Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Tương Ưng về Nhập Lưu

55. TƯƠNG ƯNG DỰ LƯU

Phẩm Cổng Trúc Lâm

SN 55.1 Một Vị Vua Chuyển Luân Cakkavattirājasutta

Tại Sāvatthī.

Tại đó, Đức Phật… đã nói:

"Này các Tỷ kheo, giả sử một vua chuyển luân (wheel-turning monarch / cakkavatti-rāja) cai trị như một chúa tể tối cao trên bốn châu lục này. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, vị ấy được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời, làm bạn với các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Ở đó, vị ấy vui chơi trong Vườn Hoan Hỷ, được một đoàn tiên nữ hộ tống, và được cung cấp đầy đủ năm loại kích thích dục lạc của cõi trời. Tuy nhiên, vì thiếu bốn điều, vị ấy vẫn không thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Vị ấy không thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Bây giờ, giả sử một thánh đệ tử (noble disciple / ariya-sāvaka / một người đã chứng ngộ ít nhất là tầng thánh đầu tiên, Nhập Lưu) mặc y phấn tảo và sống bằng thức ăn khất thực vụn vặt. Tuy nhiên, vì có bốn điều, vị ấy thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ. Vị ấy thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động (experiential confidence / aveccappasāda / niềm tin không lay chuyển, dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm trực tiếp, không phải đức tin mù quáng) vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’

Vị ấy có niềm tin bất động vào giáo pháp: ‘Giáo pháp được Đức Phật khéo giảng dạy—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí có thể tự mình biết được.’

Vị ấy có niềm tin bất động vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, chân thật, có hệ thống và đúng đắn. Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi, tám cá nhân. Đây là Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật xứng đáng được cúng dường cho chư thiên, xứng đáng được hiếu khách, xứng đáng được dâng tặng phẩm vật tôn giáo, xứng đáng được chắp tay chào kính, và là ruộng phước tối cao cho thế gian.’

Hơn nữa, giới đức (ethical conduct / sīla / hành vi đạo đức) của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định (Immersion / samādhi / Trạng thái tâm tụ trên một điểm).

Đây là bốn phẩm chất mà vị ấy có.

Và, này các Tỷ kheo, việc có được bốn châu lục này không đáng một phần mười sáu của việc có được bốn điều này."

I. Phẩm Veludvàra

1. I. Vua (S.v,342)

1-2. S àvatthi. Ở đấy… nói như sau:

3. − Dầu cho, này các Tỷ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

4. Nhưng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

6. Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.

7. Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời”.

8. Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

9. Vị ấy thành tựu bốn pháp này.

10. Và này các Tỷ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.

SN 55.2 Đỉnh Cao Của Đời Sống Phạm Hạnh Brahmacariyogadhasutta

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu (stream-enterer / sotāpanna / người đã bước vào dòng chảy giác ngộ, đã đoạn trừ ba xiềng xích đầu tiên và chắc chắn sẽ đạt Niết-bàn), không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ (awakening / bodhi / sự tỉnh thức hoàn toàn, sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của thực tại).

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Những ai có đức tin và giới hạnh,
Lòng tin vững chắc, và thấy được chân lý,
Theo thời gian sẽ đạt đến hạnh phúc,
Đỉnh cao của đời sống phạm hạnh.”

2. II. Thể Nhập (S.v,343)

1-2. …

3. − Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không có thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”.

5-6. Ðối với Pháp… Ðối với Tăng…

7. Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

8. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

9. Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai có tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Ðến thời chúng chín muồi,
Nhập Phạm hạnh, được lạc.

SN 55.3 Cùng Với Dīghāvu Dīghāvuupāsakasutta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn.

Lúc bấy giờ, cư sĩ tại gia Dīghāvu đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông nói với cha mình, gia chủ Jotika: “Thưa gia chủ, xin hãy đến gặp Đức Phật, và nhân danh con, cúi đầu lạy dưới chân Ngài. Hãy thưa với Ngài rằng: ‘Bạch Thế Tôn, cư sĩ tại gia Dīghāvu đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Ông ấy cúi đầu lạy dưới chân Ngài.’ Và sau đó hãy nói: ‘Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy đến thăm nhà ông ấy vì lòng từ bi.’”

“Vâng, con thân mến,” Jotika trả lời. Ông đã làm theo lời Dīghāvu yêu cầu. Đức Phật im lặng chấp thuận.

Sau đó, vào buổi sáng, Đức Phật mặc y, mang bát và y, đến nhà của cư sĩ tại gia Dīghāvu, ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn, và nói với ông: “Ta hy vọng con vẫn khỏe, Dīghāvu; ta hy vọng con vẫn ổn. Ta hy vọng cơn đau của con đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm bớt của nó là rõ ràng, chứ không phải sự tăng lên.”

“Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không qua được. Cơn đau thật khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm đi.”

“Vậy thì, Dīghāvu, con nên tu tập như thế này: ‘Ta sẽ có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và ta sẽ có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.’ Đó là cách con nên tu tập.”

“Bạch Thế Tôn, bốn yếu tố của sự nhập lưu này do Đức Phật giảng dạy đều có trong con, và con thể hiện chúng. Vì con có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và con có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.”

“Trong trường hợp đó, Dīghāvu, dựa trên bốn yếu tố của sự nhập lưu này, con nên phát triển thêm sáu điều này, là những điều thuộc về sự chứng ngộ. Con nên thiền quán sát sự vô thường của mọi điều kiện (all conditions / sabbe saṅkhārā / tất cả các hiện tượng được tạo tác, do duyên hợp mà thành), nhận thức khổ trong vô thường, nhận thức vô ngã trong khổ, nhận thức sự từ bỏ, nhận thức sự phai nhạt, và nhận thức sự chấm dứt. Đó là cách con nên tu tập.”

"Sáu điều thuộc về sự chứng ngộ này do Đức Phật giảng dạy đều có trong con, và con thể hiện chúng. Vì con thiền quán sát sự vô thường của mọi điều kiện, nhận thức khổ trong vô thường, nhận thức vô ngã trong khổ, nhận thức sự từ bỏ, nhận thức sự phai nhạt, và nhận thức sự chấm dứt.

Nhưng bạch Thế Tôn, con vẫn nghĩ: ‘Con hy vọng Jotika sẽ không phải chịu đau khổ khi con ra đi.’" Jotika nói: “Dīghāvu thân mến, đừng tập trung vào điều đó. Nào, Dīghāvu thân mến, con nên tập trung chú ý vào những gì Đức Phật đang nói.”

Khi Đức Phật đã đưa ra lời khuyên này, Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, Dīghāvu qua đời. Sau đó, một vài Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, cư sĩ tại gia tên Dīghāvu, người đã được Đức Phật khuyên dạy ngắn gọn, đã qua đời. Ông ấy đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau?”

“Này các Tỷ kheo, cư sĩ tại gia Dīghāvu là người sáng suốt. Ông đã thực hành theo đúng giáo pháp, và không làm phiền ta về giáo pháp. Với sự chấm dứt của năm xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) thấp hơn, ông đã được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa.”

3. III. Dìghàvu (S.v,344)

1. Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Lúc bấy giờ, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3. Rồi cư sĩ Dìghàvu thưa với cha là Jotika:

− Hãy đi, thưa Cha, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Cư sĩ Dìghàvu, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn”. Rồi Cha hãy thưa như sau: “Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến nhà cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!”

− Ðược, này Con.

Gia chủ Jotika nghe lời cư sĩ Dìghàvu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

4. Ngồi một bên, gia chủ Jotika bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa như sau: “Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!”

Thế Tôn im lặng nhận lời.

5. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống rồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Dìghàvu:

− Này Dìghàvu, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không tăng trưởng?

− Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Ðau đớn kịch liệt nơi con không có giảm thiểu, chúng tăng trưởng. Chúng có dấu hiệu tăng trưởng, không có dấu hiệu giảm thiểu.

6. − Do vậy, này Dìghàvu, Ông hãy học tập như sau: “Ta sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là Như Lai,Ứng Cúng… Phật, Thế Tôn. Ðối với Pháp… Ðối với chúng Tăng… Tôi sẽ thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định”". Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập.

7. − Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai,Ứng Cúng… Phật, Thế Tôn… Ðối với Pháp… đối với chúng Tăng… Tôi thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định”.

− Do vậy, này Dìghàvu, sau khi Ông đã an trú trong bốn Dự lưu phần này, Ông hãy tu tập thêm sáu minh phần pháp (chavijjà-bhàgiye dhamme).

8. Ở đây, này Dìghàvu, Ông hãy trú, quán vô thường trong tất cả hành, quán khổ tưởng trong vô thường, quán vô ngã tưởng trong khổ, quán tưởng đoạn tận, quán tưởng ly tham, quán tưởng đoạn diệt. Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập.

− Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con trú, quán vô thường trong tất cả hành, quán khổ tưởng trong vô thường, quán vô ngã tưởng trong khổ, quán tưởng đoạn tận, quán tưởng ly tham, quán tưởng đoạn diệt.

9. Nhưng, bạch Thế Tôn, con có ý nghĩ sau đây: “Ta không có muốn gia chủ Jotika, ở đây khi ta chết phải rơi vào khốn khổ (vighàta)”.

− Này Dìghàvu, chớ có tác ý như vậy! Hãy nhìn, này Dighàvu! Những gì Thế Tôn đang nói cho con, con hãy khéo tác ý.

10. Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới cho cư sĩ Dìghàvu với lời giáo giới, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

11. Cư sĩ Dìghàvu, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu liền mệnh chung.

12. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, người cư sĩ tên là Dìghàvu; sau khi được nghe Thế Tôn giáo giới một cách tóm tắt, đã mệnh chung. Sanh thú cư sĩ ấy thế nào? Sanh xứ cư sĩ ấy chỗ nào?

− Hiền minh, này các Tỷ-kheo, là cư sĩ Dìghàvu! Cư sĩ Dìghàvu thực hiện các pháp và tùy pháp, không làm phiền nhiều Ta với những kiện tụng về pháp.

13. Cư sĩ Dìghàvu, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh nhập diệt ở tại đấy, không còn trở lui thế giới này nữa.

SN 55.4 Cùng Với Sāriputta (Thứ Nhất) Paṭhamasāriputtasutta

Một thời, Tôn giả Sāriputta đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Sau đó, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Ānanda ra khỏi nơi ẩn tu… và nói với Sāriputta:

“Thưa Tôn giả, người ta phải sở hữu bao nhiêu điều để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ?”

"Thưa Tôn giả, người ta phải sở hữu bốn điều để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Người ta phải sở hữu bốn điều này để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ."

4. IV. Sàriputta (1) (S.v,346)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ananda trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika.

2. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy… ngồi xuống một bên, Tôn giả

Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:

3. − Thưa Hiền giả Sàriputta, do nhân thành tựu bao nhiêu pháp, chúng sanh ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?

− Này Hiền giả, do nhân thành tựu bốn pháp nên chúng sanh ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc sẽ chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4. Ở đây, này Hiền giả, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… đầy đủ các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

5. Này Hiền giả, do nhân thành tựu bốn pháp này nên các chúng sanh ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 55.5 Cùng Với Sāriputta (Thứ Hai) Dutiyasāriputtasutta

Sau đó, Sāriputta đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

“Sāriputta, người ta nói về ‘yếu tố của sự nhập lưu’. Yếu tố của sự nhập lưu là gì?”

“Bạch Thế Tôn, các yếu tố của sự nhập lưu là kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ (rational application of mind / yoniso manasikāra / như lý tác ý / sự chú tâm đúng đắn, truy xét vấn đề từ nguồn gốc), và thực hành đúng theo pháp.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì các yếu tố của sự nhập lưu là kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ, và thực hành đúng theo pháp.

Sāriputta, người ta nói về ‘dòng chảy’. Dòng chảy là gì?"

“Bạch Thế Tôn, dòng chảy đơn giản là con đường tám nhánh cao quý này, đó là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, và định thiện.”

"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì dòng chảy đơn giản là con đường tám nhánh cao quý này, đó là: tầm nhìn thiện, suy nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện, nghề nghiệp thiện, sự nỗ lực thiện, niệm thiện, và định thiện.

Sāriputta, người ta nói về ‘một người nhập lưu’. Một người nhập lưu là gì?"

“Bạch Thế Tôn, bất kỳ ai sở hữu con đường tám nhánh cao quý này đều được gọi là một người nhập lưu, vị tôn giả có tên và dòng họ như thế này, như thế kia.”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vì bất kỳ ai sở hữu con đường tám nhánh cao quý này đều được gọi là một người nhập lưu, vị tôn giả có tên và dòng họ như thế này, như thế kia.”

5. V. Sàriputta (2) (S.v,347)

1. …

2. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi một bên:

3. − “Dự lưu phần, dự lưu phần”, này Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Sàriputta, thế nào là Dự lưu phần?

− Thân cận bậc Chân nhân, bạch Thế Tôn, là Dự lưu phần. Nghe diệu pháp là Dự lưu phần. Như lý tác ý là Dự lưu phần. Thực hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần.

− Lành thay, này Sàriputta! Lành thay, này Sàriputta! Thân cận bậc Chân nhân là Dự lưu phần… thực hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần.

4. “Dòng sông, dòng sông”, này Sàriputta, được nói đến như vậy. Này Sàriputta, thế nào là dòng sông?

− Bạch Thế Tôn, đây là dòng sông Thánh đạo Tám ngành. Tức là chánh tri kiến… chánh định.

− Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, đây là dòng sông Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

5. “Dự lưu, Dự lưu”, này Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Sàriputta, thế nào là Dự lưu?

− Bạch Thế Tôn, ai thành tựu Thánh đạo Tám ngành này, người ấy gọi là Dự lưu, vị Tôn giả với tên như vậy, với họ như vậy.

− Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, ai thành tựu Thánh đạo Tám ngành này, người ấy được gọi là bậc Dự lưu, vị Tôn giả với tên như thế này, với họ như thế này.

SN 55.6 Các Quan Hầu Cận Thapatisutta

Tại Sāvatthī. Vào thời điểm đó, một vài Tỷ kheo đang may y cho Đức Phật, nghĩ rằng khi y của Ngài hoàn thành và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành. Lúc bấy giờ, các quan hầu cận Isidatta và Purāṇa đang ở Sādhuka vì một số công việc. Họ nghe được tin này.

Vì vậy, họ cử một người đứng bên đường, dặn rằng:

“Này anh bạn tốt, hãy cho chúng tôi biết khi nào anh thấy Đức Thế Tôn đến, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.” Và người đó đã đứng đó hai ba ngày trước khi thấy Đức Phật từ xa đi tới. Khi thấy Ngài, anh ta đến gặp các quan hầu cận và nói:

“Thưa các ngài, Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đang đến. Xin các ngài hãy đến khi thuận tiện.”

Sau đó, các quan hầu cận đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và đi theo sau Ngài. Và rồi Đức Phật rời khỏi con đường, đi đến gốc một cây nào đó, và ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn. Các vị chủ thợ xây dựng Isidatta và Purāṇa cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, khi chúng con nghe rằng Ngài sẽ khởi hành từ Sāvatthī để du hành đến các vùng đất Kosala, chúng con buồn bã và khó chịu, nghĩ rằng Ngài sẽ ở xa chúng con. Và khi chúng con nghe rằng Ngài đang khởi hành từ Sāvatthī để du hành đến các vùng đất Kosala, chúng con buồn bã và khó chịu, nghĩ rằng Ngài đang ở xa chúng con.

Và khi chúng con nghe rằng Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Kosala để du hành đến các vùng đất Malla, chúng con buồn bã và khó chịu, nghĩ rằng Ngài sẽ ở xa chúng con. Và khi chúng con nghe rằng Ngài đang khởi hành từ các vùng đất Kosala để du hành đến các vùng đất Malla, chúng con buồn bã và khó chịu, nghĩ rằng Ngài đang ở xa chúng con.

Và khi chúng con nghe rằng Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Malla để du hành đến các vùng đất Vajji…

Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Vajji để du hành đến các vùng đất Kāsi…

Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Kāsi để du hành đến các vùng đất Magadha…

Ngài đang khởi hành từ các vùng đất Kāsi để du hành đến các vùng đất Magadha, chúng con buồn bã và khó chịu, nghĩ rằng Ngài đang ở xa chúng con.

Nhưng khi chúng con nghe rằng Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Magadha để du hành đến các vùng đất Kāsi, chúng con vui mừng và hoan hỷ, nghĩ rằng Ngài sẽ ở gần chúng con. Và khi chúng con nghe rằng Ngài đang khởi hành từ các vùng đất Magadha để du hành đến các vùng đất Kāsi…

Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Kāsi để du hành đến các vùng đất Vajji…

Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Vajji để du hành đến các vùng đất Malla…

Ngài sẽ khởi hành từ các vùng đất Malla để du hành đến các vùng đất Kosala…

Ngài sẽ khởi hành trong các vùng đất Kosala để du hành đến Sāvatthī, chúng con vui mừng và hoan hỷ, nghĩ rằng Ngài sẽ ở gần chúng con.

