“Này các Tỷ kheo, khi bốn cửa thần thông (bases of psychic power / Iddhipādā / thần túc / cánh cửa đi vào thần thông, chứ không phải thần thông) này được phát triển và trau dồi, chúng sẽ dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Nỗ lực (Energy / Tinh tấn(viriya)) và ý chí bền bỉ. Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do sự phát triển tâm (mental development / citta / tâm / sự tu tập và phát triển các phẩm chất của tâm) và ý chí bền bỉ. Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do điều tra phân tích (inquiry / Vīmaṁsā/quán) và ý chí bền bỉ. Khi bốn cửa thần thông này được phát triển và trau dồi, chúng sẽ dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia.”
1. …
2. − Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
“Này các Tỷ kheo, bất cứ ai đã bỏ lỡ bốn cửa thần thông là đã bỏ lỡ con đường thánh thiện (noble path / ariya magga / thánh đạo / con đường dẫn đến giải thoát) dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bất cứ ai đã thực hành bốn cửa thần thông là đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Bất cứ ai đã bỏ lỡ bốn cửa thần thông này là đã bỏ lỡ con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bất cứ ai đã thực hành bốn cửa thần thông này là đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”
1. …
2. − Với những ai bốn như ý túc bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Với những ai bốn như ý túc được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành,… tinh tấn định,… tâm định… tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Với những ai bốn như ý túc này bị thối thất, này các Tỷ-kheo với những người ấy, bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Với những ai bốn như ý túc này được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
“Này các Tỷ kheo, khi bốn cửa thần thông này được phát triển và trau dồi, chúng trở nên cao quý và giải thoát, và đưa người thực hành chúng đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Khi bốn cửa thần thông này được phát triển và trau dồi, chúng trở nên cao quý và giải thoát, và đưa người thực hành chúng đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”
1. …
2. − Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, trở thành những Thánh lãnh đạo, dắt dẫn những ai thực hiện, đi đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, trở thành những Thánh lãnh đạo, dắt dẫn những ai thực hiện đi đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
“Này các Tỷ kheo, bốn cửa thần thông này, khi được phát triển và trau dồi, chỉ dẫn đến sự nhàm chán (disillusionment / nibbidā / yếm ly / sự chán ngán, không còn hứng thú với các pháp duyên hợp), ly tham (dispassion / virāga / ly tham / sự dứt bỏ tham ái), chấm dứt (cessation / nirodha / diệt / sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau), an tịnh (peace / upasama / an tịnh / sự lắng dịu, bình yên), tuệ giác (insight / paññā / trí tuệ / sự hiểu biết sâu sắc, trực tiếp về bản chất của sự vật), giác ngộ (awakening / bodhi / bồ đề / sự tỉnh thức hoàn toàn), và dập tắt (extinguishment / nibbāna / niết bàn / sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si và khổ đau). Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Bốn cửa thần thông này, khi được phát triển và trau dồi, chỉ dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, tuệ giác, giác ngộ, và dập tắt.”
1. …
2. − Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
"Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ đã biểu hiện một phần thần thông (psychic powers / iddhi / thần thông / các năng lực siêu nhiên có được qua tu tập thiền định) đều đã làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong tương lai sẽ biểu hiện một phần thần thông cũng sẽ làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong hiện tại đang biểu hiện một phần thần thông cũng làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ đã biểu hiện một phần thần thông đều đã làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong tương lai sẽ biểu hiện một phần thần thông cũng sẽ làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong hiện tại đang biểu hiện một phần thần thông cũng làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này."
1. …
2. − Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đã làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Samôn hay Bà-la-môn nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy sẽ làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bàla-môn nào trong hiện tại, này các Tỷ-kheo, có thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đang làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành; tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện một phần như ý túc… sẽ thực hiện… đang thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
"Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ đã biểu hiện hoàn toàn thần thông đều đã làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong tương lai sẽ biểu hiện hoàn toàn thần thông cũng sẽ làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong hiện tại đang biểu hiện hoàn toàn thần thông cũng làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ đã biểu hiện hoàn toàn thần thông đều đã làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong tương lai sẽ biểu hiện hoàn toàn thần thông cũng sẽ làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong hiện tại đang biểu hiện hoàn toàn thần thông cũng làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này."
1. …
2. − Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, đang thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã được hiện toàn diện như ý túc… sẽ thực hiện toàn diện như ý túc… đang thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
"Này các Tỷ kheo, tất cả các Tỷ kheo trong quá khứ… tương lai… hiện tại, những người chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / cetovimutti / tâm giải thoát / sự giải thoát của tâm khỏi tham ái) không ô nhiễm (defilements / āsava / lậu hoặc / những ô nhiễm tinh thần làm rò rỉ năng lượng tâm linh) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / paññāvimutti / tuệ giải thoát / sự giải thoát nhờ trí tuệ, đoạn trừ vô minh) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm, đều làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực … Sự phát triên tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Tất cả các Tỷ kheo trong quá khứ… tương lai… hiện tại, những người chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm, đều làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này."
1. …
2. − Những Tỷ-kheo nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí đã chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả các vị ấy đều nhờ đã tu tập, đã làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những Tỷ-kheo nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, đã đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những Tỷ-kheo nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
4. Những Tỷ-kheo nào trong thời quá khứ, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát… sẽ chứng đạt… đang chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này.
“Này các Tỷ kheo, có bốn cửa thần thông này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực … Sự phát triên tâm … điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là bốn cửa thần thông. Chính vì đã phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này mà Bậc Giác Ngộ (Realized One / Tathāgata / Như Lai / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) được gọi là ‘bậc hoàn thiện (perfected one / arahaṃ / A-la-hán / người đã đạt đến sự hoàn thiện tâm linh, chấm dứt ô nhiễm), Đức Phật toàn giác’.”
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn như ý túc này. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc.
3. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
"Này các Tỷ kheo: ‘Đây là cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ.’ Tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, sự chứng ngộ và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây. ‘Cửa thần thông này… nên được phát triển.’… ‘Cửa thần thông này… đã được phát triển.’ Tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, sự chứng ngộ và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây.
‘Đây là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do tinh tấn và ý chí bền bỉ.’… ‘Cửa thần thông này… nên được phát triển.’… ‘Cửa thần thông này… đã được phát triển.’ Tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, sự chứng ngộ và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây.
‘Đây là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do sự phát triển tâm và ý chí bền bỉ.’… ‘Cửa thần thông này… nên được phát triển.’… ‘Cửa thần thông này… đã được phát triển.’ Tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, sự chứng ngộ và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây.
‘Đây là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do điều tra phân tích và ý chí bền bỉ.’… ‘Cửa thần thông này… nên được phát triển.’… ‘Cửa thần thông này… đã được phát triển.’ Tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, sự chứng ngộ và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây."
1-2-3. …
4.− Với suy tư: “Ðây là như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, ở nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên. Với suy tư: “Như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành này cần phải tu tập”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, ở nơi Ta, nhãn khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên. Với suy tư: “Như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành này đã được tu tập”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, ở nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
5. … (như trên, chỉ khác đây là tinh tấn định) …
6. … (như trên, chỉ khác đây là tâm định) …
7. … (như trên, chỉ khác đây là tư duy định) …
Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật trú tại Vesālī, trong khu Rừng Lớn, tại giảng đường có mái nhọn. Bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y, vào thành Vesālī để khất thực. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, Ngài nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ của con. Chúng ta hãy đến Điện Cāpāla để hành thiền trong ngày.”
“Vâng, thưa Tôn giả,” Ānanda đáp. Lấy tọa cụ, ông đi theo sau Đức Phật.
