Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng với Mục Kiền Liên (MOGGALÀNA)

40. TƯƠNG ƯNG MOGGALÀNA

Chương về Tôn giả Mục Kiền Liên

SN 40.1 Tầng Thiền Thứ Nhất Paṭhamajhānapañhāsutta

Một thời, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên đang ở gần thành Xá-vệ, tại Tịnh xá Kỳ-viên Cấp-cô-độc. Tại đó, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên gọi các Tỷ kheo: “Này các Hiền giả Tỷ kheo!”

“Thưa Hiền giả,” họ đáp lời. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói điều này:

"Này các Hiền giả, vừa rồi, khi tôi đang độc cư thiền định, một ý nghĩ đã khởi lên trong tâm tôi: ‘Người ta nói về một trạng thái gọi là “Sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất)”. Vậy Sơ thiền là gì?’ Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo, hoàn toàn ly tham dục (sensual desire / các ham muốn thuộc giác quan), ly các bất thiện pháp (unskillful qualities / các trạng thái tâm không tốt), chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có Hỷ (rapture / sự hân hoan) và An vui (bliss / lạc) do ly dục sinh, với trạng thái có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / hướng ý nghĩ về một đề tài và giữ sự quan sát đề tài đó). Đây được gọi là Sơ thiền.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Sơ thiền. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về tham dục đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Sơ thiền, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Sơ thiền; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Sơ thiền.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Sơ thiền.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / thắng tri) với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

I. Với Tầm (S.iv,262)

1. Một thời Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2. Ở đấy, Tôn giả Mahà Moggalàna gọi các Tỷ-kheo:

− Này chư Hiền Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggalàna.

3. Tôn giả Mahà Moggalàna nói như sau:

− Ở đây, này chư Hiền, trong khi tôi độc cư Thiền tịnh, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên nơi tôi: “Thiền thứ nhất, Thiền thứ nhất”, được gọi là như vậy. Thế nào là Thiền thứ nhất?

4. − Này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: "Ở đây, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Ðây gọi là Thiền thứ nhất.

5. Rồi này chư Hiền, tôi ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với dục (kàma) được tác ý và hiện hành (samudàcaranti).

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Thiền thứ nhất. Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Thiền thứ nhất! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ nhất”.

7. Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.

8. Này chư Hiền, nếu ai nói một cách chơn chánh: “Vị đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng được đại thắng trí”, người ấy sẽ nói về tôi như sau: “Mahà Moggahàna là người đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng được đại thắng trí”.

SN 40.2 Tầng Thiền Thứ Hai Dutiyajhānapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là 'Nhị thiền. Vậy Nhị thiền là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Khi tầm và tứ được lắng dịu, một Tỷ kheo chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái có Hỷ và An vui do định (immersion / sự tập trung cao độ) sinh, với sự trong sáng nội tâm và nhất tâm, không tầm, chỉ có tứ (without placing the mind and keeping it connected / không hướng ý nghĩ về đề tài nào và chỉ im lặng để quan sát). Đây được gọi là Nhị thiền.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Nhị thiền. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về tầm đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Nhị thiền, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Nhị thiền; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Nhị thiền.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Nhị thiền.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

II. Không Tầm (S.iv,263)

1-2… …

3. − “Thiền thứ hai, Thiền thứ hai”, được nói đến như vậy. Thế nào là Thiền thứ hai?

4. Và này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm”. Ðây gọi là Thiền thứ hai.

5. Rồi này chư Hiền, tôi làm cho tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm. Này chư Hiền, khi tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với tầm được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Thiền thứ hai. Này Bà-la-môn, hãy đặt tâm vào Thiền thứ hai! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ hai! Hãy định tâm vào Thiền thứ hai!”

7. Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.

8. (Như đoạn 8 của kinh trên).

