Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng về các Năng lực Tinh Thần (indriya)

48. TƯƠNG ƯNG CĂN

Chương về Phiên Bản Đơn Giản

SN 48.1 Phiên Bản Đơn Giản Suddhikasutta

Tại Sāvatthī.

Tại đó, Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực (faculties / indriya / khả năng, cơ sở) này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.”

  • đức tin (faith / saddhā / niềm tin dựa trên sự hiểu biết, không phải mù quáng)
  • nghị lực (Energy / viriya / Tinh tấn / Nỗ lực, nghị lực, năng lực tinh thần)
  • niệm (mindfulness / sati / quan sát và ghi nhớ)
  • Định (Immersion / samādhi / định / Trạng thái tâm tụ trên một điểm)
  • trí tuệ (wisdom / paññā / sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của thực tại)

I. Phẩm Thanh Tịnh

1. I. Thanh Tịnh (Tạp 26,3, Ðại 2,182c) (S.v,193)

1-2. T ại Sàvatthi… Thế Tôn thuyết:

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm căn.

SN 48.2 Người Nhập Dòng (thứ nhất) Paṭhamasotāpannasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Một vị thánh đệ tử biết như thật về sự hài lòng (gratification / assāda / vị ngọt, sự hấp dẫn tạm thời), sự nguy hại (drawback / ādīnava / mặt trái, sự bất lợi, sự khổ đau tiềm ẩn), và lối thoát (escape / nissaraṇa / sự giải thoát, con đường thoát ra khỏi sự ràng buộc) của năm năng lực này. Một vị thánh đệ tử như vậy được gọi là người nhập dòng (stream-enterer / sotāpanna / Dự lưu / người đã bước vào dòng thánh, không còn tái sinh vào các cõi khổ, chắc chắn sẽ giác ngộ), không còn bị tái sinh vào cảnh giới thấp, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

2. II. Dự Lưu (1) (Tạp 26,3, Ðại 2,182b) (S.v,193)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

4. Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm căn này; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 48.3 Người Nhập Dòng (thứ hai) Dutiyasotāpannasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Một vị thánh đệ tử biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này. Một vị thánh đệ tử như vậy được gọi là người nhập dòng, không còn bị tái sinh vào cảnh giới thấp, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

3. III. Dự Lưu (2) (S.v,193)

1-2. …

3. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn.

4. Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 48.4 Bậc Toàn Thiện (thứ nhất) Paṭhamaarahantasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Một vị thánh đệ tử được giải thoát nhờ không bám giữ (grasping / upādāna / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào) sau khi biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một bậc A-la-hán (perfected one / arahant / người đã hoàn thiện, đã chấm dứt các ô nhiễm và hoàn thành con đường tu tập), với các ô nhiễm (defilements / āsava / lậu hoặc / những ô nhiễm tinh thần sâu kín làm tâm rò rỉ, chảy ra ngoài) đã được chấm dứt, người đã hoàn thành hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) của mong muốn tồn tại, và được giải thoát một cách đúng đắn nhờ giác ngộ.”

4. IV. A-La-Hán (1) (Tạp 26,4, Ðại 2,182b) (S.v,194)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn.

3. Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị A-la-hán, lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.

SN 48.5 Bậc Toàn Thiện (thứ hai) Dutiyaarahantasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Một Tỷ kheo được giải thoát nhờ không bám giữ sau khi biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này. Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một bậc A-la-hán, với các ô nhiễm đã được chấm dứt, người đã hoàn thành hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của mong muốn tồn tại, và được giải thoát một cách đúng đắn nhờ giác ngộ.”

5. V. A-La-Hán (2) (S.v,194)

1. …

2. Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn…

3. Khi nào Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.

SN 48.6 Sa Môn và Bà La Môn (thứ nhất) Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

Có những vị sa môn và bà la môn không biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với năm năng lực này. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với năm năng lực này. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

6. VI. Sa Môn, Bà La Môn (1) (Tạp 26,9, Ðại 2,182c) (S.v,194)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn…

3. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly năm căn này; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bàla-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 48.7 Sa Môn và Bà La Môn (thứ hai) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa môn và bà la môn không hiểu năng lực của đức tin, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ không hiểu năng lực của nghị lựcniệmĐịnhtrí tuệ, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn hiểu năng lực của đức tin, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu năng lực của nghị lựcniệmĐịnhtrí tuệ, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

7. VII. Sa Môn, Bà La Môn (2) (S.v,195)

1-2. …

3. − Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết tín căn, không như thật rõ biết tín căn tập khởi, không như thật rõ biết tín căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến tín căn đoạn diệt… không như thật rõ biết tấn căn… không như thật rõ biết niệm căn… không như thật rõ biết định căn… không như thật rõ biết tuệ căn, không như thật rõ biết tuệ căn tập khởi, không như thật rõ biết tuệ căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến tuệ căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay của Bà-la-môn hạnh.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết tín căn, như thật rõ biết tín căn tập khởi, như thật rõ biết tín căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến tín căn đoạn diệt; như thật rõ biết tấn căn… như thật rõ biết niệm căn… như thật rõ biết định căn… như thật rõ biết tuệ căn, như thật rõ biết tuệ căn tập khởi, như thật rõ biết tuệ căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến tuệ căn đoạn diệt; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay của Bà-la-môn hạnh.

SN 48.8 Cần Được Thấy Daṭṭhabbasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

năng lực của đức tin nên được thấy ở đâu? Trong bốn yếu tố của việc nhập dòng (four factors of stream-entry / sotāpattiyaṅga / bốn yếu tố dẫn đến quả vị Dự lưu, bao gồm niềm tin bất động vào Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đức trong sạch).

năng lực của nghị lực nên được thấy ở đâu? Trong bốn nỗ lực chân chính (four right efforts / sammappadhāna / tứ chánh cần / bốn loại nỗ lực đúng đắn: ngăn ngừa ác pháp chưa sinh, đoạn trừ ác pháp đã sinh, phát sinh thiện pháp chưa sinh, và duy trì thiện pháp đã sinh).

năng lực của niệm nên được thấy ở đâu? Trong bốn niệm xứ.

năng lực của Định nên được thấy ở đâu? Trong bốn tầng thiền (four absorptions / jhāna / thiền na / các trạng thái tâm định sâu, đặc trưng bởi sự vắng mặt của các chướng ngại và sự hiện diện của các yếu tố thiền).

năng lực của trí tuệ nên được thấy ở đâu? Trong bốn sự thật cao quý (four noble truths / cattāri ariyasaccāni / tứ diệu đế / bốn sự thật nền tảng của Phật giáo: Khổ, Nguyên nhân của Khổ, Sự chấm dứt Khổ, và Con đường dẫn đến sự chấm dứt Khổ).

Đây là năm năng lực."

8. VIII. Cần Phải Quán (Tạp 26,5, Ðại 2,182b) (S.v,196)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn…

3. Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tín căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tín căn trong bốn chánh tín (Phật, Pháp, Tăng, và Giới).

4. Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tấn căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tấn căn trong bốn chánh cần.

5. Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán niệm căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán niệm căn trong bốn niệm xứ.

6. Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán định căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán định căn trong bốn Thiền.

7. Và này các Tỷ-kheo, cần phải quán tuệ căn ở chỗ nào? Ở đây, cần phải quán tuệ căn trong bốn Thánh đế.

8. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

SN 48.9 Phân Tích (thứ nhất) Paṭhamavibhaṅgasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

năng lực của đức tin là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có đức tin vào sự giác ngộ của Như Lai (Realized One / Tathāgata / một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt đến chân lý tối hậu): ‘Đức Thế Tôn đó là bậc toàn thiện, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn, thành tựu về tri thức và hành vi, thánh thiện, người biết thế gian, bậc hướng dẫn tối cao cho những ai muốn tu tập, thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, được tôn kính.’ Đây được gọi là năng lực của đức tin.

năng lực của nghị lực là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử sống với nghị lực được khơi dậy để từ bỏ những phẩm chất bất thiện và đón nhận những phẩm chất thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lơ là trong việc phát triển các phẩm chất thiện. Đây được gọi là năng lực của nghị lực.

năng lực của niệm là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có niệm. Họ có niệm và sự tỉnh táo tối đa, và có thể nhớ lại những gì đã nói và làm từ lâu. Đây được gọi là năng lực của niệm.

năng lực của Định là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử, dựa vào sự buông bỏ, đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm. Đây được gọi là năng lực của Định.

năng lực của trí tuệ là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh và diệt, một trí tuệ cao quý, thấu suốt, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau. Đây được gọi là năng lực của trí tuệ.

Đây là năm năng lực."

9. IX. Phân Biệt (Tạp 26,6, Ðại 2,182b (S.v,182b) (S.v,196)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp (anikkhittadhuro). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

SN 48.10 Phân Tích (thứ hai) Dutiyavibhaṅgasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

năng lực của đức tin là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có đức tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc toàn thiện, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn, thành tựu về tri thức và hành vi, thánh thiện, người biết thế gian, bậc hướng dẫn tối cao cho những ai muốn tu tập, thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, được tôn kính.’ Đây được gọi là năng lực của đức tin.

năng lực của nghị lực là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử sống với nghị lực được khơi dậy để từ bỏ những phẩm chất bất thiện và đón nhận những phẩm chất thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lơ là trong việc phát triển các phẩm chất thiện. Họ tạo ra sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, vận dụng tâm trí, và phấn đấu để những phẩm chất xấu, bất thiện không phát sinh. Họ tạo ra sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, vận dụng tâm trí, và phấn đấu để những phẩm chất xấu, bất thiện đã phát sinh được từ bỏ. Họ tạo ra sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, vận dụng tâm trí, và phấn đấu để những phẩm chất thiện phát sinh. Họ tạo ra sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, vận dụng tâm trí, và phấn đấu để những phẩm chất thiện đã phát sinh được duy trì, không bị mất đi, mà tăng trưởng, chín muồi, và được hoàn thiện qua sự phát triển. Đây được gọi là năng lực của nghị lực.

năng lực của niệm là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có niệm. Họ có niệm và sự tỉnh táo tối đa, và có thể nhớ lại những gì đã nói và làm từ lâu. Họ an trú quan sát thân trên thânnhiệt tâm, biết rõ, và có niệm, loại bỏ lòng tham và sự bất mãn đối với thế gian. Họ an trú quan sát cảm giác trên cảm giác… tâm trên tâm… pháp trên pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và có niệm, loại bỏ lòng tham và sự bất mãn đối với thế gian. Đây được gọi là năng lực của niệm.

năng lực của Định là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử, dựa vào sự buông bỏ, đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm. Hoàn toàn xa lìa các thú vui giác quan, xa lìa các phẩm chất bất thiện, họ nhập và an trú trong tầng thiền thứ nhất, có hân hoan (rapture / pīti / Hỷ / một niềm vui có thể cảm nhận được từ ngoài) và bình an (bliss / Sukhaṁ / lạc / hạnh phúc, lắng dịu và tinh tế) sinh ra từ sự xa lìa, trong khi có sự suy nghĩ về một đề tài và quan sát đề tài đó. Khi sự suy nghĩ về một đề tài và quan sát đề tài đó lắng xuống, họ nhập và an trú trong tầng thiền thứ hai, có hân hoanbình an sinh ra từ Định, với sự trong sáng nội tâm và tâm hợp nhất, lặng im không suy nghĩ, chỉ có quan sát. Và với sự phai nhạt của hân hoan, họ nhập và an trú trong tầng thiền thứ ba, nơi họ thiền với Xả, có niệmnhận biết rõ ràng, tự mình trải nghiệm bình an mà các bậc thánh tuyên bố, ‘Người có Xảniệm, thiền trong bình an.’ Từ bỏ niềm vui và nỗi đau, và chấm dứt hạnh phúc và buồn bã trước đây, họ nhập và an trú trong tầng thiền thứ tư, không có niềm vui hay nỗi đau, với Xảniệm trong sạch. Đây được gọi là năng lực của Định.

năng lực của trí tuệ là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh và diệt, một trí tuệ cao quý, thấu suốt, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau. Họ biết như thật: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguyên nhân của khổ’… ‘Đây là sự chấm dứt của khổ’… ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ’. Đây được gọi là năng lực của trí tuệ.

Đây là năm năng lực."

