Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng về không được tuyên bố.

44. TƯƠNG ƯNG KHÔNG THUYẾT

Phẩm về các Vấn đề không được Giải đáp

SN 44.1 Kinh Khemā Khemāsutta

Một thời, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, Ni sư Khemā đang du hành trong xứ Kosala, giữa Sāvatthī và Sāketa, và bà đã cư ngụ tại Toraṇavatthu. Sau đó, Vua Pasenadi đang đi từ Sāketa đến Sāvatthī, và ông cũng ở lại Toraṇavatthu một đêm.

Rồi Vua Pasenadi nói với một người hầu: “Này khanh, hãy xem thử ở Toraṇavatthu có vị sa môn hay bà la môn nào xứng đáng để ta đến đảnh lễ không.”

“Tâu Bệ hạ, vâng,” người đó đáp. Anh ta tìm khắp Toraṇavatthu, nhưng không thấy vị sa môn hay bà la môn nào xứng đáng để nhà vua đảnh lễ.

Nhưng anh ta thấy Ni sư Khemā đang ở đó, nên anh ta đến gặp vua và nói: “Tâu Bệ hạ, không có vị sa môn hay bà la môn nào ở Toraṇavatthu để nhà vua đảnh lễ. Nhưng có Ni sư Khemā, là đệ tử của Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Bà có tiếng là người sắc sảo, tài năng, thông minh, uyên bác, một nhà hùng biện xuất sắc và tài giỏi. Bệ hạ có thể đến đảnh lễ bà.”

Sau đó, Vua Pasenadi của xứ Kosala đến gặp Ni sư Khemā, cúi đầu, ngồi xuống một bên và nói với bà:

“Thưa Sư cô, một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?”

“Tâu đại vương, điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Thưa Sư cô, khi được hỏi những câu này, Sư cô đều nói rằng điều này không được Đức Phật tuyên bố. Nguyên nhân là gì, lý do gì mà điều này không được Đức Phật tuyên bố?”

"Vậy thì, tâu đại vương, tôi sẽ hỏi lại ngài về điều này, và ngài có thể trả lời theo ý muốn. Đại vương nghĩ sao?

Ngài có người kế toán, người tính toán, hay người đếm nào có thể đếm được số hạt cát trên sông Hằng, tức là có bao nhiêu hạt cát, bao nhiêu trăm, bao nhiêu nghìn, hay bao nhiêu trăm nghìn hạt cát không?"

“Thưa Sư cô, không.”

“Ngài có người kế toán, người tính toán, hay người đếm nào có thể đếm được lượng nước trong đại dương, tức là có bao nhiêu gallon nước, bao nhiêu trăm, bao nhiêu nghìn, hay bao nhiêu trăm nghìn gallon nước không?”

“Thưa Sư cô, không. Tại sao vậy? Vì đại dương sâu thẳm, không thể đo lường, và khó dò.”

"Cũng vậy, tâu đại vương, bất kỳ sắc (Form / rūpa / hình thức) nào mà qua đó một người đã chứng ngộ có thể được mô tả, thì sắc đó đã bị cắt đứt tận gốc, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai. Một người đã chứng ngộ được giải thoát khỏi sự tính toán bằng sắc. Họ sâu thẳm, không thể đo lường, và khó dò, như đại dương. Việc nói rằng sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không phải không tồn tại: không có điều nào trong số này áp dụng được.

Bất kỳ cảm giác (feeling / thọ) nào… nhận thức (perception / tưởng / nhận thức, suy nghĩ) nào… hành (choices / các hành động, sự lựa chọn) nào… thức (consciousness / thức phát sinh từ thân và tâm, là một khái niệm tương tự như ‘điện’ phát sinh từ cuộn dây quay trong từ trường) nào mà qua đó một người đã chứng ngộ có thể được mô tả, thì chúng đã bị cắt đứt tận gốc, làm cho như một gốc cây cọ, bị xóa sổ, và không thể phát sinh trong tương lai. Một người đã chứng ngộ được giải thoát khỏi sự tính toán bằng thức. Họ sâu thẳm, không thể đo lường, và khó dò, như đại dương. Việc nói rằng sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không phải không tồn tại: không có điều nào trong số này áp dụng được."

Sau đó, Vua Pasenadi tán thành và đồng ý với những gì Ni sư Khemā nói. Rồi ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu, và đi vòng quanh bà một cách kính trọng, giữ bà ở bên phải, trước khi rời đi.

Sau đó, vào một dịp khác, Vua Pasenadi của xứ Kosala đến gặp Đức Phật, cúi đầu và ngồi xuống một bên. Ông hỏi Đức Phật đúng những câu hỏi mà ông đã hỏi Ni sư Khemā, và nhận được những câu trả lời tương tự.

Ông nói: "Thật vi diệu, thưa ngài, thật đáng kinh ngạc! Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi! Có một lần tôi đến gặp Ni sư Khemā và hỏi bà về vấn đề này. Và bà đã giải thích cho tôi bằng những lời lẽ và câu chữ này, giống hệt như Đức Phật. Thật vi diệu, thưa ngài, thật đáng kinh ngạc! Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi!

Thôi, bây giờ, thưa ngài, tôi phải đi. Tôi có nhiều phận sự và nhiều việc phải làm."

“Xin mời đại vương, cứ tự nhiên.”

Sau đó, Vua Pasenadi tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Rồi ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu, và đi vòng quanh ngài một cách kính trọng, giữ ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

I. Trưởng Lão Ni Khemà (S.iv,374)

1) M ột thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Khemà đang đi du hành giữa dân chúng Kosala và trú ở tại Toranavatthu, giữa Sàvatthi và Sàketà.