Sau đó, Đức Phật đi đến Điện Cāpāla và ngồi xuống chỗ đã được trải sẵn. Ānanda đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:
“Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu. Và các điện thờ Udena, Gotamaka, Bảy Thiếu Nữ, Nhiều Con Trai, Sārandada, và Cāpāla đều thật đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông—biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hành chúng đúng cách—nếu muốn, có thể sống trọn tuổi thọ thích hợp hoặc phần còn lại của nó. Bậc Giác Ngộ đã phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hành chúng đúng cách. Nếu muốn, Bậc Giác Ngộ có thể sống trọn tuổi thọ thích hợp hoặc phần còn lại của nó.”
Nhưng Ānanda đã không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu minh bạch như vậy. Ông đã không thỉnh cầu Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế trong một kiếp (eon / kappa / kiếp / một khoảng thời gian vũ trụ cực kỳ dài)! Xin Bậc Thiện Thệ hãy trụ thế trong một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì lòng thương xót thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” Vì tâm trí ông như bị Ma vương ám ảnh.
Lần thứ hai… và lần thứ ba, Đức Phật nói với Ānanda:
“Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu. Và các điện thờ Udena, Gotamaka, Bảy Thiếu Nữ, Nhiều Con Trai, Sārandada, và Cāpāla đều thật đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông—biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hành chúng đúng cách—nếu muốn, có thể sống trọn tuổi thọ thích hợp hoặc phần còn lại của nó. Bậc Giác Ngộ đã phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng, và thực hành chúng đúng cách. Nếu muốn, Bậc Giác Ngộ có thể sống trọn tuổi thọ thích hợp hoặc phần còn lại của nó.”
Nhưng Ānanda đã không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu minh bạch như vậy. Ông đã không thỉnh cầu Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế trong một kiếp! Xin Bậc Thiện Thệ hãy trụ thế trong một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng, vì lòng thương xót thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” Vì tâm trí ông như bị Ma vương ám ảnh.
Sau đó, Đức Phật nói với ông: “Này Ānanda, bây giờ con hãy đi, tùy lúc con thấy thuận tiện.”
“Vâng, thưa Tôn giả,” Ānanda đáp. Ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn, trước khi ngồi xuống gốc cây gần đó.
Và rồi, không lâu sau khi Ānanda rời đi, Ma vương Ác độc đến gặp Đức Phật và nói với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập diệt hoàn toàn. Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố: ‘Này Ác độc, Ta sẽ không nhập diệt hoàn toàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỷ kheo có năng lực, có học thức, vững vàng, uyên bác, đã ghi nhớ giáo lý, và thực hành đúng theo giáo lý. Cho đến khi họ thực hành đúng đắn, sống thuận theo giáo pháp. Cho đến khi họ đã học được truyền thống của mình, và giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, tiết lộ, phân tích, và làm cho nó rõ ràng. Cho đến khi họ có thể bác bỏ một cách hợp pháp và hoàn toàn các học thuyết của người khác khi chúng xuất hiện, và giảng dạy với một cơ sở có thể chứng minh được.’
Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Tỷ kheo như vậy. Xin Thế Tôn hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập diệt hoàn toàn.
Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố: ‘Này Ác độc, Ta sẽ không nhập diệt hoàn toàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỷ kheo ni có năng lực, có học thức, vững vàng, uyên bác…’…
Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Tỷ kheo ni như vậy. Xin Thế Tôn hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập diệt hoàn toàn.
Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố: ‘Này Ác độc, Ta sẽ không nhập diệt hoàn toàn cho đến khi Ta có các đệ tử nam cư sĩ… và nữ cư sĩ có năng lực, có học thức, vững vàng, uyên bác…’…
Hôm nay Ngài đã có những đệ tử nam và nữ cư sĩ như vậy. Xin Thế Tôn hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập diệt hoàn toàn.
Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng tuyên bố: ‘Này Ác độc, Ta sẽ không nhập diệt hoàn toàn cho đến khi con đường tâm linh của Ta thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người.’ Hôm nay con đường tâm linh của Ngài đã thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng, và được tuyên bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người. Xin Thế Tôn hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Xin Bậc Thiện Thệ hãy nhập diệt hoàn toàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập diệt hoàn toàn."
Khi nghe vậy, Đức Phật nói với Ma vương: “Hãy yên tâm, Ác độc. Sự nhập diệt hoàn toàn của Bậc Giác Ngộ sẽ sớm diễn ra. Ba tháng nữa kể từ bây giờ, Bậc Giác Ngộ sẽ nhập diệt hoàn toàn.”
Vậy là tại Điện Cāpāla, Đức Phật, với tâm niệm và tỉnh giác, đã từ bỏ sinh lực (life force / āyusaṅkhāra / thọ hành / năng lượng duy trì sự sống). Khi Ngài làm vậy, có một trận động đất lớn, kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời. Bấy giờ, hiểu rõ sự việc này, vào dịp đó, Đức Phật đã thốt lên lời cảm hứng này:
“So sánh điều không thể so sánh
—với sự tạo tác của đời sống kéo dài,
bậc hiền triết đã từ bỏ sinh lực.
Nội tâm hoan hỷ, thanh thản,
Ngài phá tan sự tự tạo tác như một bộ áo giáp.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn.
2. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Sau khi vào Vesàli để khất thực, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ananda:
− Hãy cầm tọa cụ, này Ananda, Ta sẽ đi đến đền thờ Capàla để nghỉ trưa.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, cầm tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
3. Rồi Thế Tôn đi đến đền thờ Capàla; sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên.
4. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
− Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền thờ Udena! Khả ái thay đền thờ Gotamaka! Khả ái thay đền thờ Sattambaka! Khả ái thay đền thờ Bahuputta! Khả ái thay đền thờ Sarandada! Khả ái thay đền thờ Càpàla! Này Ananda, những ai đã tu tập bốn như ý túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn như ý túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
5. Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”, vì tâm Tôn giả Ananda bị Ma vương ám ảnh.
6-7. Lần thứ hai, Thế Tôn…
8. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
− Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Udena!.. có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
9. Tuy vậy, Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu… vì tâm của Tôn giả Ananda bị Ác ma ám ảnh.
10. Rồi Thế Tôn nói Tôn giả Ananda:
− Này Ananda, hãy đi và làm những gì Ông nghĩ là phải thời.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến một gốc cây không xa bao nhiêu.
11. Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong, liền thưa với Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế
Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử có học, có kỷ luật, tự chủ, đạt được an ổn khỏi khổ ách, đa văn, trì pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống thuận Chánh pháp; sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, họ chưa có thể cật vấn và khéo hàng phục, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu…”.
Bạch Thế Tôn, nhưng nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những vị đệ tử có học, có kỷ luật, tự chủ, đạt được an ổn khỏi các khổ ách, đa văn, trì pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống thuận Chánh pháp; sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, họ đã có thể cật vấn và khéo hàng phục, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
12. Như vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ, khi nào những Tỷ-kheo-ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử có học, có kỷ luật…”.
13. “Khi nào những nam cư sĩ của Ta… khi nào nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử có học, có kỷ luật, tự chủ, đạt được an ổn khỏi khổ ách, đa văn, trì pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống thuận Chánh pháp; sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, họ chưa có thể cật vấn và khéo hàng phục, chưa có thể truyền bá chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp; sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, họ đã có thể cật vấn và khéo hàng phục, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
14. Như vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ, khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
15. Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:
− Này Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng, bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
16. Và tại chỗ Càpàla, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy.
17. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, lúc bấy giờ Ngài nói lên bài kệ cảm khái như sau:
Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Ðạo sĩ từ bỏ không kéo dài,
Nội tâm chuyên nhất trú Thiền định,
Như thoát áo giáp đang mang mặc.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, trước khi ta giác ngộ—khi ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—ta đã nghĩ: ‘Nguyên nhân nào, lý do nào cho sự phát triển các cửa thần thông?’ Rồi ta nghĩ: 'Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: “Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.” Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: “Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.” Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.’
