Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng đến Gia Chủ Citta

41. TƯƠNG ƯNG TÂM

Chương về Citta

SN 41.1 Kinh Xiềng Xích Saṁyojanasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại. Lúc bấy giờ, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, một số Tỷ kheo trưởng lão ngồi cùng nhau trong đình và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ:

“Thưa các đạo hữu, ‘xiềng xích’ và ‘những thứ bị xiềng xích’: những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt? Hay chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt?”

Một số Tỷ kheo trưởng lão trả lời như sau: “Thưa các đạo hữu, ‘xiềng xích’ (The fetters / kiết sử / dịch là ‘cái cùm’, ‘xiềng xích’, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) và ‘những thứ bị xiềng xích’: những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt.”

Nhưng một số Tỷ kheo trưởng lão khác lại trả lời như sau: “Thưa các đạo hữu, ‘xiềng xích’ và ‘những thứ bị xiềng xích’ có cùng ý nghĩa; chúng chỉ khác nhau về cách diễn đạt.”

Lúc bấy giờ, gia chủ Citta đã đến Migapathaka vì một vài công việc. Ông nghe được về những gì các Tỷ kheo trưởng lão đang thảo luận.

Vậy nên ông đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với họ, “Thưa quý ngài, con nghe rằng quý ngài đang thảo luận về việc liệu ‘xiềng xích’ và ‘những thứ bị xiềng xích’ có khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt, hay chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt.”

“Đúng vậy, gia chủ.”

"Thưa quý ngài, ‘xiềng xích’ và ‘những thứ bị xiềng xích’: những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt.

Vậy thì, thưa quý ngài, con xin đưa ra một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của điều được nói.

Giả sử có một con bò đen và một con bò trắng được buộc chung bằng một bộ dây cương hay cái ách. Liệu có đúng khi nói rằng con bò đen là cái ách của con bò trắng, hay con bò trắng là cái ách của con bò đen không?"

“Không, gia chủ. Con bò đen không phải là cái ách của con bò trắng, cũng như con bò trắng không phải là cái ách của con bò đen. Cái ách ở đây là bộ dây cương hay cái ách duy nhất mà chúng bị buộc vào.”

"Cũng vậy, mắt không phải là xiềng xích của cảnh sắc, cũng như cảnh sắc không phải là xiềng xích của mắt. Xiềng xích ở đây là sự ham muốn và tham lam phát sinh từ cặp đôi đó.

Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não không phải là xiềng xích của ý nghĩ, cũng như ý nghĩ không phải là xiềng xích của trí não. Xiềng xích ở đây là sự ham muốn và tham lam phát sinh từ cặp đôi đó."

“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn, khi có thể thâm nhập vào những giáo lý sâu sắc của Đức Phật bằng con mắt trí tuệ.”

I. Kiết Sử (S.iv,281)

1) M ột thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikasanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên:

− Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?

3. Ở đây, một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:

− Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.

Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:

− Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.

4. Lúc bấy giờ, cư sĩ Citta đi đến Migapathaka để làm một số công việc phải làm.

5. Cư sĩ Citta được nghe có một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?” Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: “Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ”. Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: “Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ”.

6. Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão ấy; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

7. Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Bạch chư Thượng tọa, (chúng con) được nghe có một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa các vị này, khởi lên câu chuyện sau đây: “Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ”. Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: “Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp này đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ”.

− Có vậy, này Cư sĩ.

8. − Bạch chư Thượng tọa, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa và cũng khác ngôn từ. Bạch chư Thượng tọa, con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị. Ở đây, một số người có trí, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa lời nói.

9. Bạch chư Thượng tọa, ví như một con bò đực đen và con bò đực trắng được dính lại với nhau bởi một sợi dây hay một cái ách. Nếu có người nói: “Con bò đực đen là kiết sử cho con bò đực trắng, và con bò đực trắng là kiết sử cho con bò đực đen”. Nói như vậy có phải là nói một cách chơn chánh không?

− Thưa không, này Cư sĩ. Này Cư sĩ, con bò đực đen không phải là kiết sử của con bò đực trắng. Và con bò đực trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đực đen. Do vì chúng bị dính bởi một sợi dây hay bởi một cái ách, ở đây chính cái ấy là kiết sử.

10. − Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không phải là trói buộc của các sắc; các sắc không phải là trói buộc của con mắt. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc. Cái tai không phải là trói buộc của các tiếng… Mũi không phải là trói buộc của các hương… Lưỡi không phải là trói buộc của các vị… Thân không phải là trói buộc của các xúc… Ý không phải là trói buộc của các pháp. Các pháp cũng không phải là trói buộc của ý. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc.

11. − Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích thay cho Ông, này Cư sĩ! Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục (kamati) lời dạy thâm sâu của đức Phật.

SN 41.2 Isidatta (Thứ nhất) Paṭhamaisidattasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại.

Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với họ, “Thưa quý Trưởng lão, xin hãy nhận lời cúng dường bữa ăn ngày mai của con.”

Họ im lặng nhận lời. Biết rằng các Tỷ kheo trưởng lão đã đồng ý, Citta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh họ theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi rời đi.

Rồi khi đêm đã qua, các Tỷ kheo trưởng lão đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà Citta, và ngồi xuống những chỗ đã được trải sẵn.

Khi ấy, Citta đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và hỏi vị trưởng lão cao niên nhất, “Thưa Trưởng lão, người ta nói về ‘sự đa dạng của các giới’ (diversity of elements / giới đại / các yếu tố cấu thành). Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới theo cách nào?”

Khi ông nói điều này, vị trưởng lão cao niên giữ im lặng.

Lần thứ hai…

Và lần thứ ba, Citta hỏi ông, “Thưa Trưởng lão, người ta nói về ‘sự đa dạng của các giới’. Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới theo cách nào?”

Và lần thứ hai và lần thứ ba, vị trưởng lão cao niên giữ im lặng.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidatta là Tỷ kheo trẻ tuổi nhất trong Tăng đoàn đó. Ngài nói với vị trưởng lão cao niên, “Thưa Trưởng lão, con có thể trả lời câu hỏi của gia chủ Citta không?”

“Hãy trả lời đi, Tôn giả Isidatta.”

“Gia chủ, có phải câu hỏi của ông là: ‘Người ta nói về “sự đa dạng của các giới”. Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới theo cách nào?’”

“Vâng, thưa ngài.”

"Đây là sự đa dạng của các giới được Đức Phật nói đến.

Giới mắt, giới sắc, giới mắt thức…

Giới trí não, giới ý nghĩ, giới ý thức.

Đây là cách Đức Phật đã nói về sự đa dạng của các giới."

Khi ấy, Citta, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Isidatta nói, đã tự tay phục vụ và làm hài lòng các Tỷ kheo trưởng lão với những món ăn tươi và nấu chín ngon lành. Khi các Tỷ kheo trưởng lão đã ăn xong và rửa tay và bát, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Khi ấy, vị trưởng lão cao niên nói với Tôn giả Isidatta, “Isidatta, thật tốt khi thầy đã cảm thấy được thôi thúc để trả lời câu hỏi đó, vì tôi đã không làm được. Vậy nên khi có một câu hỏi tương tự, thầy cũng nên trả lời như thầy cảm thấy được thôi thúc.”

II. Isidattà (1) (S.iv,283)

1. Một thời, nhiều Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.

Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.

4. Rồi cư sĩ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị rồi ra đi.

5. Các vị Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của cư sĩ Citta; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.

6. Cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

7. Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với Tôn giả Thera:

− Thưa Tôn giả Thera, “Giới sai biệt, giới sai biệt” (dhàtunànattam) được nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như thế nào, Thế Tôn nói đến giới sai biệt?

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Thera giữ im lặng.

