Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong Vườn Xoài của Ambapālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, bốn niệm xứ (the four kinds of mindfulness meditation / cattāro satipaṭṭhānā / tứ niệm xứ / bốn nơi để thực hành chánh niệm) là con đường duy nhất (path to convergence / ekāyano maggo / con đường độc nhất, trực tiếp dẫn đến mục tiêu). Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp (discover the system / ñāyassa adhigamāya / để đạt được phương pháp, con đường đúng đắn), và thực chứng Niết bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt, chấm dứt khổ đau). Bốn pháp đó là gì?
Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm (quan sát và ghi nhớ về sự thật trên bốn đề tài thân, thọ, tâm, pháp), loại bỏ tham ái và phiền muộn (covetousness and displeasure / abhijjhā-domanassa / sự tham lam và buồn phiền đối với thế gian) trên đời.
Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Vị ấy an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Vị ấy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3. − Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
4. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm… trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
5. Có con đường độc nhất này, này các Tỷ-kheo, khiến cho các loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường ấy tức là bốn niệm xứ.
6. Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn nói.
Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong vườn xoài của Ambapālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm.
Và thế nào là một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng? Đó là khi một Tỷ kheo hành động với nhận biết rõ ràng khi đi ra và đi vào; khi nhìn thẳng và nhìn nghiêng; khi co và duỗi các chi; khi mang y bát; khi ăn, uống, nhai, và nếm; khi đi tiểu và đại tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng. Đó là cách một Tỷ kheo hành động với nhận biết rõ ràng. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
1. Một thời Thế Tôn ở Vesàli, tại rừng Ambapàli.
2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…
3. − Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn, tới khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
6. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi sang một bên và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần (Diligence / appamāda / chuyên cần, kỷ luật, tự chủ), nhiệt tâm, và quyết chí.”
“Đây chính là cách một số kẻ ngốc nghếch yêu cầu ta. Nhưng khi giáo pháp đã được giải thích, họ chỉ nghĩ đến việc đi theo ta mà thôi.”
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn! Xin Đấng Thiện Thệ hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn! Mong rằng con có thể hiểu được ý nghĩa lời Đức Phật dạy! Mong rằng con có thể trở thành người thừa kế giáo pháp của Đức Phật!”
"Vậy thì, này Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành (skillful qualities / kusala dhamma / các trạng thái tâm tích cực, có lợi). Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Đó là khéo giới đức trong sạch (khéo léo ứng dụng đạo đức để đạt sự trong sạch giới đức) và chánh kiến (tầm nhìn đúng). Khi giới đức (ethical conduct / sīla / hành vi đạo đức) của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ theo ba cách, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì?
Hãy an trú quan sát thân trên thân ở bên trong—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc an trú quan sát thân trên thân ở bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc an trú quan sát thân trên thân cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác ở bên trong… bên ngoài… cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát tâm trên tâm ở bên trong… bên ngoài… cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát pháp trên các pháp ở bên trong… bên ngoài… cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ theo ba cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi.
Sau đó, vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Vị ấy hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này.” Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / Arahant / bậc đã hoàn thiện, đã chấm dứt các lậu hoặc).
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
3. − Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và như vậy có thể có những người nghi ngờ pháp ấy và họ thẩm tra con; sau khi con nói pháp cho họ, họ nghĩ rằng đi theo con sẽ có lợi ích cho họ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Chắc chắn con có thể hiểu lời Thế Tôn thuyết. Chắc chắn con có thể trở thành người thừa tự lời Thế Tôn dạy.
4. − Vậy này Tỷ-kheo, Ông phải gột sạch hai pháp cơ bản về các thiện pháp. Và thế nào là hai pháp cơ bản về các thiện pháp? Chính là giới khéo thanh tịnh, và tri kiến chánh trực. Này Tỷ-kheo, khi nào Ông được giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực, này Tỷ-kheo, Ông hãy y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn niệm xứ theo ba cách. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, Ông hãy trú, quán thân trên nội thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán thân trên ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán thân trên nội ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán thọ trên các nội thọ… Hay Ông hãy trú, quán tâm trên các nội tâm… Hay Ông hãy trú, quán pháp trên các nội pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán pháp trên các ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hay Ông hãy trú, quán pháp trên các nội ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Tỷ-kheo, khi nào Ông y cứ trên giới, an trú trên giới và tu tập bốn niệm xứ theo ba cách như vậy; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm.
6. Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
7. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đạt được mục đích mà một thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
8. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kosala, gần làng Bà-la-môn tên là Sālā. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, những Tỷ kheo còn trẻ tuổi—mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự rèn luyện này—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Xin các vị tôn giả, hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật (liễu tri) về thân. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về các cảm giác (feeling / vedanā / thọ). Hãy an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về tâm (mind / citta / ý thức, trạng thái tinh thần). Hãy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về các pháp (principles / dhamma / các hiện tượng, các đối tượng của tâm, các lời dạy của Đức Phật).
Những Tỷ kheo là bậc hữu học (trainees / sekha / những người vẫn còn đang trên con đường tu học, chưa phải là A-la-hán)—những người chưa đạt được mục đích của tâm, nhưng sống với khát vọng hướng đến sự an ổn khỏi các khổ ách (sanctuary from the yoke / yogakkhema / trạng thái an toàn tối thượng, thoát khỏi gánh nặng của các ràng buộc) tối thượng—cũng an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri) về thân. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về các cảm giác. Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về tâm. Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về các pháp.
Những Tỷ kheo là bậc A-la-hán—những người đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / āsava / những ô nhiễm sâu kín làm rò rỉ năng lượng tâm linh), hoàn tất hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục đích của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của sự tồn tại (fetter of continued existence / bhavasaṃyojana / sự ràng buộc vào vòng luân hồi do mong muốn được tiếp tục tồn tại), và được giải thoát chân chánh nhờ giác ngộ (enlightenment / bodhi / sự tỉnh thức, sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của thực tại)—cũng an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi thân. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi các cảm giác. Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi tâm. Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi các pháp.
Những Tỷ kheo còn trẻ tuổi—mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự rèn luyện này—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn niệm xứ này."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Sàlà.
2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo… Thế Tôn nói như sau:
3. − Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mới tu, xuất gia chẳng bao lâu, mới đến trong Pháp Luật này; những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khích lệ (samàdapetabbà), cần phải được hướng dẫn, cần phải được an trú, tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
4. “Hãy đến, này chư Hiền, hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với thân. Hãy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm để có chánh trí như thật đối với các thọ. Hãy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với tâm. Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với các pháp”.
5. Này các Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Các vị ấy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về thọ. Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm… để liễu tri về tâm. Các vị ấy trú, quán pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm để liễu tri về các pháp.
6. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; các vị ấy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm, ly hệ phược đối với thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên các thọ… Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm… Các vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm, ly hệ phược đối với các pháp.
7. Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào mới tu, xuất gia chẳng bao lâu, mới đến trong Pháp Luật này; những vị ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khích lệ, cần phải được hướng dẫn, cần phải được an trú, tu tập bốn niệm xứ này.
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Đức Phật dạy:
"Nói một cách đúng đắn, này các Tỷ kheo, các con nên gọi năm Phiền nhiễu (hindrances / nīvaraṇa / triền cái / chướng ngại, là trạng thái bất an, bồn chồn gây khó tập trung trong hiện tại) này là một ‘đống bất thiện’. Vì năm Phiền nhiễu này hoàn toàn là một đống bất thiện. Năm pháp đó là gì? Đó là Phiền nhiễu của theo đuổi thú vui (dục tham), thù hận (sân hận), uể oải và buồn ngủ (Hôn trầm và thụy miên), bồn chồn và hối hận (trạo cử và hối quá), và hoài nghi (doubt / vicikicchā / sự nghi ngờ làm tê liệt, một trong năm phiền nhiễu). Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi năm Phiền nhiễu này là một ‘đống bất thiện’. Vì năm Phiền nhiễu này hoàn toàn là một đống bất thiện.
Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một ‘đống thiện’. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… Vị ấy an trú quan sát tâm trên tâm… Vị ấy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một ‘đống thiện’. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện."
1-2. Tại Sàvatthi. Ở đấy, Thế Tôn nói như sau:
3. − Ðống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói là năm triền cái, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống bất thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái. Thế nào là năm?
4. Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi hoặc triền cái. Ðống bất thiện này, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói là năm triền cái, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống bất thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái.
5. Ðống thiện, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói là bốn niệm xứ, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðống thiện này, này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói là bốn niệm xứ, người ấy nói một cách chơn chánh. Toàn bộ đống thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ.
"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, một con chim ưng bất ngờ sà xuống và bắt một con chim cút. Khi con chim cút bị tha đi, nó than khóc: ‘Ta thật xui xẻo, thật bất hạnh, vì đã đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu hôm nay ta đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên ta, thì con chim ưng này đã không thể thắng được ta trong cuộc chiến.’
‘Vậy, chim cút ơi, lãnh địa của ngươi, lãnh địa của tổ tiên ngươi là gì?’
‘Đó là một cánh đồng đã cày, phủ đầy những cục đất.’
Tự tin vào sức mạnh của mình, con chim ưng không hề nao núng hay sợ hãi. Nó thả con chim cút ra và nói: ‘Đi đi, chim cút. Nhưng ngay cả ở đó, ngươi cũng không thoát khỏi ta đâu!’
Rồi con chim cút bay đến một cánh đồng đã cày, phủ đầy những cục đất. Nó trèo lên một cục đất lớn, đứng đó và nói với con chim ưng: ‘Đến bắt ta đi, chim ưng! Đến bắt ta đi, chim ưng!’
Tự tin vào sức mạnh của mình, con chim ưng không hề nao núng hay sợ hãi. Nó gập cánh lại và bất ngờ sà xuống con chim cút. Khi con chim cút biết con chim ưng đã đến gần, nó liền lẩn vào dưới cục đất đó. Nhưng con chim ưng đã đâm thẳng ngực vào đó.
Đó là những gì xảy ra khi các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, đừng đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác, Ma vương (Māra / một vị thiên nhân tượng trưng cho các thế lực cản trở sự giác ngộ) sẽ tìm thấy điểm yếu và tóm lấy các con.