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như thể đó là nước; đi trên mặt nước như thể đó là đất; bay ngồi chéo chân trên trời như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, thật hùng mạnh và quyền năng; điều khiển cơ thể đến tận cõi trời.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù gần hay xa.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ hiểu được tâm trí của các chúng sinh và cá nhân khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng tâm trí của chính mình. Họ hiểu tâm có tham là ‘tâm có tham’, và tâm không có tham là ‘tâm không có tham’. Họ hiểu tâm có sân… tâm không có sân… tâm có si… tâm không có si… tâm co cụm… tâm phân tán… tâm rộng lớn… tâm không rộng lớn… tâm không phải là tối thượng… tâm là tối thượng… tâm đắm chìm trong định… tâm không đắm chìm trong định… tâm giải thoát… Họ hiểu tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ nhớ lại nhiều loại kiếp sống quá khứ. Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Họ nhớ: ‘Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sinh ở đây.’ Và như vậy, họ nhớ lại nhiều loại kiếp sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, họ thấy chúng sinh qua đời và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Họ hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ. ‘Những chúng sinh thân yêu này đã làm những điều xấu qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc thánh; họ có cái nhìn ác (wrong view / micchādiṭṭhi / cái nhìn ác / quan điểm sai lầm về thực tại); và họ đã chọn hành động theo cái nhìn ác đó. Khi thân xác tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi mất mát, nơi xấu, cõi âm, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sinh thân yêu này đã làm những điều tốt qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc thánh; họ có cái nhìn thiện; và họ đã chọn hành động theo cái nhìn thiện đó. Khi thân xác tan rã, sau khi chết, họ được tái sinh ở nơi tốt, cõi trời.’ Và như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, họ thấy chúng sinh qua đời và tái sinh—thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt hay nơi xấu. Họ hiểu chúng sinh tái sinh như thế nào theo nghiệp của họ.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
1. Tại Sàvatthi.
2. − Trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, tu tập như ý túc?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
3. “Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (với ý nghĩ): 'Như vậy, ý muốn (dục) của ta sẽ không quá thụ động và không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng (pacchàpure-sanni). Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó (apariyonaddhena), với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
4. “Có người tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành (với ý nghĩ): 'Như vậy, tinh tấn của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
5. “Có người tu tập tập như ý túc câu hữu với tâm định tinh cần hành (với ý nghĩ): 'Như vậy, tâm của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
6. “Có người tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành (với ý nghĩ): 'Như vậy, tâm của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
7. "Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình, đi ngang qua tường, qua thành lũy, qua núi, không dính như đi ngang qua hư không; trồi lên, độn thổ, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không nứt ra như đi trên đất liền; ngồi kiết-già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
8. “Tu tập như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, hoặc xa hoặc gần”.
9. "Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo với tâm của mình rõ biết tâm của các chúng sanh, của những người khác. Với tâm có tham, vị ấy rõ biết là tâm có tham; với tâm không có tham, rõ biết là tâm không có tham; với tâm có sân, rõ biết là tâm có sân; với tâm không có sân, rõ biết là tâm không có sân; với tâm có si rõ biết là tâm có si; với tâm không có si, rõ biết là tâm không có si; với tâm co rút, rõ biết là tâm co rút; với tâm tán loạn, rõ biết là tâm tán loạn; với tâm đại hành, rõ biết là tâm đại hành; với tâm không đại hành, rõ biết là tâm không đại hành; với tâm hữu hạn, rõ biết là tâm hữu hạn; với tâm vô thượng, rõ biết là tâm vô thượng; với tâm Thiền định, rõ biết là tâm Thiền định; với tâm không Thiền định, rõ biết là tâm không Thiền định; với tâm không giải thoát, rõ biết là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, rõ biết là tâm giải thoát.
10. "Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ: Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: 'Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây’. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết.
11. “Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh: Vị ấy rõ biết chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang ; người đẹp đẽ, kẻ thô xấu; người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các vị này làm những ác hạnh về thân, ngữ hay ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng: 'Chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ”.
12. “Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và chứng đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
"Này các Tỷ kheo, khi bốn cửa thần thông được phát triển và trau dồi, chúng mang lại rất nhiều quả báo và lợi ích. Như thế nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng. Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, chúng mang lại rất nhiều quả báo và lợi ích.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời…
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
1. …
2. − Bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn. Bốn như ý túc, này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (với ý nghĩ): “Như vậy, ý muốn của ta sẽ không quá thụ động, và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
4-6. … tinh tấn định… tâm định… tư duy định…
Bốn như ý túc được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
7-11. Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân… có thể tự thân bay đến Phạm thiên…
12. Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Bài kinh quan trọng định nghĩa về cổng thần thông và ý chí bền bỉ (hành tinh cần):
"Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nương vào ý nguyện (chanda), đạt được định, đạt được sự nhất tâm; đây được gọi là định do ý nguyện (chandasamādhi).
Vị ấy sanh khởi mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực:
- để cho các pháp ác, bất thiện chưa sanh không sanh khởi.
- để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sanh.
- để làm sanh khởi các pháp thiện chưa sanh.
- để duy trì các pháp thiện đã sanh, không cho lu mờ, khiến cho tăng trưởng, quảng đại, tu tập cho đến viên mãn.
Những điều này được gọi là ‘ý chí bền bỉ (hành tinh cần)’ (padhānasaṅkhārā).
Như vậy, này các Tỳ-kheo: Ý nguyện này, định do ý nguyện này này, và ý chí bền bỉ này — đây được gọi là Cừa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ.
"Này các Tỷ kheo, nếu một Tỷ kheo dựa vào ý nguyện để đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm, thì đây được gọi là định do ý nguyện.
- Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất xấu, bất thiện không phát sinh.
- Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất xấu, bất thiện đã phát sinh được từ bỏ.
- Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất thiện phát sinh.
- Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất thiện đã phát sinh được duy trì, không bị mất đi, mà tăng trưởng, chín muồi, và được hoàn thiện qua sự phát triển.
Đây được gọi là các ý chí bền bỉ. Và như vậy, có ý nguyện này, định do ý nguyện này, và những ý chí bền bỉ này. Đây được gọi là cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ.
Nếu một Tỷ kheo dựa vào Nỗ lực để đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm, thì đây được gọi là Định do Tinh tấn. Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất xấu, bất thiện không phát sinh… để các phẩm chất thiện đã phát sinh được duy trì, không bị mất đi, mà tăng trưởng, chín muồi, và được hoàn thiện qua sự phát triển. Đây được gọi là các ý chí bền bỉ. Và như vậy, có Nỗ lực này, Định do Tinh tấn này, và những ý chí bền bỉ này. Đây được gọi là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn và ý chí bền bỉ.
Nếu một Tỷ kheo dựa vào sự phát triển tâm để đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm, thì đây được gọi là Định do sự phát triển tâm. Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất xấu, bất thiện không phát sinh… để các phẩm chất thiện đã phát sinh được duy trì, không bị mất đi, mà tăng trưởng, chín muồi, và được hoàn thiện qua sự phát triển. Đây được gọi là các ý chí bền bỉ. Và như vậy, có sự phát triển tâm này, Định do sự phát triển tâm này, và những ý chí bền bỉ này. Đây được gọi là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do sự phát triển tâm và ý chí bền bỉ.
