Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

Các Bài Kinh Liên Quan Về Sự Thật

56. TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT

Chương Về Định

SN 56.1 Định Kinh Samādhi

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, hãy phát triển Định (Immersion / samādhi / Trạng thái tâm tụ trên một điểm). Một Tỷ kheoĐịnh thì biết như thật (truly know / liễu tri / biết rõ sự vật đúng như bản chất của nó). Họ biết như thật điều gì? Họ biết như thật: ‘Đây là khổ (suffering / dukkha / sự không hài lòng, bất toại nguyện, từ đau đớn thể chất đến phiền não tinh thần)’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Hãy phát triển Định. Một Tỷ kheoĐịnh thì biết như thật.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định để hiểu rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’."

I. Phẩm Ðịnh

1.I. Ðịnh (S.v,414)

1) Ở Sàvatthi…

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?

3. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.2 An Cư Kinh Paṭisallāna

"Này các Tỷ kheo, hãy thiền định trong nơi an tịnh. Một Tỷ kheo ở nơi an tịnh thì biết như thật. Họ biết như thật điều gì? Họ biết như thật: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Hãy thiền định trong nơi an tịnh. Một Tỷ kheo ở nơi an tịnh thì biết như thật.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định để hiểu rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’."

2. II. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.v,414)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Như thật rõ biết gì?

3. (Như đoạn số 3, kinh trên) …

4. Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

SN 56.3 Người Thiện Nam (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamakulaputta

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ người thiện nam nào—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—chân chính từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà, tất cả họ đều làm vậy để biết như thật về bốn sự thật cao quý (four noble truths / cattāri ariyasaccāni / tứ diệu đế / bốn sự thật về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ).

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Bất kỳ người thiện nam nào—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—chân chính từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà, tất cả họ đều làm vậy để biết như thật về bốn sự thật cao quý.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định để hiểu rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’."

3. III. Thiện Nam Tử (1) (S.v,415)

1. …

2. − Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3. Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỷ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4. Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình… sẽ chơn chánh xuất gia… tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.4 Người Thiện Nam (Thứ Hai) Kinh Dutiyakulaputta

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ người thiện nam nào—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—biết như thật sau khi chân chính từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà, tất cả họ đều biết như thật về bốn sự thật cao quý.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

4. IV. Thiện Nam Tử (2) (S.v,415)

1. …

2. − Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã như thật chứng ngộ… sẽ như thật chứng ngộ… như thật chứng ngộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.5 Sa Môn và Bà La Môn (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamasamaṇabrāhmaṇa

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ sa môn và bà la môn nào thực sự tỉnh thức—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—tất cả họ đều thực sự tỉnh thức về bốn sự thật cao quý.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

5. V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,416)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác… sẽ như thật chánh đẳng giác… như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.6 Sa Môn và Bà La Môn (Thứ Hai) Kinh Dutiyasamaṇabrāhmaṇa

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ sa môn và bà la môn nào—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—tuyên bố rằng họ đã giác ngộ, tất cả họ đều tuyên bố rằng họ đã thực sự giác ngộ về bốn sự thật cao quý.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

6. VI. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,417)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3. … trong thời vị lai… sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác…; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4. … trong thời hiện tại… tuyên bố như thật chánh đẳng giác…; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác… sẽ tuyên bố… tuyên bố như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy đã tuyên bố… sẽ tuyên bố… tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.7 Các Suy Nghĩ Kinh Vitakka

"Này các Tỷ kheo, đừng suy nghĩ những điều xấu, bất thiện, như những suy nghĩ về dục lạc, ác ý và tàn nhẫn. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến nhàm chán (disillusionment / nibbidā / sự chán ngán, không còn hứng thú với các pháp hữu vi), ly tham (dispassion / virāga / sự dứt bỏ tham ái), chấm dứt (cessation / nirodha / sự diệt tận), an tịnh (peace / upasama / sự lắng dịu), hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri / sự hiểu biết sâu sắc, không qua trung gian suy luận), giác ngộ (awakening / sambodha / sự tỉnh thức hoàn toàn), và Niết bàn (extinguishment / nibbāna / sự dập tắt hoàn toàn tham, sân, si).

Khi các vị suy nghĩ, hãy suy nghĩ rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

7. VII. Các Tầm (S.v,417)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao?

3. Các tầm ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: “Ðây là khổ”… hãy suy tầm: “Ðây là Khổ tập”… hãy suy tầm: “Ðây là Khổ diệt”… hãy suy tầm: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. Các suy tầm ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.8 Tư Tưởng Kinh Cinta

"Này các Tỷ kheo, đừng suy tưởng những ý nghĩ xấu, bất thiện. Ví dụ: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, hay hữu hạn, hay vô hạn; linh hồn và thể xác là một, hay chúng là hai thứ khác nhau; sau khi chết, một bậc giác ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Khi các vị suy tưởng điều gì, hãy suy tưởng rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

8. VIII. Suy Tư (Cintà) (S.v,418)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm: “Thế giới là thường hằng”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng này, thân thể này là một”, hay “Sinh mạng này, thân thể này là khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?

3. … (Như đoạn số 3, kinh trên) …

4. Và có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ”… hãy suy tư: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. … Các suy tư ấy… (Như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.9 Tranh Luận Kinh Viggāhikakathā

"Này các Tỷ kheo, đừng tham gia vào các cuộc tranh luận, chẳng hạn như: ‘Ông không hiểu giáo pháp và giới luật này. Tôi hiểu giáo pháp và giới luật này. Sao, ông mà hiểu giáo pháp và giới luật này ư? Ông đang thực hành sai. Tôi đang thực hành đúng. Tôi nói đúng chủ đề, còn ông thì không. Điều ông nên nói trước thì lại nói sau. Điều ông nên nói sau thì lại nói trước. Những gì ông đã suy nghĩ rất nhiều đã bị bác bỏ. Học thuyết của ông đã bị réfuter. Cứ tiếp tục đi, hãy cứu lấy học thuyết của ông! Ông bị mắc kẹt rồi; hãy tự thoát ra khỏi đây—nếu ông có thể!’ Tại sao vậy? Bởi vì những cuộc thảo luận đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Khi các vị thảo luận, hãy thảo luận rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

9. IX. Tranh Luận (Viggàhikà) (S.v,419)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được”. Vì sao?

3. Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: “Ðây là Khổ”… hãy nói: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

5. Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh… một cố gắng cần phải làm…

SN 56.10 Chuyện Phàm Tục Kinh Tiracchānakathā

"Này các Tỷ kheo, đừng tham gia vào đủ loại chuyện phàm tục, chẳng hạn như chuyện về vua chúa, trộm cướp, và quan lại; chuyện về quân đội, các mối đe dọa, và chiến tranh; chuyện về thức ăn, đồ uống, quần áo, và giường ngủ; chuyện về vòng hoa và hương thơm; chuyện về gia đình, xe cộ, làng mạc, thị trấn, thành phố, và quốc gia; chuyện về phụ nữ và anh hùng; chuyện ngoài đường và chuyện bên giếng nước; chuyện về người đã khuất; chuyện phiếm; những câu chuyện về đất liền và biển cả; và chuyện về việc tái sinh ở nơi này hay nơi khác. Tại sao vậy? Bởi vì những cuộc thảo luận đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Khi các vị thảo luận, hãy thảo luận rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

10. X. Lời Nói (S.v,419)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?

3. Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: “Ðây là Khổ”… hãy nói chuyện: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”… Vì sao?

5. Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Chương Về Chuyển Pháp Luân

SN 56.11 Chuyển Pháp Luân Kinh Dhammacakkappavattana

Một thời, Đức Phật trú tại gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Tại đó, Đức Phật nói với nhóm năm vị Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, có hai thái cực này mà người xuất gia không nên thực hành. Hai thái cực nào? Sự đam mê hưởng thụ dục lạc, là thấp kém, thô thiển, tầm thường, không cao quý, và vô ích. Và sự đam mê khổ hạnh ép xác, là đau đớn, không cao quý, và vô ích. Tránh xa hai thái cực này, Như Lai (Realized One / Tathāgata / một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt đến chân lý tối hậu) đã thấu hiểu con đường thực hành trung đạo, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Và con đường thực hành trung đạo đó là gì? Đó chính là con đường tám yếu tố cao quý (noble eightfold path / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo / bát chánh đạo / con đường thực hành gồm tám phần để chấm dứt khổ) này, tức là: Tầm nhìn thiện, Suy nghĩ thiện, Lời nói thiện, Hành động thiện, Nghề nghiệp thiện, Sự nỗ lực thiện, Niệm thiện, và Định thiện. Đây chính là con đường thực hành trung đạo, mang lại tuệ nhãn và tri kiến, dẫn đến an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Này, đây là sự thật cao quý về khổ. Tái sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; gần người mình ghét là khổ; xa người mình thương là khổ; mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, năm uẩn bám giữ (five grasping aggregates / pañcupādānakkhandhā / năm nhóm yếu tố tạo thành một con người mà sự bám chấp vào chúng gây ra khổ) là khổ.

Này, đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ. Đó là sự khao khát (craving / taṇhā / ái / sự ham muốn, thèm khát mãnh liệt) dẫn đến các kiếp sống tương lai, trộn lẫn với sự thích thú và tham lam, tìm kiếm lạc thú ở bất cứ đâu. Đó là, khao khát thú vui giác quan (craving for sensual pleasures / kāma-taṇhā / dục ái / sự thèm muốn các đối tượng của năm giác quan), mong muốn tồn tại (craving for continued existence / bhava-taṇhā / Hữu ái / sự khao khát được tiếp tục tồn tại, được tái sinh trong các cõi giới), và khao khát chấm dứt tồn tại (craving to end existence / vibhava-taṇhā / phi hữu ái / mong muốn không còn tồn tại, tự hủy diệt).

Này, đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ. Đó là sự phai nhạt và chấm dứt hoàn toàn chính sự khao khát đó không còn sót lại; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát khỏi nó, và không bám víu vào nó.

Này, đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đó chính là con đường tám yếu tố cao quý này, tức là: Tầm nhìn thiện, Suy nghĩ thiện, Lời nói thiện, Hành động thiện, Nghề nghiệp thiện, Sự nỗ lực thiện, Niệm thiện, và Định thiện.

‘Đây là sự thật cao quý về khổ.’ Tuệ nhãn, tri kiến, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây. ‘Sự thật cao quý về khổ này cần được hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri / sự hiểu biết trọn vẹn, không còn nghi ngờ).’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về khổ này đã được hiểu biết hoàn toàn.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta …

‘Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này cần được từ bỏ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này đã được từ bỏ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta …

‘Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ này cần được chứng ngộ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ này đã được chứng ngộ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta …

‘Đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này cần được phát triển.’ Tuệ nhãn như vậy đã khởi lên trong ta … ‘Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này đã được phát triển.’ Tuệ nhãn, tri kiến, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong ta về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây.

