Tại Sāvatthī.
Khi ấy, vị trưởng làng tên là Caṇḍa (Nóng Nảy) đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, do đâu là nguyên nhân, do đâu là duyên cớ mà một số người bị xem là nóng nảy, trong khi những người khác lại được xem là hiền hòa?”
"Này trưởng làng, hãy xem một người chưa từ bỏ lòng tham. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Họ chưa từ bỏ lòng căm ghét. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Họ chưa từ bỏ sự mê muội. Vì vậy, họ bị người khác làm phiền, và họ biểu lộ điều đó ra. Họ bị xem là nóng nảy. Đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà một số người bị xem là nóng nảy.
Nhưng hãy xem một người đã từ bỏ tham (greed / lòng tham). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Họ đã từ bỏ sân (hate / lòng căm ghét). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Họ đã từ bỏ si (delusion / sự mê muội). Vì vậy, họ không bị người khác làm phiền, và không biểu lộ điều đó ra. Họ được xem là hiền hòa. Đây là nguyên nhân, đây là duyên cớ mà một số người được xem là hiền hòa."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng tên là Caṇḍa thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được vật ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2. Rồi thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
− Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo? Do nhân gì, do duyên gì ở đây, có người được gọi là hiền lành (sùrato)?
4. − Ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục (ràyo) chưa được đoạn tận. Do tham dục (ràga) chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Sân chưa được đoạn tận. Do sân chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo. Si chưa được đoạn tận. Do si chưa được đoạn tận, người ấy bị người khác làm cho phẫn nộ. Do bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là tàn bạo.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là tàn bạo.
5. Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, có người tham dục được đoạn tận. Do tham dục được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Sân được đoạn tận. Do sân đã được đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành. Si đã được đoạn tận. Do si đã đoạn tận nên người ấy không bị người khác làm cho phẫn nộ. Do không bị người khác làm cho phẫn nộ nên phẫn nộ không hiện hành. Người ấy do vậy được gọi là hiền lành.
Này Thôn trưởng, đây là nhân, đây là duyên, ở đây, có người được gọi tên là hiền lành.
6. Ðược nghe nói vậy, thôn trưởng Canda bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Khi ấy, Tālapuṭa, một trưởng đoàn kịch, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.’ Đức Phật nói gì về điều này?”
“Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.”
Lần thứ hai…
Và lần thứ ba, Tālapuṭa thưa với Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.’ Đức Phật nói gì về điều này?”
"Rõ ràng là, trưởng làng, ta không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: ‘Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.’ Tuy nhiên, ta sẽ trả lời ông.
Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi lòng tham, và vẫn bị lòng tham trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn khêu gợi hơn nữa. Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi lòng căm ghét, và vẫn bị lòng căm ghét trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn đáng ghét hơn nữa. Khi chúng sanh vẫn chưa thoát khỏi sự mê muội, và vẫn bị sự mê muội trói buộc, một nghệ sĩ kịch trên sân khấu hay tại lễ hội lại trình diễn cho họ những điều còn mê muội hơn nữa. Và như vậy, tự mình sao nhãng và buông lung, họ lại khuyến khích người khác sao nhãng và buông lung. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào địa ngục tên là ‘Tiếng Cười’.
Nhưng nếu ông có quan điểm như vậy: ‘Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.’ Đây là tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm) của ông. Một người có tà kiến sẽ được tái sanh vào một trong hai nơi, ta nói: địa ngục hoặc cõi súc sanh."
Khi Ngài nói vậy, Tālapuṭa khóc và bật khóc nức nở.
“Đây là điều mà ta đã không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: ‘Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.’”
"Bạch Thế Tôn, con không khóc vì những gì Đức Phật nói. Nhưng bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài con đã bị lừa dối, bị gạt, và bị lừa phỉnh bởi các nghệ sĩ kịch đời trước, những người thầy của các bậc thầy, khi họ nói: ‘Giả sử một nghệ sĩ kịch làm cho mọi người vui vẻ và giải trí trên sân khấu hay tại một lễ hội bằng sự thật và dối trá. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh cùng với các vị chư thiên hay cười.’
Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! Như thể lật ngửa vật bị úp, hay phơi bày vật bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy được vật ở đó, Đức Phật đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Bạch Thế Tôn, xin cho con được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật?"
Và trưởng đoàn kịch Tālapuṭa đã được xuất gia, thọ giới trước sự hiện diện của Đức Phật. Không lâu sau khi xuất gia, Tôn giả Tālapuṭa đã trở thành một trong những vị A-la-hán (perfected / người đã giác ngộ hoàn toàn).
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
− Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
− Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
4. Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
− Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
5. Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
− Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
6. Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.
7. Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: “Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.
8. Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
− Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
− Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: “Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”.
9. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
10. Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
11. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa… trở thành một vị A-la-hán nữa.
Khi ấy, Yodhājīva, vị trưởng làng chiến binh, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.’ Đức Phật nói gì về điều này?”
“Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.”
Lần thứ hai…
Và lần thứ ba, vị trưởng làng chiến binh thưa với Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, nói rằng: ‘Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.’ Đức Phật nói gì về điều này?”
"Rõ ràng là, trưởng làng, ta không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: ‘Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.’ Tuy nhiên, ta sẽ trả lời ông.
Khi một chiến binh nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, tâm trí của anh ta đã trở nên thấp hèn, suy đồi, và hướng sai lạc khi anh ta nghĩ: ‘Mong cho những chúng sanh này bị giết, bị tàn sát, bị sát hại, bị tiêu diệt, hoặc bị hủy diệt!’ Kẻ thù của anh ta giết anh ta và kết liễu anh ta, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh vào địa ngục tên là ‘Tử Trận’.
Nhưng nếu ông có quan điểm như vậy: ‘Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.’ Đây là tà kiến của ông. Một người có tà kiến sẽ được tái sanh vào một trong hai nơi, ta nói: địa ngục hoặc cõi súc sanh."
Khi Ngài nói vậy, Yodhājīva, vị trưởng làng chiến binh, khóc và bật khóc nức nở.
“Đây là điều mà ta đã không thể làm cho ông hiểu khi ta nói: ‘Thôi đủ rồi, trưởng làng, hãy để yên đó. Đừng hỏi ta điều đó.’”
"Bạch Thế Tôn, con không khóc vì những gì Đức Phật nói. Nhưng bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài con đã bị lừa dối, bị gạt, và bị lừa phỉnh bởi các chiến binh đời trước, những người thầy của các bậc thầy, khi họ nói: ‘Giả sử một chiến binh, trong khi nỗ lực và chiến đấu trên chiến trường, bị kẻ thù giết chết và kết liễu. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sanh cùng với các vị chư thiên của những người tử trận.’
Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời."
1. …
2. Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
− Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
− Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
4. Lần thứ hai…
5. Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
− Thật sự, Ta đã không chấp nhận và (nói rằng): “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
6. Này Thôn trưởng, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: “Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!”, hay: “Mong họ chớ có tồn tại!” Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: “Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh.
7. Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi nước mắt.
− Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
− Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: “Ai là người chiến đấu viên giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”.
8. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!
Khi ấy, một vị trưởng làng nài voi đến gặp Đức Phật… “Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. …
2-8. (Giống như kinh trước, chỉ khác đấy là vị tượng sư hay người nài voi).
Khi ấy, một vị trưởng làng kỵ binh đến gặp Đức Phật…
“Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1-8. (Giống như kinh trước, chỉ khác đấy là vị mã sư hay người huấn luyện ngựa).
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.
Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, có những vị Bà-la-môn ở phương tây mình khoác rêu, tay mang bình nước, ngâm mình trong nước, và thờ ngọn lửa thiêng. Khi có người qua đời, họ thực sự nâng người đó lên, đưa người đó lên, và dẫn dắt người đó đến thiên đàng. Nhưng còn Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác: Ngài có thể đảm bảo rằng cả thế giới sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời khi thân hoại mạng chung, sau khi chết không?”
"Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ tham lam, sân độc, và có tà kiến. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh họ với hai tay chắp lại và nói: ‘Khi người này thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong rằng họ sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời!’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Người đó có được tái sanh lên cõi trời nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Trưởng làng, giả sử một người ném một tảng đá lớn xuống một hồ nước sâu. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh nó với hai tay chắp lại và nói: ‘Hãy nổi lên, hòn đá tốt! Hãy trôi đi, hòn đá tốt! Hãy trôi vào bờ, hòn đá tốt!’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Tảng đá lớn đó có nổi lên hay trôi đi nhờ những lời cầu nguyện của họ không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
"Cũng vậy, hãy xem một người sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Họ dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ tham lam, sân độc, và có tà kiến. Mặc dù một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương… khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người không sát sanh, trộm cắp, hay tà dâm. Họ không dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ biết đủ, có lòng nhân từ, và có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn). Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh họ với hai tay chắp lại và nói: ‘Khi người này thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong rằng họ sẽ bị tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục!’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Người đó có bị tái sanh vào địa ngục nhờ những lời cầu nguyện của họ không?"
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Trưởng làng, giả sử một người nhấn chìm một hũ bơ sữa hoặc dầu vào một hồ nước sâu và đập vỡ nó. Các mảnh vỡ của nó sẽ chìm xuống, trong khi bơ sữa hoặc dầu trong đó sẽ nổi lên. Và một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương, đi vòng quanh nó với hai tay chắp lại và nói: ‘Hãy chìm xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt! Hãy lặn xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt! Hãy đi xuống, hỡi bơ sữa hay dầu tốt!’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Bơ sữa hoặc dầu đó có chìm xuống và lặn xuống nhờ những lời cầu nguyện của họ không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy, hãy xem một người không sát sanh, trộm cắp, hay tà dâm. Họ không dùng lời nói dối, chia rẽ, thô ác, hoặc vô ích. Và họ biết đủ, có lòng nhân từ, và có chánh kiến. Mặc dù một đám đông lớn tụ tập lại để cầu nguyện và tán dương… khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.”
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
2. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung, họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
4. − Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.
5. Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
6. − Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
7. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
8. − Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!”. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
− Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
9. Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, chẳng phải Đức Phật sống với lòng bi mẫn với tất cả chúng sanh sao?”
“Đúng vậy, trưởng làng.”
“Vậy thì, bạch Thế Tôn, tại sao Ngài lại dạy dỗ một số người một cách kỹ lưỡng và những người khác lại ít kỹ lưỡng hơn?”
“Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao? Giả sử một người nông dân có ba thửa ruộng: một thửa tốt, một thửa trung bình, và một thửa xấu—đất xấu toàn cát và muối. Ông nghĩ sao? Khi người nông dân đó muốn gieo hạt, ông ta sẽ gieo ở đâu trước: thửa ruộng tốt, thửa trung bình, hay thửa xấu?”
“Bạch Thế Tôn, ông ấy sẽ gieo trước ở thửa ruộng tốt, sau đó là thửa trung bình, rồi ông ấy có thể gieo hoặc không gieo hạt ở thửa ruộng xấu. Tại sao vậy? Bởi vì ít nhất nó cũng có thể làm thức ăn cho gia súc.”
"Đối với ta, các Tỷ kheo và Tỷ kheo ni giống như thửa ruộng tốt. Ta dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ giống như thửa ruộng trung bình. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các vị sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo giống như thửa ruộng xấu, đất xấu toàn cát và muối. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Hy vọng rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.
Giả sử một người có ba cái bình nước: một cái không nứt và không rò rỉ; một cái không nứt nhưng rò rỉ; và một cái vừa nứt vừa rò rỉ. Ông nghĩ sao? Khi người đó muốn chứa nước, họ sẽ chứa ở đâu trước: trong cái bình không nứt và không rò rỉ, cái không nứt nhưng rò rỉ, hay cái vừa nứt vừa rò rỉ?"
“Bạch Thế Tôn, họ sẽ chứa nước trước trong cái bình không nứt và không rò rỉ, sau đó là cái không nứt nhưng rò rỉ, rồi họ có thể chứa hoặc không chứa nước trong cái vừa nứt vừa rò rỉ. Tại sao vậy? Bởi vì ít nhất nó cũng có thể dùng để rửa chén đĩa.”
"Đối với ta, các Tỷ kheo và Tỷ kheo ni giống như cái bình nước không nứt và không rò rỉ. Ta dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ giống như cái bình nước không nứt nhưng rò rỉ. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Bởi vì họ sống với ta là hòn đảo, là nơi bảo vệ, là nơi nương tựa, và là nơi quy y của họ.
Đối với ta, các vị sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo giống như cái bình nước vừa nứt vừa rò rỉ. Ta cũng dạy cho họ Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và ta chỉ bày một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Tại sao vậy? Hy vọng rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
2. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
− Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
4. − Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?
− Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
5. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
− Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
6. − Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
7. Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
8. Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
9. Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
− Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
10. − Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
11. Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn,thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
12. Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
13. Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Một thời, Đức Phật đang ở gần Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.
Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, là một đệ tử của Kỳ-na giáo, đến gặp Đức Phật, và ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi ông: “Này trưởng làng, vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika dạy các đệ tử của mình như thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika dạy các đệ tử của mình như thế này: ‘Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục. Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo.’ Đây là cách vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika dạy các đệ tử của mình.”
"‘Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo’: nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người sát sanh. Nếu chúng ta so sánh các khoảng thời gian trong ngày và đêm, cái nào thường xuyên hơn: những lúc họ đang giết chóc hay những lúc họ không giết chóc?"
“Những lúc họ đang giết chóc ít thường xuyên hơn, trong khi những lúc họ không giết chóc lại thường xuyên hơn.”
"‘Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo’: nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Hãy xem một người trộm cắp…
Hãy xem một người tà dâm…
Hãy xem một người nói dối. Nếu chúng ta so sánh các khoảng thời gian trong ngày và đêm, cái nào thường xuyên hơn: những lúc họ đang nói dối hay những lúc họ không nói dối?"
“Những lúc họ đang nói dối ít thường xuyên hơn, trong khi những lúc họ không nói dối lại thường xuyên hơn.”
"‘Ông bị dẫn dắt bởi những gì ông thường sống theo’: nếu điều này là đúng, thì, theo những gì vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói, không ai sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.
Hãy xem một vị thầy nào đó có giáo lý và quan điểm này: ‘Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục.’ Và có một người đệ tử hết lòng với vị thầy đó. Họ nghĩ: ‘Thầy của ta có giáo lý và quan điểm này: “Mọi người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hoặc nói dối đều đi đến cõi dữ, đến địa ngục.” Nhưng ta đã sát sanh… trộm cắp… tà dâm… hoặc nói dối.’ Họ có được quan điểm: ‘Ta cũng sẽ đi đến cõi dữ, đến địa ngục.’ Trừ khi họ từ bỏ lời nói đó và suy nghĩ đó, và buông bỏ quan điểm đó, họ sẽ bị đọa xuống địa ngục.
Nhưng hãy xem xét khi một Như Lai (Realized One / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu tri kiến và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn. Bằng nhiều cách, Ngài chỉ trích và lên án việc sát sanh, nói rằng: ‘Hãy ngừng sát sanh!’ Ngài chỉ trích và lên án việc trộm cắp… tà dâm… nói dối, nói rằng: ‘Hãy ngừng nói dối!’ Và có một người đệ tử hết lòng với vị thầy đó. Rồi họ suy ngẫm: ‘Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc sát sanh, nói rằng: “Hãy ngừng sát sanh!” Nhưng ta đã sát sanh ở một mức độ nào đó. Điều đó không đúng, không tốt, và ta cảm thấy hối hận vì điều đó. Nhưng ta không thể hoàn tác những gì ta đã làm.’ Suy ngẫm như vậy, họ từ bỏ việc sát sanh, và trong tương lai họ không sát sanh nữa. Đó là cách để từ bỏ hành vi xấu này và vượt qua nó.
‘Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc trộm cắp…’
‘Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc tà dâm…’
‘Bằng nhiều cách, Đức Phật chỉ trích và lên án việc nói dối, nói rằng: “Hãy ngừng nói dối!” Nhưng ta đã nói dối ở một mức độ nào đó. Điều đó không đúng, không tốt, và ta cảm thấy hối hận vì điều đó. Nhưng ta không thể hoàn tác những gì ta đã làm.’ Suy ngẫm như vậy, họ từ bỏ việc nói dối, và trong tương lai họ không nói dối nữa. Đó là cách để từ bỏ hành vi xấu này và vượt qua nó.
Họ từ bỏ việc sát sanh. Họ từ bỏ việc trộm cắp. Họ từ bỏ việc tà dâm. Họ từ bỏ việc nói dối. Họ từ bỏ lời nói chia rẽ. Họ từ bỏ lời nói thô ác. Họ từ bỏ việc nói chuyện vô ích. Họ từ bỏ lòng tham lam. Họ từ bỏ ác ý và ác tâm. Họ từ bỏ tà kiến và có chánh kiến.
Vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân. Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho mình được nghe thấy ở bốn phương. Cũng vậy, khi tâm giải thoát bằng từ bi đã được phát triển và tu tập như thế này, bất kỳ hành động giới hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm bi… Họ thiền định, lan tỏa tâm hỷ… Họ thiền định, lan tỏa tâm xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân. Giả sử có một người thổi tù và mạnh mẽ. Họ sẽ dễ dàng làm cho mình được nghe thấy ở bốn phương. Cũng vậy, khi tâm giải thoát bằng xả đã được phát triển và tu tập như thế này, bất kỳ hành động giới hạn nào họ đã làm đều không còn tồn tại hay lưu lại ở đó."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
2. Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của phái Ni-kiền-tử đi đến Thế Tôn…
3. Thế Tôn nói với thôn trưởng Asiband-hakaputta đang ngồi một bên:
− Này Thôn trưởng, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp như thế nào cho chúng đệ tử?
4. − Bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho chúng đệ tử như sau: “Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy”. Như vậy, bạch Thế Tôn, Nigantha Nàtaputta thuyết pháp cho các đệ tử.
− Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
5. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy sát hại sanh mạng, hay thời vị ấy không sát hại sanh mạng?
− Bạch Thế Tôn, có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, là thời vị ấy sát hại sanh mạng. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sát hại sanh mạng.
− Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
6. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người lấy của không cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy lấy của không cho hay thời vị ấy không lấy của không cho?
− Bạch Thế Tôn, có người lấy của không cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy lấy của không cho. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không lấy của không cho.
− Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
7. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống theo tà hạnh trong các dục, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh trong các dục, hay thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong các dục?
− Bạch Thế Tôn, có người sống theo tà hạnh trong các dục, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh trong các dục. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong các dục.
− Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời không có ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
8. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống nói láo, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy nói láo, hay thời vị ấy không nói láo?
− Bạch Thế Tôn, có người nói láo, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời này là ít hơn, thời vị ấy nói láo. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không nói láo.
− Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời không ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigantha Nàtaputta.
9. Ở đây, này Thôn trưởng, có vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo sư ấy.
10. Vị ấy suy nghĩ: “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sát hại sanh mạng tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có sát hại một sanh mạng. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục như vậy. " Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai lấy của không cho,tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có lấy của không cho. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục" Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào địa ngục vậy. “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta sống theo tà hạnh trong các dục. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào địa ngục như vậy. “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta nói láo. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào địa ngục như vậy.
11. Ở đây, này thôn trưởng, Như Lai sanh ra ở đời, bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; Như Lai dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: “Chớ có sát sanh”; chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: “Chớ có lấy của không cho”; chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục và nói: “Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục”; chỉ trích, công kích nói láo và nói: “Chớ có nói láo”. Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy tư như sau:
12. “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: 'Chớ có sát sanh”. Nay ta có sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên (sutthu), như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’". Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
13. “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: 'Chớ có lấy của không cho”. Nay ta có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
14. “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục…”…
15. “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói láo…”…
16. Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Ðoạn tận tham, không có tham lam, đoạn tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
17. Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
18. Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và, với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại.
19. Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Một thời, Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo thì Ngài đến Nāḷandā. Ở đó, Ngài ở gần Nāḷandā trong vườn xoài của Pāvārika.
Lúc bấy giờ ở Nāḷandā đang có nạn đói và khan hiếm, mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ. Lúc đó, vị tu sĩ Kỳ-na giáo thuộc dòng họ Ñātika đang cư ngụ tại Nāḷandā cùng với một hội chúng đông đảo các tu sĩ Kỳ-na giáo. Khi ấy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, là một đệ tử của Kỳ-na giáo, đến gặp vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika nói với ông:
“Này trưởng làng, hãy đến bác bỏ giáo lý của sa-môn Gotama. Khi đó ông sẽ có được danh tiếng tốt: ‘Vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, đã bác bỏ giáo lý của sa-môn Gotama, một người thật hùng mạnh và quyền thế!’”
“Nhưng thưa ngài, làm sao con có thể làm được điều này?”
“Này Bà-la-môn, hãy đến gặp sa-môn Gotama và nói với ông ta: ‘Bạch Thế Tôn, chẳng phải Ngài bằng nhiều cách đã ca ngợi lòng nhân từ, sự bảo vệ, và lòng bi mẫn đối với các gia đình sao?’ Khi ông ta được hỏi như vậy, nếu ông ta trả lời: ‘Đúng vậy, trưởng làng,’ hãy nói với ông ta thế này: ‘Vậy thì Ngài đang làm gì đây, du hành cùng với Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo này trong thời kỳ đói kém và khan hiếm, với mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ? Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!’ Khi ông đặt ra thế tiến thoái lưỡng nan này cho ông ta, Đức Phật sẽ không thể nuốt trôi cũng không thể nhổ ra được.”
“Vâng, thưa ngài,” con trai của Asibandhaka trả lời. Ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh vị tu sĩ Kỳ-na giáo Ñātika một cách kính trọng, giữ vị ấy ở bên phải mình. Sau đó, ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, chẳng phải Ngài bằng nhiều cách đã ca ngợi lòng nhân từ, sự bảo vệ, và lòng bi mẫn đối với các gia đình sao?”
“Đúng vậy, trưởng làng.”
“Vậy thì Ngài đang làm gì đây, du hành cùng với Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo này trong thời kỳ đói kém và khan hiếm, với mùa màng thất bát, chỉ còn rơm rạ? Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!”
"Này trưởng làng, ta nhớ lại chín mươi mốt kiếp (eons / một khoảng thời gian rất dài) về trước nhưng ta không biết có gia đình nào bị phá sản chỉ vì cúng dường một ít thức ăn khất thực. Thay vào đó, những gia đình giàu có, sung túc, và thịnh vượng—với nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, và nhiều tiền bạc và ngũ cốc—tất cả đều có được sự giàu có của họ nhờ lòng quảng đại, sự chân thật, và sự tự chế.
Trưởng làng, có tám nguyên nhân và duyên cớ dẫn đến sự phá sản của các gia đình. Sự phá sản của họ bắt nguồn từ vua chúa, trộm cướp, hỏa hoạn, hoặc lũ lụt. Hoặc tiền tiết kiệm của họ biến mất. Hoặc công việc kinh doanh của họ thất bại do không chuyên tâm vào công việc. Hoặc một kẻ hoang phí được sinh ra trong gia đình, kẻ phung phí và làm tiêu tan tài sản của họ. Và vô thường là thứ tám. Đây là tám nguyên nhân và duyên cớ dẫn đến sự phá sản của các gia đình.
Với tám lý do này được tìm thấy, giả sử có người nói rằng: ‘Đức Phật đang thực hành để hủy diệt, làm sụp đổ, và phá hoại các gia đình!’ Trừ khi họ từ bỏ lời nói đó và suy nghĩ đó, và buông bỏ quan điểm đó, họ sẽ bị đọa xuống địa ngục."
Khi Ngài nói vậy, vị trưởng làng, con trai của Asibandhaka, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
2. Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ (sàlàkàvuttà).
3. Lúc bấy giờ Nigantha Nàtaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigantha.
4. Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigantha Nàtaputta, đi đến Nigantha Nàtaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigantha Nàtaputta rồi ngồi xuống một bên.
5. Nigantha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
− Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông: “Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!”
− Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
6. − Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến nói với Sa-môn Gotama như sau:
“− Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình”?
Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama, trả lời như sau:
“− Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn”.
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
“− Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại cho các gia đình”.
Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể nuốt xuống.
7. − Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigantha Nàtaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nàtaputta, thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
8. Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
− Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn?
− Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
− Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình.
9. − Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.
10. Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
11. Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: "Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.
12. Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, trong khi đoàn tùy tùng của nhà vua đang ngồi cùng nhau trong hoàng cung, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: “Vàng và tiền là thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ chấp nhận và nhận vàng và tiền.”
Lúc bấy giờ, vị trưởng làng Maṇicūḷaka đang ngồi trong hội chúng đó. Ông nói với đoàn tùy tùng đó: “Thưa các vị, đừng nói vậy. Vàng và tiền không thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ không chấp nhận cũng không nhận vàng và tiền. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, và từ chối vàng và tiền.” Ông đã có thể thuyết phục được hội chúng đó.