Nếu một Tỷ kheo dựa vào điều tra phân tích để đạt được Định, đạt được sự hợp nhất của tâm, thì đây được gọi là Định do điều tra phân tích. Vị ấy khởi lên mong muốn, cố gắng, nỗ lực, hướng dẫn và đông viên tâm (sách tấn tâm), và nỗ lực để các phẩm chất xấu, bất thiện không phát sinh… để các phẩm chất thiện đã phát sinh được duy trì, không bị mất đi, mà tăng trưởng, chín muồi, và được hoàn thiện qua sự phát triển. Đây được gọi là các ý chí bền bỉ. Và như vậy, có điều tra phân tích này, Định do điều tra phân tích này, và những ý chí bền bỉ này. Đây được gọi là cửa thần thông được thành tựu bởi Định do điều tra phân tích và ý chí bền bỉ."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo nương tựa dục được định, được nhứt tâm, đây gọi là dục định. Ðối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, vị ấy khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, vị ấy khởi lên ý muốn đoạn diệt, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, vị ấy khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Ðối với các thiện pháp đã sanh, vị ấy khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Những (pháp) này được gọi là tinh cần hành.
Như vậy, đây là dục, đây là dục định, và những pháp này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành.
3. Nếu Tỷ-kheo nương tựa tinh tấn, này các Tỷ-kheo, được định, được nhất tâm, đây gọi là tinh tấn định. Ðối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh… Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Các (pháp) này được gọi là tinh cần hành.
Như vậy, đây là tinh tấn, đây là tinh tấn định, những pháp này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành.
4. Nếu Tỷ-kheo nương tựa tâm, này các Tỷ-kheo, được định, được nhất tâm, đây gọi là tâm định. Ðối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh… Ðối với các thiện pháp đã sanh, vị ấy khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Các (pháp) này được gọi là tinh cần hành.
Như vậy, đây là tâm, đây là tâm định, những (pháp) này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với tâm định tính cần hành.
5. Nếu Tỷ-kheo nương tựa tư duy, này các Tỷ-kheo, được định, được nhất tâm, đây gọi là tư duy định. Ðối với ác, bất thiện pháp chưa sanh… đối với các thiện pháp đã sanh, vị ấy khởi lên ý muốn làm cho an trú, không vong thất, làm cho tăng trưửng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Các (pháp) này được gọi tinh cần hành.
Như vậy, đây là tư duy, đây là tư duy định, những pháp này là tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật trú tại Sāvatthī trong nhà sàn của mẹ Migāra ở Tu viện phía Đông. Bấy giờ, có một số Tỷ kheo đang ở dưới nhà sàn. Họ bồn chồn, xấc xược, hay thay đổi, nói lời thô tục, nói năng bừa bãi, không có niệm, thiếu nhận biết rõ ràng và Định, với tâm trí lang thang và các giác quan không được kiểm soát.
Bấy giờ, Đức Phật nói với Tôn giả Mahāmoggallāna: “Những người bạn đồng tu của con đang ở dưới nhà sàn kia bồn chồn, xấc xược, hay thay đổi, nói lời thô tục, nói năng bừa bãi, không có niệm, thiếu nhận biết rõ ràng và Định, với tâm trí lang thang và các giác quan không được kiểm soát. Hãy đi, Moggallāna, và làm cho các Tỷ kheo đó kinh sợ!”
“Vâng, thưa Tôn giả,” Mahāmoggallāna đáp. Sau đó, ông dùng thần thông của mình để làm cho nhà sàn rung chuyển, lắc lư và chao đảo bằng ngón chân cái của mình. Bấy giờ, các Tỷ kheo đó đứng sang một bên, kinh ngạc và khiếp sợ.
“Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật kinh ngạc! Không có một chút gió nào; và nhà sàn này của mẹ Migāra có nền móng sâu. Nó được xây dựng vững chắc, không thể lay chuyển và không thể rung động. Vậy mà nó lại rung chuyển, lắc lư và chao đảo!”
Sau đó, Đức Phật đến gặp các Tỷ kheo đó và nói:
“Tại sao các con, các Tỷ kheo, lại đứng sang một bên, kinh ngạc và khiếp sợ?”
“Thật không thể tin được, thưa Tôn giả, thật kinh ngạc! Không có một chút gió nào; và nhà sàn này của mẹ Migāra có nền móng sâu. Nó được xây dựng vững chắc, không thể lay chuyển và không thể rung động. Vậy mà nó lại rung chuyển, lắc lư và chao đảo!”
"Muốn làm cho các con kinh sợ, Tỷ kheo Moggallāna đã làm cho nhà sàn rung chuyển, lắc lư và chao đảo bằng ngón chân cái của mình.
Các con nghĩ sao, các Tỷ kheo? Tỷ kheo Moggallāna đã phát triển và trau dồi những điều gì để có được sức mạnh và quyền năng như vậy?"
“Giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con. Thưa Tôn giả, xin Đức Phật hãy làm rõ ý nghĩa của điều này. Các Tỷ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ.”
"Vậy thì, các Tỷ kheo, hãy lắng nghe. Tỷ kheo Moggallāna đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông. Bốn điều đó là gì? Moggallāna phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng. Tỷ kheo Moggallāna đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này.
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Tỷ kheo Moggallāna sử dụng được nhiều loại thần thông… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời…
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Tỷ kheo Moggallāna chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Ðông Viên, lâu đài của mẹ Migàra.
2. Lúc bấy giờ, một số Tỷ-kheo trú ở dưới lầu của mẹ Migàra, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm miệng, tạp thoại, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm mê loạn, các căn không chế ngự (pàkatindriyà)
3. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Mahà Moggalàna:
− Này Moggalàna, những đồng Phạm hạnh ấy trú dưới lầu của mẹ Migàra, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm miệng, tạp thoại, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm mê loạn, các căn không chế ngự. Hãy đi, này Moggalàna, và làm cho họ hoảng hốt (samvejeti)
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn, thực hiện thần thông, với ngón chân lớn, làm cho rung động, rung chuyển, làm cho chấn động lâu đài của mẹ Migàra.
4. Rồi các Tỷ-kheo ấy hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, họ đứng về một bên và (la lớn): “Thật là vi diệu, chư Tôn giả! Thật là hy hữu, chư Tôn giả! Lâu đài của mẹ Migàra này được che chở khỏi gió, được khéo đào những nền móng thâm sâu, không có dao động, không có chuyển động. Tuy vậy, nó rung động, rung chuyển, chấn động!”
5. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến nói với họ:
− Này các Tỷ-kheo, tại sao các Ông lại hốt hoảng, lông tóc dựng ngược, và đứng về một bên như vậy?
− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Lâu đài của mẹ Migàra được che chở khỏi gió, được khéo đào thành những nền móng thâm sâu, không có dao động, không có chuyển động. Tuy vậy nó rung động, rung chuyển, chấn động.
6. − Này các Tỷ-kheo, chính do Tỷ-kheo Moggalàna muốn làm cho các Ông hoảng hốt, với ngón chân lớn, đã làm cho lâu đài này của mẹ Migàra bị rung chuyển, rung động, bị chấn động. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn những pháp nào, Tỷ-kheo Moggalàna có đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?
− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo… sau khi nghe pháp, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
7. − Vậy hãy nghe, này các Tỷ-kheo. Chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc, Tỷ-kheo Moggalàna đã có đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Thế nào là bốn?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Moggalàna tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… Tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành (với ý nghĩ): “Như vậy, tư duy của ta sẽ không quá thụ động, cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy”. Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
9. Này các Tỷ-kheo, chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy.
10. Và này các Tỷ-kheo, cũng chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna thực hiện nhiều loại thần thông… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
11. Và chính nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
12. (Sáu thần thông được thuyết rộng ra như vậy).
Tôi nghe như vầy. Một thời, Tôn giả Ānanda trú tại Kosambī, trong Tu viện của Ghosita. Bấy giờ, bà-la-môn Uṇṇābha đến gặp Tôn giả Ānanda và chào hỏi ông. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự, ông ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả: “Thưa Tôn giả Ānanda, mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của tu sĩ Gotama là gì?”
“Mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật, thưa bà-la-môn, là để từ bỏ ham muốn.”
“Nhưng có con đường và phương pháp thực hành nào để từ bỏ ham muốn đó không?”