10. X. Phân Tích (Tạp 26,14, Ðại 2,183b) (S.v,197)

1. Tại Savatthi, … Thế Tôn thuyết

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là tín căn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy đối với các pháp bất thiện chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho không sanh khởi; đối với các pháp bất thiện đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho đoạn tận; đối với các thiện pháp chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho sanh khởi; đối với các thiện pháp đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho an trú, không có mê ám, được tăng trưởng, quảng đại, được tu tập, được làm cho viên mãn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng, ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, và lời nói từ lâu. Vị ấy trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ… an trú Thiền thứ hai… an trú Thiền thứ ba… từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ thuộc bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Vị ấy như thật rõ biết đây là khổ, như thật rõ biết đây là khổ tập khởi, như thật rõ biết đây là khổ đoạn diệt, như thật rõ biết đây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

8. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

Chương về Yếu Hơn

SN 48.11 Đạt Được Paṭilābhasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

năng lực của đức tin là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có đức tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc toàn thiện, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn, thành tựu về tri thức và hành vi, thánh thiện, người biết thế gian, bậc hướng dẫn tối cao cho những ai muốn tu tập, thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, được tôn kính.’ Đây được gọi là năng lực của đức tin.

năng lực của nghị lực là gì? Nghị lực đạt được liên quan đến bốn nỗ lực chân chính. Đây được gọi là năng lực của nghị lực.

năng lực của niệm là gì? Niệm đạt được liên quan đến bốn niệm xứ. Đây được gọi là năng lực của niệm.

năng lực của Định là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử, dựa vào sự buông bỏ, đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm. Đây được gọi là năng lực của Định.

năng lực của trí tuệ là gì? Đó là khi một vị thánh đệ tử có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh và diệt, một trí tuệ cao quý, thấu suốt, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau. Đây được gọi là năng lực của trí tuệ.

Đây là năm năng lực."

II. Phẩm Có Phần Yếu Hơn (Mudutaravaggo)

11. I. Chứng Ðược (S.v,199)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc… Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn?

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn?

Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn chánh cần, thâu nhận tinh tấn; này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn niệm xứ, thâu nhận niệm; này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), với trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.

8. Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm căn.

SN 48.12 Tóm Tắt (thứ nhất) Paṭhamasaṁkhittasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là một người không trở lại (non-returner / anāgāmī / Bất lai / người sẽ không quay trở lại cõi dục sau khi chết). Nếu yếu hơn nữa, họ là một người trở lại một lần (once-returner / sakadāgāmī / Nhất lai / người sẽ chỉ quay trở lại cõi dục một lần nữa). Nếu yếu hơn nữa, họ là một người nhập dòng. Nếu yếu hơn nữa, họ là một người theo Pháp (follower of teachings / dhammānusārī / người thực hành theo giáo pháp chủ yếu bằng trí tuệ). Nếu yếu hơn nữa, họ là một người theo đức tin (follower by faith / saddhānusārī / người thực hành theo giáo pháp chủ yếu bằng niềm tin)."

12. II. Tóm Tắt (1) (Tạp 26, 7, Ðại 2, 182c, 196c)(S.v,200)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện (samattà), này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Bất hoàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn nữa là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn nữa là bậc Tùy tín hành.

SN 48.13 Tóm Tắt (thứ hai) Dutiyasaṁkhittasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là một người không trở lại… một người trở lại một lần… một người nhập dòng… một người theo Pháp… một người theo đức tin.

Vì vậy, từ sự đa dạng của các năng lực có sự đa dạng của các kết quả. Và từ sự đa dạng của các kết quả có sự đa dạng của các cá nhân."

13. III. Tóm Tắt (2) (Tạp 26, 11, Ðại 2,182a) (S.v,200)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán… là bậc Tùy tín hành.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự sai biệt về căn, có sự sai biệt về quả, có sự sai biệt về sức mạnh, có sự sai biệt về người.

SN 48.14 Tóm Tắt (thứ ba) Tatiyasaṁkhittasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là một người không trở lại… một người trở lại một lần… một người nhập dòng… một người theo Pháp… một người theo đức tin.

Vì vậy, này các Tỷ kheo, nếu các vị thực hành một phần, các vị thành công một phần. Nếu các vị thực hành đầy đủ, các vị thành công đầy đủ. Năm năng lực này không phải là vô ích, Ta nói vậy."

14. IV. Tóm Tắt (3) (S.v,201)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm?

Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán… là bậc Tùy tín hành.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ai làm viên mãn, được quả viên mãn. Ai làm từng phần, được quả từng phần. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm căn không phải trống không.

SN 48.15 Chi Tiết (thứ nhất) Paṭhamavitthārasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là người đạt Niết-bàn giữa hai kiếp sống (one who is extinguished between one life and the next / antarāparinibbāyī)… người đạt Niết-bàn khi vừa tái sinh (one who is extinguished upon landing / upahaccaparinibbāyī)… người đạt Niết-bàn không cần nỗ lực nhiều (one who is extinguished without extra effort / asaṅkhāraparinibbāyī)… người đạt Niết-bàn cần nỗ lực nhiều (one who is extinguished with extra effort / sasaṅkhāraparinibbāyī)… người đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh (one who heads upstream, going to the Akaniṭṭha realm / uddhaṁsoto akaniṭṭhagāmī)… một người trở lại một lần… một người nhập dòng… một người theo Pháp… một người theo đức tin."

15. V. Rộng Thuyết (1) (S.v,201)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn (Upahacca parinibhàvii). Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu, đạt đến Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

SN 48.16 Chi Tiết (thứ hai) Dutiyavitthārasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là người đạt Niết-bàn giữa hai kiếp sốngngười đạt Niết-bàn khi vừa tái sinhngười đạt Niết-bàn không cần nỗ lực nhiềungười đạt Niết-bàn cần nỗ lực nhiềungười đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh… một người trở lại một lần… một người nhập dòng… một người theo Pháp… một người theo đức tin.

Vì vậy, từ sự đa dạng của các năng lực có sự đa dạng của các kết quả. Và từ sự đa dạng của các kết quả có sự đa dạng của các cá nhân."

16. VI. Rộng Thuyết (2) (S.v,201)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn… là bậc Tùy tín hành.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự sai khác về căn, sự sai khác về quả, sự sai khác về lực, sự sai khác về người.

SN 48.17 Chi Tiết (thứ ba) Tatiyavitthārasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là người đạt Niết-bàn giữa hai kiếp sốngngười đạt Niết-bàn khi vừa tái sinhngười đạt Niết-bàn không cần nỗ lực nhiềungười đạt Niết-bàn cần nỗ lực nhiềungười đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh… một người trở lại một lần… một người nhập dòng… một người theo Pháp… một người theo đức tin.

Vì vậy, này các Tỷ kheo, nếu các vị thực hành đầy đủ, các vị thành công đầy đủ. Nếu các vị thực hành một phần, các vị thành công một phần. Năm năng lực này không phải là vô ích, Ta nói vậy."

17. VII. Rộng Thuyết (3) (S.v,202)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian bát Niết-bàn… Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

4. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ai làm viên mãn, được quả viên mãn; ai làm từng phần, được quả từng phần. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm căn không phải trống không.

SN 48.18 Thực Hành Paṭipannasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ đang thực hành để nhận ra quả vị toàn thiện… một người không trở lại… đang thực hành để nhận ra quả vị không trở lại… một người trở lại một lần… đang thực hành để nhận ra quả vị trở lại một lần… một người nhập dòng… đang thực hành để nhận ra quả vị nhập dòng. Người nào hoàn toàn và tuyệt đối thiếu năm năng lực này là một người ngoài cuộc, thuộc về những người phàm phu, Ta nói vậy."

18. VIII. Thực Hành (Hướng: Patipanno) (Tạp 26.11,Ðại 2,183a) (S.v,202)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán (A-la-hán hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Bất lai. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất lai (A-na-hàm hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất lai (Nhất lai hướng). Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là vị đang thực hành để chứng ngộ quả Dự lưu (Dự lưu hướng).

4. Ðối với ai, này các Tỷ-kheo, năm căn này toàn bộ và toàn diện không có, thời Ta nói rằng người ấy là người đứng phía ngoài, là thuộc thành phần phàm phu.

SN 48.19 Được Trang Bị Sampannasutta

Rồi một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài:

“Thưa Ngài, người ta nói về một người ‘thành tựu về các năng lực’. Một người thành tựu về các năng lực được định nghĩa như thế nào?”

“Này Tỷ kheo, đó là khi một Tỷ kheo phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ dẫn đến sự bình an và giác ngộ. Đây là cách một người thành tựu về các năng lực được định nghĩa.”

19. IX. Tịch Tịnh (Upasanno) (S.v,202)

1. …

2. − Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

3. − “Căn đầy đủ, căn đầy đủ”, bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là căn đầy đủ?

4. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín căn, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ… tu tập tuệ căn, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ.

5. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có căn đầy đủ.

SN 48.20 Sự Chấm Dứt của các Ô Nhiễm Āsavakkhayasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Chính nhờ phát triển và tu dưỡng năm năng lực này mà một Tỷ kheo nhận ra sự giải thoát (freedom / vimutti / sự giải thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi) không ô nhiễm của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt của các ô nhiễm."

20. X. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc (Tạp 26.8, Ðại 2,182c) (S.v,203)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Chương về Sáu Giác quan

SN 48.21 Các Kiếp Sống Tương Lai Punabbhavasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Chừng nào Ta chưa biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này, Ta chưa tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến và tuệ giác đã khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển; đây là lần tái sinh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa.’"

III. Phẩm Sáu Căn

21. I. Không Có Tái Sanh, hay Người Có Trí (Tạp 26.9, Ðại 2,182c) (S.v,203)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn.

3. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

4. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người…

SN 48.22 Năng lực của Sự Sống Jīvitindriyasutta

“Này các Tỷ kheo, có ba năng lực này. Ba năng lực đó là gì? Năng lực của nữ tính (faculty of femininity / itthindriya), năng lực của nam tính (faculty of masculinity / purisindriya), và năng lực của sự sống (faculty of life / jīvitindriya / mạng căn). Đây là ba năng lực.”

22. II. Mạng (S.v,204)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Nữ căn, nam căn, mạng căn.

3. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn.

SN 48.23 Năng lực của Giác Ngộ Aññindriyasutta

“Này các Tỷ kheo, có ba năng lực này. Ba năng lực đó là gì? Năng lực hiểu rằng sự giác ngộ của mình sắp xảy ra. Năng lực của giác ngộ. Năng lực của người đã giác ngộ. Đây là ba năng lực.”

23. III. Chánh Lý (Tạp 26.1, Ðại 2,182a) (S.v,204)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.

3. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn.

SN 48.24 Người Gieo Một Hạt Giống Ekabījīsutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Người nào đã hoàn thành và viên mãn năm năng lực này là một bậc A-la-hán. Nếu yếu hơn thế, họ là người đạt Niết-bàn giữa hai kiếp sốngngười đạt Niết-bàn khi vừa tái sinhngười đạt Niết-bàn không cần nỗ lực nhiềungười đạt Niết-bàn cần nỗ lực nhiềungười đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh… một người trở lại một lần… một người gieo một hạt giống (one-seeder / ekabījī / người chỉ cần tái sinh một lần nữa để đạt giác ngộ)… người đi từ gia đình này sang gia đình khác (one who goes from family to family / kolaṅkola / người tái sinh hai hoặc ba lần nữa)… người có tối đa bảy lần tái sinh (one who has seven rebirths at most / sattakkhattuparama)… một người theo Pháp… một người theo đức tin."

24. IV. Nhứt Thắng Trí, hay Nhứt Chủng Tử (Tạp 26. 12, Ðại 1,183) (S.v,204)

1. …

2. − Có năm căn này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

3. Với sự toàn diện, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niếtbàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu đạt tới Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhứt chủng. Yếu nhẹ hơn là bậc gia gia (kolankolo). Yếu nhẹ hơn là bậc phải tái sanh lại nhiều nhất là bảy lần. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.

SN 48.25 Phiên Bản Đơn Giản Suddhakasutta

“Này các Tỷ kheo, có sáu giác quan này. Sáu giác quan đó là gì? mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Đây là sáu giác quan.”

25. V. Thanh Tịnh (S.v,205)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn.

3. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là sáu căn.

SN 48.26 Người Nhập Dòng Sotāpannasutta

“Này các Tỷ kheo, có sáu giác quan này. Sáu giác quan đó là gì? mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Một vị thánh đệ tử biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của sáu giác quan này. Một vị thánh đệ tử như vậy được gọi là người nhập dòng, không còn bị tái sinh vào cảnh giới thấp, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

26. VI. Dòng Nước Hay Dự Lưu (S.v,205)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn… ý căn.

3. Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn căn này; khi ấy, vị Thánh đệ tử được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt tới Chánh Ðẳng Giác.

