiêng về phía Niết bàn."

Khi Ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật:

“Nhưng bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì và bờ bên kia là gì? Chìm ở giữa là gì? Mắc cạn trên gò là gì? Bị người hay phi nhân lấy đi là gì? Bị cuốn vào xoáy nước là gì? Và mục nát từ bên trong là gì?”

"‘Bờ bên này’, này Tỷ kheo, là một thuật ngữ chỉ sáu nội xứ.

‘Bờ bên kia’ là một thuật ngữ chỉ sáu ngoại xứ.

‘Chìm ở giữa’ là một thuật ngữ chỉ tham ái và hỷ lạc.

‘Mắc cạn trên gò’ là một thuật ngữ chỉ ngã mạn ‘tôi là’.

Và bị người lấy đi là gì? Đó là khi một người giao du thân cận với người tại gia, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ—vui khi họ vui và buồn khi họ buồn—và tham gia vào công việc của họ. Đó được gọi là bị người lấy đi.

Và bị phi nhân lấy đi là gì? Đó là khi một người sống đời phạm hạnh với mong muốn được tái sinh vào một trong các cõi trời: ‘Nhờ giới luật này, hay sự tuân thủ này, hay khổ hạnh nhiệt thành này, hay đời sống phạm hạnh này, mong rằng tôi sẽ trở thành một vị trời!’ Đó được gọi là bị phi nhân lấy đi.

‘Bị cuốn vào xoáy nước’ là một thuật ngữ chỉ năm loại dục lạc (sensual stimulation / sự kích thích của các giác quan).

Và mục nát từ bên trong là gì? Đó là khi một người vô giới, có những phẩm chất xấu, ô uế, hành vi đáng ngờ, lén lút, không phải là một sa-môn hay người tu phạm hạnh chân chính—dù tự nhận là như vậy—bên trong mục nát, thối rữa, và hư hỏng. Đây được gọi là ‘mục nát từ bên trong’."

Lúc bấy giờ, người chăn bò tên Nanda đang ngồi không xa Đức Phật. Rồi anh ta nói với Đức Phật:

“Con sẽ không va vào bờ bên này hay bờ bên kia, không chìm ở giữa, không mắc cạn trên gò. Và con sẽ không bị người hay phi nhân lấy đi, không bị cuốn vào xoáy nước, và con sẽ không mục nát từ bên trong. Bạch Thế Tôn, con có thể được xuất gia, thọ giới trong sự hiện diện của Đức Phật không?”

“Vậy thì, Nanda, hãy trả lại đàn bò cho chủ của chúng.”

“Bạch Thế Tôn, đàn bò sẽ tự trở về, vì chúng yêu thương những con bê của mình.”

“Dù vậy, Nanda, con nên trả chúng lại cho chủ của chúng.”

Rồi Nanda, sau khi trả lại đàn bò cho chủ, đến gặp Đức Phật và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, con đã trả lại đàn bò cho chủ của chúng. Con có thể được xuất gia, thọ giới trong sự hiện diện của Đức Phật không?”

Và người chăn bò Nanda đã được xuất gia, thọ giới trong sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Nanda đã trở thành một trong những vị A-la-hán.

200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.

2. Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

3. − Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4. Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?

5. − Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.

6. Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.

7. Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8. Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9. Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10. Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11. Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.

12. Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

11. Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.

12. Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

13. − Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.

− Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.

− Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.

14. Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.

15. Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh…

16. Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 35.242 Ví Dụ Về Khúc Gỗ (2) Dutiyadārukkhandhopamasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Kimibilā bên bờ sông Hằng. Thấy một khúc gỗ lớn đang được dòng nước cuốn đi, Ngài nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, các con có thấy khúc gỗ lớn kia đang được dòng nước sông Hằng cuốn đi không?”

“Bạch Thế Tôn, có ạ,” họ đáp. … Khi điều này được nói, Tôn giả Kimbila nói với Đức Phật:

“Nhưng bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì và bờ bên kia là gì? Chìm ở giữa là gì? Mắc cạn trên gò là gì? Bị người hay phi nhân lấy đi là gì? Bị cuốn vào xoáy nước là gì? Và mục nát từ bên trong là gì?” …

“Và này Kimbila, mục nát từ bên trong là gì? Đó là khi một Tỷ kheo đã phạm loại tội lỗi bại hoại mà không thể cứu chữa được. Đây được gọi là ‘mục nát từ bên trong’.”

201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.

2. Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi theo dòng nước sông Hằng?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

3. (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn ).

4. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?.. (như trên) …

12. − Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo phạm một giới tội (àpatti), một giới tội không thể giải trừ. Này Kimbilà, đây gọi là mục nát bên trong.

SN 35.243 Bài Giảng Về Sự Rỉ Chảy Avassutapariyāyasutta

Một thời Đức Phật đang ở trong xứ của dòng họ Thích-ca, gần Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) trong Tu viện Cây Banyan. Lúc bấy giờ, một giảng đường mới vừa được xây dựng cho những người Thích-ca ở Kapilavatthu. Nó chưa được một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người nào sử dụng.

Rồi những người Thích-ca ở Kapilavatthu đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: “Bạch Thế Tôn, một giảng đường mới vừa được xây dựng cho những người Thích-ca ở Kapilavatthu. Nó chưa được một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người nào sử dụng. Xin Đức Phật hãy là người đầu tiên sử dụng nó, và sau đó những người Thích-ca ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc lâu dài của những người Thích-ca ở Kapilavatthu.” Đức Phật im lặng chấp thuận.

Biết rằng Đức Phật đã chấp thuận, những người Thích-ca đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ. Rồi họ đến giảng đường mới, trải thảm khắp nơi, chuẩn bị chỗ ngồi, đặt một bình nước, và thắp một ngọn đèn dầu. Sau đó, họ quay lại gặp Đức Phật và báo cho Ngài biết về sự chuẩn bị của họ, nói rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy đến khi thuận tiện.”