Và khi chúng con nghe rằng Ngài đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika, chúng con có không ít niềm vui và hoan hỷ, nghĩ rằng Ngài đang ở gần chúng con."

“Vậy thì, các quan hầu cận, cuộc sống tại gia chật chội và bụi bặm, cuộc sống xuất gia rộng mở. Chỉ cần bấy nhiêu thôi cũng đủ để tinh tấn.”

“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, có một điều còn chật chội hơn thế nữa, và được xem là như vậy.”

“Điều đó là gì?”

“Bạch Thế Tôn, đó là khi Vua Pasenadi của Kosala muốn đi thăm một công viên. Chúng con phải thắng yên và chuẩn bị các con voi hoàng gia của ngài. Sau đó, chúng con phải xếp chỗ cho các bà vợ thân yêu và quý mến của ngài ngồi trên voi, một người ở phía trước chúng con, và một người ở phía sau. Mùi hương của các bà chị ấy giống như một hộp nước hoa mới mở; đó là mùi của các phu nhân hoàng gia khi trang điểm. Sự tiếp xúc của các bà chị ấy giống như một búi bông gòn hay bông gạo; đó là sự thanh tú của các phu nhân hoàng gia. Lúc đó, chúng con phải chăm sóc các con voi, các bà chị, và chính bản thân mình. Nhưng chúng con không nhớ đã có một ý nghĩ xấu nào về các bà chị ấy. Đây là điều còn chật chội hơn thế nữa, và được xem là như vậy.”

"Vậy thì, các quan hầu cận, cuộc sống tại gia chật chội và bụi bặm, cuộc sống xuất gia rộng mở. Chỉ cần bấy nhiêu thôi cũng đủ để tinh tấn. Một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt (stinginess / macchariya / sự bủn xỉn, không muốn chia sẻ), rộng lòng bố thí, hào phóng, thích buông xả, cam kết làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Và các ông có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và bất cứ thứ gì trong gia đình các ông có thể cho đi, các ông đều chia sẻ tất cả với những người có đạo đức, có phẩm hạnh tốt.

Các ông nghĩ sao, các quan hầu cận? Có bao nhiêu người trong xứ Kosala có thể sánh bằng các ông về việc cho đi và chia sẻ?"

“Chúng con thật may mắn, bạch Thế Tôn, thật vô cùng may mắn, khi Đức Phật hiểu chúng con như thế này.”

6. VI. Các Người Thợ Mộc (Thapataye) (S.v,348)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Khi y xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành”.

3. Lúc bấy giờ, Isidatta và Puràna, hai người thợ mộc trú ở Sàdhuka vì một vài công việc phải làm. Hai người thợ mộc Isidatta và Puràna nghe rằng nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi, du hành.

4. Rồi hai thợ mộc Isidatta và Puràna đặt một người đứng ở giữa đường và dặn:

− Này Ông, khi nào Ông thấy Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đi đến, hãy báo tin cho chúng tôi biết.

5. Sau khi đứng hai, ba ngày, người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền đi đến hai người thợ mộc Isidatta và Puràna và nói với họ:

− Thưa Quý vị, bậc Thế Tôn ấy đã đến, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Nay là thời Quý vị nghĩ phải làm gì.

6. Rồi hai người thợ mộc Isidatta và Puràna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đi theo sau lưng Thế Tôn.

7. Rồi Thế Tôn đi xuống đường, đến một gốc cây; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Isidatta và Puràna đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hai người thợ mộc Isidatta và Puràna bạch Thế Tôn:

8. − Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi Sàvatthi để du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn, (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã đi khỏi Sàvatthi, đang du hành giữa dân chúng Kosala”; khi ấy, chúng con không được hoan hỷ, có sự ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.

9. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ đi khỏi dân chúng Kosala để du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kosala, và đang du hành giữa dân chúng Malla”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.

10. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Malla để du hành giữa dân chúng Vajji”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”; Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Malla, và đang du hành giữa dân chúng Vajji”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.

11. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Vajji để du hành giữa dân chúng Kàsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Vajji, và đang du hành giữa dân chúng Kàsi”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.

12. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kàsi để du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở xa chúng ta”. Và khi, bạch Thế Tôn, chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Kàsi, và đang du hành giữa dân chúng Magadha”; khi ấy, chúng con không hoan hỷ, có ưu buồn (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở xa chúng ta”.

13. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Magadha để du hành giữa dân chúng Kàsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn đã ra đi khỏi dân chúng Magadha và đang du hành ở Kàsi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.

14. … “khỏi dân chúng Kàsi để du hành ở giữa dân chúng Vajji…”.

15. … “khỏi dân chúng Vajji để du hành ở giữa dân chúng Malla…”.

16. … “khỏi dân chúng Malla để du hành ở giữa dân chúng Kosala…”.

17. Bạch Thế Tôn, khi chúng con được nghe: “Thế Tôn sẽ ra đi khỏi dân chúng Kosala, để du hành giữa dân chúng Sàvatthi”; khi ấy, chúng con được vui vẻ, có sự hoan hỷ, (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ ở gần chúng ta”. Khi chúng con được nghe: “Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Thắng Lâm, khu vườn ông Anàthapindika”; khi ấy vô lượng là sự vui vẻ của chúng con, vô lượng là hoan hỷ của chúng con (nghĩ rằng): “Thế Tôn đã ở gần chúng ta”.

18. − Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Ông không có phóng dật.

19. − Nhưng bạch Thế Tôn, ở đây chúng con có đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn.

− Thế nào là sự đàn áp khác, này các người Thợ mộc, còn áp bức hơn, còn bội phần hơn?

20. − Ở đây, bạch Thế Tôn, khi vua Pasenadi nước Kosala muốn đi ra viếng thăm khu vườn, thời các con voi của vua Pasenadi nước Kosala cần phải được chúng con chuẩn bị và trang sức, và các cung phi khả ái, khả ý của vua Pasenadi nước Kosala cần phải có chúng con đặt ngồi một người ngồi trước, một người ngồi sau. Bạch Thế Tôn, mùi hương của các cung phi ấy thật là thơm ngọt như một hộp nước hoa vừa được mở ra, các cung phi của vua được ướp với mùi thơm như vậy. Lại nữa, bạch Thế Tôn, thân xúc các cung phi này thật là mềm dịu như một túm bông hoa hồng, vì họ được nuôi dưỡng rất an lạc. Bạch Thế Tôn, trong lúc ấy, chúng con cần phải hộ trì cho voi, cần phải hộ trì cho các cung phi, cần phải hộ trì cho tự ngã nữa.

21. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không rõ biết sự khởi lên ái tâm đối với các cung phi ấy. Ðây, bạch Thế Tôn, là đàn áp khác, còn áp bức hơn, còn bội phần áp bức hơn!

22. − Do vậy, này các người Thợ mộc, chật hẹp là đời sống ở gia đình, đầy những bụi đời! Phóng khoáng giữa trời là đời sống người xuất gia! Như vậy là vừa đủ, này các người Thợ mộc, để các Người không có phóng dật!

23. Này các người Thợ mộc, thành tựu bốn pháp, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

24. Ở đây, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Vị ấy sống ở gia đình, với tâm gột sạch, cấu uế, xan tham. Vị ấy thường bố thí, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, thích được nhờ cậy, thích thú chia xẻ vật được bố thí. Thành tựu bốn pháp này, này các người Thợ mộc, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

25. Này các người Thợ mộc, các Người thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng. Trong gia đình các Người, phàm có vật được bố thí nào, tất cả đều được chia xẻ hoàn toàn và vô tư cho những vị có trì giới và các thiện nhân.

26. Các Ông nghĩ thế nào, này các người Thợ mộc, có bao nhiêu người ở tại Kosala có thể ngang bằng các Ông về phần chia vật bố thí?

27. − Thật lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn! Thật khéo lợi đắc cho chúng con, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn biết chúng con như vậy!

SN 55.7 Người Dân Làng Cổng Trúc Lâm Veḷudvāreyyasutta

Tôi đã nghe như vầy. Một thời, Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn lớn các Tỷ kheo thì Ngài đến một ngôi làng của các Bà-la-môn Kosala tên là Cổng Trúc Lâm. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Cổng Trúc Lâm nghe tin:

“Dường như sa môn Gotama—một người thuộc dòng họ Thích Ca, xuất gia từ gia đình Thích Ca—đã đến Cổng Trúc Lâm, cùng với một Tăng đoàn lớn các Tỷ kheo. Ngài có danh tiếng tốt này: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’ Ngài đã tự mình chứng ngộ thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và thần linh, dân chúng này với các sa môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—và Ngài làm cho người khác biết đến. Ngài tuyên thuyết một giáo pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ hay. Và Ngài tiết lộ một pháp môn tu tập hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy.”

Sau đó, các Bà-la-môn và gia chủ ở Cổng Trúc Lâm đến gặp Đức Phật. Trước khi ngồi xuống một bên, một số người cúi lạy, một số trao đổi lời chào và trò chuyện lịch sự, một số chắp tay hướng về Đức Phật, một số xưng tên và dòng họ, trong khi một số giữ im lặng. Ngồi xuống một bên, họ thưa với Đức Phật:

“Thưa Gotama đáng kính, đây là những mong muốn, ước nguyện và hy vọng của chúng tôi. Chúng tôi muốn sống tại gia với con cái; sử dụng gỗ đàn hương nhập từ Kāsi; đeo vòng hoa, hương thơm và trang điểm; và nhận vàng bạc. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, chúng tôi muốn được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Với những mong muốn như vậy, xin Đức Phật hãy dạy chúng tôi Chánh pháp để chúng tôi có thể đạt được chúng.”

“Này các gia chủ, ta sẽ dạy các ông một lời giải thích về Chánh pháp áp dụng cho chính mình. Hãy lắng nghe và chú tâm, ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” họ trả lời. Đức Phật đã nói điều này:

"Và lời giải thích về Chánh pháp áp dụng cho chính mình là gì?

Đó là khi một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Tôi muốn sống và không muốn chết; tôi muốn hạnh phúc và ghê sợ nỗi đau. Vì vậy, nếu ai đó lấy đi mạng sống của tôi, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng những người khác cũng muốn sống và không muốn chết; họ muốn hạnh phúc và ghê sợ nỗi đau. Vì vậy, nếu tôi lấy đi mạng sống của người khác, họ cũng sẽ không thích điều đó. Điều mà tôi không thích cũng là điều mà người khác không thích. Vì tôi không thích điều này, làm sao tôi có thể gây ra nó cho người khác?’ Suy ngẫm theo cách này, họ tự mình từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Và họ khuyến khích người khác từ bỏ việc giết hại chúng sanh, ca ngợi việc từ bỏ giết hại chúng sanh. Vì vậy, hành vi thân thể của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó trộm cắp của tôi, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi trộm cắp của người khác, họ cũng sẽ không thích điều đó. Điều mà tôi không thích cũng là điều mà người khác không thích. Vì tôi không thích điều này, làm sao tôi có thể gây ra nó cho người khác?’ Suy ngẫm theo cách này, họ tự mình từ bỏ việc trộm cắp. Và họ khuyến khích người khác từ bỏ việc trộm cắp, ca ngợi việc từ bỏ trộm cắp. Vì vậy, hành vi thân thể của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó có quan hệ tình dục với vợ của tôi, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi có quan hệ tình dục với vợ của người khác, anh ta cũng sẽ không thích điều đó. Điều mà tôi không thích cũng là điều mà người khác không thích. Vì tôi không thích điều này, làm sao tôi có thể gây ra nó cho người khác?’ Suy ngẫm theo cách này, họ tự mình từ bỏ tà dâm. Và họ khuyến khích người khác từ bỏ tà dâm, ca ngợi việc từ bỏ tà dâm. Vì vậy, hành vi thân thể của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó bóp méo ý nghĩa của tôi bằng cách nói dối, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi bóp méo ý nghĩa của người khác bằng cách nói dối, họ cũng sẽ không thích điều đó. Điều mà tôi không thích cũng là điều mà người khác không thích. Vì tôi không thích điều này, làm sao tôi có thể gây ra nó cho người khác?’ Suy ngẫm theo cách này, họ tự mình từ bỏ việc nói dối. Và họ khuyến khích người khác từ bỏ việc nói dối, ca ngợi việc từ bỏ nói dối. Vì vậy, hành vi lời nói của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó chia rẽ tôi với bạn bè bằng lời nói hai lưỡi, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi chia rẽ người khác với bạn bè của họ bằng lời nói hai lưỡi, họ cũng sẽ không thích điều đó. …’ Vì vậy, hành vi lời nói của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó tấn công tôi bằng lời nói ác độc, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi tấn công người khác bằng lời nói ác độc, họ cũng sẽ không thích điều đó. …’ Vì vậy, hành vi lời nói của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Hơn nữa, một thánh đệ tử suy ngẫm: ‘Nếu ai đó làm phiền tôi bằng cách nói những điều ngớ ngẩn và vô nghĩa, tôi sẽ không thích điều đó. Nhưng nếu tôi làm phiền người khác bằng cách nói những điều ngớ ngẩn và vô nghĩa, họ cũng sẽ không thích điều đó.’ Điều mà tôi không thích cũng là điều mà người khác không thích. Vì tôi không thích điều này, làm sao tôi có thể gây ra nó cho người khác?’ Suy ngẫm theo cách này, họ tự mình từ bỏ việc nói chuyện vô nghĩa. Và họ khuyến khích người khác từ bỏ việc nói chuyện vô nghĩa, ca ngợi việc từ bỏ nói chuyện vô nghĩa. Vì vậy, hành vi lời nói của họ được thanh tịnh ở ba điểm.

Và vị ấy có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Khi một thánh đệ tử có bảy phẩm chất tốt này và bốn trạng thái đáng mong muốn này, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

Khi Ngài đã nói xong, các Bà-la-môn và gia chủ ở Cổng Trúc Lâm thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, thưa Gotama đáng kính!.. Chúng con xin quy y Gotama đáng kính, quy y giáo pháp, và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Từ hôm nay, xin Gotama đáng kính hãy ghi nhớ chúng con là những cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.”

7. VII. Những Người Ở Veludvàra (S.v,352)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-lamôn của dân chúng Kosala tên là Veludvàra.

2. Các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ gia tộc họ Thích, đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đã đến Veludvàra”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là Như Lai,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giơùi, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Sau khi chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn, đầy đủ, trong sạch. Tốt lành thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”

3. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.

4. Ngồi một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:

− Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có ước vọng như thế này, có ước muốn như thế này, có chú tâm (adhippàya) như thế này: “Mong rằng chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con! Mong chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kàsi! Mong rằng chúng tôi được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp! Mong rằng chúng tôi được sử dụng vàng và bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong rằng chúng tôi được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Mong rằng Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có ước vọng như vậy, có ước muốn như vậy, có chú tâm như vậy. Hãy thuyết pháp như thế nào để chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, để chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kàsi… để chúng tôi, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

5. − Vậy này các Gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các Ông một pháp môn đưa đến lợi ích (tự lợi cho tự ngã) (attuupanàyikam). Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

− Thưa vâng, Tôn giả.

Các Bà-la-môn ở Veludvàra vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

− Này các Gia chủ, thế nào là pháp môn đưa đến lợi ích cho tự ngã?

6. Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho một người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).

7. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

8. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ý, không khả ái cho người khác. Và một pháp này không khả ý, không khả ái cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

9. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này… cho một người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

10. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi,như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp không khả ái… đem cột pháp ấy cho một người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

11. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái… đem cột pháp ấy cho một người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

12. Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho một người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

13. Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”.

14. … đối với Pháp…

15. … đối với chúng Tăng…

16. Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

17. Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

18. Ðược nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:

− Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn… từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

SN 55.8 Tại Ngôi Nhà Gạch (Thứ Nhất) Paṭhamagiñjakāvasathasutta

Tôi đã nghe như vầy. Một thời, Đức Phật đang ở tại Ñātika trong ngôi nhà gạch. Sau đó, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo tên Sāḷha đã qua đời. Ông ấy đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau? Tỷ kheo ni tên Nandā, cư sĩ nam tên Sudatta, và cư sĩ nữ tên Sujātā đã qua đời. Họ đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau?”

"Ānanda, Tỷ kheo Sāḷha đã qua đời sau khi chứng ngộ sự giải thoát tâm không ô nhiễm (undefiled freedom of heart / anāsava cetovimutti / sự giải thoát của tâm khỏi các lậu hoặc) và sự giải thoát bằng trí tuệ (freedom by wisdom / paññāvimutti / sự giải thoát đạt được thông qua trí tuệ thấu suốt) ngay trong đời này, đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm (defilements / āsava / lậu hoặc, những dòng chảy ngầm của ô nhiễm tinh thần).

Tỷ kheo ni Nandā đã qua đời sau khi chấm dứt năm xiềng xích thấp hơn. Cô ấy đã được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa.

