Này các Tỷ kheo, có năm sức mạnh này. Năm sức mạnh đó là gì? Sức mạnh của tín, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ. Đây là năm sức mạnh. Sông Hằng nghiêng, dốc và xuôi về phía đông. Cũng vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập năm sức mạnh sẽ nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn.
Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển năm sức mạnh lại nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển sức mạnh của tín (faith / saddhā / niềm tin vững chắc vào sự thật, không phải niềm tin mù quáng), nghị lực (Energy / viriya / Tinh tấn / Nỗ lực, nghị lực, sức mạnh tinh thần), niệm (quan sát và ghi nhớ), Định (Immersion / samādhi / định / Trạng thái tâm tụ trên một điểm), và trí tuệ (wisdom / paññā / tuệ / sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của thực tại), dựa trên viễn ly (seclusion / viveka / sự xa lánh, tách biệt khỏi các chướng ngại về thân và tâm), ly tham (fading away / virāga / sự phai nhạt của ham muốn, tham ái), và diệt (cessation / nirodha / sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau), và chín muồi thành buông bỏ (letting go / vossagga / sự từ bỏ, xả ly, giải thoát khỏi mọi bám chấp). Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập năm sức mạnh nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn (extinguishment / nibbāna / sự dập tắt, chấm dứt khổ đau và vòng luân hồi).
Sáu bài kinh hướng về phía đông, và sáu bài kinh hướng về đại dương; hai lần sáu là mười hai, và đó là cách phẩm này được tụng đọc.
1. …
Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm lực.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập năm lực, làm cho sung mãn năm lực, thiên về Niếtbàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín lực liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tấn lực… niệm lực… định lực… tu tập tuệ lực liên hệ đến viễn ly… hướng đến từ bỏ.
5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập năm lực, làm cho sung mãn năm lực, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
(Tụng đọc đầy đủ như trong phẩm về tinh cần tại SN 45.139–148.) tinh cần (Diligence / appamāda / chuyên cần, kỷ luật, tự chủ).
Bậc Giác Ngộ, dấu chân, nóc nhà, rễ cây, lõi cây, hoa nhài, bậc đế vương, mặt trời và mặt trăng, và tấm vải là bài kinh thứ mười.
(Tóm tắt đề kinh: Sáu thiên về phương Ðông, sáu thiên về biển, sông Hằng thành mười hai, tên phẩm là như vậy).
13-22.I-X Viễn Ly (S.v,250)
Gồm các kinh :
Như Lai, Bàn Chân, Nóc Nhà, Cội Gốc, Lõi Cây, Hạ Sanh Hoa, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, Vải; gồm tất cả là mười.
(Tụng đọc đầy đủ như trong phẩm về việc cần làm tại SN 45.149–160.)
Việc cần làm, hạt giống, và loài rồng, một cái cây, một cái bình, và một cái cọc, bầu trời, và hai bài kinh về mây, một con tàu, một nhà khách, và một dòng sông.
Gồm các kinh:
Lực, Chủng Tử, Long, Cây, Ghè, Mặt Trời, Hư Không, hai kinh Mây, Thuyền, Khách, Sông.
(Tụng đọc đầy đủ như trong phẩm về sự tìm kiếm tại SN 45.161–170.)
Sự tìm kiếm, sự phân biệt, các ô nhiễm, các trạng thái tồn tại, ba loại khổ, sự cằn cỗi, các vết nhơ, và các phiền não, các cảm giác, tham ái, và sự khao khát.
Gồm các kinh :
Tầm Cầu, Kiêu Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Ba Uế Nhiễm, Chướng Ngại, Cấu Uế. Dao Ðộng, Thọ. Ái. (Phẩm Tầm Cầu được thuyết rộng như chương nói về Lực)
Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích bậc cao. Năm thứ đó là gì? Ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới, ham muốn tái sinh vào cõi vô sắc giới, ngã mạn, bồn chồn, và vô minh. Đây là năm xiềng xích bậc cao. xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm). ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới (Desire for rebirth in the realm of luminous form / rūparāga / sự tham ái, dính mắc vào các trạng thái thiền định của cõi sắc). ham muốn tái sinh vào cõi vô sắc giới (desire for rebirth in the formless realm / arūparāga / sự tham ái, dính mắc vào các trạng thái thiền định của cõi vô sắc). ngã mạn (conceit / māna / sự kiêu ngạo, so sánh mình với người khác). bồn chồn (restlessness / uddhacca / trạo cử / trạng thái tâm không yên, dao động). vô minh (ignorance / avijjā / sự không biết, không hiểu về Tứ Diệu Đế, về bản chất của thực tại).
Năm sức mạnh cần được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích bậc cao này. Năm sức mạnh đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển sức mạnh của tín, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, dựa trên viễn ly, ly tham, và diệt, và chín muồi thành buông bỏ. hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri / sự hiểu biết thông qua kinh nghiệm trực tiếp, không qua suy luận). hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri / sự hiểu biết trọn vẹn, thấu đáo).
Năm sức mạnh này cần được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích bậc cao này.