8. Lần thứ hai, cư sĩ Citta thưa với Tôn giả Thera:

− Thưa Tôn giả Thera, “Giới sai biệt, giới sai biệt” được nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như thế nào, Thế Tôn nói đến giới sai biệt?

Lần thứ hai, Tôn giả Thera giữ im lặng.

9. Lần thứ ba, gia chủ Citta thưa với Tôn giả Thera:

− Thưa Tôn giả Thera, “Giới sai biệt, giới sai biệt” được nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như thế nào, Thế Tôn nói đến giới sai biệt?

Lần thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.

10. Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo ấy.

11. Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:

− Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của cư sĩ Citta.

− Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.

12. − Này Gia chủ, có phải Ông hỏi: “‘Giới sai biệt, giới sai biệt’, bạch Thượng tọa Thera, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thượng tọa, Thế Tôn nói đến về giới sai biệt” chăng?

− Thưa vâng, bạch Thượng tọa.

− Này Gia chủ, Thế Tôn nói về giới sai biệt tánh như sau: “Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới… Ý giới, pháp giới, ý thức giới”. Cho đến như vậy, này Cư sĩ, Thế Tôn nói về giới sai biệt tánh.

13. Gia chủ Citta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Isidattà nói, tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

14. Các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

15. Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:

− Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được Ông trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.

SN 41.3 Với Isidatta (Thứ hai) Dutiyaisidattasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại.

Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với họ, “Thưa quý Trưởng lão, xin hãy nhận lời cúng dường bữa ăn ngày mai của con.”

Họ im lặng nhận lời. Khi ấy, biết rằng các Tỷ kheo trưởng lão đã đồng ý, Citta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh họ theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi rời đi.

Rồi khi đêm đã qua, các Tỷ kheo trưởng lão đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà Citta, và ngồi xuống những chỗ đã được trải sẵn.

Vậy nên ông đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với vị trưởng lão cao niên:

“Thưa Trưởng lão, có nhiều quan điểm khác nhau nảy sinh trên thế gian. Ví dụ: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, hay hữu hạn, hay vô hạn; linh hồn và thể xác là một, hay chúng là những thứ khác nhau; sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại. Và cả sáu mươi hai tà kiến được nói trong ‘Kinh Lưới Trời’. Khi cái gì tồn tại thì những quan điểm này phát sinh? Khi cái gì không tồn tại thì những quan điểm này không phát sinh?”

Khi ông nói điều này, vị trưởng lão cao niên giữ im lặng.

Lần thứ hai…

Và lần thứ ba, Citta nói với ông:

“Thưa Trưởng lão, có nhiều quan điểm khác nhau nảy sinh trên thế gian… Khi cái gì tồn tại thì những quan điểm này phát sinh? Khi cái gì không tồn tại thì những quan điểm này không phát sinh?”

Và lần thứ hai và lần thứ ba, vị trưởng lão cao niên giữ im lặng.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidatta là Tỷ kheo trẻ tuổi nhất trong Tăng đoàn đó. Ngài nói với vị trưởng lão cao niên, “Thưa Trưởng lão, con có thể trả lời câu hỏi của gia chủ Citta không?”

“Hãy trả lời đi, Tôn giả Isidatta.”

“Gia chủ, có phải câu hỏi của ông là: ‘Có nhiều quan điểm khác nhau nảy sinh trên thế gian… Khi cái gì tồn tại thì những quan điểm này phát sinh? Khi cái gì không tồn tại thì những quan điểm này không phát sinh?’” “Vâng, thưa ngài.”

"Gia chủ, có nhiều quan điểm khác nhau nảy sinh trên thế gian. Ví dụ: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, hay hữu hạn, hay vô hạn; linh hồn và thể xác là một, hay chúng là những thứ khác nhau; sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại. Và cả sáu mươi hai tà kiến được nói trong ‘Kinh Lưới Trời’.

Những quan điểm này phát sinh khi thân kiến (substantialist view / sakkāyadiṭṭhi / quan niệm sai lầm rằng có một cái ‘tôi’ hay ‘tự ngã’ thường hằng trong năm nhóm yếu tố cấu thành con người) tồn tại. Khi thân kiến không tồn tại, chúng không phát sinh."

“Nhưng thưa ngài, thân kiến phát sinh như thế nào?”

"Đó là khi một người phàm phu chưa được học hỏi, chưa thấy các bậc thánh, và không thuần thục cũng không được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc thánh. Họ chưa thấy những bậc chân nhân, và không thuần thục cũng không được rèn luyện trong giáo pháp của những bậc chân nhân.

Họ coi cơ thể là tự ngã, tự ngã có cơ thể, cơ thể trong tự ngã, hay tự ngã trong cơ thể. Họ coi cảm giác… nhận thức… hành động… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Đó là cách thân kiến phát sinh."

“Nhưng thưa ngài, thân kiến không phát sinh như thế nào?”

"Đó là khi một vị thánh đệ tử đã được học hỏi, đã thấy các bậc thánh, và thuần thục và được rèn luyện trong giáo pháp của các bậc thánh. Họ đã thấy những bậc chân nhân, và thuần thục và được rèn luyện trong giáo pháp của những bậc chân nhân.

Họ không coi cơ thể là tự ngã, tự ngã có cơ thể, cơ thể trong tự ngã, hay tự ngã trong cơ thể. Họ không coi cảm giác… nhận thức… hành động… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức.

Đó là cách thân kiến không phát sinh."

“Thưa ngài, Tôn giả Isidatta đến từ đâu?”

“Tôi đến từ Avanti, gia chủ.”

“Thưa ngài, có một người bạn của tôi tên là Isidatta mà tôi chưa từng gặp. Anh ấy đã xuất gia từ một gia đình tốt ở Avanti. Ngài có gặp anh ấy không?”

“Có, gia chủ.”

“Thưa ngài, vị tôn giả đó hiện đang ở đâu?” Khi ông nói điều này, Isidatta giữ im lặng.

“Thưa ngài, ngài có phải là Isidatta đó không?”

“Vâng, gia chủ.”

“Thưa ngài, tôi hy vọng Tôn giả Isidatta vui vẻ ở đây tại Macchikāsaṇḍa, vì Rừng Xoài Dại rất đáng yêu. Tôi sẽ đảm bảo rằng Tôn giả Isidatta được cung cấp y, thực phẩm khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh.”

“Gia chủ thật tốt bụng khi nói vậy.”

Khi ấy, Citta, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Isidatta nói, đã tự tay phục vụ và làm hài lòng các Tỷ kheo trưởng lão với những món ăn tươi và nấu chín ngon lành. Khi các Tỷ kheo trưởng lão đã ăn xong và rửa tay và bát, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Khi ấy, vị trưởng lão cao niên nói với Tôn giả Isidatta, “Isidatta, thật tốt khi thầy đã cảm thấy được thôi thúc để trả lời câu hỏi đó, vì tôi đã không làm được. Vậy nên khi có một câu hỏi tương tự, thầy cũng nên trả lời như thầy cảm thấy được thôi thúc.”

Nhưng Isidatta đã thu dọn chỗ ở của mình, mang bát và y, rời khỏi Macchikāsaṇḍa, và không bao giờ trở lại.

III. Isidattà (2) (S.iv,285)

1. Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị Trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.

Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.

4. Rồi gia chủ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các

Tỷ-kheo trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị ấy rồi ra đi.

5. Các Tỷ-kheo trưởng lão ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của gia chủ Citta; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

6. Rồi gia chủ Citta đi đến Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

7. Ngồi một bên, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:

− Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là không thường còn? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”. Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?

Khi được nói vậy, Tôn giả Thera im lặng.

8. Lần thứ hai, gia chủ Citta…

9. Lần thứ ba, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:

− Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?

Lần thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.

10. Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo ấy.

11. Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:

− Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.

− Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.

12. − Này Gia chủ, có phải Ông hỏi như sau: “Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: ‘Thế giới là thường còn…’ Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt” chăng?