Cư sĩ nam Sudatta đã qua đời sau khi chấm dứt ba xiềng xích, và làm suy yếu tham, sân, và si. Ông là một nhất lai (once-returner / sakadāgāmi / người chỉ trở lại thế giới này một lần nữa); ông sẽ trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.

Cư sĩ nữ Sujātā đã qua đời sau khi chấm dứt ba xiềng xích. Cô ấy là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Không có gì lạ khi một con người qua đời. Nhưng nếu con cứ đến hỏi ta về điều đó mỗi khi có ai chết thì sẽ là một sự phiền toái cho ta. Vì vậy, Ānanda, ta sẽ dạy con lời giải thích về Chánh pháp gọi là ‘tấm gương của giáo pháp’. Một thánh đệ tử có được điều này có thể tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Và tấm gương của giáo pháp đó là gì?

Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đây là tấm gương của giáo pháp đó. Một thánh đệ tử có được điều này có thể tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

(Hai bài kinh sau có cùng bối cảnh.)

8. VIII. Gỉang Ðường Bằng Gạch (1) (S.v,356)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Nàtika, trong ngôi giảng đường bằng gạch.

2. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến… bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sàlha đã mạng chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo-ni Nànda mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào? Nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung, sanh thú thế nào, thọ sanh chỗ nào?

3. − Tỷ-kheo Sàlha, này Ananda, đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tỷ-kheo-ni Nànda, này Ananda, mệnh chung, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không phải trở lui thế giới này. Cư sĩ Sudatta, này Ananda, do đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất Lai, sau khi trở lui thế giới này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Nữ cư sĩ Sujàtà, này Ananda, mạng chung, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

4. Này Ananda, thật không có gì lạ vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này, thời này Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy Ta sẽ giảng pháp môn Pháp kính (gương Chánh pháp) để vị Thánh đệ tử sau khi thành tựu pháp môn này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loài bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta đã chứng quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

5. Này Ananda, pháp môn Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử thành tựu pháp môn ấy, nếu muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục… Ta đã chứng quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”?

6. Ở đây, này Ananda, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… với Pháp… với Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

7. Ðây là pháp môn Pháp kính, này Ananda, thành tựu pháp môn này, vị Thánh đệ tử nếu muốn, tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loài bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

8. (Kinh này và hai kinh sau đều cùng một nhân duyên).

SN 55.9 Tại Ngôi Nhà Gạch (Thứ Hai) Dutiyagiñjakāvasathasutta

Ānanda thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo tên Asoka đã qua đời. Ông ấy đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau? Tỷ kheo ni tên Asokā, cư sĩ nam tên Asoka, và cư sĩ nữ tên Asokā đã qua đời. Họ đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau?”

"Ānanda, Tỷ kheo Asoka đã qua đời sau khi chứng ngộ sự giải thoát tâm không ô nhiễmsự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này…

(Và tất cả được giải thích như trong SN 55.8.)

Đây là tấm gương của giáo pháp đó. Một thánh đệ tử có được điều này có thể tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

9. IX. Giảng Ðường Bằng Gạch (2) (S.v,358)

1-2. … ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Asokà đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo-ni Asokà đã mệnh chung… Nam cư sĩ Asokà đã mệnh chung… Nữ cư sĩ Asokà đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào?

3-6. − Này Ananda, Tỷ-kheo Asokà đã mệnh chung, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát… (như kinh trên 8, đoạn số 3 với Tỷ-kheo-ni Asokà, nam cư sĩ Asokà và nữ cư sĩ Asokà) …

7. Này Ananda, đây là pháp môn Pháp kính, thành tựu pháp môn này, vị Thánh đệ tử nếu muốn, tự mình tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, ta đã đoạn tận khỏi sanh vào loài bàng sanh, ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ, ta đã đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

SN 55.10 Tại Ngôi Nhà Gạch (Thứ Ba) Tatiyagiñjakāvasathasutta

Ānanda thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, cư sĩ nam tên Kakkaṭa đã qua đời tại Ñātika. Ông ấy đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau? Các cư sĩ nam tên Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và Subhadda đã qua đời tại Ñātika. Họ đã tái sanh vào đâu trong kiếp sau?”

"Ānanda, các cư sĩ nam Kakkaṭa, Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và Subhadda đã qua đời sau khi chấm dứt năm xiềng xích thấp hơn. Họ đã được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa.

Hơn năm mươi cư sĩ nam tại Ñātika đã qua đời sau khi chấm dứt năm xiềng xích thấp hơn. Họ đã được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa.

Hơn chín mươi cư sĩ nam tại Ñātika đã qua đời sau khi chấm dứt ba xiềng xích, và làm suy yếu tham, sân, và si. Họ là những nhất lai, những người sẽ trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.

Hơn năm trăm cư sĩ nam tại Ñātika đã qua đời sau khi chấm dứt ba xiềng xích. Họ là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Không có gì lạ khi một con người qua đời. Nhưng nếu con cứ đến hỏi ta về điều đó mỗi khi có ai qua đời, đó sẽ là một sự phiền toái cho ta. Vì vậy, Ānanda, ta sẽ dạy con lời giải thích về Chánh pháp gọi là ‘tấm gương của giáo pháp’. Một thánh đệ tử có được điều này có thể tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Và tấm gương của giáo pháp đó là gì?

Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đây là tấm gương của giáo pháp đó. Một thánh đệ tử có được điều này có thể tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

10. X. Ngôi Nhà Bằng Gạch (3) (S.v,358)

1-2. … ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

− Cư sĩ ở Nàtika tên Kakkata đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào? Cư sĩ ở Nàtika tên Kàlinga, bạch Thế Tôn, đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào? Cư sĩ ở Nàtika tên Nikata… Cư sĩ Katissaha… Cư sĩ Tuttha… Cư sĩ Santuttha… Cư sĩ Dhadda… Cư sĩ Subhadda ở Nàtika, bạch Thế Tôn, đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào?

3. − Cư sĩ Kakkata, này Ananda, đã mệnh chung, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui cõi đời này. Cư sĩ Kàlinga, này Ananda… Cư sĩ Nikata, này

Ananda… Cư sĩ Katissaha, này Ananda… Cư sĩ Tuttha, này Ananda… Cư sĩ Santuttha, này Ananda… Cư sĩ Bhadda, này €nanda… Cư sĩ Subhadda, này Ananda, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui cõi đời này nữa. Tất cả đều cùng một sanh thú.

4. Hơn năm mươi cư sĩ ở Nàtika, này Ananda, đã mệnh chung, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui cõi đời này nữa. Hơn chín mươi nam cư sĩ ở Nàtika, này Ananda, đã mệnh chung, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, là bậc Nhứt Lai, sau khi trở lui thế giới này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Năm trăm lẻ sáu nam cư sĩ ở Sàkata, này Ananda, đã mệnh chung, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

5-7. Này Ananda, thật không có gì lạ vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung, Ông lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này; thời này Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai… (xem trên 9, đoạn số 4,5,6,7) … quyết chắc chứng quả giác ngộ.

Phẩm Tu Viện Hoàng Gia

SN 55.11 Một Tăng Đoàn Một Ngàn Tỷ Kheo Ni Sahassabhikkhunisaṁghasutta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Tu viện Hoàng gia. Sau đó, một Tăng đoàn một ngàn Tỷ kheo ni đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và đứng sang một bên. Đức Phật nói với họ:

“Này các Tỷ kheo ni, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua

11. I. Một Ngàn (S.v,360)

1. Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại khu vườn Ràjaka.

2. Rồi một chúng gồm một ngàn Tỷ-kheo-ni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

3. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni đang đứng một bên:

− Này các Tỷ-kheo-ni, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo-ni, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”.

5-6. … đối với Pháp… đối với Tăng…

7. Vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

8. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo-ni, bậc Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 55.12 Các Bà-la-môn Brāhmaṇasutta

Tại Sāvatthī. "Này các Tỷ kheo, các Bà-la-môn chủ trương một pháp môn gọi là ‘đứng dậy và đi’. Họ khuyến khích các đệ tử của mình: ‘Này các bạn tốt, hãy dậy sớm, quay mặt về hướng đông và đi. Đừng tránh hố, vách đá, gốc cây, bụi gai, đầm lầy, hay cống rãnh. Các bạn nên chờ đợi cái chết ở nơi mình ngã xuống. Và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, các bạn sẽ được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời.’

Nhưng pháp môn này của các Bà-la-môn là một thủ tục ngu xuẩn, một thủ tục ngớ ngẩn. Nó không dẫn đến sự nhàm chán (disillusionment / nibbidā / sự chán ngán, không còn hứng thú với vòng luân hồi), ly tham (dispassion / virāga / sự phai nhạt ham muốn), chấm dứt (cessation / nirodha / sự diệt tận), an tịnh (peace / upasama / sự lắng dịu), tuệ giác (insight / abhiññā / sự hiểu biết sâu sắc), giác ngộ, hay Niết-bàn (extinguishment / nibbāna / sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si). Nhưng trong sự huấn luyện của bậc Thánh, ta chủ trương một pháp môn ‘đứng dậy và đi’ mà nó chỉ dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, tuệ giác, giác ngộ, và Niết-bàn.

Và pháp môn ‘đứng dậy và đi’ đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đây là pháp môn ‘đứng dậy và đi’ mà nó chỉ dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, tuệ giác, giác ngộ, và Niết-bàn."

12. II. Các Bà La Môn (S.v,361)

1-2. Nhân duyên ở Sàvatthi.

3. − Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn trình bày một đạo lộ hướng thượng (udayagàminim). Họ khuyến khích các đệ tử như sau: “Hãy đến, này các Ông! Sáng sớm dậy, hãy đi hướng mặt về phía Ðông. Chớ có tránh những lỗ hổng, lỗ trũng, khúc cây, chỗ có gai, hố nước nhớp, chớ có tránh đường mương. Nếu có rơi vào các chỗ ấy và đi đến chết, như vậy, này các Ông, sau khi thân hoại mạng chung, các Ông sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”.

4. Nhưng này các Tỷ-kheo, con đường ấy của các Bà-la-môn là con đường của kẻ ngu, con đường của kẻ si, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta trình bày một đạo lộ hướng thượng trong luật của bậc Thánh, và con đường ấy nhứt hướng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đạo lộ hướng thượng ấy là gì, đạo lộ đưa đến nhứt hướng yếm ly… Niết-bàn?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai…”… đối với pháp… đối với chúng Tăng… Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

6. Ðây là đạo lộ đưa đến hướng thượng, này các Tỷ-kheo,… nhứt hướng yếm ly… đưa đến Niết-bàn.

SN 55.13 Cùng Với Trưởng Lão Ānanda Ānandattherasutta

Một thời, các tôn giả Ānanda và Sāriputta đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Sau đó, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Ānanda, và trao đổi lời chào với ông. Khi lời chào và cuộc trò chuyện lịch sự kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với Ānanda:

“Thưa Tôn giả, người ta phải từ bỏ bao nhiêu điều và sở hữu bao nhiêu điều để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ?”

"Thưa Tôn giả, người ta phải từ bỏ bốn điều và sở hữu bốn điều để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Họ không có sự hoài nghi (distrust / vicikicchā / sự nghi ngờ, thiếu tin tưởng) vào Đức Phật, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và họ có niềm tin bất động vào Đức Phật, điều khiến một thánh đệ tử có học được tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’

Họ không có sự hoài nghi vào giáo pháp, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và họ có niềm tin bất động vào giáo pháp, điều khiến một thánh đệ tử có học được tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. ‘Giáo pháp được Đức Phật khéo giảng dạy—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí có thể tự mình biết được.’

Họ không có sự hoài nghi vào Tăng đoàn, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và họ có niềm tin bất động vào Tăng đoàn, điều khiến một thánh đệ tử có học được tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. ‘Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, trực tiếp, có hệ thống và đúng đắn. Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi, tám cá nhân. Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật này xứng đáng được cúng dường cho chư thiên, xứng đáng được hiếu khách, xứng đáng được dâng tặng phẩm vật tôn giáo, và xứng đáng được tôn kính bằng cách chắp tay.’

Họ không có giới đức phi đạo đức, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và họ có giới đức được các bậc thánh yêu mến, điều khiến một thánh đệ tử có học được tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Giới đức của họ được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Người ta phải từ bỏ bốn điều này và sở hữu bốn điều này để Đức Phật tuyên bố rằng họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ."

13. III. Ananda (S.v,362)

1. Một thời, Tôn giả Ananda và Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.

2. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Tôn giả ngồi xuống một bên. Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Ananda:

3. − Do đoạn tận những pháp nào, này Hiền giả Ananda, do nhân thành tựu những pháp nào, quần chúng ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?

4. − Do đoạn tận bốn pháp, thưa Hiền giả, do nhân thành tựu bốn pháp, quần chúng ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

5. Kẻ vô văn phàm phu, này Hiền giả, không thành tựu tịnh tín đối với đức Phật, khi thân hoại mạng chung, sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy là không có tịnh tín đối với đức Phật. Và vị Ða văn Thánh đệ tử, thưa Hiền giả, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Như vậy là tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”.

6. Kẻ vô văn phàm phu, này Hiền giả, không thành tựu tịnh tín đối với Pháp, khi thân hoại mạng chung, sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy là không có tịnh tín đối với Pháp. Và vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp… Như vậy là tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết… chỉ người có trí mới giác hiểu”.

7. Kẻ vô văn phàm phu, này Hiền giả, không thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng… Như vậy là tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn… vô thượng phước điền ở đời”.

8. Kẻ vô văn phàm phu, này Hiền giả, thành tựu ác giới… Như vậy là không có tịnh tín bất động… Như vậy tịnh tín bất động đối với các giới: “Các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định”.

9. Do đoạn tận bốn pháp này, này Hiền giả, do nhân thành tựu bốn pháp này, quần chúng ở đời này được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 55.14 Nỗi Sợ Cảnh Giới Xấu Duggatibhayasutta

“Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều đã vượt qua mọi nỗi sợ bị tái sanh vào cảnh giới xấu. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này đã vượt qua mọi nỗi sợ bị tái sanh vào cảnh giới xấu.”

14. IV. Ác Thú (1) (S.v,364)

1-2. …

3. − Do thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử vượt qua sợ hãi của tất cả ác thú. Thế nào là bốn?

4-7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

8. Do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử vượt qua sợ hãi của tất cả ác thú.

SN 55.15 Nỗi Sợ Cảnh Giới Xấu, Đọa Xứ Duggativinipātabhayasutta

“Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều đã vượt qua mọi nỗi sợ bị tái sanh vào cảnh giới xấu, đọa xứ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này đã vượt qua mọi nỗi sợ bị tái sanh vào cảnh giới xấu, đọa xứ.”

15. V. Ác Thú (2) (S.v,364)

1-2. …

3. − Do thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử vượt qua sợ hãi của tất cả ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?

4-7. … (như đoạn số 4-7, kinh trên) …

8. Do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử vượt qua sợ hãi của tất cả ác thú, đọa xứ…

SN 55.16 Bạn Bè và Đồng Nghiệp (Thứ Nhất) Paṭhamamittāmaccasutta

“Này các Tỷ kheo, những người mà các con có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn yếu tố của sự nhập lưu. Bốn điều đó là gì? Niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Những người mà các con có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn yếu tố của sự nhập lưu này.”

16. VI. Thân Hữu (1) (S.v,364)

1-2. …

3. − Tất cả những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất cả những vị ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?

4. Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với Tăng… đối với các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

5. Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong bốn Dự lưu phần này.

SN 55.17 Bạn Bè và Đồng Nghiệp (Thứ Hai) Dutiyamittāmaccasutta

"Này các Tỷ kheo, những người mà các con có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn yếu tố của sự nhập lưu. Bốn điều đó là gì? Niềm tin bất động vào Đức Phật…

Có thể có sự thay đổi trong bốn trạng thái chính—các yếu tố đất, nước, lửa, và không khí—nhưng một thánh đệ tử với niềm tin bất động vào Đức Phật sẽ không bao giờ thay đổi. Trong bối cảnh này, ‘thay đổi’ có nghĩa là một thánh đệ tử như vậy sẽ bị tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ: điều này hoàn toàn không thể xảy ra.

Niềm tin bất động vào giáo pháp…

Niềm tin bất động vào Tăng đoàn…

Giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Có thể có sự thay đổi trong bốn trạng thái chính—các yếu tố đất, nước, lửa, và không khí—nhưng một thánh đệ tử với giới đức được các bậc thánh yêu mến sẽ không bao giờ thay đổi. Trong bối cảnh này, ‘thay đổi’ có nghĩa là một thánh đệ tử như vậy sẽ bị tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, hay cõi ngạ quỷ: điều này hoàn toàn không thể xảy ra.

Những người mà các con có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn yếu tố của sự nhập lưu này."

17. VII. Bạn Bè Thân Hữu (2) (S.v,365)

1-2. …

3. − Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?

4. Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú trong tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác, nhưng nhất định không có thay đổi trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là: Một Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động như vậy sẽ sanh vào địa ngục, hay vào loài bàng sanh, hay vào hàng ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra.

5-6. … đối với Pháp… đối với Tăng.

7. Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú vào các giới được các bậc Thánh ái kính. Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác; nhưng nhất định không có sự đổi khác trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với các giới được các bậc Thánh ái kính. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, sẽ sanh vào địa ngục, hay các loài bàng sanh, hay các ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra.

8. Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo,… an trú trong bốn Dự lưu phần.

SN 55.18 Một Chuyến Thăm Chư Thiên (Thứ Nhất) Paṭhamadevacārikasutta

Tại Sāvatthī. Và rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, biến mất khỏi Vườn Jeta và xuất hiện giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Sau đó, một vài vị trời trong đoàn thể Ba Mươi Ba đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna, cúi lạy, và đứng sang một bên. Moggallāna nói với họ:

“Thưa các Tôn giả, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật. … Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời.”

“Moggallāna tốt lành của tôi, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật… Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời.”

18. VIII. Du Hành Chư Thiên (S.v,366)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna, như nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cõi trời Ba mươi ba.

3. Rồi một số đông chư Thiên cõi Ba mươi ba đi đến Tôn giả Mohà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với chư Thiên đang đứng một bên:

4. − Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

5-6. Lành thay, chư Hiền, là tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với chúng Tăng…

7. Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, chư Hiền, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

8. − Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”. Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

9-11. Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với chúng Tăng… các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

SN 55.19 Một Chuyến Thăm Chư Thiên (Thứ Hai) Dutiyadevacārikasutta

Tại Sāvatthī.

Và rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, biến mất khỏi Vườn Jeta và xuất hiện giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Sau đó, một vài vị trời trong đoàn thể Ba Mươi Ba đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna, cúi lạy, và đứng sang một bên. Moggallāna nói với họ:

“Thưa các Tôn giả, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật. … Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời.”

“Moggallāna tốt lành của tôi, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật… Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã được tái sanh vào một nơi tốt đẹp, một cõi trời.”

19. IX. Thăm Viếng Chư Thiên (1) (S.v,367)

1. Một thời Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika.

2-7. Rồi Tôn giả Moggalàna, như người lực sĩ… (như trên) …

8-11. … (như trên) … một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

SN 55.20 Một Chuyến Thăm Chư Thiên (Thứ Ba) Tatiyadevacārikasutta

Sau đó, Đức Phật, dễ dàng như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, biến mất khỏi Vườn Jeta và xuất hiện giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Sau đó, một vài vị trời trong đoàn thể Ba Mươi Ba đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và đứng sang một bên. Đức Phật nói với họ:

“Thưa các Tôn giả, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật. … Đó là lý do tại sao một số chúng sanh là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

“Bạn tốt ơi, thật tốt khi có niềm tin bất động vào Đức Phật… Đó là lý do tại sao một số chúng sanh là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Thật tốt khi có niềm tin bất động vào giáo pháp. … Tăng đoàn… và có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đó là lý do tại sao một số chúng sanh là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

20. X. Thăm Viếng Chư Thiên (2) (S,v,357)

(Giống như kinh 18, chỉ khác, đây là Thế Tôn, không phải Mahà Moggalàna) …

Phẩm Cùng Với Sarakāni

SN 55.21 Cùng Với Mahānāma (Thứ Nhất) Paṭhamamahānāmasutta

Tôi đã nghe như vầy. Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa. Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Kapilavatthu này thành công và thịnh vượng, đông dân, đầy người, với những con hẻm cụt chật chội. Vào cuối buổi chiều, sau khi tỏ lòng tôn kính Đức Phật hoặc một Tỷ kheo đáng kính, con vào Kapilavatthu. Con gặp một con voi, con ngựa, cỗ xe, xe bò, hoặc một người đi lạc. Lúc đó, con mất niệm (mindfulness / sati / sự quan sát và ghi nhớ) về Đức Phật, giáo pháp, và Tăng đoàn. Con nghĩ: ‘Nếu con chết vào lúc này, con sẽ tái sanh vào đâu trong kiếp sau?’”

"Đừng sợ, Mahānāma, đừng sợ! Cái chết của con sẽ không phải là một cái chết tồi tệ; sự ra đi của con sẽ không phải là một sự ra đi tồi tệ. Hãy xem một người có tâm đã từ lâu được thấm nhuần đức tin, giới hạnh, học vấn, lòng quảng đại, và trí tuệ. Thân thể của họ được hình thành, tạo thành từ bốn trạng thái chính, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng từ cơm và cháo, phải chịu sự vô thường, sự mài mòn và xói mòn, sự tan rã và hủy diệt. Ngay tại đây, quạ, kền kền, diều hâu, chó, chó rừng, và nhiều loại sinh vật nhỏ bé ăn thịt nó. Nhưng tâm của họ vươn lên, hướng đến một nơi cao hơn.

Giả sử một người nhấn chìm một hũ bơ hoặc dầu vào một hồ nước sâu và đập vỡ nó. Các mảnh vỡ của nó sẽ chìm xuống, trong khi bơ hoặc dầu trong đó sẽ nổi lên, hướng đến một nơi cao hơn.

Tương tự như vậy, hãy xem một người có tâm đã từ lâu được thấm nhuần đức tin, giới hạnh, học vấn, lòng quảng đại, và trí tuệ. Thân thể của họ bao gồm hình thể, tạo thành từ bốn trạng thái chính, do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng từ cơm và cháo, phải chịu sự vô thường, sự mài mòn và xói mòn, sự tan rã và hủy diệt. Ngay tại đây, quạ, kền kền, diều hâu, chó, chó rừng, và nhiều loại sinh vật nhỏ bé ăn thịt nó. Nhưng tâm của họ vươn lên, hướng đến một nơi cao hơn.

Tâm của con, Mahānāma, đã từ lâu được thấm nhuần đức tin, giới hạnh, học vấn, lòng quảng đại, và trí tuệ. Đừng sợ, Mahānāma, đừng sợ! Cái chết của con sẽ không phải là một cái chết tồi tệ; sự ra đi của con sẽ không phải là một sự ra đi tồi tệ."

III. Phẩm Saranàni

21. I. Mahànàma (1)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.

2. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

3. − Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?”

4. − Chớ có sợ, này Mahànàma! Chớ có sợ, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của ông! Này Mahànàma, với ai đã lâu ngày tâm tu tập trọn vẹn về tín, tâm tu tập trọn vẹn về giới, tâm tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, hay giả-can ăn, hay các loại chúng sanh sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ, thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.

5. Ví như, này Mahànàma, một người nhận chìm một ghè sữa bơ, hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu và đập bể ghè ấy. Ở đây, các mảnh ghè hay mảnh vụn chìm xuống nước; nhưng sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên. Cũng vậy, này Mahànàma, với ai đã lâu ngày, tâm được tu tập trọn vẹn về tín, tâm được tu tập trọn vẹn về giới, tâm được tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm được tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm được tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, đoạn diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, giả-can ăn hay các sanh loại sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ; thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.

6. Này Mahànàma, đã lâu ngày tâm Ông được tu tập trọn vẹn về tín, được tu tập trọn vẹn về giới, được tu tập trọn vẹn về sở văn, được tu tập trọn vẹn về thí xả, được tu tập trọn vẹn về trí tuệ. Chớ có sợ, này Mahànàma, chớ có sợ, này Mahànàma, không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông!

SN 55.22 Cùng Với Mahānāma (Thứ Hai) Dutiyamahānāmasutta

Tôi đã nghe như vầy. Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa. Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, Kapilavatthu này thành công và thịnh vượng, đông dân, đầy người, với những con hẻm cụt chật chội. Vào cuối buổi chiều, sau khi tỏ lòng tôn kính Đức Phật hoặc một Tỷ kheo đáng kính, con vào Kapilavatthu. Con gặp một con voi, con ngựa, cỗ xe, xe bò, hoặc một người đi lạc. Lúc đó, con mất niệm về Đức Phật, giáo pháp, và Tăng đoàn. Con nghĩ: ‘Nếu con chết vào lúc này, con sẽ tái sanh vào đâu trong kiếp sau?’”

"Đừng sợ, Mahānāma, đừng sợ! Cái chết của con sẽ không phải là một cái chết tồi tệ; sự ra đi của con sẽ không phải là một sự ra đi tồi tệ. Một thánh đệ tử có bốn điều sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết-bàn. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.

Giả sử có một cái cây nghiêng, dốc, và hướng về phía đông. Nếu nó bị chặt gốc thì nó sẽ ngã về đâu?"

“Bạch Thế Tôn, nó sẽ ngã về hướng mà nó nghiêng, dốc, và hướng tới.”

“Tương tự như vậy, một thánh đệ tử có bốn điều sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết-bàn.”

22. II. Mahànàma (2) (S.v,371)

1. Như vầy tôi nghe.

2. Rồi Mahànàma…

3. − Ở đây, bạch Thế Tôn, Kapilavatthu…

4.− Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Chớ có sợ hãi, này Mahànàma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?

5. Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn…”… đối với Pháp… đối với Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

6. Ví như, này Mahànàma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gỗc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?

− Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.

− Cũng vậy, này Mahànàma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.

SN 55.23 Cùng Với Godhā Người Thích Ca Godhasakkasutta

Tại Kapilavatthu. Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Godhā người Thích Ca, và nói với ông: “Godhā, một người phải có bao nhiêu điều để ông công nhận họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ?”

"Mahānāma, một người phải có ba điều để tôi công nhận họ là một người nhập lưu. Ba điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… và Tăng đoàn… Khi một người có ba điều này, tôi công nhận họ là một người nhập lưu.

Nhưng Mahānāma, một người phải có bao nhiêu điều để ông công nhận họ là một người nhập lưu?"

“Godhā, một người phải có bốn điều để tôi công nhận họ là một người nhập lưu. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Khi một người có bốn điều này, tôi công nhận họ là một người nhập lưu.”

“Khoan đã, Mahānāma, khoan đã! Chỉ có Đức Phật mới biết liệu họ có những điều này hay không.”

“Nào, Godhā, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và báo cho Ngài biết về việc này.”

Sau đó, Mahānāma và Godhā đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Mahānāma kể lại cho Đức Phật tất cả những gì đã xảy ra, và sau đó nói:

“Bạch Thế Tôn, có thể có một vấn đề nào đó về giáo pháp nảy sinh. Đức Phật có thể đứng về một phía, và Tăng đoàn các Tỷ kheo đứng về phía kia. Con sẽ đứng về phía Đức Phật. Xin Đức Phật hãy ghi nhớ con là người có niềm tin như vậy. Có thể có một vấn đề nào đó về giáo pháp nảy sinh. Đức Phật có thể đứng về một phía, và Tăng đoàn các Tỷ kheo và Tăng đoàn các Tỷ kheo ni đứng về phía kia. … Đức Phật có thể đứng về một phía, và Tăng đoàn các Tỷ kheo và Tăng đoàn các Tỷ kheo ni và các cư sĩ nam đứng về phía kia. … Đức Phật có thể đứng về một phía, và Tăng đoàn các Tỷ kheo và Tăng đoàn các Tỷ kheo ni và các cư sĩ nam và các cư sĩ nữ đứng về phía kia. … Đức Phật có thể đứng về một phía, và Tăng đoàn các Tỷ kheo và Tăng đoàn các Tỷ kheo ni và các cư sĩ nam và các cư sĩ nữ và thế giới—với các vị trời, Ma vương, và thần linh, dân chúng này với các sa môn và Bà-la-môn, chư thiên và loài người—đứng về phía kia. Con sẽ đứng về phía Đức Phật. Xin Đức Phật hãy ghi nhớ con là người có niềm tin như vậy.”

“Godhā, ông có gì để nói với Mahānāma khi ông ấy nói như thế này không?”

“Bạch Thế Tôn, con không có gì để nói với Mahānāma khi ông ấy nói như thế này, ngoại trừ những điều tốt đẹp và lành mạnh.”

23. III. Godhà hay Mahànàma (3) (S.v,371)

1. Nhân duyên ở Kapilavatthu.

2. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:

3. − Này Godhà, theo như Hiền giả biết một người là bậc Dự lưu, thành tựu bao nhiêu pháp thời không bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?

− Này Mahànàma, theo như tôi biết một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

4. Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… là vô thượng phước điền ở đời. Này Mahànàma, do thành tựu ba pháp này, tôi được biết một người là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

5. Nhưng này Mahànàma, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp thời không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?

− Này Gohdà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

6. − Hãy chờ một lát, này Mahànàma, hãy chờ một lát, này Mahànàma. Thế Tôn biết rõ việc này, thành tựu hay không thành tựu những pháp này. Này Godhà, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn và sau khi đến, hãy hỏi về ý nghĩa này.

7. Rồi họ Thích Mahànàma và họ Thích Godhà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

8. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:

“− Này Godhà, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp… giác ngộ?”

Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà nói với con:

“−Này Mahànàma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp… giác ngộ. Thế nào là ba? Ở đây, này Mahànàma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn’… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Này Mahànàma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Còn này Mahànàma theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp… giác ngộ?”

9. Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với họ Thích Godhàa

“− Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp… giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp… giác ngộ".

Ðược nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà, nói với con:

“− Hãy chờ một lát, này Mahànàma, hãy chờ một lát, này Mahanàma. Thế Tôn sẽ biết rõ việc này, là thành tựu hay không thành tựu những pháp này”.

10. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu nói vấn đề pháp sự khởi lên (dhamma samuppàda), và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.

11. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo và chúng Tỷ-kheo-ni. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn… Mong Thế Tôn chấp nhận.

12. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni và nam cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn… Mong Thế Tôn chấp nhận.

13. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, và nữ cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn… Mong Thế Tôn chấp nhận.

14. Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chúng Thiên giới, chúng Ma giới, chúng Phạm thiên giới, quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.

15. − Họ Thích Mahànàma đã nói như vậy, này Godhà, Ông có nói gì không?

− Họ Thích Mahànàma đã nói như vậy, con không có nói gì trừ lời nói “Thiện”, trừ lời nói “Tốt”.

SN 55.24 Về Sarakāni (Thứ Nhất) Paṭhamasaraṇānisakkasutta

Tại Kapilavatthu.

Lúc bấy giờ, Sarakāni người Thích Ca đã qua đời. Đức Phật tuyên bố rằng ông là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Nghe vậy, một vài người Thích Ca tụ tập lại phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: “Ôi trời, thật không thể tin được, thật đáng kinh ngạc! Ngày nay ai mà không thể trở thành người nhập lưu chứ? Vì Đức Phật thậm chí còn tuyên bố Sarakāni là một người nhập lưu sau khi ông ta qua đời. Sarakāni quá yếu kém trong việc tu tập; ông ta từng uống rượu.”

Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra. Đức Phật nói:

"Mahānāma, khi một cư sĩ tại gia đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng, làm sao họ có thể đi vào đọa xứ? Và nếu có ai đáng được nói là đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng, thì đó chính là Sarakāni người Thích Ca. Sarakāni người Thích Ca đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng. Làm sao ông ta có thể đi vào đọa xứ?

Hãy xem một người nào đó có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ có trí tuệ hoan hỷ (laughing wisdom / hāsapaññā / trí tuệ phát sinh một cách vui vẻ, dễ dàng) và trí tuệ nhanh nhạy (swift wisdom / javanapaññā / trí tuệ sắc bén, phản ứng nhanh), và được phú cho sự giải thoát. Họ đã chứng ngộ sự giải thoát tâm không ô nhiễmsự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm. Người này thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ có trí tuệ hoan hỷtrí tuệ nhanh nhạy, nhưng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ được hóa sanh. Họ nhập Niết-bàn tại đó, và không còn trở lại thế giới này nữa. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Nhưng họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của ba xiềng xích, và sự suy yếu của tham, sân, và si, họ là một nhất lai. Họ trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Nhưng họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của ba xiềng xích, họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác không có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Tuy nhiên, họ có những phẩm chất này: năng lực của (faculty of / indriya / các khả năng, quyền năng tinh thần) tín, tấn, niệm, định, và tuệ. Và họ chấp nhận các giáo pháp do Đấng Như Lai tuyên thuyết sau khi đã suy xét chúng với một mức độ trí tuệ. Người này cũng không đi đến địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ không đi đến những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác không có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Tuy nhiên, họ có những phẩm chất này: năng lực của tín, tấn, niệm, định, và tuệ. Và họ có một mức độ đức tin và tình yêu đối với Đức Phật. Người này cũng không đi đến địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ không đi đến những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Nếu những cây sala lớn này có thể hiểu được điều gì được nói hay và điều gì được nói dở, ta sẽ tuyên bố chúng là những người nhập lưu. Tại sao điều này không thể áp dụng cho Sarakāni? Mahānāma, Sarakāni người Thích Ca đã thực hành tu tập vào lúc lâm chung."

