Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Liên Quan đến Các Yếu Tố Giác Ngộ

46. TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI

Chương Về Núi

SN 46.1 Dãy Himalaya Kinh Himavanta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, loài rồng lớn lên và trở nên mạnh mẽ nhờ nương tựa vào dãy Himalaya, vua của các loài núi. Khi đã mạnh mẽ, chúng lặn xuống các ao. Rồi chúng lặn xuống các hồ, các suối, các sông, và cuối cùng là đại dương. Ở đó, chúng có được một thân hình to lớn và dồi dào.

Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ (awakening factors / giác chi), dựa trên và có nền tảng là giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), đạt được những phẩm chất tốt đẹp to lớn và dồi dào. Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bảy yếu tố của giác ngộ, dựa trên và có nền tảng là giới đức, đạt được những phẩm chất tốt đẹp to lớn và dồi dào?

Đó là khi một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm (mindfulness/ Sammā sati / chánh niệm / nhận biết liên tục trên 4 niệm xứ), dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ.

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp (Investigation/ Dhammavicaya)…

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là nghị lực (Energy / Viriya / Tinh tấn / Nỗ lực, nghị lực, sức mạnh tinh thần để vượt qua lười biếng)…

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là hứng khởi (Rapture / Pīti / Hỷ / niềm vui dâng trào)…

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là bình an (Tranquility / Passaddhi / khinh an / Sự thư thái của thân và tâm)…

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là Định (Immersion/ Samādhi / Sự tập trung sâu, không phân tán)…

Họ phát triển yếu tố giác ngộ là Xả (Equanimity / Upekkhā / Sự bình thản, trung lập cảm xúc, không bị ảnh hưởng bởi thích hoặc ghét; Dựa trên sự 1.rời xa, 2.phai nhạt, 3.ngưng hẳn, 4.hướng đến bỏ hoàn toàn), dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ.

Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ, dựa trên và có nền tảng là giới đức, đạt được những phẩm chất tốt đẹp to lớn và dồi dào."

I. Phẩm Núi

1.I. Tuyết Sơn (S.v,63)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi …

Thế Tôn nói như sau :

3. − Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống các hồ nhỏ. Sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn. Sau khi đi xuống các hồ lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ. Sau khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn. Sau khi đi xuống các sông lớn, chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy, thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp.

SN 46.2 Thân Kinh Kāya

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, thân này được duy trì bằng thức ăn. Nó phụ thuộc vào thức ăn để tiếp tục, và không có thức ăn thì nó không tiếp tục. Tương tự như vậy, năm Phiền nhiễu (hindrances / triền cái / chướng ngại, là trạng thái bất an, bồn chồn gây khó tập trung trong hiện tại) được duy trì bằng nhiên liệu. Chúng phụ thuộc vào nhiên liệu để tiếp tục, và không có nhiên liệu thì chúng không tiếp tục.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của theo đuổi thú vui (sensual desire / dục tham ), hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là Tịnh tướng (feature of beauty / nét khả ái, vẻ đẹp). Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ (apply the mind irrationally / ayoniso manasikāra / không như lý tác ý) về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của theo đuổi thú vui, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là Sân tướng (feature of harshness / paṭighanimitta / nét khó chịu, vẻ đáng ghét). Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là sự bất mãn, lười biếng, ngáp, buồn ngủ sau khi ăn, và tâm trí uể oải. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là tâm không yên định. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là những điều là cơ sở cho sự nghi ngờ. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Thân này được duy trì bằng thức ăn. Nó phụ thuộc vào thức ăn để tiếp tục, và không có thức ăn thì nó không tiếp tục. Tương tự như vậy, năm Phiền nhiễu được duy trì bằng nhiên liệu. Chúng phụ thuộc vào nhiên liệu để tiếp tục, và không có nhiên liệu thì chúng không tiếp tục.

Thân này được duy trì bằng thức ăn. Nó phụ thuộc vào thức ăn để tiếp tục, và không có thức ăn thì nó không tiếp tục. Tương tự như vậy, bảy yếu tố của giác ngộ được duy trì bằng nhiên liệu. Chúng phụ thuộc vào nhiên liệu để tiếp tục, và không có nhiên liệu thì chúng không tiếp tục.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là chánh niệm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ (apply the mind rationally / yoniso manasikāra / như lý tác ý) về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối và sáng. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là các yếu tố của sự khởi xướng, kiên trì, và nỗ lực. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là hứng khởi. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là sự bình an của thân và của tâm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở của sự tĩnh lặng và thoát khỏi sự phân tâm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là Xả. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Thân này được duy trì bằng thức ăn. Nó phụ thuộc vào thức ăn để tiếp tục, và không có thức ăn thì nó không tiếp tục. Tương tự như vậy, bảy yếu tố của giác ngộ được duy trì bằng nhiên liệu. Chúng phụ thuộc vào nhiên liệu để tiếp tục, và không có nhiên liệu thì chúng không tiếp tục."

2.II. Thân (S.v,64)

I

1-2. Tại Sàvatthi…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, năm triền cái y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú.

4. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay đối với dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tịnh tướng (subhanimittam), ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời tịnh tướng này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi; hay đối với dục tham đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.

5. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với sân chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với sân đã sanh khiến được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có đối ngại tướng (patighanimittam). Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đối ngại tướng này là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi; hay đối với sân đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.

6. Này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với hôn trầm thụy miên chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với hôn trầm thụy miên đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có sự không hân hoan, biếng nhác (tandi), uể oải (vijambhità), ăn quá no, tâm rụt rè (linàttam). Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay đối với hôn trầm thụy miên đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.

7. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với trạo hối chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với trạo hối đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm không được tịnh chỉ. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi; hay đối với trạo hối đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.

8. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với nghi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với nghi đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có những pháp làm trú xứ cho nghi hoặc. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính các pháp này là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; hay đối với nghi hoặc đã sanh khiến cho tăng trưởng, quảng đại.

9. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, năm triền cái y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.

II

10. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.

11. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với niệm giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Có các pháp, này các Tỷ-kheo, làm trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

12. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với trạch pháp giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập và làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các thiện pháp và bất thiện pháp, có các pháp đáng chỉ trích và không đáng chỉ trích, có các pháp liệt và thắng, có các pháp đen và trắng (kanhàsukkasa-ppatibhàgà). Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh khởi được sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

13. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với tinh tấn giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với tinh tấn giác chi đã sanh khởi được tu tập và làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới (àrambhadhàtu), tinh cần giới (mikkamadhàtu), cần dõng giới (parakkamadhàtu). Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với tinh tấn giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

14. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với hỷ giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với hỷ giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có những pháp làm trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với hỷ giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

15. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với khinh an giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với khinh an giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với khinh an giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

16. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với định giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

17. Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với xả giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp làm trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.

Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.

SN 46.3 Giới Đức Kinh Sīla

"Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo thành tựu về giới đức, Định, trí tuệ, giải thoát, hoặc tri kiến và sự thấy biết về giải thoát, ngay cả việc nhìn thấy họ cũng rất hữu ích, Ta nói. Ngay cả việc nghe họ, đến gần họ, đảnh lễ họ, nhớ nghĩ về họ, hoặc xuất gia theo họ cũng rất hữu ích, Ta nói. Tại sao vậy? Bởi vì sau khi nghe giáo pháp của những Tỷ kheo như vậy, một Tỷ kheo sẽ sống ẩn dật cả về thân và tâm, khi họ nhớ nghĩ và suy ngẫm về giáo pháp đó.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là chánh niệm; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Khi sống có chánh niệm theo cách này, họ điều tra, khám phá, và tìm hiểu giáo pháp đó bằng trí tuệ.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Khi họ điều tra các nguyên lý bằng trí tuệ theo cách này, nghị lực của họ được khơi dậy và không hề suy giảm.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là nghị lực; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Khi họ có nghị lực, hứng khởi không thuộc về xác thịt phát sinh.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là hứng khởi; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Khi tâm tràn đầy hứng khởi, thân và tâm trở nên bình an.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là bình an; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Khi thân bình an và người ta cảm thấy an lạc, tâm trở nên nhập Định.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là Định; họ phát triển nó và hoàn thiện nó. Họ theo dõi chặt chẽ tâm đó đang nhập Định.

Vào lúc đó, một Tỷ kheo đã kích hoạt yếu tố giác ngộ là Xả; họ phát triển nó và hoàn thiện nó.

Khi bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập theo cách này, họ có thể mong đợi bảy quả và lợi ích. Bảy là gì? Họ đạt được giác ngộ sớm trong chính đời này. Nếu không, họ đạt được giác ngộ vào lúc chết. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích (The fetters / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) thấp hơn, họ được tịch diệt giữa một đời và đời tiếp theo. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ được tịch diệt khi vừa tái sinh. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ được tịch diệt mà không cần nỗ lực thêm. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ được tịch diệt với nỗ lực thêm. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ đi ngược dòng, đến cõi Akaniṭṭha. Khi bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập theo cách này, đây là bảy quả và lợi ích mà họ có thể mong đợi."

3.III. Giới (S.v,67)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến, Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.

3. Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích.

4. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly : viễn ly về thân và viễn ly về tâm. Vị sống viễn ly như vậy thì sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.

5. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn. Vị ấy trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát, thành tựu quán sát pháp ấy.

6. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, trạch pháp giác chi đi đến viên mãn. Trong khi vị ấy với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động (asallinam) bắt đầu phát khởi nơi vị ấy.

7. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, tinh tấn giác chi đi đến viên mãn. Với vị tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất (piti niràmisà) khởi lên.

8. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên; trong khi ấy, hỷ giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập hỷ giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, hỷ giác chi đi đến viên mãn. Với vị có ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an.

9. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an; trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập khinh an giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, khinh an giác chi đi đến viên mãn. Với vị có thân khinh an, lạc hiện hữu. Với vị có lạc, tâm được định tĩnh.

10. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thân khinh an, được an lạc, tâm được định tĩnh; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, định giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập định giác chi; trong khi ấy, định giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo trú xả nhìn (sự vật) (sàdhukam ajjhupekkhità).

11. Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm định tĩnh, khéo trú xả nhìn (sự vật) như vậy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, xả giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập xả giác chi; trong khi ấy, xả giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

12. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, thời bảy quả, bảy lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?

13. Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu được (chánh) trí; nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí, thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí.

14. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn (antaràparinibbàyii).

15. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian bát Niếtbàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại (upahacca) Bát-niết-bàn.

16. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không chứng được chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phầm kiết sử, chứng được Vô hành Bát-niết-bàn (asankhàraparinibbàyii)

17. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt được năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-hàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.

18. Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại bát Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc thượng lưu (uddhamsoto), đạt được Sắc cứu cánh thiên.

19. Này các Tỷ-kheo, do tu tập bảy giác chi như vậy, do làm cho sung mãn như vậy nên được chờ đợi bảy quả này, bảy lợi ích này.

SN 46.4 Y Phục Kinh Vattha

Một thời, Tôn giả Sāriputta đang ở gần Sāvatthī trong Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỷ kheo: “Thưa các hiền giả, các Tỷ kheo!”

“Thưa hiền giả,” họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói điều này:

"Có bảy yếu tố của giác ngộ này. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ.

Vào buổi sáng, tôi thiền định về bất kỳ yếu tố nào trong bảy yếu tố giác ngộ này mà tôi muốn. Vào giữa trưa, và vào buổi tối, tôi thiền định về bất kỳ yếu tố nào trong bảy yếu tố giác ngộ này mà tôi muốn. Nếu đó là yếu tố giác ngộ là chánh niệm, tôi biết rằng nó là vô hạn và nó được thực hành đúng cách. Khi nó còn tồn tại, tôi hiểu rằng nó còn tồn tại. Và nếu nó lắng xuống trong tôi, tôi hiểu lý do cụ thể nó lắng xuống. … Nếu đó là yếu tố giác ngộ là Xả, tôi biết rằng nó là vô hạn và nó được thực hành đúng cách. Khi nó còn tồn tại, tôi hiểu rằng nó còn tồn tại. Và nếu nó lắng xuống, tôi hiểu lý do cụ thể nó lắng xuống.

Giả sử một vị vua hoặc vị đại thần của họ có một cái rương đầy y phục nhiều màu sắc. Vào buổi sáng, họ sẽ mặc bất kỳ bộ y phục nào họ muốn. Vào giữa trưa, và vào buổi tối, họ sẽ mặc bất kỳ bộ y phục nào họ muốn.

Tương tự như vậy, vào buổi sáng, giữa trưa, và buổi tối, tôi thiền định về bất kỳ yếu tố nào trong bảy yếu tố giác ngộ này mà tôi muốn. Nếu đó là yếu tố giác ngộ là chánh niệm, tôi biết rằng nó là vô hạn và nó được thực hành đúng cách. Khi nó còn tồn tại, tôi hiểu rằng nó còn tồn tại. Và nếu nó lắng xuống, tôi hiểu lý do cụ thể nó lắng xuống. … Nếu đó là yếu tố giác ngộ là Xả, tôi biết rằng nó là vô hạn và nó được thực hành đúng cách. Khi nó còn tồn tại, tôi hiểu rằng nó còn tồn tại. Và nếu nó lắng xuống, tôi hiểu lý do cụ thể nó lắng xuống."

4.IV. Chuyển (Vatta) (S.v,70)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, vườn ông Anàthapindika.

2. Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:

− Chư Hiền giả Tỷ-kheo.

− Thưa Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau :

3. − Này chư Hiền, có bảy giác chi này. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Này chư Hiền, đó là bảy giác chi này.

4. Ðối với bảy giác chi này, này chư Hiền, đối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi sáng, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi sáng. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi trưa, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi trưa. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi chiều, trong giác chi ấy, ta an trú vào buổi chiều.

5. Nếu là niệm giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết được giác chi ấy là vô lượng trong ta, giác chi ấy là khéo phát khởi trong ta, và giác chi ấy an trú trong ta, ta rõ biết là có an trú. Nếu giác chi ấy từ bỏ ta, ta rõ biết giác chi ấy từ bỏ ta vì nhân duyên này.

6-10. … (như trên, với các giác chi khác) …

11. Nếu là xả giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết được giác chi ấy là vô lượng trong ta, giác chi ấy là khéo phát khởi trong ta, và giác chi ấy an trú trong ta, ta rõ biết là có an trú. Nếu giác chi ấy từ bỏ ta, ta rõ biết giác chi ấy từ bỏ ta vì nhân duyên này.

12. Ví như, này chư Hiền, hòm áo của vua hay vị đại thần của vua đầy những loại áo có màu sắc sai biệt. Nếu vị ấy muốn mặc loại áo nào vào buổi sáng, vị ấy mặc loại ấy vào buổi sáng. Nếu muốn mặc loại áo nào vào buổi trưa, vị ấy mặc loại áo ấy vào buổi trưa. Nếu muốn mặc loại áo nào vào buổi chiều, vị ấy mặc loại áo ấy vào buổi chiều.