− Thưa vâng, bạch Thượng tọa.

− Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Lại có thêm

62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?

13. − Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?

− Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc… quán thọ như là tự ngã… tưởng… các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến có mặt.

14. − Và như thế nào, bạch Thượng tọa, là thân kiến không có mặt?

− Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử được thấy các bậc Thánh, thuần phục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị ấy không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ… tưởng… hành… không quán thức như tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến không có mặt.

15. − Bạch Thượng tọa, Tôn đức (Ayyo) Isidattà từ đâu đến?

− Này Gia chủ, tôi từ Avanti đến.

− Bạch Thượng tọa, tại Avanti, có một thiện nam tử tên Isidattà, một người bạn xa cách của chúng tôi, đã xuất gia tu hành?

− Thưa phải, này Gia chủ.

− Bạch Thượng tọa, hiện nay Tôn giả ấy ở đâu?

Khi được nói vậy, Tôn giả Isidattà im lặng.

− Bạch Thượng tọa, có phải Tôn đức ấy là Isidattà chăng?

− Thưa phải, này Gia chủ.

− Vậy bạch Thượng tọa, Tôn đức Isidattà hãy thỏa thích ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ hết sức cố gắng để cúng dường Tôn đức Isidattà với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

− Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ.

16. Rồi Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Isidattà, tự tay làm thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng hạng loại cứng và loại mềm.

17. Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

18. Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:

− Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được Hiền giả trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.

SN 41.4 Mahaka Mahakapāṭihāriyasutta

Một thời, một số Tỷ kheo trưởng lão đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại.

Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp họ, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với họ, “Thưa quý Trưởng lão, xin hãy nhận lời cúng dường bữa ăn ngày mai của con trong kho thóc của con.”

Họ im lặng nhận lời. Khi ấy, biết rằng các Tỷ kheo trưởng lão đã đồng ý, Citta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh họ theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi rời đi.

Rồi khi đêm đã qua, các Tỷ kheo trưởng lão đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến kho thóc của Citta, và ngồi xuống những chỗ đã được trải sẵn.

Khi ấy, Citta đã tự tay phục vụ và làm hài lòng các Tỷ kheo trưởng lão với món cơm sữa nấu với bơ sữa ngon lành. Khi các Tỷ kheo trưởng lão đã ăn xong và rửa tay và bát, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Citta chỉ thị rằng phần thức ăn còn lại sẽ được phân phát, rồi đi theo sau các Tỷ kheo trưởng lão.

Lúc bấy giờ, trời nóng như thiêu đốt. Và các Tỷ kheo trưởng lão đi bộ như thể thân thể họ đang tan chảy, như thường xảy ra sau bữa ăn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahaka là Tỷ kheo trẻ tuổi nhất trong Tăng đoàn đó. Khi ấy, Tôn giả Mahaka nói với vị trưởng lão cao niên, “Sẽ thật tuyệt vời, thưa Trưởng lão, nếu có một cơn gió mát thổi, một vòm mây hình thành, và một cơn mưa nhẹ lất phất?”

“Thật vậy, sẽ rất tuyệt, Tôn giả Mahaka.” Khi ấy, Mahaka đã dùng thần thông của mình để ước nguyện rằng một cơn gió mát sẽ thổi, một vòm mây sẽ hình thành, và một cơn mưa nhẹ sẽ lất phất.

Khi ấy, Citta nghĩ, “Vị Tỷ kheo trẻ tuổi nhất trong Tăng đoàn này lại có thần thông như vậy!”

Khi họ đến tu viện, Mahaka nói với vị trưởng lão cao niên, “Thưa Trưởng lão, như vậy đã đủ chưa?”

“Đã đủ rồi, Tôn giả Mahaka, thầy đã làm đủ và cúng dường đủ rồi.” Khi ấy, các Tỷ kheo trưởng lão vào nơi ở của mình, và Mahaka vào nơi ở của riêng mình.

Khi ấy, Citta đến gặp Mahaka, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với ngài, “Thưa ngài, xin hãy cho con xem một màn trình diễn thần thông siêu phàm.”

“Vậy thì, gia chủ, hãy đặt áo choàng của ông lên hiên và trải một nắm cỏ lên đó.”

“Vâng, thưa ngài,” Citta trả lời, và làm theo lời ngài.

Mahaka vào nơi ở của mình và chốt cửa lại. Sau đó, ngài dùng thần thông của mình để ước nguyện rằng một ngọn lửa phụt ra qua lỗ khóa và khe cửa, và nó đốt cháy hết cỏ nhưng không làm cháy áo choàng. Khi ấy, Citta giũ áo choàng của mình và đứng sang một bên, kinh ngạc và kính sợ.

Mahaka rời khỏi nơi ở của mình và nói với Citta, “Như vậy đã đủ chưa, gia chủ?”

“Đã đủ rồi, thưa ngài, ngài đã làm đủ và cúng dường đủ rồi. Tôi hy vọng Tôn giả Mahaka vui vẻ ở đây tại Macchikāsaṇḍa, vì Rừng Xoài Dại rất đáng yêu. Tôi sẽ đảm bảo rằng Tôn giả Mahaka được cung cấp y, thực phẩm khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh.”

“Gia chủ thật tốt bụng khi nói vậy.”

Nhưng Mahaka đã thu dọn chỗ ở của mình, mang bát và y, rời khỏi Macchikāsaṇḍa, và không bao giờ trở lại.

IV. Mahaka (S.iv,288)

1. Một thời, một số đông các Tỷ-kheo trưởng lão trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.

Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.

4-5. (Như đoạn 4,5 của kinh trước).

6. Rồi gia chủ Citta tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

7. Các Tỷ-kheo trưởng lão sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Citta, sau khi nói: “Hãy thâu lượm lại các đồ ăn dư tàn”, liền đi theo sau lưng các Tỷ-kheo trưởng lão.

8. Lúc bấy giời, trời nóng rất là gay gắt (kutthitam). Và các Tỷ-kheo trưởng lão ấy đi với thân như bị chảy thành nước, vì các vị ấy đã ăn bữa ăn đầy đủ.

9. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahaka là vị mới tu nhất giữa chúng Tỷ-kheo ấy. Rồi Tôn giả Mahaka thưa với Tôn giả Thera:

− Lành thay, bạch Thượng tọa Thera, nếu có luồng gió mát thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

− Lành thay, này Hiền giả Mahaka, nếu có luồng gió mát thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

10. Rồi Tôn giả Mahaka thực hành thần thông khiến cho gió mát thổi, cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

11. Rồi cư sĩ Citta suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo này lại có được thần thông lực như vậy”.

12. Rồi Tôn giả Mahaka sau khi đến ngôi vườn (tịnh xá) liền nói với Tôn giả Thera:

− Bạch Thượng tọa Thera, như vậy là vừa rồi.

− Như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Làm như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka.

13. Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão đi đến ngôi tịnh xá, còn Tôn giả Mahaka đi đến tịnh xá của mình.

14. Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Mahaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahaka rồi ngồi xuống một bên.

15. Ngồi một bên, gia chủ Citta nói Tôn giả Mahaka:

− Lành thay, bạch Thượng tọa, nếu Tôn đức Mahaka thị hiện cho con thấy thượng nhân pháp thần thông.

− Vậy này Gia chủ, hãy trải thượng y trong hành lang và rải một bó cỏ.

− Thưa vâng, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta vâng đáp Tôn giả Mahaka, cho trải thượng y trong hành lang, và rải một bó cỏ.

16. Rồi Tôn giả Mahaka vào trong tịnh xá, gài then cửa lại, thực hành thần thông lực khiến cho ngọn lửa phun ra từ lỗ ống khóa và giữa các khe cửa, đốt cháy cỏ nhưng không đốt cháy thượng y.