“Có.”
“Con đường đó là gì?”
“Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là con đường và phương pháp thực hành để từ bỏ ham muốn đó.”
“Nếu vậy, thưa Tôn giả Ānanda, con đường này là vô tận, không có hồi kết. Vì không thể từ bỏ ham muốn bằng chính ham muốn.”
“Vậy thì, thưa bà-la-môn, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, thưa bà-la-môn? Ông đã bao giờ có ham muốn đi đến công viên, nhưng khi đến công viên, ham muốn tương ứng đó đã tan biến chưa?”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
“Ông đã bao giờ có Nỗ lực để đi đến công viên, nhưng khi đến công viên, Nỗ lực tương ứng đó đã tan biến chưa?”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
“Ông đã bao giờ có ý định đi đến công viên, nhưng khi đến công viên, ý định tương ứng đó đã tan biến chưa?”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
“Ông đã bao giờ điều tra phân tích về việc đi đến công viên, nhưng khi đến công viên, sự điều tra phân tích tương ứng đó đã tan biến chưa?”
“Vâng, thưa Tôn giả.”
“Tương tự như vậy, hãy xét một Tỷ kheo đã hoàn thiện—với các ô nhiễm đã chấm dứt, người đã hoàn thành hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, chấm dứt hoàn toàn xiềng xích của sự tồn tại tiếp diễn (fetter of continued existence / bhava-saṃyojana / hữu kiết sử / sự ràng buộc vào vòng luân hồi do mong muốn được tiếp tục tồn tại), và được giải thoát đúng đắn qua sự giác ngộ. Trước đây, vị ấy có ham muốn đạt được sự hoàn thiện, nhưng khi đạt được sự hoàn thiện, ham muốn tương ứng đó đã tan biến. Trước đây, vị ấy có Nỗ lực để đạt được sự hoàn thiện, nhưng khi đạt được sự hoàn thiện, Nỗ lực tương ứng đó đã tan biến. Trước đây, vị ấy có ý định đạt được sự hoàn thiện, nhưng khi đạt được sự hoàn thiện, ý định tương ứng đó đã tan biến. Trước đây, vị ấy điều tra phân tích về việc đạt được sự hoàn thiện, nhưng khi đạt được sự hoàn thiện, sự điều tra phân tích tương ứng đó đã tan biến. Ông nghĩ sao, thưa bà-la-môn? Nếu vậy, con đường này là vô tận hay có hồi kết?”
“Rõ ràng, thưa Tôn giả Ānanda, nếu vậy, con đường này là có hồi kết, không phải vô tận. Tuyệt vời, thưa Tôn giả Ānanda! Tuyệt vời! Như thể ngài đang dựng lại vật bị lật ngửa, hay phơi bày điều bị che giấu, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, Tôn giả Ānanda đã làm rõ giáo pháp bằng nhiều cách. Tôi xin quy y Tôn giả Gotama, quy y giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Từ hôm nay trở đi, xin Tôn giả Ānanda hãy ghi nhớ tôi là một người cư sĩ đã quy y trọn đời.”
1. Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
2. Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa với Tôn giả Ananda:
3. − Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ananda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?
− Với mục đích đoạn tận dục (chanda), này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama.
4. − Có con đường gì, thưa Tôn giả Ananda, có đạo lộ gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
− Có con đường này, này Bà-la-môn, có đạo lộ này đưa đến đoạn tận lòng dục.
5. − Con đường ấy là gì, thưa Tôn giả Ananda? Ðạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
− Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Ðây là con đường, này Bà-la-môn, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận lòng dục.
6. − Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ananda, thời một công việc liên tục (santaka), không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.
− Này Bà-la-môn, về vấn đề này, tôi sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, xin hãy trả lời.
7. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải trước có lòng dục (ý muốn) nơi Ông (thúc đẩy Ông): “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?
− Thưa vâng, Tôn giả.
− Có phải trước có tinh tấn nơi Ông, (thúc đẩy Ông): “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tinh tấn ấy được tịnh chỉ?
− Thưa vâng, Tôn giả.
− Có phải trước có tâm nơi Ông (thúc đẩy Ông): “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tâm ấy được tịnh chỉ?
− Thưa vâng, Tôn giả.
− Có phải trước có tư duy nơi Ông, (thúc đẩy Ông): “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tư duy ấy được tịnh chỉ?
− Thưa vâng, Tôn giả.
8. − Cũng vậy này Bày-la-môn, khi Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn, chánh trí, giải thoát. Lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ. Sự tinh tấn mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tinh tấn ấy được tịnh chỉ. Tâm mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tâm ấy được tịnh chỉ. Tư duy mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tư duy ấy được tịnh chỉ.
9. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự thể là vậy, thời một công việc có chấm dứt liên tục hay là một công việc không chấm dứt?
− Thực vậy, thưa Tôn giả Ananda, sự thể là vậy, một công việc có chấm dứt, không phải là một công việc không chấm dứt.
10. Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda!.. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
"Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, những người có sức mạnh và quyền năng, đều đã trở nên như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, những người có sức mạnh và quyền năng, đều đã trở nên như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông."
1. …
2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, có thần lực lớn, có uy lực lớn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
3. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai, này các Tỷ-kheo, có thần lực lớn, có uy lực lớn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
4. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, có thần lực lớn, có uy lực lớn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
6. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ này các Tỷ-kheo, có đại thần lực… sẽ có đại thần lực, đại uy lực… có đại thần lực, có đại uy lực; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
"Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, những người sử dụng được nhiều loại thần thông—tự nhân bản và trở lại thành một; hiện ra và biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, hoặc núi không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như thể đó là nước; đi trên mặt nước như thể đó là đất; bay ngồi chéo chân trên trời như một con chim; chạm và vuốt ve mặt trời và mặt trăng bằng tay, thật hùng mạnh và quyền năng; điều khiển cơ thể đến tận cõi trời—đều làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Này các Tỷ kheo, tất cả các tu sĩ và bà-la-môn trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, những người sử dụng được nhiều loại thần thông—tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời—đều làm như vậy bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này."
1. …
2. − Phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua tường, qua thành lũy, qua núi như đi ngang hư không, trồi lên, độn thổ, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không nứt ra như đi trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
3. Phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân… bay đến cõi Phạm thiên; tất cả những vị này đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.
4. Phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân… bay đến cõi Phạm thiên; Tất cả những vị này đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.
6. Phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, đã thực hiện nhiều loại thần thông… sẽ thực hiện nhiều loại thần thông… thực hiện nhiều loại thần thông…; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này.
"Này các Tỷ kheo, bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông, một Tỷ kheo chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, một Tỷ kheo chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
1. …
2. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Chính nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về thần thông, các cửa thần thông, sự phát triển các cửa thần thông, và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông. Hãy lắng nghe…
Và thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Đây được gọi là thần thông.
Và cửa thần thông là gì? Con đường và phương pháp thực hành dẫn đến việc đạt được thần thông. Đây được gọi là cửa thần thông.
Và sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây được gọi là sự phát triển các cửa thần thông.
Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó chính là con đường thánh thiện tám nhánh này, tức là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, định thiện (chánh kiến, chánh tư duy , chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây được gọi là phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông."
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về như ý (Iddhi), về như ý túc, về tu tập như ý túc, và về con đường đưa đến tu tập như ý túc. Hãy lắng nghe.
3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là như ý? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý (Iddhi)
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là như ý túc? Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến chứng được như ý, chứng đắc như ý. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là như ý túc.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tu tập như ý túc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tu tập như ý túc.
6. Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến tu tập như ý túc? Ðây là Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự tu tập như ý túc.
"Này các Tỷ kheo, khi bốn cửa thần thông được phát triển và trau dồi, chúng mang lại rất nhiều quả báo và lợi ích.
