Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Tương Ưng với Jambukhādaka

38. TƯƠNG ƯNG JAMBUKHÀDAKA

Phẩm Jambukhādaka

SN 38.1 Câu Hỏi về Sự Dập Tắt Nibbānapañhāsutta

Một thời, Tôn giả Xá Lợi Phất đang ở tại vùng đất của người Magadhan, gần ngôi làng nhỏ Nālaka. Bấy giờ, du sĩ Jambukhādaka đến gặp Tôn giả Xá Lợi Phất và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Xá Lợi Phất:

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘sự dập tắt’. Sự dập tắt là gì?”

“Thưa ngài, sự chấm dứt tham lam, sân hận, và si mê được gọi là Niết bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt).”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để chứng ngộ được sự dập tắt này không?”

“Có, thưa ngài.”

“Vậy, đó là gì?”

“Đó chính là bát chánh đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý) này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường, là phương pháp thực hành để chứng ngộ sự dập tắt này.”

“Thưa Tôn giả, đây là một con đường tốt đẹp, một phương pháp thực hành tốt đẹp, để chứng ngộ sự dập tắt này. Chỉ cần như vậy là đủ để siêng năng rồi.”

I. Nibbàna (Niết-bàn) (S.iv,251)

1) M ột thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.

2. Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:

− “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niếtbàn?

− Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?

− Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.

5. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?

− Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.

6. − Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

SN 38.2 Câu Hỏi về Sự Hoàn Thiện Arahattapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘sự hoàn thiện’. Sự hoàn thiện là gì?”

“Thưa ngài, sự chấm dứt tham lam, sân hận, và si mê được gọi là sự hoàn thiện, hay quả vị A-la-hán (perfection / arahatta / bậc đã hoàn thiện, đã giác ngộ).”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để chứng ngộ được sự hoàn thiện này không?”

“Có, thưa ngài.”

“Vậy, đó là gì?”

“Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường, là phương pháp thực hành để chứng ngộ sự hoàn thiện này.”

“Thưa Tôn giả, đây là một con đường tốt đẹp, một phương pháp thực hành tốt đẹp, để chứng ngộ sự hoàn thiện này. Chỉ cần như vậy là đủ để siêng năng rồi.”

II. A-La-Hán (S.iv,251)

1-2. …

3. − “A-la-hán, A-la-hán”, này Hiền giả Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là A-lahán?

− Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là A-la-hán.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.

5. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?

− Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định… Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.

6. − Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

SN 38.3 Người Nói Đúng Chánh Pháp Dhammavādīpañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, ai trên đời là người nói đúng Chánh pháp? Ai trên đời là người thực hành tốt? Ai là bậc Thánh trên đời?”

“Thưa ngài, những ai dạy các nguyên tắc để từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê là những người nói đúng Chánh pháp trên đời. Những ai thực hành để từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê là những người thực hành tốt trên đời. Những ai đã từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê—đến mức chúng bị đoạn tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ bị chặt, bị xóa sạch, và không thể khởi lên trong tương lai—là những bậc Thánh trên đời.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê đó không?”

“Có, thưa ngài.”

“Vậy, đó là gì?”

“Đó chính là bát chánh đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Đây là con đường, đây là phương pháp thực hành để từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê đó.”

“Đây là một con đường tốt đẹp, một phương pháp thực hành tốt đẹp, để từ bỏ tham lam, sân hận, và si mê. Chỉ cần như vậy là đủ để siêng năng rồi.”

III. Vị Thuyết Pháp (S.iv,252)

1-2. …

3. − Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là những vị khéo đến ở đời?

4. − Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.

5. Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị khéo thực hành ở đời.

6. Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời.

7. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

8. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

− Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến… chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

9. − Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền giả Sàriputta, để không phóng dật.

SN 38.4 Mục Đích Là Gì Kimatthiyasutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, mục đích của việc sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Cồ-đàm là gì?”

“Mục đích của việc sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật là để hiểu biết hoàn toàn (complete understanding/ liễu tri / sự thấu suốt trọn vẹn) về khổ.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về khổ này không?”

“Có.” …

IV. Có Cái Gì? (S.iv,253)

1. …

2. − Với mục đích gì, này Hiền giả Sàriputta, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?

− Này Hiền giả, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn với mục đích liễu tri khổ.

3. − Có con đường nào, có đạo lộ nào, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy?

− Có con đường, có đạo lộ, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy.

4. − Con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy?

− Ðấy là Thánh đạo Tám ngành, này Hiền giả, tức là chánh tri kiến… chánh định. Ðây là con đường, đây là đạo lộ, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy.

5. − Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến liễu tri khổ ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

SN 38.5 An Ổn Assāsappattasutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘đạt được sự an ổn’. Vào thời điểm nào thì một người đạt được sự an ổn?”

“Khi một vị Tỷ kheo (mendicant / tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc) hiểu biết chân chánh về sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của sáu trường tiếp xúc (fields of contact / xúc xứ / sáu nơi mà giác quan và đối tượng của chúng gặp nhau), vào thời điểm đó, vị ấy đã đạt được sự an ổn.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để chứng ngộ được sự an ổn này không?”