Chừng nào tri kiến chân thực của ta về bốn sự thật cao quý này chưa được thanh lọc hoàn toàn qua ba vòng và mười hai phương diện, ta đã không tuyên bố giác ngộ hoàn hảo tối thượng (supreme perfect awakening / anuttara sammāsambodhi / vô thượng chánh đẳng chánh giác / sự tỉnh thức viên mãn, không gì hơn) của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Nhưng khi tri kiến chân thực của ta về bốn sự thật cao quý này đã được thanh lọc hoàn toàn qua ba vòng và mười hai phương diện, ta đã tuyên bố giác ngộ hoàn hảo tối thượng của mình trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người.

Tri kiến và tuệ nhãn khởi lên trong ta: ‘Sự giải thoát của ta là bất động; đây là lần tái sinh cuối cùng của ta; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa.’"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Nhóm năm vị Tỷ kheo hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói.

Và trong khi bài pháp này đang được thuyết giảng, pháp nhãn không tì vết, không ô nhiễm đã khởi lên trong Tôn giả Koṇḍañña: “Phàm cái gì có sinh, ắt có diệt.”

Và khi Đức Phật chuyển bánh xe Pháp, các vị địa thần cất tiếng reo: “Gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển ở Isipatana, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp tối thượng. Và bánh xe đó không thể bị quay ngược lại bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, thiên thần, Ma vương, Phạm thiên hay bất kỳ ai trên thế gian.”

Nghe tiếng reo của các vị địa thần, các vị trời của Tứ Đại Thiên Vương … các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba … các vị trời của Dạ Ma … các vị trời Đâu Suất … các vị trời Hóa Lạc … các vị trời Tha Hóa Tự Tại … các vị trời trong cõi Phạm Thiên cất tiếng reo: “Gần Varanasi, trong vườn Lộc Uyển ở Isipatana, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp tối thượng. Và bánh xe đó không thể bị quay ngược lại bởi bất kỳ sa môn, bà la môn, thiên thần, Ma vương, Phạm thiên hay bất kỳ ai trên thế gian.”

Và thế là vào khoảnh khắc đó, giây phút đó, giờ phút đó, tiếng reo vang lên đến cõi Phạm Thiên. Và thiên hà mười nghìn thế giới này rung chuyển, chấn động và lay động. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trên thế gian, vượt qua cả vinh quang của các vị trời.

Rồi Đức Phật thốt lên lời cảm thán từ đáy lòng: “Koṇḍañña đã thực sự hiểu! Koṇḍañña đã thực sự hiểu!”

Và đó là cách Tôn giả Koṇḍañña được biết đến với cái tên “Koṇḍañña Người Đã Hiểu”.

II. Phẩm Chuyển Pháp Luân

11. I. Như Lai Thuyết (1) (S.v,420)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỷ-kheo:

− Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai?

3. Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4. Và thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

5. Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

6. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

7. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

8. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định.

9. Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ đã được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

10. Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

11. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

12. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

13. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

14. Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đến này, với ba chuyển và mười hai hánh tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.

15. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kondanna khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: “Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt”.

16. Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời”.

17. Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời”.

18. Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba… chư Thiên Yàmà… chư Thiên Tusità… chư Hóa lạc thiên… chư Tha hóa tự tại thiên… chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận… bất cứ một ai ở đời”.

19. Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.

20. Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây: “Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna!”

Như vậy Tôn giả Kondanna được tên là Annàta Kondanna (A-nhã Kiều-trần-như).

SN 56.12 Các Bậc Như Lai Kinh Tathāgata

"‘Đây là sự thật cao quý về khổ.’ Tuệ nhãn, tri kiến, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong các bậc Như Lai về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây. ‘Sự thật cao quý về khổ này cần được hiểu biết hoàn toàn.’ … ‘Sự thật cao quý về khổ này đã được hiểu biết hoàn toàn.’ …

‘Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ.’ … ‘Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này cần được từ bỏ.’ … ‘Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này đã được từ bỏ.’ …

‘Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ.’ … ‘Sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ này cần được chứng ngộ.’ … ‘Sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ này đã được chứng ngộ.’ …

‘Đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ … ‘Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này cần được phát triển.’ … ‘Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này đã được phát triển.’ Tuệ nhãn, tri kiến, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng như vậy đã khởi lên trong các bậc Như Lai về những giáo lý chưa từng được học từ ai trước đây."

12. II. Như Lai Thuyết (2) (S.v,424)

1. …

2. − Thánh đế về Khổ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước đến nay các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ đã được liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

3. Thánh đế về Khổ tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

4. Thánh đế về Khổ diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh.

5. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

SN 56.13 Các Uẩn Kinh Khandha

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.

Và sự thật cao quý về khổ là gì? Các vị nên nói: ‘Năm uẩn bám giữ’. Đó là: Cơ thể, cảm giác, nhận thức, hành động, và thức (Form, feeling, perception, choices, and consciousness / rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa / Sắc, thọ, tưởng, hành, thức / năm nhóm yếu tố cấu thành nên một con người). Đây được gọi là sự thật cao quý về khổ.

Và sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ là gì? Đó là sự khao khát dẫn đến các kiếp sống tương lai, trộn lẫn với sự thích thú và tham lam, tìm kiếm lạc thú ở bất cứ đâu. Đó là, khao khát thú vui giác quan, mong muốn tồn tại, và khao khát chấm dứt tồn tại. Đây được gọi là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ.

Và sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ là gì? Đó là sự phai nhạt và chấm dứt hoàn toàn chính sự khao khát đó không còn sót lại; từ bỏ nó, buông bỏ nó, giải thoát khỏi nó, và không bám víu vào nó. Đây được gọi là sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ.

Và sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ là gì? Đó chính là con đường tám yếu tố cao quý này, tức là: Tầm nhìn thiện, Suy nghĩ thiện, Lời nói thiện, Hành động thiện, Nghề nghiệp thiện, Sự nỗ lực thiện, Niệm thiện, và Định thiện. Đây được gọi là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đây là bốn sự thật cao quý.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

13. III. Uẩn (S.v,425)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ? Cần phải được nói là năm thủ uẩn. Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ tập? Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ diệt? Chính là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.

6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt? Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là các Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.14 Các Căn Nội Tại Kinh Ajjhattikāyatana

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.

Và sự thật cao quý về khổ là gì? Các vị nên nói: ‘Sáu trường tiếp xúc nội tại (six interior sense fields / saḷāyatana / lục nhập / sáu cơ quan cảm giác bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý)’. Sáu điều đó là gì? Các trường tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và trí não và ý nghĩ. Đây được gọi là sự thật cao quý về khổ. …"

14. IV. Xứ (S.v,426)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này… Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ? Cần phải trả lời là sáu nội xứ. Thế nào là sáu? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ.

4-7. … (giống như đoạn số 4-7 của kinh trên).

SN 56.15 Ghi Nhớ (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamadhāraṇa

“Này các Tỷ kheo, các vị có nhớ bốn sự thật cao quý mà ta đã dạy không?” Khi ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, con có nhớ.”

“Vậy sao, này Tỷ kheo?”

“Bạch Thế Tôn, con nhớ rằng khổ là sự thật cao quý thứ nhất mà ngài đã dạy; nguồn gốc của khổ là thứ hai; sự chấm dứt khổ là thứ ba; và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ là thứ tư. Đó là cách con nhớ về bốn sự thật cao quý như ngài đã dạy.”

"Lành thay, lành thay, này Tỷ kheo! Thật tốt khi con nhớ bốn sự thật cao quý như ta đã dạy. Khổ là sự thật cao quý thứ nhất ta đã dạy, và đó là cách con nên nhớ. Nguồn gốc của khổ là thứ hai; sự chấm dứt khổ là thứ ba; và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ là thứ tư. Đó là cách con nên nhớ về bốn sự thật cao quý như ta đã dạy.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

15. V. Thọ Trì (1) (S.v,426)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì bốn Thánh đế Ta đã thuyết giảng cho các Ông.

3. Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, con có thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

4. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ diệt là Thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.

Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

5. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Này Tỷ-kheo, Khổ là Thánh đế thứ nhất do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì… Này Tỷ-kheo, Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì.

6. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.16 Ghi Nhớ (Thứ Hai) Kinh Dutiyadhāraṇa

“Này các Tỷ kheo, các vị có nhớ bốn sự thật cao quý mà ta đã dạy không?” Khi ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, con có nhớ.”

“Vậy sao, này Tỷ kheo?”

“Bạch Thế Tôn, con nhớ rằng khổ là sự thật cao quý thứ nhất mà ngài đã dạy. Vì nếu có bất kỳ sa môn hay bà la môn nào nói rằng: ‘Điều mà sa môn Gotama dạy không phải là sự thật cao quý thứ nhất về khổ. Ta sẽ bác bỏ sự thật cao quý thứ nhất về khổ này và mô tả một sự thật cao quý thứ nhất khác về khổ.’ Điều đó là không thể. Nguồn gốc của khổ … Sự chấm dứt khổ … Con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ là sự thật cao quý thứ tư mà ngài đã dạy. Vì nếu có bất kỳ sa môn hay bà la môn nào nói rằng: ‘Điều mà sa môn Gotama dạy không phải là sự thật cao quý thứ tư về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Ta sẽ bác bỏ sự thật cao quý thứ tư về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này và mô tả một sự thật cao quý thứ tư khác về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ Điều đó là không thể. Đó là cách con nhớ về bốn sự thật cao quý như ngài đã dạy.”

"Lành thay, lành thay, này Tỷ kheo! Thật tốt khi con nhớ bốn sự thật cao quý như ta đã dạy. Khổ là sự thật cao quý thứ nhất ta đã dạy, và đó là cách con nên nhớ. Vì nếu có bất kỳ sa môn hay bà la môn nào nói rằng: ‘Điều mà sa môn Gotama dạy không phải là sự thật cao quý thứ nhất về khổ. Ta sẽ bác bỏ sự thật cao quý thứ nhất về khổ này và mô tả một sự thật cao quý thứ nhất khác về khổ.’ Điều đó là không thể. Nguồn gốc của khổ … Sự chấm dứt khổ … Con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ là sự thật cao quý thứ tư ta đã dạy, và đó là cách con nên nhớ. Vì nếu có bất kỳ sa môn hay bà la môn nào nói rằng: ‘Điều mà sa môn Gotama dạy không phải là sự thật cao quý thứ tư về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Ta sẽ bác bỏ sự thật cao quý thứ tư về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ này và mô tả một sự thật cao quý thứ tư khác về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ Điều đó là không thể. Đó là cách con nên nhớ về bốn sự thật cao quý như ta đã dạy.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

16. VI. Thọ Trì (2) (S.v,427)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3 của kinh trên)

4. − Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Khổ này được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ ấy là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất”. Sự kiện như vậy không xảy ra.