Rồi Đức Phật mặc y, mang bát và y, cùng với Tăng đoàn đến giảng đường mới. Sau khi rửa chân, Ngài vào giảng đường và ngồi dựa vào cột trung tâm, mặt hướng về phía đông. Tăng đoàn cũng rửa chân, vào giảng đường, và ngồi dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với Đức Phật ngay trước mặt họ. Những người Thích-ca ở Kapilavatthu cũng rửa chân, vào giảng đường, và ngồi dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với Đức Phật ngay trước mặt họ. Đức Phật đã dành phần lớn thời gian của đêm để giáo huấn, khuyến khích, khích lệ, và truyền cảm hứng cho những người Thích-ca bằng một bài pháp thoại. Sau đó, Ngài cho họ về, nói rằng: “Đêm đã khuya rồi, hỡi các vị Gotama. Xin hãy về khi thuận tiện.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” những người Thích-ca đáp. Họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ trước khi rời đi.

Và rồi, ngay sau khi những người Thích-ca đã rời đi, Đức Phật nói với Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên): “Này Moggallāna, Tăng đoàn đã hết uể oải và buồn ngủ. Hãy thuyết một bài pháp thoại cho họ theo cảm hứng của con. Lưng Ta đau, Ta sẽ duỗi lưng.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Mahāmoggallāna đáp. Và rồi Đức Phật trải tấm y ngoài của mình gấp làm tư và nằm xuống trong tư thế sư tử—nằm nghiêng về bên phải, đặt một chân lên trên chân kia—chánh niệm và tỉnh giác, và chú tâm vào thời điểm thức dậy.

Tại đó, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với các Tỷ kheo: “Thưa các Tôn giả, các Tỷ kheo!”

“Thưa Tôn giả,” họ đáp. Tôn giả Mahāmoggallāna nói điều này:

“Tôi sẽ dạy các vị bài giảng về sự rỉ chảy và không rỉ chảy. Hãy lắng nghe và chú tâm, tôi sẽ nói.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” họ đáp. Tôn giả Mahāmoggallāna nói điều này:

"Và làm thế nào một người bị rỉ chảy?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và tâm bị hạn chế. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi các phiền não) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát nhờ trí tuệ) nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Vị ấy nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và một trái tim hạn hẹp. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Đây được gọi là một Tỷ kheo bị rỉ chảy khi đối diện với hình ảnh được biết bởi mắt, âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não.

Khi một Tỷ kheo sống như thế này, nếu Ma vương tấn công vị ấy qua mắt, hắn sẽ tìm thấy một kẽ hở và nắm bắt được vị ấy. Nếu Ma vương tấn công vị ấy qua tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, hắn sẽ tìm thấy một kẽ hở và nắm bắt được vị ấy.

Giả sử có một ngôi nhà làm bằng lau sậy hoặc rơm đã khô, héo, và mục nát. Nếu một người đến đó với một ngọn đuốc cỏ đang cháy từ phía đông, tây, bắc, nam, dưới, trên, hoặc từ bất cứ đâu, ngọn lửa sẽ tìm thấy một kẽ hở, nó sẽ có chỗ bám.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo sống như thế này, nếu Ma vương tấn công vị ấy qua mắt, hắn sẽ tìm thấy một kẽ hở và nắm bắt được vị ấy. Nếu Ma vương tấn công vị ấy qua tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, hắn sẽ tìm thấy một kẽ hở và nắm bắt được vị ấy.

Khi một Tỷ kheo sống như thế này, vị ấy bị làm chủ bởi hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ, vị ấy không làm chủ những thứ này.

Đây được gọi là một Tỷ kheo đã bị làm chủ bởi hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ. Vị ấy bị làm chủ, không phải là người làm chủ. Các pháp bất thiện xấu ác đã làm chủ vị ấy, những pháp này làm hư hỏng, dẫn đến các kiếp sống tương lai, gây đau khổ, và kết quả là khổ đau và tái sinh, già, và chết trong tương lai.

Đó là cách một người bị rỉ chảy.

Và làm thế nào một người không bị rỉ chảy?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng (limitless heart / tâm rộng lớn, không giới hạn). Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Vị ấy nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng. Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Đây được gọi là một Tỷ kheo không bị rỉ chảy khi đối diện với hình ảnh được biết bởi mắt, âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não.

Khi một Tỷ kheo sống như thế này, nếu Ma vương tấn công vị ấy qua mắt, hắn sẽ không tìm thấy kẽ hở hay nắm bắt được vị ấy. Nếu Ma vương tấn công vị ấy qua tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, hắn sẽ không tìm thấy kẽ hở hay nắm bắt được vị ấy.

Giả sử có một ngôi nhà gỗ hoặc một hội trường làm bằng đất sét dày với lớp vữa vẫn còn ướt. Nếu một người đến đó với một ngọn đuốc cỏ đang cháy từ phía đông, tây, bắc, nam, dưới, trên, hoặc từ bất cứ đâu, ngọn lửa sẽ không tìm thấy kẽ hở, nó sẽ không có chỗ bám.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo sống như thế này, nếu Ma vương tấn công vị ấy qua mắt, hắn sẽ không tìm thấy kẽ hở hay nắm bắt được vị ấy. Nếu Ma vương tấn công vị ấy qua tai… mũi… lưỡi… thân… trí não, hắn sẽ không tìm thấy kẽ hở hay nắm bắt được vị ấy.

Khi một Tỷ kheo sống như thế này, vị ấy làm chủ hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ, vị ấy không bị làm chủ bởi những thứ này.

Đây được gọi là một Tỷ kheo đã làm chủ hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và ý nghĩ. Vị ấy là người làm chủ, không bị làm chủ. Các pháp bất thiện xấu ác đã bị vị ấy làm chủ, những pháp này làm hư hỏng, dẫn đến các kiếp sống tương lai, gây đau khổ, và kết quả là khổ đau và tái sinh, già, và chết trong tương lai.

Đó là cách một người không bị rỉ chảy."

Rồi Đức Phật đứng dậy và nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:

“Tốt lắm, tốt lắm, Moggallāna! Thật tốt khi con đã dạy bài giảng này về sự rỉ chảy và không rỉ chảy.”

Đây là những gì Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói, và bậc Đạo Sư đã tán thành. Hài lòng, các Tỷ kheo tán thành những gì Mahāmoggallāna đã nói.

202. VI. Dục Lậu (S.iv,182)

1. Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong vườn Nigrodha.