13. Cũng vậy, này chư Hiền, đối với bảy giác chi này, đối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi sáng, trong giác chi ấy ta an trú vào buổi sáng. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi trưa, trong giác chi ấy ta an trú vào buổi trưa. Ðối với giác chi nào ta muốn an trú vào buổi chiều, ta an trú giác chi ấy vào buổi chiều.

14. Nếu là niệm giác chi hiện hữu trong ta, này chư Hiền, ta rõ biết… (như trên đoạn số 5)

15-19. … (như trên đoạn số 6-10.

20. Nếu là xả giác chi… (như trên đoạn số11)

SN 46.5 Một Vị Tăng Kinh Bhikkhu

Tại Sāvatthī.

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘các yếu tố của giác ngộ’. Các yếu tố của giác ngộ được định nghĩa như thế nào?”

"Này Tỷ kheo, chúng được gọi là các yếu tố của giác ngộ vì chúng dẫn đến giác ngộ.

Một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Khi họ phát triển bảy yếu tố của giác ngộ, tâm của họ được giải thoát khỏi các ô nhiễm của dục vọng, mong muốn tái sinh, và vô minh. Khi được giải thoát, họ biết mình đã được giải thoát. Họ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’

Chúng được gọi là các yếu tố của giác ngộ vì chúng dẫn đến giác ngộ."

5.V. Vị Tỷ-Kheo (S.v,72)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

−“Giác chi, giác chi”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là giác chi?

− Này Tỷ-kheo, chúng đưa đến giác ngộ, do vậy, chúng được gọi là các giác chi.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

4. Do vị ấy tu tập bảy giác chi này, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên : “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

5. Chúng đưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, nên chúng được gọi là giác chi.

SN 46.6 Kuṇḍaliya Kinh Kuṇḍaliya

Một thời, Đức Phật đang ở gần Sāketa trong công viên nai tại Rừng Añjana. Rồi du sĩ Kuṇḍaliya đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Thưa ngài Gotama, tôi thích đi lang thang quanh các tu viện và thăm các hội chúng. Sau khi ăn sáng xong, tôi có thói quen đi từ tu viện này sang tu viện khác, từ công viên này sang công viên khác. Ở đó, tôi thấy một số tu sĩ và bà-la-môn nói chuyện với mục đích chiến thắng các cuộc tranh luận và tìm lỗi. Nhưng ngài Gotama sống vì lợi ích gì?”

“Lợi ích mà Như Lai sống vì, này Kuṇḍaliya, là quả của minh và giải thoát.”

“Nhưng những điều gì phải được phát triển và tu tập để hoàn thành minh và giải thoát?”

“Bảy yếu tố của giác ngộ.”

“Nhưng những điều gì phải được phát triển và tu tập để hoàn thành bảy yếu tố của giác ngộ?”

bốn niệm xứ (the four kinds of mindfulness meditation / bốn nơi để thực hành chánh niệm).”

“Nhưng những điều gì phải được phát triển và tu tập để hoàn thành bốn niệm xứ?”

“Ba loại thiện hạnh.”

“Nhưng những điều gì phải được phát triển và tu tập để hoàn thành ba loại thiện hạnh?”

"Thu thúc các giác quan.

Và này Kuṇḍaliya, làm thế nào để thu thúc các giác quan được phát triển và tu tập để hoàn thành ba loại thiện hạnh? Một Tỷ kheo thấy một cảnh tượng dễ chịu bằng mắt. Họ không ham muốn nó hay thích thú nó, và họ không phát sinh lòng tham. Thân và tâm của họ vững vàng bên trong, ổn định và giải thoát tốt. Nhưng nếu họ thấy một cảnh tượng khó chịu, họ không nản lòng; tâm của họ không chai cứng, chán nản, hay đầy tức giận. Thân và tâm của họ vững vàng bên trong, ổn định và giải thoát tốt.

Hơn nữa, một Tỷ kheo nghe một âm thanh dễ chịu bằng tai… ngửi một mùi hương dễ chịu bằng mũi… nếm một vị ngon dễ chịu bằng lưỡi… cảm nhận một sự xúc chạm dễ chịu bằng thân… biết một ý nghĩ dễ chịu bằng trí não. Họ không ham muốn nó hay thích thú nó, và họ không phát sinh lòng tham. Thân và tâm của họ vững vàng bên trong, ổn định và giải thoát tốt. Nhưng nếu họ biết một ý nghĩ khó chịu, họ không nản lòng; tâm của họ không chai cứng, chán nản, hay đầy tức giận. Thân và tâm của họ vững vàng bên trong, ổn định và giải thoát tốt.

Khi thân và tâm của một Tỷ kheo vững vàng bên trong, họ ổn định và giải thoát tốt đối với cả cảnh tượng, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, và ý nghĩ dễ chịu và khó chịu. Đó là cách thu thúc các giác quan được phát triển và tu tập để hoàn thành ba loại thiện hạnh.

Và làm thế nào ba loại thiện hạnh được phát triển và tu tập để hoàn thành bốn niệm xứ? Một Tỷ kheo từ bỏ hành vi xấu qua thân, lời, và ý, và phát triển hành vi tốt qua thân, lời, và ý. Đó là cách ba loại thiện hạnh được phát triển và tu tập để hoàn thành bốn niệm xứ.

Và làm thế nào bốn niệm xứ được phát triển và tu tập để hoàn thành bảy yếu tố của giác ngộ? Một Tỷ kheo thiền định bằng cách quan sát một khía cạnh của thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và có chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Họ thiền định quan sát một khía cạnh của cảm giác… tâm… các nguyên lý—nhiệt tâm, tỉnh giác, và có chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Đó là cách bốn niệm xứ được phát triển và tu tập để hoàn thành bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để hoàn thành minh và giải thoát? Một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để hoàn thành minh và giải thoát."

Khi Ngài nói điều này, du sĩ Kuṇḍaliya nói với Đức Phật: “Tuyệt vời, thưa ngài Gotama! Tuyệt vời! Như thể Ngài dựng lại vật bị lật ngửa, hoặc tiết lộ điều bị che giấu, hoặc chỉ đường cho người lạc lối, hoặc thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, ngài Gotama đã làm cho giáo pháp trở nên rõ ràng bằng nhiều cách. Con xin quy y ngài Gotama, quy y giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Từ hôm nay trở đi, xin ngài Gotama hãy ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

6.VI. Kundaliya (Người đeo vòng tai) (S.v,73)

1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Ancana, vườn Lộc Uyển.

2. Rồi du sĩ Kundaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn :

3. − Thưa Tôn giả Gotama, tôi sống gần khu vườn, giao du với hội chúng. Sau khi ăn buổi sáng xong, thưa Tôn giả Gotama, như sau là sở hành (àcàra) của tôi. Tôi bộ hành, tôi du hành, từ khóm vườn này qua khóm vườn khác, từ khu vườn này qua khu vườn khác. Tại đấy, tôi thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về lợi ích thoát ly các tranh luận (itivàdapamokkànisamsam) và lợi ích cật vấn (upàrambhànisamsam). Còn Tôn giả Gotama sống có lợi ích gì?

− Này Kundaliya, Như Lai có quả lợi ích của minh và giải thoát (vịjjàvimuttiphalà- nisamsam).

4. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn khiến cho minh và giải thoát được viên mãn?

− Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.

5. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?

− Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.

6. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn?

− Này Kundaliya, ba thiện hành (sucaritàni) được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.

7. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?

− Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn. Nhưng này Kundaliya, hộ trì căn tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?

8. Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý không có tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục (ràga) khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và khi mắt thấy sắc không khả ý, không có tuyệt vọng (manku), tâm không có dao động, ý không có chán nản (àdìnamànaso), tâm không có tức tối (avyàpannàcetaso). Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.

9-12. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc…

13. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi ý biết pháp khả ý, không tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và Tỷ-kheo khi ý biết pháp không khả ý, không có tuyệt vọng, tâm không có dao động, ý không có chán nản, tâm không có tức tối. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.

14. Này Kundaliya, khi nào Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, đối với sắc khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết pháp, đối với các pháp khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát. Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho ba thiện hành được viên mãn.

15. Và này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo đoạn tận thân ác hành, tu tập thân thiện hành; đoạn tận khẩu ác hành, tu tập khẩu thiện hành; đoạn tận ý ác hành, tu tập ý thiện hành. Này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.

16. Và này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được viên mãn.

17. Và này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.

18. Khi được nói vậy, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn :

− Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama… từ nay cho đến trọn đời con xin quy ngưỡng.

SN 46.7 Một Ngôi Nhà Gỗ Kinh Kūṭāgāra

"Này các Tỷ kheo, các kèo của một ngôi nhà gỗ đều nghiêng, dốc, và hướng về đỉnh. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt.

Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bảy yếu tố của giác ngộ lại nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt."

7. VII Nóc Nhà (S. v, 75)

1-2. …

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, các cây đà, cây kèo của ngôi nhà có nóc nhọn; tất cả cây đà, cây kèo ấy đều thiên về nóc nhọn, hướng về nóc nhọn, xuôi về nóc nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niếtbàn.

4. Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi như thế nào, làm cho sung mãn bảy giác chi như thế nào, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về về Niết-bàn.

SN 46.8 Với Upavāna Kinh Upavāna

Một thời, các tôn giả Upavāna và Sāriputta đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita. Rồi vào cuối buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Upavāna và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với Upavāna:

“Thưa hiền giả Upavāna, một Tỷ kheo có thể biết bằng cách tự điều tra bên trong mình rằng bảy yếu tố của giác ngộ được thực hành tốt để dẫn đến cuộc sống an lạc không?”

"Có thể, thưa hiền giả Sāriputta.

Khi một Tỷ kheo khơi dậy yếu tố giác ngộ là chánh niệm, họ hiểu: ‘Tâm ta đã được giải thoát tốt. Ta đã diệt trừ tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, và loại bỏ tâm bất an và hối tiếc. Nghị lực của ta đã được khơi dậy, và tâm ta tập trung sắc bén, không uể oải.’ …

Khi họ khơi dậy yếu tố giác ngộ là Xả, họ hiểu: ‘Tâm ta đã được giải thoát tốt. Ta đã diệt trừ tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, và loại bỏ tâm bất an và hối tiếc. Nghị lực của ta đã được khơi dậy, và tâm ta tập trung sắc bén, không uể oải.’

Đó là cách một Tỷ kheo có thể biết bằng cách tự điều tra bên trong mình rằng bảy yếu tố của giác ngộ được thực hành tốt để dẫn đến cuộc sống an lạc."

8.VIII. Upavàna (S.v,76)

1. Một thời Tôn giả Upavàna và Tôn giả Sàriputta sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Upavàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Upavàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upavàna.

3.− Thưa Hiền giả Upavàna, Tỷ-kheo có thể biết được chăng, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú?

4. − Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo bắt đầu trong ta, đưa đến lạc trú. Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu niệm giác chi, biết được : “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng (atthikatvà), ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất (linàm)”… Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu xả giác chi, biết được : “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng, ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất”. Cũng vậy, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú.

SN 46.9 Phát Sinh (Thứ nhất) Kinh Paṭhamauppanna

“Này các Tỷ kheo, bảy yếu tố của giác ngộ này không phát sinh để được phát triển và tu tập trừ khi một Như Lai, một bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác đã xuất hiện. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phát sinh để được phát triển và tu tập trừ khi một Như Lai, một bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác đã xuất hiện.”

9.IX. Sanh (1) (S.v,77)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.

Thế nào là bảy?

3. Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.

SN 46.10 Phát Sinh (Thứ hai) Kinh Dutiyauppanna

“Này các Tỷ kheo, bảy yếu tố của giác ngộ này không phát sinh để được phát triển và tu tập ngoài sự huấn luyện của bậc Thánh. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phát sinh để được phát triển và tu tập ngoài sự huấn luyện của bậc Thánh.”

10.X. Sanh (2) (S.v,77)

1. …

2. − Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi lên, nếu được tu tập, làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có giới luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là bảy?

3. Niệm giác chi… xả giác chi. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, chưa khởi lên, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, có thể khởi lên. Nhưng không thể không có giới luật của bậc Thiện Thệ.

Chương Về Bệnh

SN 46.11 Chúng Sinh Kinh Pāṇa

"Này các Tỷ kheo, chúng sinh thực hiện bốn tư thế: đôi khi đi, đôi khi đứng, đôi khi ngồi, đôi khi nằm. Chúng làm vậy dựa trên mặt đất và có nền tảng là mặt đất. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ dựa trên và có nền tảng là giới đức.

Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bảy yếu tố của giác ngộ dựa trên và có nền tảng là giới đức? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ dựa trên và có nền tảng là giới đức."

II. Phẩm Về Bệnh

11.I. Sanh Loại (S.v,78)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình (pàna) theo bốn cử chỉ, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Tất cả những sanh loại ấy y cứ vào đất, an trú vào đất; mà thực hiện bốn cử chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.12 Ví Dụ Về Mặt Trời (Thứ nhất) Kinh Paṭhamasūriyūpama

"Này các Tỷ kheo, bình minh là điềm báo và tiền thân của mặt trời mọc. Tương tự như vậy, đối với một Tỷ kheo, tình bạn tốt là điềm báo và tiền thân của sự phát sinh của bảy yếu tố của giác ngộ. Một Tỷ kheo có bạn tốt có thể mong đợi phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo có bạn tốt lại phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo có bạn tốt phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

12.II. Ví Dụ Mặt Trời (1) (S.v,78)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện. Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng : bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.13 Ví Dụ Về Mặt Trời (Thứ hai) Kinh Dutiyasūriyūpama

"Này các Tỷ kheo, bình minh là điềm báo và tiền thân của mặt trời mọc. Tương tự như vậy, đối với một Tỷ kheo, suy ngẫm đến gốc rễ là điềm báo và tiền thân của sự phát sinh của bảy yếu tố của giác ngộ. Một Tỷ kheo thành tựu trong việc suy ngẫm đến gốc rễ có thể mong đợi phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo có suy ngẫm đến gốc rễ lại phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo có suy ngẫm đến gốc rễ phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

13.III. Ví Dụ Mặt Trời (2) (S.v,79)

1. …

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là như lý tác ý. Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng: bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn.

3. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.14 Bệnh (Thứ nhất) Kinh Paṭhamagilāna

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc. Lúc đó, Tôn giả Mahākassapa đang ở trong hang Pipphali, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Mahākassapa, ngồi xuống trên chỗ đã trải sẵn, và nói với ngài:

“Ta hy vọng con vẫn khỏe, Kassapa; Ta hy vọng con ổn. Và Ta hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không qua được. Cơn đau thật khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm đi.”