17. Gia chủ Citta đập thượng y, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đứng một bên.

18. Rồi Tôn giả Mahaka, từ tịnh xá đi ra và nói với gia chủ Citta:

− Thôi, như vậy là vừa rồi, này Gia chủ.

− Thôi, như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Làm như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Bạch Thượng tọa, mong Tôn đức Mahaka hãy sống thoải mái ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ cố gắng cúng dường cho Tôn giả Mahaka các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

− Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ!

19. Rồi Tôn giả Mahaka dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, đi ra khỏi Macchikàasanda, và như vậy từ biệt Macchikàsanda không còn trở lui lại nữa.

SN 41.5 Với Kāmabhū (Thứ nhất) Paṭhamakāmabhūsutta

Một thời, Tôn giả Kāmabhū đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại.

Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp Tôn giả Kāmabhū, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Kāmabhū nói với ông, "Gia chủ, có câu nói này:

‘Với bánh xe không tì vết và tán lọng trắng,
cỗ xe một nan hoa lăn bánh.
Hãy xem nó đến, không phiền muộn,
với dòng chảy đã cắt, không bị trói buộc.’

Chúng ta nên hiểu ý nghĩa chi tiết của câu nói ngắn gọn này như thế nào?"

“Thưa ngài, điều này có phải do Đức Phật nói không?”

“Vâng, gia chủ.”

“Vậy thì, thưa ngài, xin hãy đợi một lát để con suy ngẫm về ý nghĩa của điều này.” Sau khi im lặng một lúc, Citta nói với Kāmabhū:

"Thưa ngài, ‘bánh xe không tì vết’ là một thuật ngữ chỉ giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức).

‘Tán lọng trắng’ là một thuật ngữ chỉ sự giải thoát.

‘Một nan hoa’ là một thuật ngữ chỉ sự tỉnh thức.

‘Lăn bánh’ là một thuật ngữ chỉ sự tiến tới và quay về.

‘Cỗ xe’ là một thuật ngữ chỉ thân này được tạo thành từ bốn yếu tố chính, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, chịu sự vô thường, sự mài mòn và hao tổn, sự tan rã và hủy diệt.

Tham, sân, và si là những phiền muộn. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm được gọi là ‘không phiền muộn’.

‘Người đến’ là một thuật ngữ chỉ bậc A-la-hán.

‘Dòng chảy’ là một thuật ngữ chỉ sự ham muốn. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ nó, cắt đứt nó tận gốc, làm cho nó như một gốc cây cọ, và xóa sổ nó, để nó không thể phát sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm được cho là đã ‘cắt đứt dòng chảy’.

Tham, sân, và si là những ràng buộc. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai. Đó là lý do tại sao một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm được gọi là ‘không bị trói buộc’.

Vậy, thưa ngài, đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Đức Phật đã nói một cách ngắn gọn:

‘Với bánh xe không tì vết và tán lọng trắng,
cỗ xe một nan hoa lăn bánh.
Hãy xem nó đến, không phiền muộn,
với dòng chảy đã cắt, không bị trói buộc.’"

“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn, khi có thể thâm nhập vào những giáo lý sâu sắc của Đức Phật bằng con mắt trí tuệ.”

V. Kàmabhù (1)(S.iv,291)

1. Một thời Tôn giả Kàmabhù trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhù; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù rồi ngồi xuống một bên.

3. Tôn giả Kàmabhù nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:

− Này Gia chủ, lời này được nói đến:

Bộ phận được tinh thuần,
Mái trần che mầu trắng,
Chỉ có một bánh xe,
Cỗ xe liên tục chạy.
Hãy xem vị đang đến,
Không vi phạm lỗi lầm,

Chặt đứt được dòng nước,
Không còn bị trói buộc.

Này Gia chủ, lời nói vắn tắt này, ý nghĩa phải được hiểu như thế nào một cách rộng rãi?

− Bạch Thượng tọa, có phải lời nói này được Thế Tôn nói đến?

− Ðúng vậy, này Gia chủ.

− Vậy hãy chờ một lát, bạch Thượng tọa, con sẽ nghĩ đến ý nghĩa.

4. Rồi cư sĩ Citta, sau khi im lặng một lát, thưa với Tôn giả Kàmabhù:

− “Bộ phận được tinh thuần”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với các giới luật. “Mái trần che màu trắng”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với giải thoát. “Một bánh xe”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với niệm. “Liên tục chạy”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với đi tới đi lui. “Cỗ xe”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại tạo thành này, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, bị biến hoại, bị tiêu mòn, bị tiêu hủy, bị hủy diệt. Tham, bạch Thượng tọa, là một lỗi lầm. Sân là một lỗi lầm. Si là một lỗi lầm. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng được đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, không có thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc được gọi là không vi phạm lỗi lầm. “Vị đang đến”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với vị A-la-hán. “Dòng nước”, bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với khát ái. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khát ái ấy được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không có thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc được gọi là chặt đứt được dòng nước.

Tham, bạch Thượng tọa, là trói buộc. Sân là trói buộc. Si là trói buộc. Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, chúng được đoạn tận, chặt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc được gọi là không bị trói buộc.

5. Như vậy, bạch Thượng tọa, lời nói này được Thế Tôn nói đến:

Bộ phận được tinh thuần,
Mái trần che mầu trắng,
Chỉ có một bánh xe,
Cỗ xe liên tục chạy.
Hãy xem vị đang đến,
Không vi phạm lỗi lầm,
Chặt đứt được dòng nước,
Không còn bị trói buộc.

Bạch Thượng tọa, lời nói vắn tắt này, ý nghĩa cần phải được hiểu rộng là như vậy.

6. −Lợi đắc thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Ông, này Gia chủ!

Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục lời dạy thâm sâu của đức Phật.

SN 41.6 Với Kāmabhū (Thứ hai) Dutiyakāmabhūsutta

Một thời, Tôn giả Kāmabhū đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại. Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp Tôn giả Kāmabhū, ngồi xuống một bên, và nói với ngài:

“Thưa ngài, có bao nhiêu loại hành (processes / các tiến trình)?”

“Gia chủ, có ba loại hành. Thân hành, khẩu hành, và ý hành.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” Citta tán thành và đồng ý với những gì Kāmabhū nói. Sau đó, ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, thân hành là gì? Khẩu hành là gì? Ý hành là gì?”

“Hơi thở là một tiến trình thuộc về thân. Có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected / hướng ý nghĩ về một đề tài và giữ sự quan sát đề tài đó) là các tiến trình thuộc về lời nói. Nhận thức (perception / tưởng / nhận thức, suy nghĩ) và cảm giác (feeling / thọ) là các tiến trình thuộc về tâm.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, tại sao hơi thở là một tiến trình thuộc về thân? Tại sao có tầm có tứ là các tiến trình thuộc về lời nói? Tại sao nhận thức và cảm giác là các tiến trình thuộc về tâm?”

“Hơi thở thuộc về thân thể. Nó gắn liền với thân thể, đó là lý do tại sao hơi thở là một tiến trình thuộc về thân. Trước tiên, bạn hướng ý nghĩ và giữ sự quan sát, sau đó bạn mới nói ra lời. Đó là lý do tại sao có tầm có tứ là các tiến trình thuộc về lời nói. Nhận thức và cảm giác thuộc về tâm. Chúng gắn liền với tâm, đó là lý do tại sao nhận thức và cảm giác là các tiến trình thuộc về tâm.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, làm thế nào một người đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác?”

“Một Tỷ kheo đang nhập vào một trạng thái như vậy không nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nhập vào sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác’ hay ‘Tôi đang nhập vào sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác’ hay ‘Tôi đã nhập vào sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác.’ Thay vào đó, tâm của họ đã được phát triển từ trước để dẫn đến một trạng thái như vậy.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, điều gì chấm dứt trước tiên đối với một Tỷ kheo đang nhập vào sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác: các tiến trình thuộc về thân, lời nói, hay tâm?”