24. IV. Sarakàni, hay Saranàni (1) (S.v,375)

1. Nhân duyên ở Kapilavatthu.

2. Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.

3. Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng ! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”.

4. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

5. − Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu… chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu!.. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”

− Này Mahànàma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?

6. Này Mahànàma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ?

7. Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

8. Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niếtbàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

9. Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-lahán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

10. Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị

ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

11. Ở đây, này Mahànàma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật… đối với Pháp… đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành… không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahànàma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.

12. Ở đây, này Mahànàma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahànama, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

13. Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahànàma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.

SN 55.25 Về Sarakāni Người Thích Ca (Thứ Hai) Dutiyasaraṇānisakkasutta

Tại Kapilavatthu.

Lúc bấy giờ, Sarakāni người Thích Ca đã qua đời. Đức Phật tuyên bố rằng ông là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Nghe vậy, một vài người Thích Ca tụ tập lại phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: “Ôi trời, thật không thể tin được, thật đáng kinh ngạc! Ngày nay ai mà không thể trở thành người nhập lưu chứ? Vì Đức Phật thậm chí còn tuyên bố Sarakāni là một người nhập lưu sau khi ông ta qua đời. Sarakāni đã không hoàn thành việc tu tập.”

Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra. Đức Phật nói:

"Mahānāma, khi một cư sĩ tại gia đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng, làm sao họ có thể đi vào đọa xứ? Và nếu có ai đáng được nói là đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng, thì đó chính là Sarakāni người Thích Ca. Sarakāni người Thích Ca đã từ lâu quy y Phật, Pháp, và Tăng.

Hãy xem một người nào đó chắc chắn và tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ có trí tuệ hoan hỷtrí tuệ nhanh nhạy, và được phú cho sự giải thoát. Họ chứng ngộ sự giải thoát tâm không ô nhiễmsự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này. Và họ sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm. Người này thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác chắc chắn và tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ có trí tuệ hoan hỷtrí tuệ nhanh nhạy, nhưng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của năm xiềng xích thấp hơn, họ nhập Niết-bàn giữa kiếp này và kiếp sau… họ nhập Niết-bàn khi vừa tái sanh… họ nhập Niết-bàn không cần nỗ lực thêm… họ nhập Niết-bàn với nỗ lực thêm… họ đi ngược dòng, đến cõi Akaniṭṭha. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác chắc chắn và tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Nhưng họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của ba xiềng xích, và sự suy yếu của tham, sân, và si, họ là một nhất lai. Họ trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác chắc chắn và tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Nhưng họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Với sự chấm dứt của ba xiềng xích, họ là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Người này cũng thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ thoát khỏi những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác không chắc chắn hay tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Tuy nhiên, họ có những phẩm chất này: năng lực của tín, tấn, niệm, định, và tuệ. Và họ chấp nhận các giáo pháp do Đấng Như Lai tuyên thuyết sau khi đã suy xét chúng với một mức độ trí tuệ. Người này cũng không đi đến địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ không đi đến những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Hãy xem một người khác không chắc chắn hay tận tâm với Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Họ không có trí tuệ hoan hỷ hay trí tuệ nhanh nhạy, cũng không được phú cho sự giải thoát. Tuy nhiên, họ có những phẩm chất này: năng lực của tín, tấn, niệm, định, và tuệ. Và họ có một mức độ đức tin và tình yêu đối với Đức Phật. Người này cũng không đi đến địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Họ không đi đến những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ.

Giả sử có một cánh đồng cằn cỗi, một mảnh đất cằn cỗi, với những gốc cây chưa được dọn sạch. Và con có những hạt giống bị vỡ, hỏng, bị thời tiết làm hại, không thể nảy mầm, và được giữ gìn không tốt. Và trời không mưa đủ. Liệu những hạt giống đó có mọc, lớn lên, và trưởng thành không?"

“Không, thưa Ngài.”

"Tương tự như vậy, hãy xem một giáo pháp được giải thích tồi và trình bày dở, không giải thoát, không dẫn đến an tịnh, được tuyên thuyết bởi một người không phải là một vị Phật giác ngộ viên mãn. Đây là điều ta gọi là một cánh đồng cằn cỗi. Một đệ tử ở lại trong một giáo pháp như vậy, thực hành theo giáo pháp đó, thực hành nó một cách đúng đắn, sống theo giáo pháp đó. Đây là điều ta gọi là một hạt giống xấu.

Giả sử có một cánh đồng màu mỡ, một mảnh đất màu mỡ, được dọn sạch gốc cây. Và con có những hạt giống còn nguyên vẹn, không bị hỏng, không bị thời tiết làm hại, có thể nảy mầm, và được giữ gìn tốt. Và có nhiều mưa. Liệu những hạt giống đó có mọc, lớn lên, và trưởng thành không?"

“Có, thưa Ngài.”

“Tương tự như vậy, hãy xem một giáo pháp được giải thích tốt và trình bày hay, giải thoát, dẫn đến an tịnh, được tuyên thuyết bởi một người là một vị Phật giác ngộ viên mãn. Đây là điều ta gọi là một cánh đồng màu mỡ. Một đệ tử ở lại trong một giáo pháp như vậy, thực hành theo giáo pháp đó, thực hành nó một cách đúng đắn, sống theo giáo pháp đó. Đây là điều ta gọi là một hạt giống tốt. Tại sao điều này không thể áp dụng cho Sarakāni? Mahānāma, Sarakāni người Thích Ca đã hoàn thành việc tu tập vào lúc lâm chung.”

25.V. Sarakàni hay Saranàri (2) (S.v,378)

1. Nhân duyên ở Kapilavatthu.

2-7. … (giống như đoạn số 2-7 kinh trên) …

8. − Nhưng ở đây, này Mahànàma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp, đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành, thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bátniết-bàn, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được Hữu hành Niếtbàn, chứng được Thượng lưu, sanh ở Sắc cứu cánh thiên. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

9. Ở đây, này Mahànàma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: "Ðây là Như Lai, bậc A-lahán… đối với Pháp… đối với chúng Tăng, không có trí huệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần trở lui cõi đời này. Này Mahànàma, người này được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

10. Ở đây, này Mahànàma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là Như Lai”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

11. Ở đây, này Mahànàma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là… Thế Tôn…”… đối với Pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Và những pháp do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn, quán sát với trí tuệ. Người này, này

Mahànàma, không có địa ngục… không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

12. Ở đây, này Mahànàma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đối với đức Phật… đối với Pháp, đối với Tăng, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, lòng ái mộ đối với Như Lai. Người này, này Mahànàma, không có đi đến địa ngục… không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

13. Ví như, này Mahànàma, có đám ruộng xấu, đám đất xấu, các gốc cây chưa được phá hủy, các hột giống bị bể nát, bị hư thối, bị gió nắng làm cho hư hại, không thể nẩy mầm, không khéo cấy trồng, và trời không mưa lớn thích hợp; thời các hột giống ấy có thể lớn, tăng trưởng, lớn mạnh không?

− Thưa không, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Mahànàma, ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Ta nói rằng pháp này như ở đám ruộng xấu. Vị đệ tử ấy sống trong pháp ấy, thực hiện pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng, người này giống như hột giống xấu.

14. Ví như, này Mahànàma, một đám ruộng tốt, đất tốt, các gốc khéo phá hủy, các hột giống không bị bể nát, không bị hư thối, gió nắng không làm hư hại, có thể nẩy mầm, khéo cấy, khéo trồng và trời mưa lớn thích hợp. Như vậy, các hột giống ấy có lớn lên, có tăng trưởng, có lớn mạnh không?

− Thưa có, bạch Thế Tôn.

− Cũng vậy, này Mahànàma, ở đây, pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, Ta nói pháp này như đám ruộng tốt. Vị đệ tử sống trong pháp ấy, thực hành theo pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng người này như hột giống tốt, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni, khi mạng chung, đã làm viên mãn học giới.

SN 55.26 Anāthapiṇḍika (Thứ Nhất) Paṭhamaanāthapiṇḍikasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông nói với một người đàn ông: “Này người đáng kính, xin hãy đến gặp Tôn giả Sāriputta, và nhân danh tôi, cúi đầu lạy dưới chân ngài. Hãy thưa với ngài rằng: ‘Thưa Tôn giả, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Ông ấy cúi đầu lạy dưới chân ngài.’ Và sau đó hãy nói: ‘Thưa Tôn giả, xin ngài hãy đến thăm nhà ông ấy vì lòng từ bi.’”

“Vâng, thưa ngài,” người đàn ông đó trả lời. Ông đã làm theo lời Anāthapiṇḍika yêu cầu. Sāriputta im lặng chấp thuận.

Sau đó, Tôn giả Sāriputta mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, cùng với Tôn giả Ānanda làm thị giả, đến nhà Anāthapiṇḍika. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn, và nói với Anāthapiṇḍika: “Tôi hy vọng ông vẫn khỏe, gia chủ; tôi hy vọng ông vẫn ổn. Và tôi hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm bớt của nó là rõ ràng, chứ không phải sự tăng lên.”

“Thưa Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua được. Cơn đau thật khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm đi.”

"Gia chủ, ông không có sự hoài nghi vào Đức Phật, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và ông có niềm tin bất động vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’ Khi thấy trong mình niềm tin bất động vào Đức Phật đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức.

Ông không có sự hoài nghi vào giáo pháp, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và ông có niềm tin bất động vào giáo pháp: ‘Giáo pháp được Đức Phật khéo giảng dạy—hiển hiện trong đời này, có hiệu quả tức thì, mời gọi đến để thấy, có liên quan, để người trí có thể tự mình biết được.’ Khi thấy trong mình niềm tin bất động vào giáo pháp đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức.

Ông không có sự hoài nghi vào Tăng đoàn, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Và ông có niềm tin bất động vào Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật đang thực hành con đường tốt đẹp, trực tiếp, có hệ thống và đúng đắn. Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi, tám cá nhân. Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật này xứng đáng được cúng dường cho chư thiên, xứng đáng được hiếu khách, xứng đáng được dâng tặng phẩm vật tôn giáo, và xứng đáng được tôn kính bằng cách chắp tay. Đó là ruộng phước tối cao cho thế gian.’ Khi thấy trong mình niềm tin bất động vào Tăng đoàn đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức.

Ông không có giới đức phi đạo đức, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Giới đức của ông được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Khi thấy trong mình giới đức được các bậc thánh yêu mến đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức.

Ông không có Tầm nhìn ác, điều khiến một người phàm phu vô văn bị tái sanh—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—vào một nơi mất mát, một cảnh giới xấu, đọa xứ, địa ngục. Ông có tầm nhìn thiện. Khi thấy trong mình tầm nhìn thiện đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức.

Ông không có suy nghĩ ác…

lời nói ác…

hành động ác…

nghề nghiệp ác…

nỗ lực ác…

niệm ác…

định ác…

tri kiến ác…

sự giải thoát ác… Ông có sự giải thoát đúng đắn. Khi thấy trong mình sự giải thoát đúng đắn đó, cơn đau có thể dịu đi ngay lập tức."

Và rồi cơn đau của Anāthapiṇḍika dịu đi ngay lập tức. Sau đó, ông dâng thức ăn từ đĩa của mình cho Sāriputta và Ānanda. Khi Sāriputta đã ăn xong và rửa tay và bát, Anāthapiṇḍika lấy một chiếc ghế thấp và ngồi sang một bên. Tôn giả Sāriputta bày tỏ lòng biết ơn với ông bằng những câu kệ này.

"Ai có đức tin vào Đấng Như Lai,
Không lay chuyển và vững chắc;
Có giới hạnh tốt đẹp,
Được các bậc thánh ca ngợi và yêu mến;

Ai có niềm tin vào Tăng đoàn,
Và có cái nhìn đúng đắn:
Họ được cho là thịnh vượng,
Cuộc đời họ không vô ích.

Vậy hãy để người trí tận tâm
Với đức tin, hành vi đạo đức,
Niềm tin, và tuệ giác về giáo pháp,
Ghi nhớ lời dạy của các vị Phật."

Sau khi bày tỏ lòng biết ơn với Anāthapiṇḍika bằng những câu kệ này, Sāriputta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

Sau đó, Ānanda đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông: “Vậy, Ānanda, con từ đâu đến vào giữa ban ngày?”

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã khuyên dạy gia chủ Anāthapiṇḍika theo cách này và cách khác.”

“Sāriputta là người sáng suốt, Ānanda. Ông ấy có trí tuệ vĩ đại, vì ông ấy có thể phân tích bốn yếu tố của sự nhập lưu theo mười phương diện.”

26.VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1) (S.v,380)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika đang bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3. Rồi gia chủ Anàthapindika bảo một người:

− Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta và thưa: “Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta”; và thưa: “Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!”

− Thưa vâng, Gia chủ.

Người ấy, vâng đáp gia chủ Anàthapindika, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.

4. Ngồi một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:

− Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta, gia chủ thưa: “Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!”

Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.

5. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát với Tôn giả Ananda là Sa-môn tùy tùng, đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Anàthapindika:

− Này Gia chủ, Gia chủ có kham nhẫn nổi không? Gia chủ có chịu đựng nổi không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?

− Thưa Tôn giả, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu đựng. Kịch liệt là khổ thọ nơi con. Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có dấu hiệu chúng tăng trưởng, không giảm thiểu.

6. − Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Phật, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Phật. Trái lại, Gia chủ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.

7. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Pháp, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Pháp. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết… tự mình giác hiểu”. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.

8. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín như vậy đối với chúng Tăng. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn… là phước điền vô thượng ở đời”. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.

9. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu ác giới, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào… địa ngục. Nhưng Gia chủ không có ác giới như vậy. Trái lại, Gia chủ có giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Nếu Gia chủ tự thấy các giới được các bậc Thánh ái kính ấy, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.

10. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà kiến như vậy, nên sau khi thân hoại… địa ngục. Nhưng Gia chủ không có tà kiến như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh kiến. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.

11-19. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà tư duy… tà ngữ… tà nghiệp… tà mạng… tà tinh tấn… tà niệm… tà định… tà trí… tà giải thoát như vậy, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có từ tư duy… tà ngữ… tà nghiệp… tà mạng… tà tinh tấn… tà niệm… tà định… tà trí… tà giải thoát như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh tư duy… chánh ngữ… chánh nghiệp… chánh mạng… chánh tinh tấn… chánh niệm… chánh định… chánh trí… chánh giải thoát. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh tư duy… chánh ngữ… chánh nghiệp… chánh mạng… chánh tinh tấn… chánh niệm… chánh định… chánh trí… chánh giải thoát của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của

Gia chủ được an tịnh.

20. Rồi các cảm thọ của gia chủ Anàthapindika lập tức được an tịnh.

21. Rồi gia chủ Anàthapindika mời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ananda dùng bữa ăn (từ nơi nồi nấu cơm của mình).

22. Sau khi Tôn giả Sàriputta ăn xong, tay đã rời khỏi bát, gia chủ Anàthapindika đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên.

23. Tôn giả Sàriputta tán thán gia chủ Anàthapindika với những lời kệ này:

Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động khéo an lập.
Ai có giới thiện lành,
Ðược bậc Thánh ái kính.
Ai tin tưởng chúng Tăng,
Sở kiến được chánh trực,
Người ấy gọi “Không nghèo”,
Ðời sống không uổng phí.
Do vậy, bậc Hiền minh
Cần tu tập tín giới,
Thấy rõ được Chánh pháp,
Không quên lời Phật dạy.

24. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lời hoan hỷ tán thán với các lời kệ này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

25. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Aananda đang ngồi một bên:

26. − Này Ananda, Ông đi đâu để nghỉ trưa?

− Bạch Thế Tôn, gia chủ Anàthapindika đã được Tôn giả Sàriputta giáo giới với lời giáo giới như thế này, thế này…

− Hiền minh, này Ananda, là Sàriputta ! Ðại tuệ, này Ananda, là Sàriputta ! Vị ấy có thể chia chẻ bốn Dự lưu phần thành mười tướng.

SN 55.27 Cùng Với Anāthapiṇḍika (Thứ Hai) Dutiyaanāthapiṇḍikasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông nói với một người đàn ông: “Này người đáng kính, xin hãy đến gặp Tôn giả Ānanda, và nhân danh tôi, cúi đầu lạy dưới chân ngài. Hãy thưa với ngài rằng: ‘Thưa Tôn giả, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Ông ấy cúi đầu lạy dưới chân ngài.’ Và sau đó hãy nói: ‘Thưa Tôn giả, xin ngài hãy đến thăm nhà ông ấy vì lòng từ bi.’”

“Vâng, thưa ngài,” người đàn ông đó trả lời. Ông đã làm theo lời Anāthapiṇḍika yêu cầu. Ānanda im lặng chấp thuận.