5-6. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai… Khổ diệt là Thánh đế thứ ba… không xẩy ra.

7. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Con Ðường đưa đến Khổ diệt này, được Samôn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt ấy là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư”. Sự kiện này không xẩy ra.

8. Bạch Thế Tôn, như vậy con thọ trì bốn Thánh đế do Thế Tôn thuyết giảng.

9. − Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Khổ, này Tỷ-kheo, là Thánh đế thứ nhất, do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Khổ này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ này là Thánh đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh đế thứ nhất”. Sự kiện như vậy không xảy ra… “Khổ diệt Thánh đế… Con đường đưa đến khổ diệt”. Này Tỷ-kheo, là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bàla-môn nào nói như sau: “Con Ðường đưa đến Khổ diệt này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường đưa đến Khổ diệt này là Thánh đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường đưa đến Khổ diệt khác là Thánh đế thứ tư”. Sự kiện như vậy không xẩy ra.

10. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.17 Vô Minh Kinh Avijjā

Ngồi một bên, vị Tỷ kheo đó thưa với Đức Phật:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘vô minh’. Vô minh (ignorance / avijjā / sự không biết, không thấy rõ bốn sự thật cao quý) là gì? Và làm thế nào để xác định một người vô minh?”

"Không biết về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đây được gọi là vô minh. Và đây là cách một người vô minh được xác định.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

17. VII. Vô Minh (S.v,429)

1. …

2. Rồi một Tỷ-kheo… ngồi xuống một bên.

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào là đi đến vô minh (avijjàgato)?

4. − Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh.

5. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.18 Minh Kinh Vijjā

Rồi một vị Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với ngài:

“Bạch Thế Tôn, người ta nói về một thứ gọi là ‘minh’. Minh (knowledge / vijjā / sự biết, sự thấy rõ bốn sự thật cao quý) là gì? Và làm thế nào để xác định một người có minh?”

"Biết về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đây được gọi là minh. Và đây là cách một người có minh được xác định.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

18. VIII. Minh (S.v,429)

1. …

2. … (như kinh trên) …

3. Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

− “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là minh? Và cho đến như thế nào là đi đến minh?

4. − Này Tỷ-kheo, chính là rõ biết Khổ, rõ biết Khổ tập, rõ biết Khổ diệt, rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là minh. Cho đến như vậy là đi đến minh.

5. Do vậy, này Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.19 Các Cách Diễn Đạt Kinh Saṅkāsana

"Này các Tỷ kheo, ta đã tuyên bố: ‘Đây là sự thật cao quý về khổ.’ Và có vô số cách giải thích, cụm từ, và cách diễn đạt về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng đây là sự thật cao quý về khổ.’ Ta đã tuyên bố: ‘Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ.’ … Ta đã tuyên bố: ‘Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ.’ … Ta đã tuyên bố: ‘Đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ Và có vô số cách giải thích, cụm từ, và cách diễn đạt về điều đó: ‘Đây là một cách nói khác rằng đây là sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.’

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

19. IX. Thi Thiết (Sankàsanà) (S.v,430)

1. …

2. − Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ (vannà), vô lượng văn (vyanjanà), vô lượng thi thiết (sankàsanà). Ðây là Thánh đế về Khổ.

3. … Ðây là Khổ tập…

4. … Ðây là Khổ diệt…

5. Ðây là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thi thiết. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.20 Chân Thật Kinh Tatha

"Này các Tỷ kheo, bốn điều này là chân thật, không phải không thật, không phải khác đi. Bốn điều đó là gì? ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’ … Bốn điều này là chân thật, không phải không thật, không phải khác đi.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

20. X. Như Thật (Tathà) (S.v,430)

1. …

2. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật (avitathàni), không khác như thật (anannathàni). Thế nào là bốn?

3. Ðây là Khổ, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

4. Ðây là Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

5. Ðây là Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

6. Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

7. Bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Chương Tại Làng Koṭi

SN 56.21 Tại Làng Koṭi (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamakoṭigāma

Một thời, Đức Phật đang ở trong xứ của người Vajjī tại làng Koṭi. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, do không hiểu và không thâm nhập được bốn sự thật cao quý, cả các vị và ta đã lang thang và luân hồi trong một thời gian rất dài.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Những sự thật cao quý này về khổ, nguồn gốc, sự chấm dứt, và con đường đã được hiểu và thấu triệt. Mong muốn tồn tại đã bị cắt đứt; con đường dẫn đến tái sinh đã chấm dứt; bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thánh, vị Thầy, nói tiếp:

"Vì không thấy được chân thật bốn sự thật cao quý, chúng ta đã luân hồi trong một thời gian dài từ kiếp này sang kiếp khác.

Nhưng nay những sự thật này đã được thấy, con đường dẫn đến tái sinh đã bị diệt trừ. Gốc rễ của khổ đã bị cắt đứt, bây giờ sẽ không còn kiếp sống tương lai nào nữa."

III. Phẩm Kotigàma

21.I. Minh (1) (S.v,431)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajji, tại Kotigàma.

2. Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn?

3. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.

4. Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.

5. Thế Tôn thuyết giảng như vậy… bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Do không như thật thấy,
Bốn sự thật bậc Thánh,

Phải lâu ngày luân chuyển,
Trải qua nhiều đời sống.
Khi chúng được thấy rõ,
Mầm tái sanh nhổ sạch,
Gốc khổ được đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.

SN 56.22 Tại Làng Koṭi (Thứ Hai) Kinh Dutiyakoṭigāma

"Này các Tỷ kheo, có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Ta không coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó không nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và không sống sau khi đã nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình.

Có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Ta coi họ là những sa môn và bà la môn chân chính. Những vị tôn giả đó nhận ra mục tiêu của đời sống sa môn hay bà la môn, và sống sau khi đã nhận ra nó bằng tuệ giác của chính mình."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thánh, vị Thầy, nói tiếp:

"Có những người không hiểu khổ và nguyên nhân của khổ, và nơi mà mọi khổ chấm dứt không còn sót lại.

Và họ không biết con đường dẫn đến sự lắng dịu của khổ. Họ thiếu tâm giải thoát (the heart’s release / ceto-vimutti / sự giải thoát của tâm khỏi tham ái), cũng như tuệ giải thoát (release by wisdom / paññā-vimutti / sự giải thoát nhờ trí tuệ, đoạn trừ vô minh). Không thể chấm dứt, họ tiếp tục tái sinh và già đi.

Nhưng có những người hiểu khổ và nguyên nhân của khổ, và nơi mà mọi khổ chấm dứt không còn sót lại.

Và họ hiểu con đường dẫn đến sự lắng dịu của khổ. Họ được trang bị tâm giải thoát, cũng như tuệ giải thoát. Có thể chấm dứt, họ không tiếp tục tái sinh và già đi."

22.II.Minh (2) (S.v,432)

1. …

2.− Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.

3. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh.

4. Thế Tôn thuyết giảng như vậy… bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Những ai không rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Không rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Không biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh Khổ.
Những vị ấy không có
Tâm và tuệ giải thoát,
Họ không thể chấm dứt,
Phải đi đến sanh già.
Những vị nào rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Và rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Rõ biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh khổ.
Tâm giải thoát thành tựu,
Và các tuệ giải thoát,
Họ có thể chấm dứt,
Không đi đến sanh già.

SN 56.23 Đức Phật Toàn Giác Kinh Sammāsambuddha

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đây là bốn sự thật cao quý. Chính vì đã biết như thật về bốn sự thật cao quý này mà Như Lai được gọi là ‘bậc hoàn thiện, Đức Phật toàn giác’.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

23.III. Chánh Ðẳng Giác (S.v,433)

1-2. Tại Sàvatthi…

− Có bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ,… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.24 Các Bậc Hoàn Thiện Kinh Arahanta

Tại Sāvatthī.

"Này các Tỷ kheo, bất kỳ bậc hoàn thiện nào, các Đức Phật toàn giác thực sự tỉnh thức—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—tất cả họ đều thực sự tỉnh thức về bốn sự thật cao quý.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Bất kỳ bậc hoàn thiện nào, các Đức Phật toàn giác thực sự tỉnh thức—trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại—tất cả họ đều thực sự tỉnh thức về bốn sự thật cao quý.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

24.IV. A-La-Hán (S.v,433)

1. Tại Sàvatthi…

2. − Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

3. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

4. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ như thật đã chánh đẳng chánh giác… sẽ như thật chánh đẳng chánh giác, hiện như thật chánh đẳng chánh giác; tất cả những vị ấy… hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.25 Sự Chấm Dứt Các Ô Nhiễm Kinh Āsavakkhaya

"Này các Tỷ kheo, ta nói rằng sự chấm dứt các ô nhiễm (defilements / āsava / lậu hoặc / những ô nhiễm tinh thần sâu kín làm rò rỉ năng lượng tâm linh và trói buộc vào luân hồi) là dành cho người biết và thấy, không phải cho người không biết hay không thấy. Dành cho người biết và thấy điều gì? Sự chấm dứt các ô nhiễm là dành cho người biết và thấy khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Sự chấm dứt các ô nhiễm là dành cho người biết và thấy điều này.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

25.V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc (S.v,434)

1. …

2. − Với người biết, với người thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?

3. Do biết, do thấy: “Ðây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… Do biết, do thấy: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, các lậu hoặc được đoạn tận.

4. Do biết vậy, do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.26 Bạn Bè Kinh Mitta

"Này các Tỷ kheo, những người mà các vị có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự hiểu biết chân thật về bốn sự thật cao quý.

Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Những người mà các vị có lòng cảm thông, và những người đáng lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự hiểu biết chân thật về bốn sự thật cao quý này.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

26.VI.Thân Hữu (S.v,434)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn, những ai mà các Ông nghĩ cần nghe theo như bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay huyết thống, thì này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải khích lệ những người ấy, huấn luyện, an trú các người ấy trong sự chứng ngộ như thật bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông có lòng lân mẫn… như thật bốn Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.27 Chân Thật Kinh Tatha

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Bốn sự thật cao quý này là chân thật, không phải không thật, không phải khác đi. Đó là lý do tại sao chúng được gọi là ‘sự thật cao quý’.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

27.VII. Như Thật (S.v,435)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, chúng được gọi là Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5 kinh trên) …

SN 56.28 Thế Giới Kinh Loka

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Trong thế giới này với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong quần chúng này với các sa môn và bà la môn, các vị trời và loài người, Như Lai là Bậc Cao Quý. Đó là lý do tại sao chúng được gọi là ‘sự thật cao quý’.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

28.VIII. Thế Giới (S.v,435)

1. …

2-3. … (Như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Này các Tỷ-kheo, trong các thế giới, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, và quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai là bậc Thánh, do vậy được gọi là Thánh đế.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.29 Cần Được Hiểu Hoàn Toàn Kinh Pariññeyya

"Này các Tỷ kheo, có bốn sự thật cao quý này. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Đây là bốn sự thật cao quý. Trong bốn sự thật cao quý này, có một điều cần được hiểu biết hoàn toàn, một điều cần được từ bỏ, một điều cần được chứng ngộ, và một điều cần được phát triển.