Sau đó, Maṇicūḷaka đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra. Sau đó, ông nói: “Khi trả lời như vậy, con tin rằng con lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật. Con tin rằng lời giải thích của con phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích.”
"Thật vậy, khi trả lời như vậy, ông lặp lại những gì ta đã nói, và không xuyên tạc ta bằng một điều không thật. Lời giải thích của ông phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ hay chỉ trích.
Vàng và tiền không thích hợp cho các vị sa-môn theo dòng họ Thích Ca. Họ không chấp nhận cũng không nhận vàng và tiền. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, và từ chối vàng và tiền.
Nếu vàng và tiền là thích hợp cho họ, thì năm loại dục lạc giác quan cũng sẽ thích hợp. Và nếu năm loại dục lạc giác quan là thích hợp cho họ, ông nên dứt khoát coi họ là không có phẩm chất của một sa-môn hay một người theo dòng họ Thích Ca.
Thay vào đó, trưởng làng, ta nói điều này: Rơm có thể được tìm kiếm bởi người cần rơm; gỗ có thể được tìm kiếm bởi người cần gỗ; xe có thể được tìm kiếm bởi người cần xe; thợ có thể được tìm kiếm bởi người cần thợ. Nhưng ta nói rằng không có cách nào họ có thể chấp nhận hay tìm kiếm vàng và tiền."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ trong cung vua, quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Các Sa-môn thuộc dòng Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc”.
3. Lúc bấy giờ, thôn trưởng Manicùlaka đang ngồi trong hội chúng ấy.
4. Rồi thôn trưởng Manicùlaka thưa với hội chúng ấy: “Các Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và. Họ đã ly khai vàng và bạc”. Nhưng thôn trưởng Manicùlaka không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.
5. Rồi thôn trưởng Manicùlaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
6. Ngồi một bên, thôn trưởng Manicùlaka bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, trong cung vua, một số quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp, và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Các Sa-môn Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vaụng bạc”. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy: “Các Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và vàng. Họ đã ly khai vàng và bạc”. Nhưng bạch Thế Tôn, con không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.
7. Trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, không biết con có nói đúng lời Thế Tôn? Con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật? Con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
− Trả lời như vậy, này Thôn trưởng, Ông nói đúng lời của Ta. Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật. Ông đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích.
8. Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp. Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu.
Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Malla, gần thị trấn Uruvelakappa của người Malla. Khi ấy, Bhadraka, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, xin hãy dạy cho con về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ.”
“Trưởng làng, nếu ta dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ trong quá khứ, nói rằng ‘đây là cách nó đã diễn ra trong quá khứ,’ ông có thể có những nghi ngờ hoặc không chắc chắn về điều đó. Nếu ta dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ trong tương lai, nói rằng ‘đây là cách nó sẽ diễn ra trong tương lai,’ ông có thể có những nghi ngờ hoặc không chắc chắn về điều đó. Thay vào đó, trưởng làng, ta sẽ dạy cho ông về sự sanh khởi và đoạn diệt của khổ ngay khi ta đang ngồi đây và ông đang ngồi đó. Hãy lắng nghe và chú tâm, ta sẽ nói.”
“Vâng, bạch Thế Tôn,” Bhadraka trả lời. Đức Phật nói điều này:
“Ông nghĩ sao, trưởng làng? Có người nào ở Uruvelakappa này, nếu họ bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó sẽ gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?”
“Có, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng có người nào ở Uruvelakappa này, nếu họ bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó sẽ không gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?”
“Có, bạch Thế Tôn.”
“Do đâu là nguyên nhân, trưởng làng, do đâu là duyên cớ mà, nếu điều này xảy ra với một số người, nó có thể gây cho ông sầu muộn, trong khi nếu nó xảy ra với những người khác thì không?”
“Những người mà việc này xảy ra sẽ gây ra sầu muộn là những người tôi ham muốn và yêu thương. Những người mà việc này xảy ra sẽ không gây ra sầu muộn là những người tôi không ham muốn và yêu thương.”
“Với hiện tượng hiện tại này được thấy, được biết, tức thời, đạt được, và thấu triệt, ông có thể suy ra quá khứ và tương lai: ‘Tất cả những khổ đau đã phát sinh trong quá khứ đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau. Tất cả những khổ đau sẽ phát sinh trong tương lai sẽ bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.’”
"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời! Đức Phật đã nói điều này thật hay! ‘Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.’
Con có một cậu con trai tên là Ciravāsi, đang ở trong một ngôi nhà xa nơi đây. Con thức dậy sớm và sai một người đi, nói rằng: ‘Này anh, hãy đi xem cậu bé Ciravāsi của ta thế nào.’ Cho đến khi họ trở về, con lo lắng: ‘Hy vọng không có chuyện gì xảy ra với Ciravāsi!’"
“Ông nghĩ sao, trưởng làng? Nếu Ciravāsi bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó có gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?”
“Làm sao mà không được, bạch Thế Tôn?”
"Đây cũng là một cách để hiểu: ‘Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.’
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Trước khi ông nhìn thấy hoặc nghe nói về mẹ của Ciravāsi, ông có bất kỳ ham muốn, tình yêu, hay sự yêu mến nào đối với bà ấy không?"
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Vậy thì có phải vì ông nhìn thấy hoặc nghe nói về bà ấy mà ông có ham muốn, tình yêu, hay sự yêu mến đối với bà ấy không?”
“Vâng, bạch Thế Tôn.”
“Ông nghĩ sao, trưởng làng? Nếu mẹ của Ciravāsi bị hành quyết, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị kết án, điều đó có gây cho ông sầu, bi, khổ, ưu, và não không?”
“Làm sao mà không được, bạch Thế Tôn?”
“Đây cũng là một cách để hiểu: ‘Tất cả những khổ đau phát sinh đều bắt nguồn và có nguồn gốc từ ham muốn. Vì ham muốn là gốc rễ của khổ đau.’”
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.
2. Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:
− Lành thay Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!
− Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: “Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ”; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: “Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai”; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn.
4. Thế Tôn nói như sau:
− Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
5. − Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?
− Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
− Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não? Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?
− Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham đối với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con không có dục và tham đối với họ.
− Ông nói: “Con có lòng dục tham đối với họ. Con không có lòng dục tham đối với họ”. Này Thôn trưởng, có phải được thấy, được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp này, Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá khứ, vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: “Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!”
7. Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii, sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và nói: “Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii”. Cho đến khi người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn chồn hồi hộp: “Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì không?”
8. − Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
− Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được?
− Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như sau: Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.
9. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không thấy, không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsii không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
− Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham, hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsi không?
− Thưa có, bạch Thế Tôn.
10. − Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
− Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác, thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?
− Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu biết như sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ.
Khi ấy, Rāsiya, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama chỉ trích mọi hình thức khổ hạnh. Ngài dứt khoát lên án và tố cáo những người khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ.’ Những người nói như vậy có lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có bất kỳ cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích không?”
"Trưởng làng, những người nói như vậy không lặp lại những gì ta đã nói. Họ xuyên tạc ta bằng những điều sai sự thật, rỗng tuếch, và không đúng.
Hai cực đoan này không nên được một người xuất gia tu tập. Say đắm trong các thú vui giác quan, là thấp hèn, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, và vô ích. Và say đắm trong sự hành xác, là đau khổ, không cao thượng, và vô ích.
Tránh xa hai cực đoan này, Như Lai đã hiểu được con đường thực hành trung đạo, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, và dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / thắng tri), giác ngộ, và Niết-bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt).
Và con đường thực hành trung đạo đó là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý) này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Đây, trưởng làng, là con đường thực hành trung đạo đã được Như Lai hiểu, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, và dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết-bàn.
Có ba loại người tìm cầu lạc thú trên thế gian. Ba loại nào? Hãy xem một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước.
Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước.
Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước. Họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Tiếp theo, một người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và họ chia sẻ và làm phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể bị chỉ trích trên ba phương diện. Ba phương diện nào? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện, và được ca ngợi trên một phương diện. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện này, và được ca ngợi trên phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên một phương diện, và được ca ngợi trên hai phương diện. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể bị chỉ trích trên phương diện này, và được ca ngợi trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên một phương diện, và bị chỉ trích trên ba phương diện. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Ba cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên một phương diện này, và bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên hai phương diện, và bị chỉ trích trên hai phương diện. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện này, và bị chỉ trích trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, cả cưỡng ép và không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên ba phương diện, và bị chỉ trích trên một phương diện. Ba cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện bất chính, cưỡng ép. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên ba phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, nhưng không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, cũng không chia sẻ và làm phước. Họ có thể được ca ngợi trên một phương diện, và bị chỉ trích trên hai phương diện. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ không làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên một phương diện này, và bị chỉ trích trên hai phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, nhưng không chia sẻ và làm phước. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện, và bị chỉ trích trên một phương diện. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ không chia sẻ và làm phước. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên hai phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Nhưng họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Họ có thể được ca ngợi trên ba phương diện và bị chỉ trích trên một phương diện. Ba cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hưởng thụ của cải đó một cách bị trói buộc, mê đắm, dính mắc, mù quáng trước những nhược điểm, và không hiểu được lối thoát. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên ba phương diện này, và bị chỉ trích trên một phương diện này.
Bây giờ, hãy xem xét người tìm cầu lạc thú tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép, và làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ, và chia sẻ và làm phước. Và họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên bốn phương diện. Bốn cơ sở để ca ngợi là gì? Họ tìm kiếm của cải bằng những phương tiện hợp pháp, không cưỡng ép. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ làm cho mình hạnh phúc và vui vẻ. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Họ chia sẻ và làm phước. Đây là cơ sở thứ ba để ca ngợi. Họ hưởng thụ của cải đó một cách không bị trói buộc, không mê đắm, không dính mắc, thấy được những nhược điểm, và hiểu được lối thoát. Đây là cơ sở thứ tư để ca ngợi. Người tìm cầu lạc thú này có thể được ca ngợi trên bốn phương diện này.
Có ba loại người khổ hạnh nhiệt thành sống khắc khổ được tìm thấy trên thế gian. Ba loại nào?
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: ‘Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!’ Họ hành xác và tự hành hạ mình. Nhưng họ không đạt được bất kỳ pháp thiện nào, cũng không nhận ra bất kỳ sự khác biệt siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành khác đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: ‘Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!’ Họ hành xác và tự hành hạ mình. Và họ đạt được một pháp thiện, nhưng không nhận ra bất kỳ sự khác biệt siêu phàm nào trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Hãy xem một người khổ hạnh nhiệt thành khác đã xuất gia từ đời sống tại gia đến vô gia cư vì niềm tin, nghĩ rằng: ‘Hy vọng ta sẽ đạt được một pháp thiện! Hy vọng ta sẽ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh!’ Họ hành xác và tự hành hạ mình. Và họ đạt được một pháp thiện, và họ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành đầu tiên có thể bị chỉ trích trên ba phương diện. Ba phương diện nào? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không đạt được một pháp thiện. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Họ không nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ ba để chỉ trích. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên ba phương diện này.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành thứ hai có thể bị chỉ trích trên hai phương diện, và được ca ngợi trên một phương diện. Hai cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là cơ sở đầu tiên để chỉ trích. Họ không nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ hai để chỉ trích. Một cơ sở để ca ngợi là gì? Họ đạt được một pháp thiện. Đây là một cơ sở để ca ngợi. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên hai phương diện này, và được ca ngợi trên một phương diện.
Trong trường hợp này, người khổ hạnh nhiệt thành thứ ba có thể bị chỉ trích trên một phương diện, và được ca ngợi trên hai phương diện. Một cơ sở để chỉ trích là gì? Họ hành xác và tự hành hạ mình. Đây là một cơ sở để chỉ trích. Hai cơ sở để ca ngợi là gì? Họ đạt được một pháp thiện. Đây là cơ sở đầu tiên để ca ngợi. Họ nhận ra một sự khác biệt siêu phàm trong tri kiến xứng đáng với bậc thánh. Đây là cơ sở thứ hai để ca ngợi. Người khổ hạnh nhiệt thành này có thể bị chỉ trích trên một phương diện này, và được ca ngợi trên hai phương diện.
Có ba loại bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết. Ba loại nào?
Một người tham lam, vì lòng tham, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ lòng tham, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Một người sân hận, vì lòng sân hận, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ lòng sân hận, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Một người si mê, vì sự si mê, có ý định làm hại chính mình, làm hại người khác, và làm hại cả hai. Khi họ đã từ bỏ sự si mê, họ không có những ý định như vậy. Sự bào mòn này hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết.
Đây là ba loại bào mòn hiển hiện trong đời sống hiện tại, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người có trí có thể tự mình biết."
Khi Ngài nói vậy, Rāsiya, vị trưởng làng, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. …
2. Một thời thôn trưởng Ràsiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
− Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ. Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói đúng với lời Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
− Này Thôn trưởng, những ai đã nói như sau: “Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi lối sống khắc khổ”; họ nói không đúng lời Ta nói, họ xuyên tạc Ta với điều không thật, với điều không chơn chánh.
I
4. Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành: Một là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích. Hai là hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Từ bỏ hai cực đoan này là con đường trung đạo, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
5. Thế nào là con đường trung đạo ấy, này Thôn trưởng, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
II
6. Này Thôn trưởng, có ba hạng người hưởng thọ vật dục có mặt ở trong đời. Thế nào là ba?
II.(i)
7. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(ii)
8. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(iii)
9. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
II.(iv)
10. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(v)
11. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(vi)
12. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, làm các công đức.
II.(vii)
13. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp, không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(viii)
14. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
II.(ix)
15. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm tham trước, đắm say, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không với trí tuệ xuất ly.
II.(x)
16. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí huệ xuất ly.
III
III.(i)
17. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào chỉ bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Này Thôn trưởng, người hưởng thọ vật dục này về ba phương diện bị chỉ trích.
III.(ii)
18. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Về hai phương diện gì bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Về một phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
III.(iii)
19. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện gì người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
III.(iv)
20. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích. Một phương diện gì được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về ba phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.
III.(v)
21. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
III.(vi)
22. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Thế nào là một phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về một phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
III.(vii)
23. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ và không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về một phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
III.(viii)
24. Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
III.(xi)
25. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ các tài sản một cách tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người hưởng thọ các tài sản ấy với tâm tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
III.(x)
26. Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán. Về bốn phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Người ấy hưởng thọ tài sản ấy không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, về phương diện thứ tư này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán.
IV
IV.(i)
27. Này Thôn trưởng, có ba hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, có mặt hiện sống ở đời.
28. Này Thôn trưởng, có hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, do lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Vị ấy tự mình hành xác, hành khổ, nhưng không chứng được thiện pháp nào, không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh nào.
IV.(ii)
29. Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
IV.(iii)
30. Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp ; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!” Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
V
V.(i)
31. Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, không chứng được thiện pháp, không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Thế nào là về ba phương diện bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng đắc thiện pháp, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện này bị chỉ trích.
V.(ii)
32. Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Thế nào là về hai phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Thế nào là về một phương diện người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
V.(iii)
33. Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, và chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện nào bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
VI
34. Này Thôn trưởng, có ba pháp thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Thế nào là ba?
VI.(i)
35. Phàm người tham dục (ràga), do nhân tham dục, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi tham dục được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những (quả này) thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
VI.(ii)
36. Phàm người sân hận, do nhân sân hận, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi sân hận được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những (quả này) thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
VI.(iii)
37. Phàm người si mê, do nhân si mê, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi si mê được đoạn tận, vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những (quả này) thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Ba pháp này, này Thôn trưởng, thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
38. Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Koliya, nơi họ có một thị trấn tên là Uttara. Khi ấy, Pāṭaliya, vị trưởng làng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama biết ma thuật.’ Những người nói như vậy có lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc Ngài bằng một điều không thật không? Lời giải thích của họ có phù hợp với giáo pháp không? Có bất kỳ cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích không? Vì chúng con không muốn xuyên tạc Đức Thế Tôn.”
“Trưởng làng, những người nói như vậy lặp lại những gì ta đã nói, và không xuyên tạc ta bằng một điều không thật. Lời giải thích của họ phù hợp với giáo pháp, và không có cơ sở chính đáng nào để bác bỏ và chỉ trích.”
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã không tin rằng những gì các vị sa-môn và Bà-la-môn đó nói là thật. Nhưng có vẻ như sa-môn Gotama là một nhà ma thuật!”
“Trưởng làng, có phải người nói ‘Ta biết ma thuật’ cũng nói ‘Ta là một nhà ma thuật’ không?”
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ!”
"Vậy thì, trưởng làng, ta sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý.