SN 48.27 Bậc Toàn Thiện Arahantasutta

"Này các Tỷ kheo, có sáu giác quan này. Sáu giác quan đó là gì? mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Một Tỷ kheo được giải thoát nhờ không bám giữ sau khi biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của sáu giác quan này.

Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một bậc A-la-hán, với các ô nhiễm đã được chấm dứt, người đã hoàn thành hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của mong muốn tồn tại, và được giải thoát một cách đúng đắn nhờ giác ngộ."

27. VII. A-La-Hán (1) (S.v,205)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn… ý căn.

3. Khi nào Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo,sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, được giải thoát, không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã gặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn diệt, chánh trí, giải thoát.

SN 48.28 Giác Ngộ Sambuddhasutta

"Này các Tỷ kheo, có sáu giác quan này. Sáu giác quan đó là gì? mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não.

Chừng nào Ta chưa biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của sáu giác quan này, Ta chưa tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi Ta đã biết như thật về sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của sáu giác quan này, Ta đã tuyên bố sự giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến và tuệ giác đã khởi lên trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển; đây là lần tái sinh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa.’"

28. VIII. A-La-Hán hay Phật (2) (S.v,205)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn… ý căn.

3. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta chưa như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới nhận biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

SN 48.29 Sa Môn và Bà La Môn (thứ nhất) Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có sáu giác quan này. Sáu giác quan đó là gì? giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não.

Có những vị sa môn và bà la môn không biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với sáu giác quan này. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với sáu giác quan này. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

29. IX. Sa-Môn, Bà-La- Môn (1) (S.v,206)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn… ý căn.

3. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-lamôn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-lamôn hạnh.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 48.30 Sa Môn và Bà La Môn (thứ hai) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có những vị sa môn và bà la môn không hiểu giác quan mắt, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ không hiểu giác quan taigiác quan mũigiác quan lưỡigiác quan thângiác quan trí não, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn hiểu giác quan mắt, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Họ hiểu giác quan taigiác quan mũigiác quan lưỡigiác quan thângiác quan trí não, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

30. X. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,206)

1-2. …

3. − Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết nhãn căn, không như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, không như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt… nhĩ căn… tỷ căn… thiệt căn… thân căn… không như thật rõ biết ý căn, không như thật rõ biết ý căn tập khởi, không như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bàla-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4. Nhưng những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết nhãn căn, như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt… nhĩ căn… tỷ căn… thiệt căn… thân căn… như thật rõ biết ý căn, như thật rõ biết ý căn tập khởi, như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Samôn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

Chương về Năng lực của Lạc

SN 48.31 Phiên Bản Đơn Giản Suddhikasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả. Đây là năm năng lực.”

IV. Phẩm Lạc Căn

31. I. Thanh Tịnh (S.v,207)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3. Những pháp này,này các Tỷ-kheo, là năm căn.

SN 48.32 Người Nhập Dòng Sotāpannasutta

“Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả. Một vị thánh đệ tử biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này. Một vị thánh đệ tử như vậy được gọi là người nhập dòng, không còn bị tái sinh vào cảnh giới thấp, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

32. II. Dòng Nước (S.v,207)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; vị Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết định đạt đến Chánh Ðẳng Giác.

SN 48.33 Bậc Toàn Thiện Arahantasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả. Một Tỷ kheo được giải thoát nhờ không bám giữ sau khi biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát của năm năng lực này.

Một Tỷ kheo như vậy được gọi là một bậc A-la-hán, với các ô nhiễm đã được chấm dứt, người đã hoàn thành hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của mong muốn tồn tại, và được giải thoát một cách đúng đắn nhờ giác ngộ."

33. III. A-La-Hán (S.v,208)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo,

Tỷ-kheo ấy được gọi là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.

SN 48.34 Sa Môn và Bà La Môn (thứ nhất) Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

Có những vị sa môn và bà la môn không biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với năm năng lực này. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn biết như thật về sự khởi sinh, sự chấm dứt, sự hài lòng, sự nguy hại, và lối thoát đối với năm năng lực này. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

34. IV. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,208)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-lamôn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 48.35 Sa Môn và Bà La Môn (thứ hai) Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

Này các Tỷ kheo, có những vị sa môn và bà la môn không hiểu năng lực của lạc, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Có những vị sa môn và bà la môn không hiểu năng lực của khổ… hỷ… ưu… xả, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những vị sa môn và bà la môn hiểu năng lực của lạc, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Có những vị sa môn và bà la môn hiểu năng lực của khổ… hỷ… ưu… xả, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình."

35. V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,208)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không rõ biết lạc căn, không rõ biết lạc căn tập khởi, không rõ biết lạc căn đoạn diệt, không rõ biết con đường đưa đến lạc căn đoạn diệt… không rõ biết xả căn, không rõ biết xả căn tập khởi, không rõ biết xả căn đoạn diệt, không rõ biết con đường đưa đến xả căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

4. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, rõ biết lạc căn, rõ biết lạc căn tập khởi, rõ biết lạc căn đoạn diệt, rõ biết con đường đưa đến lạc căn đoạn diệt… rõ biết xả căn, rõ biết xả căn tập khởi, rõ biết xả căn đoạn diệt, rõ biết con đường đưa đến xả căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

SN 48.36 Phân Tích (thứ nhất) Paṭhamavibhaṅgasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

năng lực của lạc là gì? Sự hưởng thụ thể chất, niềm vui thể chất, cảm giác (feeling / vedanā / thọ) thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của lạc.

năng lực của khổ là gì? Nỗi đau thể chất, sự khó chịu thể chất, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của khổ.

năng lực của hỷ là gì? Sự hưởng thụ tinh thần, niềm vui tinh thần, cảm giác thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của hỷ.

năng lực của ưu là gì? Nỗi đau tinh thần, sự khó chịu tinh thần, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của ưu.

năng lực của xả là gì? Cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, dù là thể chất hay tinh thần. Đây là năng lực của xả.

Đây là năm năng lực."

36. VI. Phân Tích (1) (S.v,209)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì lạc thuộc về thân, cái gì thích thú thuộc về thân, cái gì lạc do thân xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là lạc căn.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì khổ thuộc về thân, cái gì không thích thú thuộc về thân, cái gì khổ do thân xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là khổ căn.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ căn (somanassa)? Này các Tỷ-kheo, cái gì lạc thuộc về tâm, cái gì thích thú thuộc về tâm, cái gì lạc do ý xúc sanh, cái gì thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hỷ căn.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ưu căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì khổ thuộc về tâm, cái gì không thích thú thuộc về tâm, cái gì khổ do ý xúc sanh, cái gì không thích thú được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là ưu căn.

7. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả căn? Này các Tỷ-kheo, cái gì không thích thú và không không thích thú thuộc về thân hay thuộc về tâm được cảm thọ; này các Tỷ-kheo, đây được gọi là xả căn.

8. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

SN 48.37 Phân Tích (thứ hai) Dutiyavibhaṅgasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

năng lực của lạc là gì? Sự hưởng thụ thể chất, niềm vui thể chất, cảm giác thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của lạc.

năng lực của khổ là gì? Nỗi đau thể chất, sự khó chịu thể chất, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của khổ.

năng lực của hỷ là gì? Sự hưởng thụ tinh thần, niềm vui tinh thần, cảm giác thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của hỷ.

năng lực của ưu là gì? Nỗi đau tinh thần, sự khó chịu tinh thần, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của ưu.

năng lực của xả là gì? Cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, dù là thể chất hay tinh thần. Đây là năng lực của xả.

Trong bối cảnh này, năng lực của lạc và hỷ nên được xem là cảm giác dễ chịu. Năng lực của khổ và ưu nên được xem là cảm giác đau khổ. Năng lực của xả nên được xem là cảm giác trung tính.

Đây là năm năng lực."

37. VII. Phân Tích (2) (S.v,209)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn?.. (Như số 3, kinh trước).

4-7… … (Như số 4 đến 7 của kinh trước) …

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, cái gì thuộc lạc căn và cái gì thuộc hỷ căn, cần phải xem là lạc thọ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, cái gì thuộc về khổ căn, và cái gì thuộc ưu căn, cần phải xem là khổ thọ. Ở đây, cái gì thuộc xả căn, cần phải xem là bất khổ bất lạc thọ.

9. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.

SN 48.38 Phân Tích (thứ ba) Tatiyavibhaṅgasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

năng lực của lạc là gì? Sự hưởng thụ thể chất, niềm vui thể chất, cảm giác thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của lạc.

năng lực của khổ là gì? Nỗi đau thể chất, sự khó chịu thể chất, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc thể chất. Đây được gọi là năng lực của khổ.

năng lực của hỷ là gì? Sự hưởng thụ tinh thần, niềm vui tinh thần, cảm giác thú vị, dễ chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của hỷ.

năng lực của ưu là gì? Nỗi đau tinh thần, sự khó chịu tinh thần, cảm giác đau đớn, khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc của tâm. Đây được gọi là năng lực của ưu.

năng lực của xả là gì? Cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, dù là thể chất hay tinh thần. Đây là năng lực của xả.

Trong bối cảnh này, năng lực của lạc và hỷ nên được xem là cảm giác dễ chịu. Năng lực của khổ và ưu nên được xem là cảm giác đau khổ. Năng lực của xả nên được xem là cảm giác trung tính.

Đó là cách năm năng lực này, tùy thuộc vào cách giải thích, từ năm trở thành ba, và từ ba trở thành năm."

38. VIII. Phân Tích (3) (S.v,210)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn… xả căn.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc căn?.. (như trên) …

4-8. …(như trên) …

9. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các căn này, trước năm sau trở thành ba, trước ba sau trở thành năm, tùy theo pháp môn.

SN 48.39 Ví Dụ về Que Củi Kaṭṭhopamasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của lạc, khổ, hỷ, ưu, và xả.

Năng lực của lạc phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Khi ở trong trạng thái lạc, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái lạc.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, bạn hiểu rằng năng lực của lạc tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Năng lực của khổ phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là đau khổ. Khi ở trong trạng thái khổ, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái khổ.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là đau khổ đó, bạn hiểu rằng năng lực của khổ tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Năng lực của hỷ phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là hạnh phúc. Khi ở trong trạng thái hỷ, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái hỷ.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là hạnh phúc đó, bạn hiểu rằng năng lực của hỷ tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Năng lực của ưu phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là buồn bã. Khi ở trong trạng thái ưu, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái ưu.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là buồn bã đó, bạn hiểu rằng năng lực của ưu tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Năng lực của xả phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là trung tính. Khi ở trong trạng thái xả, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái xả.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bạn hiểu rằng năng lực của xả tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Khi bạn cọ hai que củi vào nhau, nhiệt được tạo ra và lửa được sinh ra. Nhưng khi bạn tách hai que củi ra và đặt chúng sang một bên, bất kỳ nhiệt lượng tương ứng nào cũng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Tương tự như vậy, năng lực của lạc phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là dễ chịu. Khi ở trong trạng thái lạc, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái lạc.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là dễ chịu đó, bạn hiểu rằng năng lực của lạc tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại.

Năng lực của khổ… hỷ… ưu… xả phát sinh phụ thuộc vào một sự tiếp xúc được trải nghiệm là trung tính. Khi ở trong trạng thái xả, bạn hiểu: ‘Tôi đang ở trong trạng thái xả.’ Với sự chấm dứt của sự tiếp xúc được trải nghiệm là trung tính đó, bạn hiểu rằng năng lực của xả tương ứng sẽ chấm dứt và dừng lại."