Và sự thật cao quý nào cần được hiểu biết hoàn toàn? Sự thật cao quý về khổ cần được hiểu biết hoàn toàn. Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ cần được từ bỏ. Sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ cần được chứng ngộ. Sự thật cao quý về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ cần được phát triển.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

29.IX. Cần Phải Liễu Tri Hay Thắng Tri (S.v,436)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Trong bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, có Thánh đế cần phải liễu tri, có Thánh đế cần phải đoạn tận, có Thánh đế cần phải chứng ngộ, có Thánh đế cần phải tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế cần phải liễu tri?

5. Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, cần phải liễu tri. Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận. Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ. Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.30 Với Gavampati Kinh Gavampati

Một thời, một vài vị Tỷ kheo đang ở trong xứ của người Cetī tại Sahajāti. Bấy giờ, sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, một vài vị trưởng lão Tỷ kheo ngồi cùng nhau trong đình và cuộc thảo luận này nảy sinh giữa họ:

“Thưa các hiền giả, có phải người thấy khổ cũng thấy nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ không?”

Khi họ nói vậy, Tôn giả Gavampati nói với các vị trưởng lão Tỷ kheo đó:

“Thưa các hiền giả, tôi đã nghe và học điều này trước sự hiện diện của Đức Phật: ‘Người thấy khổ cũng thấy nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Người thấy nguồn gốc của khổ cũng thấy khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Người thấy sự chấm dứt khổ cũng thấy khổ, nguồn gốc của khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Người thấy con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ cũng thấy khổ, nguồn gốc của khổ, và sự chấm dứt khổ.’”

30.X. Gavampati (S.v,436)

1. Một thời, một số đông Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Ceti tại Sahancanika.

2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo Thượng tọa sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong ngôi nhà tròn, câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai thấy Khổ, người ấy thấy Khổ tập, thấy Khổ diệt, thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

3. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Govampati nói với các Tỷ-kheo Thượng tọa:

− "Tôi có tự thân nghe từ Thế Tôn, thưa chư Hiền, tự thân lãnh thọ như sau:

4. “Này các Tỷ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt”.

Chương Trong Rừng Sīsapā

SN 56.31 Trong Rừng Sīsapā Kinh Sīsapāvana

Một thời, Đức Phật đang ở gần Kosambī trong một khu rừng sīsapā. Rồi Đức Phật nhặt một vài chiếc lá sīsapā trong tay và nói với các Tỷ kheo: “Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: vài chiếc lá trong tay ta, hay những chiếc lá trong khu rừng trên đầu ta?”

“Bạch Thế Tôn, vài chiếc lá trong tay ngài là một số lượng rất nhỏ. Có nhiều lá hơn rất nhiều trong khu rừng ở trên.”

"Cũng vậy, có nhiều điều hơn nữa mà ta đã biết trực tiếp nhưng chưa giải thích cho các vị. Những gì ta đã giải thích là một số lượng rất nhỏ. Và tại sao ta không giải thích nó? Bởi vì nó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Nó không dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn. Đó là lý do tại sao ta không giải thích nó.

Và ta đã giải thích điều gì? Ta đã giải thích: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’.

Và tại sao ta đã giải thích điều này? Bởi vì nó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Nó dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn. Đó là lý do tại sao ta đã giải thích nó.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

IV. Phẩm Rừng Simsapà

31.I. Simsapà (S.v,437)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.

2. Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?

− Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.

3. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!

4. Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.

5. Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói? “Ðây là Khổ”, này các Tỷ-kheo, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ tập”, là điều Ta nói. “Ðây là Khổ diệt”, là điều Ta nói. “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, là điều Ta nói.

6. Nhưng tại sao, này các Tỷ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.32 Lá Keo Kinh Khadirapatta

"Này các Tỷ kheo, giả sử có người nói: ‘Không cần biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là không thể.

Nó giống như có người nói: ‘Tôi sẽ làm một cái giỏ bằng lá keo hoặc lá thông hoặc lá myrobalan, và dùng nó để đựng nước hoặc một chiếc lá cọ.’ Điều đó là không thể. Cũng vậy, giả sử có người nói: ‘Không cần biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là không thể.

Nhưng giả sử có người nói: ‘Sau khi biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là có thể.

Nó giống như có người nói: ‘Tôi sẽ làm một cái giỏ bằng lá sen hoặc lá cây gòn hoặc lá cây bìm bìm, và dùng nó để đựng nước hoặc một chiếc lá cọ.’ Điều đó là có thể. Cũng vậy, giả sử có người nói: ‘Sau khi biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là có thể.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

32.II. Cây Keo (Khandira) (S.v,438)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nói như sau : “Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt”; sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

5. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau: “Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: “Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.33 Cây Gậy Kinh Daṇḍa

"Này các Tỷ kheo, giả sử một cây gậy được ném lên không trung. Đôi khi nó sẽ rơi xuống bằng gốc và đôi khi bằng ngọn. Cũng vậy đối với các chúng sinh (sentient beings / sattā / các loài hữu tình, những sinh vật có cảm giác và ý thức) lang thang và luân hồi, bị che lấp bởi vô minh và bị trói buộc bởi sự khao khát. Đôi khi họ đi từ thế giới này sang thế giới khác, và đôi khi họ đến từ thế giới khác đến thế giới này. Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

33.III. Cái Gậy (S.v,439)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được quăng lên hư không, khi thì rơi xuống đầu gốc, khi thì rơi xuống chặng giữa, khi thì rơi xuống đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, dong ruổi, luân chuyển, khi thì đi từ thế giới này đến thế giới kia, khi thì đi từ thế giới kia đến thế giới này. Vì sao? Vì rằng không thấy bốn Thánh đế. Này các Tỷ-kheo, bốn Thánh đế ấy là gì?

3. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như số 6, kinh trên) …

SN 56.34 Quần Áo Kinh Cela

“Này các Tỷ kheo, nếu quần áo hoặc đầu của các vị đang cháy, các vị sẽ làm gì?”

“Bạch Thế Tôn, nếu quần áo hoặc đầu của chúng con đang cháy, chúng con sẽ áp dụng sự nhiệt tình, nỗ lực, hăng hái, nghị lực, kiên trì, niệm (quan sát và ghi nhớ), và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác) mãnh liệt để dập tắt nó.”

"Này các Tỷ kheo, chừng nào các vị chưa thấu hiểu bốn sự thật cao quý, hãy xem cái đầu hay quần áo đang cháy của mình với sự bình thản, hãy lờ chúng đi, và áp dụng sự nhiệt tình, nỗ lực, hăng hái, nghị lực, kiên trì, niệm, và nhận biết rõ ràng mãnh liệt để biết như thật về bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

34.IV. Khăn Ðầu (S.v,440)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?

− Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác.

3. − Bỏ qua đầu và khăn bị cháy, này các Tỷ-kheo, không có tác ý để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế, chưa được chứng ngộ, cần phải có ước muốn tăng thượng, tinh tấn, cố gắng, nỗ lực, không thối thất, chánh niệm và tỉnh giác. Thế nào là bốn?

4. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.35 Một Trăm Ngọn Giáo Kinh Sattisata

"Này các Tỷ kheo, giả sử có một người có tuổi thọ một trăm năm. Và có người có thể nói với anh ta: ‘Này anh bạn tốt, họ sẽ đâm anh bằng một trăm ngọn giáo vào buổi sáng, vào giữa trưa, và vào cuối buổi chiều. Và anh sẽ sống một trăm năm bị đâm bằng ba trăm ngọn giáo mỗi ngày. Nhưng khi một trăm năm trôi qua, anh sẽ lần đầu tiên thấu hiểu bốn sự thật cao quý.’

Đối với một người thiện nam chân thành, đây là lý do đủ để chấp nhận.

Tại sao vậy? Luân hồi không có khởi đầu được biết đến. Không tìm thấy điểm khởi đầu nào của những cú đâm bằng giáo, kiếm, tên, và rìu. Điều này có thể là vậy. Nhưng ta nói rằng, sự thấu hiểu bốn sự thật cao quý không đi kèm với đau đớn hay buồn bã. Thay vào đó, ta nói rằng, sự thấu hiểu bốn sự thật cao quý chỉ đi kèm với niềm vui và hạnh phúc. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

35.V. Một Trăm Cây Thương (Sattisata) (S.v,440)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người tuổi thọ đến một trăm năm, mạng sống đến một trăm năm. Có người đến nói với người ấy: “Này Ông, vào buổi sáng, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi trưa, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Vào buổi chiều, Ông sẽ bị đâm một trăm cây thương. Này Ông, như vậy mỗi ngày Ông bị đâm ba trăm cây thương, với tuổi thọ đến một trăm năm, với mạng sống đến một trăm năm. Sau một trăm năm, Ông sẽ được giác ngộ bốn Thánh đế trước kia chưa được giác ngộ”. Này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử hiểu biết nghĩa lý (atthavasikena) có thể chấp nhận chăng? Vì sao?

3. Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn?

4. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5. … (như đoạn số 5, kinh trên) …

SN 56.36 Sinh Vật Kinh Pāṇa

"Giả sử một người lột hết cỏ, cành cây, nhánh cây, và lá cây ở Vùng Đất Cây Mận Đen, gom chúng lại thành một đống, và làm thành những cây cọc. Rồi họ sẽ xiên những sinh vật lớn trong đại dương vào những cây cọc lớn; những sinh vật cỡ trung vào những cây cọc cỡ trung; và những sinh vật nhỏ vào những cây cọc nhỏ. Họ sẽ không hết sinh vật lớn trong đại dương trước khi dùng hết cỏ, cành cây, nhánh cây, và lá cây ở Vùng Đất Cây Mận Đen. Có nhiều sinh vật nhỏ hơn thế này rất nhiều trong đại dương, nên sẽ không khả thi để xiên chúng vào cọc. Tại sao vậy? Vì kích thước nhỏ bé của những dạng sống đó. Cõi khổ (plane of loss / apāya / các cõi tái sinh đau khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) lớn đến như vậy.