“Kassapa, Ta đã giải thích đúng đắn bảy yếu tố của giác ngộ này. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / thắng tri), đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ mà Ta đã giải thích đúng đắn. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp, đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt.”

“Thật vậy, bạch Đức Thế Tôn, đây là các yếu tố của giác ngộ! Thật vậy, bạch bậc Thánh, đây là các yếu tố của giác ngộ!”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Hài lòng, Tôn giả Mahākassapa tán thành những gì Đức Phật nói. Và đó là cách ngài đã bình phục khỏi cơn bệnh đó.

14.IV. Bệnh (1) (S.v,79)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

4. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa :

− Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.

5. − Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn… Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

− Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.

6. Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy.

SN 46.15 Bệnh (Thứ hai) Kinh Dutiyagilāna

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc. Lúc đó, Tôn giả Mahāmoggallāna đang ở trên núi Linh Thứu, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Moggallāna, ngồi xuống trên chỗ đã trải sẵn, và nói với ngài:

“Ta hy vọng con vẫn khỏe, Moggallāna; Ta hy vọng con ổn. Và Ta hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm của nó là rõ ràng, không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không qua được. Cơn đau thật khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, không phải sự giảm đi.”

“Moggallāna, Ta đã giải thích đúng đắn bảy yếu tố của giác ngộ này. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp, đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ mà Ta đã giải thích đúng đắn. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp, đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt.”

“Thật vậy, bạch Đức Thế Tôn, đây là các yếu tố của giác ngộ! Thật vậy, bạch bậc Thánh, đây là các yếu tố của giác ngộ!”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Hài lòng, Tôn giả Mahāmoggallāna tán thành những gì Đức Phật nói. Và đó là cách ngài đã bình phục khỏi cơn bệnh đó.

15.V. Bệnh (2) (S.v,80)

1-6. (Hoàn toàn giống kinh trên, chỉ khác đây là trường hợp ngài Mahà Moggalàna).

SN 46.16 Bệnh (Thứ ba) Kinh Tatiyagilāna

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc. Lúc đó, Ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng. Rồi Tôn giả Mahācunda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

“Cunda, hãy bày tỏ sự hiểu biết của con về các yếu tố của giác ngộ.”

“Bạch Thế Tôn, Đức Phật đã giải thích đúng đắn bảy yếu tố của giác ngộ này. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp, đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ mà Đức Phật đã giải thích đúng đắn. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến hiểu biết trực tiếp, đến giác ngộ, và đến sự tịch diệt.”

“Thật vậy, Cunda, đây là các yếu tố của giác ngộ! Thật vậy, Cunda, đây là các yếu tố của giác ngộ!”

Đây là những gì Cunda đã nói, và bậc Thầy đã tán thành. Và đó là cách Đức Phật đã bình phục khỏi cơn bệnh đó.

16.VI. Bệnh (3) (S.v,81)

1. Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3. Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

4. Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên :

− Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.

5. − Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niếtbàn… Bạch Thế Tôn, xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

− Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.

6. Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la)

SN 46.17 Đi Đến Bờ Bên Kia Kinh Pāraṅgama

"Này các Tỷ kheo, khi bảy yếu tố của giác ngộ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này, khi được phát triển và tu tập, dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia.

Ít người trong nhân loại
vượt qua được đến bờ bên kia.
Phần còn lại chỉ chạy
loanh quanh ở bờ bên này.

Khi giáo pháp được giải thích rõ ràng,
những người thực hành theo đó
là những người sẽ vượt qua
lãnh địa của Thần Chết khó qua.

Thoát khỏi những phẩm chất tối tăm,
một người sáng suốt nên phát triển điều sáng.
Rời bỏ gia đình
để đến nơi ẩn dật khó hưởng thụ,

bạn nên cố gắng tìm thấy niềm vui ở đó,
đã từ bỏ những thú vui giác quan.
Không có tài sản, một người sáng suốt
nên thanh lọc mình khỏi những ô nhiễm tinh thần.

Và những người có tâm được phát triển đúng đắn
trong các yếu tố của giác ngộ;
buông bỏ những chấp trước,
họ vui thích trong việc không bám giữ.
Với các ô nhiễm đã chấm dứt, rực rỡ,
họ được tịch diệt trong thế giới này."

17.VII. Ðến Bờ Bên Kia Hay Không Có Hơn Nữa (S.v,81)

1. …

2. − Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.

3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

1) Ít thay là những người,
Qua được bờ bên kia,
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.

2) Những ai khéo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh Ma giới.

3) Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư an lạc.

4) Ở đây muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khởi phiền não.

5) Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ, không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.

SN 46.18 Bỏ Lỡ Kinh Viraddha

“Này các Tỷ kheo, ai đã bỏ lỡ bảy yếu tố của giác ngộ thì đã bỏ lỡ con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bảy yếu tố của giác ngộ thì đã thực hành con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Ai đã bỏ lỡ bảy yếu tố của giác ngộ này thì đã bỏ lỡ con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bảy yếu tố của giác ngộ này thì đã thực hành con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”

18.VIII. Thối Thất** (Virdddha) **hay Tấn Tu (Aradda) (S.v,82)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, những ai thối thất bảy giác chi thì cũng thối thất Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ. Này các Tỷ-kheo, những ai tấn tu bảy giác chi thì cũng tấn tu Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ. Thế nào là bảy? Niệm giác chi,… xả giác chi.

3. Này các Tỷ-kheo, những ai thối thất hay tấn tu bảy giác chi thì cũng thối thất hay tấn tu Thánh đạo Tám ngành đưa đến tận diệt khổ.

SN 46.19 Cao Quý Kinh Ariya

“Này các Tỷ kheo, khi bảy yếu tố của giác ngộ này được phát triển và tu tập, chúng là cao quý và giải thoát, và đưa người thực hành chúng đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Khi bảy yếu tố của giác ngộ này được phát triển và tu tập, chúng là cao quý và giải thoát, và đưa người thực hành chúng đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”

19.IX. Thánh (S.v,82)

1. …

2. − Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, thì sẽ thành những thánh dẫn độ. (Niyyànikà : Ðưa đến giải thoát), dắt dẫn người sở hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi… Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, thì sẽ thành những thánh dẫn độ, dắt dẫn người sở hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau.

SN 46.20 Chán Nản Kinh Nibbidā

“Này các Tỷ kheo, bảy yếu tố của giác ngộ, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự chán nản, ly tham, đoạn diệt, bình an, tuệ giác, giác ngộ, và tịch diệt. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự chán nản, ly tham, đoạn diệt, bình an, tuệ giác, giác ngộ, và tịch diệt.”

20.X. Nhàm Chán (S.v,82)

1. …

2. − Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi… Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Chương với Udāyī

SN 46.21 Đến Giác Ngộ Kinh Bodhāya

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘các yếu tố của giác ngộ’. Các yếu tố của giác ngộ được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, chúng được gọi là các yếu tố của giác ngộ vì chúng dẫn đến giác ngộ. Một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Chúng được gọi là các yếu tố của giác ngộ vì chúng dẫn đến giác ngộ.”

III. Phẩm Udàyi

21.I. Giác (Bodhanà) (S.v,83)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến… rồi ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Giác chi, giác chi”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là giác chi?

− Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, nên được gọi là giác chi.

4. Ở đây, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Ðưa đến giác ngộ, này Tỷ-kheo, cho nên được gọi là giác chi.

SN 46.22 Một Bài Giảng về Các Yếu Tố Giác Ngộ Kinh Bojjhaṅgadesanā

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con bảy yếu tố của giác ngộ. Hãy lắng nghe…

Và bảy yếu tố của giác ngộ là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ."

22.II. Thuyết Giảng (Tạp 26,17 Ðại 2, 196a) (S.v,83)

1. …

2.− Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về bảy giác chi. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này.

SN 46.23 Nền Tảng Kinh Ṭhāniya

"Này các Tỷ kheo, khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho lòng tham dục, lòng tham dục phát sinh, và một khi đã phát sinh, nó tăng trưởng và lớn mạnh. Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho tức giận, tức giận phát sinh, và một khi đã phát sinh, nó tăng trưởng và lớn mạnh. Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ phát sinh, và một khi đã phát sinh, chúng tăng trưởng và lớn mạnh. Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho tâm bất an và hối tiếc, tâm bất an và hối tiếc phát sinh, và một khi đã phát sinh, chúng tăng trưởng và lớn mạnh. Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho nghi ngờ, nghi ngờ phát sinh, và một khi đã phát sinh, nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho yếu tố giác ngộ là chánh niệm, yếu tố giác ngộ là chánh niệm phát sinh, và một khi đã phát sinh, nó được phát triển đầy đủ. … Khi các con thường xuyên chú tâm vào những điều là nền tảng cho yếu tố giác ngộ là Xả, yếu tố giác ngộ là Xả phát sinh, và một khi đã phát sinh, nó được phát triển đầy đủ."

23.III. Trú Xứ (Thànà) (Tạp 26,71 Ðại 2, 190b) (S.v,84)

1. …

2. − Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho dục và tham (kàmaràga), này các Tỷ-kheo, nên dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

3. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho sân, này các Tỷ-kheo, nên sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

4. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, nên hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

5. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho trạo hối, này các Tỷ-kheo, nên trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

6. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, nên nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

7. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, nên niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

8. Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho xả giác chi, này các Tỷ-kheo, nên xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

SN 46.24 Suy ngẫm không đến gốc rễ Kinh Ayonisomanasikāra

"Này các Tỷ kheo, khi các con suy ngẫm không đến gốc rễ, theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ phát sinh, và một khi đã phát sinh, chúng tăng trưởng và lớn mạnh. Và các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả không phát sinh, hoặc nếu chúng đã phát sinh, chúng sẽ chấm dứt.

Khi các con suy ngẫm đến gốc rễ, theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ không phát sinh, hoặc nếu chúng đã phát sinh, chúng sẽ được từ bỏ.

Và các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả phát sinh, và một khi chúng đã phát sinh, chúng được phát triển đầy đủ."

24.IV. Phi Như Lý (Ayoniso) (Tạp 27, 14 Ðại 2, 195b) (S.v,84)

1. …

2.− Do phi như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh khởi đi đến tăng trưởng, quảng đại.

3. … sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

4. … hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

5. … trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

6. … nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.

7. … và niệm giác chi chưa sanh không sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh bị đoạn diệt… xả giác chi chưa sanh không sanh khởi; và xả giác chi đã sanh bị đoạn diệt.

8. … Và này các Tỷ-kheo, nếu như lý tác ý, dục tham chưa sanh không thể sanh khởi; và dục tham đã sanh bị đoạn tận.

9. … sân chưa sanh không thể sanh khởi; và sân đã sanh bị đoạn tận.

10. … hôn trầm thụy miên chưa sanh không thể sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh bị đoạn tận.

11. … trạo hối chưa sanh không thể sanh khởi; và trạo hối đã sanh bị đoạn tận.

12. … nghi hoặc chưa sanh không thể sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh bị đoạn tận.

13. … Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

25.V.Không Tổn Giảm (Aparihàni) (1) (S.v,85)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về bảy pháp không tổn giảm. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không tổn giảm? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là bảy pháp không tổn giảm.

SN 46.25 Không Suy Thoái Kinh Aparihāniya

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con bảy nguyên tắc ngăn chặn sự suy thoái. Hãy lắng nghe…

Và bảy nguyên tắc ngăn chặn sự suy thoái là gì? Đó là bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy nguyên tắc ngăn chặn sự suy thoái."

26.VI. Ðoạn Tận (Khaya) (S.v,86)

1. …

2. − Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.

3. Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.

4. Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :

− Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến đoạn tận khát ái?

5. − Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.

6-11. … trạch pháp giác chi… tinh tấn giác chi… hỷ giác chi… khinh an giác chi… định giác chi…

12. Ở đây, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.

13. Như vậy, này Udàyi, do khát ái đoạn tận nên nghiệp đoạn tận. Do nghiệp đoạn tận nên khổ đoạn tận.

SN 46.26 Sự Chấm Dứt Của Ái Dục Kinh Taṇhakkhaya

“Này các Tỷ kheo, các con nên phát triển con đường và thực hành dẫn đến sự chấm dứt của ái dục. Và con đường và thực hành dẫn đến sự chấm dứt của ái dục là gì? Đó là bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả.” Khi Ngài nói điều này, Udāyī nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến sự chấm dứt của ái dục?”

"Udāyī, đó là khi một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Và nó là dồi dào, rộng lớn, vô hạn, và không có tức giận. Khi họ làm như vậy, ái dục được từ bỏ. Khi ái dục được từ bỏ, các hành động được từ bỏ. Khi các hành động được từ bỏ, khổ đau được từ bỏ. …

Một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Và nó là dồi dào, rộng lớn, vô hạn, và không có tức giận. Khi họ làm như vậy, ái dục được từ bỏ. Khi ái dục được từ bỏ, các hành động được từ bỏ. Khi các hành động được từ bỏ, khổ đau được từ bỏ.

Và như vậy, Udāyī, khi ái dục chấm dứt, các hành động chấm dứt; khi các hành động chấm dứt, khổ đau chấm dứt."

27.VII. Ðoạn Diệt (Tạp 27, 18 Ðại 2, 196a) (S.v,87)

1. …

2. − Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.

3. Và này các Tỷ-kheo, con đường nào, đạo lộ nào đưa đến đoạn diệt khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.

4. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ,… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn diệt khát ái.

SN 46.27 Sự Đoạn Diệt Của Ái Dục Kinh Taṇhānirodha

"Này các Tỷ kheo, các con nên phát triển con đường và thực hành dẫn đến sự đoạn diệt của ái dục. Và con đường và thực hành dẫn đến sự đoạn diệt của ái dục là gì? Đó là bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Và làm thế nào bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến sự đoạn diệt của ái dục?

Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định,

và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đây là cách bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến sự đoạn diệt của ái dục."

28.VIII. Thể Nhập (Nibbedha). (S.v,87)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thể nhập phần (nibbedhabhàgiyam). Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thể nhập phần? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.

4. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :

− Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến thể nhập?

5. − Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ… Tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập xả giác chi, đâm thủng được, phá vỡ được tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ.

6. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này Udàyi, bảy giác chi đưa đến thể nhập.

SN 46.28 Giúp Thâm Nhập Kinh Nibbedhabhāgiya

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một con đường giúp thâm nhập. Hãy lắng nghe…

Và con đường giúp thâm nhập là gì? Đó là bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả." Khi Ngài nói điều này, Udāyī nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, làm thế nào bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến sự thâm nhập?”

"Udāyī, đó là khi một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Và nó là dồi dào, rộng lớn, vô hạn, và không có tức giận. Với một tâm đã phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm, họ thâm nhập và phá tan khối tham, khối sân, và khối si lần đầu tiên. …

Một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Và nó là dồi dào, rộng lớn, vô hạn, và không có tức giận. Với một tâm đã phát triển yếu tố giác ngộ là Xả, họ thâm nhập và phá tan khối tham, khối sân, và khối si lần đầu tiên.