39. IX. Cây Quay Ra Lửa (Arani) (S.v,211)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.

3. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là lạc, khởi lên lạc căn. Khi cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác lạc thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là lạc ấy, lạc căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng (tajjam) được cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết lạc căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

4. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là khổ, khởi lên khổ căn. Khi cảm thọ là khổ, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác khổ thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là khổ ấy, khổ căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là khổ, người ấy rõ biết khổ căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

5. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là hỷ, khởi lên hỷ căn. Khi cảm thọ là hỷ, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác hỷ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là hỷ ấy, hỷ căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là hỷ, người ấy rõ biết hỷ căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

6. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là ưu, khởi lên ưu căn. Khi cảm thọ là ưu, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác ưu thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là ưu ấy, ưu căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là ưu, người ấy rõ biết ưu căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

7. Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là xả, khởi lên xả căn. Khi cảm thọ là xả, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác xả thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là xả ấy, xả căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là xả, người ấy rõ biết xả căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

8. Ví như, này các Tỷ-kheo, sự xúc chạm và sự cọ xát hai thanh củi, sức nóng sanh khởi, lửa được hiện hữu. Khi hai thanh củi ấy được tách rời, được ly khai, sức nóng thích ứng ấy được đoạn diệt, được tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc được cảm thọ là lạc, khởi lên lạc căn. Khi cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác lạc thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là lạc ấy, lạc căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là lạc, người ấy rõ biết lạc căn ấy diệt, được tịnh chỉ. Do duyên xúc được cảm thọ là khổ, khởi lên khổ căn… Do duyên xúc được cảm thọ là hỷ, khởi lên hỷ căn… Do duyên xúc được cảm thọ là ưu, khởi lên ưu căn… Do duyên xúc được cảm thọ là xả, khởi lên xả căn. Khi cảm thọ là xả, người ấy rõ biết: “Tôi cảm giác xả thọ”. Do đoạn diệt xúc được người ấy cảm thọ là xả ấy, xả căn được khởi lên do duyên với xúc thích ứng được cảm thọ là xả, người ấy rõ biết xả căn ấy diệt, được tịnh chỉ.

SN 48.40 Trật Tự Ngược Uppaṭipāṭikasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của khổ, ưu, lạc, hỷ, và xả.

Trong khi một Tỷ kheo đang thiền định—tinh cần (Diligence / appamāda / chuyên cần, kỷ luật, tự chủ), nhiệt tâm, và quyết đoán—năng lực của khổ phát sinh. Vị ấy hiểu: ‘Năng lực của khổ đã phát sinh trong tôi. Và điều đó có một cơ sở, một nguồn gốc, một điều kiện, và một lý do. Không thể có chuyện năng lực của khổ phát sinh mà không có cơ sở, nguồn gốc, điều kiện, hay lý do.’ Vị ấy hiểu năng lực của khổ, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và nơi mà năng lực của khổ đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót. Và năng lực của khổ đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Đó là khi một Tỷ kheo, hoàn toàn xa lìa các thú vui giác quan, xa lìa các phẩm chất bất thiện, nhập và an trú trong tầng thiền thứ nhất, có hân hoanbình an sinh ra từ sự xa lìa, trong khi có sự suy nghĩ về một đề tài và quan sát đề tài đó. Đó là nơi năng lực của khổ đã phát sinh chấm dứt không còn dư sót. Vị ấy được gọi là một Tỷ kheo hiểu được sự chấm dứt của năng lực của khổ, và người hướng tâm mình đến mục đích đó.

Trong khi một Tỷ kheo đang thiền định—tinh cần, nhiệt tâm, và quyết đoán—năng lực của ưu phát sinh. Vị ấy hiểu: ‘Năng lực của ưu đã phát sinh trong tôi. Và điều đó có một cơ sở, một nguồn gốc, một điều kiện, và một lý do. Không thể có chuyện năng lực của ưu phát sinh mà không có cơ sở, nguồn gốc, điều kiện, hay lý do.’ Vị ấy hiểu năng lực của ưu, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và nơi mà năng lực của ưu đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót. Và năng lực của ưu đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Đó là khi, khi sự suy nghĩ về một đề tài và quan sát đề tài đó lắng xuống, một Tỷ kheo nhập và an trú trong tầng thiền thứ hai, có hân hoanbình an sinh ra từ Định, với sự trong sáng nội tâm và tâm hợp nhất, lặng im không suy nghĩ, chỉ có quan sát. Đó là nơi năng lực của ưu đã phát sinh chấm dứt không còn dư sót. Vị ấy được gọi là một Tỷ kheo hiểu được sự chấm dứt của năng lực của ưu, và người hướng tâm mình đến mục đích đó.

Trong khi một Tỷ kheo đang thiền định—tinh cần, nhiệt tâm, và quyết đoán—năng lực của lạc phát sinh. Vị ấy hiểu: ‘Năng lực của lạc đã phát sinh trong tôi. Và điều đó có một cơ sở, một nguồn gốc, một điều kiện, và một lý do. Không thể có chuyện năng lực của lạc phát sinh mà không có cơ sở, nguồn gốc, điều kiện, hay lý do.’ Vị ấy hiểu năng lực của lạc, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và nơi mà năng lực của lạc đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót. Và năng lực của lạc đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Đó là khi, với sự phai nhạt của hân hoan, một Tỷ kheo nhập và an trú trong tầng thiền thứ ba, nơi họ thiền với Xả, có niệmnhận biết rõ ràng, tự mình trải nghiệm bình an mà các bậc thánh tuyên bố, ‘Người có Xảniệm, thiền trong bình an.’ Đó là nơi năng lực của lạc đã phát sinh chấm dứt không còn dư sót. Vị ấy được gọi là một Tỷ kheo hiểu được sự chấm dứt của năng lực của lạc, và người hướng tâm mình đến mục đích đó.

Trong khi một Tỷ kheo đang thiền định—tinh cần, nhiệt tâm, và quyết đoán—năng lực của hỷ phát sinh. Vị ấy hiểu: ‘Năng lực của hỷ đã phát sinh trong tôi. Và điều đó có một cơ sở, một nguồn gốc, một điều kiện, và một lý do. Không thể có chuyện năng lực của hỷ phát sinh mà không có cơ sở, nguồn gốc, điều kiện, hay lý do.’ Vị ấy hiểu năng lực của hỷ, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và nơi mà năng lực của hỷ đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót. Và năng lực của hỷ đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Đó là khi, từ bỏ niềm vui và nỗi đau, và chấm dứt hạnh phúc và buồn bã trước đây, một Tỷ kheo nhập và an trú trong tầng thiền thứ tư, không có niềm vui hay nỗi đau, với Xảniệm trong sạch. Đó là nơi năng lực của hỷ đã phát sinh chấm dứt không còn dư sót. Vị ấy được gọi là một Tỷ kheo hiểu được sự chấm dứt của năng lực của hỷ, và người hướng tâm mình đến mục đích đó.

Trong khi một Tỷ kheo đang thiền định—tinh cần, nhiệt tâm, và quyết đoán—năng lực của xả phát sinh. Vị ấy hiểu: ‘Năng lực của xả đã phát sinh trong tôi. Và điều đó có một cơ sở, một nguồn gốc, một điều kiện, và một lý do. Không thể có chuyện năng lực của xả phát sinh mà không có cơ sở, nguồn gốc, điều kiện, hay lý do.’ Vị ấy hiểu năng lực của xả, sự khởi sinh, sự chấm dứt của nó, và nơi mà năng lực của xả đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót. Và năng lực của xả đã phát sinh đó chấm dứt không còn dư sót ở đâu? Đó là khi một Tỷ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi phi tưởng phi phi tưởng, nhập và an trú trong sự diệt tận của nhận thứccảm giác. Đó là nơi năng lực của xả đã phát sinh chấm dứt không còn dư sót. Vị ấy được gọi là một Tỷ kheo hiểu được sự chấm dứt của năng lực của xả, và người hướng tâm mình đến mục đích đó."

40. X. Sanh (S.v,213)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Khổ căn, ưu căn, lạc căn, hỷ căn, xả căn.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên khổ căn, vị ấy rõ biết như vầy: “Khổ căn này khởi lên nơi ta”. Và khổ căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và khổ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên sẽ khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết khổ căn, rõ biết khổ căn tập khởi, rõ biết khổ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, khổ căn khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết khổ căn ấy. Và tại chỗ nào khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ở đây, khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của khổ căn, tập trung tâm (upasamhàsi) để đạt tới điều kiện ấy.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên ưu căn, vị ấy rõ biết như vầy: “Trong ta khởi lên ưu căn này”. Và ưu căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và ưu căn ấy có thể khởi lên, không tướng, không nhân, không hành, không duyên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết ưu căn, rõ biết ưu căn tập khởi, rõ biết ưu căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết ưu căn ấy. Và tại chỗ nào ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhứt tâm. Và ở đây, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của ưu căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên lạc căn; vị ấy rõ biết như vầy: “Lạc căn này khởi lên nơi ta”. Lạc căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và lạc căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết lạc căn, rõ biết lạc căn tập khởi, rõ biết lạc căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết lạc căn ấy. Và tại chỗ nào lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Ở đây, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của lạc căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên hỷ căn; vị ấy rõ biết như sau: “Hỷ căn này khởi lên nơi ta”. Và hỷ căn ấy có tươùng, có nhân, có hành, có duyên. Và hỷ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết hỷ căn, rõ biết hỷ căn tập khởi, rõ biết hỷ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, hỷ căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết hỷ căn ấy. Và tại chỗ nào hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc xả niệm thanh tịnh. Ở đây, hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của hỷ căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên xả căn, vị ấy rõ biết như sau: “Xả căn này khởi lên nơi ta”. Và xả căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và xả căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết xả căn, rõ biết xả căn tập khởi, rõ biết xả căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, xả căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết xả căn ấy. Và tại chỗ nào xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú diệt thọ tưởng định. Ở đây, xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của xả căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.

Chương về Tuổi Già

SN 48.41 Tuổi Già Jarādhammasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong ngôi nhà sàn của mẹ Migāra ở Tu viện phía Đông. Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi ẩn tu và ngồi sưởi lưng dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời.

Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và trong khi xoa bóp chân tay của Đức Phật, ông nói:

“Thật không thể tin được, thưa Ngài, thật đáng kinh ngạc, làm sao mà sắc da của Ngài không còn trong sáng và rạng rỡ nữa. Chân tay của Ngài mềm nhũn và nhăn nheo, và thân thể của Ngài đã còng xuống. Và rõ ràng là đã có sự suy giảm trong năng lực của mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân của Ngài.”

“Đúng vậy, Ānanda. Khi trẻ, người ta có thể già đi; khi khỏe mạnh, người ta có thể bị bệnh; và khi còn sống, người ta có thể chết. Sắc da không còn trong sáng và rạng rỡ nữa. Chân tay mềm nhũn và nhăn nheo, và thân thể còng xuống. Và rõ ràng là đã có sự suy giảm trong năng lực của mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thánh, vị Thầy, tiếp tục nói:

"Nguyền rủa cái tuổi già khốn khổ này,
làm cho ngươi thật xấu xí.
Con rối đáng yêu này
bị tuổi già nghiền nát đến thế.

Dù ngươi sống trăm năm,
cuối cùng ngươi cũng sẽ chết.
Cái chết không tha một ai,
mà nghiền nát tất cả dưới chân."

V. Phẩm Về Già

41. I. Già (S.v,216)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma, trong lâu đài của mẹ Migàra.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

3. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:

− Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

4. − Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

5. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

− Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.

SN 48.42 Bà La Môn Uṇṇābha Uṇṇābhabrāhmaṇasutta

Tại Sāvatthī.

Rồi bà la môn Uṇṇābha đến gặp Đức Phật, và trao đổi lời chào với Ngài. Khi những lời chào và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với Đức Phật:

“Thưa Gotama đáng kính, năm năng lực này có các lĩnh vực và phạm vi khác nhau, và không trải nghiệm lĩnh vực và phạm vi của nhau. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Năm năng lực này, với các lĩnh vực và phạm vi khác nhau của chúng, nương tựa vào đâu? Cái gì trải nghiệm các lĩnh vực và phạm vi của chúng?”

“Này Bà-la-môn, năm năng lực này có các lĩnh vực và phạm vi khác nhau, và không trải nghiệm lĩnh vực và phạm vi của nhau. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Năm năng lực này, với các lĩnh vực và phạm vi khác nhau của chúng, nương tựa vào tâm. Và tâm trải nghiệm các lĩnh vực và phạm vi của chúng.”

“Nhưng thưa Gotama đáng kính, tâm nương tựa vào đâu?”

“Tâm nương tựa vào niệm.”

“Nhưng niệm nương tựa vào đâu?”

Niệm nương tựa vào sự giải thoát.”

“Nhưng sự giải thoát nương tựa vào đâu?”

Sự giải thoát nương tựa vào sự dập tắt (extinguishment / nibbāna / Niết-bàn / sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si; trạng thái bình an tối hậu).”