Và đâu không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm loại kích thích giác quan (sensual stimulation / kāmaguṇa / năm đối tượng của ham muốn giác quan: hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, và sự tiếp xúc). Năm loại đó là gì? Những hình ảnh được mắt biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Những âm thanh được tai biết đến… Những mùi được mũi biết đến… Những vị được lưỡi biết đến… Những sự tiếp xúc được thân biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Đây không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác.
Các con nên đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con. Nếu các con đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con, Ma vương sẽ không tìm thấy điểm yếu hay tóm lấy các con.
Và đâu là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên? Đó là bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên."
1-2…
3. − Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một con chim ưng cái thình lình vồ xuống và chụp lấy một con chim cút.
4. Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút bị con chim ưng cái bắt, than khóc như sau:
“− Như thế này, thật bất hạnh cho tôi! Thật thiếu công đức cho tôi! Vì rằng tôi đã đi không phải chỗ hành xứ của mình, đi vào cảnh giới của người khác. Nếu tôi đi trong chỗ hành xứ của tôi, trong cảnh giới của cha mẹ tôi, thời con chim ưng này không thể hơn tôi, nếu phải đánh nhau”.
“− Này Chim cút, thế nào là chỗ hành xứ của ngươi, thế nào là cảnh giới của cha mẹ ngươi?”
− “Là vạt đất được lưỡi cày xới lên”.
5. Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái không có siết mạnh sức mạnh của mình, không có bóp chặt sức mạnh của mình, thả con chim cút rồi nói:
− “Hãy đi, này Chim cút. Sau khi đi tại chỗ ấy, ta sẽ không thả cho ngươi”.
6. Rồi này các Tỷ-kheo, con chim cút đi đến vạt đất được lưỡi cày xới lên, leo lên một hòn đất lớn, đứng trên ấy và nói với con chim ưng:
“− Này, hãy đến ta, Chim ưng! Này, hãy đến ta, này Chim ưng!”
7. Rồi này các Tỷ-kheo, con chim ưng cái siết mạnh sức mạnh của mình, bóp chặt sức mạnh của mình, xếp cả hai cánh, thình lình vồ lấy con chim cút. Này các Tỷ-kheo, khi con chim cút biết được: “Con chim ưng này đang vồ mạnh xuống ta”, liền nấp sau hòn đất ấy. Này các Tỷ-kheo, ở đây, con chim ưng bị bể ngực.
8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
9. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục công đức. Thế nào là năm?
10. Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai nhận thức… Có các hương do mũi nhận thức… Có các vị do lưỡi nhận thức… Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ không phải hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.
11. Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.
12. Và này các Tỷ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ…; trú, quán tâm trên tâm…; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.
"Này các Tỷ kheo, ở dãy Himalaya có những vùng hiểm trở và khó đi. Ở một số vùng như vậy, cả khỉ và người đều không thể đến, trong khi ở những vùng khác, khỉ có thể đến nhưng người thì không. Cũng có những nơi bằng phẳng, dễ chịu mà cả khỉ và người đều có thể đến. Ở đó, những người thợ săn đặt bẫy nhựa đường trên các lối đi của khỉ để bắt chúng.
Những con khỉ không liều lĩnh và khinh suất sẽ nhìn thấy nhựa đường và tránh xa. Nhưng một con khỉ ngu ngốc và liều lĩnh lại đến gần nhựa đường và dùng một tay tóm lấy nó. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ tay ra, nó dùng tay kia tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay, nó dùng một chân tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay và một chân, nó dùng chân kia tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay và hai chân, nó dùng mõm tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó.
Và thế là con khỉ, bị mắc kẹt ở năm điểm, chỉ nằm đó la hét. Nó sẽ gặp phải bi kịch và thảm họa, và người thợ săn có thể làm gì tùy ý với nó. Người thợ săn đâm nó, gỡ nó ra khỏi khúc gỗ dính nhựa đường, và đi bất cứ đâu ông ta muốn.
Đó là những gì xảy ra khi các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, đừng đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác, Ma vương sẽ tìm thấy điểm yếu và tóm lấy các con.
Và đâu không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm loại kích thích giác quan. Năm loại đó là gì? Những hình ảnh được mắt biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Những âm thanh được tai biết đến… Những mùi được mũi biết đến… Những vị được lưỡi biết đến… Những sự tiếp xúc được thân biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Đây không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác.
Các con nên đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con. Nếu các con đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con, Ma vương sẽ không tìm thấy điểm yếu hay tóm lấy các con.
Và đâu là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên? Đó là bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên."
1-2…
3. − Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài vượn, loài người qua lại.
4. Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài vượn qua lại, không có loài người.
5. Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa (lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. “Ta sẽ gỡ bàn tay ra”, nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai tay ra”, nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra”, nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân”, nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy.
6. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của mình.
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?
9. Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn… Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.
10. Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.
11. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời…; trú, quán thọ trên các cảm thọ…; trú, quán tâm trên tâm…; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.
"Này các Tỷ kheo, giả sử một người đầu bếp ngu ngốc, bất tài, không khéo léo phục vụ một vị vua hoặc quan đại thần của họ với đủ loại cà ri xa hoa: cực kỳ chua, đắng, cay, và ngọt; nóng và dịu, mặn và nhạt.
Nhưng người đầu bếp đó không nhận ra gợi ý của chủ nhân mình: ‘Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt này, hoặc ông ấy đã với lấy nó, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó. Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt chua hoặc đắng hoặc cay hoặc ngọt hoặc nóng hoặc dịu hoặc mặn. Hoặc ông ấy thích món sốt nhạt, hoặc ông ấy đã với lấy món nhạt, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó.’
Người đầu bếp ngu ngốc, bất tài, không khéo léo đó không được tặng quần áo, tiền lương, hay tiền thưởng. Tại sao vậy? Bởi vì họ không nhận ra gợi ý của chủ nhân mình.
Tương tự như vậy, một Tỷ kheo ngu ngốc, bất tài, không khéo léo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ không nhập Định (Immersion / samādhi / định / Trạng thái tâm tụ trên một điểm), và các phiền não phụ (corruptions / upakkilesa / những ô nhiễm của tâm trí, làm cản trở sự định tĩnh) của họ không được từ bỏ. Nhưng họ không nhận ra gợi ý. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm không nhập Định, và các phiền não phụ không được từ bỏ. Nhưng họ không nhận ra gợi ý.
Tỷ kheo ngu ngốc, bất tài, không khéo léo đó không có được những trạng thái thiền an lạc trong đời này, cũng không có được chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Tại sao vậy? Bởi vì họ không nhận ra gợi ý của tâm mình.
Giả sử một người đầu bếp sáng suốt, tài năng, khéo léo phục vụ một vị vua hoặc quan đại thần của họ với đủ loại cà ri xa hoa: cực kỳ chua, đắng, cay, và ngọt; nóng và dịu, mặn và nhạt.
Và người đầu bếp đó nhận ra gợi ý của chủ nhân mình: ‘Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt này, hoặc ông ấy đã với lấy nó, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó. Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt chua hoặc đắng hoặc cay hoặc ngọt hoặc nóng hoặc dịu hoặc mặn. Hoặc ông ấy thích món sốt nhạt, hoặc ông ấy đã với lấy món nhạt, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó.’
Người đầu bếp sáng suốt, tài năng, khéo léo đó được tặng quần áo, tiền lương, và tiền thưởng. Tại sao vậy? Bởi vì họ nhận ra gợi ý của chủ nhân mình.
Tương tự như vậy, một Tỷ kheo sáng suốt, tài năng, khéo léo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ nhập Định, và các phiền não phụ của họ được từ bỏ. Họ nhận ra gợi ý. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm của họ nhập Định, và các phiền não phụ của họ được từ bỏ. Họ nhận ra gợi ý.
Tỷ kheo sáng suốt, tài năng, khéo léo đó có được những trạng thái thiền an lạc trong đời này, và họ có được chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Tại sao vậy? Bởi vì họ nhận ra gợi ý của tâm mình."
I.
1.…
2-3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm (khàrikehi pi akhàrikehi pi), chất mặn, không phải chất mặn.
4. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình (bhattasa hay bhattuno?): “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay : “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay: “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này, chủ ta dùng nhiều”, hay : “Chủ ta tán thán xúp chua này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này”… hay : “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này”… hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này”… hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chất kiềm này”… hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất kiềm này”… hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất mặn này”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp không phải mặn này”.
5. Và này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nhận được đồ mặc, không nhận được lương bổng, không nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy. Dầu vị ấy trú, quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy.
7. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của mình.
II.
8. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho các vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm, chất mặn hay không phải chất mặn. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm đươĩc sở thích về việc ăn uống của người chủ mình: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay : “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp này chủ ta tán thán”, hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay : “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này chủ ta dùng nhiều”, hay : “Món xúp chua này chủ ta tán thán”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này”… “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này”… “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này”… “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị kiềm này”… “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không vị kiềm này”…: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị mặn này”… “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không mặn này”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta tán thán”.
9. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nhận được đồ mặc, nhận được lương bổng, nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
10. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy.
11. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được chánh niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Vesālī, tại làng nhỏ Beluva. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, hãy vào mùa an cư mưa với bất kỳ bạn bè hay người quen nào các con có quanh Vesālī. Ta sẽ bắt đầu mùa an cư mưa ngay tại đây, trong làng nhỏ Beluva.”
“Vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ kheo ấy đáp lời. Họ làm theo lời Đức Phật dạy, trong khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư mưa ngay tại làng nhỏ Beluva.
Sau khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư mưa, Ngài bị bệnh nặng, phải chịu những cơn đau khủng khiếp, gần kề cái chết. Nhưng Ngài vẫn chịu đựng không phiền muộn, với chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Bấy giờ, Đức Phật khởi lên ý nghĩ:
“Sẽ không thích hợp nếu ta nhập diệt hoàn toàn trước khi thông báo cho các thị giả và từ biệt Tăng đoàn Tỷ kheo. Tại sao ta không dùng sức mạnh để trấn áp cơn bệnh này, ổn định sinh lực, và tiếp tục sống?” Và Ngài đã làm như vậy. Sau đó, cơn bệnh của Đức Phật lắng xuống.