Đây là cách bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến sự thâm nhập."

29.IX. Một Pháp (S.v,88)

1. …

2. − Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử. Ðó chính là bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy? Niệm giác chi… xả giác chi.

3. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly,… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi đưa đến đoạn tận các pháp có khả năng sanh kiết sử.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp có khả năng sanh kiết sử? Mắt, này các Tỷ-kheo, là pháp có khả năng sanh kiết sử. Ở đây, khởi lên các tham trước (ajjhosanà), sai sử, trói buộc (samyojanavinibandhà) … Ý là pháp có khả năng sanh kiết sử. Ở đây, khởi lên các tham trước, sai sử, trói buộc.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, được gọi là các pháp có khả năng sanh kiết sử.

SN 46.29 Một Điều Kinh Ekadhamma

"Này các Tỷ kheo, Ta không thấy một điều duy nhất nào, khi được phát triển và tu tập như thế này, lại dẫn đến việc từ bỏ những thứ dễ bị trói buộc như bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Và làm thế nào bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến việc từ bỏ những thứ dễ bị trói buộc?

Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập để dẫn đến việc từ bỏ những thứ dễ bị trói buộc.

Và những thứ dễ bị trói buộc là gì? Mắt là thứ dễ bị trói buộc. Đây là nơi những xiềng xích, gông cùm, và chấp trước này phát sinh. Tai… mũi… lưỡi… thân… trí não là thứ dễ bị trói buộc. Đây là nơi những xiềng xích, gông cùm, và chấp trước này phát sinh. Đây được gọi là những thứ dễ bị trói buộc."

30.X. Udàyi (S.v,89)

1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Sumbha, tại một thị trấn của những người Sumbha tên là Setaka.

2. Rồi Tôn giả Udàyi, đi đến Thế Tôn… ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn :

3. − Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn ! Xúc động nhiều thay (bahukatam), bạch Thế Tôn, là lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí của con đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, trước khi con còn là người tại gia, con không có nhiều xúc động (bahukata) đối với Pháp, không có nhiều xúc động đối với Tăng. Nhưng, bạch Thế Tôn, khi con cảm thấy (sampassamàno) lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí đối với Thế Tôn, thời con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và Thế Tôn thuyết pháp cho con : “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt… Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thức đoạn diệt”.

4. Rồi, bạch Thế Tôn, con đi đến chỗ nhà trống, và trong khi tùy quán (samparivattento) theo sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, con như thật thắng tri : “Ðây là khổ”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ tập khởi”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ diệt”. Con như thật thắng tri : “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.

5. Pháp, bạch Thế Tôn, được con hoàn toàn chứng tri (abhisamito). Con đường được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đắc như vậy (tathattàya). Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con chứng được niệm giác chi. Niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết được rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”… Con chứng được, bạch Thế Tôn, xả giác chi. Xả này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con đường này được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

6. − Lành thay, lành thay, này Udàyi ! Con đường này, này Udàyi, Ông chứng được, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ dắt dẫn Ông, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, Ông sẽ rõ biết rằng : “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

IV. Phẩm Triền Cái

31.I.Thiện (1) (S.v,91)

1. …

2. − Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về thiện và bất thiện, nhưng thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ; không phóng dật được gọi là tối thượng đối với những pháp ấy.

3. Với Tỷ-kheo không phóng dật này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.30 Với Udāyī Kinh Udāyi

Một thời, Đức Phật đang ở tại xứ Sumbha, gần một thị trấn của người Sumbha tên là Sedaka. Rồi Tôn giả Udāyī đến gặp Đức Phật… và nói với Ngài:

"Thật không thể tin được, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời! Lòng yêu thương và kính trọng của con đối với Đức Phật, cùng với ý thức xấu hổ và sợ điều ác của con đã hữu ích biết bao. Vì khi con còn là một cư sĩ, con không được giáo pháp hay Tăng đoàn giúp đỡ nhiều. Nhưng khi con suy xét về lòng yêu thương và kính trọng của mình đối với Đức Phật, cùng với ý thức xấu hổ và sợ điều ác, con đã xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà. Đức Phật đã dạy con Pháp: ‘Đây là Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức), đây là nguồn gốc của sắc, đây là sự chấm dứt của sắc. Đây là cảm giác… Đây là nhận thức… Đây là hành… Đây là thức, đây là nguồn gốc của thức, đây là sự chấm dứt của thức.’

Sau đó, khi ở trong một túp lều trống, con đã theo dõi sự khuấy động của năm uẩn bám giữ. Con đã thực sự hiểu: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguồn gốc của khổ’… ‘Đây là sự chấm dứt của khổ’… ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ’. Con đã thấu hiểu giáo pháp; con đã đạt được con đường. Khi được phát triển và tu tập khi con đang sống theo cách như vậy, nó sẽ đưa con đến một trạng thái mà con sẽ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’

Con đã đạt được các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Khi được phát triển và tu tập khi con đang sống theo cách như vậy, chúng sẽ đưa con đến một trạng thái mà con sẽ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’ Đây là con đường mà con đã đạt được. Khi được phát triển và tu tập khi con đang sống theo cách như vậy, nó sẽ đưa con đến một trạng thái mà con sẽ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’"

“Tốt lắm, tốt lắm, Udāyī! Vì đó thực sự là con đường mà con đã đạt được. Khi được phát triển và tu tập khi con đang sống theo cách như vậy, nó sẽ đưa con đến một trạng thái mà con sẽ hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’”

32.II. Thiện (2) (S.v,91)

1. …

2. − Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về thiện và bất thiện, nhưng thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy như lý tác ý làm căn bản, lấy như lý tác ý làm chỗ quy tụ; như lý tác ý được gọi là tối thượng đối với những pháp ấy.

3. Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, sẽ được làm cho sung mãn. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

Chương Về Các Phiền Nhiễu

SN 46.31 Thiện (Thứ nhất) Kinh Paṭhamakusala

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ phẩm chất nào là thiện, thuộc về phần thiện, ở bên phía thiện, tất cả chúng đều bắt nguồn từ tinh cần (Diligence/ chuyên cần, kỷ luật, tự chủ) và quy tụ tại tinh cần, và tinh cần được cho là tốt nhất trong số chúng. Một Tỷ kheo tinh cần có thể mong đợi phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo tinh cần lại phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo tinh cần phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

33.III. Cấu Uế (1) (S.v,92)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo có năm cấu uế này đối với vàng. Do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

3. Sắt, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm… chịu sử dụng.

4. Ðồng (loham), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm… chịu sử dụng.

5. Thiếc (tipu), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm…

6. Chì (siisam), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm…

7. Bạc (sajjhum), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng.

8. Chính cấu uế của vàng, này các Tỷ-kheo, do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm cấu uế này của tâm, chính những cấu uế ấy khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?

9. Dục tham (kàmachanda), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

10-13. … (Với sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi)

14. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm cấu uế của tâm. Chính do những cấu uế ấy, tâm không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

SN 46.32 Thiện (Thứ hai) Kinh Dutiyakusala

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ phẩm chất nào là thiện, thuộc về phần thiện, ở bên phía thiện, tất cả chúng đều bắt nguồn từ suy ngẫm đến gốc rễ và quy tụ tại suy ngẫm đến gốc rễ, và suy ngẫm đến gốc rễ được cho là tốt nhất trong số chúng. Một Tỷ kheo thành tựu trong việc suy ngẫm đến gốc rễ có thể mong đợi phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo có suy ngẫm đến gốc rễ lại phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo có suy ngẫm đến gốc rễ phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

34.IV. Các Cấu Uế (2) (Tạp 26,67, Ðại 2,189b) (S.v,93)

1. …

2.− Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy?

3. Có niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

4. Này các Tỷ-kheo, có bảy giác chi này không chướng ngại, không triền cái, không uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

35.V.Như Lý (1) (S.v,93)

1. …

2. − Do phi như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, dục tham (kàmacchando) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.

3. … sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.

4. … hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.

5. … trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.

6. Và này các Tỷ-kheo, do phi như lý tác ý, nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại.

36.VI. Như Lý (2) (S.v,94)

1. …

2. − Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; và niệm giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và xả giác chi đã sanh, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

37.VII. Tăng Trưởng Hay Không Giảm Thiểu (Tạp 26,67, Ðại 2, 189b) (S.v,94)

1. …

2.− Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tăng trưởng, không đưa đến giảm thiểu. Thế nào là bảy?

3. Niệm giác chi… Xả giác chi.

4. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tăng trưởng, không đưa đến giảm thiểu.

38.VIII. Chướng Ngại, Triền Cái (Tạp 26, 69, Ðại 2, 189c) (S.v,94)

1. …

2. − Có năm chướng ngại, triền cái, này các Tỷ-kheo, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?

3. Dục tham, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái… Nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ.

4. Năm chướng ngại, triền cái này, này các Tỷ-kheo, làm uế nhiễm tâm và làm yếu ớt trí tuệ.

5. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy?

6. Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

7. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

8. Trong khi, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử lấy pháp làm đối tượng (atthim katvà) tác ý, tập trung tất cả tâm ý (sabbacetaso sammannàharitvà), lắng tai nghe pháp; trong khi ấy, năm triền cái không có hiện hữu trong vị ấy. Và bảy giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

9. Năm triền cái nào, trong khi ấy, không có hiện hữu? Dục tham triền cái, trong khi ấy, không có hiện hữu. Sân triền cái… Hôn trầm thụy miên triền cái… Trạo hối triền cái… Nghi hoặc trieàn cái, trong khi ấy, không có hiện hữu. Năm triền cái, trong khi ấy, không có hiện hữu trong vị ấy.

10. Bảy giác chi nào, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn? Niệm giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn… Xả giác chi, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

11. Trong khi, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử lấy pháp làm đối tượng tác ý, tập trung tất cả tâm ý, lắng tai nghe pháp; trong khi ấy, năm triền cái không có hiện hữu trong vị ấy. Bảy giác chi này, trong khi ấy, nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

SN 46.33 Ô Nhiễm Kinh Upakkilesa

"Này các Tỷ kheo, có năm loại ô nhiễm này của vàng nguyên chất. Khi vàng nguyên chất bị ô nhiễm bởi những thứ này, nó không dẻo, không dễ gia công, không sáng bóng, mà giòn và chưa hoàn toàn sẵn sàng để chế tác. Năm là gì? Sắt, đồng, thiếc, chì, và bạc. Khi vàng nguyên chất bị ô nhiễm bởi năm loại ô nhiễm này, nó không dẻo, không dễ gia công, không sáng bóng, mà giòn và chưa hoàn toàn sẵn sàng để chế tác.

Tương tự như vậy, có năm loại ô nhiễm này của tâm. Khi tâm bị ô nhiễm bởi những thứ này, nó không dẻo, không dễ gia công, không sáng bóng. Nó giòn, và không được nhập Định đúng đắn để chấm dứt các ô nhiễm. Năm là gì? Theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ. Đây là năm loại ô nhiễm của tâm. Khi tâm bị ô nhiễm bởi những thứ này, nó không dẻo, không dễ gia công, không sáng bóng. Nó giòn, và không được nhập Định đúng đắn để chấm dứt các ô nhiễm."

39.IX. Cây (Tạp 26,70, Ðại 2, 190a) (S.v,96)

1. …

2. − Có những cây lớn, này các Tỷ-kheo, sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác. Các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.

3. Và này các Tỷ-kheo, những cây lớn nào sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác, các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống. Ví như cây Bồ-đề, cây bàng, cây sanh (pilakka), cây sung (udumbara), cây bách hướng (kacchaka), cây kapitthaka; những cây lớn này, này các Tỷ-kheo, sanh từ hột giống nhỏ, có thân cây lớn, lớn lên bao trùm các cây khác. Các cây ấy bị bao trùm, bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có thiện nam tử đoạn trừ các dục vọng, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng bị những dục vọng ấy, hay bị những dục vọng tệ hại hơn làm cho người ấy bị phá hủy, bị hư hại, ngã xuống, nằm rạp xuống.

5. Năm chướng ngại, triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm? Dục tham (kàmacchanda), này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Sân, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Hôn trầm thụy miên… Trạo hối… Nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, là chướng ngại, triền cái, bao trùm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, năm chướng ngại, triền cái này bao trùm tâm và làm cho yếu ớt trí tuệ.

6. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không bao trùm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

SN 46.34 Không Ô Nhiễm Kinh Anupakkilesa

“Này các Tỷ kheo, bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát.”

40.X. Triền Cái (Tạp 26, 68, Ðại 2, 189c) (S.v,97)

1. …

2. − Năm triền cái này, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái… Hôn trầm thụy miên triền cái… Trạo hối triền cái… Nghi hoặc triền cái, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỷ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn.

3. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Trạch pháp… Tinh tấn… Hỷ… Khinh an… Ðịnh… Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, làm tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào tổn hại, đưa đến Niết-bàn.

SN 46.35 Suy ngẫm không đến gốc rễ Kinh Yonisomanasikāra

“Này các Tỷ kheo, khi các con suy ngẫm không đến gốc rễ, theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ phát sinh, và một khi đã phát sinh, chúng tăng trưởng và lớn mạnh.”

“Này các Tỷ kheo, khi các con suy ngẫm đến gốc rễ, các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả phát sinh, và một khi chúng đã phát sinh, chúng được phát triển đầy đủ.”

V. Phẩm Chuyển Luân

41.I. Các Kiêu Mạn (Vidhà) (Tạp 27, 19, Ðại 2, 196a) (S.v,98)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn (vidhà); tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-lamôn nào, này các Tỷ-kheo, trong tương lai, sẽ đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời hiện tại, đoạn tận ba kiêu mạn này; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi này.

3. Thế nào là bảy giác chi? Niệm giác chi… Xả giác chi.

4. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi này.

SN 46.36 Tăng Trưởng Kinh Buddhi

“Này các Tỷ kheo, khi bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự tăng trưởng và tiến bộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Khi bảy yếu tố của giác ngộ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự tăng trưởng và tiến bộ.”

42.II. Chuyển Luân (Tạp 27, 10. Ðại 2, 194a) (S.v,99)

1. …

2. − Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu. Thế nào là bảy?

3. Sự xuất hiện của bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, sự xuất hiện của tướng quân báu. Cùng với sự xuất hiện của vua Chuyển luân, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu này.

4. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy báu giác chi. Thế nào là bảy?

5. Niệm giác chi báu xuất hiện… Xả giác chi báu xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của Như Lai, bậc Ala-hán, Chánh Ðẳng Giác, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của bảy giác chi báu này.

SN 46.37 Chướng Ngại Kinh Āvaraṇanīvaraṇa

"Này các Tỷ kheo, có năm chướng ngại và phiền nhiễu này, những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ. Năm là gì? Theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ. Đây là năm chướng ngại và phiền nhiễu, những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ.

Có bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát."

