Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Anuruddha đang ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Khi ấy, trong lúc Tôn giả Anuruddha đang độc cư, một ý nghĩ nảy lên trong tâm ngài:
“Ai bỏ lỡ bốn niệm xứ (the four kinds of mindfulness meditation / cattāro satipaṭṭhānā / tứ niệm xứ / bốn chủ đề để thực hành sự quan sát và ghi nhớ) này là đã bỏ lỡ con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ này là đã thực hành con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”
Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna biết được Tôn giả Anuruddha đang nghĩ gì. Dễ dàng như một người khỏe mạnh duỗi ra hay co lại cánh tay, ngài hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha và nói:
“Thưa Tôn giả Anuruddha, ngài định nghĩa việc thực hành bốn niệm xứ của một Tỷ kheo như thế nào?”
"Thưa Tôn giả, đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân bên trong với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy an trú quan sát thân bên ngoài với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy an trú quan sát thân cả bên trong và bên ngoài với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.
Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú nhận thức cái bất tịnh trong cái không bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy. Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú nhận thức cái không bất tịnh trong cái bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy. Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú nhận thức cái bất tịnh trong cái không bất tịnh và cái bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy. Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú nhận thức cái không bất tịnh trong cái bất tịnh và cái không bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy. Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú trong Xả (Equanimity / upekkhā / Quan sát về cảm giác thích, ghét, trung tính ở trên tâm), chánh niệm và tỉnh giác, loại bỏ cả cái bất tịnh và cái không bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy.
Vị ấy an trú quan sát cảm giác (feeling / vedanā / thọ) bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt…
Vị ấy an trú quan sát tâm bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt…
Vị ấy an trú quan sát pháp bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài với bản chất sinh khởi, với bản chất đoạn diệt, và với bản chất vừa sinh khởi vừa đoạn diệt…
Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú nhận thức cái bất tịnh trong cái không bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy. … Nếu vị ấy muốn: ‘Mong rằng tôi sẽ an trú trong Xả, chánh niệm và tỉnh giác, bỏ qua cả cái bất tịnh và cái không bất tịnh,’ vị ấy thực hành như vậy.
Đó là cách định nghĩa việc thực hành bốn niệm xứ của một Tỷ kheo."
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Anàthapindika.
2. Rồi Tôn giả Anuruddha trong khi độc cư Thiền tịnh, tâm tưởng suy tư sau đây được khởi lên: “Những ai thối thất bốn niệm xứ, cũng thối thất đối với họ là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Những ai thành tựu bốn niệm xứ thì cũng thực hiện được Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau”.
3. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna với tâm của mình biết được tâm của Tôn giả Anuruddha. Như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả Mahà Moggalàna hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha.
4. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Tôn giả Anuruddha:
− Cho đến như thế nào, này Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo thực hiện bốn niệm xứ?
5. − Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán tánh tập khởi trên nội thân… quán tánh đoạn diệt trên nội thân, quán tánh tập khởi, tánh đoạn diệt trên nội thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên ngoại thân… quán tánh đoạn diệt ngoại thân, quán tánh tập khởi, tánh đoạn diệt trên ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
7. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên nội ngoại thân… trú, quán tánh đoạn diệt trên nội ngoại thân… trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên nội ngoại thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
8. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với pháp không nhàm chán”; vị ấy trú ở đây với tưởng nhàm chán. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với pháp nhàm chán”; vị ấy trú ở đây với tưởng không nhàm chán. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và pháp nhàm chán”; vị ấy trú ở đây với tưởng nhàm chán. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với pháp nhàm chán và pháp không nhàm chán”; vị ấy trú ở đây với tưởng không nhàm chán. Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai, không nhàm chán và nhàm chán, ta sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”; vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm, tỉnh giác.
9. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các nội thọ. Vị ấy trú, quán tánh đoạn diệt trên các nội thọ. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các nội thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
10. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các ngoại thọ. Vị ấy trú, quán tánh đoạn diệt trên các ngoại thọ. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các ngoại thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
11. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các nội ngoại thọ. Vị ấy trú, quán tánh đoạn diệt trên các nội ngoại thọ. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các nội ngoại thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
12. Nếu vị ấy muốn…
13. … trên nội tâm…
14. … trên ngoại tâm…
15. … trên nội ngoại tâm…
16. Nếu vị ấy muốn…
17. … trên nội tâm…
18. … trên ngoại tâm…
19. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các nội ngoại pháp. Vị ấy trú, quán tánh đoạn diệt trên các nội ngoại pháp. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các nội ngoại pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
20. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với pháp không nhàm chán”; vị ấy trú ở đây với tưởng nhàm chán… Ở đây, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
21. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là Tỷ-kheo thực hiện bốn niệm xứ.
Tại Sāvatthī.
Khi ấy, trong lúc Tôn giả Anuruddha đang độc cư, một ý nghĩ nảy lên trong tâm ngài:
“Ai bỏ lỡ bốn niệm xứ này là đã bỏ lỡ con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ này là đã thực hành con đường cao quý dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”
Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna biết được Tôn giả Anuruddha đang nghĩ gì. Dễ dàng như một người khỏe mạnh duỗi ra hay co lại cánh tay, ngài hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha và nói:
“Thưa Tôn giả Anuruddha, ngài định nghĩa việc thực hành bốn niệm xứ của một Tỷ kheo như thế nào?”
"Thưa Tôn giả, đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân bên trong—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.
Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của cảm giác trên cảm giác bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài…
Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của tâm trên tâm bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài…
Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của pháp trên pháp bên trong… bên ngoài… cả bên trong và bên ngoài—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Đó là cách định nghĩa việc thực hành bốn niệm xứ của một Tỷ kheo."
1. Nhân duyên ở Sàvatthi.
2. Rồi Tôn giả Anuruddha, trong khi độc cư Thiền định, tâm tưởng, suy tư sau đây được khởi lên: “Những ai thối thất bốn niệm xứ, cũng thối thất đối với họ là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Những ai thành tựu bốn niệm xứ, cũng thành tựu đối với họ là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau”.
3. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna với tâm của mình biết tâm tư suy tưởng của Tôn giả Anuruddha. Như một nhà lực sĩ… hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha.
4. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna nói với Tôn giả Anuruddha:
− Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Anuruddha, là Tỷ-kheo thực hiện bốn niệm xứ?
5. − Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên nội thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán thân trên ngoại thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán thân trên nội ngoại thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
6. Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các nội thọ…
7. Tỷ-kheo trú, quán tâm trên nội tâm…
8. Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các nội pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các ngoại pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các nội ngoại pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
9. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là Tỷ-kheo thành tựu bốn niệm xứ.
Một thời Tôn giả Anuruddha đang ở gần Sāvatthī, bên bờ sông Sutanu. Khi ấy, một vài vị Tỷ kheo đến gặp Tôn giả Anuruddha và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên và nói với ngài:
“Tôn giả Anuruddha đã phát triển và tu tập những điều gì để đạt được sự hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri) vĩ đại?”
"Thưa các Tôn giả, tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Tôi an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi an trú quan sát một khía cạnh của cảm giác trên cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ này.
Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi đã trực tiếp biết cõi thấp là cõi thấp, cõi trung là cõi trung, và cõi cao là cõi cao."
1. Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, trên bờ sông Sutanu.
2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Anuruddha:
− Tôn giả Anuruddha tu tập, làm cho sung mãn những pháp nào đạt được đại thắng trí?
4. − Thưa các Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ nên tôi đạt được đại thắng trí. Ở đây, này chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này chư Hiền, chính do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi được đại thắng trí.
5. Và thưa chư Hiền, chính do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng tri liệt pháp là liệt pháp, trung pháp là trung pháp, thắng pháp là thắng pháp.
Một thời, các Tôn giả Anuruddha, Sāriputta, và Mahāmoggallāna đang ở gần Sāketa, trong Rừng Gai. Chiều hôm đó, Tôn giả Sāriputta và Mahāmoggallāna ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Anuruddha và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:
“Thưa Tôn giả Anuruddha, một vị Tỷ kheo hữu học nên nhập và an trú vào những điều gì?”