3. Vua Pasenadi nước Kosala cũng đang đi từ Sàketa đến Sàvatthi và trú một đêm ở Toranavatthu, giữa Sàketa và Sàvatthi.

4. Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi một người và nói:

− Hãy đến, này Người kia. Ông có biết vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào ở tại Toranavatthu để hôm nay ta có thể đến yết kiến vị ấy?

− Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi tìm khắp Toranavatthu không thấy có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để vua Pasenadi nước Kosala có thể đến yết kiến.

5. Rồi người ấy thấy Tỷ-kheo-ni Khemà đến trú ở Toranavatthu; sau khi thấy, người ấy đi đến vua Pasenadi nước Kosala và thưa:

− Tâu Ðại vương, tại Toranavatthu không có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để Ðại vương có thể yết kiến. Nhưng tâu Ðại vương, có Tỷ-kheo-ni Khemà là đệ tử của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về bậc nữ Tôn giả ấy: “Nữ Tôn giả là bậc hiền trí, thông minh, có trí, nghe nhiều, lời nói đến tâm, ứng đáp lanh lợi”. Ðại vương có thể đến yết kiến vị ấy.

6. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà; sau khi đến, đảnh lễ vị ấy rồi ngồi xuống một bên.

7. Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tỷ-kheo-ni Khemà:

− Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?

− Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

8. − Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?

− Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.

9. − Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

− Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.

10. − Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

11. − Ðược hỏi: “Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết”“. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết””. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”“. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết””. Thưa Nữ Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?

12.− Vậy thưa Ðại vương, ở đây, tôi sẽ hỏi Ðại vương. Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.

13. Ðại vương nghĩ thế nào, thưa Ðại vương, Ðại vương có người kế toán nào, chưởng ấn nào (muddiko), toán số nào có thể đếm được cát sông Hằng có số hột cát như vậy, có số trăm hột cát như vậy, có số ngàn hột cát như vậy, có số trăm ngàn hột cát như vậy?

− Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.

14. − Ðại vương có người kế toán nào, có người chưởng ấn nào, có người toán số nào có thể đong lường được nước của biển lớn có số đấu nước như vậy, có số trăm đấu nước như vậy, có số ngàn đấu nước như vậy, có số trăm ngàn đấu nước như vậy?

− Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.

− Vì sao?

− Thưa Nữ Tôn giả, vì rằng biển lớn thâm sâu, vô lường, khó dò đến đáy.

15. − Cũng vậy, thưa Ðại vương, nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua sắc thân (rupeena), nhưng sắc thân ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của sắc thân. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.

16. Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua cảm thọ, nhưng cảm thọ ấy, Thế Tôn đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của cảm thọ. Thưa Ðại vương, Như lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận… Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.

17-19. Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai qua các tưởng… qua các hành… qua các thức; nhưng thức ấy, Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của thức. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.

20. Rồi vua Pasanadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời của Tỷ-kheo-ni Khemà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Khemà, thân phía hữu hướng về Nữ Tôn giả rồi ra đi.

21. Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau một thời gian, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

22. Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?

− Thưa Ðại vương, Ta không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

23. Thế là, thưa Thế Tôn, Như Lai không có tồn tại sau khi chết?

− Thưa Ðại vương, Ta cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.

24-25… (Như trên)…

26-34… (Như trên, từ số 11 đến số 19, với những thay đổi cần thiết)…

35. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

36. Một thời, bạch Thế Tôn, con đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà và hỏi về ý nghĩa này. Nữ Tôn giả ấy đã trả lời cho con về ý nghĩa này với những câu này, với những lời này, giống như Thế Tôn. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú. Bạch Thế Tôn, nay con phải đi, con có nhiều công vụ, nhiều việc phải làm.

− Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

37. Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

SN 44.2 Kinh Anurādha Anurādhasutta

Một thời, Đức Phật trú tại Vesālī, trong Rừng Lớn, tại ngôi nhà có mái nhọn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Anurādha đang ở không xa Đức Phật trong một túp lều trong rừng. Sau đó, một vài du sĩ ngoại đạo đến gặp Tôn giả Anurādha và chào hỏi ông.

Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, họ ngồi xuống một bên và nói với ông:

“Thưa Tôn giả Anurādha, khi một người đã chứng ngộ mô tả một người đã chứng ngộ—một bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả người đó theo bốn cách này: Sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không phải không tồn tại.”

“Thưa các Tôn giả, khi một người đã chứng ngộ mô tả một người đã chứng ngộ—một bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả người đó khác với bốn cách này: Sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không phải không tồn tại.”

Khi ông nói điều này, các du sĩ nói với ông: “Vị Tỷ kheo này chắc hẳn là người mới tu, mới xuất gia, hoặc là một vị Tỷ kheo lớn tuổi nhưng ngu dốt, kém cỏi.” Sau đó, sau khi khiển trách Tôn giả Anurādha bằng cách gọi ông là “người mới tu” và “ngu dốt”, các du sĩ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Ngay sau khi họ rời đi, Anurādha nghĩ: “Nếu những du sĩ đó hỏi thêm, mình nên trả lời thế nào để lặp lại những gì Đức Phật đã nói, và không xuyên tạc ngài bằng một điều không thật? Mình nên giải thích thế nào cho phù hợp với giáo pháp của ngài, để không có cơ sở chính đáng nào cho việc phản bác và chỉ trích?”

Sau đó, Tôn giả Anurādha đến gặp Đức Phật, cúi đầu, ngồi xuống một bên và kể lại cho ngài những gì đã xảy ra.

“Anurādha, con nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?”

“Thưa ngài, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Thưa ngài, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hư hoại, có đáng để xem nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa ngài, không.”