Như thế nào? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Và ý nguyện quá lỏng lẻo là gì? Đó là khi ý nguyện kết hợp với sự lười biếng. Đây được gọi là ý nguyện lỏng lẻo.
Và ý nguyện quá căng thẳng là gì? Đó là khi ý nguyện kết hợp với sự bồn chồn. Đây được gọi là ý nguyện căng thẳng.
Và ý nguyện bị co cụm bên trong là gì? Đó là khi ý nguyện kết hợp với uể oải và buồn ngủ. Đây được gọi là ý nguyện bị co cụm bên trong.
Và ý nguyện bị phân tán ra bên ngoài là gì? Đó là khi ý nguyện thường xuyên bị phân tán và lan man ra bên ngoài do năm loại kích thích giác quan. Đây được gọi là ý nguyện bị phân tán ra bên ngoài.
Và làm thế nào một Tỷ kheo hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy? Đó là khi nhận thức về trước và sau được một Tỷ kheo nắm bắt đúng đắn, tập trung vào, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ. Đó là cách một Tỷ kheo hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy.
Và làm thế nào một Tỷ kheo hành thiền dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy? Đó là khi một Tỷ kheo quán xét thân thể của mình từ lòng bàn chân trở lên và từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và đầy những thứ dơ bẩn. ‘Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng treo ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’ Đó là cách một Tỷ kheo hành thiền dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy.
Và làm thế nào một Tỷ kheo hành thiền ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ, với cùng các đặc điểm, thuộc tính, và dấu hiệu vào ban ngày cũng như ban đêm. Và vị ấy phát triển nó với cùng các đặc điểm, thuộc tính, và dấu hiệu vào ban đêm cũng như ban ngày. Đó là cách một Tỷ kheo hành thiền ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy.
Và làm thế nào, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, một Tỷ kheo phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng? Đó là khi một Tỷ kheo đã nắm bắt đúng đắn nhận thức về ánh sáng, và đã nắm bắt đúng đắn nhận thức về ban ngày. Đó là cách, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, một Tỷ kheo phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
I
1. …
2. − Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn. Tu tập như thế nào làm cho sung mãn như thế nào, này các Tỷ-kheo, bốn như ý túc này có quả lớn, có lợi ích lớn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (nghĩ rằng): “Như vậy, dục của ta sẽ không có quá thụ động, sẽ không có quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng…”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành (nghĩ rằng): “Như vậy, tư duy của ta sẽ không quá thụ động…”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
II
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là dục quá thụ động? Dục nào, này các Tỷ-kheo, đi đôi với biếng nhác, tương ưng với biếng nhác, này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục quá thụ động.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là dục quá hăng say? Dục nào, này các Tỷ-kheo, đi đôi với trạo cử, tương ưng với dao động, này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục quá hăng say.
6. Này các Tỷ-kheo, thế nào là dục bị co rút phía trong? Lòng dục nào, này các Tỷ-kheo, đi đôi với hôn trầm thụy miên, tương ưng với hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục bị co rút phía trong.
7. Này các Tỷ-kheo, thế nào là dục bị phân tán phía ngoài? Lòng dục nào, này các Tỷ-kheo, hướng về phía ngoài, duyên năm dục công đức, bị phân tán, bị phân ly, này các Tỷ-kheo, đây gọi là dục bị phân tán phía ngoài.
8. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trú với tưởng trước sau đồng đẳng, trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tưởng trước sau của Tỷ-kheo được khéo nắm lấy, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, trú với tưởng trước sau đồng đẳng, trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy.
9. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trú dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào thời dưới như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán thân này, từ bàn chân trở lên, từ đầu tóc trở xuống, bao bọc bởi da, đều đầy những vật bất tịnh; thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy.
10. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trú ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, với hành tướng, đặc tướng, nhân tướng gì, thời ban đêm vị ấy tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, với hành tướng, đặc tướng, nhân tướng ấy (yehi àkàrehi yehi lingehi yehi nimittehi). Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trú ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy.
11. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, quang tưởng (alokasannà) của Tỷ-kheo, được khéo nắm lấy, tưởng ban ngày được khéo an trú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
Và Nỗ lực quá lỏng lẻo là gì?..
Và sự phát triển tâm quá lỏng lẻo là gì?..
Và điều tra phân tích quá lỏng lẻo là gì? Đó là khi điều tra phân tích kết hợp với sự lười biếng. Đây được gọi là điều tra phân tích lỏng lẻo.
Và điều tra phân tích quá căng thẳng là gì? Đó là khi điều tra phân tích kết hợp với sự bồn chồn. Đây được gọi là điều tra phân tích căng thẳng.
Và điều tra phân tích bị co cụm bên trong là gì? Đó là khi điều tra phân tích kết hợp với uể oải và buồn ngủ. Đây được gọi là điều tra phân tích bị co cụm bên trong.
Và điều tra phân tích bị phân tán ra bên ngoài là gì? Đó là khi điều tra phân tích thường xuyên bị phân tán và lan man ra bên ngoài do năm loại kích thích giác quan. Đây được gọi là điều tra phân tích bị phân tán ra bên ngoài… Đó là cách, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, một Tỷ kheo phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng. Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, chúng mang lại rất nhiều quả báo và lợi ích.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
(Giống như kinh 20 từ đoạn số 3 đến đoạn số 11. Chỉ khác là trước nói đến dục định, nay nói đến tinh tấn định, tâm định và tư duy định).
36. − Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn như ý túc này có quả lớn, có lợi ích lớn. Này các Tỷ-kheo, tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
37. Tu tập như vậy, làm cho sung mãn bốn như ý túc như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, trước khi ta giác ngộ—khi ta vẫn chưa giác ngộ nhưng quyết tâm giác ngộ—ta đã nghĩ: ‘Con đường và phương pháp thực hành để phát triển các cửa thần thông là gì?’ Rồi ta nghĩ: 'Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: “Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.” Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: “Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.” Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.’
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời.
Khi bốn cửa thần thông đã được phát triển và trau dồi theo cách này, họ chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
(Sáu loại thắng tri nên được kể đầy đủ.)
1. Tại Sàvatthi.
2. − Ngày xưa, trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa thành Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Con đường gì, đạo lộ gì để tu tập như ý túc?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
3. “Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (nghĩ rằng): 'Như vậy, dục của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say… với tâm chói sáng tu tập tâm”.
4-5. "… tinh tấn định… tâm định…
6. “… tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành (nghĩ rằng): 'Như vậy, tư duy của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, vị ấy trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ngày thế nào, thời đêm như vậy; đêm thế nào, thời ngày như vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm”.
7. “Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân… có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”.
8. “Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
9. … (Sáu thắng trí được thuyết rộng) …
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, Ngài có kinh nghiệm cá nhân về việc đi đến cõi trời bằng thần thông với thân do ý tạo không?”
“Ta có, Ānanda.”
“Nhưng Ngài có kinh nghiệm cá nhân về việc đi đến cõi trời bằng thần thông với thân bốn đại không?”
“Ta có, Ānanda.”
“Thật không thể tin được và kinh ngạc rằng Đức Phật có khả năng đi đến cõi trời bằng thần thông với một thân do ý tạo! Và rằng Ngài có kinh nghiệm cá nhân về việc đi đến cõi trời bằng thần thông với thân bốn đại!”
"Này Ānanda, các Bậc Giác Ngộ là không thể tin được và có những phẩm chất không thể tin được. Họ thật kinh ngạc và có những phẩm chất kinh ngạc.
Này Ānanda, vào lúc nào Như Lai thân hòa vào tâm và tâm hòa vào thân, an trú vào sự nhận thức bình an trên tâm và sự nhẹ nhàng trên thân; này Ānanda, vào lúc đó, thân của Như Lai trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn, dễ sử dụng hơn, và sáng chói hơn.