“Thưa Tôn giả Sāriputta, một vị Tỷ kheo hữu học nên nhập và an trú vào bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của cảm giác trên cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Một vị Tỷ kheo hữu học nên nhập và an trú vào bốn niệm xứ này.”
1. Một thời Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàketa, tại rừng Kantakii.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggalàna, vào buổi chiều, từ độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
3. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta thưa với Tôn giả Anuruddha:
− Thưa Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?
− Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán tâm trên tâm… Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ này, phải an trú pháp ấy.
Tại Sāketa. Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:
“Thưa Tôn giả Anuruddha, một vị Tỷ kheo đã là bậc vô học nên nhập và an trú vào những điều gì?”
“Thưa Tôn giả Sāriputta, một vị Tỷ kheo đã là bậc vô học nên nhập và an trú vào bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Vị ấy an trú quan sát một khía cạnh của cảm giác trên cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Một vị Tỷ kheo đã là bậc vô học nên nhập và an trú vào bốn niệm xứ này.”
1-2. Nhân duyên ở Sàketa… Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Anuruddha:
3. − Thưa Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?
− Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ này, phải an trú pháp ấy.
Tại Sāketa. Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:
“Tôn giả Anuruddha đã phát triển và tu tập những điều gì để đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại?”
"Thưa Tôn giả, tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Tôi an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi an trú quan sát một khía cạnh của cảm giác trên cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ này.
Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi trực tiếp biết được hệ một ngàn thiên hà."
1-2. Tại Sàketa, ngồi xuống một bên, vị ấy nói như sau:
3. − Tôn giả Anuruddha do tu tập, làm cho sung mãn những pháp gì, đã đạt được đại thắng trí?
− Thưa Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ, tôi chứng đạt được đại thắng trí. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền giả, tôi trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng đạt đại thắng trí.
5. Thưa Hiền giả, do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi thắng tri được một ngàn thế giới.
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Tôn giả Anuruddha nói với các vị Tỷ kheo: “Này các Tôn giả, các Tỷ kheo!”
“Thưa Tôn giả,” họ đáp. Tôn giả Anuruddha nói:
“Này các Tôn giả, khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chấm dứt ái dục. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân… cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chấm dứt ái dục.”
1. Nhân duyên ở Sàvatthi…
2. Tại đây, Tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo:
3. − Bốn niệm xứ này, thưa chư Hiền, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận khát ái. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa chư Hiền, bốn niệm xứ này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận khát ái.
Một thời Tôn giả Anuruddha đang ở gần Sāvatthī, trong cốc cây trầm hương. Tại đó, Tôn giả Anuruddha nói với các vị Tỷ kheo: “Này các Tôn giả, giả sử sông Hằng chảy nghiêng, dốc và xuôi về phía đông, rồi một đám đông lớn mang theo cuốc và thúng đến, nói rằng: ‘Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này chảy nghiêng, dốc và xuôi về phía tây!’ Các Tôn giả nghĩ sao? Liệu họ có thành công không?”
“Thưa không, Tôn giả. Tại sao vậy? Sông Hằng vốn chảy nghiêng, dốc và xuôi về phía đông. Không dễ gì làm cho nó chảy nghiêng, dốc và xuôi về phía tây. Đám đông lớn đó cuối cùng sẽ mệt mỏi và nản lòng.”
"Cũng vậy, khi một Tỷ kheo đang phát triển và tu tập bốn niệm xứ, nếu các vị vua chúa hay đại thần, bạn bè hay đồng nghiệp, bà con hay gia đình mời gọi vị ấy nhận lấy của cải, nói rằng: ‘Này người đáng kính, sao lại để những tấm y vàng này làm khổ ông? Sao lại theo hạnh cạo đầu và mang bình bát? Hãy trở về đời sống thấp hơn, hưởng thụ của cải và tạo công đức!’
Hoàn toàn không thể có chuyện một Tỷ kheo đang phát triển và tu tập bốn niệm xứ lại từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn. Tại sao vậy? Bởi vì từ lâu, tâm của vị Tỷ kheo đó đã nghiêng, dốc và xuôi về sự viễn ly. Vì vậy, không thể nào vị ấy trở về đời sống thấp hơn được.