Một người thành tựu về tầm nhìn, thoát khỏi cõi khổ rộng lớn đó, biết như thật: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

36.VI. Sanh Lọai (Pànà) (S.v,431)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người trên cõi Diêm-phù-đề này chặt cỏ, cây, cành, lá và chất thành một đống. Chất thành một đống xong, vị ấy làm thành những cây gậy có vót nhọn (sulàm). Sau khi làm thành những cây có vót nhọn, vị ấy đâm những sanh loại lớn trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn lớn; vị ấy đâm những sanh loại bậc trung trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc trung; vị ấy đâm những sanh loại nhỏ trong biển lớn với những cây gậy có vót nhọn bậc nhỏ. Này các Tỷ-kheo, các sinh loại to lớn trong biển lớn không có thể cạn sạch hết. Dầu rằng tất cả cỏ, cây, cành, lá ở cõi Diêm-phù-đề có thể đem ra dùng hết sạch. Nhưng còn nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, là những sinh loại nhỏ trong biển lớn không dễ gì đâm chúng trên các gậy có vót nhọn. Vì sao?

3. Này các Tỷ-kheo, vì cá thể (attabhàva) của chúng rất tế nhị. Lớn vậy, này các Tỷ-kheo, là đọa xứ. Và này các Tỷ-kheo, được thoát khỏi đọa xứ lớn ấy là người nào đã thành tựu chánh kiến, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.37 Ví Dụ Về Mặt Trời (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamasūriya

"Này các Tỷ kheo, bình minh là điềm báo và tiền thân của mặt trời mọc.

Cũng vậy, cái nhìn thiện (chánh kiến) là điềm báo và tiền thân của việc biết như thật về bốn sự thật cao quý. Một Tỷ kheocái nhìn thiện có thể mong đợi sẽ biết như thật: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

37.VII. Ví Dụ Mặt Trời (1) (S.v,442)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến…

3. Với Tỷ-kheo có chánh tri kiến này, này các Tỷ-kheo, chờ đợi là vị ấy sẽ rõ biết: “Ðây là Khổ”… Vị ấy sẽ rõ biết. “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

4. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 4, kinh trên) …

SN 56.38 Ví Dụ Về Mặt Trời (Thứ Hai) Kinh Dutiyasūriya

"Này các Tỷ kheo, chừng nào mặt trăng và mặt trời chưa xuất hiện trên thế gian, thì không có ánh sáng lớn hay hào quang lớn nào xuất hiện. Khi đó bóng tối bao trùm, bóng tối hoàn toàn. Ngày và đêm không được tìm thấy, cũng không có tháng và nửa tháng, cũng không có mùa và năm.

Nhưng khi mặt trăng và mặt trời xuất hiện trên thế gian, một ánh sáng lớn, một hào quang lớn xuất hiện. Bóng tối không còn bao trùm. Ngày và đêm được tìm thấy, và tháng và nửa tháng, và mùa và năm.

Cũng vậy, chừng nào Như Lai chưa xuất hiện trên thế gian, thì không có ánh sáng lớn hay hào quang lớn nào xuất hiện. Khi đó bóng tối bao trùm, bóng tối hoàn toàn. Không có sự giải thích về bốn sự thật cao quý, không có sự giảng dạy, ủng hộ, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ về chúng.

Nhưng khi Như Lai xuất hiện trên thế gian, một ánh sáng lớn, một hào quang lớn xuất hiện. Bóng tối không còn bao trùm. Khi đó có sự giải thích về bốn sự thật cao quý, sự giảng dạy, ủng hộ, thiết lập, làm rõ, phân tích, và tiết lộ về chúng. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

38.VIII. Ví Dụ Mặt Trời (2) (S.v,442)

1. …

2. − Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám, không thể phân biệt đêm và ngày, không thể phân biệt tháng và nửa tháng, không thể phân biệt thời tiết hằng năm.

3. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Và có sự phân biệt đêm ngày, có sự phân biệt tháng và nửa tháng, có sự phân biệt thời tiết hằng năm.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, không có hào quang lớn. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám. Cho đến khi ấy, không có sự tuyên bố, không có sự thuyết giảng, không có sự trình bày, không có sự thiết lập, không có sự khai diễn, không có sự phân tích, không có sự hiển thị bốn Thánh đế.

5. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Cho đến khi ấy, có sự tuyên bố, có sự thuyết giảng, có sự trình bày, có sự thiết lập, có sự khai diễn, có sự phân tích, có sự hiển thị bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

6. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.39 Cột Mốc Ranh Giới Kinh Indakhīla

"Này các Tỷ kheo, có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ ngước nhìn mặt của một sa môn hay bà la môn khác, nghĩ rằng: ‘Chắc chắn vị đáng kính này biết và thấy.’

Giả sử có một túm bông gòn hoặc bông gạo nhẹ được gió cuốn lên và đáp xuống mặt đất bằng phẳng. Gió đông thổi nó về phía tây; gió tây thổi nó về phía đông; gió bắc thổi nó về phía nam; và gió nam thổi nó về phía bắc. Tại sao vậy? Đó là vì túm bông gòn quá nhẹ.

Cũng vậy, có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ ngước nhìn mặt của một sa môn hay bà la môn khác, nghĩ rằng: ‘Chắc chắn vị đáng kính này biết và thấy.’ Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý.

Có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ không ngước nhìn mặt của một sa môn hay bà la môn khác, nghĩ rằng: ‘Chắc chắn vị đáng kính này biết và thấy.’

Giả sử có một cột sắt hoặc một cột mốc ranh giới có nền móng sâu, được cắm chắc chắn, không thể lay chuyển và không thể rung động. Ngay cả khi những cơn bão dữ dội thổi đến từ phía đông, phía tây, phía bắc, và phía nam, chúng cũng không thể làm nó rung chuyển, lay động hay run rẩy. Tại sao vậy? Đó là vì cột mốc ranh giới đó được cắm chắc chắn, với nền móng sâu.

Cũng vậy, có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ không ngước nhìn mặt của một sa môn hay bà la môn khác, nghĩ rằng: ‘Chắc chắn vị đáng kính này biết và thấy.’ Tại sao vậy? Đó là vì họ đã thấy rõ bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

39.IX. Cột Trụ (Indakhilo) (S.v,433)

1. …

2. − Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Samôn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỷ-kheo.

5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết : “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”.

6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển…; nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.

7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-lamôn nào khác và nhận xét: “Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy”. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

8-9. … (xem đoạn số 6 và số 7 của kinh trên) …

SN 56.40 Tìm Kiếm Tranh Luận Kinh Vādatthika

"Này các Tỷ kheo, hãy xem bất kỳ Tỷ kheo nào biết như thật: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Một sa môn hay bà la môn có thể đến từ phía đông, tây, bắc, hay nam muốn tranh luận, tìm kiếm một cuộc tranh luận, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ bác bỏ học thuyết của họ!’ Đơn giản là không thể để họ làm cho vị Tỷ kheo đó rung chuyển, lay động hay run rẩy một cách chính đáng.

Giả sử có một cột đá, dài mười sáu feet. Tám feet được chôn dưới đất, và tám feet ở trên mặt đất. Ngay cả khi những cơn bão dữ dội thổi đến từ phía đông, phía tây, phía bắc, và phía nam, chúng cũng không thể làm nó rung chuyển, lay động hay run rẩy. Tại sao vậy? Đó là vì cột mốc ranh giới đó được cắm chắc chắn, với nền móng sâu.

Cũng vậy, hãy xem bất kỳ Tỷ kheo nào biết như thật: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Một sa môn hay bà la môn có thể đến từ phía đông, tây, bắc, hay nam muốn tranh luận, tìm kiếm một cuộc tranh luận, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ bác bỏ học thuyết của họ!’ Đơn giản là không thể để họ làm cho vị Tỷ kheo đó rung chuyển, lay động hay run rẩy một cách chính đáng. Tại sao vậy? Đó là vì họ đã thấy rõ bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

40.X. Tranh Luận (S.v,445)

1. …

2. − Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt”. Nếu từ phương Ðông có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng : “Ta sẽ tranh luận”, người này không thể làm cho rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”; người này không thể làm rung chuyển, làm lay chuyển, làm động chuyển Tỷ-kheo ấy một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cột đá dài đến mười sáu khuỷu tay, và tám khuỷu tay được chôn dưới đất từ bàn tọa và tám khuỷu tay ở phía trên. Nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, không thể làm cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển, nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, không thể làm cho cột đá ấy rung chuyển, lay chuyển, động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa cột trụ được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Nếu từ phương Ðông có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”, vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến, ưa thích tranh luận, tầm cầu tranh luận, nói rằng: “Ta sẽ tranh luận”, vị ấy có thể làm cho Tỷ-kheo kia rung chuyển, lay chuyển, động chuyển một cách đúng pháp; sự kiện này không xảy ra. Vì sao? Vì bốn Thánh đế đã được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?

5-6. … (Giống như đoạn số 8, số 9, kinh 39) …

Chương Về Vách Đá

SN 56.41 Suy Đoán Về Thế Giới Kinh Lokacintā

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một người rời Rājagaha, nghĩ rằng ‘Ta sẽ suy đoán về thế giới.’ Người đó đến hồ sen Sumāgadhā và ngồi xuống bên bờ suy đoán về thế giới. Rồi người đó thấy một đội quân bốn binh chủng đi vào một cọng sen. Khi thấy điều này, người đó nghĩ, ‘Mình điên rồi, thật sự, mình mất trí rồi! Mình đang thấy những thứ không tồn tại trên thế giới.’

Rồi người đó vào thành và thông báo cho một đám đông lớn, ‘Tôi điên rồi, thật sự, tôi mất trí rồi! Tôi đang thấy những thứ không tồn tại trên thế giới.’

‘Nhưng làm sao mà ông điên? Làm sao ông mất trí? Và ông đã thấy gì mà không tồn tại trên thế giới?’

‘Thưa các ngài, tôi rời Rājagaha, nghĩ rằng “Tôi sẽ suy đoán về thế giới.” Tôi đến hồ sen Sumāgadhā và ngồi xuống bên bờ suy đoán về thế giới. Rồi tôi thấy một đội quân bốn binh chủng đi vào một cọng sen. Đó là lý do tại sao tôi điên, đó là lý do tại sao tôi mất trí. Và đó là những gì tôi đã thấy mà không tồn tại trên thế giới.’

‘Vậy thì, thưa ngài, ông chắc chắn điên rồi, ông chắc chắn mất trí rồi. Và ông đang thấy những thứ không tồn tại trên thế giới.’

Nhưng những gì người đó thấy thực ra là thật, không phải không thật. Ngày xửa ngày xưa, một trận chiến đã diễn ra giữa các vị trời và các a-tu-la. Trong trận chiến đó, các vị trời đã thắng và các a-tu-la đã thua. Các a-tu-la bị đánh bại và kinh hoàng đã vào thành trì của a-tu-la qua cọng sen chỉ để làm các vị trời bối rối.