SN 40.3 Tầng Thiền Thứ Ba Tatiyajhānapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là 'Tam thiền. Vậy Tam thiền là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Với sự phai nhạt của Hỷ, một Tỷ kheo chứng và trú Tam thiền, nơi họ thiền định với xả (equanimity / sự nhìn nhận bình thản, không thiên vị), chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được sự an vui mà các bậc Thánh mô tả: “Người an vui trong niệm xả” Đây được gọi là Tam thiền.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Tam thiền. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về Hỷ đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Tam thiền, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Tam thiền; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Tam thiền.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Tam thiền. Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

III. Với Lạc (S.iv,264)

1-2… …

3. − “Thiền thứ ba, Thiền thứ ba”, như vậy được nói đến. Như thế nào là Thiền thứ ba?

4. Rồi này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba”. Ðây gọi là Thiền thứ ba.

5. Rồi này chư Hiền, tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với hỷ được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Thiền thứ ba! Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Thiền thứ ba! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ ba! Hãy định tâm vào Thiền thứ ba!”

7. Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba.

8. (Như đoạn 8 của kinh trước)

SN 40.4 Tầng Thiền Thứ Tư Catutthajhānapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là 'Tứ thiền. Vậy Tứ thiền là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi, từ bỏ an vui và khổ đau, và chấm dứt hỷ và ưu đã có từ trước, một Tỷ kheo chứng và trú Tứ thiền, không khổ không vui, với xả và niệm hoàn toàn trong sạch. Đây được gọi là Tứ thiền.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Tứ thiền. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về An vui đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Tứ thiền, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Tứ thiền; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Tứ thiền.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Tứ thiền.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

IV. Xả (S.iv,265)

1-2… …

3. − “Thiền thứ tư, Thiền thứ tư”, như vậy được nói đến. Như thế nào là Thiền thứ tư?

4. Này chư Hiền, rồi tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”. Ðây gọi là Thiền thứ tư.

5. Rồi này chư Hiền, tôi xả khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với lạc được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Thiền thứ tư. Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy nhứt tâm vào Thiền thứ tư! Hãy định tâm vào Thiền thứ tư!”

7. Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

8. (Như đoạn 8 của kinh trên).

SN 40.5 Không Vô Biên Xứ Ākāsānañcāyatanapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là ‘Không Vô Biên Xứ (dimension of infinite space / cõi trời nơi không gian là vô tận)’. Vậy Không Vô Biên Xứ là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo—vượt hoàn toàn qua các nhận thức về sắc (perceptions of form / tưởng / nhận thức về hình dạng dạng(form)), chấm dứt các nhận thức về sự va chạm (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại), không chú ý đến các nhận thức về sự đa dạng (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt)—nhận biết rằng “không gian là vô tận”, chứng và trú trong Không Vô Biên Xứ. Đây được gọi là Không Vô Biên Xứ.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Không Vô Biên Xứ. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về các hình sắc đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Không Vô Biên Xứ, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Không Vô Biên Xứ; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Không Vô Biên Xứ.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Không Vô Biên Xứ.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

V. Hư Không (S.iv,266)

1-2… …

3. − “Không vô biên xứ, Không vô biên xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Không vô biên xứ?

4. Này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, tôi biết rằng: ‘Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ". Ðây gọi là Không vô biên xứ.

5. Rồi này chư Hiền, đoạn tận sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, tôi biết rằng Hư không là vô biên, chứng và trú Không vô biên xứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với sắc được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Không vô biên xứ! Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Không vô biên xứ! Hãy nhứt tâm vào Không vô biên xứ! Hãy định tâm vào Không vô biên xứ!”

7. Rồi này chư Hiền, trong một thời gian khác, vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, tôi biết rằng Hư không là vô biên, chứng và trú Không vô biên xứ.

8. (Như đoạn 8 của kinh trên).