Sau đó, Tôn giả Ānanda mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika. Ngài ngồi xuống trên chỗ đã được trải sẵn và nói với Anāthapiṇḍika: “Tôi hy vọng ông vẫn khỏe, gia chủ; tôi hy vọng ông vẫn ổn. Và tôi hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên; rằng sự giảm bớt của nó, chứ không phải sự tăng lên, là rõ ràng.”

“Thưa Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua được. Cơn đau thật khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng lên của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm đi.”

"Gia chủ, khi một người phàm phu vô văn có bốn điều, họ sợ hãi và kinh hoàng, và lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết. Bốn điều đó là gì? Thứ nhất, một người phàm phu vô văn hoài nghi Đức Phật. Khi thấy trong mình sự hoài nghi Đức Phật đó, họ sợ hãi và kinh hoàng, và lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết.

Hơn nữa, một người phàm phu vô văn hoài nghi giáo pháp…

Hơn nữa, một người phàm phu vô văn hoài nghi Tăng đoàn…

Hơn nữa, một người phàm phu vô văn có giới đức phi đạo đức. Khi thấy trong mình giới đức phi đạo đức đó, họ sợ hãi và kinh hoàng, và lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết. Khi một người phàm phu vô văn có bốn điều này, họ sợ hãi và kinh hoàng, và lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết.

Khi một thánh đệ tử có học có bốn điều, họ không sợ hãi hay kinh hoàng, và không lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết. Bốn điều đó là gì? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Khi thấy trong mình niềm tin bất động vào Đức Phật đó, họ không sợ hãi hay kinh hoàng, và không lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp…

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Tăng đoàn…

Hơn nữa, giới đức của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Khi thấy trong mình giới đức được các bậc thánh yêu mến đó, họ không sợ hãi hay kinh hoàng, và không lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết.

Khi một thánh đệ tử có học có bốn điều này, họ không sợ hãi hay kinh hoàng, và không lo sợ những gì chờ đợi họ sau khi chết."

“Tôn giả Ānanda đáng kính, tôi không sợ hãi. Tôi có gì phải sợ? Vì tôi có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và trong số các giới luật tu tập phù hợp cho người tại gia do Đức Phật dạy, tôi không thấy mình đã vi phạm giới nào.”

“Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn! Ông đã tuyên bố quả vị của sự nhập lưu.”

27.VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2) (S.v,385)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3-5. … (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ananda chứ không phải Tôn giả Sàriputta, và Tôn giả Ananda đi chỉ có một mình, cho đến… có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu).

6. − Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn?

7. Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.

8. Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết… chỉ người có trí tự mình giác hiểu”. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ… lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn… là phước điền vô thượng ở đời”… về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.

9. − Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.

10. − Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi.

SN 55.28 Nguy Hiểm và Đe Dọa (Thứ Nhất) Paṭhamabhayaverūpasantasutta

Tại Sāvatthī.

Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với gia chủ Anāthapiṇḍika:

"Gia chủ, khi một thánh đệ tử đã dập tắt năm nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của sự nhập lưu, và đã thấy rõ và thấu hiểu hệ thống cao quý bằng trí tuệ, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’

Năm nguy hiểm và đe dọa mà vị ấy đã dập tắt là gì? Bất kỳ ai giết hại chúng sanh đều tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các kiếp sau, và trải qua nỗi đau và buồn bã về tinh thần. Vì vậy, nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất kỳ ai từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Bất kỳ ai trộm cắp… Bất kỳ ai phạm tà dâm… Bất kỳ ai nói dối… Bất kỳ ai tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say tạo ra nguy hiểm và đe dọa cả trong đời này và trong các kiếp sau, và trải qua nỗi đau và buồn bã về tinh thần. Vì vậy, nguy hiểm và đe dọa đó được dập tắt đối với bất kỳ ai từ bỏ bia, rượu, và các chất gây say. Đây là năm nguy hiểm và đe dọa mà vị ấy đã dập tắt.

Bốn yếu tố của sự nhập lưu mà vị ấy có là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Đây là bốn yếu tố của sự nhập lưu mà vị ấy có.

Và hệ thống cao quý mà vị ấy đã thấy rõ và thấu hiểu bằng trí tuệ là gì? Một thánh đệ tử suy ngẫm tận đến gốc rễ về chính duyên khởi (dependent origination / paṭiccasamuppāda / sự phát sinh có điều kiện của các hiện tượng): ‘Khi cái này có, cái kia có; do sự phát sinh của cái này, cái kia phát sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do sự chấm dứt của cái này, cái kia chấm dứt.’ Đó là: Vô minh là điều kiện cho hành. Hành là điều kiện cho thức. Thức là điều kiện cho danh và sắc. Danh và sắc là điều kiện cho sáu xứ giác quan. Sáu xứ giác quan là điều kiện cho xúc. Xúc là điều kiện cho cảm giác. Cảm giác là điều kiện cho ái. Ái là điều kiện cho bám giữ. Bám giữ là điều kiện cho hữu. Hữu là điều kiện cho sanh. Sanh là điều kiện cho già và chết, sầu, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não nảy sinh. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này khởi nguồn. Khi vô minh phai nhạt và chấm dứt không còn sót lại, hành chấm dứt. Khi hành chấm dứt, thức chấm dứt. Khi thức chấm dứt, danh và sắc chấm dứt. Khi danh và sắc chấm dứt, sáu xứ giác quan chấm dứt. Khi sáu xứ giác quan chấm dứt, xúc chấm dứt. Khi xúc chấm dứt, cảm giác chấm dứt. Khi cảm giác chấm dứt, ái chấm dứt. Khi ái chấm dứt, bám giữ chấm dứt. Khi bám giữ chấm dứt, hữu chấm dứt. Khi hữu chấm dứt, sanh chấm dứt. Khi sanh chấm dứt, già và chết, sầu, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não chấm dứt. Đó là cách toàn bộ khối khổ đau này chấm dứt. Đây là hệ thống cao quý mà vị ấy đã thấy rõ và thấu hiểu bằng trí tuệ.

Khi một thánh đệ tử đã dập tắt năm nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của sự nhập lưu, và đã thấy rõ và thấu hiểu hệ thống cao quý bằng trí tuệ, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

28.VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3) (S.v,387)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:

3. − Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”. Thế nào là năm sự sợ, hãi hận thù được tịnh chỉ?

4. Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.

… khởi lên cho người lấy của không cho…

… khởi lên cho người tà hạnh trong các dục…

… khởi lên cho người nói láo…

Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.

Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.

5. Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn…”. đối với Pháp… đối với chúng Tăng… vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định.

Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.

6. Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt… nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.

Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.

7. Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

SN 55.29 Nguy Hiểm và Đe Dọa (Thứ Hai) Dutiyabhayaverūpasantasutta

Tại Sāvatthī. … “Này các Tỷ kheo, khi một thánh đệ tử đã dập tắt năm nguy hiểm và đe dọa, có bốn yếu tố của sự nhập lưu, và đã thấy rõ và thấu hiểu hệ thống cao quý bằng trí tuệ, vị ấy có thể, nếu muốn, tự tuyên bố về mình: ‘Ta đã chấm dứt việc tái sanh vào địa ngục, cõi súc sinh, và cõi ngạ quỷ. Ta đã chấm dứt tất cả những nơi mất mát, cảnh giới xấu, đọa xứ. Ta là một người nhập lưu! Ta không còn bị tái sanh vào đọa xứ, và chắc chắn sẽ giác ngộ.’”

29.IX. Sợ Hãi, hay Vị Tỷ Kheo (S.v,389)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. … (như kinh trên 28, chỉ khác, đây là một số đông Tỷ-kheo đến đức Phật và đức Phật thuyết cho các vị ấy) …

SN 55.30 Cùng Với Nandaka Người Licchavi Nandakalicchavisutta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Vesālī, tại Rừng Lớn, trong giảng đường có mái nhọn. Sau đó, Nandaka, vị đại thần người Licchavi, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông:

"Nandaka, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Một thánh đệ tử có bốn điều này được đảm bảo sống lâu, cả ở cõi người và cõi trời… sắc đẹp… hạnh phúc… danh tiếng… và quyền lực, cả ở cõi người và cõi trời. Này, ta không nói điều này vì đã nghe từ một sa môn hay Bà-la-môn nào khác. Ta chỉ nói điều này vì ta đã tự mình biết, thấy, và chứng ngộ."

Khi Ngài đã nói xong, một người nào đó nói với Nandaka:

“Thưa ngài, đã đến giờ tắm.”

“Thôi đi, anh bạn, với việc tắm bên ngoài đó. Việc tắm bên trong này là đủ cho tôi, đó là, niềm tin vào Đức Phật.”

30.X. Lichavi, hay Nandaka (S.v,389)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, chỗ ngôi nhà có nóc nhọn.

2. Rồi đại thần người Licchavi tên là Nandaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Nandaka, vị đại thần người Licchavi đang ngồi một bên:

− Này Nandaka, thành tựu bốn pháp, một vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu… chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này Nandaka, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh… đưa đến Thiền định. Thành tựu bốn pháp này, này Nandaka, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

4. Thành tựu bốn pháp này, này Nadaka, vị Thánh đệ tử liên hệ đến tuổi thọ chư Thiên và loài Người, liên hệ đến dung sắc, liên hệ đến an lạc, liên hệ đến thanh danh, liên hệ đến lực tăng thượng (adhipateyya) chư Thiên và loài Người.

5. Ðiểm này, này Nandaka, Ta biết chứ không phải nhờ nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào rồi Ta tuyên bố. Chính do tự Ta biết, tự Ta thấy, tự Ta ý thức rồi Ta tuyên bố.

6. Khi được nghe nói vậy, một người thưa với Nandaka, vị đại thần người Licchavi:

− Thưa Ðại quan, nay đã đến giờ tắm.

− Thôi, nay đã vừa rồi, này Bạn, đó chỉ là sự tắm rửa bề ngoài. Tắm rửa bên trong này là vừa đủ cho ta, tức là lòng tịnh tín đối với Thế Tôn.

Phẩm Công Đức Tràn Đầy

SN 55.31 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Nhất) Paṭhamapuññābhisandasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy (overflowing merit / puññābhisanda / dòng phước báu tuôn chảy không ngừng), thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Đây là loại công đức tràn đầy thứ nhất, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Đây là loại công đức tràn đầy thứ hai, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Tăng đoàn… Đây là loại công đức tràn đầy thứ ba, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Hơn nữa, giới đức của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Đây là loại công đức tràn đầy thứ tư, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc."

IV. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn

31. I. Sung Mãn (1) (S.v,391)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán…Phật, Thế Tôn”. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết… chỉ người có trí tự mình giác hiểu”. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ hai.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn… là phước điền vô thượng ở đời”. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ ba.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.

7. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

SN 55.32 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Hai) Dutiyapuññābhisandasutta

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, một thánh đệ tử sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt, rộng lòng bố thí, hào phóng, thích buông xả, cam kết làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây là loại công đức tràn đầy thứ tư, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc."

32. II. Sung Mãn (2) (S.v,391)

1-5. … (giống như kinh trên, đoạn 1-5. …

6. − Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.

7. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

SN 55.33 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Ba) Tatiyapuññābhisandasutta

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, một thánh đệ tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh và diệt, là trí tuệ cao quý, thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây là loại công đức tràn đầy thứ tư, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc."

33. III. Sung Mãn (3) (S.v,392)

2-5. … (giống như kinh 31, đoạn 2-5. …

6. − Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.

7. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

SN 55.34 Dấu Chân Của Chư Thiên (Thứ Nhất) Paṭhamadevapadasutta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, bốn dấu chân của chư thiên này là để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch.

Bốn dấu chân đó là gì? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Đây là dấu chân thứ nhất của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, giới đức của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Đây là dấu chân thứ tư của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch. Bốn dấu chân của chư thiên này là để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch."

34. IV. Con Ðường Của Chư Thiên (1) (S.v,392)

1. Nhân duyên ở Sàvatthi.

2. − Có bốn thiên đạo này của chư Thiên, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín đối với đức Phật… Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.

4-6. … (như trên đối với Pháp, với chúng Tăng, với các giới) … " Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến chúng… được thuần bạch.

7. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh… được thuần bạch.

SN 55.35 Dấu Chân Của Chư Thiên (Thứ Hai) Dutiyadevapadasutta

"Này các Tỷ kheo, bốn dấu chân của chư thiên này là để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch.

Bốn dấu chân đó là gì? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’ Sau đó, vị ấy suy ngẫm: ‘Vậy dấu chân của chư thiên là gì?’ Vị ấy hiểu: ‘Tôi nghe rằng ngày nay chư thiên xem việc không làm hại là tối thượng. Nhưng tôi không làm hại bất kỳ sinh vật nào, dù mạnh hay yếu. Tôi chắc chắn sống với một dấu chân của chư thiên.’ Đây là dấu chân thứ nhất của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, giới đức của một thánh đệ tử được các bậc thánh yêu mến, không bị phá vỡ, không tì vết, không vết nhơ, và không bị hoen ố, có tính giải thoát, được người trí ca ngợi, không sai lầm, và dẫn đến Định. Sau đó, vị ấy suy ngẫm: ‘Vậy dấu chân của chư thiên là gì?’ Vị ấy hiểu: ‘Tôi nghe rằng ngày nay chư thiên xem việc không làm hại là tối thượng. Nhưng tôi không làm hại bất kỳ sinh vật nào, dù mạnh hay yếu. Tôi chắc chắn sống với một dấu chân của chư thiên.’ Đây là dấu chân thứ tư của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch. Bốn dấu chân của chư thiên này là để thanh lọc những chúng sanh chưa thanh tịnh và làm trong sạch những chúng sanh chưa trong sạch."

35. V. Con Ðường Của Chư Thiên (2) (S.v,393)

1. …

2. − Có bốn thiên đạo của chư Thiên này, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy suy tư như sau: “Thế nào là thiên đạo của chư Thiên? Nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo”. Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên khiến các loài chúng sanh… được thuần bạch.

4-5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với chúng Tăng…

6. … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Vị ấy suy tư như sau: “Thế nào là thiên đạo của chư Thiên?”. Vị ấy rõ biết như sau: “Ta nghe các chư Thiên nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo”. Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến các chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến các chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.

7. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh… được thuần bạch.

SN 55.36 Chung Với Chư Thiên Devasabhāgatasutta

"Này các Tỷ kheo, khi một người có bốn điều, chư thiên sẽ hài lòng và nói về những gì họ có chung. Bốn điều đó là gì? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Có những vị trời có niềm tin bất động vào Đức Phật đã qua đời từ đây và được tái sanh ở đó. Họ nghĩ: ‘Có niềm tin bất động vào Đức Phật như vậy, chúng ta đã qua đời từ đó và được tái sanh ở đây. Thánh đệ tử đó có cùng loại niềm tin bất động vào Đức Phật, vì vậy họ sẽ đến với sự hiện diện của chư thiên.’

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Có những vị trời có giới đức được các bậc thánh yêu mến đã qua đời từ đây và được tái sanh ở đó. Họ nghĩ: ‘Có giới đức được các bậc thánh yêu mến như vậy, chúng ta đã qua đời từ đó và được tái sanh ở đây. Thánh đệ tử đó có cùng loại giới đức được các bậc thánh yêu mến, vì vậy họ sẽ đến với sự hiện diện của chư thiên.’ Khi một người có bốn điều, chư thiên sẽ hài lòng và nói về những gì họ có chung."

36. VI. Ði Ðến Bạn Bè (S.v,394)

1. …

2. − Chư Thiên, này các Tỷ-kheo, hoan hỷ nói chuyện bạn bè với ai thành tựu bốn pháp. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Chư Thiên nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được sanh ở đây. Chư Thiên ấy suy nghĩ: “Như chúng ta thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, mệnh chung chỗ kia, được sanh chỗ này”. Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu lòng tịnh tín bất động như vậy. Họ nói với vị ấy: “Hãy đến đây, đến gần chư Thiên”.

4-5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử… đối với Pháp… đối với chúng Tăng…

6. Vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Chư Thiên nào thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được tái sanh chỗ kia. Họ suy nghĩ như sau: “Chúng ta thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính. Do vậy, chúng ta mệnh chung tại chỗ kia, sanh tại chỗ này”. Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính như vậy. Họ nói với vị ấy: “Hãy đến đây, đến gần với chư Thiên”.

7. Những ai thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên hoan hỷ nói chuyện bạn bè với họ.

SN 55.37 Cùng Với Mahānāma Mahānāmasutta

Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa. Sau đó, Mahānāma người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, một cư sĩ tại gia được định nghĩa như thế nào?”

“Mahānāma, khi con đã quy y Phật, Pháp, và Tăng, con được xem là một cư sĩ tại gia.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia có đạo đức được định nghĩa như thế nào?”

“Khi một cư sĩ tại gia không giết hại chúng sanh, trộm cắp, phạm tà dâm, nói dối, hoặc tiêu thụ bia, rượu, và các chất gây say, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đạo đức.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia có đức tin được định nghĩa như thế nào?”