“Nhưng sự dập tắt nương tựa vào đâu?”

“Câu hỏi này đã đi quá xa, này Bà-la-môn! Ông đã không thể nắm bắt được giới hạn của câu hỏi. Vì sự dập tắt là đỉnh cao, là đích đến, và là điểm kết thúc của đời sống phạm hạnh.”

Và rồi bà la môn Uṇṇābha tán thành và đồng ý với những gì Đức Phật nói. Ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi vòng quanh Đức Phật một cách kính trọng, giữ Ngài ở bên phải, trước khi rời đi.

Rồi, không lâu sau khi ông rời đi, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Giả sử có một ngôi nhà gỗ hoặc một hội trường có mái nhọn, với cửa sổ ở phía đông. Khi mặt trời mọc và một tia sáng chiếu qua cửa sổ, nó sẽ đáp xuống đâu?”

“Trên bức tường phía tây, thưa Ngài.”

“Tương tự như vậy, đức tin của bà la môn Uṇṇābha vào Như Lai đã được thiết lập, bén rễ, và cắm sâu. Nó mạnh mẽ và không thể bị lay chuyển bởi bất kỳ sa môn hay bà la môn hay vị trời hay Ma vương hay phạm thiên hay bất kỳ ai trên thế giới. Nếu ông ấy qua đời vào lúc này, ông ấy sẽ không bị ràng buộc bởi bất kỳ xiềng xích nào có thể khiến ông ấy trở lại thế giới này.”

42. II. Bà La Môn Unnàbha (S.v,217)

1. Ở Sàvatthi…

2. Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bàla-môn Unnàbha thưa Thế Tôn:

3. − Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà - gocaràni), chúng không dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa Tôn giả Goama, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?

4. − Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn… thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng.

5. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho ý?

− Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.

6. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho niệm?

− Này Bà-la-môn, giải thoát là chỗ quy tựa cho niệm.

7. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho giải thoát?

− Này Bà-la-môn, Niết-bàn là chỗ quy tựa cho giải thoát.

8. − Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì là chỗ quy tựa cho Niết-bàn?

− Này Bà-la-môn, câu hỏi đi quá xa (ajjhaparam) không thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi. Này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống để thể nhập Niết-bàn, Phạm hạnh lấy Niết-bàn làm mục đích, lấy Niết-bàn làm cứu cánh.

9. Rồi Bà-la-môn Unnàbha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

10. Sau khi Bà-la-môn ra đi không bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

11. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái nhà có nóc nhọn, hay một giảng đường có nóc nhọn, với cửa sổ hướng về phía Ðông, khi mặt trời mọc và các tia nắng chiếu vào ngang qua cửa sổ, chúng dựa vào chỗ nào?

− Chúng dựa trên bức tường phía Tây, bạch Thế Tôn.

12. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin của Bà-la-môn Unnàbha hướng về, căn cứ, được an trú trên Như Lai. Lòng tin ấy kiên cố, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chiếm đoạt. Nếu trong lúc này, này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Unnàbha bị mệnh chung, không có một kiết sử nào có thể cột để kéo Bà-la-môn Unnàbha trở lui về đời này.

SN 48.43 Tại Sāketa Sāketasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāketa trong công viên nai ở Rừng Añjana. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, có phương pháp nào mà năm năng lực tinh thần trở thành năm sức mạnh tinh thần (powers / bala / lực), và năm sức mạnh tinh thần trở thành năm năng lực tinh thần không?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Thưa Ngài, xin Đức Phật hãy làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ nó.”

"Này các Tỷ kheo, có một phương pháp mà năm năng lực tinh thần trở thành năm sức mạnh tinh thần, và năm sức mạnh tinh thần trở thành năm năng lực tinh thần.

Và phương pháp đó là gì? Năng lực của đức tinsức mạnh của đức tin, và sức mạnh của đức tinnăng lực của đức tin. Năng lực của nghị lựcsức mạnh của nghị lực, và sức mạnh của nghị lựcnăng lực của nghị lực. Năng lực của niệmsức mạnh của niệm, và sức mạnh của niệmnăng lực của niệm. Năng lực của Địnhsức mạnh của Định, và sức mạnh của Địnhnăng lực của Định. Năng lực của trí tuệsức mạnh của trí tuệ, và sức mạnh của trí tuệnăng lực của trí tuệ.

Giả sử có một con sông nghiêng dốc, và chảy về phía đông, và ở giữa có một hòn đảo. Có một phương pháp mà con sông đó có thể được coi là chỉ có một dòng. Nhưng cũng có một phương pháp mà con sông đó có thể được coi là có hai dòng.

Và phương pháp mà con sông đó có thể được coi là chỉ có một dòng là gì? Bằng cách tính đến nước ở phía đông và phía tây của hòn đảo, con sông đó có thể được coi là chỉ có một dòng.

Và phương pháp mà con sông đó có thể được coi là có hai dòng là gì? Bằng cách tính đến nước ở phía bắc và phía nam của hòn đảo, con sông đó có thể được coi là có hai dòng.

Bằng phương pháp tương tự, Năng lực của đức tinsức mạnh của đức tin, và sức mạnh của đức tinnăng lực của đức tin. Năng lực của nghị lựcsức mạnh của nghị lực, và sức mạnh của nghị lựcnăng lực của nghị lực. Năng lực của niệmsức mạnh của niệm, và sức mạnh của niệmnăng lực của niệm. Năng lực của Địnhsức mạnh của Định, và sức mạnh của Địnhnăng lực của Định. Năng lực của trí tuệsức mạnh của trí tuệ, và sức mạnh của trí tuệnăng lực của trí tuệ.

Chính nhờ phát triển và tu dưỡng năm năng lực này mà một Tỷ kheo nhận ra sự giải thoát không ô nhiễm của tâm và sự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã nhận ra điều đó bằng tuệ giác của chính mình do sự chấm dứt của các ô nhiễm."

43. III. Sàketa (S.v,219)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Anjana, vườn Lộc Uyển.

2. Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, có pháp môn nào, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

3. − Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?

4. Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn, cái ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn… Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông, và giữa con sông có hòn đảo. Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một. Nhưng này các Tỷ-kheo, lại có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai.

6. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, được tính là một? Này các Tỳ-kheo, nước cuối phía Ðông và nước cuối phía Tây của hòn đảo ấy được tính là một dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một.

7. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai? Này các Tỷ-kheo, nước cuối phía Bắc và nước cuối phía Nam của hòn đảo ấy được tính là hai dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng sông ấy được tính là hai.

8. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì là tín căn, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn… Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.

9. Này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, Tỷ-kheo đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có lậu hoặc.

SN 48.44 Tại Cổng Phía Đông Pubbakoṭṭhakasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở Sāvatthī tại cổng phía đông. Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Sāriputta:

“Sāriputta, ông có đức tin rằng năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, khi được phát triển và tu dưỡng, sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết không?”

“Thưa Thế Tôn, trong trường hợp này, con không dựa trên niềm tin vào lời tuyên bố của Đức Phật rằng năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, khi được phát triển và tu dưỡng, sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết. Có những người chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu, chưa nhận ra, hoặc chưa trải nghiệm điều này bằng trí tuệ thì họ có thể dựa vào đức tin. Nhưng có những người đã biết, đã thấy, đã hiểu, đã nhận ra, và đã trải nghiệm điều này bằng trí tuệ. Họ không có nghi ngờ hay bất định nào trong vấn đề này. Con đã biết, đã thấy, đã hiểu, đã nhận ra, và đã trải nghiệm điều này bằng trí tuệ. Con không có nghi ngờ hay bất định nào rằng năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, khi được phát triển và tu dưỡng, sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Có những người chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu, chưa nhận ra, hoặc chưa trải nghiệm điều này bằng trí tuệ. Họ có thể dựa vào đức tin trong vấn đề này. Nhưng có những người đã biết, đã thấy, đã hiểu, đã nhận ra, và đã trải nghiệm điều này bằng trí tuệ. Họ không có nghi ngờ hay bất định nào rằng năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, khi được phát triển và tu dưỡng, sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết.”

44. IV. Pubbakotthaka (Ngôi nhà phía Ðông) (S.v,220)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Pubbakotthaka.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

3. − Ông có tin không, này Sàriputta, tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh…? Ông có tin không, này Sàriputta, tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?

4. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng) : “Tín căn… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Còn con, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.

5. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Với những ai, này Sàriputta, không chứng tri, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; ở đây, họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng): “Tín căn… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Và còn với những ai, này Sàriputta, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn… tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.

SN 48.45 Tại Tu Viện Phía Đông (thứ nhất) Paṭhamapubbārāmasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong ngôi nhà sàn của mẹ Migāra ở Tu viện phía Đông. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

“Một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng một năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ. Một năng lực nào? Năng lực của trí tuệ. Khi một vị thánh đệ tử có trí tuệ, thì đức tin, nghị lực, niệm, và Định đi theo đó sẽ trở nên ổn định. Đây là một năng lực mà một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’.”

45. V. Vườn Phía Ðông (1) (S.v, 222)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ở lầu đài của mẹ Migàra.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

3. − Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Một căn ấy là căn gì?

4. Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú.

5. Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 48.46 Tại Tu Viện Phía Đông (thứ hai) Dutiyapubbārāmasutta

Cùng bối cảnh.

“Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng hai năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ. Hai năng lực nào? Trí tuệ cao quý và sự giải thoát cao quý. Vì trí tuệ cao quý của họ là năng lực của trí tuệ. Và sự giải thoát cao quý của họ là năng lực của Định.

Đây là hai năng lực mà một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’."

46. VI. Vườn Phía Ðông (2) (S.v, 222)

1. Nhân duyên như trên.

2. − Bao nhiên căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

3. − Hai căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Thế nào là hai?

4. Thánh trí tuệ và Thánh giải thoát. Cái gì trong vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh trí tuệ, cái ấy là tuệ căn. Cái gì trong vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh giải thoát, cái ấy là định căn.

5. Hai căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 48.47 Tại Tu Viện Phía Đông (thứ ba) Tatiyapubbārāmasutta

Cùng bối cảnh.

“Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng bốn năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ. Bốn năng lực nào? Năng lực của nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

Đây là bốn năng lực mà một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’."

47. VII. Vườn Phía Ðông (3). (S.v, 223)

1. Nhân duyên như trên.

2. − Có bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

3-5. … (như trên, chỉ khác là kinh này nói đến bốn căn tức tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn…)

SN 48.48 Tại Tu Viện Phía Đông (thứ tư) Catutthapubbārāmasutta

Cùng bối cảnh.

“Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng năm năng lực để có thể tuyên bố giác ngộ. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ.

Đây là năm năng lực mà một Tỷ kheo phải phát triển và tu dưỡng để có thể tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này”’."

48. VIII. Vườn Phía Ðông (4) (S.iv,223)

… (như kinh trước, chỉ khác là đây chỉ năm căn tức tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) …

SN 48.49 Về Bhāradvāja Người Khất Thực Piṇḍolabhāradvājasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhāradvāja Người Khất Thực đã tuyên bố giác ngộ: “Tôi hiểu: ‘Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.’”

Rồi một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Rồi họ nói, “Tôn giả Bhāradvāja Người Khất Thực thấy lý do gì để làm điều này?”

"Chính vì Tôn giả Bhāradvāja Người Khất Thực đã phát triển và tu dưỡng ba năng lực mà ông ấy tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.”’

Ba năng lực nào? Năng lực của niệm, Định, và trí tuệ.

Chính vì Tôn giả Bhāradvāja Người Khất Thực đã phát triển và tu dưỡng ba năng lực này mà ông ấy tuyên bố giác ngộ.

Đỉnh cao của ba năng lực này là gì? Chúng đạt đến đỉnh cao trong sự chấm dứt. Trong sự chấm dứt của cái gì? Của tái sinh, tuổi già, và cái chết.

Chính vì ông ấy thấy rằng chúng đạt đến đỉnh cao trong sự chấm dứt của tái sinh, tuổi già, và cái chết mà Tôn giả Bhāradvāja Người Khất Thực tuyên bố giác ngộ: ‘Tôi hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt, hành trình tâm linh đã hoàn thành, những gì cần làm đã được làm, không còn gì nữa cho nơi này.”’"

49. IX. Pindolo (Kẻ tìm tòi các đống rác) (S.iv,224)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Pindolabhàradvàja tuyên bố với chánh trí như sau: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Ta rõ biết như vậy”.

3. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Tôn giả Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí như sau: “Ta rõ biết rằng: Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Do thấy lý do gì (althavasam), bạch Thế Tôn, Tôn giả Pindolabhàradvàja lại tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”?

4. − Do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn, này các Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ba căn ấy là gì?

5. Niệm căn, định căn, tuệ căn.

6. Chính do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

7. Và này các Tỷ-kheo, ba căn này, chúng đi đến tận cùng ở đâu? Tận cùng đi đến đoạn diệt. Ði đến đoạn diệt cái gì? Ði đến đoạn diệt gì? − Sanh già và chết. Vì thấy sanh già và chết đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, nên Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

SN 48.50 Tại Āpaṇa Āpaṇasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở xứ Aṅga, gần thị trấn Āpaṇa của người Aṅga. Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Sāriputta:

“Sāriputta, một vị thánh đệ tử chắc chắn và tận tâm với Như Lai có bất kỳ nghi ngờ hay bất định nào về Như Lai hay giáo huấn của Ngài không?”

"Thưa Thế Tôn, một vị thánh đệ tử chắc chắn và tận tâm với Như Lai sẽ không có nghi ngờ hay bất định nào về Như Lai hay giáo huấn của Ngài.

Thế Tôn có thể mong đợi rằng một vị thánh đệ tử có đức tin sẽ sống với nghị lực được khơi dậy để từ bỏ những phẩm chất bất thiện và đón nhận những phẩm chất thiện. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lơ là trong việc phát triển các phẩm chất thiện. Vì nghị lực của họ là năng lực của nghị lực.

Thế Tôn có thể mong đợi rằng một vị thánh đệ tử có đức tinnghị lực sẽ có niệm, với niệm và sự tỉnh táo tối đa, có thể nhớ lại những gì đã nói và làm từ lâu. Vì niệm của họ là năng lực của niệm.

Thế Tôn có thể mong đợi rằng một vị thánh đệ tử có đức tin, nghị lực, và niệm sẽ, dựa vào sự buông bỏ, đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm. Vì samādhi của họ là năng lực của Định.

Thế Tôn có thể mong đợi rằng một vị thánh đệ tử có đức tin, nghị lực, niệm với tâm đắm chìm trong định sẽ hiểu điều này: ‘Luân hồi không có khởi đầu được biết đến. Không tìm thấy điểm khởi đầu nào của chúng sinh lang thang và luân hồi, bị vô minh che lấp và bị ái dục trói buộc. Nhưng khi khối vô minh đen tối đó phai nhạt và chấm dứt không còn dư sót, trạng thái đó là bình yên và cao siêu. Đó là, sự lắng dịu của mọi hoạt động, sự buông bỏ mọi chấp trước, sự chấm dứt của ái dục, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự dập tắt.’ Vì trí tuệ cao quý của họ là năng lực của trí tuệ.

Khi một vị thánh đệ tử đã cố gắng nhiều lần, nhớ nghĩ (recollection / anussati / niệm / nhớ nghĩ về điều gì đó) nhiều lần, nhập Định nhiều lần, và hiểu bằng trí tuệ nhiều lần, họ sẽ tự tin về điều này: ‘Trước đây tôi đã nghe về những điều này. Nhưng bây giờ tôi có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về chúng, và thấy chúng bằng trí tuệ thấu suốt.’ Vì đức tin của họ là năng lực của đức tin."

"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta!

Sāriputta, một vị thánh đệ tử chắc chắn và tận tâm với Như Lai sẽ không có nghi ngờ hay bất định nào về Như Lai hay giáo huấn của Ngài. …"

Đức Phật sau đó lặp lại câu trả lời của Sāriputta từng lời một.

50. X. Tín, hay Ngôi Chợ (S.v,225)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Anga, tại thị trấn của dân chúng Anga tên là Apana.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

− Này Sàriputta, có vị Thánh đệ tử nào đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy có thể có phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?

3. − Vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có thể phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, được chờ đợi rằng: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không có quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.

4. Sự tinh tấn của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm những điều làm đã lâu, nói đã lâu ngày.

5. Sự niệm của vị ấy, bạch Thế Tôn, là niệm căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, tinh cần, tinh tấn, với niệm được an trú, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Sau khi từ bỏ pháp sở duyên, vị ấy sẽ được định, được nhứt tâm.

6. Ðịnh của vị ấy, bạch Thế Tôn, là định căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, an trú chánh niệm, với tâm Thiền định, bạch Thế Tôn, được chờ đợi như sau: Vị ấy rõ biết rằng vô thỉ là luân hồi, khởi điểm đầu tiên không thể chỉ rõ. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi. Sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, ổ nhóm u ám ấy, là tịch tịnh của vị này, là thù thắng của vị này, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn tận tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.

7. Trí tuệ của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tuệ căn của vị ấy. Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh tấn, tinh cần như vậy; ức niệm, ức niệm như vậy; định tĩnh, định tĩnh như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này mà trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.

8. Lòng tin của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tín căn của vị ấy.

9. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Vị Thánh đệ tử nào, này Sàriputta, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có phân vân, không có nghi ngờ gì đối với Như Lai, hay đối với lời dạy của Như Lai. Vị Thánh đệ tử nào có lòng tin, này Sàriputta, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn, để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.

10-13. Sự tinh tấn của vị ấy, này Sàriputta, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, này Sàriputta… Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh cần, tinh tấn như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.

14. Lòng tin của vị ấy, này Sàriputta tức là tín căn của vị ấy.

Chương về Hang Heo Rừng

SN 48.51 Tại Sālā Sālasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở xứ Kosala gần làng bà la môn Sālā. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, sư tử, vua của các loài thú, được cho là tốt nhất trong các loài vật về năng lực, tốc độ, và lòng dũng cảm. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.

Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ. Sư tử, vua của các loài thú, được cho là tốt nhất trong các loài vật về năng lực, tốc độ, và lòng dũng cảm. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ."

VI. Phẩm Thứ Sáu

51. I. Sàlà (S.v,227)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên Sàlà.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…

3. − Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp thuộc phần giác ngộ?

4. Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong các loài bàng sanh, con sư tử, vua các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, về tốc lực, về dõng mãnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

SN 48.52 Tại Xứ Malla Mallikasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở xứ Malla, gần thị trấn Uruvelakappa của người Malla. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, chừng nào tri kiến cao quý chưa phát sinh cho một vị thánh đệ tử thì bốn năng lực không ổn định và cố định. Nhưng khi tri kiến cao quý đã phát sinh cho một vị thánh đệ tử thì bốn năng lực trở nên ổn định và cố định.

Cũng giống như trong một ngôi nhà gỗ. Chừng nào đỉnh mái chưa được nâng lên vị trí, các kèo nhà không ổn định hay cố định. Nhưng khi đỉnh mái được nâng lên vị trí, các kèo nhà trở nên ổn định và cố định.

Tương tự như vậy, chừng nào tri kiến cao quý chưa phát sinh cho một vị thánh đệ tử thì bốn năng lực không ổn định và cố định. Nhưng khi tri kiến cao quý đã phát sinh cho một vị thánh đệ tử thì bốn năng lực trở nên ổn định và cố định.

Bốn năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, và Định. Khi một vị thánh đệ tử có trí tuệ, thì đức tin, nghị lực, niệm, và Định đi theo đó sẽ trở nên ổn định."

52. II. Mallikà (Tạp 26,13, Ðại 2,183b) (S.v,228)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Mallikà, tại một thị trấn của dân chúng Mallikà tên là Uruvelakappa.

2. Ở đấy, Thế Toân gọi các Tỷ-kheo…

3. − Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nhà có mái nhọn chưa được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được an trú. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nóc nhà có mái nhọn được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà được an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú. Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú. Thế nào là bốn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.

5. Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên lòng tin được đẳng trú, tất nhiên tinh tấn được đẳng trú, tất nhiên niệm được đẳng trú, tất nhiên định được đẳng trú.

SN 48.53 Một Vị Hữu Học Sekhasutta

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Kosambī, trong Tu viện của Ghosita. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, có cách nào để một Tỷ kheo là một vị hữu học, đang ở cấp độ của một vị hữu học, có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học không? Và một Tỷ kheo là một vị vô học, đang ở cấp độ của một vị vô học, có thể hiểu rằng mình là một vị vô học không?”

“Giáo pháp của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. …”

"Có một cách để một Tỷ kheo là một vị hữu học, đang ở cấp độ của một vị hữu học, có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học, và một Tỷ kheo là một vị vô học, đang ở cấp độ của một vị vô học, có thể hiểu rằng mình là một vị vô học.

Và cách nào để một Tỷ kheo là một vị hữu học có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học? Đó là khi một Tỷ kheo là một vị hữu học biết như thật: ‘Đây là khổ’… ‘Đây là nguyên nhân của khổ’… ‘Đây là sự chấm dứt của khổ’… ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ’. Đây là một cách để một Tỷ kheo là một vị hữu học có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học.

Hơn nữa, một Tỷ kheo là một vị hữu học suy ngẫm: ‘Có sa môn hay bà la môn nào khác ở nơi khác có giáo lý chân thật, thực tế, chính xác như của Đức Phật không?’ Vị ấy hiểu: ‘Không có sa môn hay bà la môn nào khác ở nơi khác có giáo lý chân thật, thực tế, chính xác như của Đức Phật.’ Đây cũng là một cách để một Tỷ kheo là một vị hữu học có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học.

Hơn nữa, một Tỷ kheo là một vị hữu học hiểu năm năng lực: đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Và mặc dù họ không có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về đích đến, đỉnh cao, kết quả, và sự viên mãn của chúng, họ vẫn thấy chúng bằng trí tuệ thấu suốt. Đây cũng là một cách để một Tỷ kheo là một vị hữu học có thể hiểu rằng mình là một vị hữu học.

Và cách nào để một Tỷ kheo là một vị vô học có thể hiểu rằng mình là một vị vô học? Đó là khi một Tỷ kheo là một vị vô học hiểu năm năng lực: đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Họ có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về đích đến, đỉnh cao, kết quả, và sự viên mãn của chúng, và họ thấy chúng bằng trí tuệ thấu suốt. Đây là một cách để một Tỷ kheo là một vị vô học có thể hiểu rằng mình là một vị vô học.

Hơn nữa, một Tỷ kheo là một vị vô học hiểu sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não. Họ hiểu: ‘Sáu giác quan này sẽ hoàn toàn và tuyệt đối chấm dứt không còn dư sót. Và không có sáu giác quan nào khác sẽ phát sinh ở bất cứ đâu, bất cứ cách nào.’ Đây cũng là một cách để một Tỷ kheo là một vị vô học có thể hiểu rằng mình là một vị vô học."

53. III. Hữu Học (S.v,229)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.

2. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Có pháp môn nào, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”, Tỷ-kheo vô học (asekha) đứng trên vô học địa có thể rõ biết: “Tôi là bậc vô học”?

− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…

3. − Có pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”, Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa, có thể rõ biết: “Tôi là bậc vô học”.

4. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học trú trên hữu học địa rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết : “Ðây là khổ tập khởi”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ đoạn diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt”. Ðây là pháp môn, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học suy nghĩ như sau: “Ngoài Tăng chúng này, có một Samôn hay Bà-la-môn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như Thế Tôn hay không?”. Và vị ấy rõ biết như sau: “Ngoài Tăng chúng này, không có một Sa-môn hay Bà-lamôn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như Thế Tôn”. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học rõ biết năm căn: tín căn… tuệ căn. Nhưng về sanh thú, về tối thắng, về quả, về mục đích của chúng, vị ấy không có thể trú, tự thân thông đạt được, và không thể với trí tuệ, thông suốt chúng và thấy chúng rõ ràng. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo… rõ biết: “Tôi là bậc hữu học”.

7. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa rõ biết: “Ta là bậc vô học”? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vô học rõ biết năm căn: tín căn… tuệ căn với sanh thú của chúng, với tối thắng của chúng, với quả của chúng, với mục đích của chúng. Và vị ấy trú, với tự thân thông đạt được, và với trí tuệ thông suốt chúng và thấy chúng rõ ràng. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa rõ biết: “Tôi là bậc vô học”.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vô học rõ biết sáu căn: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn. Vị ấy rõ biết: “Sáu căn này được đoạn diệt, không có dư tàn, toàn bộ và toàn diện. Và sẽ không có sáu căn khác khởi lên, tại một chỗ nào và như thế nào”. Vị ấy rõ biết như vậy. Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy. Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa, rõ biết: “Tôi là bậc vô học”.