Ngay sau khi Đức Phật bình phục, Ngài rời khỏi nơi ở và ngồi dưới bóng hiên trên chiếc ghế đã được trải sẵn. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời khi Đức Phật cảm thấy dễ chịu, khi Ngài vẫn khỏe mạnh, và khi Ngài đang qua khỏi. Bởi vì khi Đức Phật bị bệnh, thân con cảm thấy như bị say thuốc. Con mất phương hướng, và các giáo pháp không hiện lên trong tâm trí. Tuy nhiên, ít nhất con cũng được an ủi bởi ý nghĩ rằng Đức Phật sẽ không nhập diệt hoàn toàn mà không nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn Tỷ kheo.”
"Nhưng Tăng đoàn Tỷ kheo có thể mong đợi gì ở ta bây giờ, Ānanda? Ta đã dạy giáo pháp mà không có sự phân biệt nào giữa những lời dạy bí mật và công khai. Như Lai (Realized One / Tathāgata / một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”) không có nắm tay của một người thầy khi nói đến các giáo pháp.
Nếu có ai nghĩ rằng: ‘Ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn Tỷ kheo,’ hoặc ‘Tăng đoàn Tỷ kheo là dành cho ta,’ thì hãy để người đó nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn. Nhưng Như Lai không nghĩ như vậy, vậy tại sao Ngài phải nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn?
Bây giờ ta đã già, cao tuổi và là bậc trưởng thượng. Ta đã cao niên và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Ta hiện đã tám mươi tuổi. Giống như một chiếc xe cũ nát tiếp tục chạy bằng cách dựa vào dây buộc, cũng vậy, thân của Như Lai tiếp tục tồn tại như thể dựa vào dây buộc.
Đôi khi Như Lai, không chú tâm vào bất kỳ hình tướng nào, và với sự chấm dứt của một số cảm giác nhất định, nhập và an trú trong Định Vượt qua hình tướng (Signless immersion / animitta-samādhi / Tập trung nhận thức về việc buông bỏ mọi dấu hiệu hay hình dạng của các hiện tượng (ngưng đọc nhãn hiệu)) của tâm. Chỉ khi đó thân của Như Lai mới trở nên thoải mái hơn.
Vì vậy, Ānanda, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva.
2. Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
− Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy an cư vào mùa mưa xung quanh Vesàli, chỗ nào có bạn bè, có người quen biết (sandittham), có người thân thiết (sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa mưa tại làng Veluva này.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, an cư mùa mưa xung quanh Vesàli, tại chỗ có bạn bè, có người quen biết, có người thân thiết. Còn Thế Tôn thời an cư mùa mưa tại làng Beluva.
3. Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn.
4. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống”. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.
5. Rồi Thế Tôn thoát khỏi cơn bệnh; thoát khỏi cơn bệnh không bao lâu, Ngài đi ra khỏi nhà bệnh, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, trong bóng im, sau lưng ngôi nhà.
6. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
7. − Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay : Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”, hay “Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”, thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?
8. Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt.
9. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
10. Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
11. Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đi đến khu ni viện, và ngồi xuống chiếc ghế đã được trải sẵn. Sau đó, một vài ni cô đến gặp Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Thưa Tôn giả Ānanda, một vài ni cô thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ. Họ đã nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây.”
“Đúng vậy, các chị em! Đúng vậy, các chị em! Bất kỳ vị tăng hay ni nào thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ đều có thể mong đợi nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây.”
Sau đó, Ānanda đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy, và truyền cảm hứng cho các ni cô bằng một bài pháp thoại, sau đó ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Sau đó, Ānanda đi khất thực ở Sāvatthī. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và kể lại những gì đã xảy ra.
"Đúng vậy, Ānanda! Đúng vậy! Bất kỳ vị tăng hay ni nào thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ đều có thể mong đợi nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, dựa trên thân thể, phát sinh sự căng thẳng thể chất, hoặc sự uể oải tinh thần, hoặc tâm bị phân tán ra bên ngoài. Tỷ kheo đó nên hướng tâm của mình đến một chủ đề truyền cảm hứng làm cơ sở cho thiền định. Khi họ làm như vậy, phấn chấn (joy / pāmojja / sự vui mừng kích thích mạnh) nảy sinh. Khi có phấn chấn, hân hoan (Rapture / pīti / Hỷ / niềm vui có thể cảm nhận được từ ngoài) nảy sinh. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên lắng dịu (Tranquility / passaddhi / khinh an / trạng thái dịu lại của hân hoan). Khi thân lắng dịu, người ta cảm thấy bình an (bliss / Sukhaṁ / lạc / hạnh phúc, bền vững và tinh tế). Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định (immersed in samādhi / Samāhitā / định tĩnh). Sau đó, họ suy ngẫm: ‘Ta đã hoàn thành mục tiêu mà ta đã hướng tâm đến. Bây giờ hãy để ta rút lui.’ Họ rút lui, và lặng im không suy nghĩ và không quan sát (without placing the mind or keeping it connected / avitakka-avicāra / không tầm không tứ / không còn suy nghĩ và không còn quan sát (chỉ có sự tồn tại ý thức mà không có nội dung)). Họ hiểu: ‘Ta đang lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Chánh niệm trong chính mình, ta hạnh phúc.’
Hơn nữa, một Tỷ kheo an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, dựa trên các pháp, phát sinh sự căng thẳng thể chất, hoặc sự uể oải tinh thần, hoặc tâm bị phân tán ra bên ngoài. Tỷ kheo đó nên hướng tâm của mình đến một chủ đề truyền cảm hứng làm cơ sở cho thiền định. Khi họ làm như vậy, hân hoan nảy sinh. Khi hân hoan, phấn chấn nảy sinh. Khi tâm tràn đầy phấn chấn, thân trở nên lắng dịu. Khi thân lắng dịu, người ta cảm thấy bình an. Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định. Sau đó, họ suy ngẫm: ‘Ta đã hoàn thành mục tiêu mà ta đã hướng tâm đến. Bây giờ hãy để ta rút lui.’ Họ rút lui, và lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Họ hiểu: ‘Ta đang lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Chánh niệm trong chính mình, ta hạnh phúc.’ Đó là cách có sự phát triển có định hướng.
Và làm thế nào để có sự phát triển không định hướng? Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: ‘Tâm ta không hướng ra bên ngoài.’ Và họ hiểu: ‘Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.’ Và họ cũng hiểu: ‘Ta an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.’ Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: ‘Tâm ta không hướng ra bên ngoài.’ Và họ hiểu: ‘Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.’ Và họ cũng hiểu: ‘Ta an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.’ Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: ‘Tâm ta không hướng ra bên ngoài.’ Và họ hiểu: ‘Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.’ Và họ cũng hiểu: ‘Ta an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.’ Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: ‘Tâm ta không hướng ra bên ngoài.’ Và họ hiểu: ‘Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.’ Và họ cũng hiểu: ‘Ta an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.’ Đó là cách có sự phát triển không định hướng.
Vậy, Ānanda, ta đã dạy con sự phát triển có định hướng và sự phát triển không định hướng. Vì lòng từ bi, ta đã làm những gì một người thầy nên làm, người muốn điều tốt nhất cho các đệ tử của mình. Đây là những gốc cây, và đây là những túp lều trống. Hãy thực hành thiền định, Ānanda! Đừng lơ là! Đừng hối tiếc sau này! Đây là lời chỉ dạy của ta cho con."
Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy.
1. Tại Sàvatthi…
2. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Rồi một số đông Tỷ-kheo-ni đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với Tôn giả Ananda:
3. − Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết (sampajànanti) quảng đại, trước sau thù thắng.
− Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng.
4. Rồi Tôn giả Ananda với bài pháp thoại, sau khi tuyên thuyết cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
5. Rồi Tôn giả Ananda sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đến, con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông Tỷ-kheo-ni đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với con: “Ở đây, bạch Thượng tọa Ananda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng”. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các Tỷ-kheo-ni ấy: “Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng”.
6. − Như vậy là phải, này Ananda! Như vậy là phải, này Ananda! Này Ananda, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng. Thế nào là bốn?
7. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thân trên thân, hoặc thân sở duyên (kàyàrammano) khởi lên, hoặc thân nhiệt não (kàyasmin parilàho), hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán hướng ngoại (bahiddha va cittam vikkhipati); do vậy, này Ananda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín (pasàdaniyenimitta). Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan (pàmujjam: Thắng hỷ) sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có tâm khinh an, lạc thọ sanh. Người có tâm lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (patisamharàmi) (khỏi đối tượng tịnh tín)”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc”.
8-9. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo sống, quán thọ trên các thọ… sống, quán tâm trên tâm…
10. Vị ấy sống, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ananda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tướng tịnh tín)”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc”.
11. Như vậy, này Ananda, là sự tu tập về hướng tâm.
12. Và này Ananda, thế nào là sự tu tập không có hướng tâm?
13. Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: “Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau (pacchàpure), nhưng được giải thoát, không có hướng tâm”. Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
14. Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: “Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm”. Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
15. Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: "Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước… Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
16. Này Ananda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại… Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
17. Như vậy, này Ananda, là tu tập không có hướng tâm.
18. Như vậy, này Ananda, Ta thuyết tu tập có hướng tâm; Ta thuyết tu tập không có hướng tâm. Những gì, này Ananda, một bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với các đệ tử, vì lòng từ mẫn khởi lên, những việc ấy, Ta đã làm cho các Ông. Này Ananda, đây là những gốc cây. Ðây là những nhà trống. Hãy tu Thiền, này Ananda. Chớ có phóng dật. Chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
19. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa với Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, người ta nói về ‘một bậc đại nhân (great man / mahāpurisa / một người vĩ đại, người có tâm giải thoát)’. Bậc đại nhân được định nghĩa như thế nào?”
"Sāriputta, người có tâm giải thoát là một bậc đại nhân, ta nói vậy. Nếu tâm của họ không giải thoát, ta nói họ không phải là một bậc đại nhân.
Và làm thế nào một người có tâm giải thoát? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ trở nên ly tham (dispassionate / virajjati / trạng thái không còn tham ái, dính mắc), và được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không bám giữ (not grasping / anupādāya / không chấp thủ, không dính mắc vào bất cứ điều gì). Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm của họ trở nên ly tham, và được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không bám giữ. Đó là cách một người có tâm giải thoát.