2. Lúc bấy giờ có một hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở.

3. Rồi một số người Sakka ở Kapilavatthu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.

Thế Tôn im lặng nhận lời.

5. Những người Sakka ở Kapilavatthu sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi đi đến hội đường mới ấy. Sau khi đến, họ cho trải toàn bộ hội đường với những tấm đệm (?), cho bày biện các chỗ ngồi, cho sắp đặt ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, toàn bộ hội đường đã được trải đệm. Các chỗ ngồi đã được bày biện. Một ghè nước đã được đặt sẵn. Ngọn đèn dầu đã được treo lên. Nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.

6. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến hội đường mới; sau khi đến, rửa chân, đi vào hội đường và ngồi dựa vào cây cột ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, và ngồi dựa vào bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, với Thế Tôn trước mặt. Các người Sakka ở Kapilavatthu, sau khi rửa chân, bước vào hội đường, ngồi dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt về phía Tây, với Thế Tôn phía trước mặt.

7. Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:

− Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

8. Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:

− Này Moggalàna, chúng Tỷ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỷ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.

9. Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.

10. Ở đây, Tôn giả Mahà Moggalàna gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna. Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:

− Này chư Hiền, tôi sẽ giảng cho chư Hiền về pháp môn nhiễm dục lậu, và pháp môn không nhiễm lậu. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Tôi sẽ giảng.

− Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna. Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:

11. − Và này chư Hiền, thế nào là nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn… Khi lưỡi nếm vị… Khi ý biết các pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được trừ diệt không có dư tàn.

12. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức… đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức. Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng.

13. Cũng vậy, này chư Hiền, như một cái nhà lợp bằng cây lau hay cỏ, héo khô, không có nhựa, xưa đến ba bốn năm. Nếu từ phương Ðông có người đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa sẽ nắm được cơ hội, sẽ nắm được đối tượng. Nếu một người từ phương Tây đến… Nếu một người từ phương Bắc đến… Nếu một người từ phương Nam đến… Nếu một người từ phương dưới đến… Nếu một người từ phương trên đến, hay một người bất cứ từ ở đâu đến, với bó đuốc cháy đỏ, ngọn lửa nắm được cơ hội, ngọn lửa nắm được đối tượng. Cũng vậy, này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống như vậy. Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra nắm được cơ hội, Màra nắm được đối tượng.

14. Này chư Hiền, sống như vậy, các sắc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các sắc. Các tiếng chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các tiếng. Các hương chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các hương. Các vị chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các vị. Các xúc chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các xúc. Các pháp chinh phục vị Tỷ-kheo, không phải vị Tỷ-kheo chinh phục các pháp. Này chư Hiền, đây được gọi là Tỷ-kheo bị sắc chinh phục, bị tiếng chinh phục, bị hương chinh phục, bị vị chinh phục, bị xúc chinh phục, bị pháp chinh phục, không phải không bị chinh phục. Chinh phục vị ấy là các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi (sadarà), đưa đến quả khổ dị thục, tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là nhiễm dục lậu.

15. Và này chư Hiền, thế nào là không nhiễm dục lậu? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… Khi lưỡi nếm vị… Khi ý biết các pháp, vị ấy không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật biết rõ tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Này chư Hiền, đây gọi là vị Tỷ-kheo không bị nhiễm dục lậu đối với các sắc do mắt nhận thức… đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức… Tỷ-kheo sống như vậy, này chư Hiền, nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua mắt, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua lưỡi, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng… Nếu Màra có đến vị ấy, ngang qua ý, Màra không nắm được cơ hội, Màra không nắm được đối tượng.

16. Ví như, này chư Hiền, một cái nhà có nóc nhọn hay một giảng đường có nóc nhọn xây bằng đất dày, vừa mới xoa trét, nếu có người từ phương Ðông lại với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng… từ phương Tây đến… từ phương Bắc đến… từ phương Nam đến… từ phương dưới đến… từ phương trên đến hay từ bất cứ phương nào đến, với ngọn đuốc cháy đỏ, ngọn lửa không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

17. Sống như vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo chinh phục các sắc, không phải các sắc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các tiếng, không phải các tiếng chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các hương, không phải các hương chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các vị, không phải các vị chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các xúc, không phải các xúc chinh phục Tỷ-kheo. Tỷ-kheo chinh phục các pháp, không phải các pháp chinh phục Tỷ-kheo. Này chư Hiền, đây gọi là Tỷ-kheo chinh phục các sắc, chinh phục các tiếng, chinh phục các hương, chinh phục các vị, chinh phục các xúc, chinh phục các pháp, không phải bị chinh phục. Chính vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp bị nhiễm ô, đưa đến tái sanh, đầy sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục tương lai là già chết. Như vậy, này chư Hiền, là không nhiễm dục lậu.

18. Rồi Thế Tôn ngồi dậy và gọi Tôn giả Màha Moggalàna:

− Lành thay, lành thay, này Moggalàna! Lành thay này Moggalàna! Ông đã thuyết cho các Tỷ-kheo về pháp môn nhiễm dục lậu và pháp môn không nhiễm dục lậu.

19. Tôn giả Mahà Moggalàna thuyết như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggalàna thuyết.

SN 35.244 Kéo Theo Khổ Đau Dukkhadhammasutta

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của tất cả những gì kéo theo khổ đau, thì vị ấy đã thấy các dục lạc theo cách mà vị ấy không còn ngầm hướng về (underlying tendencies / tùy miên, ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản) ham muốn, yêu mến, say đắm, và đam mê đối với các dục lạc. Và vị ấy đã giác ngộ một lối hành xử và một cách sống mà khi sống theo cách đó, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền không áp đảo được vị ấy.

Và làm thế nào một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của tất cả những gì kéo theo khổ đau?

‘Sắc là như vậy, sự sinh khởi của sắc là như vậy, sự chấm dứt của sắc là như vậy. Thọ là như vậy… tưởng… hành… thức là như vậy, sự sinh khởi của thức là như vậy, sự chấm dứt của thức là như vậy.’

Đó là cách một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của tất cả những gì kéo theo khổ đau.

Và làm thế nào một Tỷ kheo đã thấy các dục lạc theo cách mà vị ấy không còn ngầm hướng về ham muốn, yêu mến, say đắm, và đam mê đối với các dục lạc?