43.III. Màra (S.v,99)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường đưa đến chinh phục Ma quân. Hãy lắng nghe.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến chinh phục Ma quân? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi. Ðây là con đường, này các Tỷ-kheo, đưa đến chinh phục Ma quân.

SN 46.38 Không Chướng Ngại Kinh Anīvaraṇa

"Này các Tỷ kheo, đôi khi một đệ tử cao quý chú ý, vận dụng tâm, tập trung toàn tâm, và tích cực lắng nghe giáo pháp. Vào lúc đó, năm Phiền nhiễu vắng mặt, và bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển đầy đủ.

Năm Phiền nhiễu vắng mặt là gì? Theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ. Đây là năm Phiền nhiễu vắng mặt.

Và bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển đầy đủ là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển đầy đủ. Đôi khi một đệ tử cao quý chú ý, vận dụng tâm, tập trung toàn tâm, và tích cực lắng nghe giáo pháp. Vào lúc đó, năm Phiền nhiễu vắng mặt, và bảy yếu tố của giác ngộ được phát triển đầy đủ."

44.IV. Liệt Tuệ (Duppanna) (S.v,99)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến… ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

3. − “Kẻ liệt tuệ ngu đần, kẻ liệt tuệ ngu đần”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là liệt tuệ ngu đần?

4. − Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.

5. Này các Tỷ-kheo, chính do bảy giác chi này không được tu tập, không được làm cho sung mãn, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.

SN 46.39 Cây Kinh Rukkha

"Này các Tỷ kheo, có những cây lớn có hạt nhỏ và thân to, chúng mọc lên và quấn quanh các cây khác như những loài ký sinh. Những cây bị chúng bao bọc sẽ gãy vỡ, sụp đổ, và ngã xuống. Và những cây lớn có hạt nhỏ và thân to đó là gì? Cây bồ đề, cây đa, cây si, cây sung, cây gừa, và cây tra. Đây là những cây lớn có hạt nhỏ và thân to, chúng mọc lên và quấn quanh các cây khác như những loài ký sinh. Những cây bị chúng bao bọc sẽ gãy vỡ, sụp đổ, và ngã xuống.

Tương tự như vậy, hãy xem một người thiện nam nào đó đã xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà, từ bỏ những thú vui giác quan. Nhưng bị những thú vui giác quan tương tự, hoặc thậm chí tệ hơn, vây bủa, anh ta gãy vỡ, sụp đổ, và ngã xuống.

Có năm chướng ngại và phiền nhiễu này, những loài ký sinh của tâm làm suy yếu trí tuệ. Năm là gì? Theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ. Đây là năm chướng ngại và phiền nhiễu, những loài ký sinh của tâm làm suy yếu trí tuệ.

Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ký sinh của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ký sinh của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát."

45.V. Có Trí Tuệ (S.v,100)

1-2. …

3. − “Có trí tuệ không ngu đần, có trí tuệ không ngu đần”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là có trí tuệ không ngu đần?

4. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần. Thế nào là bảy giác chi này? Niệm giác chi… Xả giác chi.

5. Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần.

SN 46.40 Phiền Nhiễu Kinh Nīvaraṇa

"Này các Tỷ kheo, năm phiền nhiễu này là những kẻ hủy diệt cái thấy, thị kiến, và tri kiến. Chúng ngăn chặn trí tuệ, chúng thuộc về phía đau khổ, và chúng không dẫn đến sự tịch diệt. Năm là gì? Theo đuổi thú vui, tức giận, tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, tâm bất an và hối tiếc, và nghi ngờ. Năm phiền nhiễu này là những kẻ hủy diệt cái thấy, thị kiến, và tri kiến. Chúng ngăn chặn trí tuệ, chúng thuộc về phía đau khổ, và chúng không dẫn đến sự tịch diệt.

Bảy yếu tố của giác ngộ này là những người tạo ra thị kiến và tri kiến. Chúng làm tăng trưởng trí tuệ, chúng thuộc về phía an ủi, và chúng dẫn đến sự tịch diệt. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này là những người tạo ra thị kiến và tri kiến. Chúng làm tăng trưởng trí tuệ, chúng thuộc về phía an ủi, và chúng dẫn đến sự tịch diệt."

46.VI. Bần Cùng (Daliddo) (S.v,100)

1-2. …

3. − “Bần cùng, bần cùng”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bần cùng?

4. − Do không tu tập, do không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên được gọi là bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.

5. Do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này, này Tỷ-kheo, được gọi là bần cùng.

Chương Về Chuyển Luân Vương

SN 46.41 Phân Biệt Kinh Vidhā

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ đã từ bỏ ba sự phân biệt đều đã làm vậy bằng cách phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong tương lai sẽ từ bỏ ba sự phân biệt cũng sẽ làm vậy bằng cách phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong hiện tại đang từ bỏ ba sự phân biệt cũng làm vậy bằng cách phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ… tương lai… và hiện tại từ bỏ ba sự phân biệt đều làm vậy bằng cách phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

47.VII. Không Bần Cùng (S.v,100)

1-2. …

3. − “Không bần cùng, không bần cùng”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là không bần cùng?

4. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này Tỷ-kheo, được gọi là không bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi… Xả giác chi.

5. Chính do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này nên được gọi là không bần cùng.

SN 46.42 Một Vị Chuyển Luân Vương Kinh Cakkavatti

"Này các Tỷ kheo, khi một vị Chuyển Luân Vương xuất hiện, bảy báu vật xuất hiện. Bảy là gì? Bánh xe, voi, ngựa, ngọc, người phụ nữ, gia chủ, và vị tướng. Khi một vị Chuyển Luân Vương xuất hiện, bảy báu vật này xuất hiện.

Khi một Như Lai, một bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác xuất hiện, bảy báu vật của các yếu tố giác ngộ xuất hiện. Bảy là gì? Các báu vật của các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Khi một Như Lai, một bậc A-la-hán, một vị Phật toàn giác xuất hiện, bảy báu vật của các yếu tố giác ngộ này xuất hiện."

48.VIII. Mặt Trời (S.v,101)

1. …

2. − Cái này là điềm đi trước, này các Tỷ-kheo, cái này là tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là làm bạn với thiện (kalyànamittatà).

3. Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, được tu tập bảy giác chi, được làm cho sung mãn bảy giác chi?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.43 Về Māra Kinh Māra

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con một con đường để đè bẹp quân đội của Māra. Hãy lắng nghe…

Và con đường đó là gì? Đó là bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Đây là con đường để đè bẹp quân đội của Māra."

49.IX. Chi Phần (1) (Tạp 27, 20, Ðại 2, 196a) (S.v,101)

1. …

2. − Sau khi làm thành nội chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, thành phần ấy tức là như lý tác ý.

3. Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

SN 46.44 Kẻ Ngu Đần Kinh Duppañña

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘một kẻ ngu đần ngốc nghếch’. Một kẻ ngu đần ngốc nghếch được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, họ được gọi là một kẻ ngu đần ngốc nghếch vì họ chưa phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Họ được gọi là một kẻ ngu đần ngốc nghếch vì họ chưa phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ này.”

50.X. Chi Phần (2) (S.v,102)

1. …

2. − Sau khi làm thành ngoại chi phần, này các Tỷ-kheo, Ta không quán thấy một chi phần nào khác khiến bảy giác chi được sanh khởi, này các Tỷ-kheo, chi phần ấy tức làm bạn với thiện.

3. Với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.

VI. Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi

1. Tất cả nhân duyên ở Sàvatthi…

SN 46.45 Người Trí Kinh Paññavanta

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người ‘trí tuệ và thông minh’. Một người trí tuệ và thông minh được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, họ được gọi là trí tuệ và thông minh vì họ đã phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Họ được gọi là trí tuệ và thông minh vì họ đã phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ này.”

51.I. Ðồ Ăn (Tạp 27, 4, Ðại 2, 192a) (S.v,102)

1. …

2. − Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các món ăn và không phải món ăn của năm triền cái và bảy giác chi. Hãy lắng nghe.

SN 46.46 Người Nghèo Kinh Dalidda

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người ‘nghèo’. Một người nghèo được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, họ được gọi là nghèo vì họ chưa phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Họ được gọi là nghèo vì họ chưa phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ này.”

I. Món Ăn Của Các Triền Cái

1-2. …

3. − Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có tịnh tướng, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

4. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi; hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có chướng ngại tướng (patighanimittam), này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

5. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm uể oải. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

6. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có tâm chưa được chỉ tịnh, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

7. Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có các pháp trú xứ của nghi hoặc. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

SN 46.47 Người Giàu Có Kinh Adalidda

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một người ‘giàu có’. Một người giàu có được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, họ được gọi là giàu có vì họ đã phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Họ được gọi là giàu có vì họ đã phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ này.”

II. Món Ăn Cho Các Giác Chi

8. − Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn.

9. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có những pháp thiện và bất thiện, này các Tỷ-kheo, có những pháp có tội và không có tội, có những pháp liệt và thắng, có những pháp dự phần đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

10. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có phát cần giới, này các Tỷ-kheo, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

11. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có những pháp trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

12. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

13. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

14. Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

SN 46.48 Mặt Trời Kinh Ādicca

"Này các Tỷ kheo, bình minh là điềm báo và tiền thân của mặt trời mọc.

Tương tự như vậy, đối với một Tỷ kheo, tình bạn tốt là điềm báo và tiền thân của sự phát sinh của bảy yếu tố của giác ngộ. Một Tỷ kheo có bạn tốt có thể mong đợi phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ.

Và làm thế nào một Tỷ kheo có bạn tốt lại phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo có bạn tốt phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ."

III. Không Phải Món Ăn Cho Các Triền Cái

15. − Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có bất tịnh tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

16. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có từ tâm giải thoát. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

17. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

18. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm chỉ tịnh. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

19. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có pháp thiện và bất thiện, có pháp có tội và không có tội, có pháp liệt và thắng, có pháp dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.

SN 46.49 Yếu Tố Nội Tại Kinh Ajjhattikaṅga

“Xét đến các yếu tố nội tại, này các Tỷ kheo, Ta không thấy một yếu tố nào duy nhất có thể làm phát sinh bảy yếu tố của giác ngộ như là suy ngẫm đến gốc rễ. …”

IV. Không Phải Là Món Ăn Cho Các Giác Chi

20. − Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

21. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp thiện và bất thiện, có tội và không có tội, liệt và thắng, dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

22. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

23. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có những pháp trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

24. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu phi như lý tác ý, làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

25. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

26. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu phi như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.

SN 46.50 Yếu Tố Bên Ngoài Kinh Bāhiraṅga

“Xét đến các yếu tố bên ngoài, này các Tỷ kheo, Ta không thấy một yếu tố nào duy nhất có thể làm phát sinh bảy yếu tố của giác ngộ như là tình bạn tốt. …”

52.II. Pháp Môn (Pariyàya) (Tạp 27, 4, Ðại 2, 192a) (S.v,108)

1. …

2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : “Nay còn quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên :

5. − Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử : “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”. Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp như vậy cho các đệ tử : “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”.

6. Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù (viseso), cái gì là thù thắng (abhippayo), cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?

7. Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy họ ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.

8. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

9. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

− Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con suy nghĩ : “Nay còn quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi một bên : “Này chư Hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau… tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?”

10. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không tán thán, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy chúng con ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được hiểu lời nói này từ Thế Tôn”.

11. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời với các du sĩ ngoại đạo như sau : “Này chư Hiền, có pháp môn nào, do pháp môn ấy, năm triền cái được trở thành mười, bảy giác chi được trở thành mười bốn?” Ðược đáp như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.

12. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

Chương Về Thảo Luận

SN 46.51 Nuôi Dưỡng Kinh Āhāra

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, Ta sẽ dạy các con điều gì nuôi dưỡng và điều gì làm suy yếu năm Phiền nhiễu và bảy yếu tố của giác ngộ. Hãy lắng nghe…

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của theo đuổi thú vui, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là Tịnh tướng. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của theo đuổi thú vui, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là Sân tướng. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là sự bất mãn, lười biếng, ngáp, buồn ngủ sau khi ăn, và tâm trí uể oải. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là tâm không yên định. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm cho chúng tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh? Đó là những điều là cơ sở cho sự nghi ngờ. Việc thường xuyên suy ngẫm không đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó tăng trưởng và lớn mạnh.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là chánh niệm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối và sáng. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là các yếu tố của sự khởi xướng, kiên trì, và nỗ lực. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là hứng khởi. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là sự bình an của thân và của tâm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về điều đó là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở của sự tĩnh lặng và thoát khỏi sự phân tâm. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là Xả. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng là nhiên liệu cho sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm cho nó phát triển đầy đủ.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của theo đuổi thú vui, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó? Đó là Bất tịnh tướng (feature of ugliness / asubhanimitta / nét xấu xí, vẻ không đáng ưa). Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về điều đó làm suy yếu sự phát sinh của theo đuổi thú vui, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó? Đó là tâm giải thoát bằng lòng từ. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về điều đó làm suy yếu sự phát sinh của tức giận, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của chúng? Đó là các yếu tố của sự khởi xướng, kiên trì, và nỗ lực. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng làm suy yếu sự phát sinh của tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của chúng.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của chúng? Đó là tâm yên định. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về điều đó làm suy yếu sự phát sinh của tâm bất an và hối tiếc, hoặc, khi chúng đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của chúng.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó? Đó là những phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối và sáng. Việc thường xuyên suy ngẫm đến gốc rễ về chúng làm suy yếu sự phát sinh của nghi ngờ, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự tăng trưởng và lớn mạnh của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là chánh niệm. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là chánh niệm, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là những phẩm chất thiện và bất thiện, đáng trách và không đáng trách, thấp kém và cao thượng, và những phẩm chất thuộc về phía tối và sáng. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là các yếu tố của sự khởi xướng, kiên trì, và nỗ lực. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là nghị lực, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là hứng khởi. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là hứng khởi, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là sự bình an của thân và của tâm. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là bình an, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là những điều là cơ sở của sự tĩnh lặng và thoát khỏi sự phân tâm. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Định, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó.

Và điều gì làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó? Đó là những điều là cơ sở cho yếu tố giác ngộ là Xả. Không thường xuyên chú tâm vào điều đó làm suy yếu sự phát sinh của yếu tố giác ngộ là Xả, hoặc, khi nó đã phát sinh, làm suy yếu sự phát triển đầy đủ của nó."

I. Năm Trở Thành Mười

13. − Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, năm triền cái trở thành mười?

14. Cái gì thuộc nội dục tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại dục tham, cái ấy là triền cái. Gọi là dục tham triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

15. Cái gì thuộc về nội sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại sân, cái ấy là triền cái. Gọi là sân triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

16. Cái gì thuộc về nội hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại hôn trầm thụy miên, cái ấy là triền cái. Gọi là hôn trầm thụy miên là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

17. Cái gì thuộc nội trạo hối, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại trạo hối, cái ấy là triền cái. Gọi là trạo hối triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

18. Cái gì thuộc về nội nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại nghi hoặc, cái ấy là triền cái. Gọi là nghi hoặc triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

19. Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, do pháp môn này, năm triền cái trở thành mười.