Vì vậy, này các Tỷ kheo, đừng suy đoán về thế giới. Ví dụ: vũ trụ là thường hằng, hay không thường hằng, hay hữu hạn, hay vô hạn; linh hồn và thể xác là một, hay chúng là hai thứ khác nhau; sau khi chết, một bậc giác ngộ vẫn tồn tại, hay không còn tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không không tồn tại. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó không lợi ích, không liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng không dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Khi các vị suy tưởng điều gì, hãy suy tưởng rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’. Tại sao vậy? Bởi vì những suy nghĩ đó có lợi ích và liên quan đến những nền tảng của đời sống tâm linh. Chúng dẫn đến nhàm chán, ly tham, chấm dứt, an tịnh, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ, và Niết bàn.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

V. Phẩm Vực Thẳm

41.I. Tư Duy (S.v,446)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

− Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: “Ta sẽ suy tư về thế giới”, và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.

3. Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: “Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời”.

4. Rồi người ấy, này Tỷ-kheo, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn:

“− Này Quí vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!”

“− Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng? Như thế nào, Bạn điên loạn? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời?”

5. “− Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ suy tư về thế giới’. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quí vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa quí vị, tôi nghĩ: ‘Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!’”

“− Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!”

6. Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Asuura giàn trận để khai chiến. Và này các Tỷ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asuura bại trận. Các Asuura bại trận, này các Tỷ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asuura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới: “Thế giới là thường còn”, hay: “Thế giới là vô thường”, hay: “Thế giới là hữu biên”, hay: “Thế giới là vô biên”, hay: “Mạng sống và thân thể là một”, hay: “Mạng sống và thân thể là khác”, hay: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?

8. Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

9. Nếu có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ”… “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?

10. Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

11. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.42 Vách Đá Kinh Papāta

Một thời, Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu.

Rồi Đức Phật nói với các Tỷ kheo, “Này các Tỷ kheo, chúng ta hãy đến Đỉnh Cảm Hứng để thiền định trong ngày.”

“Vâng, thưa ngài,” họ đáp. Rồi Đức Phật cùng với một vài Tỷ kheo đến Đỉnh Cảm Hứng.

Một vị Tỷ kheo nọ thấy vách đá lớn ở đó và nói với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, vách đá lớn đó thật sự khổng lồ và đáng sợ. Có vách đá nào khác lớn hơn và đáng sợ hơn vách đá này không?”

“Có đấy, này Tỷ kheo.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, đó là gì?”

"Này Tỷ kheo, có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ thích thú với những hành (choices / saṅkhāra / các hành động, sự lựa chọn) dẫn đến tái sinh, già, và chết, đến đau khổ (sorrow / soka / sầu / nỗi buồn ở trong lòng), oán trách (lamentation / parideva / bi / sự than van, khóc lóc (nỗi buồn thể hiện ra bên ngoài)), khổ (thân) (pain / dukkha / khổ / khổ nói chung hay khổ của thân), khổ tâm (sadness / domanassa / ưu / khổ, khó chịu của tâm), và phiền não (distress / upāyāsa / não / trạng thái khó chịu do bị dính vào tai ương). Vì họ thích thú với những hành như vậy, họ tiếp tục tạo ra chúng. Sau khi đã tạo ra những hành dẫn đến tái sinh, già, và chết, đến đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não, họ rơi xuống vách đá của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi khổ.

Có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ không thích thú với những hành dẫn đến tái sinh, già, và chết, đến đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Vì họ không thích thú với những hành như vậy, họ ngừng tạo ra chúng. Sau khi đã ngừng tạo ra những hành dẫn đến tái sinh, già, và chết, đến đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não, họ không rơi xuống vách đá của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi khổ.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

42.II. Vực Thẳm (S.v,448)

1. Một thời, Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gìjjhakuuta (Linh Thứu).

2. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

− Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Patibhànakuuta để nghỉ trưa.

− Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3. Rồi Thế Tôn cùng số đông Tỷ-kheo đi đến Patibhànakàta. Một Tỷ-kheo thấy một vực thẳm ở Patibhànakuuta, thấy vậy, liền bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?

− Này các Tỷ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.

− Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?

4. − Này Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già… đưa đến chết,… do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.

5. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”… như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh… đưa đến già… đưa đến chết… đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.

6. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.43 Cơn Sốt Dữ Dội Kinh Mahāpariḷāha

“Này các Tỷ kheo, có một địa ngục gọi là ‘Cơn Sốt Dữ Dội’. Ở đó, bất cứ cảnh tượng nào các vị thấy bằng mắt đều không thể ưa thích, không phải là đáng ưa thích; không đáng mong muốn, không phải là đáng mong muốn; khó chịu, không phải là dễ chịu. Bất cứ âm thanh nào các vị nghe … Bất cứ mùi nào các vị ngửi … Bất cứ vị nào các vị nếm … Bất cứ cảm giác nào các vị cảm nhận … Bất cứ ý nghĩ nào các vị biết bằng tâm của mình đều không thể ưa thích, không phải là đáng ưa thích; không đáng mong muốn, không phải là đáng mong muốn; khó chịu, không phải là dễ chịu.”

Khi ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo thưa với Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, cơn sốt đó thật sự dữ dội, rất dữ dội. Có cơn sốt nào khác dữ dội và kinh hoàng hơn cơn sốt này không?”

“Có đấy, này Tỷ kheo.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, đó là gì?”

"Này các Tỷ kheo, có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ thích thú với những hành dẫn đến tái sinh … Họ tiếp tục tạo ra những hành như vậy … Sau khi đã tạo ra những hành như vậy, họ bị thiêu đốt bởi cơn sốt của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi khổ.

Có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ không thích thú với những hành dẫn đến tái sinh … Họ ngừng tạo ra những hành như vậy … Sau khi đã ngừng tạo ra những hành như vậy, họ không bị thiêu đốt bởi cơn sốt của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi khổ.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

43.III. Nhiệt Não (S.v,450)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, có một địa ngục tên là Ðại nhiệt não, tại đấy con mắt thấy sắc gì, chỉ thấy bất khả lạc sắc, không phải khả lạc sắc, chỉ thấy bất khả hỷ sắc, không phải khả hỷ sắc, chỉ thấy bất khả ý sắc, không phải khả ý sắc. Tai có nghe tiếng gì… mũi có ngửi hương gì… lưỡi có nếm vị gì… thân có cảm xúc gì… ý có nhận thức pháp gì, chỉ nhận thức bất khả lạc pháp, không phải khả lạc pháp, chỉ nhận thức bất khả hỷ pháp, không phải khả hỷ pháp, chỉ nhận thức bất khả ý pháp, không phải khả ý pháp.

3. Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn, thật lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, thật khéo to lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, không biết có nhiệt não nào khác nữa, còn lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

− Này Tỷ-kheo, có nhiệt não khác còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy.

− Bạch Thế Tôn, nhiệt não khác ấy như thế nào, còn lớn hơn, và đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

4-6. … (như đoạn số 4,5,6 của kinh trước, có một thay đổi trong kinh trước, có nói: “Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não”. Còn kinh này nói: " Họ bị đốt cháy trong nhiệt não sanh… già… chết… sầu, bi, khổ, ưu, não " với những thay đổi cần thiết khác).

SN 56.44 Ngôi Nhà Gỗ Kinh Kūṭāgāra

"Này các Tỷ kheo, giả sử có người nói: ‘Không cần biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là không thể.

Nó giống như có người nói: ‘Trước khi tầng dưới của một ngôi nhà gỗ được xây dựng, tôi sẽ dựng tầng trên.’ Điều đó là không thể. Cũng vậy, giả sử có người nói: ‘Không cần biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là không thể.

Nhưng giả sử có người nói: ‘Sau khi biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là có thể.

Nó giống như có người nói: ‘Sau khi tầng dưới của một ngôi nhà gỗ được xây dựng, tôi sẽ dựng tầng trên.’ Điều đó là có thể. Cũng vậy, giả sử có người nói: ‘Sau khi biết như thật về các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ.’ Điều đó là có thể.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

44. IV. Nhà Có Nóc Nhọn (S.v,452)

1. …

2. − Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”, sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

4. Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.45 Chẻ Sợi Lông Ngựa Kinh Vāla

Một thời, Đức Phật đang ở gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn.

Rồi Tôn giả Ānanda mặc y vào buổi sáng, mang bát và y, vào Vesālī để khất thực. Ngài thấy một vài thanh niên Licchavi đang tập bắn cung gần tòa thị chính. Họ đang bắn tên từ xa qua một lỗ khóa nhỏ, phát nào cũng trúng, không trượt phát nào.

Khi thấy điều này, ngài nghĩ, “Những thanh niên Licchavi này thật sự được huấn luyện, được huấn luyện rất tốt, đến nỗi họ bắn tên từ xa qua một lỗ khóa nhỏ, phát nào cũng trúng, không trượt phát nào.”

Rồi Ānanda đi khất thực ở Vesālī. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho ngài nghe những gì đã xảy ra.

“Con nghĩ sao, Ānanda? Điều nào khó hơn và thử thách hơn: bắn tên từ xa qua một lỗ khóa nhỏ, phát nào cũng trúng, không trượt phát nào? Hay là lấy một sợi lông ngựa chẻ thành bảy sợi và xuyên đầu này qua đầu kia?”

“Bạch Thế Tôn, việc lấy một sợi lông ngựa chẻ thành bảy sợi và xuyên đầu này qua đầu kia khó hơn và thử thách hơn.”

"Tuy nhiên, Ānanda, những người thực sự thâm nhập được khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường còn thâm nhập được một điều khó hơn thế nữa.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v,453)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng các giảng đường.

2. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.

3. Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không ai trượt lần nào.

4. Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: “Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào”.

5. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

6. − Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: “Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào”.

7. − Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?

− Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.

8. − Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: “Ðây là Khổ”… như thật đâm xuyên qua: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt”.

9. Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.46 Bóng Tối Kinh Andhakāra

“Này các Tỷ kheo, khoảng không vô tận của không gian giữa các vì sao tối tăm đến mức ngay cả ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, vốn rất mạnh mẽ và quyền năng, cũng không tạo ra ấn tượng gì.”

Khi ngài nói vậy, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, bóng tối đó thật sự vĩ đại, rất vĩ đại. Có bóng tối nào khác vĩ đại và kinh hoàng hơn bóng tối này không?”

“Có đấy, này Tỷ kheo.”

“Nhưng bạch Thế Tôn, đó là gì?”

"Có những sa môn và bà la môn không biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ thích thú với những hành dẫn đến tái sinh … Họ tiếp tục tạo ra những hành như vậy … Sau khi đã tạo ra những hành như vậy, họ rơi vào bóng tối của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ không được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi khổ.