Giả sử có một hố than hồng sâu hơn chiều cao của một người, chứa đầy than hồng không có ngọn lửa cũng không có khói. Rồi một người muốn sống và không muốn chết, muốn được hạnh phúc và ghê sợ khổ đau đi đến. Hai người đàn ông mạnh mẽ sẽ nắm lấy mỗi cánh tay của người đó và kéo họ về phía hố than hồng. Họ sẽ quằn quại và giãy giụa. Tại sao vậy? Vì người đó biết, ‘Nếu ta rơi vào hố than hồng đó, điều đó sẽ dẫn đến cái chết hoặc đau đớn chết người của ta.’

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo đã thấy các dục lạc như một hố than hồng, vị ấy không còn ngầm hướng về ham muốn, yêu mến, say đắm, và đam mê đối với các dục lạc.

Và làm thế nào một Tỷ kheo đã giác ngộ một lối hành xử và một cách sống mà khi sống theo cách đó, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền không áp đảo được vị ấy?

Giả sử một người đi vào một bụi gai rậm rạp. Họ sẽ có gai ở phía trước và phía sau, bên trái và bên phải, bên dưới và bên trên. Vì vậy, họ sẽ đi tới một cách chánh niệm và quay lại một cách chánh niệm, nghĩ rằng, ‘Mong rằng ta không bị gai đâm!’

Cũng vậy, bất cứ điều gì trên thế gian có vẻ tốt đẹp và dễ chịu đều được gọi là một cái gai trong sự tu tập của bậc Thánh. Khi họ hiểu cái gai là gì, họ nên hiểu sự chế ngự và không chế ngự.

Và làm thế nào một người không chế ngự?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và tâm bị hạn chế. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Vị ấy nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và một trái tim hạn hẹp. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Đây là cách một người không chế ngự.

Và làm thế nào một người chế ngự?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng. Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Vị ấy nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng. Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Đây là cách một người chế ngự.

Có lẽ trong khi Tỷ kheo đó đang hành xử và sống theo cách này, những ký ức và suy nghĩ bất thiện xấu ác dễ dẫn đến xiềng xích thỉnh thoảng khởi lên do mất chánh niệm. Chánh niệm từ từ khởi lên, nhưng rồi vị ấy nhanh chóng từ bỏ, loại bỏ, tiêu diệt, và xóa sạch những suy nghĩ đó.

Giả sử có một cái vạc sắt đã được đun nóng cả ngày, và một người để hai hoặc ba giọt nước rơi vào đó. Những giọt nước từ từ rơi xuống, nhưng rồi chúng nhanh chóng khô đi và bốc hơi.

Cũng vậy, có lẽ trong khi Tỷ kheo đó đang hành xử và sống theo cách này, những ký ức và suy nghĩ bất thiện xấu ác dễ dẫn đến xiềng xích thỉnh thoảng khởi lên do mất chánh niệm. Chánh niệm từ từ khởi lên, nhưng rồi vị ấy nhanh chóng từ bỏ, loại bỏ, tiêu diệt, và xóa sạch những suy nghĩ đó.

Đây là cách một Tỷ kheo đã giác ngộ một lối hành xử và một cách sống mà khi sống theo cách đó, các pháp bất thiện xấu ác là tham ái và ưu phiền không áp đảo được vị ấy.

Trong khi Tỷ kheo đó hành xử theo cách này và sống theo cách này, có thể các nhà cầm quyền hoặc các vị đại thần của họ, bạn bè hoặc đồng nghiệp, họ hàng hoặc gia đình sẽ mời vị ấy nhận tài sản, nói rằng: ‘Xin thưa Tôn giả, tại sao lại để những tấm y vàng này hành hạ ngài? Tại sao lại theo thực hành cạo đầu và mang bát khất thực? Hãy đến, hoàn tục, hưởng thụ tài sản, và làm phước!’ Nhưng hoàn toàn không thể có chuyện một Tỷ kheo hành xử theo cách này và sống theo cách này lại từ bỏ việc tu tập và hoàn tục.

Giả sử rằng, mặc dù sông Hằng hướng, xuôi, và nghiêng về phía đông, một đám đông lớn sẽ đến với một cái xẻng và một cái rổ, nói rằng: ‘Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này hướng, xuôi, và nghiêng về phía tây!’

Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Họ có thành công không?"

“Bạch Thế Tôn, không ạ. Tại sao vậy? Sông Hằng hướng, xuôi, và nghiêng về phía đông. Không dễ để làm cho nó hướng, xuôi, và nghiêng về phía tây. Đám đông lớn đó cuối cùng sẽ mệt mỏi và thất vọng.”

"Cũng vậy, trong khi Tỷ kheo đó hành xử theo cách này và sống theo cách này, có thể các nhà cầm quyền hoặc các vị đại thần của họ, bạn bè hoặc đồng nghiệp, họ hàng hoặc gia đình sẽ mời vị ấy nhận tài sản, nói rằng: ‘Xin thưa Tôn giả, tại sao lại để những tấm y vàng này hành hạ ngài? Tại sao lại theo thực hành cạo đầu và mang bát khất thực? Hãy đến, hoàn tục, hưởng thụ tài sản, và làm phước!’ Nhưng hoàn toàn không thể có chuyện một Tỷ kheo hành xử theo cách này và sống theo cách này lại từ bỏ việc tu tập và hoàn tục.

Tại sao vậy? Bởi vì trong một thời gian dài, tâm của Tỷ kheo đó đã hướng, xuôi, và nghiêng về sự ẩn dật. Vì vậy, không thể có chuyện vị ấy hoàn tục."

203. VII. Khổ Pháp (S,iv,188)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy. Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng… Ðây là các hành… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.

5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo thấy được các dục? Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên. Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có ngọn, không có khói. Rồi có người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi hai người lực sĩ đến, kẹp người ấy vào trong các cánh tay, và kéo người ấy đến hố than hừng. Người ấy vật vã thân bên này, bên kia. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy được biết rằng: “Ta sẽ rơi vào trong hố than hừng này. Do nhân này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên.