SN 40.6 Thức Vô Biên Xứ Viññāṇañcāyatanapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là ‘Thức Vô Biên Xứ (dimension of infinite consciousness / cõi trời nơi thức là vô tận)’. Vậy Thức Vô Biên Xứ là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo, vượt hoàn toàn qua Không Vô Biên Xứ, nhận biết rằng “thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường) là vô tận”, chứng và trú trong Thức Vô Biên Xứ. Đây được gọi là Thức Vô Biên Xứ.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Thức Vô Biên Xứ. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về Không Vô Biên Xứ đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Thức Vô Biên Xứ, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Thức Vô Biên Xứ; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Thức Vô Biên Xứ.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Thức Vô Biên Xứ.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

VI. Thức (S.iv,266)

1-2… …

3. − “Thức vô biên xứ, Thức vô biên xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Thức vô biên xứ?

4. Này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: ‘Thức là vô biên’, chứng và trú Thức vô biên xứ”. Ðây gọi là Thức vô biên xứ.

5. Rồi này chư Hiền, vượt qua Không vô biên xứ, tôi biết rằng Thức là vô biên, chứng và trú Thức vô biên xứ… Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với Không vô biên xứ được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Thức vô biên xứ! Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Thức vô biên xứ! Hãy nhứt tâm vào Thức vô biên xứ! Hãy định tâm vào Thức vô biên xứ!”

7. Rồi này chư Hiền,sau một thời gian, tôi vượt qua Không vô biên xứ, biết rằng Thức là vô biên, chứng và trú Thức vô biên xứ.

8. (Như đoạn 8 của kinh trên).

SN 40.7 Vô Sở Hữu Xứ Ākiñcaññāyatanapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là ‘Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi trời nơi không có gì cả)’. Vậy Vô Sở Hữu Xứ là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo, vượt hoàn toàn qua Thức Vô Biên Xứ, nhận biết rằng “không có gì cả”, chứng và trú trong Vô Sở Hữu Xứ. Đây được gọi là Vô Sở Hữu Xứ.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Vô Sở Hữu Xứ. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về Thức Vô Biên Xứ đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Vô Sở Hữu Xứ, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Vô Sở Hữu Xứ; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Vô Sở Hữu Xứ.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Vô Sở Hữu Xứ.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

VII. Vô Sở Hữu Xứ (S.iv,267)

1-2… …

3. − “Vô sở hữu xứ, Vô sở hữu xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Vô sở hữu xứ?

4. Này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: ‘Không có sự vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ". Này chư Hiền, đây gọi là Vô sở hữu xứ.

5. Rồi này chư Hiền, sau khi vượt qua Thức vô biên xứ, tôi biết rằng không có sự vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với Thức vô biên xứ được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Vô sở hữu xứ. Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Vô sở hữu xứ! Hãy nhứt tâm vào Vô sở hữu xứ! Hãy định tâm vào Vô sở hữu xứ!”

7. Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, vượt qua Thức vô biên xứ, tôi biết rằng không có sự vật gì, chứng và trú Vô sở hữu xứ.

8. (Như đoạn 8 của kinh trên).

SN 40.8 Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Nevasaññānāsaññāyatanapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là ‘Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi trời nơi nhận thức không phải có cũng không phải không)’. Vậy Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo, vượt hoàn toàn qua Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây được gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, suy nghĩ và chú ý về Vô Sở Hữu Xứ đã xâm chiếm tôi.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

VIII. Phi Tưởng (S.iv,268)

1-2… …

3. − “Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Phi tưởng phi phi tưởng xứ?

4. Rồi này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Ðây gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

5. Rồi này chư Hiền, tôi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với Vô sở hữu xứ được tác ý và hiện hành.

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Hãy nhứt tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Hãy định tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ!”

7. Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, tôi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

8. (Như số 8 của kinh trước).

SN 40.9 Vô Tướng Animittapañhāsutta

"Người ta nói về một trạng thái gọi là ‘vô tướng tâm định (signless immersion of the heart / sự nhập định vào trạng thái không có dấu hiệu, không có đối tượng)’. Vậy vô tướng tâm định là gì? Tôi nghĩ rằng: ‘Đó là khi một Tỷ kheo, không chú ý đến bất kỳ tướng (signs / các dấu hiệu, đặc điểm của đối tượng) nào, chứng và trú trong vô tướng tâm định. Đây được gọi là vô tướng tâm định.’