“Các tiến trình thuộc về lời nói chấm dứt trước, sau đó là thân, rồi đến tâm.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Sự khác biệt giữa một người đã qua đời và một Tỷ kheo đã đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác là gì?”

“Khi một người chết, các tiến trình thuộc về thân, lời nói, và tâm của họ đã chấm dứt và lắng dịu; sinh lực của họ đã cạn; hơi ấm của họ đã tan biến; và các giác quan của họ đã tan rã. Khi một Tỷ kheo đã đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác, các tiến trình thuộc về thân, lời nói, và tâm của họ đã chấm dứt và lắng dịu. Nhưng sinh lực của họ không cạn; hơi ấm của họ không tan biến; và các giác quan của họ rất sáng rõ. Đó là sự khác biệt giữa một người đã qua đời và một Tỷ kheo đã đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, làm thế nào một người xuất ra khỏi sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác?”

“Một Tỷ kheo đang xuất ra khỏi một trạng thái như vậy không nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ xuất ra khỏi sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác’ hay ‘Tôi đang xuất ra khỏi sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác’ hay ‘Tôi đã xuất ra khỏi sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác.’ Thay vào đó, tâm của họ đã được phát triển từ trước để dẫn đến một trạng thái như vậy.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, điều gì phát sinh trước tiên đối với một Tỷ kheo đang xuất ra khỏi sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác: các tiến trình thuộc về thân, lời nói, hay tâm?”

“Các tiến trình thuộc về tâm phát sinh trước, sau đó là thân, rồi đến lời nói.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, khi một Tỷ kheo đã xuất ra khỏi sự chứng đắc sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác, họ trải nghiệm bao nhiêu loại tiếp xúc?”

“Họ trải nghiệm ba loại tiếp xúc: tiếp xúc rỗng không (emptiness/ không / trống rỗng), không hình dáng (signless / vô tướng / không có hình dáng), và không phương hướng (undirected / vô nguyện / không phương hướng).”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, khi một Tỷ kheo đã xuất ra khỏi sự chứng đắc sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác, tâm của họ hướng về, nghiêng về, và xuôi về đâu?”

“Tâm của họ hướng về, nghiêng về, và xuôi về sự ẩn dật.”

Nói “Hay thay, thưa ngài,” Citta tán thành và đồng ý với những gì Kāmabhū nói. Sau đó, ông hỏi một câu hỏi khác:

“Nhưng thưa ngài, có bao nhiêu điều hữu ích cho việc đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác?”

“Chà, gia chủ, cuối cùng ông cũng đã hỏi điều mà ông nên hỏi đầu tiên! Tuy nhiên, tôi sẽ trả lời ông. Hai điều hữu ích cho việc đạt được sự chấm dứt của nhận thức và cảm giác là: sự tĩnh lặng và sự sáng suốt (chỉ và quán).”

VI. Kàmabhù (2) (S.iv,193)

1. Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2. Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:

− Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?

− Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.

− Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:

− Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu hành? Thế nào là ý hành?

− Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.

− Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói… hỏi thêm câu hỏi nữa:

5. − Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành? Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là ý hành?

− Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành. Trước phải tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát lời nói; do vậy, tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về ý. Những pháp này liên hệ đến tâm; do vậy, tưởng và thọ là ý hành.

− Lành thay, bạch Thượng tọa.

… hỏi thêm câu hỏi nữa:

6. − Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng định?

− Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định không có nghĩ rằng: “Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.

− Lành thay…

… hỏi thêm câu nữa:

7. − Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay ý hành?

− Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, khẩu hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi đến ý hành.

− Lành thay…

… hỏi thêm câu hỏi nữa:

8. − Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác gì?

− Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ mạng được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia chủ, người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác như vậy.

− Lành thay…

… hỏi thêm câu hỏi nữa.

9. − Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ tưởng định?

− Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không có suy nghĩ: “Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đang ra khỏi Diệt thọ tưởng định”, hay: “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”. Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.

− Lành thay, bạch Thượng tọa…

… hỏi thêm câu hỏi nữa:

10. − Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay ý hành?

− Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.

− Lành thay, bạch Thượng tọa…

…hỏi thêm câu hỏi nữa:

11. − Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, cảm giác được bao nhiêu xúc?

− Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được ba xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.

− Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ… và hỏi thêm câu hỏi nữa:

12. − Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?

− Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm vị ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly.

− Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi hỏi thêm câu hỏi nữa:

13. − Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?

− Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước, Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ. Này Gia chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ tưởng định được chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán.

SN 41.7 Với Godatta Godattasutta

Một thời, Tôn giả Godatta đang ở gần Macchikāsaṇḍa trong Rừng Xoài Dại. Khi ấy, gia chủ Citta đến gặp Tôn giả Godatta, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Godatta nói với ông:

“Gia chủ, tâm giải thoát vô lượng, và tâm giải thoát qua vô sở hữu xứ, và tâm giải thoát qua tánh không, và tâm giải thoát vô tướng: những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt? Hay chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt?”

"Thưa ngài, có một cách mà những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt. Nhưng cũng có một cách mà chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt.

Và cách mà những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt là gì?

Đó là khi một Tỷ kheo thiền định, lan tỏa một tâm đầy từ ái đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa một tâm đầy từ ái đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô lượng, không hận thù và ác ý. Họ thiền định, lan tỏa một tâm đầy bi mẫn… Họ thiền định, lan tỏa một tâm đầy hân hoan… Họ thiền định, lan tỏa một tâm đầy xả ly đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa một tâm đầy xả ly đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô lượng, không hận thù và ác ý. Đây được gọi là tâm giải thoát vô lượng.

Và tâm giải thoát qua vô sở hữu xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi vô biên thức, nhận thức rằng ‘không có gì cả’, nhập và an trú trong cõi vô sở hữu xứ. Đây được gọi là tâm giải thoát qua vô sở hữu xứ.

Và tâm giải thoát qua tánh không là gì? Đó là khi một Tỷ kheo đã đi đến một nơi hoang dã, hoặc đến gốc cây, hoặc đến một căn lều trống, và suy ngẫm như thế này: ‘Cái này trống rỗng, không có một cái tôi hay những gì thuộc về một cái tôi.’ Đây được gọi là tâm giải thoát qua tánh không.

Và tâm giải thoát vô tướng là gì? Đó là khi một Tỷ kheo, không chú ý đến bất kỳ dấu hiệu nào, nhập và an trú trong sự nhập định vô tướng của tâm. Đây được gọi là tâm giải thoát vô tướng.

Đây là cách mà những điều này khác nhau cả về ý nghĩa và cách diễn đạt.

Và cách mà chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt là gì?

Tham, sân, và si là những thứ tạo ra giới hạn. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai. Tâm giải thoát không lay chuyển được cho là loại tâm giải thoát vô lượng tốt nhất. Tâm giải thoát không lay chuyển đó trống rỗng không có tham, sân, và si.

Tham là một cái gì đó, sân là một cái gì đó, và si là một cái gì đó. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai. Tâm giải thoát không lay chuyển được cho là loại tâm giải thoát qua vô sở hữu xứ tốt nhất. Tâm giải thoát không lay chuyển đó trống rỗng không có tham, sân, và si.

Tham, sân, và si là những thứ tạo ra dấu hiệu. Một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm đã từ bỏ chúng, cắt đứt chúng tận gốc, làm cho chúng như một gốc cây cọ, và xóa sổ chúng, để chúng không thể phát sinh trong tương lai. Tâm giải thoát không lay chuyển được cho là loại tâm giải thoát vô tướng tốt nhất. Tâm giải thoát không lay chuyển đó trống rỗng không có tham, sân, và si.