Giả sử có một quả cầu sắt đã được nung nóng cả ngày. Nó sẽ trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn, dễ uốn nắn hơn, và sáng ngời hơn; cũng vậy, này Ānanda, vào lúc nào Như Lai thân hòa vào tâm và tâm hòa vào thân, an trú vào nhận thức về bình an và sự nhẹ nhàng trên thân; này Ānanda, vào lúc đó, thân của Như Lai trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn, dễ sử dụng hơn, và sáng chói hơn.
Này Ānanda, vào lúc nào Như Lai thân hòa vào tâm và tâm hòa vào thân; an trú vào sự nhận thức bình an trên tâm và sự nhẹ nhàng trên thân. Lúc đó, thân của Như Lai dễ dàng bay lên khỏi mặt đất vào không trung. Ta sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời.
Giả sử có một túm bông gòn hoặc bông gạo nhẹ. Được gió cuốn đi, nó sẽ dễ dàng bay lên khỏi mặt đất vào không trung. Tương tự như vậy, khi Như lai thân hòa vào tâm và tâm hòa vào thân. an trú vào sự nhận thức bình an trên tâm và sự nhẹ nhàng trên thân. Lúc đó, thân của Như lai dễ dàng bay lên khỏi mặt đất vào không trung. Ta sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời."
1. Tại Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
3. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra?
− Ta có biết, này Ananda, làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra.
4. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới, với thân do bốn đại tác thành này?
− Ta có biết, này Ananda, làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới, với thân do bốn đại tác thành này.
5. − Thế Tôn có thể hóa thân (opapàti) với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra. Thế Tôn có thể rõ biết được với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do bốn đại hợp thành. Như vậy, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật là vi diệu, thật là hy hữu!
− Thật vậy, này Ananda, Như Lai thật là vi diệu, này Ananda, vì Như Lai đầy đủ vi diệu pháp. Như Lai thật hy hữu, này Ananda, vì Như Lai đầy đủ hy hữu pháp.
6. Khi nào, này Ananda, Thế Tôn định thân trên tâm và định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai lại càng khinh an hơn, càng nhu nhuyến hơn, càng kham nhận hơn, càng chói sáng hơn.
7. Ví như một hòn sắt (hâm nóng) cả ngày, trở thành nhẹ nhàng hơn, nhu nhuyễn hơn, kham nhận hơn, chói sáng hơn. Cũng vậy, này Ananda, khi nào Thế Tôn định thân trên tâm hay định tâm trên thân; trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai lại càng khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, càng kham nhận hơn, càng chói sáng hơn.
8. Trong khi, này Ananda, Thế Tôn định thân trên tâm hay định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai không mệt nhọc, từ đất bay bổng lên hư không, và thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân hóa thành một thân… tự thân có thể bay đến Phạm thiên giới.
9. Ví như, này Ananda, hoa bông gòn hay hoa cỏ bông dại được gió thổi nhẹ, không mệt nhọc, từ đất bay bổng lên hư không. Cũng vậy, này Ananda, trong khi Thế Tôn định thân trên tâm, hay định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng, khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai không có gì mệt nhọc, có thể từ đất bay bổng lên và thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân… tự thân có thể bay đến Phạm thiên giới.
“Này các Tỷ kheo, có bốn cửa thần thông này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là bốn cửa thần thông. Bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, một Tỷ kheo chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm.”
1. …
2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn như ý túc này. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như túc câu hữu với dục định tinh cần hành… tinh tấn định… tâm định… tu tập như ý túc câu hữy với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc.
3. Nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
“Này các Tỷ kheo, có bốn cửa thần thông này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là bốn cửa thần thông.”
… (Giống như kinh trên 23) …
“Này các Tỷ kheo, có bốn cửa thần thông này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là bốn cửa thần thông. Nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, một trong hai kết quả có thể được mong đợi: giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn sót lại điều gì, sẽ đạt đến trạng thái bất lai (non-return / anāgāmitā / bất lai / trạng thái không còn quay trở lại cõi dục).”
1. …
2.− Này các Tỷ-kheo, có bốn như ý túc này. Thế nào là bốn?..
3. Tu tập, làm cho sung mãn bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là một trong hai quả: Ngay hiện tại được chánh trí, hay nếu có dư y, được quả Bất lai.
"Này các Tỷ kheo, có bốn cửa thần thông này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây là bốn cửa thần thông. Nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, bảy quả báo và lợi ích có thể được mong đợi.
Bảy điều đó là gì? Họ đạt được giác ngộ sớm ngay trong đời này. Nếu không, họ đạt được giác ngộ vào lúc lâm chung. Nếu không, với sự chấm dứt của năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / orambhāgiya-saṃyojana / hạ phần kiết sử / năm xiềng xích đầu tiên ràng buộc chúng sinh vào cõi dục), họ sẽ nhập diệt giữa kiếp này và kiếp sau… họ sẽ nhập diệt ngay khi tái sinh… họ sẽ nhập diệt mà không cần nỗ lực thêm… họ sẽ nhập diệt với nỗ lực thêm… họ sẽ đi ngược dòng, đến cõi Akaniṭṭha. Nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, bảy quả báo và lợi ích này có thể được mong đợi."
1. …
2.− Này các Tỷ-kheo, có bốn như ý túc này. Thế nào là bốn?..
3. Tu tập, làm cho sung mãn bốn như ý túc này, được chờ đợi bảy quả, bảy lợi ích. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?..
4. Ngay trong hiện tại, lập tức thành tựu chánh trí; nếu ngay trong hiện tại, không lập tức thành tựu chánh trí, thời khi mạng chung, thành tựu chánh trí; nếu khi mạng chung, không thành tựu chánh trí, thì sau khi diệt năm hạ phần kiết sử, được Trung gian Bát-niết-bàn, được Tổn hại Bát-niết-bàn, được Vô hành Niết-hàn, được Hữu hành Niết-bàn, được chứng thượng lưu, sanh Cứu cánh thiên.
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, thần thông là gì? Cửa thần thông là gì? Sự phát triển các cửa thần thông là gì? Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì?”
"Này Ānanda, hãy xét một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Đây được gọi là thần thông.
Và cửa thần thông là gì? Con đường và phương pháp thực hành dẫn đến việc đạt được thần thông. Đây được gọi là cửa thần thông.
Và sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây được gọi là sự phát triển các cửa thần thông.
Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó chính là con đường thánh thiện tám nhánh này, tức là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, định thiện (chánh kiến, chánh tư duy , chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây được gọi là phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến… ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, thế nào là như ý lực? Thế nào là như ý túc? Thế nào là sự tu tập như ý túc? Thế nào là con đường đưa đến tu tập như ý túc?
(Như trên chương II, kinh 19, từ đoạn số 2 đến đoạn số 6. Nguyên bản trang 276)
Đức Phật nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, thần thông là gì? Cửa thần thông là gì? Sự phát triển các cửa thần thông là gì? Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì?”
“Giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con…”
"Này Ānanda, hãy xét một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Đây được gọi là thần thông.
Và cửa thần thông là gì? Con đường và phương pháp thực hành dẫn đến việc đạt được thần thông. Đây được gọi là cửa thần thông.
Và sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây được gọi là sự phát triển các cửa thần thông.
Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó chính là con đường thánh thiện tám nhánh này, tức là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, định thiện (chánh kiến, chánh tư duy , chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây được gọi là phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông."
1. …
2. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, thế nào là như ý lực? Thế nào là như ý túc? Thế nào là tu tập như ý túc? Thế nào là con đường đưa đến tu tập như ý túc?
(Như trên chương II, kinh 19, từ đoạn số 3 đến đoạn số 6. Nguyên bản trang 276).
Bấy giờ, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và nói với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, thần thông là gì? Cửa thần thông là gì? Sự phát triển các cửa thần thông là gì? Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì?”