SN 46.52 Có Cách Nào Không? Kinh Pariyāya

Rồi một vài Tỷ kheo mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực. Rồi họ nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Tại sao chúng ta không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?”

Rồi họ đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với họ:

“Thưa các hiền giả, tu sĩ Gotama dạy các đệ tử của mình như thế này: ‘Này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ năm Phiền nhiễu—những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ—và thực sự phát triển bảy yếu tố của giác ngộ.’ Chúng tôi cũng dạy các đệ tử của mình: ‘Thưa các hiền giả, hãy từ bỏ năm Phiền nhiễu—những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ—và thực sự phát triển bảy yếu tố của giác ngộ.’ Vậy thì, sự khác biệt giữa giáo lý và sự chỉ dạy của tu sĩ Gotama và của chúng tôi là gì?”

Những Tỷ kheo đó không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nghĩ rằng:

“Chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Phật.” Rồi, sau bữa ăn, khi họ trở về từ chuyến khất thực, họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra.

"Này các Tỷ kheo, khi các du sĩ ngoại đạo nói điều này, các con nên nói với họ: ‘Nhưng thưa các hiền giả, có cách nào mà năm Phiền nhiễu trở thành mười và bảy yếu tố của giác ngộ trở thành mười bốn không?’ Khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ bị lúng túng, và hơn nữa, sẽ trở nên bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì họ đã ra ngoài lĩnh vực của mình. Ta không thấy ai trong thế giới này—với các vị trời, Māra, và các vị Phạm thiên, dân chúng này với các tu sĩ và bà-la-môn, các vị trời và con người—có thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi này ngoại trừ Như Lai hoặc đệ tử của Ngài hoặc người đã nghe điều đó từ họ.

Và cách nào mà năm Phiền nhiễu trở thành mười? Theo đuổi thú vui đối với những gì bên trong là một phiền nhiễu; và theo đuổi thú vui đối với những gì bên ngoài cũng là một phiền nhiễu. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘phiền nhiễu của theo đuổi thú vui’ trở thành hai. Tức giận đối với những gì bên trong là một phiền nhiễu; và tức giận đối với những gì bên ngoài cũng là một phiền nhiễu. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘phiền nhiễu của tức giận’ trở thành hai. Uể oải là một phiền nhiễu; và sao nhãng cũng là một phiền nhiễu. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘phiền nhiễu của uể oải sao nhãng’ trở thành hai. Bồn chồn lo lắng là một phiền nhiễu; và hối hận cũng là một phiền nhiễu. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘phiền nhiễu của bồn chồn lo lắng và hối hận’ trở thành hai. Nghi ngờ về những điều bên trong là một phiền nhiễu; và nghi ngờ về những điều bên ngoài cũng là một phiền nhiễu. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘phiền nhiễu của nghi ngờ’ trở thành hai. Đây là cách mà năm Phiền nhiễu trở thành mười.

Và cách nào mà bảy yếu tố của giác ngộ trở thành mười bốn? Chánh niệm về những điều bên trong là yếu tố giác ngộ là chánh niệm; và chánh niệm về những điều bên ngoài cũng là yếu tố giác ngộ là chánh niệm. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là chánh niệm’ trở thành hai.

Điều tra, khám phá, và tìm hiểu những điều bên trong bằng trí tuệ là yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp; và điều tra, khám phá, và tìm hiểu những điều bên ngoài bằng trí tuệ cũng là yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp’ trở thành hai.

Nghị lực thể chất là yếu tố giác ngộ là nghị lực; và nghị lực tinh thần cũng là yếu tố giác ngộ là nghị lực. Đó là cách mà điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là nghị lực’ trở thành hai.

Hứng khởi khi hướng ý nghĩ đến một đề tài và quan sát đề tài đó (placing the mind and keeping it connected / có tầm có tứ / có quá trình hướng ý nghĩ(chủ động) và im lặng quan sát (thụ động) một đề tài) là yếu tố giác ngộ là hứng khởi; và hứng khởi khi lặng im không suy nghĩ, chỉ có quan sát (without placing the mind and keeping it connected / không tầm, có tứ / không có sự suy nghĩ, chỉ có sự im lặng để quan sát) cũng là yếu tố giác ngộ là hứng khởi. Theo cách này, điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là hứng khởi’ trở thành hai.

Bình an thể chất là yếu tố giác ngộ là bình an; và bình an tinh thần cũng là yếu tố giác ngộ là bình an. Theo cách này, điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là bình an’ trở thành hai.

Định khi hướng ý nghĩ đến một đề tài và quan sát đề tài đó là yếu tố giác ngộ là Định; và Định khi lặng im không suy nghĩ, chỉ có quan sát cũng là yếu tố giác ngộ là Định. Theo cách này, điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là Định’ trở thành hai.

Xả đối với những điều bên trong là yếu tố giác ngộ là Xả; và Xả đối với những điều bên ngoài cũng là yếu tố giác ngộ là Xả. Theo cách này, điều được gọi ngắn gọn là ‘yếu tố giác ngộ là Xả’ trở thành hai. Đây là cách mà bảy yếu tố của giác ngộ trở thành mười bốn."

II. Bảy Trở Thành Mười Bốn

20. − Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn?

21. Cái gì là niệm đối với nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là niệm giác chi. Cái gì là niệm đối với ngoại pháp, cái ấy là niệm giác chi. Gọi là niệm giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

22. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát với trí tuệ đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là trạch pháp giác chi. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát đối với các ngoại pháp, cái ấy là trạch pháp giác chi. Gọi là trạch pháp giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

23. Cái gì là thân tinh tấn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tinh tấn giác chi. Cái gì là tâm tinh tấn, cái ấy là tinh tấn giác chi. Gọi là tinh tấn giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

24. Cái gì là hỷ có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là hỷ giác chi. Cái gì là hỷ không tầm, không tứ, cái ấy là hỷ giác chi. Gọi là hỷ giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

25. Cái gì là thân khinh an, này các Tỷ-kheo, cái ấy là khinh an giác chi. Cái gì là tâm khinh an, cái ấy là khinh an giác chi. Gọi là khinh an giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

26. Cái gì là định có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là định giác chi. Cái gì là định không tầm, không tứ, cái ấy là định giác chi. Gọi là định giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

27. Cái gì là xả đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là xả giác chi. Cái gì là xả đối với các ngoại pháp, cái ấy là xả giác chi. Gọi là xả giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.

28. Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, y cứ pháp môn này, bảy giác chi trở thành mười bốn.

53.III.Lửa (Tạp 27,3, Ðại 2, 191c) (S.v,112)

1. …

2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.

3-10. … (Giống như kinh Pháp Môn 52)

11. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau : “Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.

12. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

SN 46.53 Lửa Kinh Aggi

Rồi một vài Tỷ kheo mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực.

(Tương tự như bài kinh trước.)

"Này các Tỷ kheo, khi các du sĩ ngoại đạo nói điều này, các con nên nói với họ: ‘Thưa các hiền giả, những yếu tố giác ngộ nào không nên được phát triển khi tâm uể oải? Và những yếu tố giác ngộ nào nên được phát triển vào lúc đó? Những yếu tố giác ngộ nào không nên được phát triển khi tâm bồn chồn? Và những yếu tố giác ngộ nào nên được phát triển vào lúc đó?’ Khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ bị lúng túng, và hơn nữa, sẽ trở nên bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì họ đã ra ngoài lĩnh vực của mình.

Ta không thấy ai trong thế giới này—với các vị trời, Māra, và các vị Phạm thiên, dân chúng này với các tu sĩ và bà-la-môn, các vị trời và con người—có thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi này ngoại trừ Như Lai hoặc đệ tử của Ngài hoặc người đã nghe điều đó từ họ.

Khi tâm uể oải, đó là thời điểm sai để phát triển các yếu tố giác ngộ là bình an, Định, và Xả. Tại sao vậy? Bởi vì khó có thể kích thích một tâm uể oải bằng những điều này.

Giả sử có người muốn làm cho một ngọn lửa nhỏ bùng lên. Nếu họ ném cỏ ướt, phân bò ướt, và gỗ ướt vào đó, phun nước lên, và rắc đất lên, liệu họ có thể làm cho nó bùng lên không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Tương tự như vậy, khi tâm uể oải, đó là thời điểm sai để phát triển các yếu tố giác ngộ là bình an, Định, và Xả. Tại sao vậy? Bởi vì khó có thể kích thích một tâm uể oải bằng những điều này.

Khi tâm uể oải, đó là thời điểm đúng để phát triển các yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, nghị lực, và hứng khởi. Tại sao vậy? Bởi vì dễ dàng kích thích một tâm uể oải bằng những điều này.

Giả sử có người muốn làm cho một ngọn lửa nhỏ bùng lên. Nếu họ ném cỏ khô, phân bò khô, và gỗ khô vào đó, thổi vào, và không rắc đất lên, liệu họ có thể làm cho nó bùng lên không?"

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

"Tương tự như vậy, khi tâm uể oải, đó là thời điểm đúng để phát triển các yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, nghị lực, và hứng khởi. Tại sao vậy? Bởi vì dễ dàng kích thích một tâm uể oải bằng những điều này.

Khi tâm bồn chồn, đó là thời điểm sai để phát triển các yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, nghị lực, và hứng khởi. Tại sao vậy? Bởi vì khó có thể làm lắng dịu một tâm bồn chồn bằng những điều này.

Giả sử có người muốn dập tắt một đám lửa lớn. Nếu họ ném cỏ khô, phân bò khô, và gỗ khô vào đó, thổi vào, và không rắc đất lên, liệu họ có thể dập tắt nó không?"

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Tương tự như vậy, khi tâm bồn chồn, đó là thời điểm sai để phát triển các yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp, nghị lực, và hứng khởi. Tại sao vậy? Bởi vì khó có thể làm lắng dịu một tâm bồn chồn bằng những điều này.

Khi tâm bồn chồn, đó là thời điểm đúng để phát triển các yếu tố giác ngộ là bình an, Định, và Xả. Tại sao vậy? Bởi vì dễ dàng làm lắng dịu một tâm bồn chồn bằng những điều này.

Giả sử có người muốn dập tắt một đám lửa lớn. Nếu họ ném cỏ ướt, phân bò ướt, và gỗ ướt vào đó, phun nước lên, và rắc đất lên, liệu họ có thể dập tắt nó không?"

“Vâng, bạch Thế Tôn.”

“Tương tự như vậy, khi tâm bồn chồn, đó là thời điểm đúng để phát triển các yếu tố giác ngộ là bình an, Định, và Xả. Tại sao vậy? Bởi vì dễ dàng làm lắng dịu một tâm bồn chồn bằng những điều này. Nhưng chánh niệm thì luôn hữu ích, Ta nói.”

I. Phi Thời

13.− Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

14. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

SN 46.54 Tràn Đầy Tình Thương Kinh Mettāsahagata

Một thời, Đức Phật đang ở tại xứ Koliya, nơi có một thị trấn tên là Haliddavasana. Rồi một vài Tỷ kheo mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Haliddavasana để khất thực. Rồi họ nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Haliddavasana. Tại sao chúng ta không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo?”

Rồi họ đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và chào hỏi các du sĩ ở đó. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với họ:

"Thưa các hiền giả, tu sĩ Gotama dạy các đệ tử của mình như thế này: ‘Hãy đến, các Tỷ kheo, hãy từ bỏ năm Phiền nhiễu này, những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ, và thiền định lan tỏa một tâm tràn đầy tình thương đến một phương, và đến phương thứ hai, và đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Tương tự như vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, lan tỏa một tâm tràn đầy tình thương đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô hạn, không có hận thù và tức giận. Thiền định lan tỏa một tâm tràn đầy lòng bi đến một phương, và đến phương thứ hai, và đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Tương tự như vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, lan tỏa một tâm tràn đầy lòng bi đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô hạn, không có hận thù và tức giận. Thiền định lan tỏa một tâm tràn đầy niềm vui hỷ xả đến một phương, và đến phương thứ hai, và đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Tương tự như vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, lan tỏa một tâm tràn đầy niềm vui hỷ xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô hạn, không có hận thù và tức giận. Thiền định lan tỏa một tâm tràn đầy Xả đến một phương, và đến phương thứ hai, và đến phương thứ ba, và đến phương thứ tư. Tương tự như vậy ở trên, dưới, ngang, khắp nơi, xung quanh, họ lan tỏa một tâm tràn đầy Xả đến toàn thế giới—dồi dào, rộng lớn, vô hạn, không có hận thù và tức giận.’

Chúng tôi cũng dạy các đệ tử của mình theo cách y hệt như vậy. Vậy thì, sự khác biệt giữa giáo lý và sự chỉ dạy của tu sĩ Gotama và của chúng tôi là gì?"

Những Tỷ kheo đó không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nghĩ rằng:

“Chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Phật.” Rồi, sau bữa ăn, khi họ trở về từ chuyến khất thực, họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra.

"Này các Tỷ kheo, khi các du sĩ ngoại đạo nói điều này, các con nên nói với họ: ‘Nhưng thưa các hiền giả, tâm giải thoát bằng lòng từ được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết quả cuối cùng của nó là gì? Tâm giải thoát bằng lòng bi được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Tâm giải thoát bằng niềm vui hỷ xả được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Tâm giải thoát bằng Xả được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì?’ Khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ bị lúng túng, và hơn nữa, sẽ trở nên bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì họ đã ra ngoài lĩnh vực của mình. Ta không thấy ai trong thế giới này—với các vị trời, Māra, và các vị Phạm thiên, dân chúng này với các tu sĩ và bà-la-môn, các vị trời và con người—có thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi này ngoại trừ Như Lai hoặc đệ tử của Ngài hoặc người đã nghe điều đó từ họ.

Và tâm giải thoát bằng lòng từ được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển tâm giải thoát bằng lòng từ cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều không đáng ghê tởm trong cái đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm và cái đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều không đáng ghê tởm trong cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định giữ tâm Xả, có chánh niệm và tỉnh giác, từ bỏ cả cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Đỉnh cao của tâm giải thoát bằng lòng từ là cái đẹp, Ta nói, đối với một Tỷ kheo chưa thâm nhập đến một sự giải thoát cao hơn.

Và tâm giải thoát bằng lòng bi được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển tâm giải thoát bằng lòng bi cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. … Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định giữ tâm Xả, có chánh niệm và tỉnh giác, từ bỏ cả cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Hoặc là, vượt qua hoàn toàn nhận thức về sắc, với sự chấm dứt của nhận thức về sự va chạm, không tập trung vào nhận thức về sự đa dạng, nhận biết rằng ‘không gian là vô hạn’, họ nhập và trú trong cảnh giới không gian vô hạn. Đỉnh cao của tâm giải thoát bằng lòng bi là cảnh giới không gian vô hạn, Ta nói, đối với một Tỷ kheo chưa thâm nhập đến một sự giải thoát cao hơn.