Người có tâm giải thoát là một bậc đại nhân, ta nói vậy. Nếu tâm của họ không giải thoát, ta nói họ không phải là một bậc đại nhân."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn… Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
3. − “Ðại nhân, đại nhân”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là đại nhân?
− Với tâm giải thoát, này Sàriputta, Ta gọi là đại nhân. Không có tâm giải thoát, Ta không gọi là đại nhân. Và này Sàriputta, thế nào là tâm giải thoát?
4. Ở đây, này Sàriputta, một Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ;… Trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
5. Như vậy, này Sàriputta, là tâm giải thoát. Với tâm giải thoát, này Sàriputta, Ta gọi là đại nhân. Không có tâm giải thoát, Ta không gọi là đại nhân.
Một thời Đức Phật đang ở gần Nāḷandā trong vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, con có niềm tin vào Đức Phật đến nỗi con tin rằng không có vị tu sĩ khổ hạnh hay Bà-la-môn nào khác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri) lại vượt trội hơn Đức Phật khi nói về sự tỉnh thức (awakening / sambodhi / sự giác ngộ, sự hiểu biết hoàn toàn).”
"Đó là một tuyên bố vĩ đại và ấn tượng, Sāriputta. Con đã rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết, rằng: ‘Con có niềm tin vào Đức Phật đến nỗi con tin rằng không có vị tu sĩ khổ hạnh hay Bà-la-môn nào khác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà hiểu biết trực tiếp lại vượt trội hơn Đức Phật khi nói về sự tỉnh thức.’
Còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác đã sống trong quá khứ thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của họ để biết rằng những vị Phật đó có giới đức (ethical conduct / sīla / hành vi đạo đức) như vậy, hay phẩm hạnh (qualities / dhamma / các pháp, các đặc tính) như vậy, hay trí tuệ (wisdom / paññā / sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật) như vậy, hay thiền định (meditation / samādhi / sự tập trung tâm ý) như vậy, hay giải thoát (freedom / vimutti / sự thoát khỏi mọi ràng buộc và khổ đau) như vậy chưa?"
“Dạ chưa, bạch Thế Tôn.”
“Và còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác sẽ sống trong tương lai thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của họ để biết rằng những vị Phật đó sẽ có giới đức như vậy, hay phẩm hạnh như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay giải thoát như vậy chưa?”
“Dạ chưa, bạch Thế Tôn.”
“Và còn ta, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác ở hiện tại thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của ta để biết rằng ta có giới đức như vậy, hay phẩm hạnh như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay giải thoát như vậy chưa?”
“Dạ chưa, bạch Thế Tôn.”
“Vậy thì, Sāriputta, khi mà con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, hay hiện tại, thì chính xác con đang làm gì khi đưa ra một tuyên bố vĩ đại và ấn tượng như vậy, rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết như vậy?”
"Bạch Thế Tôn, mặc dù con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, và hiện tại, nhưng con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp. Giả sử có một thành trì biên giới của vua với các bờ lũy, thành lũy, và cổng vòm được củng cố, và chỉ có một cổng duy nhất. Và nó có một người gác cổng sáng suốt, tài năng, và thông minh. Anh ta ngăn người lạ vào và cho người quen vào. Khi anh ta đi tuần tra quanh con đường, anh ta không thấy một lỗ hổng hay khe nứt nào trên tường, ngay cả một cái đủ lớn để một con mèo chui qua. Anh ta nghĩ, ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào vào hay ra khỏi thành trì, tất cả chúng đều đi qua cổng này.’
Tương tự như vậy, con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp: ‘Tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—đều từ bỏ năm Phiền nhiễu, những phiền não phụ của tâm làm suy yếu trí tuệ. Tâm của họ được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Họ phát triển đúng đắn bảy yếu tố của giác ngộ (awakening factors / bojjhaṅga / giác chi). Và họ tỉnh thức để đạt được sự tỉnh thức hoàn hảo tối thượng.’"
“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vậy Sāriputta, con nên thường xuyên nói bài giảng giáo pháp này cho các vị tăng, ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Mặc dù sẽ có một số người ngốc nghếch có hoài nghi hay không chắc chắn về Như Lai, khi họ nghe bài giảng giáo pháp này, họ sẽ từ bỏ hoài nghi hay sự không chắc chắn đó.”
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàlanda, tại rừng Pavàrikamba.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn… Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
3. − Như vậy, bạch Thế Tôn, là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác.
− Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư tử: “Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”.
4. Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: “Các bậc Thế Tôn ấy đã có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã giải thoát như vậy”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
5. − Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông: “Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ giải thoát như vậy”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
6. − Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời hiện tại, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: “Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giải thoát như vậy”?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
7. − Và này Sàriputta, ở đây, Ông không có chánh trí với tâm của Ông biết được tâm của các vị A-lahán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại; thời này Sàriputta, do ý nghĩa gì Ông lại thốt ra lời đại ngôn, lời tuyên bố như con ngưu vương, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống tiếng con sư tử của Ông rằng: “Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn, hay Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”?
− Bạch Thế Tôn, con không có chánh trí với tâm của con biết được tâm các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng bạch Thế Tôn, con biết được pháp truyền thống (dhammanvayo).
8. Ví như, bạch Thế Tôn, tại một thành ở biên giới, với những hào lũy kiên cố, vững chắc, với những thành quách, tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đấy, có một người gác cửa sáng suốt, thông minh, có trí, không cho vào những người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Trong khi người ấy đi tuần đến con đường xung quanh thành trì ấy để xem, không thấy có một khe hở ở tường nào, hay lỗ hổng ở tường nào, cho đến một con mèo có thể lọt qua được. Và người ấy suy nghĩ rằng: “Có những sinh loại thô lớn nào đi vào hay đi ra ngôi thành này, tất cả phải đi vào hay đi ra cửa này”. Như vậy, bạch Thế Tôn, là pháp truyền thống mà con được biết.
9. Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời quá khứ, tất cả bậc
Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời vị lai, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng giác.
10. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Ông hãy luôn luôn thuyết pháp thoại này cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những người ngu si nào còn có những nghi ngờ, hay những do dự đối với Như Lai sau khi nghe pháp thoại này của Ta, sự nghi ngờ, do dự ấy của họ đối với Như Lai sẽ trừ diệt.
Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc đó, Tôn giả Sāriputta đang ở tại vùng Magadha gần làng nhỏ Nālaka, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Và sa di Cunda là người chăm sóc ngài.
Sau đó, Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn do cơn bệnh đó. Rồi Cunda lấy bát và y của Sāriputta và lên đường đến Sāvatthī. Ngài đến gặp Tôn giả Ānanda tại Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Thưa Tôn giả, Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn. Đây là bát và y của ngài.”
“Thưa Tôn giả Cunda, chúng ta nên đến gặp Đức Phật về vấn đề này. Nào, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và thông báo cho Ngài về việc này.”
“Vâng, thưa Tôn giả,” Cunda đáp.
Sau đó, Ānanda và Cunda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, sa di Cunda này nói rằng Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn. Đây là bát và y của ngài. Kể từ khi con nghe tin này, thân con cảm thấy như bị say thuốc. Con mất phương hướng, và các giáo pháp không hiện lên trong tâm trí.”
“Vậy, Ānanda, khi Sāriputta nhập diệt hoàn toàn, ngài có lấy đi toàn bộ phạm vi giới đức, Định, trí tuệ, giải thoát, hay tri kiến về giải thoát của con không?”
“Dạ không, bạch Thế Tôn, ngài không. Nhưng Tôn giả Sāriputta là người cố vấn và khuyên bảo của con. Ngài đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy, và truyền cảm hứng cho con. Ngài không bao giờ mệt mỏi khi giảng dạy giáo pháp, và ngài đã hỗ trợ các bạn đồng tu của mình. Con nhớ đến vị ngọt của giáo pháp, sự phong phú của giáo pháp, sự hỗ trợ của giáo pháp mà Tôn giả Sāriputta đã ban cho.”
"Ānanda, ta đã không chuẩn bị cho điều này sao khi ta giải thích rằng chúng ta phải chia lìa và xa cách khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng? Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp (conditioned / saṅkhata / hữu vi / có hình thành và có biến mất), và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Giả sử có một cây lớn đứng vững với lõi gỗ, và cành lớn nhất bị gãy. Tương tự như vậy, trong Tăng đoàn vĩ đại đứng vững với lõi gỗ, Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn.
Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Vì vậy, Ānanda, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sadi Cunda là thị giả của Tôn giả Sàriputta.
3. Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
4. Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi đến Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. … Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ananda:
− Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y bát của vị ấy.
5. − Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
− Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ananda.
6. Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: “Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy”. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
7. − Này Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
− Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.
8. − Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
9. Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
10. Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nượng tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?
11. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
12. Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Vajji gần Ukkacelā bên bờ sông Hằng, cùng với một Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo. Đó là không lâu sau khi Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn. Bấy giờ, Đức Phật đang ngồi ngoài trời, được Tăng đoàn Tỷ kheo vây quanh.
Sau đó, Đức Phật nhìn quanh Tăng đoàn Tỷ kheo, những người đang im lặng. Ngài gọi họ:
"Này các Tỷ kheo, hội chúng này dường như trống rỗng đối với ta bây giờ khi Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn. Khi Sāriputta và Moggallāna còn sống, hội chúng của ta không bao giờ trống rỗng; ta không có mối bận tâm nào về bất kỳ vùng nào họ ở. Các vị Phật trong quá khứ hay tương lai có những cặp đệ tử thượng thủ không giỏi hơn Sāriputta và Moggallāna đối với ta.
Đó là một phẩm chất đáng kinh ngạc và tuyệt vời của những đệ tử như vậy khi họ hoàn thành các chỉ dẫn của Thầy và tuân theo lời khuyên của ngài. Và họ được bốn hội chúng yêu mến và chấp thuận, tôn trọng và ngưỡng mộ.
Và đó là một phẩm chất đáng kinh ngạc và tuyệt vời của Như Lai khi một cặp đệ tử như vậy nhập diệt hoàn toàn, ngài không đau buồn hay than khóc. Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Giả sử có một cây lớn đứng vững với lõi gỗ, và những cành lớn nhất bị gãy. Tương tự như vậy, trong Tăng đoàn vĩ đại đứng vững với lõi gỗ, Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn.
Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
1. Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không bao lâu.
2. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo:
3. − Này các Tỷ-kheo, chúng này của Ta được xem hình như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đã mệnh chung, này các Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào Sàriputta và Moggalàna trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì (anapekkhà).
4. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong đời vị lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và Moggalàna.
5. Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý mến. Thật vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay không có than khóc. Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
6. Ví như, này các Tỷ-kheo, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, những cành cây lớn hơn bị gãy đỗ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, từ nơi đại chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta và Moggalàna bị mệnh chung. Làm sao, này các Tỷ-kheo, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không thể xảy ra.
7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình… (như trên số 10, kinh trước)…
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… không nương tựa một ai khác.
9. Này các Tỷ-kheo, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ… nếu những vị ấy thiết tha học hỏi.
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Bāhiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí.”
"Vậy thì, Bāhiya, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Khéo giới đức trong sạch và chánh kiến. Khi giới đức của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi Tôn giả Bāhiya hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi. Sau đó, Bāhiya, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Ngài hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này.” Và Tôn giả Bāhiya đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Bàhiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến… Ngồi một bên, Tôn giả Bàhiya bạch Thế Tôn:
− Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
− Như vậy, này Bàhiya, hãy làm cho thanh tịnh các pháp căn bản trong các thiện pháp. Thế nào là các pháp căn bản trong các thiện pháp? − Giới khéo thanh tịnh và tri kiến chánh trực.
3. Và này Bàhiya, khi nào Ông có giới khéo thanh tịnh, và tri kiến chánh trực; rồi này Bàhiya, y cứ vào giới, an trú vào giới, Ông hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này Bàhiya, Ông hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Hãy trú, quán thọ trên các thọ… Hãy trú, quán tâm trên tâm… Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi nào, này Bàhiya, y cứ vào giới, an trú vào giới, Ông tu tập như vậy bốn niệm xứ này. Do vậy, này Bàhiya, ban đêm hay bàn ngày, chờ đợi là các thiện pháp tăng trưởng, không phải tổn giảm.
5. Rồi Tôn giả Bàhiya hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
6. Rồi Tôn giả Bàhiya sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà người thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Chính là vô thượng Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
7. Rồi Tôn giả Bàhiya trở thành một vị A-la-hán nữa.
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Uttiya đến gặp Đức Phật… và hỏi ngài: “Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí.”
"Vậy thì, Uttiya, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Khéo giới đức trong sạch và chánh kiến. Khi giới đức của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con sẽ vượt qua được sự thống trị của Thần Chết."
Và rồi Tôn giả Uttiya hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi. Sau đó, Uttiya, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Ngài hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này.” Và Tôn giả Uttiya đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2-4. Rồi Tôn giả Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến…
−. … Do vậy, này Uttiya, Ông sẽ vượt khỏi giới vức của tử ma.
5-7. Rồi Tôn giả Uttiya trở thành một vị A-la-hán nữa.
"Này các Tỷ kheo, khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng trở nên thánh thiện (noble / ariya / cao quý, thuộc về các bậc thánh) và dẫn đến giải thoát (emancipating / niyyānika / có khả năng đưa đến sự thoát khỏi khổ đau), và đưa người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bốn pháp đó là gì?
Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng trở nên thánh thiện và dẫn đến giải thoát, và đưa người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau."
1. Ở Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này được tu tập, được làm cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn những ai thực hành theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
4. Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được tu tập, được làm cho sung mãn, là những Thánh dẫn đạo, dắt dẫn những ai thực hành theo, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
Một thời, khi mới giác ngộ, Đức Phật đang ở Uruvelā tại cây bàng của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā.
Bấy giờ, khi đang ở một mình, ý nghĩ này nảy sinh trong tâm Ngài: "Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… hoặc tâm trên tâm… hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Bấy giờ, vị Phạm thiên Sahampati biết được ý nghĩ của Đức Phật. Dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt áo choàng qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:
"Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Đấng Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… hoặc tâm trên tâm… hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Đó là những gì vị Phạm thiên Sahampati đã nói. Sau đó, vị ấy tiếp tục nói:
“Đấng từ bi,
- người thấy sự chấm dứt của tái sinh,
hiểu được con đường duy nhất.
Bằng con đường này, người ta đã vượt qua trước đây,
sẽ vượt qua, và đang vượt qua.”
1. Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,tại cây bàng ajapàla, sau khi mới giác ngộ.
2. Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tâm niệm tư tưởng như sau được khởi lên: “Ðây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ đau, chứng đạt chánh lý (nàya), chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ”. Thế nào là bốn?
3. − Này Tỷ-kheo, hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ở đời. Ðây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ.
4. Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết được tâm ý Thế Tôn, ví như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
5. − Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các cảm thọ… Tỷ-kheo trú, quán tâm trên tâm… Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bạch Thế Tôn, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ.
6. Phạm thiên Sahampati thuyết như vậy. Nói như vậy xong, Phạm thiên Sahampati lại nói thêm:
Thấy con đường độc nhất,
Ðưa đến đoạn tận sanh.
Bậc lân mẫn chúng sanh,
Biết được con đường ấy.
Chính với con đường này,
Trước đã từng vượt qua,
Tương lai sẽ vượt qua,
Nay vượt khỏi bộc lưu.
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Sumbha, gần thị trấn Sedaka của người Sumbha. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:
"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, một người nhào lộn trên sào của bộ tộc làm nghề với xác chết đã dựng cây sào tre của bộ tộc mình lên và nói với người học trò Medakathālikā của mình: ‘Nào, Medakathālikā thân mến, hãy trèo lên cây sào tre và đứng trên vai ta.’
‘Vâng, thưa thầy,’ cô bé đáp. Cô bé trèo lên cây sào tre và đứng trên vai thầy mình.
Bấy giờ, người nhào lộn trên sào của bộ tộc làm nghề với xác chết nói với Medakathālikā: ‘Con hãy trông chừng ta, Medakathālikā thân mến, và ta sẽ trông chừng con. Bằng cách đó, bảo vệ và trông chừng lẫn nhau, chúng ta sẽ biểu diễn kỹ năng của mình, thu tiền công, và xuống khỏi cây sào tre một cách an toàn.’
Khi ông nói điều này, Medakathālikā nói với thầy mình: ‘Không phải vậy đâu, thưa thầy! Thầy nên tự trông chừng mình, và con sẽ tự trông chừng mình. Bằng cách đó, tự bảo vệ và trông chừng chính mình, chúng ta sẽ biểu diễn kỹ năng của mình, thu tiền công, và xuống khỏi cây sào tre một cách an toàn.’
Đó là cách đúng," Đức Phật nói. "Giống như Medakathālikā đã nói với thầy mình. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ tự trông chừng mình,’ các con nên tu tập thiền niệm xứ. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ trông chừng người khác,’ các con nên tu tập thiền niệm xứ. Trông chừng chính mình, các con trông chừng người khác; và trông chừng người khác, các con trông chừng chính mình.
Và làm thế nào các con trông chừng người khác bằng cách trông chừng chính mình? Bằng cách phát triển, tu tập, và thực hành thiền định. Và làm thế nào các con trông chừng chính mình bằng cách trông chừng người khác? Bằng sự chấp nhận, sự vô hại, tình thương, và lòng từ bi.
Nghĩ rằng ‘Ta sẽ tự trông chừng mình,’ các con nên tu tập thiền niệm xứ. Nghĩ rằng ‘Ta sẽ trông chừng người khác,’ các con nên tu tập thiền niệm xứ. Trông chừng chính mình, các con trông chừng người khác; và trông chừng người khác, các con trông chừng chính mình."
1. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sumbha, tại Desakà, một thị trấn của dân chúng Sumbhà.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và bảo:
− Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người nhào lộn với cây tre, sau khi dựng lên một cây tre, liền bảo người đệ tử tên là Medakathàlikà: “Này Medakathàlikà, hãy đến, leo lên cây tre và đứng trên vai ta” -“Thưa thầy, vâng”. Này các Tỷ-kheo, đệ tử Medakathàlikà vâng đáp người nhào lộn trên cây tre, leo lên cây tre và đứng trên vai của thầy.
3. Rồi này các Tỷ-kheo, người nhào lộn trên cây tre nói với đệ tử Medakathàlikà: “Này Medakathàlikà, Ông hộ trì cho ta và ta sẽ hộ trì cho Ông. Như vậy, chúng ta nhờ che chở cho nhau, nhờ hộ trì cho nhau, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi tức và leo xuống cây tre một cách an toàn”.
4. Khi được nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, đệ tử Medakathàlikà nói với người nhào lộn trên cây tre: “Thưa thầy, không nên như vậy. Thưa thầy, nên như vầy: Thầy nên hộ trì tự ngã thầy và con sẽ hộ trì tự ngã con. Như vậy, chúng ta tự che chở cho mình, tự hộ trì cho mình, trình bày các tiết mục, thâu hoạch được lợi ích, và leo xuống cây tre một cách an toàn. Ðây là chánh lý (nàyo) cần phải làm”.
5. Thế Tôn nói:
− Này các Tỷ-kheo, như đệ tử Medakathàlikà đã nói với thầy của ông ấy: “Tôi sẽ hộ trì cho mình”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, “Chúng ta sẽ hộ trì người khác”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác? Chính do sự thực hành (àsevanàya), do sự tu tập (bhàvanàya), do sự làm cho sung mãn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác.
7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình? Chính do sự kham nhẫn, do sự vô hại, do lòng từ, do lòng ai mẫn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.
8. Này các Tỷ-kheo, “Tôi sẽ hộ trì cho mình”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Này các Tỷ-kheo, “Tôi sẽ hộ trì người khác”, tức là niệm xứ cần phải thực hành. Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Sumbha, gần thị trấn Sedaka của người Sumbha. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, “Này các Tỷ kheo!”
“Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, giả sử khi nghe tin, ‘Người phụ nữ đẹp nhất xứ! Người phụ nữ đẹp nhất xứ!’ một đám đông lớn sẽ tụ tập. Và người phụ nữ đẹp nhất xứ sẽ nhảy múa và ca hát một cách vô cùng hấp dẫn. Khi nghe tin, ‘Người phụ nữ đẹp nhất xứ đang nhảy múa và ca hát! Người phụ nữ đẹp nhất xứ đang nhảy múa và ca hát!’ một đám đông còn lớn hơn nữa sẽ tụ tập.