“Có.” …

V. Ðiều Hòa Hơi Thở (Assàsa) (S.iv,254)

1-2. …

3. − “Ðạt đến điều hòa hơi thở, đạt đến điều hòa hơi thở”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, là đạt đến điều hòa hơi thở?

− Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ, cho đến như vậy là đạt được điều hòa hơi thở.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng đắc điều hòa hơi thở ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến sự chứng đắc điều hòa hơi thở ấy.

5. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở ấy?

− Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở ấy.

6. − Này Hiền giả, hiền thiện là con đường…

SN 38.6 An Ổn Tối Thượng Paramassāsappattasutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘đạt được sự an ổn tối thượng’. Vào thời điểm nào thì một người đạt được sự an ổn tối thượng?”

“Khi một vị Tỷ kheo được giải thoát nhờ không bám giữ (grasping / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào) sau khi hiểu biết chân chánh về sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát của sáu trường tiếp xúc, vào thời điểm đó, vị ấy đã đạt được sự an ổn tối thượng.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để chứng ngộ được sự an ổn tối thượng này không?”

“Có.” …

VI. Ðiều Hòa Hơi Thở Tối Thượng (S.iv,254)

1-2. …

3. − “Ðạt đến điều hòa hơi thở tối thượng, đạt đến điều hòa hơi thở tối thượng”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, là đạt đến điều hòa hơi thở tối thượng?

− Này Hiền giả, Tỷ-kheo sau khi như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ; cho đến như vậy, này Hiền giả, là sự chứng đạt điều hòa hơi thở tối thượng.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở tối thượng ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở tối thượng ấy.

5. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì… (như kinh trên, số 5 và 6).

SN 38.7 Câu Hỏi về Cảm Giác Vedanāpañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘cảm giác’. Cảm giác là gì?”

“Thưa ngài, có ba loại cảm giác (feeling / thọ). Ba loại đó là gì? Cảm giác dễ chịu, khó chịu, và trung tính (Pleasant, painful, and neutral feeling / lạc thọ, khổ thọ, và không khổ không lạc thọ). Đó là ba loại cảm giác.”

“Nhưng thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về ba loại cảm giác này không?”

“Có.” …

VII. Thọ (S.iv,255)

1-2. …

3. − “Thọ, thọ”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là thọ?

− Có ba thọ, này Hiền giả, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, đây là những thọ này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri những thọ ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri những thọ ấy.

5. − Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến liễu tri những thọ ấy?. … (như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.8 Câu Hỏi về Lậu Hoặc Āsavapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘lậu hoặc’. Lậu hoặc là gì?”

“Thưa ngài, có ba loại lậu hoặc (defilement / āsava / những ô nhiễm sâu kín làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi). Đó là lậu hoặc của dục vọng, lậu hoặc của ham muốn tái sinh, và lậu hoặc của vô minh. Đó là ba loại lậu hoặc.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về ba loại lậu hoặc này không?”

“Có.” …

VIII. Lậu Hoặc (S.iv,256)

1-2. …

3. − “Lậu hoặc, lậu hoặc”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là lậu hoặc?

− Có ba lậu hoặc này, này Hiền giả, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này Hiền giả, đây là ba lậu hoặc này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các lậu hoặc ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc ấy.

5. (Như kinh trên, số 5 và 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.9 Câu Hỏi về Vô Minh Avijjāpañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh là gì?”

“Không biết về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Đây được gọi là vô minh (ignorance / avijjā / sự không biết, không thấy rõ sự thật).”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để từ bỏ vô minh đó không?”

“Có.” …

IX. Vô Minh. (S.iv,256)

1-2. …

3. − “Vô minh, vô minh”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là vô minh?

− Này Hiền giả, không biết rõ đối với khổ, không biết rõ đối với khổ tập khởi, không biết rõ đối với khổ đoạn diệt, không biết rõ đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, này Hiền giả, đây gọi là vô minh.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận vô minh ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận vô minh ấy?

5-6. (Như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.10 Câu Hỏi về Tham Ái Taṇhāpañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘tham ái’. Tham ái là gì?”

“Thưa ngài, có ba loại tham ái (craving / taṇhā / sự khao khát, ham muốn) này. Tham ái đối với các thú vui giác quan, Hữu ái, và tham ái để chấm dứt tồn tại. Đó là ba loại tham ái.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về các loại tham ái này không?”

“Có.” …

X. Khát Ái (S.iv,257)

1-2. …

3. “Khát ái, khát ái”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là khát ái?

− Có ba ái này, này Hiền giả, dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này Hiền giả, đây là ba khát ái này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các khát ái ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các khát ái ấy.

5-6. (Như kinh trước, số 5 và 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.11 Câu Hỏi về Bộc Lưu Oghapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘bộc lưu’. Bộc lưu là gì?”