(Tụng đọc đầy đủ như trong SN 45.171–179, với bài kinh trên là bài cuối cùng.)
1. …
2. − Có năm thượng phần kiết sử, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử. Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm lực cần phải tu tập. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín lực liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm lực này cần phải tu tập.
(Tóm tắt đề kinh :
Bộc Lưu, ưch Chấp Thủ, Tay, Tùy Miên, Dục Công Ðức, Triều Cái, Uẩn Thượng, Hạ Phần Kiết Sử).
Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc và xuôi về phía đông. Cũng vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập năm sức mạnh sẽ nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn.
Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển năm sức mạnh lại nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển sức mạnh của tín, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, với mục đích tối hậu là loại bỏ tham, sân, và si. tham (greed / rāga / lòng tham, ham muốn, dính mắc). sân (hate / dosa / sự căm ghét, ác ý, chống đối). si (delusion / moha / sự mê mờ, ảo tưởng, không nhận ra sự thật).
Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập năm sức mạnh nghiêng, dốc và xuôi về Niết bàn.
(Tụng đọc đầy đủ cho mỗi con sông khác nhau như trong SN 45.91–102, phiên bản loại bỏ tham.)
Sáu bài kinh hướng về phía đông, và sáu bài kinh hướng về đại dương; hai lần sáu là mười hai, và đó là cách phẩm này được tụng đọc.
1. …
2. − Có năm lực này. Thế nào là năm?
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông… Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo… thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo… xuôi về Niết-bàn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín lực với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp phục si… Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập năm lực, làm cho sung mãn năm lực, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
(Tóm tắt đề kinh: Sáu thiên về phương Ðông, hai thiên về biển và sông Hằng thành mười hai. Tên phẩm là như vậy).
::: small (Văn bản này chỉ có tiêu đề. Tụng đọc đầy đủ như trong SN 45.139–148, phiên bản loại bỏ tham.) :::
69-78.II-XII. (S.v,252) Tham
Gồm các kinh: Như Lai, Chân, Nóc Nhọn, Rễ, Lõi, Hạ Sanh Hoa, Vua, Mặt Trăng, Mặt Trời, Vải, tất cả là mười.
(Tụng đọc đầy đủ như trong SN 45.149–160, phiên bản loại bỏ tham.)
Gồm các kinh :
Lực. Chủng Tử, Long, Cây, Ghè, Mặt Trời, Hư Không, hai kinh Mây, Thuyền, Khách, Sông.
(Tụng đọc đầy đủ như trong SN 45.161–170, phiên bản loại bỏ tham.)
Sự tìm kiếm, sự phân biệt, các ô nhiễm, các trạng thái tồn tại, ba loại khổ, sự cằn cỗi, các vết nhơ, và các phiền não, các cảm giác, tham ái, và sự khao khát.
Gồm các kinh:
Tầm Cầu, Mạn, Lậu Hoặc, Hữu, Khổ, Ba Chướng Ngại, Cấu Uế, Dao Ðộng, Thọ, Ái.
Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích bậc cao. Năm thứ đó là gì? Ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới, ham muốn tái sinh vào cõi vô sắc giới, ngã mạn, bồn chồn, và vô minh. Đây là năm xiềng xích bậc cao.
Năm sức mạnh cần được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích bậc cao này. Năm sức mạnh đó là gì? Một Tỷ kheo phát triển sức mạnh của tín, nghị lực, niệm, Định, và trí tuệ, với mục đích tối hậu là loại bỏ tham, sân, và si.
Năm sức mạnh này cần được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích bậc cao này.
Cơn lũ, ách, bám giữ, trói buộc, và ngầm hướng về, các loại kích thích giác quan, Phiền nhiễu, uẩn, và xiềng xích bậc cao và bậc thấp. cơn lũ (floods / ogha / bộc lưu / những ô nhiễm mạnh mẽ cuốn trôi tâm trí). ách (yokes / yoga / những thứ trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi). bám giữ (grasping / upādāna / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào). trói buộc (ties / gantha / những mối ràng buộc của thân tâm). ngầm hướng về (underlying tendencies / anusaya / tùy miên / ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản). các loại kích thích giác quan (kinds of sensual stimulation / kāmaguṇa / các đối tượng của năm giác quan mang lại khoái lạc). Phiền nhiễu (hindrances / nīvaraṇa / triền cái / chướng ngại, là trạng thái bất an, bồn chồn gây khó tập trung trong hiện tại). uẩn (aggregates / khandha / năm nhóm yếu tố tạo thành một con người: sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đây là năm thượng phần kiết sử. Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm lực cần phải tu tập. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tín lực… tu tập tuệ lực với mục đích nhiếp phục tham, với mục đích nhiếp phục sân, với mục đích nhiếp si.
4. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, năm lực cần được tu tập.
(Tóm tắt đề kinh: Bộc Lưu, Ách, Chấp Thủ, Hệ Phược, Tùy Miên, Dục Công Ðức, Triền Cái, Uẩn, Thượng, Hạ Phần Kiết Sử).
-ooOoo-