Bấy giờ, một người muốn sống và không muốn chết, muốn hạnh phúc và ghê sợ đau khổ sẽ đến. Người ta sẽ nói với anh ta: ‘Này người đáng kính, đây là một bát dầu đầy đến miệng. Ông phải mang nó đi giữa đám đông lớn này và người phụ nữ đẹp nhất xứ. Và một người đàn ông với thanh kiếm đã rút ra sẽ theo ngay sau ông. Bất cứ nơi nào ông làm đổ dù chỉ một giọt, anh ta sẽ chặt đầu ông ngay tại đó.’
Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Liệu người đó có mất tập trung vào bát dầu đó, và lơ là bị phân tâm ra bên ngoài không?"
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
"Ta đã đưa ra ví dụ này để làm rõ một điểm. Và đây là ý nghĩa của nó. ‘Một bát dầu đầy đến miệng’ là một thuật ngữ chỉ niệm thân.
Vì vậy, các con nên rèn luyện như thế này: ‘Chúng ta sẽ phát triển niệm thân. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành phương tiện và nền tảng của chúng ta, duy trì nó, củng cố nó, và thực hiện nó một cách đúng đắn.’ Đó là cách các con nên rèn luyện."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sumbha, tại một thị trấn của dân chúng Sumbha tên là Sedaka.
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…
3. − Ví như một số đông quần chúng, này các Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu của quốc độ!”. Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rũ của mình, múa (cho họ xem), với tất cả sự quyến rũ của mình, hát (cho họ nghe). Và một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: “Cô gái hoa hậu của quốc độ múa và hát”. Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: “Này Ông, hãy xem đây. Ðây là cái bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi xuống”. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
4. − Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa với thân hành niệm.
5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành đất nền, làm cho tiếp tục an trú, làm cho tích tập, làm cho khéo có hiệu năng (susamàraddhà)”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Tôi nghe như vầy. Một thời, các tôn giả Ānanda và Bhadda đang ở gần Pāṭaliputta, trong Tu viện Gà. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhadda ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên và nói với Ānanda:
“Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Phật đã nói về thiện giới (skillful ethics / kusala sīla / ứng dụng đạo đức một cách khéo léo, mang lại lợi ích). Mục đích của chúng là gì?”
“Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: ‘Đức Phật đã nói về thiện giới. Mục đích của chúng là gì?’”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
"Đức Phật đã nói về thiện giới đến mức độ cần thiết để phát triển bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đức Phật đã nói về thiện giới đến mức độ cần thiết để phát triển bốn niệm xứ."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ananda và Tôn giả Bhadda trú ở Pàtaliputta, ở khu vườn Kukkuta.
2. Rồi Tôn giả Bhadda, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu… nói với Tôn giả Ananda:
3. − Này Hiền giả Ananda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?
− Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là trí tuệ (ummagga) của Hiền giả, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là biện tài (patibhànam) của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả! Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: “Này Hiền giả Ananda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?” Chăng ?
− Thưa vâng, Hiền giả.
4. − Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói.
Cùng bối cảnh.
“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?”
“Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: ‘Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?’”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
"Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Bhadda nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
3. − Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền Giả Ananda, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?
− Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là trí tuệ của Hiền giả! Hiền thiện là biện tài của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả! Có phải như vầy, này Hiền giả Bhadda, là câu hỏi của Hiền giả: “Này Hiền giả Ananda, do nhân gì, do duyên gì, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?” chăng?
− Thưa vâng, Hiền giả.
4. − Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do không tu tập, không làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.
Một thời, các tôn giả Ānanda và Bhadda đang ở gần Pāṭaliputta, trong Tu viện Gà. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhadda ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên và nói với Ānanda:
“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp không suy tàn?”
“Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: ‘Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp không suy tàn?’”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
"Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp suy tàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không suy tàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp suy tàn. Và chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không suy tàn."
1-2. Trú tại Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta…
3. − Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khiến cho Diệu pháp bị tổn giảm? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ananda, khiến cho Diệu pháp không bị tổn giảm?
… (giống như kinh trước, chỉ thay đổi câu hỏi và câu trả lời).
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đây là bốn niệm xứ."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này.
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, một vị Bà-la-môn nào đó đến gặp Đức Phật, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi sang một bên và nói với Đức Phật:
“Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Gotama, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?”
"Này Bà-la-môn, chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn."
Khi ngài nói điều này, vị Bà-la-môn nói với Đức Phật: “Tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! … Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy nhớ đến tôi như một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Cấp Cô Ðộc.
2. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-lamôn ấy thưa với Thế Tôn:
3. − Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?
4-6. (như kinh trên, với những thay đổi cần thiết).
7. Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
− Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!.. từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Một thời, các tôn giả Sāriputta, Mahāmoggallāna, và Anuruddha đang ở gần Sāketa, trong Rừng Gai. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Sāriputta và Mahāmoggallāna ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Anuruddha, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi sang một bên. Sāriputta nói với Anuruddha:
“Thưa Tôn giả, người ta nói về người được gọi là ‘bậc hữu học’. Bậc hữu học được định nghĩa như thế nào?”
"Thưa các Tôn giả, bậc hữu học là người đã phát triển một phần bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bậc hữu học là người đã phát triển một phần bốn niệm xứ."
1. Một thời Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Mahà Moggalàna và Tôn giả Anuruddha trú ở Sàketa, tại rừng Kantakii.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggalàna, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta thưa với Tôn giả Anuruddha:
3. − “Hữu học, hữu học”, thưa Hiền giả Anuruddha, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Anuruddha, là hữu học?
− Do tu tập một phần bốn niệm xứ, thưa Hiền giả, là bậc hữu học. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do tu tập một phần bốn niệm xứ này, thưa Hiền giả, là bậc hữu học.
Cùng bối cảnh.
“Thưa Tôn giả, người ta nói về người được gọi là ‘bậc vô học (adept / asekha / người đã hoàn tất việc tu học, một vị A-la-hán)’. Bậc vô học được định nghĩa như thế nào?”
"Thưa các Tôn giả, bậc vô học là người đã phát triển hoàn toàn bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bậc vô học là người đã phát triển hoàn toàn bốn niệm xứ."
1-2… (như kinh trên, số 1 và 2)…
3. − “Vô học, vô học”, thưa Hiền giả Anuruddha, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Anuruddha, là bậc vô học?
− Do tu tập hoàn toàn bốn niệm xứ, thưa Hiền giả, là bậc vô học. Thế nào là bốn?
4.. … (như kinh trên, số 4; chỉ đoạn sau có khác: Do tu tập một cách hoàn toàn bốn niệm xứ này, thưa Hiền giả, là bậc vô học)
Cùng bối cảnh. “Thưa Tôn giả Anuruddha, ngài đã phát triển và tu tập những điều gì để đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại?”
"Thưa Tôn giả, tôi đã đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi đã đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ này.
Và chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi hiểu biết trực tiếp về ngàn thiên hà."
1-2. … (như kinh trên, số 1 và 2)
3. − Do tu tập, làm cho sung mãn những pháp nào, thưa Hiền giả Anuruddha, đại thắng trí được đạt tới?
− Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ, đại thắng trí được đạt tới. Thế nào là bốn?
4.. … (như kinh trên, số 4; chỉ khác đoạn cuối: Chính do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, thưa Hiền giả, tôi đạt được đại thắng trí).
5. Và thưa Hiền giả, do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi thắng tri được ngàn thế giới.
Một thời Tôn giả Ānanda đang ở gần Rājagaha, trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc. Bấy giờ, gia chủ Sirivaḍḍha bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông gọi một người đàn ông:
“Xin ông, người đáng kính, hãy đến gặp Tôn giả Ānanda, và nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài. Hãy thưa với ngài: ‘Bạch Tôn giả, gia chủ Sirivaḍḍha bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài.’ Và sau đó nói: ‘Bạch Tôn giả, xin ngài hãy đến thăm ông ấy tại nhà vì lòng từ bi.’”
“Vâng, thưa ông,” người đàn ông đó đáp. Ông ta làm theo lời Sirivaḍḍha yêu cầu. Ānanda đồng ý bằng sự im lặng.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà gia chủ Sirivaḍḍha, ngồi xuống chiếc ghế đã được trải sẵn, và nói với ông:
“Tôi hy vọng ông vẫn khỏe, gia chủ; tôi hy vọng ông ổn. Và tôi hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm của nó là rõ ràng, chứ không phải sự tăng của nó.”
“Bạch Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua khỏi. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm của nó.”
“Vậy ông nên rèn luyện như thế này: ‘Tôi sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi sẽ thiền định về một khía cạnh của cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.’ Đó là cách ông nên rèn luyện.”
“Bốn niệm xứ này mà Đức Phật đã dạy đều có trong tôi, và tôi thể hiện chúng. Vì tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Và trong năm xiềng xích thấp (five lower fetters / pañca orambhāgiyāni saṃyojanāni / năm ràng buộc đầu tiên trói buộc chúng sinh vào các cõi thấp: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, và sân hận) mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ.”
“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn! Ông đã tuyên bố quả vị bất lai (non-return / anāgāmitā / quả vị không còn quay trở lại cõi dục, quả vị A-na-hàm).”
1. Một thời Tôn giả Ananda trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2. Lúc bấy giờ, cư sĩ Sirivaddha bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
3. Rồi gia chủ Sirivaddha bảo một người:
− Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda và thưa: “Thưa Tôn giả, gia chủ Sirivaddha bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Gia chủ cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, và thưa như vầy: ‘Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ananda đi đến trú xứ của gia chủ Sirivaddha vì lòng từ mẫn”".
− Thưa vâng, Gia chủ.
Người ấy vâng đáp gia chủ Sirivaddha, đi đến Tôn giả Ananda.
4. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Ananda và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị ấy thưa với Tôn giả Ananda:
− Thưa Tôn giả Ananda, gia chủ Sirivaddha bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Gia chủ cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda và thưa: “Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ananda đi đến trú xứ của gia chủ Sirivaddha vì lòng từ mẫn”.
Tôn giả Ananda im lặng nhận lời.
5. Rồi Tôn giả Ananda đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Sirivaddha; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda nói với gia chủ Sirivaddha:
6. − Này Gia chủ, Gia chủ có thể kham nhẫn được chăng? Gia chủ có thể chịu đựng được chăng? Có phải các khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?