“Cảm giác… nhận thức… hành… thức là thường hay vô thường?”

“Thưa ngài, là vô thường.”

“Nhưng nếu nó vô thường, nó là khổ hay vui?”

“Thưa ngài, là khổ.”

“Nhưng nếu nó vô thường, khổ, và có thể hư hoại, có đáng để xem nó như thế này không: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’?”

“Thưa ngài, không.”

"Vậy nên, Anurādha, con nên thực sự thấy bất kỳ loại sắc nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả sắc—với sự hiểu biết đúng đắn: ‘Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Bất kỳ loại cảm giác… nhận thức… hành… thức nào—quá khứ, tương lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao thượng; xa hay gần: tất cả thức—với sự hiểu biết đúng đắn: ‘Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Thấy được điều này, một vị thánh đệ tử có học sẽ nhàm chán với sắc, cảm giác, nhận thức, hành, và thức. Khi nhàm chán, ham muốn sẽ phai nhạt. Khi ham muốn phai nhạt, họ được giải thoát. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát.

Họ hiểu rằng: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa ở nơi này.’

Anurādha, con nghĩ sao? Con có xem một người đã chứng ngộ là sắc không?"

“Thưa ngài, không.”

“Con có xem một người đã chứng ngộ là cảm giác… nhận thức… hành… thức không?”

“Thưa ngài, không.”

“Anurādha, con nghĩ sao? Con có xem một người đã chứng ngộ là ở trong sắc không?”

“Thưa ngài, không.”

“Hay con xem một người đã chứng ngộ là khác với sắc?”

“Thưa ngài, không.”

“Con có xem một người đã chứng ngộ là ở trong cảm giác… hay khác với cảm giác… là ở trong nhận thức… hay khác với nhận thức… là ở trong hành… hay khác với hành… là ở trong thức… hay khác với thức không?”

“Thưa ngài, không.”

“Anurādha, con nghĩ sao? Con có xem một người đã chứng ngộ là người sở hữu sắc, cảm giác, nhận thức, hành, và thức không?”

“Thưa ngài, không.”

“Anurādha, con nghĩ sao? Con có xem một người đã chứng ngộ là người không có sắc, cảm giác, nhận thức, hành, và thức không?”

“Thưa ngài, không.”

“Trong trường hợp đó, Anurādha, vì con không thực sự tìm thấy một người đã chứng ngộ ngay trong đời này, có thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Thưa các Tôn giả, khi một người đã chứng ngộ mô tả một người đã chứng ngộ—một bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, người đã đạt đến điểm cao nhất—họ mô tả người đó khác với bốn cách này: Sau khi chết, một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại, hoặc không còn tồn tại, hoặc vừa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc không tồn tại cũng không phải không tồn tại’ không?”

“Thưa ngài, không.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Anurādha! Trong quá khứ, cũng như hôm nay, điều ta mô tả là khổ và sự diệt khổ.”

II. Anuràdha. (S.iv380)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường.

2. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha đang ở một ngôi chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu.

3. Rồi rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

4. Ngồi một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy thưa với Tôn giả Anuràdha:

− Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng Nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

− Thưa chư Hiền, Như Lai ấy là bậc Thượng nhân, bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp sau đây: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Anuràdha:

− Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia không bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si, không có thông minh.

5. Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách (apasàdetvà) Tôn giả Anuràdha là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

6. Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ: “Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để câu ta trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế tôn với điều không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai nói lời tương ứng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.

7. Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:

− Ở đây, bạch Thế Tôn, con trú trong một ngôi chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi, bạch Thế Tôn, rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến con, sau khi đến, nói lên với con những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con: “Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thắng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”". Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con: “Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia chưa bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si, không có thông minh”. Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách con là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

9. Bạch Thế Tôn, khi các vị du sĩ ngoại đạo ấy đi không bao lâu con suy nghĩ như sau: “Nếu các vị du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để câu trả lời của ta cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp và những ai nói lời tương ưng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.

10.− Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Thọ là thường hay vô thường?. … Tưởng là thường hay vô thường?.. Các hành là thường hay vô thường?. … Thức là thường hay vô thường?

− Là vô thường, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

− Là khổ, bạch Thế Tôn.

− Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

11. − Do vậy, này Anuràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì, quá khứ, vị lai, hiện tại… Phàm có tưởng gì… Phàm có các hành gì… Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi”.

12. Thấy vậy, này Anuràdha, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

13. Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán sắc là Như Lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán thọ là Như Lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán tưởng là Như Lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán các hành là Như Lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán thức là Như Lai không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

14-18. − Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai ở trong sắc không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở ngoài sắc không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở trong thọ không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở ngoài thọ không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở trong tưởng không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở ngoài tưởng không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở trong các hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở ngoài các hành không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở trong thức không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai ở ngoài thức không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

19-20. − Ông nghĩ như thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Ông có quán Như Lai là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có thức hay không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

21. − Ở đây, này Anuràdha, Ông ngay trong hiện tại không có nắm được Như Lai một cách chân thật, một cách xác chứng, thời có hợp lý chăng khi Ông tuyên bố về Như Lai rằng:

“Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được biết đến ngoài bốn trường hợp sau đây: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”".

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

22. − Lành thay, lành thay! Này Anuràdha. Trước đây và hiện nay, này Anuràdha, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.

SN 44.3 Kinh Sāriputta và Koṭṭhita (thứ nhất) Paṭhamasāriputtakoṭṭhikasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana.

Vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Sāriputta:

“Thưa Tôn giả Sāriputta, một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?”

“Thưa Tôn giả, điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

"Vậy thì, một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết phải không? …

Một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết phải không? …

Một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?"