Và tâm giải thoát bằng niềm vui hỷ xả được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển tâm giải thoát bằng niềm vui hỷ xả cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. … Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định giữ tâm Xả, có chánh niệm và tỉnh giác, từ bỏ cả cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Hoặc là, vượt qua hoàn toàn cảnh giới không gian vô hạn, nhận biết rằng ‘thức là vô hạn’, họ nhập và trú trong cảnh giới thức vô hạn. Đỉnh cao của tâm giải thoát bằng niềm vui hỷ xả là cảnh giới thức vô hạn, Ta nói, đối với một Tỷ kheo chưa thâm nhập đến một sự giải thoát cao hơn.

Và tâm giải thoát bằng Xả được phát triển như thế nào? Đích đến, đỉnh cao, quả, và kết thúc của nó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển tâm giải thoát bằng Xả cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều không đáng ghê tởm trong cái đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều đáng ghê tởm trong cái không đáng ghê tởm và cái đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định nhận thức điều không đáng ghê tởm trong cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Nếu họ muốn: ‘Mong rằng tôi thiền định giữ tâm Xả, có chánh niệm và tỉnh giác, từ bỏ cả cái đáng ghê tởm và cái không đáng ghê tởm,’ đó là những gì họ làm. Hoặc là, vượt qua hoàn toàn cảnh giới thức vô hạn, nhận biết rằng ‘không có gì cả’, họ nhập và trú trong cảnh giới vô sở hữu. Đỉnh cao của tâm giải thoát bằng Xả là cảnh giới vô sở hữu, Ta nói, đối với một Tỷ kheo chưa thâm nhập đến một sự giải thoát cao hơn."

II. Phải Thời

15. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

16. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.

SN 46.55 Với Saṅgārava Kinh Saṅgārava

Tại Sāvatthī.

Rồi bà-la-môn Saṅgārava đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Nguyên nhân là gì, thưa ngài Gotama, lý do là gì mà đôi khi ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành? Và tại sao đôi khi ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành lại hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành?”

"Này bà-la-môn, có lúc tâm ông bị theo đuổi thú vui xâm chiếm và sa lầy và ông không thực sự hiểu được lối thoát khỏi theo đuổi thú vui đã phát sinh. Lúc đó, ông không thực sự biết hay thấy điều gì tốt cho chính mình, tốt cho người khác, hay tốt cho cả hai. Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Giả sử có một bát nước được pha với thuốc nhuộm như cánh kiến đỏ, nghệ, chàm, hoặc thiên thảo. Ngay cả một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình cũng không thực sự biết hay thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông bị theo đuổi thú vui xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị tức giận xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Giả sử có một bát nước được đun sôi bằng lửa, sôi sùng sục. Ngay cả một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình cũng không thực sự biết hay thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông bị tức giận xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Giả sử có một bát nước bị rêu và thực vật thủy sinh bao phủ. Ngay cả một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình cũng không thực sự biết hay thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị tâm bất an và hối tiếc xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Giả sử có một bát nước bị gió khuấy động, quay cuồng, xoáy tròn, và gợn sóng. Ngay cả một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình cũng không thực sự biết hay thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông bị tâm bất an và hối tiếc xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông bị nghi ngờ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Giả sử có một bát nước đục, mờ, và lầy lội, bị che khuất trong bóng tối. Ngay cả một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình cũng không thực sự biết hay thấy nó.

Tương tự như vậy, có lúc tâm ông bị nghi ngờ xâm chiếm và sa lầy và ông không thực sự hiểu được lối thoát khỏi nghi ngờ đã phát sinh. Lúc đó, ông không thực sự biết hay thấy điều gì tốt cho chính mình, tốt cho người khác, hay tốt cho cả hai. Ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành. Đây là nguyên nhân, này bà-la-môn, đây là lý do tại sao đôi khi ngay cả những bài kinh đã thực hành lâu cũng không hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài chưa thực hành.

Có lúc tâm ông không bị theo đuổi thú vui xâm chiếm và sa lầy và ông thực sự hiểu được lối thoát khỏi theo đuổi thú vui đã phát sinh. Lúc đó, ông thực sự biết và thấy điều gì tốt cho chính mình, tốt cho người khác, và tốt cho cả hai. Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Giả sử có một bát nước không được pha với thuốc nhuộm như cánh kiến đỏ, nghệ, chàm, hoặc thiên thảo. Một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình sẽ thực sự biết và thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông không bị theo đuổi thú vui xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị tức giận xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Giả sử có một bát nước không được đun sôi bằng lửa, sôi sùng sục. Một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình sẽ thực sự biết và thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông không bị tức giận xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Giả sử có một bát nước không bị rêu và thực vật thủy sinh bao phủ. Một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình sẽ thực sự biết và thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông không bị tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị tâm bất an và hối tiếc xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Giả sử có một bát nước không bị gió khuấy động, quay cuồng, xoáy tròn, và gợn sóng. Một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình sẽ thực sự biết và thấy nó.

Tương tự như vậy, khi tâm ông không bị tâm bất an và hối tiếc xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Hơn nữa, khi tâm ông không bị nghi ngờ xâm chiếm và sa lầy… Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Giả sử có một bát nước trong suốt, trong trẻo, và không vẩn đục, được đưa ra ánh sáng. Một người có mắt sáng nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình sẽ thực sự biết và thấy nó.

Tương tự như vậy, có lúc tâm ông không bị nghi ngờ xâm chiếm và sa lầy và ông thực sự hiểu được lối thoát khỏi nghi ngờ đã phát sinh. Lúc đó, ông thực sự biết và thấy điều gì tốt cho chính mình, tốt cho người khác, và tốt cho cả hai. Ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành. Đây là nguyên nhân, này bà-la-môn, đây là lý do tại sao đôi khi ngay cả những bài kinh đã lâu không thực hành cũng hiện lên trong tâm trí, huống chi là những bài đã thực hành.

Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Bảy là gì? Các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả. Bảy yếu tố của giác ngộ này không phải là chướng ngại, phiền nhiễu, hay ô nhiễm của tâm. Khi được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát."

Khi Ngài nói điều này, Saṅgārava nói với Đức Phật: “Tuyệt vời, thưa ngài Gotama! … Từ hôm nay trở đi, xin ngài Gotama hãy ghi nhớ con là một cư sĩ đã quy y trọn đời.”

III. Không Phải Thời

17. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.

18. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.

SN 46.56 Với Hoàng Tử Abhaya Kinh Abhaya

Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Rồi Hoàng tử Abhaya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa nói rằng: ‘Không có nguyên nhân hay lý do nào cho việc không biết và không thấy. Không biết và không thấy không có nguyên nhân hay lý do. Không có nguyên nhân hay lý do nào cho việc biết và thấy. Biết và thấy không có nguyên nhân hay lý do.’ Đức Phật nói gì về điều này?”

“Này Hoàng tử, có những nguyên nhân và lý do cho việc không biết và không thấy. Không biết và không thấy có nguyên nhân và lý do. Có những nguyên nhân và lý do cho việc biết và thấy. Biết và thấy có nguyên nhân và lý do.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, nguyên nhân và lý do cho việc không biết và không thấy là gì? Làm thế nào mà không biết và không thấy lại có nguyên nhân và lý do?”

"Có lúc tâm bị theo đuổi thú vui xâm chiếm và sa lầy, mà không thực sự biết và thấy lối thoát khỏi theo đuổi thú vui đã phát sinh. Đây là một nguyên nhân và lý do cho việc không biết và không thấy. Và đây là cách không biết và không thấy có nguyên nhân và lý do.

Hơn nữa, có lúc tâm bị tức giận… tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ… tâm bất an và hối tiếc… nghi ngờ xâm chiếm và sa lầy, mà không thực sự biết và thấy lối thoát khỏi nghi ngờ đã phát sinh. Đây là một nguyên nhân và lý do cho việc không biết và không thấy. Và đây là cách không biết và không thấy có nguyên nhân và lý do."

“Bạch Thế Tôn, tên của bài giảng pháp này là gì?”

“Đây được gọi là ‘các Phiền nhiễu’, này Hoàng tử.”

"Thật vậy, bạch Đức Thế Tôn, đây là các Phiền nhiễu! Thật vậy, bạch bậc Thánh, đây là các Phiền nhiễu! Bị xâm chiếm bởi dù chỉ một phiền nhiễu, người ta cũng không thể thực sự biết hay thấy, huống chi là cả năm phiền nhiễu.

Nhưng bạch Thế Tôn, nguyên nhân và lý do cho việc biết và thấy là gì? Làm thế nào mà biết và thấy lại có nguyên nhân và lý do?"

"Đó là khi một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Họ thực sự biết và thấy với một tâm đã phát triển yếu tố giác ngộ là chánh niệm. Đây là một nguyên nhân và lý do cho việc biết và thấy. Và đây là cách biết và thấy có nguyên nhân và lý do.

Hơn nữa, một Tỷ kheo phát triển yếu tố giác ngộ là Phân tích pháp… nghị lực… hứng khởi… bình an… Định… Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Họ thực sự biết và thấy với một tâm đã phát triển yếu tố giác ngộ là Xả. Đây là một nguyên nhân và lý do cho việc biết và thấy. Và đây là cách biết và thấy có nguyên nhân và lý do."

“Bạch Thế Tôn, tên của bài giảng pháp này là gì?”

“Đây được gọi là ‘các yếu tố của giác ngộ’, này Hoàng tử.”

“Thật vậy, bạch Đức Thế Tôn, đây là các yếu tố của giác ngộ! Thật vậy, bạch bậc Thánh, đây là các yếu tố của giác ngộ! Được trang bị dù chỉ một yếu tố giác ngộ, người ta cũng sẽ thực sự biết và thấy, huống chi là cả bảy yếu tố giác ngộ. Khi leo núi Linh Thứu, con đã mệt mỏi cả thân và tâm. Nhưng giờ đây điều đó đã tan biến. Và con đã thấu hiểu giáo pháp.”

IV. Phải Thời

19. − Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.

20. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.

21. Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.

Chương Về Hơi Thở

SN 46.57 Một Bộ Xương Kinh Aṭṭhikamahapphala

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. Làm thế nào vậy? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển nhận thức về một bộ xương cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách nhận thức về một bộ xương, khi được phát triển và tu tập, rất có kết quả và lợi ích.”

“Khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, các con có thể mong đợi một trong hai kết quả: giác ngộ trong chính đời này, hoặc nếu còn sót lại điều gì, sẽ không trở lại. Làm thế nào vậy?..”

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, nó dẫn đến lợi ích lớn. Làm thế nào vậy?..”

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, nó dẫn đến nơi ẩn náu tuyệt vời khỏi ách trói buộc. Làm thế nào vậy?..”

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, nó dẫn đến nguồn cảm hứng lớn. Làm thế nào vậy?..”

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một bộ xương được phát triển và tu tập, nó dẫn đến việc sống trong sự an lạc lớn. Làm thế nào vậy?..”

54.IV. Từ (Tạp 27,32, Ðại 2, 197b) (S.v,115)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn của dân Koliya tên là Haliddavasana.

2. Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y, bát đi vào Haliddavasana để khất thực.

3. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ : “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy, chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.

4. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, họ liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

5. − Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử : “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân… với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.

6. Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như sau : “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ… với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả… không hận, không sân”.

7. Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù, cái gì là thù thắng, cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?

Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, họ ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.

8. Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi đi khất thực ở Haliddavasana, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

9. − Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau : “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo… (như trên) … Rồi chúng con, bạch Thế Tôn, không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chúng con ra đi với ý nghĩ : “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.

10. − Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau :

"Nhưng này chư Hiền, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, hỷ tâm giải thoát… xả tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? " Khi được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.

11. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.

12. Và này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với từ… tu tập xả giác chi câu hữu với từ, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm và pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn : “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác, hay đạt đến giải thoát được gọi là thanh tịnh, vị ấy an trú. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát là thanh tịnh tối thượng, Ta tuyên bố như vậy. Ở đây là trí tuệ đối với Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.

13. Và này các Tỷ-kheo, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với bi… tu tập xả giác chi câu hữu với bi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn : “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm… Nếu vị ấy muốn : “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, vị ấy nghĩ rằng : “Hư không là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng từ tâm giải thoát lấy Không vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.

14. Và này các Tỷ-kheo, tu tập hỷ tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với hỷ… tu tập xả giác chi câu hữu với hỷ liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm… Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác… Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ tâm giải thoát lấy Thức vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tơùi giải thoát cao hơn.

15. Và này các Tỷ-kheo, tu tập xả tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với xả… tu tập xả giác chi câu hữu với xả liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn với ý nghĩ: “Không có vật gì”, vị ấy chứng đạt và trú Vô sở hữu xứ. Ta nói rằng,này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát lấy Vô sở hữu xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.

SN 46.58 Bị Giòi Bọ Ăn Kinh Puḷavaka

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một xác chết bị giòi bọ ăn được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

55. V. Sangàrava (S.v,121)

1. Sàvatthi…

2. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, vị ấy liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bàla-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:

3. − Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày (sajjhàyakatà:đọc tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật mà tôi không học thuộc lòng lâu ngày, lại nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật được học thuộc lòng?

I

4. − Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga) xâm chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

5. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-lamôn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm… Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

6. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

7. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

8. Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

9. Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.

II

10. − Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

11. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

12. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nó gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

13. Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

14. Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối… còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng, không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

15. Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.

16. Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại, không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát… Xả giác chi, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

17. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

SN 46.59 Tím Tái Kinh Vinīlaka

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một xác chết tím tái được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

56. VI. Abhaya (Vô úy) (Tạp 27,1, Ðại 2,191a) (S.v,126)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Linh Thứu.

2. Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:

− “Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có nhân, không có duyên”. Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?

4. − Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có duyên.

I

5. − Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân, có duyên?

6. − Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.

7. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối…

8. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối…

9. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối…

10. Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.

11. − Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

− Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.

− Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.

II

12. − Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?

13. − Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.

14-18. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo…

19. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.

20. − Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

− Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.

− Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.

Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.

SN 46.60 Nứt Nẻ Kinh Vicchiddaka

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một xác chết nứt nẻ được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

VII. Phẩm Hơi Thở Vô Gơi Thở Ra

57. I. Bộ Xương (Tạp 27,38, Ðại 2,198a) (S.v,129)

SN 46.61 Trương Phình Kinh Uddhumātaka

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về một xác chết trương phình được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

I. Quả Lớn, Lợi Ích lớn

1. Sàvatthi…

2. − Tu tập cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3. Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Này các Tỷ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn.