− Thưa Tôn giả, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Các khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu; có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu.
7. − Vậy, này Gia chủ, hãy tự học tập như sau: “Tôi sẽ trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Tôi sẽ trú, quán thọ trên các cảm thọ… Tôi sẽ trú, quán tâm trên tâm… Tôi sẽ trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này Gia chủ, Ông cần phải học tập.
8. − Thưa Tôn giả, bốn niệm xứ này được Thế Tôn thuyết giảng, những pháp ấy có ở trong con, và con hiện thực hành những pháp ấy. Thưa Tôn giả, con trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Con trú, quán thọ trên các cảm thọ… Con trú, quán tâm trên tâm… Con trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
9. Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng này, con không thấy có một pháp nào mà không được đoạn tận ở nơi con.
10. − Lợi đắc thay cho Ông, này Gia chủ! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Gia chủ! Này Gia chủ, Gia chủ đã tuyên bố về quả Bất lai.
Cùng bối cảnh. Bấy giờ, gia chủ Mānadinna bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông gọi một người đàn ông:
“Xin ông, người đáng kính, hãy đến gặp Tôn giả Ānanda…” …
“Bạch Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua khỏi. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm của nó. Khi tôi trải qua những cảm giác đau đớn như vậy, tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Và trong năm xiềng xích thấp mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ.”
“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn! Ông đã tuyên bố quả vị bất lai.”
1. Nhân duyên giống như trên.
2. Lúc bấy giờ, gia chủ Mànadinna bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
3-6. Rồi gia chủ Mànadinna gọi một người và bảo…
7. − Dầu cho con phải cảm giác những khổ thọ như vậy, con vẫn trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
8. Thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng này, con không thấy có một pháp nào chưa được đoạn tận nơi con.
9. − Thật lợi đắc thay, này Gia chủ! Thật khéo lợi đắc thay, này Gia chủ! Này Gia chủ, Gia chủ đã tuyên bố về quả Bất lai.
Tại Sāvatthī.
"‘Đây là sự quan sát một khía cạnh của thân.’ Như vậy, này các Tỷ kheo, là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây. ‘Sự quan sát một khía cạnh của thân này nên được phát triển.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của thân này đã được phát triển.’ Như vậy là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây.
‘Đây là sự quan sát một khía cạnh của cảm giác.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của cảm giác này nên được phát triển.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của cảm giác này đã được phát triển.’ …
‘Đây là sự quan sát một khía cạnh của tâm.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của tâm này nên được phát triển.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của tâm này đã được phát triển.’ …
‘Đây là sự quan sát một khía cạnh của pháp.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của pháp này nên được phát triển.’ … ‘Sự quan sát một khía cạnh của pháp này đã được phát triển.’ Như vậy là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây."
1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi…
3. − “Quán thân trên thân này”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, quang sanh. Quán thân trên thân cần phải tu tập này… Quán thân trên thân đã được tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, quang sanh.
4. “Quán thọ trên các cảm thọ này”…
5. “Quán tâm trên tâm này”…
6. “Quán pháp trên các pháp này”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, quang sanh. Quán pháp trên pháp cần phải tu tập này… Quán pháp trên pháp đã được tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, minh sanh, quang sanh.
"Này các Tỷ kheo, bốn niệm xứ này, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự nhàm chán (disillusionment / nibbidā / sự chán ngán, không còn hứng thú với các pháp hữu vi), sự ly tham (dispassion / virāga / sự phai nhạt và chấm dứt tham ái), sự chấm dứt (cessation / nirodha / sự diệt tận khổ đau và nguyên nhân của nó), sự an tịnh (peace / vupasama / sự lắng dịu, bình yên), hiểu biết trực tiếp, sự tỉnh thức, và Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự chấm dứt, sự an tịnh, hiểu biết trực tiếp, sự tỉnh thức, và Niết bàn."
1-2. Tại Sàvatthi…
3. − Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu tu tập, nếu làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
"Này các Tỷ kheo, ai đã bỏ lỡ bốn niệm xứ thì đã bỏ lỡ con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ thì đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Ai đã bỏ lỡ bốn niệm xứ này thì đã bỏ lỡ con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ này thì đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau."
1-2…
3. − Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ bị thối thất, đối với những người ấy, cũng bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
4. Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được thực hành, đối với những người ấy, cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này bị thối thất, thời cũng thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt đau khổ. Ðối với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được thực hành, thời cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
"Này các Tỷ kheo, khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia."
1-2. Tại Sàvatthi…
3. − Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua đến bờ bên kia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua đến bờ bên kia.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm.
Và thế nào là một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng? Đó là khi một Tỷ kheo biết các cảm giác khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Họ biết các suy nghĩ khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Họ biết các nhận thức (perception / saññā / tưởng / nhận thức, suy nghĩ) khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Đó là cách một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
1-2. Tại Sàvatthi…
3. − Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
5. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rõ ràng các cảm thọ khởi lên, biết rõ ràng các cảm thọ an trú, biết rõ ràng các cảm thọ đi đến tiêu mất; biết rõ ràng các tưởng khởi lên, biết rõ ràng các tưởng an trú, biết rõ ràng các tưởng đi đến tiêu mất. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
6. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là bốn niệm xứ.
Nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này, một trong hai kết quả có thể được mong đợi: giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn lại gì đó, thì là quả vị bất lai."
1-2. Tại Sàvatthi…
3. − Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn niệm xứ.
4. Do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là một trong hai quả: Ngay trong hiện tại, chứng được Chánh trí, hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với thân. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với cảm giác. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với tâm. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với pháp. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết."
1-2. Tại Sàvatthi…
3.− Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
5. Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ… Do vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
6. Vị ấy trú, quán tâm trên tâm… Do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
7. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp… Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về thân. Khi thân được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về cảm giác. Khi cảm giác được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về tâm. Khi tâm được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về pháp. Khi pháp được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết."
1.…
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn niệm xứ này. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, thân được liễu tri. Do liễu tri thân nên chứng ngộ được bất tử… (Cũng vậy, đối với thọ, đối với tâm, đối với pháp).
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về sự phát triển của bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe…
Và sự phát triển của bốn niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đây là sự phát triển của bốn niệm xứ."
1.…
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tu tập bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập bốn niệm xứ?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðối với các thọ… Ðối với tâm… Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
4. Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập bốn niệm xứ này.
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về thiền niệm xứ, sự phát triển của thiền niệm xứ, và thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ. Hãy lắng nghe…
Và thiền niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây được gọi là thiền niệm xứ.
Và sự phát triển của thiền niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo quan sát thân có khả năng khởi sinh, có khả năng biến mất, và có khả năng khởi sinh và biến mất—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Họ quan sát cảm giác… tâm… pháp có khả năng khởi sinh, có khả năng biến mất, và có khả năng khởi sinh và biến mất—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây được gọi là sự phát triển của thiền niệm xứ.
Và thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo / con đường tám nhánh dẫn đến giải thoát) này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định (tầm nhìn đúng, suy nghĩ đúng, lời nói đúng, hành động đúng, sống đúng, nỗ lực đúng, niệm đúng, định đúng). Đây được gọi là thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ."
1.…
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về niệm xứ, tu tập bốn niệm xứ và đạo lộ đưa đến tu tập bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm xứ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm xứ.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu tập bốn niệm xứ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán tánh tập khởi trên thân; trú, quán tánh đoạn diệt trên thân; trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các cảm thọ; trú, quán tánh đoạn diệt trên các cảm thọ; trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các cảm thọ… trú, quán tánh tập khởi trên tâm… trú, quán tánh tập khởi trên các pháp; trú, quán tánh đoạn diệt trên các pháp; trú, quán tánh tập khởi và đoạn diệt trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tu tập niệm xứ.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo lộ đưa đến sự tu tập niệm xứ? Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo lộ đưa đến tu tập niệm xứ.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỷ kheo, các con nên thiền định với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Đừng để sự bất tử thoát khỏi tay các con. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Các con nên thiền định với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Đừng để sự bất tử thoát khỏi tay các con.”
1. Tại Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, hãy trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ. Nhưng các Ông chớ có bỏ mất bất tử. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
4. Này các Tỷ-kheo, hãy trú, với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ. Nhưng các Ông chớ có bỏ mất bất tử.
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về nguồn gốc và sự chấm dứt của bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe…
Và nguồn gốc của thân là gì? Thân bắt nguồn từ thức ăn. Khi thức ăn chấm dứt, thân cũng chấm dứt.
Cảm giác bắt nguồn từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, cảm giác cũng chấm dứt.
Tâm bắt nguồn từ danh và sắc (name and form / nāmarūpa / các yếu tố tâm lý (danh) và vật lý (sắc) cấu thành một cá nhân). Khi danh và sắc chấm dứt, tâm cũng chấm dứt.
Pháp bắt nguồn từ sự chú tâm (application of mind / manasikāra / tác ý, sự hướng tâm đến một đối tượng). Khi sự chú tâm chấm dứt, pháp cũng chấm dứt."
1.. …
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tập khởi của thân? Sự tập khởi của món ăn là sự tập khởi của thân. Sự đoạn diệt các món ăn là sự đoạn diệt của thân.
4. Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Sự đoạn diệt của xúc là sự chấm dứt của thọ.
5. Sự tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của tâm. Sự đoạn diệt của danh sắc là sự chấm dứt của tâm.
6. Sự tập khởi của tác ý là sự tập khởi của các pháp. Sự đoạn diệt của tác ý là sự chấm dứt của các pháp.
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, một lần nọ, khi ta mới giác ngộ, ta đang ở Uruvelā tại cây bàng của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā. Khi đang ở một mình, ý nghĩ này nảy sinh trong tâm: 'Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… hoặc tâm trên tâm… hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.’
Và rồi vị Phạm thiên Sahampati, biết được dòng suy nghĩ của ta, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi hay co cánh tay, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt ta. Vị ấy vắt áo choàng qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói: 'Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Đấng Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… hoặc tâm trên tâm… hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.’
Đó là những gì vị Phạm thiên Sahampati đã nói. Sau đó, vị ấy tiếp tục nói:
“Đấng từ bi,
- người thấy sự chấm dứt của tái sinh,
hiểu được con đường duy nhất.