SN 48.54 Dấu Chân Padasutta

"Dấu chân của tất cả các sinh vật đi bộ có thể nằm gọn trong dấu chân của một con voi, vì vậy dấu chân của một con voi được cho là lớn nhất trong số đó. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các bước dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.

Và những bước dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những bước dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ.

Dấu chân của tất cả các sinh vật đi bộ có thể nằm gọn trong dấu chân của một con voi, vì vậy dấu chân của một con voi được cho là lớn nhất trong số đó. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các bước dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ."

54. IV. Vết Chân (S.v,234)

1. …

2.− Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có các bàn chân của loài hữu tình bộ hành (jangalànam pànànam), tất cả bàn chân ấy nằm gọn trong bàn chân con voi. Bàn chân con voi được xem là tối thượng, trong các loại bàn chân, tức là về to lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong tất cả bàn chân nào (padàni) đưa đến giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng về phương diện giác ngộ.

3. Và này các Tỷ-kheo, những bàn chân nào đưa đến giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là bàn chân đưa đến giác ngộ. Tấn căn… niệm căn… định căn… tuệ căn là bàn chân đưa đến giác ngộ.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong bất cứ loại chân nào của những loài bộ hành, tất cả loại chân đều nằm gọn trong bàn chân của con voi. Bàn chân con voi được xem là tối thượng trong các loại bàn chân, tức là về to lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có bàn chân nào đưa đến giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng trong tất cả bàn chân, tức là về giác ngộ.

SN 48.55 Lõi Cây Sārasutta

"Trong tất cả các loại lõi cây thơm, gỗ đàn hương đỏ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.

Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ.

Trong tất cả các loại lõi cây thơm, gỗ đàn hương đỏ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ."

55. V. Lõi Cây (S.v,231)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi hương nào, cây chiên-đàn đỏ được xem là tối thượng trong tất cả lõi hương. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn là pháp tối thượng trong tất cả pháp ấy, tức là về phần giác ngộ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, pháp ấy đưa đến giác ngộ… Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, pháp ấy đưa đến giác ngộ.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi hương nào, cây chiên-đàn đỏ được xem là tối thượng trong các lõi hương. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, tuệ căn được xem là tối thượng trong các pháp ấy, tức là về giác ngộ.

SN 48.56 Nền Tảng Patiṭṭhitasutta

“Này các Tỷ kheo, khi một Tỷ kheo có nền tảng vững chắc trong một điều thì năm năng lực trở nên được phát triển, phát triển tốt. Một điều gì? Tinh cần. Và tinh cần là gì? Đó là khi một Tỷ kheo chăm sóc tâm mình khi đối mặt với các ô nhiễm và những thứ kích thích ô nhiễm. Khi làm như vậy, năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ được phát triển đầy đủ. Đó là cách khi một Tỷ kheo có nền tảng vững chắc trong một điều thì năm năng lực trở nên được phát triển, phát triển tốt.”

56. VI. Y Chỉ, An Trú (S.v,232)

1. Tại Sàvatthi…

2. − Tỷ-kheo y chỉ một pháp, này các Tỷ-kheo, năm căn được tu tập, được khéo tu tập. Một pháp ấy là gì? Là không phóng dật.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp không phóng dật? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu. Do vị ấy hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu, nên tín căn được tu tập đi đến viên mãn… tuệ căn được tu tập đi đến viên mãn.

4. Tỷ-kheo y chỉ một pháp như vậy, này các Tỷ-kheo, năm căn được tu tập, đi đến viên mãn.

SN 48.57 Với Phạm Thiên Sahampati Sahampatibrahmasutta

Một thời, khi mới giác ngộ, Đức Phật đang ở Uruvelā tại cây đa của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā.

Rồi khi đang ẩn tu riêng, ý nghĩ này nảy ra trong tâm Ngài, “Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết.”

Rồi Phạm thiên Sahampati biết được suy nghĩ của Đức Phật. Dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi ra hoặc co lại cánh tay, ông biến mất khỏi cõi trời và xuất hiện trước mặt Đức Phật. Ông vắt áo choàng qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:

"Đúng vậy, thưa Đức Thế Tôn! Đúng vậy, thưa Đấng Thánh! Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết.

Ngày xưa, thưa Ngài, con đã sống đời sống phạm hạnh dưới thời Đức Phật giác ngộ hoàn toàn Kassapa. Ở đó, họ biết con là Tỷ kheo Sahaka. Nhờ phát triển và tu dưỡng chính năm năng lực này, con đã mất đi ham muốn đối với các thú vui giác quan. Khi thân xác con tan rã, sau khi chết, con được tái sinh ở một nơi tốt đẹp, trong cõi trời. Ở đó, họ biết con là Phạm thiên Sahampati.

Đúng vậy, thưa Đức Thế Tôn! Đúng vậy, thưa Đấng Thánh! Con biết và thấy rằng khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng sẽ đạt đến đỉnh cao, kết thúc, và chấm dứt trong sự giải thoát khỏi cái chết."

57. VII. Phạm Thiên (S.v,232)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvela, trên bờ sông Neranjara, dưới cây bàng Ajapàla, khi vừa mới giác ngộ.

2. Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền định, tâm tư suy tưởng sau đây được khởi lên: “Năm căn được tu tập, được làm sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Tấn căn… Niệm căn… Ðịnh căn… Tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Năm căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.

3. Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết được tâm tư suy tưởng của Thế Tôn, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

4. Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

− Thưa vậy là phải, bạch Thế Tôn. Thưa vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Năm căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh… Tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.

5. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con sống Phạm hạnh trong thời ngài Kassapa Chánh đẳng Chánh giác. Tại đấy mọi người biết con là: “Tỷ-kheo Sahaka, Tỷ-kheo Sahaka”. Và con, bạch Thế Tôn, nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn năm căn này, sau khi từ bỏ dục tham đối với các dục, sau khi thân hoại mạng chung, con được sanh lên thiện thú, Phạm thiên giới. Tại đấy, họ gọi con là: “Phạm thiên Sahampati, Phạm thiên Sahampati”.

6. Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải bạch Thiện Thệ. Con biết như sau, con thấy như sau: “Năm căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.

SN 48.58 Hang Heo Rừng Sūkarakhatasutta

Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu trong Hang Heo Rừng. Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Sāriputta:

“Sāriputta, xét đến lợi ích nào mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện lòng tận tâm tối đa đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài?”

“Thưa Ngài, chính là xét đến nơi nương tựa tối cao khỏi khổ ách mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện lòng tận tâm tối đa đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì chính là xét đến nơi nương tựa tối cao khỏi khổ ách mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện lòng tận tâm tối đa đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài.

Và nơi nương tựa tối cao khỏi khổ ách đó là gì?"

“Đó là khi một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, dẫn đến sự bình an và giác ngộ. Chính là xét đến nơi nương tựa tối cao khỏi khổ ách này mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện lòng tận tâm tối đa đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì đây chính là nơi nương tựa tối cao khỏi khổ ách đó.

Và lòng tận tâm tối đa mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài là gì?"

“Đó là khi một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm duy trì sự tôn trọng và kính trọng đối với Thầy, giáo pháp, Tăng đoàn, sự tu tập, và Định. Đây chính là lòng tận tâm tối đa đó.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì đây chính là lòng tận tâm tối đa mà một Tỷ kheo đã chấm dứt các ô nhiễm, trong khi vẫn còn sống, tiếp tục thể hiện đối với Như Lai hoặc giáo huấn của Ngài.”

58. VIII. Hang Con Gấu (S.v,233)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Gijjhakuuta (núi Linh Thứu) trong hang Con Gấu (suukarakhatà).

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

− Do thấy lý do gì, này Sàriputta, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai?

− Vì thấy vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

3. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Do thấy vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này Sàriputta, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

4. Thế nào là vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay lời giảng dạy của Như Lai?

5. − Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ… tấn căn… niệm căn… định căn… tu tập tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ðây là vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

6. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.

7. Và này Sàriputta, thế nào là sự tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?

8. − Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc sống tôn trọng, cung kính bậc Ðạo Sư; sống tôn trọng, cung kính Pháp; sống tôn trọng, cung kính chúng Tăng; sống tôn trọng, cung kính học giới; sống tôn trọng, cung kính Thiền định. Ðây là sự tối thượng tôn kính, bạch Thế Tôn, mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc; bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

9. − Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.

SN 48.59 Sự Khởi Sinh (thứ nhất) Paṭhamauppādasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, năm năng lực này không khởi sinh để được phát triển và tu dưỡng trừ khi một Như Lai, một bậc toàn thiện, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn đã xuất hiện. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Năm năng lực này không khởi sinh để được phát triển và tu dưỡng trừ khi một Như Lai, một bậc toàn thiện, một vị Phật giác ngộ hoàn toàn đã xuất hiện.”

59. IX Sanh (1) (S.v,235)

1. Tại Sàvatthi…

2. − Năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, nếu chưa sanh khởi, sẽ được sanh khởi, nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

3. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, nếu chưa sanh khởi, sẽ được sanh khởi, nhưng không thể không có sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

SN 48.60 Sự Khởi Sinh (thứ hai) Dutiyauppādasutta

“Này các Tỷ kheo, năm năng lực này không khởi sinh để được phát triển và tu dưỡng ngoài sự tu tập của Đấng Thánh. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Năm năng lực này không khởi sinh để được phát triển và tu dưỡng ngoài sự tu tập của Đấng Thánh.”

60. X. Sanh (2) (S.v,235)

1-2. Tại Sàvatthi. Tại đấy, Thế Tôn nói như sau:

3-4. − (Như kinh trên, chỉ khác, ở đây là không thể không có sự hiện hữu giới luật của bậc Thiện Thệ) …

Chương về Dẫn đến Giác Ngộ

SN 48.61 Các Xiềng Xích Saṁyojanasutta

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỷ kheo, khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc từ bỏ các xiềng xích. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc từ bỏ các xiềng xích.”

VII. Phẩm Giác Phần

61. I. Kiết Sử (S.v,236)

1. Tại Sàvatthi…

2. − Có năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các kiết sử.

SN 48.62 Các Khuynh Hướng Anusayasutta

“Này các Tỷ kheo, khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc nhổ bật gốc các ngầm hướng về (underlying tendencies / anusaya / tùy miên / ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản). Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc nhổ bật gốc các ngầm hướng về.”

62. II. Tùy Miên (S.v,236)

1-2. … đưa đến sự nhổ sạch các tùy miên.

SN 48.63 Sự Hiểu Biết Hoàn Toàn Pariññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri) về dòng thời gian. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến hiểu biết hoàn toàn về dòng thời gian.”

63. III. Liễu Tri hay Con Ðường Ra Khỏi (S.v,236)

1-2. … đưa đến liễu tri con đường ra khỏi.

SN 48.64 Sự Chấm Dứt của các Ô Nhiễm Āsavakkhayasutta

“Này các Tỷ kheo, khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến sự chấm dứt của các ô nhiễm. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến sự chấm dứt của các ô nhiễm.”

“Này các Tỷ kheo, khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc từ bỏ các xiềng xích, nhổ bật gốc các ngầm hướng về, hiểu biết hoàn toàn về dòng thời gian, và chấm dứt các ô nhiễm. Năm năng lực nào? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Khi năm năng lực này được phát triển và tu dưỡng, chúng dẫn đến việc từ bỏ các xiềng xích, nhổ bật gốc các ngầm hướng về, hiểu biết hoàn toàn về dòng thời gian, và chấm dứt các ô nhiễm.”

64. IV. Ðoạn Diệt Các Lậu Hoặc (S.v,236)

1. …

2. … đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.

3. − Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Năm căn này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận các kiết sử, đưa đến nhổ sạch các tùy miên, đưa đến liễu tri con đường ra khỏi, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.

SN 48.65 Hai Kết Quả Paṭhamaphalasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Nhờ phát triển và tu dưỡng năm năng lực này, một trong hai kết quả có thể được mong đợi: giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn sót lại điều gì, sẽ là người không trở lại."

65. V. Hai Quả (Tạp 27.23,27, Ðại 2,196b) (S.v,236)

1. …

2. − Có năm căn này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, có năm căn này.

3. Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, này các Tỷ-kheo, một trong hai quả được chờ đợi như sau: Ngay trong hiện tại được chánh trí; hay nếu có dư tàn, được quả Bất lai.