Đây là cách mà chúng có cùng ý nghĩa, và chỉ khác nhau về cách diễn đạt."

“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn, khi có thể thâm nhập vào những giáo lý sâu sắc của Đức Phật bằng con mắt trí tuệ.”

VII. Godatta (S.iv,295)

1. Một thời Tôn giả Godatta trú ở Macchikàsanda, tại Ambàtavana.

2. Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Godatta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Godatta rồi ngồi xuống một bên.

3. Tôn giả Godatta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:

− Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát, những pháp này là khác ngôn từ, hay đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ?

− Bạch Thượng tọa, có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này khác nghĩa, khác ngôn từ. Bạch Thượng tọa, cũng có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.

4. − Nhưng, này Gia chủ, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ?

5. − Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu với hỷ… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô lượng tâm giải thoát.

6. Và bạch Thượng tọa, như thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, Tỷ-kheo vượt lên Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô sở hữu tâm giải thoát.

7. Và bạch Thượng tọa, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống và suy tư: “Cái này là trống không tự ngã hay ngã sở hữu”. Bạch Thượng tọa, đây gọi là không tâm giải thoát.

8. Và bạch Thượng tọa, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát.

9. Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.

10. Và bạch Thượng tọa, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?

11. Tham dục (ràga) làm sự đo lường, sân làm sự đo lường, si làm sự đo lường. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối các vô lượng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

12. Tham dục, bạch Thượng tọa, là một chướng ngại, sân là một chướng ngại, si là một chướng ngại. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô sở hữu tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này được trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

13. Tham dục, bạch Thượng tọa, tác thành tướng, sân tác thành tướng, si tác thành tướng. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt đứt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô tướng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.

14. Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, do pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ.

SN 41.8 Vị Tu Sĩ Lõa Thể Thuộc Dòng Dõi Ñātika Nigaṇṭhanāṭaputtasutta

Lúc bấy giờ, vị tu sĩ lõa thể thuộc dòng dõi Ñātika đã đến Macchikāsaṇḍa cùng với một hội chúng đông đảo các tu sĩ lõa thể.

Gia chủ Citta nghe tin họ đã đến. Cùng với một số tín đồ tại gia, ông đến gặp vị tu sĩ lõa thể Ñātika và trao đổi lời chào hỏi với ông ta.

Khi những lời chào hỏi và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên. Vị tu sĩ lõa thể Ñātika nói với ông, “Gia chủ, ông có niềm tin vào lời tuyên bố của tu sĩ Gotama rằng có một trạng thái nhập định không tầm, chỉ có tứ ( without placing the mind and keeping it connected. / không hướng ý nghĩ về đề tài nào và chỉ im lặng để quan sát).; rằng có sự chấm dứt của việc có tầm có tứ không?”

“Thưa ngài, trong trường hợp này, tôi không dựa vào niềm tin vào lời tuyên bố của Đức Phật rằng có một trạng thái nhập định không tầm, chỉ có tứ; rằng có sự chấm dứt của việc có tầm có tứ.”

Khi ông nói điều này, vị tu sĩ lõa thể Ñātika nhìn lên hội chúng của mình và nói, “Hãy xem, các bạn hiền, gia chủ Citta này thẳng thắn làm sao! Ông ta không hề gian xảo hay lừa dối. Tưởng tượng rằng bạn có thể dừng việc có tầm có tứ cũng giống như tưởng tượng rằng bạn có thể bắt gió bằng lưới, hay ngăn sông Hằng bằng chính tay mình.”

“Ngài nghĩ sao, thưa ngài? Cái nào tốt hơn—kiến thức hay niềm tin?”

“Kiến thức chắc chắn tốt hơn niềm tin, gia chủ.”

"Vậy thì thưa ngài; tôi có thể bất cứ khi nào tôi muốn, thực hiện việc hoàn toàn xa lìa các thú vui giác quan, xa lìa các phẩm chất bất thiện, tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ nhất, có sự hân hoan và an vui sinh ra từ sự ly dục, trong khi vẫn có tầm có tứ. Và bất cứ khi nào tôi muốn, khi tầm và tứ đã lắng dịu… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ hai. Và bất cứ khi nào tôi muốn, với sự phai nhạt của hân hoan… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ ba. Và bất cứ khi nào tôi muốn, từ bỏ an vui và khổ đau… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ tư.

Và như vậy, thưa ngài, vì tôi đã biết và thấy như thế, thì tại sao tôi phải dựa vào niềm tin vào một tu sĩ hay bà-la-môn khác, người nói rằng có một trạng thái nhập định không tầm, chỉ có tứ; rằng có sự chấm dứt của việc có tầm có tứ?"

Khi ông nói điều này, vị tu sĩ lõa thể Ñātika liếc nhìn hội chúng của mình và nói, “Hãy xem, các bạn hiền, gia chủ Citta này quanh co làm sao! Ông ta thật gian xảo và lừa dối!”

"Thưa ngài, vừa rồi tôi nghe ngài nói rằng: ‘Hãy xem, các bạn hiền, gia chủ Citta này thẳng thắn làm sao! Ông ta không hề gian xảo hay lừa dối.’ Nhưng sau đó tôi lại nghe ngài nói rằng: ‘Hãy xem, các bạn hiền, gia chủ Citta này quanh co làm sao! Ông ta thật gian xảo và lừa dối!’ Nếu câu nói đầu tiên của ngài là đúng, thì câu thứ hai là sai. Nếu câu nói đầu tiên của ngài là sai, thì câu thứ hai là đúng.

Và nữa, thưa ngài, mười câu hỏi hợp pháp này là có liên quan. Khi ngài hiểu ý nghĩa của chúng, thì, cùng với hội chúng các tu sĩ lõa thể của ngài, ngài có thể phản bác tôi. ‘Một điều: câu hỏi, tóm tắt, và câu trả lời. Hai… ba… bốn… năm… sáu… bảy… tám… chín… mười điều: câu hỏi, tóm tắt, và câu trả lời.’"

Sau đó, Citta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi mà không hỏi vị tu sĩ lõa thể Ñātika mười câu hỏi hợp pháp này.

VIII. Nigantha (Ni-kiền-tử) (S.iv,297)

1-2. Lúc bấy giờ, Nigantha Nàtaputta đã đi đến Macchikàsanda với một đại chúng Nigantha.

3. Gia chủ Citta được nghe Nigantha Nàtaputta đã đi đến Macchikàsanda với một đại chúng Nigantha.

4. Rồi gia chủ Citta cùng với một số đông gia chủ khác đi đến Niganttha Nàtaputta; sau khi đến, nói lên những lời hỏi thăm xã giao, sau khi nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu liền ngồi xuống một bên.

5. Nigantha Nàtaputta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:

− Có phải, này Gia chủ, Ông tin tưởng vào lời dạy này của Sa-môn Gotama: “Có một định không tầm, không tứ, có sự đoạn diệt các tầm và tứ”?

− Thưa Tôn giả, ở đây tôi không có đặt lòng tin vào Thế Tôn trong vấn đề: “Có một Thiền định không tầm, không tứ, có sự đoạn diệt các tầm và tứ”.

6. Ðược nghe nói vậy, Nigantha Nàtaputta nhìn quanh hội chúng của mình và nói:

− Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật chất trực là gia chủ Citta này! Thật không hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật không hư vọng là gia chủ Citta này! Ai nghĩ rằng tầm và tứ có thể đoạn diệt được tức là nghĩ rằng có thể trói được gió trong cái lưới. Ai nghĩ rằng tầm và tứ có thể đoạn diệt được tức là nghĩ rằng có thể dùng nắm tay của mình để chận đứng dòng nước sông Hằng.

7. − Tôn giả nghĩ thế nào, thưa Tôn giả, cái gì thù thắng hơn, trí hay là lòng tin?