Có những sa môn và bà la môn biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường. Họ không thích thú với những hành dẫn đến tái sinh … Họ ngừng tạo ra những hành như vậy … Sau khi đã ngừng tạo ra những hành như vậy, họ không rơi vào bóng tối của tái sinh, già, và chết, của đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Họ được giải thoát khỏi tái sinh, già, và chết, khỏi đau khổ, oán trách, khổ (thân), khổ tâm, và phiền não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi khổ.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)

1. …

2. − Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

3. Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

− Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

− Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

4-6. … (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi. Trong kinh trước có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này thời nói: " Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ").

SN 56.47 Cái Ách Có Lỗ (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamachiggaḷayuga

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người ném một cái ách có một lỗ duy nhất xuống đại dương. Và có một con rùa một mắt cứ một trăm năm mới nổi lên một lần.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Liệu con rùa một mắt đó, cứ một trăm năm mới nổi lên một lần, có thể chui cổ qua lỗ trên cái ách đó không?"

“Chỉ sau một thời gian rất dài, bạch Thế Tôn, nếu có thể.”

"Ta nói rằng, con rùa một mắt đó sẽ chui cổ qua lỗ trên cái ách đó sớm hơn là một kẻ ngu si đã rơi vào cõi khổ được tái sinh làm người.

Tại sao vậy? Bởi vì ở nơi đó không có hành vi có nguyên tắc hay đạo đức, và không có việc làm điều tốt và thiện. Ở đó họ chỉ ăn thịt lẫn nhau, ăn thịt kẻ yếu. Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

47. VII. Lỗ Khóa (2) (S.v,455)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?

− Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.

4. − Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?

5. Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?

6. Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.48 Cái Ách Có Lỗ (Thứ Hai) Kinh Dutiyachiggaḷayuga

"Này các Tỷ kheo, giả sử trái đất hoàn toàn bị bao phủ bởi nước. Và một người ném một cái ách có một lỗ duy nhất vào đó. Gió đông thổi nó về phía tây; gió tây thổi nó về phía đông; gió bắc thổi nó về phía nam; và gió nam thổi nó về phía bắc. Và có một con rùa một mắt cứ một trăm năm mới nổi lên một lần.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Liệu con rùa một mắt đó, cứ một trăm năm mới nổi lên một lần, có thể chui cổ qua lỗ trên cái ách đó không?"

“Điều đó khó xảy ra, bạch Thế Tôn.”

"Việc được tái sinh làm người cũng khó xảy ra như vậy. Và việc một Như Lai xuất hiện trên thế gian, một bậc hoàn thiện, một Đức Phật toàn giác, cũng khó xảy ra như vậy. Và việc giáo pháp và giới luật do một Như Lai tuyên bố tỏa sáng trên thế gian cũng khó xảy ra như vậy. Và bây giờ, này các Tỷ kheo, các vị đã được tái sinh làm người. Một Như Lai đã xuất hiện trên thế gian, một bậc hoàn thiện, một Đức Phật toàn giác. Và giáo pháp và giới luật do một Như Lai tuyên bố đang tỏa sáng trên thế gian.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

48. VIII. Lỗ Khóa (3) (S.v,456)

1. …

2.− Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?

− Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!

4. − Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng chiếu sáng trên đời.

5. Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm… (xem đoạn số 7, kinh trước).

SN 56.49 Sineru, Vua Của Các Ngọn Núi (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamasinerupabbatarāja

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người đặt bảy viên sỏi cỡ hạt đậu xanh lên núi Sineru, vua của các ngọn núi.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: bảy viên sỏi cỡ hạt đậu xanh? Hay núi Sineru, vua của các ngọn núi?"

“Bạch Thế Tôn, núi Sineru, vua của các ngọn núi, chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên sỏi cỡ hạt đậu xanh rất nhỏ. So với núi Sineru, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một người có sự thấu hiểu, một đệ tử cao quý thành tựu về tầm nhìn, cái khổ đã qua và chấm dứt là nhiều hơn, cái còn lại là rất nhỏ. So với khối lượng khổ trong quá khứ đã qua và chấm dứt, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ, vì còn nhiều nhất là bảy kiếp nữa. Một người như vậy biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

49. IX. Núi Sineru (1) (Tu Di) (S.v,457)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: “Ðây là Khổ”… đã rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.50 Sineru, Vua Của Các Ngọn Núi (Thứ Hai) Kinh Dutiyasinerupabbatarāja

"Này các Tỷ kheo, giả sử núi Sineru, vua của các ngọn núi, bị bào mòn và xói mòn chỉ còn lại bảy viên sỏi cỡ hạt cải.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: phần của núi Sineru, vua của các ngọn núi, đã bị bào mòn và xói mòn? Hay bảy viên sỏi cỡ hạt cải còn lại?"

“Bạch Thế Tôn, phần của núi Sineru, vua của các ngọn núi, đã bị bào mòn và xói mòn chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên sỏi cỡ hạt cải còn lại rất nhỏ. So với núi Sineru, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một người có sự thấu hiểu, một đệ tử cao quý thành tựu về tầm nhìn, cái khổ đã qua và chấm dứt là nhiều hơn, cái còn lại là rất nhỏ. So với khối lượng khổ trong quá khứ đã qua và chấm dứt, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ, vì còn nhiều nhất là bảy kiếp nữa. Một người như vậy biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

50. X. Núi Sineru (2) (Tu Di) (S.v,458)

1. …

2. … Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt đậu.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn, tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: “Ðây là Khổ”… đã rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

5. Do vậy, này các Tỷ-kheo… (như đoạn số 5, kinh trước) …

Chương Về Sự Thấu Hiểu

SN 56.51 Móng Tay Kinh Nakhasikhā

Rồi Đức Phật, nhặt một chút đất dưới móng tay, nói với các Tỷ kheo: “Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: chút đất dưới móng tay ta, hay trái đất vĩ đại này?”

“Bạch Thế Tôn, trái đất vĩ đại chắc chắn nhiều hơn. Chút đất dưới móng tay ngài rất nhỏ. So với trái đất vĩ đại, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một người có sự thấu hiểu, một đệ tử cao quý thành tựu về tầm nhìn, cái khổ đã qua và chấm dứt là nhiều hơn, cái còn lại là rất nhỏ. So với khối lượng khổ trong quá khứ đã qua và chấm dứt, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ, vì còn nhiều nhất là bảy kiếp nữa. Một người như vậy biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

VI. Phẩm Chứng Ðạt

51. I. Ðầu Móng tay (S.v,459)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

− Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy ở đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy ở đầu móng tay. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy lên đầu móng tay.

3-4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng đạt, cái này là nhiều hơn… (xem đoạn số 4, số 5 kinh 49) …

SN 56.52 Hồ Sen Kinh Pokkharaṇī

"Này các Tỷ kheo, giả sử có một hồ sen dài năm mươi do tuần, rộng năm mươi do tuần, và sâu năm mươi do tuần, đầy nước đến mức một con quạ có thể uống được. Rồi một người sẽ lấy một ít nước trên đầu ngọn cỏ.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: nước trên đầu ngọn cỏ, hay nước trong hồ sen?"

“Bạch Thế Tôn, nước trong hồ sen chắc chắn nhiều hơn. Nước trên đầu ngọn cỏ rất nhỏ. So với nước trong hồ sen, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

52. II. Ao Hồ (S.v,460)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.

4-5. … (như kinh trên 49, đoạn số 4,5) …

SN 56.53 Nơi Các Dòng Nước Hợp Lại (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamasambhejja

"Này các Tỷ kheo, có những nơi mà các con sông lớn—sông Hằng, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī—hợp lại và hội tụ. Giả sử một người múc hai hoặc ba giọt nước từ nơi đó.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: hai hoặc ba giọt được múc ra hay nước ở nơi hợp lưu?"

“Bạch Thế Tôn, nước ở nơi hợp lưu chắc chắn nhiều hơn. Hai hoặc ba giọt được múc ra rất nhỏ. So với nước ở nơi hợp lưu, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

53. III. Hợp Dòng (Sambhejja) (1) (S.v,460)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamuna, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii. Từ đấy, một người lấy lên hai hay ba giọt nước.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước ở chỗ hợp dòng?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước ở chỗ hợp dòng. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở chỗ hợp dòng với hai hay ba giọt nước lấy lên.

4-5. … Cũng vậy… (xem đoạn số 4-5, kinh 49)

SN 56.54 Nơi Các Dòng Nước Hợp Lại (Thứ Hai) Kinh Dutiyasambhejja

"Này các Tỷ kheo, có những nơi mà các con sông lớn—sông Hằng, Yamuna, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī—hợp lại và hội tụ. Giả sử nước đó cạn đi và bốc hơi chỉ còn lại hai hoặc ba giọt.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: nước ở nơi hợp lưu đã cạn đi và bốc hơi, hay hai hoặc ba giọt còn lại?"

“Bạch Thế Tôn, nước ở nơi hợp lưu đã cạn đi và bốc hơi chắc chắn nhiều hơn. Hai hoặc ba giọt còn lại rất nhỏ. So với nước ở nơi hợp lưu đã cạn đi và bốc hơi, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

54. IV. Hợp Dòng (2) (S.v,461)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii, nước sông ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn bạch Thế Tôn, tức là nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.55 Trái Đất (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamamahāpathavī

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người đặt bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu lên trái đất vĩ đại.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu, hay trái đất vĩ đại?"

“Bạch Thế Tôn, trái đất vĩ đại chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu rất nhỏ. So với trái đất vĩ đại, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

55. V. Quả Ðất (1) (S.v,462)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên quả đất lớn các cục đất lớn bằng bảy hạt táo (sattakolatthimattiyo).

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy, hay là quả đất này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất này, còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo đã được đặt lên như vậy. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể bằng một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn này với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo được đặt lên như vậy.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.56 Trái Đất (Thứ Hai) Kinh Dutiyamahāpathavī

"Này các Tỷ kheo, giả sử trái đất vĩ đại bị bào mòn và xói mòn chỉ còn lại bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: trái đất vĩ đại đã bị bào mòn và xói mòn, hay bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu còn lại?"

“Bạch Thế Tôn, trái đất vĩ đại đã bị bào mòn và xói mòn chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên đất sét cỡ hạt táo tàu còn lại rất nhỏ. So với trái đất vĩ đại đã bị bào mòn và xói mòn, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

66. VI. Quả Ðất (2) (S.v,462)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại những cục đất lớn bằng bảy hạt táo.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều, quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn đã đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt với các cục đất lớn bằng bảy hạt táo còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.57 Đại Dương (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamamahāsamudda

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người múc hai hoặc ba giọt nước từ đại dương.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: hai hoặc ba giọt được múc ra hay nước trong đại dương?"