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Thưa Tôn giả, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói rằng chúng không được Đức Phật tuyên bố. Nguyên nhân là gì, lý do gì mà chúng không được Đức Phật tuyên bố?”

"Thưa Tôn giả, ‘một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong sắc. ‘Một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong sắc. ‘Một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong sắc. ‘Một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong sắc.

‘một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong cảm giác… nhận thức… hành… thức. ‘Một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong thức. ‘Một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong thức. ‘Một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết không?’ được bao hàm trong thức.

Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

III. Sàriputta-Kotthika (1) (hay Trú trước) (S.iv,384)

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Barànasi, tại Isipatana, trong vườn Nai.

2. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

− Thưa Hiền giả Sàriputta, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không?

− Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

4.− Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?

− Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”.

5.− Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

− Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.

6.− Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

7. − Ðược hỏi: “Thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?”, Hiền giả trả lời: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết”“. Ðược hỏi: “Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại sau khi chết?”, Hiền giả trả lời: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?”, Hiền giả trả lời: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết””. Ðược hỏi: “Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”, Hiền giả trả lời: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không toàn tại sau khi chết”". Thưa Hiền giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?

8. “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, thưa Hiền giả, là chấp trước sắc. “Như Lai không có tồn tại sau khi chết” là chấp trước sắc. “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” là chấp trước sắc. “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” là chấp trước sắc.

9. “Như Lai có tồn tại sau khi chết” là chấp trước thọ. “Như Lai không có tồn tại sau khi chết” là chấp trước thọ. “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” là chấp trước thọ. “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” là chấp trước thọ.

10. “Như Lai có tồn tại sau khi chết” là chấp trước tưởng. “Như Lai không tồn tại sau khi chết” là chấp trước tưởng. “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” là chấp trước tưởng. “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” là chấp trước tưởng.

11. “Như Lai có tồn tại sau khi chết” là chấp trước các hành. “Như Lai không tồn tại sau khi chết” là chấp trước các hành. “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” là chấp trước các hành. “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” là chấp trước các hành.

12. “Như Lai có tồn tại sau khi chết” là chấp trước thức. “Như Lai không tồn tại sau khi chết” là chấp trước thức. “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” là chấp trước thức. “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” là chấp trước thức.

13. Này Hiền giả, do nhân này, do duyên này, Thế Tôn không trả lời.

SN 44.4 Kinh Sāriputta và Koṭṭhita (thứ hai) Dutiyasāriputtakoṭṭhikasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana. …

(Tương tự như trên cho đến:)

“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả, lý do gì mà điều này không được Đức Phật tuyên bố?”

"Thưa Tôn giả, do không thực sự biết và thấy sắc, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó, nên người ta nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Do không thực sự biết hoặc thấy cảm giác… nhận thức… hành… thức, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó, nên người ta nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Khi thực sự biết và thấy sắc… cảm giác… nhận thức… hành… thức, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó, người ta không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

IV. Sàriputta - Kotthika (2) (hay Tập khởi) (S.iv,387)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasi (Ba-la-nại), tại Isipatana, chỗ vườn Nai…

2-7. − Thưa Hiền giả, do nhân gì Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy?

8. − Thưa Hiền giả, do không như thật biết, như thật thấy sắc; do không như thật biết, như thật thấy sắc tập khởi; do không như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt; do không như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến sắc đoạn diệt nên mới có quan điểm rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết…”.

9-11… … thọ… tưởng… các hành…

12. Do không như thật biết, như thật thấy thức; do không như thật biết, như thật thấy thức tập khởi; do không như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt; do không như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến thức đoạn diệt nên mới có quan điểm rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

13. Do như thật biết, như thật thấy sắc; do như thật biết, như thật thấy sắc tập khởi; do như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt; do như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến sắc đoạn diệt nên không có quan điểm rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

14-16… … thọ… tưởng… các hành…

17. Do như thật biết, như thật thấy thức; do như thật biết, như thật thấy thức tập khởi; do như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt; do như thật biết, như thật thấy con đường đưa đến thức đoạn diệt nên không có quan điểm rằng: “Như Lai có tồn tại sau chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

18. Thưa Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy.

SN 44.5 Kinh Sāriputta và Koṭṭhita (thứ ba) Tatiyasāriputtakoṭṭhikasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana. …

(Tương tự như trên cho đến:)

“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả, lý do gì mà điều này không được Đức Phật tuyên bố?”

"Thưa Tôn giả, nếu ngài chưa từ bỏ được lòng tham, ham muốn, yêu thích, khao khát, đam mê, và ái (craving / sự khao khát, ham muốn) đối với sắc… cảm giác… nhận thức… hành… thức, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Nếu ngài đã từ bỏ được lòng tham đối với sắc… cảm giác… nhận thức… hành… thức, ngài sẽ không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

V. Sàriputta - Kotthika (3) (hay Ái) (S.iv,368)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasi (Ba-la-nại), tại Isipatana, chỗ vườn Nai…

2-7. − Thưa Hiền giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy?