“Thưa ngài, có bốn loại bộc lưu (flood / ogha / dòng lũ cuốn trôi, chỉ những ô nhiễm nhấn chìm chúng sinh) này. Bộc lưu của dục vọng, bộc lưu của ham muốn tái sinh, bộc lưu của tà kiến, và bộc lưu của vô minh. Đó là bốn loại bộc lưu.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về các loại bộc lưu này không?”

“Có.” …

XI. Bộc Lưu (Ogha) (S.iv,257)

1-2. …

3. “Bộc lưu, bộc lưu”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là bộc lưu?

− Có bốn bộc lưu này, này dục bộc lưu, Hiền giả, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Này Hiền giả, có bốn bộc lưu này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các bộc lưu ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các bộc lưu ấy.

5-6. (Như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết)

SN 38.12 Câu Hỏi về Sự Bám Giữ Upādānapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘sự bám giữ’. Sự bám giữ là gì?”

“Thưa ngài, có bốn loại bám giữ này. Bám giữ vào các thú vui giác quan, bám giữ vào tà kiến, bám giữ vào sùng tín và giáo điều, và bám giữ vào lý thuyết về một cái ‘tôi’. Đó là bốn loại bám giữ.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về bốn loại bám giữ này không?”

“Có.” …

XII. Chấp Thủ (Upàdànam) (S.iv,258)

1-2. …

3. − “Thủ,thủ”, này Hiền giả Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là thủ?

− Có bốn thủ này, này Hiền giả, dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này Hiền giả, đây là bốn thủ này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận bốn thủ ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận bốn thủ ấy.

5-6. (Như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.13 Câu Hỏi về Các Cõi Tồn Tại Bhavapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về những thứ gọi là ‘các cõi tồn tại’. Các cõi tồn tại là gì?”

“Thưa ngài, có ba cõi tồn tại (states of existence / bhava / các cảnh giới mà chúng sinh tái sinh vào) này. Tồn tại trong cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc. Đó là ba cõi tồn tại.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về ba cõi tồn tại này không?”

“Có.” …

XIII. Hữu (S.iv,258)

1-2. …

3. − “Hữu, hữu”, này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là hữu?

− Có ba hữu này, này Hiền giả, dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Này Hiền giả, đây là các hữu này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các hữu ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các hữu ấy.

5-6. (Như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.14 Câu Hỏi về Khổ Dukkhapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘khổ’. Khổ là gì?”

“Thưa ngài, có ba dạng khổ này. Cái khổ do đau đớn; cái khổ do các pháp hữu vi (bị điều kiện); và cái khổ do sự biến hoại. Đó là ba dạng khổ.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về các dạng khổ này không?”

“Có.” …

XIV. Khổ (S.iv,259)

1-2. …

3. − “Khổ, khổ”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là khổ?

− Có ba khổ tánh này, này Hiền giả, khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Này Hiền giả, đây là ba khổ tánh này.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri các khổ tánh ấy?

− Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến đoạn tận các khổ tánh ấy.

5-6. (như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.15 Câu Hỏi về Thân Kiến Sakkāyapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, người ta nói về một thứ gọi là ‘thân kiến’. Thân kiến là gì?”

“Thưa ngài, Đức Phật đã nói rằng năm uẩn bám giữ này là thân kiến (substantial reality / sakkāya / quan niệm sai lầm về một thực thể ‘tôi’ hay ‘của tôi’ tồn tại bền vững). Đó là, Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức). Đức Phật đã nói rằng năm uẩn bám giữ này là thân kiến.”

“Nhưng, thưa Tôn giả, có con đường và phương pháp thực hành nào để hiểu biết hoàn toàn về thân kiến này không?”

“Có.” …

XV. Có Thân (Sakkàya) (S.iv,259)

1-2. …

3. − “Có thân, có thân”, này Hiền giả Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là có thân?

− Năm uẩn này, này Hiền giả, được Thế Tôn gọi là có thân: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Này Hiền giả, những thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là có thân.

4. − Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri có thân ấy?

− Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri có thân ấy.

5-6. (như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).

SN 38.16 Câu Hỏi về Điều Khó Làm Dukkarapañhāsutta

“Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, trong giáo pháp và giới luật này, điều gì là khó làm?”

“Thưa ngài, xuất gia (Going forth / pabbajjā / từ bỏ đời sống gia đình để tu hành) là điều khó làm trong giáo pháp và giới luật này.”

“Nhưng điều gì là khó làm đối với một người đã xuất gia?”

“Khi đã xuất gia thì khó để có được sự vui thích.”

“Nhưng điều gì là khó làm đối với một người có được sự vui thích?”

“Khi có được sự vui thích, thì khó để thực hành theo đúng Chánh pháp.”

“Nhưng nếu một vị Tỷ kheo thực hành theo đúng Chánh pháp, vị ấy có mất nhiều thời gian để trở thành một bậc A-la-hán không?”

“Không lâu đâu, thưa ngài.”

XVI. Khó Làm (S.iv,260)

1-2. …

3. − Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?

− Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.

4. − Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?

− Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.

5. − Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?

− Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.

6. − Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-lahán?

− Không lâu, này Hiền giả.

-ooOoo-