6. Thế nào, này các Tỷ-kheo, là sở hành và sở trú của Tỷ-kheo được giác tri? Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây… phía Bắc… phía Nam… người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: “Mong sao tôi chớ có bị vướng gai”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh.

7. Sau khi biết vậy, này các Tỷ-kheo, hộ trì và không hộ trì cần phải được hiểu.

8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp các sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

9. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là được hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… khi lưỡi nếm vị… khi ý biết pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có hộ trì.

10. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm rơi hai hay ba giọt nước trên một nồi sắt được hơ nóng cả ngày. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là sự rơi xuống của các giọt nước. Mau chóng, chúng đi đến đoạn diệt, hoại diệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở trú như vậy của Tỷ-kheo được giác tri. Do sở hành, sở trú như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn! Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra.

12. Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông. Rồi một đám dân chúng đông người đến với xuổng, cuốc, giỏ và nói: “Chúng ta hãy làm cho sông Hằng này hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, đám dân chúng đông người ấy có thể làm cho sông Hằng hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây và nghiêng nhập vào phía Tây không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Vì sao?

− Vì sông Hằng này, bạch Thế Tôn, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông; không có dễ gì làm cho hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây được. Chỉ có đám dân chúng đông người ấy chuốc lấy mệt mỏi và thất vọng thôi.

13. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu, hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: “Hãy đến đây, này Bạn. Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm của vị ấy đã lâu ngày hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng nhập vào viễn ly; do vậy sự hoàn tục không xảy ra.

SN 35.245 Ví Dụ Về Cây Kimsuka Kiṁsukopamasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp một Tỷ kheo khác và hỏi: “Thưa Tôn giả, vào thời điểm nào thì tri kiến của một Tỷ kheo được thanh tịnh?”

“Khi một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của sáu trường tiếp xúc, vào thời điểm đó tri kiến của vị ấy được thanh tịnh.”

Không hài lòng với câu trả lời đó, Tỷ kheo đó đến gặp một loạt các Tỷ kheo khác và nhận được những câu trả lời sau:

“Khi một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của năm thủ uẩn, vào thời điểm đó tri kiến của vị ấy được thanh tịnh.”

“Khi một Tỷ kheo thực sự hiểu được sự sinh khởi và chấm dứt của bốn đại địa, vào thời điểm đó tri kiến của vị ấy được thanh tịnh.”

“Khi một Tỷ kheo thực sự hiểu rằng mọi thứ có sự khởi đầu đều có sự kết thúc, vào thời điểm đó tri kiến của vị ấy được thanh tịnh.”

Không hài lòng với bất kỳ câu trả lời nào trong số đó, Tỷ kheo đó đến gặp Đức Phật và kể lại những gì đã xảy ra. Rồi vị ấy hỏi: “Bạch Thế Tôn, vào thời điểm nào thì tri kiến của một Tỷ kheo được thanh tịnh?”

"Này Tỷ kheo, giả sử một người chưa bao giờ thấy cây kimsuka. Người đó sẽ đến gặp một người đã thấy cây kimsuka và hỏi họ: ‘Thưa thiện nam, cây kimsuka trông như thế nào?’

Người đó sẽ nói: ‘Cây kimsuka có màu đen, giống như một gốc cây cháy.’ Lúc đó, một cây kimsuka có thể đã giống như người đó đã thấy.

Không hài lòng với câu trả lời đó, người đó sẽ đến gặp một loạt người khác và nhận được những câu trả lời sau: ‘Cây kimsuka có màu đỏ, giống như một miếng thịt.’ ‘Cây kimsuka có vỏ bong tróc và quả nứt, giống như cây sirisa.’ ‘Cây kimsuka có tán lá sum suê, râm mát, giống như cây đa.’ Lúc đó, vào mỗi thời điểm đó, một cây kimsuka có thể đã giống như những người đó đã thấy.

Cũng vậy, những người chân chính đó mỗi người đã trả lời theo những gì họ đang tập trung vào khi tri kiến của họ được thanh tịnh.

Giả sử có một thành trì biên giới của một vị vua với các bờ lũy, thành quách, và cổng vòm được củng cố, và có sáu cổng. Và nó có một người gác cổng sáng suốt, có năng lực, và thông minh. Người đó ngăn người lạ vào và cho người quen vào.

Một cặp sứ giả nhanh nhẹn sẽ đến từ phía đông và nói với người gác cổng: ‘Thưa thiện nam, chúa tể của thành phố ở đâu?’

Họ sẽ nói: ‘Ông ấy ở kia, thưa các ngài, đang ngồi ở quảng trường trung tâm.’

Rồi cặp sứ giả nhanh nhẹn đó sẽ chuyển một thông điệp chân lý đến chúa tể của thành phố và rời đi theo con đường họ đã đến.

Một cặp sứ giả nhanh nhẹn sẽ đến từ phía tây… bắc… nam… chuyển một thông điệp chân lý đến chúa tể của thành phố và rời đi theo con đường họ đã đến.

Ta đã đặt ra ví dụ này để làm rõ một điểm. Và đây là điểm đó.

‘Thành phố’ là một thuật ngữ chỉ thân này được tạo thành từ bốn đại địa, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, chịu sự vô thường, hao mòn và xói mòn, tan rã và hủy diệt.

‘Sáu cổng’ là một thuật ngữ chỉ sáu nội xứ.

‘Người gác cổng’ là một thuật ngữ chỉ chánh niệm.

‘Một cặp sứ giả nhanh nhẹn’ là một thuật ngữ chỉ chỉ và quán (serenity and discernment / samatha-vipassanā / sự tĩnh lặng của tâm và sự thấy rõ bản chất của các pháp).

‘Chúa tể của thành phố’ là một thuật ngữ chỉ thức.

‘Quảng trường trung tâm’ là một thuật ngữ chỉ bốn đại địa: địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.

‘Một thông điệp chân lý’ là một thuật ngữ chỉ Niết bàn.

‘Con đường họ đã đến’ là một thuật ngữ chỉ bát chánh đạo, đó là, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định."

204. VIII. Phải Gọi Là Gì (Kimsukà) (S.iv,191)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:

− Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

3. Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:

− Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

4. Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:

− Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

5. Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn…

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

6. Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: “Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?” Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: “Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn… như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng… như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh”. Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn (và bạch Thế Tôn): “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?”

7. − Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?”. Người ấy đáp như sau: “Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt”. Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia trả lời: “Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)”. Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: “Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?” Người kia nói như sau: “Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.

8. Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữa cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến… từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: “Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?” Người giữ cửa thành ấy nói: “Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường”. Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.

9. Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến… chánh định.

SN 35.246 Ví Dụ Về Cây Đàn Hạc Vīṇopamasutta

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào có ham muốn, tham ái, sân hận, si mê hay ác cảm khởi lên đối với những hình ảnh được biết bởi mắt, nên phòng hộ tâm mình khỏi chúng: ‘Con đường này nguy hiểm và đầy hiểm nguy, gai góc và rối rắm; đó là một ngã rẽ sai lầm, một con đường xấu, một lối đi có hại. Con đường này được những người không chân chính thường lui tới, không phải bởi những người chân chính. Nó không xứng đáng với con.’ Tâm nên được phòng hộ khỏi điều này khi đối diện với những hình ảnh được biết bởi mắt.

Bất kỳ Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni nào có ham muốn, tham ái, sân hận, si mê hay ác cảm khởi lên đối với âm thanh… mùi… vị… xúc chạm… ý nghĩ được biết bởi trí não, nên phòng hộ tâm mình chống lại chúng: ‘Con đường này nguy hiểm và đầy hiểm nguy, gai góc và rối rắm; đó là một ngã rẽ sai lầm, một con đường xấu, một lối đi có hại. Con đường này được những người không chân chính thường lui tới, không phải bởi những người chân chính. Nó không xứng đáng với con.’ Tâm nên được phòng hộ khỏi điều này khi đối diện với những ý nghĩ được biết bởi trí não.

Giả sử mùa màng đã chín, nhưng người coi sóc lại sao nhãng. Nếu một con bò thích ăn lúa xâm nhập vào ruộng lúa, nó sẽ tự do thỏa thích.

Cũng vậy, khi một phàm phu chưa được học hỏi không thực hành sự chế ngự đối với sáu trường tiếp xúc, họ sẽ tự do thỏa thích trong năm loại dục lạc.

Giả sử mùa màng đã chín, và người coi sóc lại siêng năng. Nếu một con bò thích ăn lúa xâm nhập vào ruộng lúa, người coi sóc sẽ nắm chặt mõm nó. Rồi họ sẽ nắm lấy nó phía trên cái u và giữ chặt ở đó. Rồi họ sẽ đánh nó một trận ra trò trước khi đuổi nó đi. Lần thứ hai, và thậm chí lần thứ ba, điều tương tự có thể xảy ra. Kết quả là, dù đứng hay ngồi ở làng hay nơi hoang dã bao lâu, con bò thích ăn lúa đó sẽ không bao giờ xâm nhập vào ruộng lúa đó nữa, vì nhớ đến trận đòn đã nhận trước đó.

Cũng vậy, khi tâm của một Tỷ kheo được thuần hóa, thuần hóa tốt đối với sáu trường tiếp xúc, nó trở nên tĩnh lặng bên trong; nó lắng xuống, hợp nhất, và nhập vào định.

Giả sử một vị vua hoặc đại thần của ông chưa bao giờ nghe âm thanh của một cây đàn hạc cong. Khi lần đầu tiên nghe âm thanh đó, ông sẽ nói: ‘Này người của ta, cái gì đang tạo ra âm thanh này, thật khêu gợi, gợi cảm, say đắm, mê hoặc, và quyến rũ?’

Họ sẽ nói với ông: ‘Thưa ngài, đó là một cây đàn hạc cong.’

Ông sẽ nói: ‘Đi, người của ta, hãy mang cây đàn hạc đó đến cho ta.’

Họ sẽ mang nó đến và nói: ‘Thưa ngài, đây là cây đàn hạc cong đó.’

Ông sẽ nói: ‘Ta đã chán cây đàn hạc đó rồi! Chỉ cần mang âm thanh đến cho ta.’

Họ sẽ nói: ‘Thưa ngài, cây đàn hạc cong này được làm từ nhiều bộ phận lắp ráp lại với nhau, tạo ra âm thanh khi chúng được chơi. Tức là, nó phụ thuộc vào thân đàn, da đàn, cần đàn, đầu đàn, dây đàn, miếng gảy, và một người chơi đúng cách. Đó là cách một cây đàn hạc cong được làm từ nhiều bộ phận lắp ráp lại với nhau, tạo ra âm thanh khi chúng được chơi.’

Nhưng ông sẽ đập cây đàn đó thành mười mảnh hoặc một trăm mảnh, rồi đập vụn nó ra. Ông sẽ đốt các mảnh vụn bằng lửa, và biến chúng thành tro. Rồi ông sẽ quét tro đi trong một cơn gió mạnh, hoặc thả chúng trôi theo một dòng suối chảy xiết.

Rồi ông sẽ nói: ‘Có vẻ như không có gì trong cái thứ gọi là đàn hạc cong hay bất cứ thứ gì được gọi là đàn hạc cong! Nhưng người ta lãng phí thời gian với nó, sao nhãng và buông lung!’

Cũng vậy, một Tỷ kheo tìm kiếm sắc, thọ, tưởng, hành, và thức ở bất cứ nơi nào vị ấy có thể tái sinh. Khi vị ấy tìm kiếm theo cách này, những ý niệm về ‘tôi’ hay ‘của tôi’ hay ‘tôi là’ của vị ấy không còn nữa."

205. IX. Ðờn Tỳ Bà (S.iv,195)

1-2. …

3. −Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”. Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức… Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức… đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”, hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các pháp do ý nhận thức.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người đã giữ lúa mì, không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo…

Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: “Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy?” Họ nói với vị ấy: “Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy nói như sau: “Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta”. Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy”. Vị ấy bèn nói: “Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta”. Họ thưa với vị ấy: “Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm”. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nước sông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: “Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc”.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ… quán sát tưởng… quán sát các hành… quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là “Tôi”, là “Của tôi”, là “Tôi là” cả.