“Đó là khi một cư sĩ tại gia có đức tin vào sự giác ngộ của Đấng Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, một vị Phật giác ngộ viên mãn, thành tựu tri thức và đức hạnh, bậc Thiện Thệ, người biết thế gian, bậc hướng đạo tối cao cho những ai muốn được huấn luyện, bậc thầy của chư thiên và loài người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’ Khi đó, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đức tin.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia rộng lượng được định nghĩa như thế nào?”

“Đó là khi một cư sĩ tại gia sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt, rộng lòng bố thí, hào phóng, thích buông xả, cam kết làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Khi đó, họ được xem là một cư sĩ tại gia rộng lượng.”

“Nhưng một cư sĩ tại gia có trí tuệ được định nghĩa như thế nào?”

“Đó là khi một cư sĩ tại gia có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh và diệt, là trí tuệ cao quý, thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Khi đó, họ được xem là một cư sĩ tại gia có trí tuệ.”

37. VII. Mahànàma (S.v,395)

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn cây bàng.

2. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến… ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

3. − Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ?

− Ai quy y Phật, này Mahànàma, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ.

4. − Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ giới?

− Này Mahànàma, người cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ giới.

5. − Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ tín?

− Ở đây, này Mahànàma, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ tín.

6. − Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là người cư sĩ đầy đủ lòng bố thí?

− Ở đây, này Mahànàma, người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích chú chia xẻ vật bố thí. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ bố thí.

7. − Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ?

− Ở đây, này Mahànàma, người cư sĩ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ.

SN 55.38 Mưa Vassasutta

“Này các Tỷ kheo, giả sử trời mưa lớn trên đỉnh núi, và nước chảy xuống đồi để lấp đầy các hốc, khe, và suối nhỏ. Khi chúng đầy, chúng lấp đầy các ao. Các ao lấp đầy các hồ, các hồ lấp đầy các dòng suối, và các dòng suối lấp đầy các con sông. Và khi các con sông đầy, chúng lấp đầy đại dương. Tương tự như vậy, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật, giáo pháp, và Tăng đoàn, và có giới đức được các bậc thánh yêu mến. Những điều này chảy về phía trước; và, sau khi vượt qua bờ bên kia, chúng dẫn đến sự chấm dứt các ô nhiễm.”

38. VIII. Mưa (S.v,396)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, khi trên đầu núi có cơn mưa to lớn, nước mưa ấy chảy theo hướng xuôi của nó, tràn đầy các hang núi, khe núi; sau khi tràn đầy các hang núi, khe núi, nó tràn đầy hồ nhỏ; sau khi tràn đầy hồ nhỏ, nó tràn đầy hồ lớn; sau khi tràn đầy hồ lớn, nó tràn đầy sông nhỏ; sau khi tràn đầy sông nhỏ, nó tràn đây sông lớn; sau khi tràn đầy sông lớn, nó tràn đầy biển, đại dương.

3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị Thánh đệ tử, lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, và các giới được các bậc Thánh ái kính; những pháp này trôi chảy đến bờ bên kia, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.

SN 55.39 Cùng Với Kāḷigodhā Kāḷigodhasutta

Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa. Sau đó, Đức Phật mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà của bà Kāḷigodhā người Thích Ca, nơi Ngài ngồi trên chỗ đã được trải sẵn. Sau đó, Kāḷigodhā đến gặp Đức Phật, cúi lạy, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với bà:

“Godhā, một nữ thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ. Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và họ sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt, rộng lòng bố thí, hào phóng, thích buông xả, cam kết làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Một nữ thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.”

“Bạch Thế Tôn, bốn yếu tố của sự nhập lưu này do Đức Phật giảng dạy đều có trong con, và con thể hiện chúng. Vì con có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và con chia sẻ không dè dặt tất cả những món quà có thể cho đi trong gia đình chúng con với những người có đạo đức và phẩm hạnh tốt.”

“Bà thật may mắn, Godhā, thật vô cùng may mắn, Bà đã tuyên bố quả vị của sự nhập lưu.”

39. IX. Kàli (S.v,398)

1. Lúc bấy giờ Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Cây Bàng.

2. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của Thích nữ Kàligodhà; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

3. Rồi Thích nữ Kàligodhà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Thích nữ Kàligodhà đang ngồi một bên:

− Thành tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4. Ở đây, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Vị này trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Này Godhà, thành tựu bốn pháp này, một nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

5. − Bốn Dự lưu phần được Thế Tôn thuyết giảng này, bạch Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện những pháp này. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Như Lai… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… Phàm những vật gì được đem bố thí trong gia đình, tất cả đều được phân phát cho những người có giới và những người làm thiện.

6. − Lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Thật khéo lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Này Godhà, Người đã tuyên bố về Dự lưu quả.

SN 55.40 Nandiya Người Thích Ca Nandiyasakkasutta

Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa. Sau đó, Nandiya người Thích Ca đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, nếu một thánh đệ tử hoàn toàn và tuyệt đối thiếu bốn yếu tố của sự nhập lưu, liệu họ có sống buông thả không?”

“Nandiya, một người hoàn toàn và tuyệt đối thiếu bốn yếu tố của sự nhập lưu này là một người ngoài cuộc, thuộc về hạng phàm phu, ta nói vậy. Tuy nhiên, Nandiya, về việc một thánh đệ tử sống buông thả như thế nào và sống tinh tấn như thế nào, hãy lắng nghe và chú tâm, ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” Nandiya trả lời. Đức Phật đã nói điều này:

"Và một thánh đệ tử sống buông thả như thế nào? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Họ hài lòng với niềm tin đó, và không nỗ lực thêm để sống độc cư vào ban ngày hay ẩn tu vào ban đêm. Khi họ sống buông thả, không có phấn chấn. Khi không có phấn chấn, không có phấn khởi. Khi không có phấn khởi, không có thư thái. Khi không có thư thái, có khổ đau. Khi một người đau khổ, tâm không trở nên đắm chìm trong định. Khi tâm không đắm chìm trong định, các pháp không trở nên rõ ràng. Vì các pháp không trở nên rõ ràng, họ được cho là sống buông thả.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Họ hài lòng với giới đức được các bậc thánh yêu mến đó, và không nỗ lực thêm để sống độc cư vào ban ngày hay ẩn tu vào ban đêm. Khi họ sống buông thả, không có phấn chấn. Khi không có phấn chấn, không có phấn khởi. Khi không có phấn khởi, không có thư thái. Khi không có thư thái, có khổ đau. Khi một người đau khổ, tâm không trở nên đắm chìm trong định. Khi tâm không đắm chìm trong định, các pháp không trở nên rõ ràng. Vì các pháp không trở nên rõ ràng, họ được cho là sống buông thả. Đó là cách một thánh đệ tử sống buông thả.

Và một thánh đệ tử sống tinh tấn như thế nào? Thứ nhất, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… Nhưng họ không hài lòng với niềm tin đó, và nỗ lực thêm để sống độc cư vào ban ngày và ẩn tu vào ban đêm. Khi họ sống tinh tấn, phấn chấn nảy sinh. Khi vui mừng, phấn khởi nảy sinh. Khi tâm đầy phấn khởi, thân trở nên thư thái. Khi thân thư thái, họ cảm thấy bình an. Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định. Khi tâm đắm chìm trong định, các pháp trở nên rõ ràng. Vì các pháp đã trở nên rõ ràng, họ được cho là sống tinh tấn.

Hơn nữa, một thánh đệ tửniềm tin bất động vào giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Nhưng họ không hài lòng với giới đức được các bậc thánh yêu mến đó, và nỗ lực thêm để sống độc cư vào ban ngày và ẩn tu vào ban đêm. Khi họ sống tinh tấn, phấn chấn nảy sinh. Khi vui mừng, phấn khởi nảy sinh. Khi tâm đầy phấn khởi, thân trở nên thư thái. Khi thân thư thái, họ cảm thấy bình an. Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định. Khi tâm đắm chìm trong định, các pháp trở nên rõ ràng. Vì các pháp đã trở nên rõ ràng, họ được cho là sống tinh tấn. Đó là cách một thánh đệ tử sống tinh tấn."

40) X. Nandiyà (S.v,397)

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.

2. Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến… ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:

3. − Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?

− Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu.

4. Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

5. − Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Vị này thỏa mãn với những giới được các bậc Thánh ái kính, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy trú phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.

6. Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn”. Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử đối với Pháp… đối với chúng Tăng… vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Vị ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái kính, cố gắng tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Như vậy, này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.

Phẩm Công Đức Tràn Đầy, Có Kệ

SN 55.41 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Nhất) Paṭhamaabhisandasutta

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. … Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Khi một thánh đệ tử có bốn loại công đức tràn đầy và thiện lành này, không dễ để đo lường được bao nhiêu công đức vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc của họ. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối công đức không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại.

Nó giống như cố gắng đo lường bao nhiêu nước có trong đại dương. Không dễ để nói có bao nhiêu gallon, bao nhiêu trăm, ngàn, trăm ngàn gallon. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối nước không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại.

Tương tự như vậy, khi một thánh đệ tử có bốn loại công đức tràn đầy và thiện lành này, không dễ để đo lường được bao nhiêu công đức vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc của họ. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối công đức không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Vô số người dùng nước sông,
Và dù sông có nhiều,
Tất cả đều đổ về biển lớn, đại dương vô biên,
Biển cả hung dữ là nơi chứa châu báu.

Cũng vậy, khi một người cho thức ăn, thức uống, và quần áo;
Và họ là người cho giường, ghế, và chiếu—
Dòng công đức chảy về người sáng suốt đó,
Như sông mang nước về biển."

V. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn Với Kệ

41. I. Sung Mãn (1) (S.v,399)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4. Với vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được vô lượng phước đức: “Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc”. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.

5. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được số lượng nước trong biển lớn là có bao nhiêu thùng, hay có bao nhiêu trăm thùng, hay có bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, thật không dễ gì đếm được số lượng phước đức: “Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc”. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.

6. Thế Tôn nói như vầy:

Là đại dương, đại hải,
Nước mênh mông rộng lớn,
Ðầy rẫy những hãi hùng,
Chứa vô lượng trân châu,
Phục vụ trăm ngàn người,
Các con sông (lớn, nhỏ),
Chúng tuôn chảy ồ ạt,
Chúng đổ về bể khơi.
Cũng vậy là những người,
Thí đồ ăn, uống, vải,
Bố thí giường, chỗ ngồi,
Mền, nệm, các đồ nằm,
Vô lượng nguồn phước đức,
Từ kẻ trí tuôn chảy,
Như sông hồ đầy nước,

Chảy tuôn ra bể cả.

SN 55.42 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Hai) Dutiyaabhisandasutta

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, một thánh đệ tử sống tại gia thoát khỏi vết nhơ của sự keo kiệt, rộng lòng bố thí, hào phóng, thích buông xả, cam kết làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây là loại công đức tràn đầy thứ tư, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Khi một thánh đệ tử có bốn loại công đức tràn đầy và thiện lành này, không dễ để đo lường được bao nhiêu công đức vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc của họ. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối công đức không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại.

Có những nơi mà các con sông lớn—sông Hằng, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī—hợp lại và hội tụ. Không dễ để đo lường bao nhiêu nước có ở những nơi như vậy bằng cách nói có bao nhiêu gallon, bao nhiêu trăm, ngàn, trăm ngàn gallon. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối nước không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại.

Tương tự như vậy, khi một thánh đệ tử có bốn loại công đức tràn đầy và thiện lành này, không dễ để đo lường được bao nhiêu công đức vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc của họ. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối công đức không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Vô số người dùng nước sông,
Và dù sông có nhiều,
Tất cả đều đổ về biển lớn, đại dương vô biên,
Biển cả hung dữ là nơi chứa châu báu.

Cũng vậy, khi một người cho thức ăn, thức uống, và quần áo;
Và họ là người cho giường, ghế, và chiếu—
Dòng công đức chảy về người sáng suốt đó,
Như sông mang nước về biển."

42. II. Sung Mãn (2) (S.v,401)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4. … (như đoạn số 4, kinh trên) …

5. Ví như, tại chỗ mà các con sông lớn này gặp nhau, nhập vào một dòng với nhau, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravati, sông Sarabhuu, sông Mahi, thật không dễ gì đếm được số lượng nước tại chỗ ấy là có bao nhiêu thùng, bao nhiêu trăm thùng, bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập… đại uẩn phước đức.

6. Thế Tôn nói như vầy:

… (giống như hai bài kệ kinh trên) …

SN 55.43 Công Đức Tràn Đầy (Thứ Ba) Tatiyaabhisandasutta

"Này các Tỷ kheo, có bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn loại đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn…

Hơn nữa, một thánh đệ tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh và diệt, là trí tuệ cao quý, thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây là loại công đức tràn đầy thứ tư, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc. Đây là bốn loại công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc.

Khi một thánh đệ tử có bốn loại công đức tràn đầy và thiện lành này, không dễ để đo lường được bao nhiêu công đức vị ấy có bằng cách nói rằng đây là mức độ công đức tràn đầy, thiện lành tràn đầy nuôi dưỡng hạnh phúc của họ. Nó chỉ đơn giản được coi là một khối công đức không thể tính toán, không thể đo lường, vĩ đại."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

“Người mong muốn công đức, dựa trên điều thiện,
Phát triển con đường để nhận ra sự giải thoát khỏi cái chết.
Khi họ đã đạt đến cốt tủy của giáo pháp,
- vui mừng trong sự chấm dứt,
Họ không run sợ trước sự tiếp cận
- của Thần Chết.”

43. III. Sung Mãn (3) (S.v,401)

1. …

2. … (như đoạn số 2, kinh trên) …

3. … (đoạn đầu giống kinh trên về đối với Phật, Pháp, Tăng… ) có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4. … (như đoạn số 4, kinh trước) …

5. Thế Tôn thuyết như vầy:

Ai ước muốn phước đức,
Vững trú trên điều thiện,
Tu tập theo con đường,
Ðưa đến đạt bất tử,
Chứng được lõi của pháp,
Thích thú đoạn (lậu hoặc),
Vị ấy không run sợ,
Khi nghĩ đến thần chết.

SN 55.44 Giàu Có (Thứ Nhất) Paṭhamamahaddhanasutta

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều được cho là giàu có, sung túc, và thịnh vượng.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này được cho là giàu có, sung túc, và thịnh vượng."

44. IV. Rất Giàu Hay Giàu (1) (S.v,402)

1. …

2. − Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn. Thế nào là bốn?

3. … (như các kinh trước, nói về tịnh tín bất động đối với ba ngôi báu và các giới) …

4. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.

SN 55.45 Giàu Có (Thứ Hai) Dutiyamahaddhanasutta

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều được cho là giàu có, sung túc, thịnh vượng, và nổi tiếng.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này được cho là giàu có, sung túc, thịnh vượng, và nổi tiếng."

45. V. Rất Giàu Hay Giàu (2) (S.v,402)

… (giống như kinh trước) …

SN 55.46 Bản Giản Lược Suddhakasutta

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ."

46. VI. Tỷ Kheo Hay Thanh Tịnh (S.v,403)

1. …

2. − Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

3. … (như các kinh trước, nói về tịnh tín đối với ba ngôi báu và các giới) …

4. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

SN 55.47 Cùng Với Nandiya Nandiyasutta

Tại Kapilavatthu. Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với Nandiya người Thích Ca:

"Nandiya, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ."

47. VII. Nandiya (S.v,403)

1. Nhân duyên ở Kapilavatthu.

2. Thế Tôn nói với họ Thích Nandiya đang ngồi một bên: “Thành tựu bốn pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu… giác ngộ. Thế nào là bốn?”.

3. … (thành tựu tịnh tín đối với Ba Ngôi Báu và các giới) …

4. … (như đoạn số 4, kinh trước) …

SN 55.48 Cùng Với Bhaddiya Bhaddiyasutta

Tại Kapilavatthu. Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với Bhaddiya người Thích Ca:

“Bhaddiya, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu…”

48. VIII. Bhaddiya (S.v,403)

… (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Bhaddiya ) …

SN 55.49 Cùng Với Mahānāma Mahānāmasutta

Tại Kapilavatthu. Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với Mahānāma người Thích Ca:

“Mahānāma, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu…”

49. IX. Mahànàma (S.v,404)

… (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Mahànàma ) …

SN 55.50 Các Yếu Tố Aṅgasutta

“Này các Tỷ kheo, có bốn yếu tố của sự nhập lưu này. Bốn yếu tố đó là gì? Kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ, và thực hành đúng theo pháp. Đây là bốn yếu tố của sự nhập lưu.”

50. X. Phần (S.v,404)

1. …

2. − Có bốn Dự lưu phần này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

3. Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp và tùy pháp.

4. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn Dự lưu phần.

Phẩm Người Trí

SN 55.51 Có Kệ Sagāthakasutta

"Này các Tỷ kheo, một thánh đệ tử có bốn điều là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.