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông có biết các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ không?"
“Con biết họ, bạch Thế Tôn.”
“Và công việc của họ là gì?”
“Để ngăn chặn bọn cướp và để truyền tin cho người Koliya.”
“Ông nghĩ sao, trưởng làng? Các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ là người có đạo đức hay vô đạo đức?”
“Con biết rằng họ là người vô đạo đức, có tính cách xấu, bạch Thế Tôn. Họ là một trong số những người trên thế gian vô đạo đức và có tính cách xấu.”
“Có đúng không khi nói rằng Pāṭaliya biết các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ là người vô đạo đức, có tính cách xấu, nên ông ta cũng phải là người vô đạo đức và có tính cách xấu?”
“Không, bạch Thế Tôn. Con hoàn toàn khác với các quan chức Koliya với những chiếc mũ rũ, chúng con có tính cách hoàn toàn khác nhau.”
"Vậy nếu ông có thể biết những quan chức có tính cách xấu đó trong khi ông không phải là người có tính cách xấu, tại sao Như Lai không thể biết ma thuật, mà không phải là một nhà ma thuật?
Ta hiểu ma thuật và kết quả của nó. Và ta hiểu cách các nhà ma thuật thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Ta hiểu việc sát sanh và kết quả của nó. Và ta hiểu cách những người sát sanh thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục. Ta hiểu việc trộm cắp… tà dâm… nói dối… nói lời chia rẽ… nói lời thô ác… nói chuyện vô ích… tham lam… ác ý… tà kiến và kết quả của nó. Và ta hiểu cách những người có tà kiến thực hành để khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi dữ, nơi xấu, đọa xứ, địa ngục.
Có một số sa-môn và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm này: ‘Mọi người sát sanh đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này. Mọi người trộm cắp… tà dâm… nói dối đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này.’
Nhưng ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức, tắm gội và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, đang hưởng lạc với phụ nữ như thể ông ta là một vị vua. Ông có thể hỏi ai đó: ‘Này bạn, người đàn ông đó đã làm gì?’ Và họ sẽ trả lời: ‘Này bạn, người đàn ông đó đã tấn công kẻ thù của nhà vua và giết họ. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. Đó là lý do tại sao ông ta đeo vòng hoa và trang sức, tắm gội và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, đang hưởng lạc với phụ nữ như thể ông ta là một vị vua.’
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng bằng một sợi dây thừng chắc chắn. Đầu ông ta bị cạo trọc và ông ta bị dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác trong tiếng trống khắc nghiệt. Sau đó, ông ta bị đưa ra cổng phía nam và ở đó, phía nam thành phố, họ chặt đầu ông ta. Ông có thể hỏi ai đó: ‘Này bạn, người đàn ông đó đã làm gì?’ Và họ sẽ trả lời: ‘Này bạn, người đàn ông đó là kẻ thù của nhà vua, và ông ta đã sát hại một người đàn ông hoặc một người phụ nữ. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.’
Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa.”
“Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người sát sanh đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai?”
“Họ sai, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng những người nói những điều rỗng tuếch, sai sự thật: họ có đạo đức hay vô đạo đức?”
“Vô đạo đức, bạch Thế Tôn.”
“Và những người vô đạo đức, có tính cách xấu đang thực hành sai hay đúng?”
“Họ đang thực hành sai, bạch Thế Tôn.”
“Và những người đang thực hành sai có tà kiến hay chánh kiến?”
“Họ có tà kiến, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng có thích hợp để tin tưởng vào những người có tà kiến không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
"Ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã tấn công kẻ thù của nhà vua và lấy đi những vật có giá trị của họ. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. …’ …
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã lấy một thứ gì đó từ một ngôi làng hoặc vùng hoang dã, với ý định trộm cắp. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa.”
“Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người trộm cắp đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai? … Có thích hợp để tin tưởng vào họ không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
"Ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã có quan hệ tình dục với vợ của một vị vua thù địch. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. …’ …
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã có quan hệ tình dục với phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình tốt. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa.”
“Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người tà dâm đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai? … Có thích hợp để tin tưởng vào họ không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
"Và ông có thể thấy một người, đeo vòng hoa và trang sức… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã làm vui lòng nhà vua bằng những lời nói dối. Nhà vua rất vui mừng và đã ban cho ông ta phần thưởng này. …’ …
Và ông có thể thấy một người khác, hai tay bị trói chặt sau lưng… ‘Này bạn, người đàn ông đó đã phá hoại một gia chủ hoặc con của gia chủ bằng cách nói dối. Đó là lý do tại sao các nhà cầm quyền đã bắt ông ta và áp dụng hình phạt như vậy.’ Ông nghĩ sao, trưởng làng? Ông đã thấy hay nghe về một điều như vậy chưa?"
“Bạch Thế Tôn, chúng con đã thấy và nghe về nó, và chúng con sẽ còn nghe về nó nữa.”
“Vì điều này là như vậy, các vị sa-môn và Bà-la-môn có quan điểm rằng mọi người nói dối đều trải qua đau khổ và buồn bã ngay trong đời này: họ đúng hay sai?”
“Họ sai, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng những người nói những điều rỗng tuếch, sai sự thật: họ có đạo đức hay vô đạo đức?”
“Vô đạo đức, bạch Thế Tôn.”
“Và những người vô đạo đức, có tính cách xấu đang thực hành sai hay đúng?”
“Họ đang thực hành sai, bạch Thế Tôn.”
“Và những người đang thực hành sai có tà kiến hay chánh kiến?”
“Họ có tà kiến, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng có thích hợp để tin tưởng vào những người có tà kiến không?”
"Không, bạch Thế Tôn.
Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời! Con có một nhà khách, nơi có giường, ghế, bình nước, và đèn dầu. Bất cứ khi nào một vị sa-môn hay Bà-la-môn đến ở, con chia sẻ những gì con có một cách tốt nhất có thể. Có một lần, bạch Thế Tôn, bốn vị thầy có quan điểm, tín ngưỡng, và ý kiến khác nhau đã đến ở tại nhà khách của con.
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay hiến tế. Không có quả hay kết quả của các hành động tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và không có sa-môn hay Bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.’
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: ‘Có ý nghĩa trong việc cho đi, cúng dường, và hiến tế. Có quả và kết quả của các hành động tốt và xấu. Có đời sau. Có những thứ như cha và mẹ, và chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và có các sa-môn và Bà-la-môn hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.’
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: ‘Người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Không có điều xấu nào được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, không có công đức nào đến từ đó, và không có kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật không có công đức hay kết quả của công đức.’
Một vị thầy có giáo lý và quan điểm này: ‘Người hành động làm một việc xấu khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Một việc xấu được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, công đức đến từ đó, và một kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật có công đức và kết quả của công đức.’
Con đã có nghi ngờ và không chắc chắn về điều đó: ‘Tôi tự hỏi ai trong số những vị sa-môn và Bà-la-môn đáng kính này nói sự thật, và ai nói dối?’"
“Trưởng làng, không có gì lạ khi ông nghi ngờ và không chắc chắn. Nghi ngờ đã nảy sinh trong ông về một vấn đề không chắc chắn.”
“Con hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật có khả năng dạy cho con để con có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn này.”
"Trưởng làng, có một loại định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Và định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử đã từ bỏ việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói chuyện vô ích, tham lam, ác ý, và tà kiến.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: ‘Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: “Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay hiến tế. Không có quả hay kết quả của các hành động tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha và mẹ, hay chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và không có sa-môn hay Bà-la-môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.” Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.’
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi (samādhi / định, sự tập trung tâm ý). Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: ‘Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: “Có ý nghĩa trong việc cho đi, cúng dường, và hiến tế. Có quả và kết quả của các hành động tốt và xấu. Có đời sau. Có những thứ như cha và mẹ, và chúng sanh được tái sanh tự nhiên. Và có các sa-môn và Bà-la-môn hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.” Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.’
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: ‘Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: “Người hành động không làm gì sai khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Không có điều xấu nào được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, không có điều ác nào đến từ đó, và không có kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, không có công đức nào đến từ đó, và không có kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật không có công đức hay kết quả của công đức.” Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.’