SN 35.247 Ví Dụ Về Sáu Con Vật Chappāṇakopamasutta

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người có các chi bị thương và mưng mủ đi vào một bụi lau sậy gai góc. Gai kusa sẽ đâm vào chân họ, và lá lau sậy sẽ cào xước các chi của họ. Và điều đó sẽ khiến người đó trải qua nhiều đau đớn và khổ sở hơn nữa.

Cũng vậy, một Tỷ kheo nào đó đi đến một ngôi làng hoặc một nơi hoang dã và bị mắng: ‘Vị tôn giả này, hành động như thế này, cư xử như thế này, là một cái gai bẩn thỉu của làng.’ Hiểu rằng mình là một cái gai, vị ấy nên hiểu sự chế ngự và không chế ngự.

Và làm thế nào một người không chế ngự?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và tâm bị hạn chế. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Khi vị ấy nghe một âm thanh bằng tai…

Khi vị ấy ngửi một mùi bằng mũi…

Khi vị ấy nếm một vị bằng lưỡi…

Khi vị ấy cảm nhận một xúc chạm bằng thân…

Khi vị ấy biết một ý nghĩ bằng trí não, nếu nó dễ chịu, vị ấy bám giữ nó, nhưng nếu nó khó chịu, vị ấy ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân không được thiết lập và một trái tim hạn hẹp. Và vị ấy không thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Giả sử một người bắt sáu con vật, với các lãnh thổ và nơi kiếm ăn khác nhau, và buộc chúng lại bằng một sợi dây chắc. Họ sẽ bắt một con rắn, một con cá sấu, một con chim, một con chó, một con chó rừng, và một con khỉ, buộc mỗi con bằng một sợi dây chắc, sau đó thắt một nút ở giữa và thả chúng ra.

Rồi sáu con vật đó với các lãnh địa và phạm vi khác nhau sẽ mỗi con kéo về phía lãnh địa và phạm vi của riêng mình. Con rắn sẽ kéo một hướng, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào một gò mối!’ Con cá sấu sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ xuống nước!’ Con chim sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ bay lên không trung!’ Con chó sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào làng!’ Con chó rừng sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào bãi tha ma!’ Con khỉ sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào rừng!’ Khi sáu con vật đó trở nên kiệt sức và mệt mỏi, con mạnh nhất trong số chúng sẽ thắng thế, và tất cả chúng sẽ phải phục tùng sự kiểm soát của nó.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo chưa phát triển hay tu tập niệm thân, mắt của vị ấy kéo về phía những hình ảnh dễ chịu, nhưng lại khó chịu với những hình ảnh khó chịu. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não của vị ấy kéo về phía những ý nghĩ dễ chịu, nhưng lại khó chịu với những ý nghĩ khó chịu.

Đây là cách một người không chế ngự.

Và làm thế nào một người chế ngự?

Hãy lấy một Tỷ kheo thấy một hình ảnh bằng mắt. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng. Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Vị ấy nghe một âm thanh… ngửi một mùi… nếm một vị… cảm nhận một xúc chạm… biết một ý nghĩ bằng trí não. Nếu nó dễ chịu, vị ấy không bám giữ nó, và nếu nó khó chịu, vị ấy không ghét bỏ nó. Vị ấy sống với niệm thân được thiết lập và một tâm vô lượng. Và vị ấy thực sự hiểu được tâm giải thoát và tuệ giải thoát nơi mà những pháp bất thiện xấu ác đã khởi lên sẽ chấm dứt không còn sót lại.

Giả sử một người bắt sáu con vật, với các lãnh thổ và nơi kiếm ăn khác nhau, và buộc chúng lại bằng một sợi dây chắc. Họ sẽ bắt một con rắn, một con cá sấu, một con chim, một con chó, một con chó rừng, và một con khỉ, buộc mỗi con bằng một sợi dây chắc, sau đó buộc chúng vào một cái cọc hoặc cột trụ vững chắc.

Rồi sáu con vật đó với các lãnh địa và phạm vi khác nhau sẽ mỗi con kéo về phía lãnh địa và phạm vi của riêng mình. Con rắn sẽ kéo một hướng, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào một gò mối!’ Con cá sấu sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ xuống nước!’ Con chim sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ bay lên không trung!’ Con chó sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào làng!’ Con chó rừng sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào bãi tha ma!’ Con khỉ sẽ kéo một hướng khác, nghĩ rằng ‘Ta sẽ vào rừng!’ Khi sáu con vật đó trở nên kiệt sức và mệt mỏi, chúng sẽ đứng, ngồi, hoặc nằm ngay bên cạnh cái cọc hoặc cột trụ đó.

Cũng vậy, khi một Tỷ kheo đã phát triển và tu tập niệm thân, mắt của vị ấy không kéo về phía những hình ảnh dễ chịu, và không khó chịu với những hình ảnh khó chịu. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não của vị ấy không kéo về phía những ý nghĩ dễ chịu, và không khó chịu với những ý nghĩ khó chịu. Đây là cách một người chế ngự.

‘Một cái cọc hoặc cột trụ vững chắc’ là một thuật ngữ chỉ niệm thân.

Vì vậy, các con nên rèn luyện như thế này: ‘Chúng ta sẽ phát triển niệm thân. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của chúng ta, duy trì nó, củng cố nó, và thực hiện nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách các con nên rèn luyện."

206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)

1-2. …

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát,tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn…

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc… Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: " Ta sẽ đi vào làng". Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái… Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

7. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu… Sau khi bắt được con chim… Sau khi bắt được con chó… Sau khi bắt được con giả can… Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ… lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ… ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.

8. Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

SN 35.248 Bó Lúa Mạch Yavakalāpisutta

"Này các Tỷ kheo, giả sử một bó lúa mạch được đặt ở một ngã tư. Rồi sáu người mang theo cây đập lúa đến, và bắt đầu đập bó lúa mạch. Bó lúa mạch đó sẽ bị đập kỹ lưỡng bởi sáu cây đập lúa đó. Rồi một người thứ bảy mang theo một cây đập lúa đến, và họ đập bó lúa mạch lần thứ bảy. Bó lúa mạch đó sẽ còn bị đập kỹ lưỡng hơn nữa bởi cây đập lúa thứ bảy đó.