Bốn điều đó là gì? Đó là khi một thánh đệ tửniềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và vị ấy có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định. Một thánh đệ tử có bốn điều này là một người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau đó, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Ai có đức tin vào Đấng Như Lai,
Không lay chuyển và vững chắc;
Có giới hạnh tốt đẹp,
Được các bậc thánh ca ngợi và yêu mến;

Ai có niềm tin vào Tăng đoàn,
Và có cái nhìn đúng đắn:
Họ được cho là thịnh vượng,
Cuộc đời họ không vô ích.

Vậy hãy để người trí tận tâm
Với đức tin, hành vi đạo đức,
Niềm tin, và tuệ giác về giáo pháp,
Ghi nhớ lời dạy của các vị Phật."

VI. Phẩm Với Trí Tuệ

51. I. Với Bài Kệ (S,v,404)

1. …

2. − Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

3. … (Như các kinh trước, tịnh tín Ba Ngôi báu và thành tựu các giới) … Này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu… giác ngộ.

4. Thế Tôn nói như vậy…

Với ai tin Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Với ai giới thiện lành,
Bậc Thánh kính, tán thán.
Với ai tịnh tín Tăng,
Với tri kiến chánh trực,
Ðược nói: không phải nghèo,
Sống vậy không vô ích.
Do vậy, bậc Hiền minh,
Cần tu tập tín giới,
Thấy rõ được Chánh pháp,
Không quên lời Phật dạy.

SN 55.52 Người Đã Hoàn Thành Mùa Mưa Vassaṁvutthasutta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, một Tỷ kheo nào đó đã hoàn thành mùa an cư mưa ở Sāvatthī đã đến Kapilavatthu vì một số công việc. Những người Thích Ca ở Kapilavatthu nghe được tin này.

Họ đến gặp Tỷ kheo đó, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và nói với ông: “Thưa Tôn giả, chúng tôi hy vọng Đức Phật vẫn khỏe mạnh và cường tráng.”

“Ngài vẫn vậy, các bạn tốt.”

“Và chúng tôi hy vọng Sāriputta và Moggallāna vẫn khỏe mạnh và cường tráng.”

“Họ vẫn vậy.”

“Và chúng tôi hy vọng Tăng đoàn Tỷ kheo vẫn khỏe mạnh và cường tráng.”

“Vẫn vậy.”

“Nhưng thưa Tôn giả, trong mùa an cư mưa này, ngài có nghe và học được điều gì trước sự hiện diện của Đức Phật không?”

"Các bạn tốt, tôi đã nghe và học được điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Có ít Tỷ kheo chứng ngộ sự giải thoát tâm không ô nhiễmsự giải thoát bằng trí tuệ ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ điều đó nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm. Có nhiều Tỷ kheo hơn, sau khi đã chấm dứt năm xiềng xích thấp hơn, được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa.’

Ngoài ra, tôi đã nghe và học được điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Có ít Tỷ kheo hơn, sau khi đã chấm dứt năm xiềng xích thấp hơn, được hóa sanh, và sẽ nhập Niết-bàn tại đó, không còn trở lại thế giới này nữa. Có nhiều Tỷ kheo hơn, với sự chấm dứt của ba xiềng xích, và sự suy yếu của tham, sân, và si, là những nhất lai, những người trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau.’

Ngoài ra, tôi đã nghe và học được điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Có ít Tỷ kheo hơn, với sự chấm dứt của ba xiềng xích, và sự suy yếu của tham, sân, và si, là những nhất lai, những người trở lại thế giới này chỉ một lần nữa, rồi chấm dứt khổ đau. Có nhiều Tỷ kheo hơn, với sự chấm dứt của ba xiềng xích là những người nhập lưu, không còn bị tái sanh vào đọa xứ, chắc chắn sẽ giác ngộ.’"

52. II. An Cư Mùa Mưa (S.v,405)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika.

2. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa ở Sàvatthi xong, đi đến Kapilavatthu vì một vài công việc.

3. Các họ Thích ở Kapilavatthu được nghe một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa xong ở Sàvatthi, đã đến Kapilavatthu.

4. Rồi các họ Thích ở Kapilavatthu đi đến Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Các họ Thích ở Kapilavatthu thưa với Tỷ-kheo ấy:

5. − Thưa Tôn giả, Thế Tôn có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

− Này chư Hiền, Thế Tôn có sức khỏe, có khỏe mạnh.

− Thưa Tôn giả, Tôn giả Sariputta và Tôn giả Moggallàna có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

− Này chư Hiền, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna có sức khỏe, có khỏe mạnh.

− Thưa Tôn giả, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

− Này chư Hiền, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe, có khỏe mạnh.

6. − Thưa Tôn giả, trong dịp an cư này, Tôn giả có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ gì từ Thế Tôn?

− Này chư Hiền, tôi có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và nhiều hơn là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa”.

7. Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau”.

8. Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.

SN 55.53 Cùng Với Dhammadinna Dhammadinnasutta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển tại Isipatana. Sau đó, cư sĩ tại gia Dhammadinna, cùng với năm trăm cư sĩ tại gia, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và thưa với Ngài:

“Xin Đức Phật hãy khuyên dạy và chỉ bảo chúng con. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho chúng con.”

“Vậy thì, Dhammadinna, các con nên tu tập như thế này: ‘Thỉnh thoảng, chúng ta sẽ thực hành và suy ngẫm về các bài kinh do Đấng Như Lai thuyết giảng, những bài kinh sâu sắc, thâm thúy, siêu việt, bàn về tính không.’ Đó là cách các con nên tu tập.”

“Bạch Thế Tôn, chúng con sống tại gia với con cái, sử dụng gỗ đàn hương nhập từ Kāsi, đeo vòng hoa, hương thơm, và trang điểm, và nhận vàng bạc. Không dễ cho chúng con thỉnh thoảng thực hành và suy ngẫm về các bài kinh do Đấng Như Lai thuyết giảng, những bài kinh sâu sắc, thâm thúy, siêu việt, bàn về tính không. Vì chúng con đã giữ vững năm giới luật tu tập, xin Ngài hãy dạy chúng con thêm.”

“Vậy thì, Dhammadinna, các con nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và chúng ta sẽ có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.’ Đó là cách các con nên tu tập.”

“Bạch Thế Tôn, bốn yếu tố của sự nhập lưu này do Đức Phật giảng dạy đều có trong chúng con, và chúng con thể hiện chúng. Vì chúng con có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và chúng con có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.”

“Các con thật may mắn, Dhammadinna, thật vô cùng may mắn! Tất cả các con đã tuyên bố quả vị của sự nhập lưu.”

53. III. Dhammadinna (S.v,406)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, ở vườn nai.

2. Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:

3. − Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

− Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau: Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường thường được tìm đến và an trú (học hỏi). Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.

4. − Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn từ Kàsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi. Bạch Thế Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn hãy giảng cho chúng con các pháp khác!

5. − Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định’”. Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.

− Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng, các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp ấy.

6. Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai… Phật, Thế Tôn… đối với Pháp… đối với chúng Tăng… chúng con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định”.

7. − Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố về Dự lưu quả.

SN 55.54 Bệnh Gilānasutta

Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Thích Ca, gần Kapilavatthu trong Tu viện Cây Đa.

Lúc bấy giờ, một vài Tỷ kheo đang may y cho Đức Phật, nghĩ rằng khi y của Ngài hoàn thành và ba tháng an cư mùa mưa đã qua, Đức Phật sẽ lên đường du hành.

Mahānāma người Thích Ca nghe được tin này. Sau đó, ông đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài rằng ông đã nghe tin Đức Phật sắp rời đi. Ông nói thêm: “Bạch Thế Tôn, con chưa từng nghe và học được trước sự hiện diện của Đức Phật về cách một cư sĩ tại gia có trí tuệ nên khuyên bảo một cư sĩ tại gia có trí tuệ khác đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng.”

"Mahānāma, một cư sĩ tại gia có trí tuệ nên làm cho một cư sĩ tại gia có trí tuệ khác đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng được an lòng bằng bốn lời an ủi. ‘Hãy an lòng, thưa ngài. Ngài có niềm tin bất động vào Đức Phật… giáo pháp… Tăng đoàn… Và ngài có giới đức được các bậc thánh yêu mến… dẫn đến Định.’

Khi một cư sĩ tại gia có trí tuệ đã làm cho một cư sĩ tại gia có trí tuệ khác đang bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng được an lòng bằng bốn lời an ủi này, họ nên nói: ‘Ngài có lo lắng cho cha mẹ không?’ Nếu người kia trả lời, ‘Tôi có,’ họ nên nói: ‘Nhưng thưa ngài, bản chất của ngài là phải chết. Dù ngài có lo lắng cho cha mẹ hay không, ngài cũng sẽ chết. Tốt hơn hết là nên từ bỏ sự lo lắng cho cha mẹ.’

Nếu người kia trả lời, ‘Tôi đã từ bỏ sự lo lắng cho cha mẹ,’ họ nên nói: ‘Nhưng ngài có lo lắng cho vợ chồng và con cái không?’ Nếu người kia trả lời, ‘Tôi có,’ họ nên nói: ‘Nhưng thưa ngài, bản chất của ngài là phải chết. Dù ngài có lo lắng cho vợ chồng và con cái hay không, ngài cũng sẽ chết. Tốt hơn hết là nên từ bỏ sự lo lắng cho vợ chồng và con cái.’

Nếu người kia trả lời, ‘Tôi đã từ bỏ sự lo lắng cho vợ chồng và con cái,’ họ nên nói: ‘Nhưng ngài có lo lắng cho năm loại kích thích dục lạc của con người không?’ Nếu người kia trả lời, ‘Tôi có,’ họ nên nói: ‘Bạn tốt ơi, thú vui dục lạc của cõi trời tốt hơn thú vui dục lạc của con người. Tốt hơn hết là nên hướng tâm khỏi thú vui dục lạc của con người và tập trung vào các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương.’

Nếu người kia trả lời, ‘Tôi đã làm vậy,’ họ nên nói: 'Bạn tốt ơi, các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba tốt hơn các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương…

Bạn tốt ơi, các vị trời ở cõi Dạ Ma… các vị trời ở cõi Đâu Suất… các vị trời ở cõi Hóa Lạc… các vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại… các vị trời ở cõi Phạm Thiên tốt hơn các vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Tốt hơn hết là nên hướng tâm khỏi các vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại và tập trung vào các vị trời ở cõi Phạm Thiên.’ Nếu người kia trả lời, ‘Tôi đã làm vậy,’ họ nên nói: ‘Bạn tốt ơi, cõi Phạm Thiên là vô thường, không bền vững, và nằm trong thực tại hữu thể (substantial reality / sakkāya / thân kiến, sự chấp vào một cái tôi có thực thể). Tốt hơn hết là nên hướng tâm khỏi cõi Phạm Thiên và áp dụng nó vào sự chấm dứt của thực tại hữu thể.’

Nếu người kia trả lời, ‘Tôi đã làm vậy,’ thì không có sự khác biệt giữa một cư sĩ tại gia có tâm được giải thoát theo cách này và một Tỷ kheotâm được giải thoát khỏi các ô nhiễm; nghĩa là, giữa sự giải thoát của người này và người kia."

54. IV. Bị Bệnh (S.v,408)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.

2. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.

3. Họ Thích Mahànàma được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: 'Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành”". Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

4. − Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: “Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành”. Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?

5. − Này Mahànàma, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assàsaniya dhamma): Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với đức Phật: “Ðây là Như Lai, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Pháp… Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của của Tôn giả đối với chúng Tăng… Tôn giả hãy yên tâm, với các giới của Tôn giả được các bậc Thánh ái kính… đưa đến Thiền định”.

6. Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, này Mahànàma, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.

7. Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói: “Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ”, thời nên nói với vị ấy như sau: “Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả”.

8. Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?” Nếu vị ấy nói: “Tôi có lòng thương nhớ vợ con”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả”.

9. Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?” Nếu vị ấy nói như sau: “Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ đại thiên vương thiên”.

10. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.

11-16. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.

17. … “Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới”.

18. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkàya)”.

19. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến”; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahànàama, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.

SN 55.55 Quả Vị Nhập Lưu Sotāpattiphalasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chứng ngộ quả vị nhập lưu. Bốn điều đó là gì? Kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ, và thực hành đúng theo pháp. Khi bốn điều này được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chứng ngộ quả vị nhập lưu.”

55. V. Bốn Quả (1) (S.v,410)

1. …

2. Có bốn pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến chứng ngộ quả Dự lưu. Thế nào là bốn?

3. Thân cận với bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hiện pháp và tùy pháp.

4. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả Dự lưu.

SN 55.56 Quả Vị Nhất Lai Sakadāgāmiphalasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chứng ngộ quả vị nhất lai. …”

56. VI. Bốn Quả (2) (S.v,411)

2. … (như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến chứng ngộ quả Nhất lai ).

SN 55.57 Quả Vị Bất Lai Anāgāmiphalasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chứng ngộ quả vị bất lai. …”

57. VII. Bốn Quả (3) (S.v,411)

3. … (như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến quả Nhất lai )

SN 55.58 Quả Vị A-la-hán Arahattaphalasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự chứng ngộ quả vị A-la-hán. …”

58. VIII. Bốn Quả (4) (S.v,411)

4. … (như kinh trên, chỉ khác, đây đưa đến quả A-la-hán )

SN 55.59 Sự Đạt Được Trí Tuệ Paññāpaṭilābhasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự đạt được trí tuệ. …”

59. IX. Lợi Ðắc (S.v,411)

2. … đưa đến lợi đắc trí tuệ…

SN 55.60 Sự Tăng Trưởng Của Trí Tuệ Paññāvuddhisutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự tăng trưởng của trí tuệ. …”

60. X. Tăng Trưởng (S.v,411)

2. … đưa đến tăng trưởng trí tuệ…

SN 55.61 Sự Gia Tăng Của Trí Tuệ Paññāvepullasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến sự gia tăng của trí tuệ. …”

61. XI. Quảng Ðại (S.v,411)

2. … đưa đến quảng đại trí tuệ…

Phẩm Trí Tuệ Vĩ Đại

SN 55.62 Trí Tuệ Vĩ Đại Mahāpaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ vĩ đại. Bốn điều đó là gì? Kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ, và thực hành đúng theo pháp. Khi bốn điều này được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ vĩ đại.”

VII. Phẩm Ðại Trí Tuệ

62. I. Ðại (S.v,412)

4. … đưa đến đại trí tuệ…

SN 55.63 Trí Tuệ Rộng Lớn Puthupaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ rộng lớn…”

63. II. Quảng Ðại (Puthu)(S.v,412)

4. … đưa đến quảng đại trí tuệ…

SN 55.64 Trí Tuệ Phong Phú Vipulapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ phong phú…”

64. III. Tăng Trưởng (Vipula) (S.v,412)

4. … đưa đến tăng trưởng trí tuệ…

SN 55.65 Trí Tuệ Sâu Sắc Gambhīrapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ sâu sắc…”

65. IV. Thâm Sâu (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ thâm sâu…

SN 55.66 Trí Tuệ Phi Thường Appamattapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ phi thường…”

66. V. Không Có Ngang Bằng (Asamatta) (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ không có ngang bằng…

SN 55.67 Trí Tuệ Bao La Bhūripaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ bao la…”

67. VI. Sung Mãn (Bhuuri) (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ sung mãn…

SN 55.68 Trí Tuệ Dồi Dào Paññābāhullasutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ dồi dào…”

68. VII. Nhiều (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ sung túc…

SN 55.69 Trí Tuệ Nhanh Chóng Sīghapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ nhanh chóng…”

69. VIII. Nhanh Lẹ (Sìgha) (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ nhanh nhẹn…

SN 55.70 Trí Tuệ Nhẹ Nhàng Lahupaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ nhẹ nhàng…”

70. IX. Khinh An (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ khinh an…

SN 55.71 Trí Tuệ Hoan Hỷ Hāsapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ hoan hỷ…”

71. X. Hoan Hỷ (Hàsa) (S.v,412)

4. … đưa đến trí tuệ hoan hỷ…

SN 55.72 Trí Tuệ Nhanh Nhạy Javanapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ nhanh nhạy…”

72. XI. Tốc Hành (S.v,413)

4. … đưa đến trí tuệ tốc hành…

SN 55.73 Trí Tuệ Sắc Bén Tikkhapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ sắc bén…”

73. XII. Sắc Bén (S.v,413)

4. … đưa đến trí tuệ sắc bén…

SN 55.74 Trí Tuệ Thâm Nhập Nibbedhikapaññāsutta

“Này các Tỷ kheo, khi bốn điều được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ thâm nhập. Bốn điều đó là gì? Kết giao với người chân chính, lắng nghe Chánh pháp, suy ngẫm tận đến gốc rễ, và thực hành đúng theo pháp. Khi bốn điều này được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến trí tuệ thâm nhập.”

74. XIII. Thể Nhập (Nibbedhika) (S.v,413)

4. … đưa đến trí tuệ thể nhập. Thế nào là bốn? (như trên) …

-ooOoo-