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm từ đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm từ đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: ‘Vị thầy đó có giáo lý và quan điểm này: “Người hành động làm một việc xấu khi họ trừng phạt, cắt xẻo, tra tấn, làm khổ, áp bức, đe dọa, hoặc khi họ khuyến khích người khác làm như vậy. Một việc xấu được thực hiện khi họ giết, trộm, đột nhập vào nhà, cướp bóc của cải, trộm cắp từ các tòa nhà biệt lập, cướp đường, ngoại tình, và nói dối. Nếu ông biến tất cả chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt bằng một cái đĩa có lưỡi sắc như dao cạo, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ nam sông Hằng giết chóc, cắt xẻo, và tra tấn, và khuyến khích người khác làm như vậy, điều ác đến từ đó, và một kết quả của điều ác. Nếu ông đi dọc theo bờ bắc sông Hằng cho đi và cúng dường và khuyến khích người khác làm như vậy, công đức đến từ đó, và một kết quả của công đức. Trong việc cho đi, tự chủ, kiềm chế, và chân thật có công đức và kết quả của công đức.” Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.’
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó.
Khi ấy, vị thánh đệ tử đó ly dục, ly sân, không mê mờ, tỉnh giác, và chánh niệm. Họ thiền định, lan tỏa tâm bi… hỷ… xả đến một phương, rồi đến phương thứ hai, đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Cũng vậy ở trên, ở dưới, ngang qua, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa tâm xả đến toàn thế giới—bao la, rộng lớn, vô biên, không oán, không sân.
Họ suy ngẫm như thế này: ‘Nếu những gì vị thầy tốt này nói là đúng, đó là một sự đặt cược an toàn cho tôi để không làm hại bất kỳ sinh vật nào dù mạnh hay yếu. Tôi nắm giữ một ván bài hoàn hảo trên cả hai phương diện, vì tôi được kiềm chế trong thân, khẩu, và ý, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời.’
Niềm hân hoan nảy sinh trong họ. Khi hân hoan, niềm vui sướng nảy sinh. Khi tâm tràn đầy niềm vui sướng, thân trở nên thanh thản. Khi thân thanh thản, họ cảm thấy an vui. Và khi an vui, tâm trở nên nhập vào samādhi. Đây là định dựa trên sự hiểu biết nguyên lý. Nếu ông đạt được sự định tâm như vậy, ông có thể từ bỏ trạng thái không chắc chắn đó."
Khi Ngài nói vậy, Pāṭaliya, vị trưởng làng, thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Đức Phật ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn của dân chúng Koliya tên là Uttara.
2. Rồi thôn trưởng Pàtaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:
− Con được nghe rằng, bạch Thế Tôn, Sa-môn Gotama biết huyễn thuật. Bạch Thế Tôn, những ai nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn thuật; những người ấy, bạch Thế Tôn, có nói đúng với lời Thế Tôn hay không? Họ không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, họ trả lời đúng pháp, tùy pháp? Và những ai nói lời tương ứng đúng pháp không có lý do gì để chỉ trích. Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn chống báng Thế Tôn (abbhakkhàti).
3. − Những ai nói rằng, này Thôn trưởng, Sa-môn Gotama biết huyễn thuật, những người ấy nói đúng lời nói của Ta. Họ không xuyên tạc Ta với điều không thật. Họ nói lời đúng pháp, tùy pháp. Và những ai nói lời tương ứng đúng pháp không có lý do để chỉ trích.
4. − Như vậy là đúng sự thật, bạch Thế Tôn tuy rằng con không tin các vị Sa-môn, Bà-La-Môn ấy, nói rằng Sa-môn Gotama biết huyễn thuật. Như vậy, bạch Thế Tôn, cuối cùng Sa-môn Gotama là người sống theo huyễn thuật.
− Ai nói rằng: “Như Lai biết huyễn thuật”, người ấy có nói rằng Như Lai là người sống theo huyễn thuật, nói rằng như vậy là Thế Tôn, như vậy là Thiện Thệ? Vậy này Thôn trưởng, về vấn đề này Ta sẽ hỏi Ông. Nếu có thể kham nhẫn, Ông có thể trả lời.
I
I.(i)
5.− Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có biết, này Thôn trưởng, các người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống?
− Con có biết, bạch Thế Tôn, các người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống.
6. − Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Dùng vào mục đích gì mà những người làm thuê của dân chúng Kosala có búi tóc thòng xuống?
− Những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala được dùng để chế ngự các người ăn trộm và để mang đi các tin tức cho dân chúng Kosala. Ðược dùng vào mục đích ấy, bạch Thế Tôn, là những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala.
7. − Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có biết những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người trì giới hay là những người ác giới?
− Con được biết, bạch Thế Tôn, những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác pháp. Nếu có những người theo ác giới, theo ác pháp ở đời, chính là những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala, không có ai khác.
8. − Này Thôn trưởng, nếu có ai nói rằng: “Thôn trưởng Pàlaliya biết được các người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là người ác giới, theo ác pháp, thời thôn trưởng Pàtaliya cũng là người theo ác giới, theo ác pháp”, người nói như vậy có nói một cách chân chánh không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn. Những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của các dân chúng Kosala là khác. Còn con là khác. Tự tánh của những người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là khác. Tự tánh của con là khác.
9. − Này Thôn trưởng, Ông sẽ được tiếng như sau: “Thôn trưởng Pataliya biết rằng, các người làm thuê có búi tóc thòng xuống của dân chúng Kosala là những người ác giới, theo ác pháp. Nhưng thôn trưởng Pataliya không phải là người có ác giới, theo ác pháp”. Như vậy, tại sao Như Lai lại không được tiếng rằng Như Lai là người biết huyễn thuật, nhưng Như Lai không phải là người sống theo huyễn thuật? Này Thôn trưởng, Ta rõ biết huyễn thuật và quả dị thục của huyễn thuật. Và thực hành như thế nào mà một người làm huyễn thuật, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ta rõ biết như vậy.
II.(ii)
10. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sát sanh và quả dị thục của sát sanh. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người sát sanh, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
11. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lấy của không cho và quả dị thục của lấy của không cho. Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người lấy của không cho, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
12. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết sự sống tà hạnh trong các dục và quả dị thục của sự sống theo tà hạnh trong các dục. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người sống tà hạnh trong các dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
13. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói láo và quả dị thục của nói láo. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói láo, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
14. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói hai lưỡi và quả dị thục của nói hai lưỡi. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói hai lưỡi sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
15. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời độc ác và quả dị thục của nói lời độc ác. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói lời độc ác, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
16. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết nói lời phù phiếm và quả dị thục của nói lời phù phiếm. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người nói lời phù phiếm, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
17. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng tham dục và quả dị thục của lòng tham dục. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người có lòng tham dục, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
18. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết lòng sân hận và quả dị thục của lòng sân hận. Và Ta cũng rõ biết sự thực hành như thế nào mà một người có lòng sân hận, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, đọa ngục.
19. Này Thôn trưởng, Ta rõ biết tà kiến và quả dị thục của tà kiến. Và Ta cũng rõ biết một người có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
20. Này Thôn trưởng, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, thấy như sau: “Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai lấy của không cho; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai sống tà hạnh trong các dục; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu. Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu”.
II.(i)
21. Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai, khéo tắm, khéo thoa dầu sáp, tóc râu chải chuốt, được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ hỏi:
− “Này Bạn, người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai, được khéo tắm, tóc râu chải chuốt, được nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
− “Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua và đoạt mạng sống của kẻ đó. Nhà vua hoan hỷ đối với người ấy, nên đã thưởng cho người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo bông tai, được khéo tắm, râu tóc chải chuốt, được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua”.
II.(ii)
22. Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc, với tiếng trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa thành phía Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ hỏi:
“− Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau bởi một sợi dây thật chắc, đầu cạo trọc, với tiếng trống chát tai, được dẫn đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, rồi được dắt ra khỏi cửa thành phía Nam, và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
“− Này Bạn, người này là kẻ thù của vua. Người này đã đoạt mạng sống một người đàn bà hay một người đàn ông. Do vậy, người của vua bắt người này và đối xử như vậy với người này”.
23. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
− Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
24. − Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Ai sát hại sanh mạng; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu”. Họ nói đúng sự thật hay nói láo?
− Bạch Thế Tôn, họ nói láo.
− Và những người nói lời hư ngụy, nói láo, họ là người trì giới hay ác giới.
− Là người ác giới, bạch Thế Tôn.
− Những người ác giới, theo ác pháp là tà hạnh hay chánh hạnh?
− Là tà hạnh, bạch Thế Tôn.