Và thế là… tôi đã chứng và trú trong vô tướng tâm định. Khi tôi đang trong trạng thái thiền định đó, thức của tôi đã chạy theo các tướng.

Khi ấy, Đức Phật đã hiện đến với tôi bằng thần thông và nói: ‘Này Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên! Đừng sao nhãng vô tướng tâm định, này Bà-la-môn! Hãy an trú tâm con vào vô tướng tâm định; hãy hợp nhất tâm con và nhập tâm con vào vô tướng tâm định.’

Và thế là, sau một thời gian… tôi đã chứng và trú trong vô tướng tâm định.

Vậy nếu có ai đáng được gọi là một đệ tử đã đạt được đại hiểu biết trực tiếp với sự trợ giúp của Bậc Đạo Sư, thì đó chính là tôi."

IX. Vô Tướng (S.iv,268)

1-2… …

3. − “Vô tướng tâm định, Vô tướng tâm định” (animitto cete samàdhi), như vậy được nói đến. Thế nào là Vô tướng tâm định?

4. Và này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định”. Ðây gọi là Vô tướng tâm định.

5. Rồi này chư Hiền, tôi không tác ý tất cả tướng, chứng và an trú Vô tướng tâm định. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, (tôi đạt được) thức tùy thuận tướng (nimittànusarivinnànam).

6. Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggalàna, này Moggalàna, chớ có phóng dật Vô tướng tâm định! Này Moggalàna, hãy đặt tâm vào Vô tướng tâm định! Hãy nhứt tâm vào Vô tướng tâm định! Hãy định tâm vào Vô tướng tâm định!”

7. Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, tôi không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định.

8. Này chư Hiền, nếu ai có nói một cách chơn chánh: “Vị đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng và đạt thắng trí”. Người ấy sẽ nói về tôi như sau: “Moggalàna là người đệ tử được bậc Ðạo Sư hỗ trợ, chứng và đạt thắng trí”.

SN 40.10 Với Đế Thích Sakkasutta

Và rồi Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, đã biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ-viên và hiện ra giữa các vị trời ở cõi trời Ba Mươi Ba. Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với năm trăm vị thiên tử đến gần Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói với ông:

“Này Vua của các vị trời, thật tốt khi quy y Phật. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình), khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời (heavenly realm / cảnh giới của các vị trời). Thật tốt khi quy y Pháp. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời. Thật tốt khi quy y Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ Phật giáo). Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.”

“Thưa Tôn giả Mục Kiền Liên, thật tốt khi quy y Phật… quy y Pháp… quy y Tăng đoàn. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.”

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với sáu trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với bảy trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám mươi ngàn vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với năm trăm vị thiên tử đến gần Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói với ông:

"Này Vua của các vị trời, thật tốt khi có niềm tin vững chắc (experiential confidence / tịnh tín / niềm tin có được qua trải nghiệm) nơi Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.

Thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Giáo pháp: ‘Giáo pháp đã được Đức Thế Tôn khéo giảng dạy—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có tính hướng thượng, để người trí tự mình liễu tri.’ Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.

Thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn của các đệ tử Đức Thế Tôn là những người thực hành thiện đạo, trực đạo, như lý đạo, và chánh đạo. Gồm có bốn đôi, tám bậc. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Thế Tôn, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được hiếu khách, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là phước điền vô thượng cho đời.’ Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.

Thật tốt khi có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, không tì vết, không đốm, không ô nhiễm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị lầm chấp, và đưa đến định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời."

“Thưa Tôn giả Mục Kiền Liên, thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật… nơi Giáo pháp… nơi Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc Thánh yêu mến… Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời.”