SN 48.66 Bảy Lợi Ích Dutiyaphalasutta

"Này các Tỷ kheo, có năm năng lực này. Năm năng lực đó là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm năng lực.

Nhờ phát triển và tu dưỡng năm năng lực này, bảy kết quả và lợi ích có thể được mong đợi. Bảy điều gì? Họ đạt được giác ngộ sớm ngay trong đời này. Nếu không, họ đạt được giác ngộ vào lúc chết. Nếu không, với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ là người đạt Niết-bàn giữa hai kiếp sống… họ là người đạt Niết-bàn khi vừa tái sinh… họ là người đạt Niết-bàn không cần nỗ lực nhiều… họ là người đạt Niết-bàn cần nỗ lực nhiều… họ đi ngược dòng, đến cõi Sắc Cứu Cánh.

Nhờ phát triển và tu dưỡng năm năng lực này, bảy kết quả và lợi ích này có thể được mong đợi."

66. VI. Bảy Lợi Ích (S.v,237)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn… tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, có năm căn này.

3. Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, bảy quả, bảy lợi ích được chờ được. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?

4. Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu chánh trí. Nếu ngay trong hiện tại không lập tức thành tựu chánh trí, thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí. Nếu ngay trong hiện tại không lập tức thành tựu chánh trí, thời sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn (Upahacca), chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được Hữu hành Niết-bàn, chứng được thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh thiên.

Do tu tập, làm cho sung mãn năm căn này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi bảy quả này, bảy lợi ích này.

SN 48.67 Một Cái Cây (thứ nhất) Paṭhamarukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong tất cả các loại cây ở Vùng Đất Cây Mận Đen, cây mận đen được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ. Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ. Trong tất cả các loại cây ở Vùng Đất Cây Mận Đen, cây mận đen được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.”

67. VII. Cây (1) (S.v,237)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tất cả cây sống ở Jambudipa (Diêm-phù-đề), cây Jambu (Diêmphù) được xem là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì pháp ấy đưa đến giác ngộ… Tấn căn… Niệm căn… Ðịnh căn… Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì pháp ấy đưa đến giác ngộ. Ví như, này các Tỷ-kheo, những cây sống trên cõi Diêm-phù-đề, cây Jambu được xem là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

SN 48.68 Một Cái Cây (thứ hai) Dutiyarukkhasutta

"Này các Tỷ kheo, trong tất cả các loại cây thuộc về các vị trời của cõi Ba Mươi Ba, Cây Lan Râm Mát được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.

Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ.

Trong tất cả các loại cây thuộc về các vị trời của cõi Ba Mươi Ba, Cây Lan Râm Mát được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ."

68. VIII. Cây (2) (S.v,238)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những cây của chư Thiên cõi Ba mươi ba, cây Pàricchattaka được xem là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp thuộc phần giác ngộ? Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ… Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì pháp ấy đưa đến giác ngộ. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những cây gì của chư Thiên cõi Ba mươi ba, cây Pàaricchattaka được xem là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ căn được xem là tối thượng, tức là về giác ngộ.

SN 48.69 Một Cái Cây (thứ ba) Tatiyarukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong tất cả các loại cây thuộc về các vị a-tu-la, cây patala rực rỡ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ. Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ. Trong tất cả các loại cây thuộc về các vị a-tu-la, cây patala rực rỡ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.”

69. IX. Cây (3) (S.v,238)

1-2-3. … (như kinh 68, chỉ khác, ở đây là những cây của các loài A-tu-la và cây Cittapàtali được xem là tối thượng, với những thay đổi cần thiết).

SN 48.70 Một Cái Cây (thứ tư) Catuttharukkhasutta

“Này các Tỷ kheo, trong tất cả các loại cây thuộc về các loài phượng hoàng, cây gạo đỏ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ. Và những phẩm chất dẫn đến giác ngộ là gì? Năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ là những phẩm chất dẫn đến giác ngộ, ở chỗ chúng dẫn đến việc trở nên giác ngộ. Trong tất cả các loại cây thuộc về các loài phượng hoàng, cây gạo đỏ được cho là tốt nhất. Tương tự như vậy, năng lực của trí tuệ được cho là tốt nhất trong các phẩm chất dẫn đến giác ngộ về mặt trở nên giác ngộ.”

70. X. Cây (4) (S.v,238)

1-2-3. … (như kinh 68, chỉ khác, ở đây là những cây của các Supannà (Kim xí điểu) và cây Kuutasimbali được xem là tối thượng, với những thay đổi cần thiết) …

Chương về các Đoạn Kinh Tóm Tắt về Sông Hằng

SN 48.71–82 Hướng về Phía Đông, v.v. Gaṅgāpeyyālavagga

"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và chảy về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu dưỡng năm năng lực sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự dập tắt.

Làm thế nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, mà dựa vào sự xa lìa, sự phai nhạt, và sự chấm dứt, và chín muồi thành sự buông bỏ. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu dưỡng năm năng lực sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự dập tắt."

Sáu bài về hướng về phía đông,
và sáu bài về hướng ra biển;
hai lần sáu này là mười hai,
và đó là cách chương này được tụng.

VIII. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết

71. I. Viễn Ly (S.v,239)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập năm căn, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niếtbàn. Và thế nào… xuôi về Niết-bàn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín căn liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tấn căn… niệm căn… định căn… tuệ căn… hướng đến từ bỏ.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

72-82 II-XII. (S.v,240)

… (giống như chương Ðạo Tương Ưng) …

IX. Phẩm Không Phóng Dật

83-92 I-X Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Như Lai, Chân, Nóc Nhà, Gốc, Lõi, Hạ Sanh Hoa, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, Y; tất cả là mười. (Ðược thuyết rộng như các căn).

Chương về Tinh Cần

SN 48.83–92 Chương về Tinh Cần Appamādavagga

(Kể đầy đủ như trong chương về tinh cần tại SN 45.139–148.)

Như Lai, dấu chân, đỉnh mái,
rễ, lõi cây, hoa nhài,
quân vương, mặt trời và mặt trăng,
và tấm vải là thứ mười.

X. Phẩm Làm Việc Cần Sứ Mạnh

93-104. I-XII Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Lực, Chủng Tử, Rồng, Cây, Ghè, Mặt Trời, Hư Không, hai kinh Mây, Thuyền, Khách, Sông. (Ðược thuyết rộng như Căn Tương Ưng).

Chương về Nỗ Lực

SN 48.93–104 Chương về Nỗ Lực Balakaraṇīyavagga

(Kể đầy đủ như trong chương về nỗ lực tại SN 45.149–160.)

Nỗ lực, hạt giống, và rồng,
một cái cây, một cái bình, và một cái cọc,
bầu khí quyển, và hai bài về mây,
một con tàu, một nhà khách, và một con sông.

XI. Phẩm Tầm Cầu

105-117. I-XII. Viễn Ly (S.v,240)

Gồm các kinh:

Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, HữuK Khổ (ba kinh), Chướng Ngại, Cấu Uế, Dao Ðộng, Thọ, Khát ái. (Ðược thuyết rộng như Căn Tương Ưng)

Chương về Tìm Kiếm

SN 48.105–114 Chương về Tìm Kiếm Esanāvagga

(Kể đầy đủ như trong chương về tìm kiếm tại SN 45.161–170.)

Tìm kiếm, phân biệt, ô nhiễm,
các trạng thái tồn tại, ba loại khổ đau,
sự cằn cỗi, vết bẩn, và rắc rối,
cảm giác, ái dục, và khát khao.

XII. Phẩm Bộc Lưu

118-127. I-IX. Viễn Ly (S.v,241)

Chương về các Cơn Lũ

SN 48.115–124 Các Cơn Lũ, v.v. Oghavagga

"Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích cao hơn. Năm điều gì? Ham muốn tái sinh trong cõi sắc giới, ham muốn tái sinh trong cõi vô sắc, ngã mạn, bồn chồn và hối hận, và vô minh. Đây là năm xiềng xích cao hơn.

Năm năng lực nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri), hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này. Năm năng lực nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, mà dựa vào sự xa lìa, sự phai nhạt, và sự chấm dứt, và chín muồi thành sự buông bỏ.

Năm năng lực này nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này."

(Kể đầy đủ như trong Các Bài Kinh Tương Ưng về Con Đường, SN 45.171–179, với đoạn trên là bài kinh cuối cùng.)

Cơn lũ, khổ ách, bám giữ,
ràng buộc, và ngầm hướng về,
các loại kích thích giác quan, phiền nhiễu,
các uẩn, và các xiềng xích cao và thấp.

128. X. Thượng Phần (S.v,241)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đây là năm thượng phần kiết sử. Ðể thắng tri, để liễu tri, đeạ đoạn diệt, để đoạn tận các thượng phần kiết sử này, năm căn cần phải tu tập. Thế nào là năm?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín căn liên hệ đến viễn ly… tu tập tuệ căn liên hệ đến viễn ly… hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm căn này cần phải tu tập.

(Rộng thuyết như Căn Tương Ưng, phẩm Bộc Lưu)

Một Chương Khác về các Đoạn Kinh Tóm Tắt về Sông Hằng

SN 48.125–136 Một Bài Khác về Hướng về Phía Đông, v.v. Punagaṅgāpeyyālavagga

"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và chảy về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu dưỡng năm năng lực sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự dập tắt.

Làm thế nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, mà đạt đến đỉnh cao trong việc loại bỏ tham, sân, và si. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu dưỡng năm năng lực sẽ nghiêng, dốc, và hướng về sự dập tắt."

Sáu bài về hướng về phía đông,
và sáu bài về hướng ra biển;
hai lần sáu này là mười hai,
và đó là cách chương này được tụng.

XIII. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết

129. I Tham (S.v,241)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng…

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín căn với cứu cánh nhiếp phục tham, với cứu cánh nhiếp phục sân, với cứu cánh nhiếp phục si… tu tập tuệ căn với cứu cánh… nhiếp phục si. Cũng vậy, Tỷ-kheo… thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

130-140. II-XII. (S.v,242)

(Tóm tắt đề kinh : Sáu thiên về phía Ðông, sáu thiên về biển, sông Hằng thành mười hai, phẩm được đặt tên như vậy).

Một Chương Khác về Tinh Cần

SN 48.137–146 Một Chương Khác về Tinh Cần Punaappamādavagga

(Văn bản này chỉ bao gồm tiêu đề. Kể đầy đủ như trong SN 45.139–148, phiên bản loại bỏ tham.)

XIV. Phẩm Không Phóng Dật

141-150. I-X. Tham (S.v,242)

Một Chương Khác về Nỗ Lực

SN 48.147–158 Một Chương Khác về Nỗ Lực Punagaṅgāpeyyālavagga

(Văn bản này chỉ bao gồm tiêu đề. Kể đầy đủ như trong SN 45.149–160, phiên bản loại bỏ tham.)

XV. Phẩm Việc Làm Cần Sức Mạnh

151-162. I-XII. Tham (S.v,212)

Một Chương Khác về Tìm Kiếm

SN 48.159–168 Một Chương Khác về Tìm Kiếm Punaesanāvagga

(Kể đầy đủ như trong SN 45.161–170, phiên bản loại bỏ tham.)

XVI. Phẩm Tầm Cầu

163-175. I-XII. Tham (S.v,242)

Một Chương Khác về các Cơn Lũ

SN 48.169–178 Một Loạt Bài Khác về các Cơn Lũ, v.v. Punaoghavagga

"Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích cao hơn. Năm điều gì? Ham muốn tái sinh trong cõi sắc giới, ham muốn tái sinh trong cõi vô sắc, ngã mạn, bồn chồn và hối hận, và vô minh. Đây là năm xiềng xích cao hơn.

Năm năng lực nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này. Năm năng lực nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển năng lực của đức tin, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, mà đạt đến đỉnh cao trong việc loại bỏ tham, sân, và si.

Năm năng lực này nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao hơn này."

Cơn lũ, khổ ách, bám giữ,
ràng buộc, và ngầm hướng về,
các loại kích thích giác quan, phiền nhiễu,
các uẩn, và các xiềng xích cao và thấp.

XVII. Phẩm Bộc Lưu

176-184. I-IX. Tham (S.v,242)

185. X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,242)

1. …

2. − Có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đây là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri, để liễu tri, để đoạn diệt, để đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm căn này cần phải tu tập.

(Phẩm Bộc Lưu được thuyết rộng theo Căn Tương Ưng về nhiếp phục tham)

-ooOoo-