8. − Thưa Hiền giả, đối với ai chưa đoạn trừ tham đối với sắc, chưa đoạn trừ dục, chưa đoạn trừ ái, chưa đoạn trừ khát, chưa đoạn trừ nhiệt tâm, chưa đoạn trừ khát ái, thời người ấy có quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

9-11… … đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

12. Thưa Hiền giả, đối với ai chưa đoạn trừ tham đối với thức, chưa đoạn trừ dục, chưa đoạn trừ ái chưa đoạn trừ khát, chưa đoạn trừ nhiệt tâm, chưa đoạn trừ khát ái, thời người ấy có quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

13. Này Hiền giả, đối với ai đã đoạn trừ tham đối với sắc, đã đoạn trừ dục, đã đoạn trừ ái, đã đoạn trừ khát, đã đoạn trừ nhiệt tâm, đã đoạn trừ khát ái, người ấy sẽ không có quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

14-16… … đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành…

17. Này Hiền giả, đối với ai đã đoạn trừ lòng tham đối với thức,đã đoạn trừ dục, đã đoạn trừ ái, đã đoạn trừ khát, đã đoạn trừ nhiệt tâm, đã đoạn trừ khát ái, thời người ấy không có quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

18. Này Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy.

SN 44.6 Kinh Sāriputta và Koṭṭhita (thứ tư) Catutthasāriputtakoṭṭhikasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana.

Vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Mahākoṭṭhita, và họ chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Mahākoṭṭhita:

“Thưa Tôn giả Koṭṭhita, một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?” …

“Thưa Tôn giả, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói rằng điều này không được Đức Phật tuyên bố. Nguyên nhân là gì, lý do gì mà điều này không được Đức Phật tuyên bố?”

"Thưa Tôn giả, nếu ngài thích, yêu, và tận hưởng sắc, và không thực sự thấy được sự chấm dứt của sắc, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Nếu ngài thích, yêu, và tận hưởng cảm giác… nhận thức… hành… thức, và không thực sự thấy được sự chấm dứt của thức, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Nếu ngài không thích, không yêu, và không tận hưởng sắc… cảm giác… nhận thức… hành… thức, và ngài thực sự thấy được sự chấm dứt của thức, ngài sẽ không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Đây là nguyên nhân, đây là lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

“Nhưng thưa Tôn giả, liệu có cách giải thích nào khác về lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố không?”

“Có thể có, thưa Tôn giả. Nếu ngài thích, yêu, và tận hưởng hữu (existence / sự tồn tại, sự trở thành), và không thực sự thấy được sự chấm dứt của sự tồn tại tiếp diễn, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’ Nếu ngài không thích, không yêu, và không tận hưởng sự tồn tại, và ngài thực sự thấy được sự chấm dứt của sự tồn tại tiếp diễn, ngài sẽ không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’ Đây cũng là một cách giải thích tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Nhưng thưa Tôn giả, liệu có cách giải thích nào khác về lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố không?”

"Có thể có, thưa Tôn giả.

Nếu ngài thích, yêu, và tận hưởng sự bám giữ (grasping / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào), và không thực sự thấy được sự chấm dứt của sự bám giữ, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Nếu ngài không thích, không yêu, và không tận hưởng sự bám giữ, và ngài thực sự thấy được sự chấm dứt của sự bám giữ, ngài sẽ không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Đây cũng là một cách giải thích tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

“Nhưng thưa Tôn giả, liệu có cách giải thích nào khác về lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố không?”

"Có thể có, thưa Tôn giả.

Nếu ngài thích, yêu, và tận hưởng ái, và không thực sự thấy được sự chấm dứt của ái, ngài sẽ nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Nếu ngài không thích, không yêu, và không tận hưởng ái, và ngài thực sự thấy được sự chấm dứt của ái, ngài sẽ không nghĩ ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Đây cũng là một cách giải thích tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố."

“Nhưng thưa Tôn giả, liệu có cách giải thích nào khác về lý do tại sao điều này không được Đức Phật tuyên bố không?”

“Thật tình, thưa Tôn giả, ngài còn muốn gì hơn nữa? Đối với người đã được giải thoát nhờ sự chấm dứt của ái, không còn vòng luân hồi nào để tìm thấy nữa.”

VI. Sàriputta - Kotthika (4) (hay Vườn) (S.iv,388)

I

1. Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàranasì, tại Isipatana, ở vườn Nai.

2. Rồi Tôn giả Sàiputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kotthika; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kotthika những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Kotthika:

− Thưa Tôn giả Kotthika, Như Lai có tồn tại sau khi chết?.. Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?.. Ðược hỏi vậy, Hiền giả trả lời: “Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”".

Do nhân gì, thưa Hiền giả, do duyên gì, Thế Tôn không trả lời vấn đề ấy?

4. − Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc sắc, ưa thích sắc, hoan hỷ sắc, không như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt, thời người ấy có quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc thọ, ưa thích thọ, hoan hỷ thọ, không như thật biết, như thật thấy thọ đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”… tưởng… các hành… Thưa Hiền giả, với ai còn ái lạc thức, ưa thích thức, hoan hỷ thức, không như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

5. Này Hiền giả, đối với ai không ái lạc sắc, không ưa thích sắc, không hoan hỷ sắc, như thật biết, như thật thấy sắc đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Thưa Hiền giả, với ai không còn ái lạc thọ… tưởng… các hành… không ái lạc thức, không ưa thích thức, không hoan hỷ thức, như thật biết, như thật thấy thức đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

6. Này Hiền giả, đây là nhân, đây là duyên, đây là lý do mà Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.

II

7. − Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do đấy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?

− Thưa có, này Hiền giả.

8. Ai còn ái lạc hữu, thưa Hiền giả, ưa thích hữu, hoan hỷ hữu, không như thật biết, không như thật thấy hữu đoạn diệt, thời người ấy có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

9. Ai không còn ái lạc hữu, thưa Hiền giả, không ưa thích hữu, không hoan hỷ hữu, như thật biết, như thật thấy hữu đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

10. Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.

III

11. − Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?

− Thưa có, này Hiền giả.

12. Ai còn ái lạc thủ, thưa Hiền giả, ưa thích thủ, hoan hỷ thủ, không như thật biết, như thật thấy thủ đoạn diệt, thời người ấy có những quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

13. Ai không còn ái lạc thủ, thưa Hiền giả, không ưa thích thủ, không hoan hỷ thủ, như thật biết, như thật thấy thủ đoạn diệt, thời người ấy không có những quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

14. Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.