Cũng vậy, một phàm phu chưa được học hỏi bị tấn công ở mắt bởi cả những hình ảnh dễ chịu và khó chịu. Họ bị tấn công ở tai… mũi… lưỡi… thân… trí não bởi cả những ý nghĩ dễ chịu và khó chịu. Và nếu phàm phu đó có ý định tái sinh vào một trạng thái tồn tại mới trong tương lai, người vô ích đó còn bị tấn công kỹ lưỡng hơn nữa, giống như bó lúa mạch bị đập bởi người thứ bảy.

Ngày xửa ngày xưa, một trận chiến đã diễn ra giữa chư thiên và các a-tu-la. Rồi Vepacitti, chúa của các a-tu-la, nói với các a-tu-la: ‘Này các bạn tốt của ta, nếu các a-tu-la đánh bại chư thiên trong trận chiến này, hãy trói Sakka, vua của chư thiên, bằng tay chân và cổ và mang ông ta đến trước mặt ta trong thành trì của các a-tu-la.’

Trong khi đó, Sakka, vua của chư thiên, nói với các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba: ‘Này các bạn tốt của ta, nếu chư thiên đánh bại các a-tu-la trong trận chiến này, hãy trói Vepacitti bằng tay chân và cổ và mang hắn đến trước mặt ta trong Điện Công Lý của chư thiên.’

Trong trận chiến đó, chư thiên đã thắng và các a-tu-la đã thua. Vì vậy, các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba đã trói Vepacitti bằng tay chân và cổ và mang hắn đến trước mặt Sakka trong Điện Công Lý của chư thiên.

Và ở đó Vepacitti vẫn bị trói bằng tay chân và cổ. Cho đến khi hắn nghĩ: ‘Chư thiên là những người có nguyên tắc, trong khi các a-tu-la thì không có nguyên tắc. Bây giờ ta thuộc về ngay tại đây trong lâu đài của chư thiên.’ Rồi hắn thấy mình được giải thoát khỏi những sợi dây trói trên tay chân và cổ. Hắn tự giải trí, được cung cấp và chu cấp với năm loại dục lạc của cõi trời.

Nhưng khi hắn nghĩ: ‘Các a-tu-la mới là những người có nguyên tắc, trong khi chư thiên thì không có nguyên tắc. Bây giờ ta sẽ đi đến đó, đến thành trì của các a-tu-la,’ hắn thấy mình bị trói bằng tay chân và cổ, và năm loại dục lạc của cõi trời biến mất.

Đó là cách Vepacitti bị trói một cách vi tế. Nhưng những sợi dây trói của Ma vương còn vi tế hơn thế nữa. Khi con khởi niệm, con bị Ma vương trói buộc. Không khởi niệm, con được giải thoát khỏi Ác ma.

Đây đều là các hình thức của sự khởi niệm: ‘Tôi là’, ‘Tôi là cái này’, ‘Tôi sẽ là’, ‘Tôi sẽ không là’, ‘Tôi sẽ có sắc’, ‘Tôi sẽ không có sắc’, ‘Tôi sẽ có tưởng’, ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng.’ Khởi niệm (conceiving / maññanā / sự suy tưởng, ngã mạn) là một căn bệnh, một cái nhọt, một mũi tên. Vì vậy, này các Tỷ kheo, các con nên rèn luyện mình như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống với một trái tim không khởi niệm.’

Đây đều là các sự dao động: ‘Tôi là’, ‘Tôi là cái này’, ‘Tôi sẽ là’, ‘Tôi sẽ không là’, ‘Tôi sẽ có sắc’, ‘Tôi sẽ không có sắc’, ‘Tôi sẽ có tưởng’, ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng.’ Sự dao động là một căn bệnh, một cái nhọt, một mũi tên. Vì vậy, này các Tỷ kheo, các con nên rèn luyện mình như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống với một trái tim không có sự dao động.’

Đây đều là các sự rung chuyển: ‘Tôi là’, ‘Tôi là cái này’, ‘Tôi sẽ là’, ‘Tôi sẽ không là’, ‘Tôi sẽ có sắc’, ‘Tôi sẽ không có sắc’, ‘Tôi sẽ có tưởng’, ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng.’ Sự rung chuyển là một căn bệnh, một cái nhọt, một mũi tên. Vì vậy, này các Tỷ kheo, các con nên rèn luyện mình như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống với một trái tim không có sự rung chuyển.’

Đây đều là các sự lan man: ‘Tôi là’, ‘Tôi là cái này’, ‘Tôi sẽ là’, ‘Tôi sẽ không là’, ‘Tôi sẽ có sắc’, ‘Tôi sẽ không có sắc’, ‘Tôi sẽ có tưởng’, ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng.’ Sự lan man là một căn bệnh, một cái nhọt, một mũi tên. Vì vậy, này các Tỷ kheo, các con nên rèn luyện mình như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống với một trái tim không có sự lan man.’

Đây đều là các ngã mạn: ‘Tôi là’, ‘Tôi là cái này’, ‘Tôi sẽ là’, ‘Tôi sẽ không là’, ‘Tôi sẽ có sắc’, ‘Tôi sẽ không có sắc’, ‘Tôi sẽ có tưởng’, ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ‘Tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng.’ Ngã mạn là một căn bệnh, một cái nhọt, một mũi tên. Vì vậy, này các Tỷ kheo, các con nên rèn luyện mình như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống với một trái tim đã đánh gục ngã mạn.’"

207. XI. Bó Lúa (S.iv,201)

1-2. …

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái… bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái… bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.

5. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.

Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: “Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tula”. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: “Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.

6. Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.

7. Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: “Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: “Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.

8. Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Màra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Màra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Cái này là tôi”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không là”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có tưởng”, là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có tưởng ", là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng”.

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). “Cái này là tôi”, là một động chuyển. “Tôi sẽ là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có sắc”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển”.

10. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). “Cái này là tôi”, là một chấn động. “Tôi sẽ là”, là một chấn động. “Tôi sẽ không là”, là một chấn động. “Tôi sẽ có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không chấn động”.

11. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). “Cái này là tôi”, là một hý luận. “Tôi sẽ là”, là một hý luận. “Tôi sẽ không là”, là một hý luận. “Tôi sẽ có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận”.

12. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. “Cái này là tôi”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

-ooOoo-