− Này Gia chủ, trí thù thắng hơn lòng tin.

8. − Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, ly dục, ly bất thiện pháp, tôi chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi làm tịnh chỉ các tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi đoạn tận hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi có thể đoạn tận lạc… chứng và trú Thiền thứ tư. Biết như vậy, thưa Tôn giả, thấy như vậy, tôi sẽ đi đến lòng tin đối với bất cứ vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn nào rằng: “Có Thiền định không tầm, không tứ, có sự đoạn diệt các tầm và tứ”.

9. Khi nghe nói vậy, Nigantha Nàtaputta nhìn quanh hội chúng của mình và nói:

− Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật không chất trực là gia chủ Citta này! Thật hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật hư vọng là gia chủ Citta này!

− Thưa Tôn giả, tôi hiểu lời nói của Tôn giả rằng: “Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật chất trực là gia chủ Citta này! Thật không hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật không hư vọng là gia chủ Citta này!”. Và này, thưa Tôn giả, tôi hiểu lời nói của Tôn giả rằng: “Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật không chất trực là gia chủ Citta này! Thật hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật hư vọng là gia chủ Citta này!”

10. Thưa Tôn giả, nếu lời nói đầu tiên của Tôn giả là chơn chánh, thời lời nói sau của Tôn giả là hư ngụy. Thưa Tôn giả, nếu lời nói sau của Tôn giả là chơn chánh, thời lời nói đầu của Tôn giả là hư ngụy. Thưa Tôn giả, có mười câu hỏi hợp lý này, nếu Tôn giả hiểu ý nghĩa của chúng, thời Tôn giả đấm trả (patihareyyàsi) tôi một đấm cùng với chúng Nigantha. Một câu hỏi, một câu giải thích, một câu trả lời. Hai câu hỏi, hai câu giải thích, hai câu trả lời. Ba câu hỏi, ba câu giải thích, ba câu trả lời. Bốn câu hỏi, bốn câu giải thích, bốn câu trả lời. Năm câu hỏi, năm câu giải thích, năm câu trả lời. Sáu câu hỏi, sáu câu giải thích, sáu câu trả lời. Bảy câu hỏi, bảy câu giải thích, bảy câu trả lời. Tám câu hỏi, tám câu giải thích, tám câu trả lời. Chín câu hỏi, chín câu giải thích, chín câu trả lời. Mười câu hỏi, mười câu giải thích, mười câu trả lời.

11. Rồi gia chủ Citta không hỏi Nigantha Nàtaputta mười câu hỏi hợp lý này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

SN 41.9 Với Kassapa, Vị Tu Sĩ Lõa Thể Acelakassapasutta

Lúc bấy giờ, vị tu sĩ lõa thể Kassapa, một người bạn cũ của Citta thời còn tại gia, đã đến Macchikāsaṇḍa.

Gia chủ Citta nghe tin ông đã đến. Vậy nên ông đến gặp ông ta, và họ trao đổi lời chào hỏi.

Khi những lời chào hỏi và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với vị tu sĩ lõa thể Kassapa, “Thưa Tôn giả Kassapa, đã bao lâu rồi kể từ khi ngài xuất gia?”

“Đã ba mươi năm rồi, gia chủ.”

“Nhưng thưa ngài, trong ba mươi năm này, ngài có đạt được bất kỳ sự chứng đắc siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh, một sự an trú thoải mái trong thiền định không?”

“Tôi không có thành tựu nào như vậy, gia chủ, chỉ có sự lõa thể, cái đầu trọc, và những cú thúc vào mông.”

Citta nói với ông ta, “Ôi lạy trời, thật không thể tin được, thật đáng kinh ngạc, giáo pháp được giải thích thật hay. Vì trong ba mươi năm, ngài không đạt được sự chứng đắc siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh, không có sự an trú thoải mái trong thiền định, chỉ có sự lõa thể, cái đầu trọc, và những cú thúc vào mông.”

“Nhưng gia chủ, ông đã là một tín đồ tại gia bao lâu rồi?”

“Đã ba mươi năm rồi, thưa ngài.”

“Nhưng gia chủ, trong ba mươi năm này, ông có đạt được bất kỳ sự chứng đắc siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh, một sự an trú thoải mái trong thiền định không?”

"Làm sao mà không, thưa ngài? Tôi có thể làm như sau bất cứ khi nào tôi muốn, hoàn toàn xa lìa các thú vui giác quan, xa lìa các phẩm chất bất thiện, tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ nhất, có sự hân hoan và an vui sinh ra từ sự ly dục, trong khi vẫn có tầm có tứ. Và bất cứ khi nào tôi muốn, khi tầm và tứ đã lắng dịu… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ hai. Và bất cứ khi nào tôi muốn, với sự phai nhạt của hân hoan… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ ba. Và bất cứ khi nào tôi muốn, từ bỏ an vui và khổ đau… tôi nhập và an trú trong tầng thiền thứ tư.

Nếu tôi qua đời trước Đức Phật, sẽ không có gì lạ nếu Đức Phật tuyên bố về tôi rằng: ‘Gia chủ Citta không còn bị trói buộc bởi bất kỳ xiềng xích nào có thể khiến ông quay trở lại thế giới này.’"

Khi điều này được nói, Kassapa nói với Citta, “Ôi lạy trời, thật không thể tin được, thật đáng kinh ngạc, giáo pháp được giải thích thật hay. Vì một người tại gia mặc áo trắng có thể đạt được một sự chứng đắc siêu phàm như vậy trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh, một sự an trú thoải mái trong thiền định. Gia chủ, tôi có thể được xuất gia, được thọ giới trong giáo pháp và sự rèn luyện này không?”

Khi ấy, gia chủ Citta đưa vị tu sĩ lõa thể Kassapa đến gặp các Tỷ kheo trưởng lão, và nói với họ:

“Thưa quý ngài, đây là vị tu sĩ lõa thể Kassapa, người thời tại gia là một người bạn cũ của con. Xin quý Trưởng lão hãy cho ông ấy được xuất gia, được thọ giới. Con sẽ đảm bảo rằng ông ấy được cung cấp y, thực phẩm khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh.”

Và vị tu sĩ lõa thể Kassapa đã được xuất gia, được thọ giới trong giáo pháp và sự rèn luyện này. Không lâu sau khi thọ giới, Tôn giả Kassapa, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết đoán, đã sớm nhận ra mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống sau khi đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà những người con trai của gia đình chân chính từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà.

Ngài hiểu: “Sanh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa cho nơi này.” Và Tôn giả Kassapa đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

IX. Acela (Lõa thể) (S.iv,300)

1.. …

2. Lúc bấy giờ lõa thể Kassapa đã đi đến Macchikàsanda, một bạn cũ của gia chủ Citta khi còn là gia chủ.

3. Gia chủ Citta nghe lõa thể Kassapa, một bạn cũ của mình khi còn là gia chủ, đã đến Macchikàsanda.

Rồi gia chủ Citta đi đến lõa thể Kassapa; sau khi đến, nói lên với lõa thể Kassapa những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

4. Ngồi một bên, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:

− Tôn giả Kassapa, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?

− Này Gia chủ, ta đã xuất gia khoảng ba mươi năm.

5. − Thưa Tôn giả, trong ba mươi năm ấy, Tôn giả có chứng được pháp thượng nhơn nào, tri kiến thù thắng nào xứng đáng bậc Thánh và được lạc trú?

− Này Gia chủ, trong suốt ba mươi năm ấy, ta không chứng được và không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, ngoại trừ sự lõa thể, sự trọc đầu, sự phủi bụi và đất cát (pàvàlanipphotana).

6. Khi nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:

− Thật là bất tư nghì, thật là hy hữu, chánh pháp được thuyết trong suốt ba mươi năm ấy, không chứng được, không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!