SN 46.62 Tình Thương Kinh Mettā

“Này các Tỷ kheo, khi tình thương được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

II. Trí Và Bất Hoàn (Annàsativà)

1. …

2. − Tu tập, làm cho sung mãn cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

3. Tu tập cốt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng… tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Tu tập cốt tưởng như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

SN 46.63 Lòng Bi Kinh Karuṇā

“Này các Tỷ kheo, khi lòng bi được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

III. Nghĩa Lợi Lớn

1. …

2. − Cốt tưởng, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn.

3. Cốt tưởng, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn?.. (Như số 4,5 đoạn trên).

SN 46.64 Hỷ Xả Kinh Muditā

“Này các Tỷ kheo, khi hỷ xả được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

IV. An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến an ổn lớn, khỏi khổ ách)

SN 46.65 Xả Kinh Upekkhā

“Này các Tỷ kheo, khi Xả được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

V. Hứng Khởi Lớn (Samvegà)** **(S.v,130)

(Như trên, chỉ khác là đưa đến hứng khởi lớn)

SN 46.66 Hơi Thở Kinh Ānāpāna

“Này các Tỷ kheo, khi chánh niệm về hơi thở được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

VI. Lạc Trú** **(S.v,131)

(Như kinh trên, chỉ khác là đưa đến lạc trú)

Chương Về Đoạn Diệt

SN 46.67 Sự Xấu Xí Kinh Asubha

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về sự xấu xí được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

58. II. Côn Trùng Ăn (Pulavaka)

I-VI) Tu tập tưởng bị trùng ăn, này các Tỷ-kheo…

SN 46.68 Cái Chết Kinh Maraṇa

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về cái chết được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

59.III. Xanh Bầm (Vinilaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị xanh bầm, này các Tỷ-kheo…

SN 46.69 Sự Ghê Tởm Của Thức Ăn Kinh Āhārepaṭikūla

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về sự ghê tởm của thức ăn được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

60. IV. Bị Nứt Nẻ (Vicchiddaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị nứt nẻ, này các Tỷ-kheo…

SN 46.70 Bất Mãn Kinh Anabhirati

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về sự bất mãn với toàn thế giới được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

61.V. Sưng Phồng Lên (Uddhumàtaka)

I-VI. Tu tập tưởng xác bị sưng phồng lên, này các Tỷ-kheo…

SN 46.71 Vô Thường Kinh Anicca

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về vô thường được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

62. VI. Từ (Tạp 27,33, Ðại 2,197c)

I-VI. Tu tập từ tâm, này các Tỷ-kheo…

SN 46.72 Khổ Trong Vô Thường Kinh Dukkha

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về khổ trong vô thường được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

63. VII. Bi

I-VI. Tu tập bi tâm, này các Tỷ-kheo…

SN 46.73 Vô Ngã Trong Khổ Kinh Anatta

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về vô ngã trong khổ được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

64. VIII. Hỷ

I-VI. Tu tập hỷ tâm, này các Tỷ-kheo…

SN 46.74 Từ Bỏ Kinh Pahāna

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về sự từ bỏ được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

65. IX. Xả

I-VI. Tu tập xả tâm, này các Tỷ-kheo…

SN 46.75 Ly Tham Kinh Virāga

“Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về ly tham được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. …”

66. X. Hơi THở Vô Hơi Thở Ra

I-VI. Tu tập hơi thở vô hơi thở ra, này các Tỷ-kheo…

SN 46.76 Đoạn Diệt Kinh Nirodha

"Này các Tỷ kheo, khi nhận thức về đoạn diệt được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích. Làm thế nào vậy? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển nhận thức về đoạn diệt cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách, khi nhận thức về đoạn diệt được phát triển và tu tập, nó rất có kết quả và lợi ích.

Khi nhận thức về đoạn diệt được phát triển và tu tập, các con có thể mong đợi một trong hai kết quả: giác ngộ trong chính đời này, hoặc nếu còn sót lại điều gì, sẽ không trở lại. Làm thế nào vậy? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển nhận thức về đoạn diệt cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Khi nhận thức về đoạn diệt được phát triển và tu tập theo cách này, các con có thể mong đợi một trong hai kết quả: giác ngộ trong chính đời này, hoặc nếu còn sót lại điều gì, sẽ không trở lại."

“Nhận thức về đoạn diệt, khi được phát triển và tu tập, dẫn đến lợi ích lớn… nơi ẩn náu tuyệt vời khỏi ách trói buộc… nguồn cảm hứng lớn… sự an lạc lớn. Làm thế nào vậy? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển nhận thức về đoạn diệt cùng với các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách nhận thức về đoạn diệt, khi được phát triển và tu tập, dẫn đến lợi ích lớn… nơi ẩn náu tuyệt vời khỏi ách trói buộc… nguồn cảm hứng lớn… sự an lạc lớn.”

VIII. Phẩm Ðoạn Diệt (S.v,132)

67. I. Bất Tịnh (Tạp 27,30, Ðại 2,197a)

I-VI. Tu tập tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo…

Chương Về Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Sông Hằng

SN 46.77–88 Sông Hằng, V.v. Phẩm Gaṅgāpeyyāla

"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và hướng về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt.

Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bảy yếu tố của giác ngộ lại nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, dựa trên sự ly dục, phai nhạt, và đoạn diệt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bảy yếu tố của giác ngộ nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt."

(Kể đầy đủ cho mỗi con sông khác nhau như trong SN 45.91–102.)

68.II. Chết (Tạp 27,31, Ðại 2,197b)

I-VI. Tu tập tưởng chết này, này các Tỷ-kheo…

Chương Về Tinh Cần

SN 46.89–98 Một Như Lai, V.v. Phẩm Appamāda

“Này các Tỷ kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác, được cho là bậc tối thượng trong tất cả chúng sinh—dù là không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân…”

(Kể đầy đủ như trong SN 45.139–148.)

69. III. Ghê Tởm (Tạp 27,38, Ðại 2,198b)

I-VI. Tu tập tưởng ghê tởm đối với đồ ăn, này các Tỷ-kheo…

Chương Về Công Việc Khó Nhọc

SN 46.99–110 Công Việc Khó Nhọc, V.v. Phẩm Balakaraṇīya

“Này các Tỷ kheo, tất cả công việc khó nhọc được thực hiện đều phụ thuộc vào mặt đất và có nền tảng là mặt đất. …”

(Kể đầy đủ như trong SN 45.149–160.)

70. IV. Bất Khả Lạc Hay Toàn Thế Giới

I-VI. Tu tập tưởng bất khả lạc đối với toàn thế giới, này các Tỷ-kheo…

Chương Về Tìm Kiếm

SN 46.111–120 Tìm Kiếm, V.v. Phẩm Esanā

“Này các Tỷ kheo, có ba sự tìm kiếm này. Ba là gì? Sự tìm kiếm những thú vui giác quan, sự tìm kiếm sự tồn tại tiếp diễn, và sự tìm kiếm một con đường tâm linh. …”

(Kể đầy đủ như trong SN 45.161–170.)

71.V. Vô Thường (Tạp 27,37, Ðại 2,198a)

I-VI. Tu tập tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo…

Chương Về Lũ Lụt

SN 46.121–129 Lũ Lụt Kinh Oghādi

“Này các Tỷ kheo, có bốn cơn lũ (floods / bộc lưu) này. Bốn là gì? Cơn lũ của dục vọng, mong muốn tái sinh, các quan điểm, và vô minh.”

(Kể đầy đủ như trong SN 45.171–179.)

72. VI. Khổ (Tạp 27,38, Ðại 2,198a)

I-VI. Tu tập khổ tưởng, này các Tỷ-kheo…

SN 46.130 Các Xiềng Xích Cao Hơn Kinh Uddhambhāgiya

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích cao hơn. Năm là gì? Ham muốn tái sinh trong cõi sắc giới, ham muốn tái sinh trong cõi vô sắc, ngã mạn, bồn chồn lo lắng, và vô minh. Đây là năm xiềng xích cao hơn. Bảy yếu tố của giác ngộ nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / liễu tri), chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này.

Bảy là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển các yếu tố giác ngộ là chánh niệm, Phân tích pháp, nghị lực, hứng khởi, bình an, Định, và Xả, mà đỉnh cao là sự loại bỏ tham, sân, và si. …"

“… mà đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết …”

"… mà nghiêng, dốc, và hướng về sự tịch diệt …

Bảy yếu tố của giác ngộ nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này."

73. VII. Vô Ngã

I-VI. Tu tập tưởng vô ngã, này các Tỷ-kheo…

Một Chương Khác Về Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Sông Hằng

SN 46.131–142 Thêm Về Sông Hằng, V.v. Phẩm Punagaṅgāpeyyāla

(Kể đầy đủ như trong SN 45.103–114, phiên bản loại bỏ tham.)

74. VIII. Ðoạn Tận

I-VI. Tu tập tưởng đoạn tận, này các Tỷ-kheo…

Một Chương Khác Về Tinh Cần

SN 46.143–152 Một Loạt Bài Khác Về Một Như Lai, V.v. Phẩm Punaappamāda

(Kể đầy đủ như trong SN 45.139–148, phiên bản loại bỏ tham.)

75. IX. Ly Tham

I-VI. Tu tập tưởng ly tham, này các Tỷ-kheo…

Một Chương Khác Về Công Việc Khó Nhọc

SN 46.153–164 Công Việc Khó Nhọc, V.v. Phẩm Punabalakaraṇīya

(Kể đầy đủ như trong SN 45.149–160, phiên bản loại bỏ tham.)

76. X. Ðoạn Diệt

Một Chương Khác Về Tìm Kiếm

SN 46.165–174 Một Loạt Bài Khác Về Tìm Kiếm, V.v. Phẩm Punaesanā

(Kể đầy đủ như trong SN 45.161–170.)

I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn (S.v,133)

1. …

2. − Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3. Và này các Tỷ-kheo, tu tập tưởng đoạn diệt như thế nào…

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt…

5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, được quả lớn, được lợi ích lớn.

Một Chương Khác Về Lũ Lụt

SN 46.175–184 Một Loạt Bài Khác Về Lũ Lụt, V.v. Phẩm Punaogha

(Kể đầy đủ như trong SN 45.171–180.)

::: small (Kể đầy đủ như trong chương về loại bỏ tham, sân, và si.) :::

::: small (Các Bài Kinh Liên Quan đến Các Yếu Tố Giác Ngộ nên được kể đầy đủ giống như Các Bài Kinh Liên Quan đến Con Đường.) :::

Các Bài Kinh Liên Quan đến Các Yếu Tố Giác Ngộ là phần thứ hai.

II. Trí Và Bất Hoàn

2. − Tu tập tưởng đoạn diệt, làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi: Ngay trong hiện tại được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

3. Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn tưởng đoạn diệt như thế nào, này các Tỷ-kheo…

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt…

5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo…

III. IV, V, VI. Nghĩa Lợi Lớn, An Ổn Lớn Khỏi Khổ Ách, Hứng Khởi Lớn, Lạc Trú (S.v,133)

1. …

2. − Tưởng đoạn diệt được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn.

3. Tu tập đoạn diệt tưởng như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn, đưa đến lạc trú lớn?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt… tu tập xả giác chi câu hữu với tưởng đoạn diệt liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ…

5. Tu tập tưởng đoạn diệt như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, đưa đến nghĩa lợi lớn, đưa đến an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến hứng khởi lớn đưa đến lạc trú lớn.

IX. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

77. I. Hướng Về Ðông (S.v, 134)

1. …

2. - Ví như, này các Tỷ Kheo, Sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Bẩy Giác Chi làm cho sung mãn bảy Giác Chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

78-88. II - XII (S.v,134)

(Cho đến phẩm Tầm Cầu, như trên)

X. Phẩm Không Phóng Dật

89-98. I-X. (S.v,135)

− Này các Tỷ-kheo, như các loài hữu tình không chân, hay có hai chân, hay có bốn chân, hay có nhiều chân…

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)

XI. Phẩm Cần Dùng Sức Mạnh

99-100. I-XII. (S.v,135)

− Này các Tỷ-kheo, ví như các hành động cần phải dùng sức mạnh…

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)

XII. Phẩm Tầm Cầu

101-110. I-XII . (S.v,136)

− Có ba sự tầm cầu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Tầm cầu dục, tầm cầu hữu, tầm cầu Phạm hạnh…

(Như trên, theo đoạn bảy giác chi)

XIII. Phẩm Bộc Lưu

111-119 I-IX. (S.v,136)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Có bốn bộc lưu, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…

120.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,136)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.

3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?..

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.

XIV. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

121. I. (S.v,137)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn.

122-132. II-XII. (S.v,138)

(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) …

XV. Phẩm Không Phóng Dật (Nhiếp phục tham)

132-142. I-X . (S.v,138)

Gồm các kinh:

Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.

XVI. Phẩm Cần Dùng Sức Mạnh(Nhiếp phục tham)

143-154. I-XII. (S.v,138)

Gồm các kinh:

Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không, Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.

XVII. Phẩm Tầm Cầu (Nhiếp phục tham)

155-164 I-X (S.v, 139)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ, Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.

XVIII.Phẩm Bộc Lưu

165-174. I-IX. (S.v,139)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…

120.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,136)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.

3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?..

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5. Này các Tỷ-kheo, vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.

XIV. Phẩm Sông Hằng Quảng Thuyết

121. I. (S.v,137)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bảy giác chi, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn.

122-132. II-XII. (S.v,138)

(Như trên, cho đến phẩm Tầm Cầu) …

XV. Phẩm Không Phóng Dật (Nhiếp phục tham)

132-142. I-X. (S.v,138)

Gồm các kinh:

Chân Của Như Lai, Nóc Nhọn, Căn Rễ, Với Lõi, Cây, Hoa Lý, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, và Vải là thứ mười.

XVI. Phẩm Cần Dùng Sức Mạnh (Nhiếp phục tham)

143-154. I-XII . (S.v,138)

Gồm các kinh:

Sức Mạnh, Hột Giống, Rắn, Cây, Ghè, Râu Lúa Mì, Hư Không, Mây, Tàu, Thuyền, Khách, Sông.

XVII. Phẩm Tầm Cầu (Nhiếp phục tham)

155-164 I-X (S.v, 139)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Chướng Ngại, Vết Nhơ, Ðau Ðớn, Thọ, Ái, Khát.

XVIII. Phẩm Bộc Lưu

165-174. I-IX. (S.v,139)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn bộc lưu này. Thế nào là bốn? Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu…

175. X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,139)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Tham sắc giới, tham vô sắc giới, mạn, trạo cử, vô minh. Ðây là năm thượng phần kiết sử.

3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi cần phải tu tập. Thế nào là bảy?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi… tu tập xả giác chi với mục đích nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, nhập vào bất tử, lấy bất tử làm tối thượng, lấy bất tử làm cứu cánh, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

5. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bảy giác chi này cần phải tu tập.

-ooOoo-