− Những người tà hạnh là những người có tà kiến hay có chánh kiến?
− Là những người có tà kiến, bạch Thế Tôn.
− Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
II.(iii)
25. − Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ hỏi:
“− Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
“−Này Bạn, người này đã đập tan kẻ thù nghịch của vua và đem về châu báu. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người này được đeo vòng hoa, được đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua”.
II.(iv)
26. Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt ra đằng sau… và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ hỏi:
“− Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau… tại cửa thành phía Nam?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
“− Này Bạn, người này đã từ làng hay từ ngôi rừng lấy những vật không cho, được gọi là ăn trộm. Do vậy, những người của nhà vua bắt người này và đối xử như vậy với người này”.
27. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
− Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
28.− Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn, hay Bà-la-môn nào nói như vậy, thấy như sau: “Ai lấy của không cho; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu”. Họ nói đúng sự thật hay họ nói láo?.. (như trên số 24)… Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
II.(v)
29. − Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người này, họ nói:
− “Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
−“Này Bạn, người này có tà hạnh với những người vợ của kẻ thù nghịch của vua. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua”.
II.(vi)
30.− Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt… và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ nói:
−“Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đằng sau… tại cửa thành phía Nam?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
−“Này Bạn, người ấy đã phạm tà hạnh với các phụ nữ và các con gái các gia đình. Do vậy, các người của nhà vua bắt người ấy và đối xử như vậy với người ấy”.
31. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
− Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
32. − Ở đây, này Thôn trưởng, những người Sa-môn, Bà-la-môn nào nói như sau, thấy như sau: “Ai có tà hạnh trong các dục; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu” Họ nói đúng sự thật hay họ nói láo?.. (như trên số 24)… Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
33. − Nhưng ở đây, này Thôn trưởng, chúng ta thấy có người đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua. Về người ấy, họ nỏi:
−“Người này đã làm gì mà được đeo vòng hoa, đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
−“Này Bạn, người này làm cho vua cười với lời nói láo. Nhà vua hoan hỷ với người ấy nên đã thưởng người ấy. Do vậy, người ấy được đeo vòng hoa, được đeo bông tai… được các nữ nhân phục vụ các dục chẳng khác vị vua”.
II.(viii)
34. − Nhưng này Thôn trưởng, ở đây, chúng ta thấy có người hai tay bị trói chặt… và bị chặt đầu tại cửa thành phía Nam. Về người này, họ hỏi:
−“Này Bạn, người này đã làm gì mà hai tay bị trói chặt ra đàng sau… tại cửa thành phía Nam?”
Các Ông trả lời về người ấy như sau:
−“Này Bạn, người ấy do nói láo, đã phá hại tài sản của người gia chủ hay con của người gia chủ. Do vậy, các người của nhà vua bắt người ấy và đối xử như vậy với người ấy”.
35. Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ông có bao giờ thấy hay nghe một người như vậy chăng?
− Bạch Thế Tôn, con từng thấy và nghe một người như vậy, và sẽ được nghe trong tương lai.
36. Ở đây, này Thôn trưởng, những Sa-môn, Bà-la-môn nào nói như sau, thấy như sau: “Ai nói láo; tất cả, ngay trong hiện tại, cảm thọ khổ ưu”. Họ nói đúng sự thật hay nói láo… (như trên số 24)… Và những người có tà kiến, có hợp lý chăng khi đặt tin tưởng vào họ?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
III
37. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Con có một ngôi nhà nghỉ mát, tại đấy có những giường, có những chỗ ngồi, có những đèn dầu. Có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến trú ngụ tại đấy, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, con chia sẻ với các vị ấy. Thuở trước, bạch Thế Tôn, có bốn vị Ðạo sư có quan điểm khác nhau, có (kham nhẫn) khác nhau, có sở thích khác nhau đến trú ngụ tại ngôi nhà nghĩ mát ấy.
III.(i)
38. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh ; ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này đời khác, và truyền dạy lại”.
III.(ii)
39. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh ; ở đời, có những vị Sa-môn, Bàla-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này đời khác, và truyền dạy lại”.
III.(iii)
40. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Tự làm, hay khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu, hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo. Do duyên như vậy, không có tội ác, không có đi đến tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; do duyên ấy, cũng không có tội ác, không đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu; do duyên ấy cũng không có tội ác, không đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ; do duyên ấy, không có công đức, không đi đến công đức”.
III.(iv)
41. Một vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Tự mình làm hay khiến người làm, chém giết, hay tự mình chém giết, đốt nấu, hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây ảo não, hay khiến người gây ảo não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo. Hành động như vậy có tội ác, có đi đến tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén, giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt; vì vậy có tội ác, có đi đến tội ác. Nếu có người đi đến bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, có tội ác; do duyên như vậy, có đi đến tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ; do duyên như vậy, có công đức, có đi đến công đức”.
III.(v)
42. − Về vấn đề này, bạch Thế Tôn, con có phân vân, con có nghi ngờ. Giữa những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này ; ai là người nói sự thật, ai là người nói láo?
− Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng, là sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi, là sự nghi ngờ của Ông. Chính do ở điểm phân vân mà nghi ngờ khởi lên.
− Bạch Thế Tôn, nhưng con có lòng tín thành như vậy đối với Thế Tôn. Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để sự phân vân này có thể đoạn diệt.
IV
43.− Này Thôn trưởng, có pháp Thiền định (Dhammasamàdhi). Ở đây, nếu Ông chứng được tâm định (cittasamàdhi), thời Ông có thể đoạn diệt sự phân vân này của Ông. Và này Thôn trưởng, thế nào là pháp Thiền định?
IV.(i)
44. Ở đây, này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh. Sau khi đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho. Sau khi đoạn tận tà hạnh trong các dục, vị ấy sống từ bỏ tà hạnh trong các dục. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy sống từ bỏ nói láo. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi. Sau khi đoạn tận nói lời độc ác, vị ấy sống từ bỏ nói lời độc ác. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm. Sau khi đoạn tận tham dục, vị ấy sống từ bỏ lòng tham. Sau khi đoạn tận lòng sân, vị ấy sống từ bỏ lòng sân. Sau khi từ bỏ tà kiến, vị ấy sống theo chánh kiến.
Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham từ bỏ như vậy, với lòng sân từ bỏ như vậy, không có lòng si, tỉnh giác, chánh niệm, sống biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương từ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời không có những vị Samôn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác, và truyền dạy lại”. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì. Vì ta không có hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh, ở đây cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì, lời nói được hộ trì, ý được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Với vị ấy, hân hoan sanh khởi; do hân hoan, hỷ sanh khởi; do hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ được cảm giác; với người cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này Thôn trưởng, đây là pháp Thiền định. Ở đây, nếu Ông được tâm định như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
IV.(ii)
45. Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy, với lòng sân được từ bỏ như vậy, không có lòng si, sống tỉnh giác, chánh niệm, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có các loại hóa sanh. Ở đời, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì, vì ta không hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh. Ở đây, cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì. Lời nói ta được hộ trì. Ý ta được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Với vị ấy hân hoan sanh khởi… (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
IV.(iii)
46. Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy… biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ… không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: ‘Tự làm hay khiến người làm… (như trên, số 40)… hành động như vậy không có tội ác gì’. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì…”. (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
IV.(iv)
47. Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy… biến mãn một phương tâm câu hữu với từ… không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: 'Tự làm hay khiến người khác làm… (như trên, số 41)… do duyên ấy, có tội ác, có đi đến tội ác… do nhân duyên ấy, có công đức, có đi đến công đức”. Nếu Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì…". (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.
V
V.(i)
48. Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng… (hoàn toàn giống như đoạn (i) số 44, chỉ khác, trước là tâm câu hữu với từ, nay là tâm câu hữu với bi. … tâm câu hữu với hỷ. … tâm câu hữu với xa).
V.(ii)
49.… (giống như đoạn (ii) số 45, chỉ khác, đây với tâm câu hữu với bi. … câu hữu với hỷ… tâm câu hữu với xả).
V.(iii)
50.… (giống như đoạn (iii) số 46, chỉ khác, đây với tâm câu hữu với bi… câu hữu với hỷ… câu hữu với xả).
V.(iv)
51.… (giống như đoạn (iv) số 47, chỉ khác, ở đây với tâm câu hữu với bi… câu hữu với hỷ… câu hữu với xả).
52. Khi được nói vậy, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:
− Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!.. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
-ooOoo-