Và một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ như thế nào? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân… cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ."
1. Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại nhà làm bằng cây sàla.
2. Tại đây, Tôn giả Anuruddha gọi các Tỷ-kheo… nói như sau:
3. − Ví như, này chư Hiền, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương
Ðông. Rồi một số đông quần chúng đến, cầm cuốc, thúng và nói: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây”. Thưa chư Hiền, chư Hiền nghĩ thế nào, số đông quần chúng này có thể làm cho sông Hằng thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây không?
− Thưa không, Hiền giả. Vì sao? Thưa Hiền giả, vì sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông, không dễ gì khiến cho thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây được. Và quần chúng ấy chỉ mệt nhọc và tổn não mà thôi.
4. − Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ. Dầu cho vua chúa, hay đại thần, hay thân hữu, hay bạn bè, hay bà con huyết thống có thể đến dâng các tài vật và mời: “Hãy đến, này Người tốt kia, sao để các áo vàng này hành hạ Ông? Sao lại đi biểu diễn với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng các tài vật và làm các phước đức!”; Tỷ-kheo ấy, thưa chư Hiền, được tu tập bốn niệm xứ, được làm cho sung mãn bốn niệm xứ, có thể từ bỏ giới trở lui hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì này chư Hiền, tâm người ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, lại trở lại hoàn tục, sự kiện như vậy không xảy ra.
5. Và này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ.
Một thời, các Tôn giả Anuruddha và Sāriputta đang ở gần Vesālī, trong Vườn Xoài của Ambapālī. Chiều hôm đó, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi độc cư, đến gặp Tôn giả Anuruddha và nói:
“Thưa Tôn giả Anuruddha, các giác quan của ngài thật trong sáng, và sắc diện của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Dạo này ngài thường thực hành loại thiền định nào?”
“Thưa Tôn giả, dạo này tôi thường an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Tôi an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân… cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Dạo này tôi thường an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ này. Một Tỷ kheo đã hoàn thiện—đã chấm dứt các ô nhiễm, đã hoàn thành hành trình tâm linh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu chân chính của mình, đã hoàn toàn chấm dứt xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) của sự tồn tại tiếp diễn, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ—thường an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ này.”
“Chúng tôi thật may mắn, thưa Tôn giả, thật vô cùng may mắn, khi được nghe một lời tuyên bố hùng hồn như vậy trước sự hiện diện của Tôn giả Anuruddha.”
1. Một thời Tôn giả Anuruddha và Tôn giả Sàriputta trú ở Vesàli, tại rừng Ambapàla.
2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy…
3. Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta thưa với Tôn giả Anuruddha:
− Thưa Hiền giả Anuruddha, các căn của Hiền giả trong sáng, thanh tịnh, sắc mặt được sáng suốt. Tôn giả Anuruddha nay trú nhiều sự an trú gì?
− Thưa Hiền giả, nay tôi an trú nhiều với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, thưa Hiền giả, tôi trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả nay tôi an trú nhiều với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ.
5. Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục đích đã đạt tới, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí, giải thoát; vị ấy an trú nhiều với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ này.
6. − Thật lợi ích cho chúng tôi, thưa Hiền giả! Thật khéo lợi ích cho chúng tôi, thưa Hiền giả! Chúng tôi đối mặt với Tôn giả Anuruddha, đã được nghe tiếng nói như ngưu vương.
Một thời Tôn giả Anuruddha đang ở gần Sāvatthī, trong Rừng Tối. Và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Khi ấy, một vài vị Tỷ kheo đến gặp Tôn giả Anuruddha và nói với ngài:
“Tôn giả Anuruddha thực hành thiền định nào để những cơn đau thể xác không chiếm lĩnh được tâm trí ngài?”
“Thưa các Tôn giả, tôi an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ để những cơn đau thể xác không chiếm lĩnh được tâm trí tôi. Bốn điều đó là gì? Tôi an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân… cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ này để những cơn đau thể xác không chiếm lĩnh được tâm trí tôi.”
1. Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại rừng Andha, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
2. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha và nói với Tôn giả Anuruddha:
− Tôn giả Anuruddha an trú với sự an trú gì, khiến cho khổ thọ về thân khởi lên, lại không có ảnh hưởng gì đến tâm?
− Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng gì đến tâm. Thế nào là bốn?
3. Ở đây, thưa chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa chư Hiền, do tôi trú với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, nên các khổ thọ về thân khởi lên không có ảnh hưởng đến tâm.
Một thời Tôn giả Anuruddha đang ở gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Khi ấy, một vài vị Tỷ kheo đến gặp Tôn giả Anuruddha, chào hỏi ngài… và nói:
“Tôn giả Anuruddha đã phát triển và tu tập những điều gì để đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại?”
"Thưa các Tôn giả, tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ. Bốn điều đó là gì? Tôi an trú quan sát một khía cạnh của thân trên thân… cảm giác… tâm… pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Tôi đã đạt được sự hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ này.
Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi nhớ lại được một ngàn kiếp."
1. Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, trong khu vườn ông Anàthapindika.
2-3. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm… nói với Tôn giả Anuruddha:
− Do tu tập, do làm cho sung mãn những pháp gì, Tôn giả Anuruddha đạt được đại thắng trí?
− Thưa chư Hiền, do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ, nên tôi chứng được đại thắng trí. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, thưa chư Hiền, nên tôi nhớ được ngàn kiếp.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi vận dụng được nhiều loại năng lực thần thông: tự nhân bản thân mình rồi trở lại thành một… điều khiển thân thể cho đến tận cõi Phạm thiên.”
5. − Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân… có thể tự thân bay đến Phạm thiên giới.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà, với thiên nhĩ thông thanh tịnh và siêu phàm, tôi nghe được cả hai loại âm thanh, của người và của trời, dù ở gần hay xa.”
5. − Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng được thiên nhĩ thông, thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe được hai thứ tiếng, chư Thiên và loài Người, hoặc xa hoặc gần.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi hiểu được tâm trí của các chúng sanh và cá nhân khác, sau khi đã thấu hiểu chúng bằng tâm trí của mình. Tôi hiểu tâm có tham là ‘tâm có tham’… Tôi hiểu tâm chưa giải thoát là ‘tâm chưa giải thoát’.”
5. − Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ, tôi với tâm của mình biết được tâm của nhiều loại hữu tình khác, nhiều loại người khác. Với tâm có tham, tôi rõ biết là tâm có tham… với tâm giải thoát, rõ biết là tâm giải thoát.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu điều có thể là có thể và điều không thể là không thể.”
5. − Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thực rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu kết quả của các hành động đã làm trong quá khứ, tương lai và hiện tại về mặt cơ sở và nguyên nhân.”
− Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết quả dị thục các nghiệp báo (kammasamadanam) quá khứ, vị lai, hiện tại tùy thuộc sở do (thànati) và tùy thuộc về thân (hetaso).
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu nơi mọi con đường thực hành dẫn đến.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết con đường đưa đến tất cả cảnh giới.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu thế giới với nhiều yếu tố đa dạng của nó.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại sai biệt.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu các niềm tin đa dạng của chúng sanh.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết chỉ hướng sai biệt của các loại hữu tình.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu các giác quan của các chúng sanh khác và các cá nhân khác sau khi đã thấu hiểu chúng bằng tâm trí của mình.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết các căn thượng hạ (indriyaparopariyattim) của các loại hữu tình và các loại người.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi thực sự hiểu sự ô nhiễm, sự thanh lọc, và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền, các sự giải thoát, các trạng thái định, và các sự chứng đắc.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền chứng, về Thiền, về Giải thoát, về Ðịnh.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi nhớ được nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời… nhiều đời sống quá khứ cùng các nét đại cương và các chi tiết.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà, với thiên nhãn thông thanh tịnh và siêu phàm, tôi hiểu được chúng sanh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng được thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh.
“… Và chính nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi đã chứng ngộ sự giải thoát tâm và giải thoát bằng trí tuệ không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và tôi sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó bằng tuệ giác của mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm.”
5. − Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí, tôi chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
-ooOoo-