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với sáu trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với bảy trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám mươi ngàn vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với năm trăm vị thiên tử đến gần Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói với ông:

"Này Vua của các vị trời, thật tốt khi quy y Phật. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời. Họ vượt trội hơn các vị trời khác về mười phương diện: tuổi thọ cõi trời, sắc đẹp, hạnh phúc, vinh quang, quyền lực, cảnh sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, và xúc chạm.

Thật tốt khi quy y Pháp…

Thật tốt khi quy y Tăng đoàn. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời. Họ vượt trội hơn các vị trời khác về mười phương diện: tuổi thọ cõi trời, sắc đẹp, hạnh phúc, vinh quang, quyền lực, cảnh sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, và xúc chạm."

“Thưa Tôn giả Mục Kiền Liên, thật tốt khi quy y Phật…”

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với sáu trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với bảy trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám mươi ngàn vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với năm trăm vị thiên tử đến gần Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Tôn giả Đại Mục Kiền Liên nói với ông:

"Này Vua của các vị trời, thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác… Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh vào nơi tốt lành, một cõi trời. Họ vượt trội hơn các vị trời khác về mười phương diện: tuổi thọ cõi trời, sắc đẹp, hạnh phúc, vinh quang, quyền lực, cảnh sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, và xúc chạm.

Thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Giáo pháp…

Thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Tăng đoàn…

Thật tốt khi có giới đức được các bậc Thánh yêu mến…"

“Thưa Tôn giả Mục Kiền Liên, thật tốt khi có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật…”

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với sáu trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với bảy trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám trăm vị thiên tử…

Khi ấy, Đế Thích, vua của các vị trời, cùng với tám mươi ngàn vị thiên tử…

X. Sakka (Ðế-thích) (S.iv,269)

1. Một thời Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, như vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra trước mặt chư Thiên ở Tàvatimsa (Tam thập Tam thiên).

I

3. Rồi Thiên chủ Sakka cùng với 500 chư Thiên đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên.

4. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Thiên chủ Sakka đang đứng một bên:

− Lành thay, này Thiên chủ, là quy y Phật. Do nhân quy y Phật, này Thiên chủ, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Thiên chủ, là quy y pháp. Do nhân quy y Pháp, này Thiên chủ, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Thiên chủ, là quy y chúng Tăng. Do nhân quy y chúng Tăng, này Thiên chủ, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

5. − Lành thay, này Hiền giả Moggalàna, là quy y Phật. Do nhân quy y Phật, này Hiền giả Moggalàna, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Hiền giả Moggalàna, là quy y Pháp, này Hiền giả Moggalàna… là quy y chúng Tăng. Do nhân quy y chúng Tăng, thưa Hiền giả Moggalàna, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

6-7-8. Thiên chủ Sakka với 600 chư Thiên…

9-10-11. Thiên chủ Sakka với 700 chư Thiên…

12-13-14. Thiên chủ Sakka với 800 chư Thiên…

15-16-17. Thiên chủ Sakka với 8000 chư Thiên… (giống như số 3,4,5 như trên, với những thay đổi cần thiết)…

II

18. Rồi Thiên chủ Sakka với 500 chư Thiên đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Moggalàna rồi đứng một bên.

19. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Thiên chủ Sakka đang đứng một bên:

− Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ lòng tin bất động (avecca pasàdena) đối với đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật, này Thiên chủ, như vậy, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Thiên chủ, là lòng tin bất động đối với Pháp: Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động như vậy đối với Pháp, này Thiên chủ, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: Tế hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Thanh tịnh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng, này Thiên chủ, ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ hoàn toàn các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị phá hoại, không bị lấm tấm, không bị ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị ô nhiễm (bởi tham và si), đưa đến Thiền định. Do nhân đầy đủ các giới được các bậc Thánh ái kính, này Thiên chủ, như vậy ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

20. − Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật, thưa Hiền giả Moggalàna, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, này Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp: Ðây là pháp được Thế Tôn khéo giảng… được người có trí tự mình giác hiểu. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp, thưa Hiền giả Moggalàna, ở đây một số chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: Tế hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn… là vô thượng phước điền ở đời. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng đệ tử của Thế Tôn, thưa Hiền giả Moggalàna, như vậy, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy… đưa đến Thiền định. Do nhân đầy đủ các giới được các bậc Thánh ái kính, thưa Hiền giả Moggalàna, như vậy, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

21-23. Rồi Thiên chủ Sakka với 600 chư Thiên…

24-26. Rồi Thiên chủ Sakka với 700 chư Thiên…

27-29. Rồi Thiên chủ Sakka với 800 chư Thiên…

30. Rồi Thiên chủ Sakka với 8000 chư Thiên đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên.

31. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Thiên chủ Sakka đang đứng một bên:

− Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri… được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

32. − Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật… được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

III

33. Rồi Thiên chủ Sakka cùng với 500 chư Thiên đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna…

34. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Thiên chủ Sakka đang đứng một bên:

− Lành thay, này Thiên chủ, là quy y Phật. Do nhân quy y Phật, này Thiên chủ, như vậy ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Họ có được 10 pháp hơn chư Thiên khác: thiên thọ mạng, thiên sắc, thiên an lạc, thiên danh dự, thiên thù thắng, thiên sắc, thiên thanh, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Lành thay, này Thiên chủ, là sự quy y Pháp. Do nhân quy y Pháp, này Thiên chủ, như vậy ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Họ có được 10 pháp lợi hơn các chư Thiên khác: thiên thọ mạng… thiên xúc. Lành thay, này Thiên chủ, là quy y Tăng. Do nhân quy y Tăng, này Thiên chủ, như vậy, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Họ có được 10 pháp lợi hơn các chư Thiên khác: thiên thọ mạng… thiên xúc.

35. − Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là quy y Phật… thiên xúc (như trên).

36-38. Rồi Thiên chủ Sakka với 600 Thiên nhơn…

39-41. Rồi Thiên chủ Sakka với 700 Thiên nhơn…

42-44. Rồi Thiên chủ Sakka với 800 Thiên nhơn…

45-47. Rồi Thiên chủ Sakka với 8000 Thiên nhơn…

IV

48. Rồi Thiên chủ Sakka với 500 Thiên nhơn đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên.

49. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Thiên chủ Sakka đang đứng một bên:

− Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri… Thế Tôn. Do nhân đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật, ở đây một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Họ có được 10 pháp lợi hơn các chư Thiên khác: thiên thọ mạng… thiên xúc. Lành thay, này Thiên chủ, là đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp… lòng tin bất động đối với chúng Tăng… là đầy đủ các giới được bậc Thánh ái kính… thiên xúc.

50. − Lành thay, thưa Hiền giả Moggalàna, là đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật… thiên xúc.

51-53. Rồi Thiên chủ Sakka với 600 chư Thiên…

54-56. Rồi Thiên chủ Sakka với 700 chư Thiên…

57-60. Rồi Thiên chủ Sakka với 800 chư Thiên…

61-63. Rồi Thiên chủ Sakka với 8000 chư Thiên… thiên xúc.

SN 40.11 Với Candana, v.v. Candanasutta

Khi ấy, thiên tử Candana…

thiên tử Suyāma…

thiên tử Santusita…

thiên tử Sunimmita…

thiên tử Vasavatti…

(Kể lại đầy đủ như trong Kinh Với Đế Thích.)

XI. Candana (S.iv,280)

1-63. Rồi Thiên tử Candana…

1-63. Rồi Thiên tử Suyàma…

1-63. Rồi Thiên tử Santusita…

1-63. Rồi Thiên chủ Sunimmita…

1-63. Rồi Thiên tử Vasavatti…

-ooOoo-