IV

15. − Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?

− Thưa có, này Hiền giả.

16. Với ai còn ái lạc ái, thưa Hiền giả, ưa thích ái, hoan hỷ ái, không như thật biết, không như thật thấy ái đoạn diệt, thời người ấy có những quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

17. Với ai, thưa Hiền giả, không còn ái lạc ái, không ưa thích ái, không hoan hỷ ái, và như thật biết, như thật thấy ái đoạn diệt, thời người ấy không có các quan điểm: “Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

18. Thưa Hiền giả, đây là lý do vì sao Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy.

V

19. − Thưa Hiền giả, có lý do nào khác, do vậy Thế Tôn không trả lời về vấn đề ấy?

− Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, sao Hiền giả còn muốn hỏi thêm chi nữa. Ðối với Tỷ-kheo đã được giải thoát nhờ đoạn tận ái, thời không còn gì để nêu rõ là được tăng trưởng.

SN 44.7 Kinh Moggallāna Moggallānasutta

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Mahāmoggallāna:

“Thưa Tôn giả Moggallāna, có đúng là: ‘vũ trụ là vĩnh cửu’ không?”

“Này Vaccha, điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy có đúng là: ‘vũ trụ không vĩnh cửu’… ‘vũ trụ là hữu hạn’… ‘vũ trụ là vô hạn’… ‘linh hồn và thân thể là một’… ‘linh hồn và thân thể là hai thứ khác nhau’… ‘một người đã chứng ngộ vẫn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’… ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’ không?”

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Moggallāna, lý do gì mà khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi những câu này, họ lại tuyên bố một trong những điều này là đúng? Và lý do gì mà khi sa môn Gotama được hỏi những câu này, ngài lại không tuyên bố một trong những điều này là đúng?”

"Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo xem mắt như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’ Họ xem tai… mũi… lưỡi… thân… trí não như thế này: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’

Đó là lý do tại sao, khi được hỏi, họ tuyên bố một trong những câu trả lời đó là đúng.

Bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xem mắt như thế này: ‘Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’ Ngài xem tai… mũi… lưỡi… thân… trí não như thế này: ‘Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tự ngã của tôi.’

Đó là lý do tại sao, khi được hỏi, ngài không tuyên bố một trong những câu trả lời đó là đúng."

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đến gặp Đức Phật và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ông hỏi Đức Phật những câu hỏi tương tự, và nhận được những câu trả lời tương tự.

Ông nói: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc! Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi! Vừa rồi tôi đến gặp sa môn Mahāmoggallāna và hỏi ông về vấn đề này. Và ông đã giải thích cho tôi bằng những lời lẽ và câu chữ này, giống hệt như Tôn giả Gotama. Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama, thật đáng kinh ngạc! Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi!”

VII. Moggalàna (hay Xứ) (S.iv.391)

1.. …

2. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Tôn giả Mahà Moggalàna:

− Thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là thường còn?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.

4. − Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô thường?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Thế giới là vô thường”.

5. − Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là hữu biên?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là hữu biên”.

6. − Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô biên?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Thế giới là vô biên”.

7. − Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải sinh mạng và thân thể là một?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Sinh mạng và thân thể là một”.

8.− Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy sinh mạng và thân thể là khác?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Sinh mạng và thân thể là khác”.

9.− Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

10.− Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không có tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.

11. − Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.

12.− Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

13.− Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì các vị du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như thế này, thời trả lời như thế này: "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

14. Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama, khi được hỏi như thế này, thời không trả lời như thế này: "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên.

Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

15. − Này Vaccha, vì rằng các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”;. … quán tai… quán mũi… quán lưỡi… quán thân… quán ý là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo, nên khi được hỏi như vậy, trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

16. Và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này Vaccha, quán con mắt là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi”… quán tai… quán mũi… quán lưỡi… quán thân… quán ý là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

17. Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

18. Ngồi một bên, Vacchagotta bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, thế giới thường còn?

− Này Vaccha, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn”.

19-26… (như trên)…

27. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

28. − Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì các du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?

29.− Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”, quán tai… quán mũi… quán lưỡi… quán thân… quán ý là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, nên trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

30. Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán con mắt là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”, quán tai… quán mũi… quán lưỡi… quán thân… quán ý là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

31. − Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

32. Thưa Tôn giả Gotama, nay con đi đến Sa-môn Mahà Moggalàna và nói về ý nghĩa này. Sa-môn Moggalàna, với những câu như thế này, với những lời như thế này đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Gotama. Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

SN 44.8 Kinh Vacchagotta Vacchagottasutta

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Phật và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, có đúng là: ‘vũ trụ là vĩnh cửu’ không?”

“Điều này không được ta tuyên bố, này Vaccha.” …

“Vậy có đúng là: ‘một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’ không?”

“Điều này cũng không được ta tuyên bố.”

“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Gotama, lý do gì mà khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi những câu này, họ lại tuyên bố một trong những điều này là đúng? Và lý do gì mà khi Tôn giả Gotama được hỏi những câu này, ngài lại không tuyên bố một trong những điều này là đúng?”

"Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo xem sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hoặc tự ngã trong sắc. Họ xem cảm giác… nhận thức… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hoặc tự ngã trong thức.

Đó là lý do tại sao, khi được hỏi, họ tuyên bố một trong những câu trả lời đó là đúng.

Bậc Như Lai không xem sắc là tự ngã, tự ngã có sắc, sắc trong tự ngã, hoặc tự ngã trong sắc. Ngài không xem cảm giác… nhận thức… hành… thức là tự ngã, tự ngã có thức, thức trong tự ngã, hoặc tự ngã trong thức.