"Này các Tỷ kheo, hãy xét một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Đây được gọi là thần thông.
Và cửa thần thông là gì? Con đường và phương pháp thực hành dẫn đến việc đạt được thần thông. Đây được gọi là cửa thần thông.
Và sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây được gọi là sự phát triển các cửa thần thông.
Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó chính là con đường thánh thiện tám nhánh này, tức là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, định thiện (chánh kiến, chánh tư duy , chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây được gọi là phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông."
1. …
2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn… ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn, thế nào là như ý lực? Thế nào là như ý túc? Thế nào là tu tập như ý túc? Thế nào là con đường đưa đến tu tập như ý túc?
3-6. − Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập nhiều loại thần thông: Một thân trở thành nhiều thân… cho đến Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến như ý túc.
Bấy giờ, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật… Đức Phật nói với họ:
“Này các Tỷ kheo, thần thông là gì? Cửa thần thông là gì? Sự phát triển các cửa thần thông là gì? Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì?”
“Giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con…”
"Và thần thông là gì? Đó là một Tỷ kheo sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời. Đây được gọi là thần thông.
Và cửa thần thông là gì? Con đường và phương pháp thực hành dẫn đến việc đạt được thần thông. Đây được gọi là cửa thần thông.
Và sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Đây được gọi là sự phát triển các cửa thần thông.
Và phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông là gì? Đó chính là con đường thánh thiện tám nhánh này, tức là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, định thiện (chánh kiến, chánh tư duy , chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây được gọi là phương pháp thực hành dẫn đến sự phát triển các cửa thần thông."
(Như kinh trên 28 chỉ khác là ở đây chỉ cho nhiều Tỷ-kheo)
Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Các con nghĩ sao, các Tỷ kheo? Tỷ kheo Moggallāna đã phát triển và trau dồi những điều gì để có được sức mạnh và quyền năng như vậy?”
“Giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật. Ngài là người dẫn đường và là nơi nương tựa của chúng con…”
"Tỷ kheo Moggallāna đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Moggallāna phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’… Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng. Tỷ kheo Moggallāna đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này.
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Tỷ kheo Moggallāna sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời.
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Tỷ kheo Moggallāna chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
1. …
2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
3. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, tu tập, làm cho sung mãn những pháp nào, Tỷ-kheo Moggalàna có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
− Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
4. − Do tu tập, làm cho sung mãn bốn như ý túc, Tỷ-kheo Moggalàna có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy. Thế nào là bốn?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Moggalàna tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (nghĩ rằng): “Như vậy, dục của ta không quá yếu đuối… với tâm chói sáng, tu tập tâm”.
6-7. … tinh tấn định… tâm định…
8. … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành (nghĩ rằng): “Tư duy của ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài…”. Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.
9. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna có đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy.
10. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna thực hiện nhiều loại thần thông: Như một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân… tự thân có thể bay đến Phạm thiên giới.
11. Do tu tập, làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: “Các con nghĩ sao, các Tỷ kheo? Bậc Giác Ngộ đã phát triển và trau dồi những điều gì để có được sức mạnh và quyền năng như vậy?”
“Giáo lý của chúng con bắt nguồn từ Đức Phật…”
"Bậc Giác Ngộ đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông.
Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện và ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Ý nguyện của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Vị ấy phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi Định do Tinh tấn… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Vị ấy nghĩ: ‘Điều tra phân tích của ta sẽ không quá lỏng lẻo hay quá căng thẳng. Và nó sẽ không bị co cụm bên trong hay phân tán ra bên ngoài.’ Và vị ấy hành thiền với nhận thức trước và sau: trước nào, sau vậy; sau nào, trước vậy; dưới nào, trên vậy; trên nào, dưới vậy; ban ngày nào, ban đêm vậy; ban đêm nào, ban ngày vậy. Và như vậy, với một trái tim rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển một tâm trí tràn đầy ánh sáng.
Bậc Giác Ngộ đã trở nên mạnh mẽ và quyền năng như vậy nhờ phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này.
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Bậc Giác Ngộ sử dụng được nhiều loại thần thông: tự nhân bản và trở lại thành một… điều khiển cơ thể đến tận cõi trời.
Và bằng cách phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông này, Bậc Giác Ngộ chứng ngộ tâm giải thoát không ô nhiễm và tuệ giải thoát ngay trong đời này. Và Ngài sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của chính mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm."
(Sáu loại thắng tri nên được kể đầy đủ.)
1. …
2. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
(Giống như kinh 31. Chỉ khác, đây là Như Lai)
"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và xuôi về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông sẽ nghiêng, dốc, và xuôi về sự dập tắt.
Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bốn cửa thần thông lại nghiêng, dốc, và xuôi về sự dập tắt? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ.
Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và trau dồi bốn cửa thần thông sẽ nghiêng, dốc, và xuôi về sự dập tắt."
Sáu bài về xuôi về phía đông,
và sáu bài về xuôi ra biển;
hai lần sáu này là mười hai,
và đó là cách chương này được tụng.
(Kể đầy đủ như trong chương về tinh cần tại SN 45.139–148.)
Bậc Giác Ngộ, dấu chân, nóc nhà,
rễ cây, lõi gỗ, hoa nhài,
bậc quân vương, mặt trời và mặt trăng,
và tấm vải là bài thứ mười.
45 - 54.I-X. (S.v,291)
(Kể đầy đủ như trong chương về nỗ lực tại SN 45.149–160.)
Nỗ lực, hạt giống, và rồng,
một cái cây, một cái bình, và một cái cọc,
bầu không khí, và hai bài về mây,
một con tàu, một nhà khách, và một dòng sông.
55 - 66.I-XII. (S.v,291)
(Kể đầy đủ như trong chương về tìm kiếm tại SN 45.161–170.)
Tìm kiếm, phân biệt, ô nhiễm,
các trạng thái tồn tại, ba loại khổ đau,
sự cằn cỗi, vết nhơ, và phiền não,
cảm giác, tham ái, và khát khao.
67 - 76.I-X. (S.v,291)
"Này các Tỷ kheo, có năm thượng phần kiết sử (higher fetters / uddhambhāgiya-saṃyojana / thượng phần kiết sử / năm xiềng xích vi tế hơn ràng buộc chúng sinh vào các cõi sắc và vô sắc). Năm điều đó là gì? Ham muốn tái sinh vào cõi sắc giới, ham muốn tái sinh vào cõi vô sắc, ngã mạn, bồn chồn, và vô minh. Đây là năm thượng phần kiết sử.
Bốn cửa thần thông nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri / sự hiểu biết thông qua kinh nghiệm trực tiếp, không qua suy luận), hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri / sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn), chấm dứt, và từ bỏ năm thượng phần kiết sử này. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo phát triển cửa thần thông được thành tựu bởi định do ý nguyện… Nỗ lực… sự phát triển tâm… điều tra phân tích, và với ý chí bền bỉ. Bốn cửa thần thông này nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm thượng phần kiết sử này."
(Kể đầy đủ như trong Tương Ưng Kinh về Đạo tại SN 45.171–180.)
Cơn lũ (floods / ogha / bộc lưu / những ô nhiễm nhấn chìm chúng sinh trong luân hồi), ách trói buộc (yokes / yoga / ách / những thứ trói buộc chúng sinh vào khổ đau), bám giữ, sự trói buộc, và ngầm hướng về, các loại kích thích giác quan, Phiền nhiễu, các uẩn, và xiềng xích cao và thấp.
Tương Ưng Kinh về Các Cửa Thần Thông là phần thứ bảy.
77 - 85.I-IX. (S.v,292)
(Tất cả đoạn này giống các đoạn trước, chỉ khác, ở đây là tu tập bốn như ý túc).
-ooOoo-