7. − Này Gia chủ, đã bao lâu Ông làm người cư sĩ?

− Thưa Tôn giả, tôi thành người cư sĩ đã được ba mươi năm.

8. − Trong suốt ba mươi năm ấy, này Gia chủ, Ông có chứng được và được lạc trú pháp thượng nhân nào, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?

− Sao lại không vậy được, thưa Tôn giả! Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi chỉ tịnh tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, ly hỷ… tôi chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, đoạn tận lạc… tôi chứng và trú Thiền thứ tư. Nếu tôi mệnh chung sớm hơn Thế Tôn, thưa Tôn giả, không có gì lạ, nếu Thế Tôn sẽ nói về tôi như sau: “Không có một kiết sử nào, do bị trói buộc bởi kiết sử ấy, Citta trở lui tại thế giới này nữa”.

9. Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa nói với gia chủ Citta:

− Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, Chánh pháp được khéo thuyết. Một gia chủ mặc áo trắng lại có thể chứng đạt được, lại có thể lạc trú pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh! Thưa Gia chủ, hãy cho tôi được xuất gia trong Pháp và Luật này. Hãy cho tôi thọ đại giới.

10. Rồi gia chủ Citta đưa lõa thể Kassapa đến một số Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

− Bạch chư Thượng tọa, lõa thể Kassapa này là một người bạn của chúng con khi chúng con còn là gia chủ. Chư Thượng tọa hãy cho người này xuất gia, cho thọ đại giới. Con sẽ cố gắng cúng dường các vật liệu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

11. Lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp và Luật này, được thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu vị ấy đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: đó là Vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

12. Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.

SN 41.10 Thăm Bệnh Gilānadassanasutta

Lúc bấy giờ, gia chủ Citta đang bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng.

Khi ấy, một số vị trời ở các công viên, rừng, cây, và những vị trú ngụ trong các loại thảo mộc, cỏ, và cây lớn đã tụ tập lại và nói với Citta, “Gia chủ, hãy ước nguyện trở thành một vị vua chuyển luân trong tương lai!”

Khi họ nói điều này, Citta nói với họ, “Điều đó cũng vô thường! Điều đó cũng sẽ qua đi! Điều đó cũng sẽ phải bỏ lại!”

Khi ông nói điều này, bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và thân quyến của ông nói, “Hãy tỉnh thức, thưa ông chủ! Đừng nói lảm nhảm.”

“Tôi đã nói gì mà khiến quý vị nói vậy?”

“Đó là vì ông đã nói: ‘Điều đó cũng vô thường! Điều đó cũng sẽ qua đi! Điều đó cũng sẽ phải bỏ lại!’”

“Ồ, vậy à, đó là vì các vị trời ở các công viên, rừng, cây, và những vị trú ngụ trong các loại thảo mộc, cỏ, và cây lớn đã nói với tôi: ‘Gia chủ, hãy ước nguyện trở thành một vị vua chuyển luân trong tương lai!’ Vì vậy, tôi đã nói với họ: ‘Điều đó cũng vô thường! Điều đó cũng sẽ qua đi! Điều đó cũng sẽ phải bỏ lại!’”

“Nhưng họ thấy lý do gì để nói với ông như vậy?”

“Họ nghĩ: ‘Gia chủ Citta này có đạo đức, có phẩm hạnh tốt. Nếu ông ấy ước nguyện trở thành một vị vua chuyển luân trong tương lai, ước nguyện trong tâm của ông ấy sẽ thành công nhờ sự trong sạch của đạo đức. Và khi đó, với tư cách là một vị vua đúng đắn, có nguyên tắc, ông ấy sẽ cúng dường các vị trời một cách đúng đắn.’ Đó là lý do họ thấy để nói với tôi: ‘Gia chủ, hãy ước nguyện trở thành một vị vua chuyển luân trong tương lai!’ Vì vậy, tôi đã nói với họ: ‘Điều đó cũng vô thường! Điều đó cũng sẽ qua đi! Điều đó cũng sẽ phải bỏ lại!’”

“Vậy thì, thưa ông chủ, hãy khuyên bảo chúng tôi!”

"Vậy quý vị nên rèn luyện như thế này:

Chúng ta sẽ có niềm tin dựa trên kinh nghiệm vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn, thành tựu về tri kiến và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, người hướng dẫn tối cao cho những ai muốn được rèn luyện, thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’

Chúng ta sẽ có niềm tin dựa trên kinh nghiệm vào giáo pháp: ‘Giáo pháp được Đức Phật giải thích rõ ràng—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.’

Chúng ta sẽ có niềm tin dựa trên kinh nghiệm vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân chính, có hệ thống, và đúng đắn. Tăng đoàn bao gồm bốn đôi, tám cá nhân. Đây là Tăng đoàn của các đệ tử Đức Phật xứng đáng được cúng dường cho các vị trời, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng được cúng dường tôn giáo, xứng đáng được chắp tay chào, và là ruộng phước tối cao cho thế gian.’

Và chúng ta sẽ chia sẻ không dè dặt tất cả những món quà có sẵn để cho đi trong gia đình mình với những người có đạo đức và phẩm hạnh tốt."

Sau đó, sau khi Citta đã khuyến khích bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và thân quyến của mình về Đức Phật, giáo pháp, Tăng đoàn, và sự rộng lượng, ông đã qua đời.

X. Thăm Người Bệnh (S.iv,302)

1-2. Lúc bấy giờ, gia chủ Citta bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3. Rồi số đông chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng tụ hội lại và nói với gia chủ Citta:

− Này Gia chủ hãy nguyện: “Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương!”

Khi được nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng:

− Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua.

4. Khi được nghe nói vậy, các bạn bè thân hữu, các bà con huyết thống nói với gia chủ Ciita:

− Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói lung tung.

− Tôi nói với các vị những gì khiến các vị nói với tôi: “Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói lung tung”?

− Này Thiện nam tử, vì Ông nói như sau: “Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua”.

− Vì rằng, chư Thiên các hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng đã nói với tôi như sau: “Này Gia chủ, hãy nguyện: ‘Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương’”. Cho nên tôi mới trả lời với họ: ‘Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua’".

5. − Này Thiện gia nam tử, các chư Thiên ở hoa viên… các cây trong rừng đã quán thấy ý nghĩa gì mà nói với Ông: “Này Gia chủ hãy nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương”"?

− Các chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng ấy đã suy nghĩ như sau: “Gia chủ Citta này giữ giới, tánh thiện, nếu phát nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương!” Tâm nguyện thanh tịnh, đúng pháp, sẽ làm cho thành công người trì giới, sẽ đem đến quả đúng pháp". Chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng ấy, do quán thấy ý nghĩa như vậy nên đã nói như sau: “Này Gia chủ, hãy phát nguyện: 'Trong tương lai ta làm vị Chuyển luân Thánh vương”". Do vậy, tôi nói với họ: “Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua”.

− Này Thiện gia nam tử, hãy giáo giới cho chúng tôi.

− Vậy các Ông cần phải học như sau: “Chúng tôi sẽ đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật: 'Vị ấy là Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Chúng tôi sẽ có đủ lòng tin bất động đối với Pháp: ‘Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu’. Chúng tôi sẽ có đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: ‘Thiện hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Như lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Thanh tịnh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được kính lễ, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời’. Tất cả những gì có thể đem cho trong gia tộc, tất cả phải đem cúng dường, phân phát cho những vị trì giới và có thiện tánh".

Như vậy, các Ông cần phải học tập.

7. Khi gia chủ Citta khiến cho các bạn bè thân hữu, các bà con huyết thống có tịnh tín đối với đức Phật, đối với chúng Tăng và khuyên họ bố thí, vị ấy liền mệnh chung.

-ooOoo-