Đó là lý do tại sao, khi được hỏi, ngài không tuyên bố một trong những câu trả lời đó là đúng."

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna, và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ông hỏi Mahāmoggallāna những câu hỏi tương tự, và nhận được những câu trả lời tương tự.

Ông nói: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Moggallāna, thật đáng kinh ngạc. Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi! Vừa rồi tôi đến gặp sa môn Gotama và hỏi ngài về vấn đề này. Và ngài đã giải thích cho tôi bằng những lời lẽ và câu chữ này, giống hệt như Tôn giả Moggallāna. Thật vi diệu, thưa Tôn giả Moggallāna, thật đáng kinh ngạc! Làm sao mà ý nghĩa và lời lẽ của thầy và trò lại khớp nhau và đồng thuận không mâu thuẫn về vấn đề cốt lõi!”

VIII. Vaccha (hay Trói buộc) (S.iv,395)

1.. …

2. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?

− Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Thế giới là thường còn…”.

4-11… (như trên)…

12. − Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

13. − Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?

14. − Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

15. Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã… quán tưởng… quán các hành… quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

16. Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

17. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggalàna:

− Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là thường còn?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.

18-26… (như trên)…

27. − Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

28. − Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggalàna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?

29. − Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

30. Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ… quán tưởng… quán các hành… quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

31. − Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

32. Thưa Tôn giả Moggalàna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Samôn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggalàna. Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggalàna! Thật hy hữu thay, Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

SN 44.9 Giảng đường Tranh luận Kutūhalasālāsutta

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Phật và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

"Thưa Tôn giả Gotama, vài ngày trước, một số sa môn, bà la môn, và du sĩ theo các tôn giáo khác nhau đang ngồi cùng nhau trong giảng đường tranh luận, và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: 'Pūraṇa Kassapa này lãnh đạo một giáo đoàn và một cộng đồng, và hướng dẫn một cộng đồng. Ông ta là một nhà sáng lập tôn giáo nổi tiếng và có danh tiếng, được nhiều người coi là thánh thiện. Khi một đệ tử qua đời, ông ta tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó. Và đối với một đệ tử là bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, đã đạt đến điểm cao nhất, khi họ qua đời, ông ta cũng tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó.

Sa môn Gosāla cầm gậy tre này… vị tu sĩ Jain của dòng họ Ñātika… Sañjaya Belaṭṭhiputta… Pakudha Kaccāyana… Ajita mặc áo choàng bằng tóc này lãnh đạo một giáo đoàn và một cộng đồng, và hướng dẫn một cộng đồng. Ông ta là một nhà sáng lập tôn giáo nổi tiếng và có danh tiếng, được nhiều người coi là thánh thiện. Khi một đệ tử qua đời, ông ta tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó. Và đối với một đệ tử là bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, đã đạt đến điểm cao nhất, khi họ qua đời, ông ta cũng tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó.

Sa môn Gotama này lãnh đạo một giáo đoàn và một cộng đồng, và hướng dẫn một cộng đồng. Ngài là một nhà sáng lập tôn giáo nổi tiếng và có danh tiếng, được nhiều người coi là thánh thiện. Khi một đệ tử qua đời, ngài tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó.

Nhưng đối với một đệ tử là bậc tối thượng, cao cả nhất trong loài người, đã đạt đến điểm cao nhất, khi họ qua đời, ngài không tuyên bố rằng người này được tái sinh ở đây, trong khi người kia được tái sinh ở đó. Thay vào đó, ngài tuyên bố rằng họ đã cắt đứt ái, tháo gỡ các xiềng xích (The fetters / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm), và bằng cách hiểu đúng về ngã mạn đã chấm dứt khổ đau.’ Tôi đã có sự nghi ngờ và không chắc chắn về điều đó: ‘Làm thế nào tôi có thể hiểu được giáo pháp của sa môn Gotama?’"

"Này Vaccha, không có gì lạ khi con nghi ngờ và không chắc chắn. Sự nghi ngờ đã nảy sinh trong con về một vấn đề không chắc chắn.

Ta mô tả sự tái sinh cho người có nhiên liệu cho sự bám giữ, chứ không phải cho người không có. Giống như một ngọn lửa chỉ cháy khi có nhiên liệu, không thể cháy nếu không có nhiên liệu. Tương tự như vậy, ta mô tả sự tái sinh cho người bám giữ vào nhiên liệu, chứ không phải cho người không bám giữ vào nhiên liệu."

“Nhưng khi một ngọn lửa bị gió thổi tắt, Tôn giả Gotama nói nhiên liệu của nó lúc đó là gì?”

“Vào lúc đó, ta nói rằng nó được nuôi dưỡng bởi gió. Vì gió là nhiên liệu của nó lúc đó.”

“Nhưng khi một người còn chấp trước đã từ bỏ thân xác này và chưa được tái sinh vào một trong các cõi, Tôn giả Gotama nói nhiên liệu của họ lúc đó là gì?”

“Khi một người còn chấp trước đã từ bỏ thân xác này, này Vaccha, và chưa được tái sinh vào một trong các cõi, ta nói rằng họ được nuôi dưỡng bởi ái. Vì ái là nhiên liệu của họ lúc đó.”

IX. Luận Nghị Ðường (Kutùhalasàlà) (S.iv,398)

1.. …

2. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng”. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau:

“Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.

4-9. Makkhali Gosàla… Nigantha Nàtaputta… Sanjaya Belatthiputta… Pakuddha Kaccàyana… vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.

10. Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Samôn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: “Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau”.

11. Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: “Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?”

12. − Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.

13. Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.

14. − Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?

− Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).

15. − Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?

− Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).

SN 44.10 Kinh Ānanda Ānandasutta

Sau đó, du sĩ Vacchagotta đến gặp Đức Phật và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Thưa Tôn giả Gotama, tự ngã có tồn tại không?” Nhưng khi ông nói điều này, Đức Phật vẫn im lặng.

“Vậy thì tự ngã không tồn tại phải không?” Nhưng lần thứ hai Đức Phật vẫn im lặng. Sau đó, du sĩ Vacchagotta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Và rồi, không lâu sau khi Vacchagotta rời đi, Tôn giả Ānanda nói với Đức Phật:

“Thưa ngài, tại sao ngài không trả lời câu hỏi của Vacchagotta?”

"Ānanda, khi Vacchagotta hỏi ta liệu tự ngã có tồn tại không, nếu ta trả lời rằng ‘tự ngã tồn tại’, ta sẽ đứng về phía các sa môn và bà la môn theo thường kiến (eternalists / những người tin vào một linh hồn vĩnh cửu). Khi Vacchagotta hỏi ta liệu tự ngã có không tồn tại không, nếu ta trả lời rằng ‘tự ngã không tồn tại’, ta sẽ đứng về phía các sa môn và bà la môn theo đoạn kiến (annihilationists / những người tin rằng cái chết là hết).

Khi Vacchagotta hỏi ta liệu tự ngã có tồn tại không, nếu ta trả lời rằng ‘tự ngã tồn tại’, điều đó có giúp phát sinh kiến thức rằng tất cả các pháp là vô ngã không?"

“Thưa ngài, không.”

“Khi Vacchagotta hỏi ta liệu tự ngã có không tồn tại không, nếu ta trả lời rằng ‘tự ngã không tồn tại’, Vacchagotta—người vốn đã bối rối—sẽ càng bối rối hơn, nghĩ rằng: ‘Dường như cái tự ngã mà ta từng có không còn tồn tại nữa.’”

X. Ananda (hay Sự có mặt của ngã) (S.iv,400)

1.. …

2. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngã không?

Khi được hỏi vậy, Thế Tôn im lặng.

− Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngã không?

Lần thứ hai, Tôn giả Gotama giữ im lặng.

Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

4. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du sĩ Vacchagotta ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi của du sĩ Vacchagotta?

5. − Này Ananda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.

6. Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?"Và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Không có tự ngã”, như vậy, này Ananda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.

7. Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: “Có tự ngã không?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Có tự ngã”, như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: “Tất cả các pháp là vô ngã”?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

8. − Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: “Có phải không có tự ngã?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: “Không có tự ngã”, như vậy, này Ananda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: “Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa”.

SN 44.11 Kinh Sabhiya Kaccāna Sabhiyakaccānasutta

Một thời, Tôn giả Sabhiya Kaccāna đang ở Ñātika trong ngôi nhà gạch. Sau đó, du sĩ Vacchagotta đến gặp ông và chào hỏi. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Sabhiya Kaccāna:

“Thưa Tôn giả Kaccāna, một người đã chứng ngộ có còn tồn tại sau khi chết không?”

“Này Vaccha, điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ không còn tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này không được Đức Phật tuyên bố.”

“Vậy thì, một người đã chứng ngộ không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?”

“Điều này cũng không được Đức Phật tuyên bố.”

“Thưa Tôn giả Kaccāna, khi được hỏi những câu này, ngài đều nói rằng điều này không được Đức Phật tuyên bố. Nguyên nhân là gì, lý do gì mà điều này không được Đức Phật tuyên bố?”

“Để mô tả ngài ấy là ‘có sắc’ hay ‘vô sắc’ hay ‘có nhận thức’ hay ‘không có nhận thức’ hay ‘không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức’, phải có một nguyên nhân hay lý do nào đó để làm vậy. Nhưng nếu nguyên nhân và lý do đó hoàn toàn và tuyệt đối chấm dứt không còn sót lại gì, làm sao ngài có thể mô tả ngài ấy bằng bất kỳ thuật ngữ nào như vậy?”

“Thưa Tôn giả Kaccāna, ngài đã xuất gia được bao lâu rồi?”

“Không lâu, thưa Tôn giả: ba năm.”

“Chà, ngài đã học được nhiều như vậy rồi, huống chi những gì còn ở phía trước!”

XI.Sabhiya (S.iv,401)

1. Một thời, Tôn giả Sabhiya Kaccàna trú ở Nàtika, tại ngôi nhà bằng gạch.

2. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Sabhiya Kaccàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sabhiya Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Sabhiya Kaccàna như sau:

− Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.

4. − Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”.

5. Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.

6. − Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

− Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

7. − Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, Tôn giả lại nói: “Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’”?

8. Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, Tôn giả lại nói: “Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết”"?

9. Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết?”, Tôn giả lại nói: “Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết’”?

10. Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?” Tôn giả lại nói: “Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”".

11. Thưa Tôn giả Kaccàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama lại không trả lời về vấn đề ấy?

12. − Này Vaccha, do nhân gì, do duyên gì, mà trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng, thì khi nhân ấy, duyên ấy được đoạn diệt không có dư tàn, một cách toàn diện, một cách hoàn toàn, khi ấy lấy cái gì để trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng?

13. − Này Tôn giả Kaccàna, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?

− Thưa Hiền giả, không lâu, chỉ có ba năm.

14. − Hãy xem, với thời gian ngắn như vậy, lại được thấy nhiều như vậy. Còn nói gì đến các vấn đề vi diệu!

[HẾT TẬP IV - TƯƠNG ƯNG BỘ]

-ooOoo-

TẬP V: THIÊN ĐẠI PHẨM