Bằng con đường này, người ta đã vượt qua trước đây,
sẽ vượt qua, và đang vượt qua.'”
1. Tại Sàvatthi…
2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
− Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới cây bàng Ajapàla, khi vừa mới được giác ngộ.
3. Này các Tỷ-kheo, trong khi độc cư Thiền tịnh, tâm niệm, tư tưởng như sau khởi lên nơi Ta: "Ðây là con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, giúp vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân… Hãy trú, quán thọ trên các thọ… Hãy trú, quán tâm trên tâm… Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Ðây là con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ.
4. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết được tâm niệm suy tư của Ta, ví như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên và hiện ra trước mặt Ta.
5. Rồi, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và thưa với Ta: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Ðây là con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bạch Thế Tôn, đây là con đường độc nhất khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ”.
6. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati thuyết như vậy, nói vậy xong, lại nói thêm như sau:
Thấy con đường độc nhất,
Ðưa đến đoạn tận sanh,
Bậc đại từ lân mẫn,
Rõ biết chính con đường.
Chính với con đường này,
Trước đã vượt được qua,
Tương lai sẽ vượt qua,
Và hiện vượt bộc lưu.
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
1. Tại Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, hãy trú chánh niệm. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
4. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
"Nói một cách đúng đắn, này các Tỷ kheo, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một ‘đống thiện’. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một ‘đống thiện’. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện."
1.…
2. − Nói đến “Ðống thiện”, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh phải nói là bốn niệm xứ.
Toàn bộ đống thiện này, này các Tỷ-kheo, tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
4. Nói đến “Ðống thiện”, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh phải nói là bốn niệm xứ này. Toàn bộ đống thiện này, này các Tỷ-kheo, chính là bốn niệm xứ.
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí.”
"Vậy thì, Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Hãy sống có giới luật trong tu viện, hành xử tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi lầm nhỏ nhất, hãy giữ gìn các giới luật con đã thọ nhận. Khi con đã làm được điều này, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi con phát triển bốn niệm xứ theo cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi.
Sau đó, vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Vị ấy hiểu rằng: “Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này.” Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
1.…
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến… Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
3. − Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
− Vậy này Tỷ-kheo, hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp. Thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn (Pàtimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh (àcàragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau khi sống, hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới rồi, này Tỷ-kheo, y cứ trên giới, an trú trên giới, hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân… Hãy trú, quán thọ trên các cảm thọ… Hãy trú, quán tâm trên tâm… Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6. Khi nào, này Tỷ-kheo, Ông y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn niệm xứ; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
7. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết…
8. Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình…
9. Rồi Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… và nói:
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí.”
"Vậy thì, Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Hãy từ bỏ hành vi xấu qua thân, khẩu, và ý và phát triển hành vi tốt qua thân, khẩu, và ý. Khi con đã làm được điều này, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ theo cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm." …
Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
1.…
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…
3. − Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
− Vậy, này Tỷ-kheo, Ông hãy làm cho thanh tịnh những căn bản trong các thiện pháp. Và thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
4. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi đoạn tận thân ác hành, hãy tu tập thân thiện hành. Sau khi đoạn tận khẩu ác hành, hãy tu tập khẩu thiện hành. Sau khi đoạn tận ý ác hành, hãy tu tập ý thiện hành. Rồi này Tỷ-kheo, y cứ vào giới, an trú vào giới, Ông hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này Tỷ-kheo, Ông hãy trú, quán thân trên thân… Ông hãy trú, quán thọ trên các cảm thọ… Ông hãy trú, quán tâm trên tâm… Ông hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6. Này Tỷ-kheo, sau khi y cứ trên giới, an trú trên giới, Ông tu tập bốn niệm xứ này như vậy; thời này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
7-8… … (như trên)…
9. Rồi Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
"Này các Tỷ kheo, những người mà các con có lòng từ bi, và những người đáng để lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự phát triển của bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Những người mà các con có lòng từ bi, và những người đáng để lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự phát triển của bốn niệm xứ."
1. Tại Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu hay bà con, hay huyết thống; này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải khích lệ các người ấy, hướng dẫn, an trú các người ấy trong sự tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
4. Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, huyết thống; này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải khích lệ các người ấy, hướng dẫn, an trú các người ấy trong sự tu tập bốn niệm xứ.
"Này các Tỷ kheo, có ba loại cảm giác này. Ba loại đó là gì? Dễ chịu, khó chịu, và trung tính (Pleasant, painful, and neutral feeling / sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā / lạc thọ, khổ thọ, và không khổ không lạc thọ). Đây là ba loại cảm giác. Bốn niệm xứ nên được phát triển để hiểu biết hoàn toàn về ba loại cảm giác này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để hiểu biết hoàn toàn về ba loại cảm giác này."
1. Tại Sàvatthi…
2. − Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba thọ.
3. Vì muốn liễu tri ba thọ này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
5. Chính để liễu tri ba cảm thọ này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này cần phải tu tập.
"Này các Tỷ kheo, có ba loại lậu hoặc này. Ba loại đó là gì? Lậu hoặc của dục vọng (defilements of sensuality / kāmāsava / sự ô nhiễm sâu kín của ham muốn giác quan), lậu hoặc của sự tồn tại (desire to be reborn / bhavāsava / sự ô nhiễm sâu kín của việc mong muốn được tái sinh), và vô minh (ignorance / avijjā / sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, sự thiếu sáng suốt). Đây là ba loại lậu hoặc.
Bốn niệm xứ nên được phát triển để từ bỏ ba loại lậu hoặc này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để từ bỏ ba loại lậu hoặc này."
1.…
2. − Có ba lậu hoặc, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, đây ba là lậu hoặc.
3. Chính để đoạn tận ba lậu hoặc này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
5. Chính để đoạn tận ba lậu hoặc này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này cần phải được tu tập.
(Ðoạn này và bốn mục kế tiếp, cho đến cuối Tương Ưng này, đều được tóm tắt trong nguyên bản, chỉ có tên kinh mà thôi, trừ 51-62, I-XII)
"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và hướng về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn.
Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bốn niệm xứ lại nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn."
Sáu bài về hướng về phía đông,
và sáu bài về hướng về đại dương;
hai lần sáu này là mười hai,
và đó là cách chương này được tụng đọc.
1.…
2. − Ví như sông Hằng, này các Tỷ-kheo, thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông… Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ… xuôi về Niết-bàn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo… Niết-bàn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp… Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn.
(Tóm tắt các đề kinh)
(Sáu hướng về Ðông và sáu hướng về biển. Hai lần sáu thành mười hai, và mục này được gọi là như vậy. Các kinh được thuyết rộng về bốn niệm xứ, như các kinh trước).
“Này các Tỷ kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác, được cho là bậc cao nhất trong tất cả chúng sanh—dù là không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân…”
(Kể đầy đủ như trong SN 45.139–148.)
Như Lai, dấu chân, nóc nhà,
rễ cây, lõi gỗ, hoa nhài,
vua, mặt trời và mặt trăng,
và tấm vải là bài thứ mười.
Gồm các kinh:
Như Lai, Dấu Chân, Nóc Nhọn, Rễ Cây. Lõi Cây, Hoa Mưa Sanh, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, Vải, tất cả là mười kinh.
(Các kinh này được thuyết rộng theo bốn niệm xứ).
“Này các Tỷ kheo, tất cả công việc khó nhọc được thực hiện đều phụ thuộc vào đất và có nền tảng trên đất. …”
(Kể đầy đủ như trong SN 45.149–160.)
Công việc khó nhọc, hạt giống, và rồng,
cây, bình, và gai nhọn,
không khí, và hai bài về mây,
tàu, nhà khách, và sông.
Gồm các kinh:
Quả, Chủng Tử, Rồng, Cây, Ghè, Râu Mì, Hư Không, Khách, Sông.
“Này các Tỷ kheo, có ba sự tìm kiếm này. Ba sự tìm kiếm đó là gì? Sự tìm kiếm thú vui giác quan, sự tìm kiếm sự tồn tại tiếp diễn, và sự tìm kiếm con đường tâm linh. …”
(Kể đầy đủ như trong SN 45.161–170.)
Tìm kiếm, phân biệt, lậu hoặc,
các trạng thái tồn tại, ba loại khổ đau,
sự cằn cỗi, vết nhơ, và phiền não,
cảm giác, mong muốn tồn tại, và khát ái.
Gồm các kinh:
Tầm Cầu, Kiêu Mạn, Lậu Hoặc, Khổ Tánh, Ba Chướng Ngại (khila), Cấu Uế. Khổ Và Thọ, Ái và Khát, thành phẩm Tầm Cầu.
93-102. (I-IX) (S.v,191)
"Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích cao (five higher fetters / pañca uddhambhāgiyāni saṃyojanāni / năm ràng buộc cuối cùng trói buộc chúng sinh vào các cõi sắc và vô sắc: tham ái cõi sắc, tham ái cõi vô sắc, ngã mạn, trạo cử, và vô minh) này. Năm pháp đó là gì? Ham muốn tái sinh trong cõi sắc giới, ham muốn tái sinh trong cõi vô sắc giới, ngã mạn, bồn chồn và hối hận, và vô minh. Đây là năm xiềng xích cao.
Bốn niệm xứ nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao này."
::: small (Các Bài Kinh Tương Ưng về Thiền Niệm Xứ nên được kể đầy đủ như trong Các Bài Kinh Tương Ưng về Con Đường. Mười bài kinh này tương ứng với SN 45.171–179, với bài kinh trên là bài cuối cùng.) :::
Cơn lũ (floods / ogha / bộc lưu), khổ ách, bám giữ (grasping / upādāna / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào),
các mối ràng buộc, và các ngầm hướng về (underlying tendencies / anusaya / tùy miên / ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản),
các loại kích thích giác quan, Phiền nhiễu,
các uẩn, và các xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) cao và thấp.
1.…
2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm thượng phần kiết sử.
3. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… trú, quán thọ trên các cảm thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
5. Này các Tỷ-kheo, với mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ này phải tu tập.
(Các đề kinh: Bộc Lưu, Ách, Chấp Thủ, Hệ Phược, Tùy Miên, Dục Công Ðức, Triền Cái, Uẩn, Thượng, Hạ Phần Kiết Sử).
-ooOoo-