“Bạch Thế Tôn, nước trong đại dương chắc chắn nhiều hơn. Hai hoặc ba giọt được múc ra rất nhỏ. So với nước trong đại dương, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

57. VII. Biển (1) (S.v,463)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy lên hai hay ba giọt nước từ biển lớn.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước trong biển lớn?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển lớn với hai hay ba giọt nước được lấy lên.

4-5. … (như số 4,5, kinh 49) …

SN 56.58 Đại Dương (Thứ Hai) Kinh Dutiyamahāsamudda

"Này các Tỷ kheo, giả sử nước trong đại dương cạn đi và bốc hơi chỉ còn lại hai hoặc ba giọt.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: nước trong đại dương đã cạn đi và bốc hơi, hay hai hoặc ba giọt còn lại?"

“Bạch Thế Tôn, nước trong đại dương đã cạn đi và bốc hơi chắc chắn nhiều hơn. Hai hoặc ba giọt còn lại rất nhỏ. So với nước trong đại dương đã cạn đi và bốc hơi, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

58. VIII. Biển (2) (S.v,463)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.

4-5. … (xem đoạn số 4,5, kinh 49) …

SN 56.59 Ngọn Núi (Thứ Nhất) Kinh Paṭhamapabbatūpama

"Này các Tỷ kheo, giả sử một người đặt bảy viên sỏi cỡ hạt cải lên dãy Himalaya, vua của các ngọn núi.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: bảy viên sỏi cỡ hạt cải, hay dãy Himalaya, vua của các ngọn núi?"

“Bạch Thế Tôn, dãy Himalaya, vua của các ngọn núi, chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên sỏi cỡ hạt cải rất nhỏ. So với dãy Himalaya, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một đệ tử cao quý …

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

59. IX. Ví Dụ Với Núi (1) (S.v,464)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đặt trên núi chúa Tuyết Sơn các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy, hay là núi chúa Tuyết Sơn?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn. Còn ít hơn là những hòn sạn lớn bằng bảy hột cải được đặt lên như vậy. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn với các viên sạn lớn bằng bảy hột cải.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49)

SN 56.60 Ngọn Núi (Thứ Hai) Kinh Dutiyapabbatūpama

"Này các Tỷ kheo, giả sử dãy Himalaya, vua của các ngọn núi, bị bào mòn và xói mòn chỉ còn lại bảy viên sỏi cỡ hạt cải.

Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: phần của dãy Himalaya, vua của các ngọn núi, đã bị bào mòn và xói mòn, hay bảy viên sỏi cỡ hạt cải còn lại?"

“Bạch Thế Tôn, phần của dãy Himalaya, vua của các ngọn núi, đã bị bào mòn và xói mòn chắc chắn nhiều hơn. Bảy viên sỏi cỡ hạt cải còn lại rất nhỏ. So với dãy Himalaya, chúng không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, đối với một người có sự thấu hiểu, một đệ tử cao quý thành tựu về tầm nhìn, cái khổ đã qua và chấm dứt là nhiều hơn, cái còn lại là rất nhỏ. So với khối lượng khổ trong quá khứ đã qua và chấm dứt, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ, vì còn nhiều nhất là bảy kiếp nữa. Một người như vậy biết như thật về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

60. X. Ví Dụ Với Núi (2) (S.v,464)

1. …

2. − Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải.

3. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, hay là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là các hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh núi chúa Tuyết Sơn đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, với hòn sạn lớn bằng bảy hột cải còn sót lại.

4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …

Chương Đầu Tiên Của Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Ngũ Cốc Sống

SN 56.61 Không Phải Người Kinh Aññatra

Rồi Đức Phật, nhặt một chút đất dưới móng tay, nói với các Tỷ kheo: “Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: chút đất dưới móng tay ta, hay trái đất vĩ đại này?”

“Bạch Thế Tôn, trái đất vĩ đại chắc chắn nhiều hơn. Chút đất dưới móng tay ngài rất nhỏ. So với trái đất vĩ đại, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

"Cũng vậy, số chúng sinh được tái sinh làm người thì ít, trong khi số không được tái sinh làm người thì nhiều. Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

VII. Phẩm Bánh Xe Lược Thuyết

61. I. Người Khác (S.v,465)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

3. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người. Vì sao?

5. Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

SN 56.62 Ở Vùng Biên Địa Kinh Paccanta

Rồi Đức Phật, nhặt một chút đất dưới móng tay, nói với các Tỷ kheo: “Các vị nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Cái nào nhiều hơn: chút đất dưới móng tay ta, hay trái đất vĩ đại này?”

“Bạch Thế Tôn, trái đất vĩ đại chắc chắn nhiều hơn. Chút đất dưới móng tay ngài rất nhỏ. So với trái đất vĩ đại, nó không đáng kể, không có sự so sánh, không đáng một phần nhỏ.”

“Cũng vậy, số chúng sinh được tái sinh ở các nước trung tâm thì ít, trong khi số được tái sinh ở vùng biên địa, giữa những người ngoại quốc vô học, thì nhiều. …”

62. II. Biên Ðịa (S.v,466)

1. …

2-3. … (giống như 2-3 của kinh trước)…

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các quốc độ trung ương. Và nhiều hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các biên địa, giữa những man di (mìlakkha Sk. mleccha) vô ý thức. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.63 Trí Tuệ Kinh Paññā

“… số chúng sinh có con mắt trí tuệ cao quý thì ít, trong khi số người vô minh và mê lầm thì nhiều. …”

63. III. Trí Tuệ (S.v,467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh thành tựu tuệ nhãn của bậc Thánh. Và nhiều hơn là các chúng sanh đi đến vô minh, si ám. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.64 Rượu Bia Kinh Surāmeraya

“… số chúng sinh kiêng cữ rượu bia và các chất gây say thì ít, trong khi số người không kiêng cữ thì nhiều. …”

64. IV. Rượu (S.v, 467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Vì sao?

5-6. … (như đoạn số 5-6, kinh trên) …

SN 56.65 Sinh Ra Trong Nước Kinh Odaka

“… số chúng sinh sinh ra trên cạn thì ít, trong khi số sinh ra trong nước thì nhiều. …”

65. V. Sanh Ở Nước (S.v,467)

1. …

2-3. … (giống như đoạn số 2-3, kinh trên) …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được sanh trên đất liền (thalàjà). Và nhiều hơn là các chúng sanh được sanh ra trong nước. Vì sao?

5-6. … (giống như đoạn số 5-6, các kinh trên) …

SN 56.66 Kính Trọng Mẹ Kinh Matteyya

“… số chúng sinh kính trọng mẹ thì ít, trong khi số không kính trọng thì nhiều. …”

66. VI. Hiếu Kính Mẹ (S,v,467)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ.

SN 56.67 Kính Trọng Cha Kinh Petteyya

“… số chúng sinh kính trọng cha thì ít, trong khi số không kính trọng thì nhiều. …”

67. VII. Hiếu Kính Cha (S,v,467)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha.

SN 56.68 Kính Trọng Sa Môn Kinh Sāmañña

“… số chúng sinh kính trọng sa môn thì ít, trong khi số không kính trọng thì nhiều. …”

68. VIII. Kính Trọng Sa Môn (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Sa-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Sa-môn.

SN 56.69 Kính Trọng Bà La Môn Kinh Brahmañña

“… số chúng sinh kính trọng bà la môn thì ít, trong khi số không kính trọng thì nhiều. …”

69. IX. Kính Trọng Bà La Môn (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các hàng Bà-la-môn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các hàng Bà-la-môn.

SN 56.70 Tôn Kính Trưởng Lão Kinh Pacāyika

“… số chúng sinh tôn kính các trưởng lão trong gia đình thì ít, trong khi số không tôn kính thì nhiều. …”

70. X. Kính Trọng Các Bậc Lớn Tuổi (S,v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc.

Chương Thứ Hai Của Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Ngũ Cốc Sống

SN 56.71 Sát Sinh Kinh Pāṇātipāta

“… số chúng sinh kiêng cữ sát sinh thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

VIII. Phẩm Ít Người Từ Bỏ

71. I. Sanh Loại (S.v,468)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ sát sanh. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ sát sanh. Vì sao?

SN 56.72 Trộm Cắp Kinh Adinnādāna

“… số chúng sinh kiêng cữ trộm cắp thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

72. II. Lấy Của Không Cho (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ lấy của không cho. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ lấy của không cho. Vì sao?

SN 56.73 Tà Dâm Kinh Kāmesumicchācāra

“… số chúng sinh kiêng cữ tà dâm thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

73. III. Trong Các Dục Vọng (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ tà hạnh trong các dục. Vì sao?

SN 56.74 Nói Dối Kinh Musāvāda

“… số chúng sinh kiêng cữ nói dối thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

74. IV. Nói Láo (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói láo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói láo. Vì sao?

SN 56.75 Nói Lời Chia Rẽ Kinh Pesuñña

“… số chúng sinh kiêng cữ nói lời chia rẽ thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

75. V. Nói Ly Gián (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời ly gián. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời ly gián. Vì sao?

SN 56.76 Nói Lời Thô Tục Kinh Pharusavācā

“… số chúng sinh kiêng cữ nói lời thô tục thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

76. VI. Nói Lời Thô Ác (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời thô ác. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời thô ác. Vì sao?

SN 56.77 Nói Nhảm Kinh Samphappalāpa

“… số chúng sinh kiêng cữ nói nhảm thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

77. VII. Nói Lời Phù Phiếm (S.v,469)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nói lời phù phiếm. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nói lời phù phiếm. Vì sao?

SN 56.78 Cây Cối Kinh Bījagāma

“… số chúng sinh kiêng cữ làm hại cây cối và hạt giống thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

78. VIII. Hột Giống (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm hại các hột giống và các cây cỏ. Vì sao?

SN 56.79 Ăn Sai Giờ Kinh Vikālabhojana

“… số chúng sinh kiêng cữ ăn sai giờ thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

79. IX. Phi Thời (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ ăn phi thời. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ ăn phi thời. Vì sao?

SN 56.80 Nước Hoa và Trang Điểm Kinh Gandhavilepana

“… số chúng sinh kiêng cữ làm đẹp và trang điểm bằng vòng hoa, nước hoa, và mỹ phẩm thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều …”

80. X. Hương Liệu (S.v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo. Còn nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các đồ trang sức để mang, để đeo. Vì sao?

Chương Thứ Ba Của Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Ngũ Cốc Sống

SN 56.81 Ca Múa Kinh Naccagīta

… “… số chúng sinh kiêng cữ xem các buổi biểu diễn ca múa nhạc thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều …”

IX. Phẩm Lúa Gạo Sống Rộng Thuyết

81.I. Múa (S. v,470)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch.

SN 56.82 Giường Cao Kinh Uccāsayana

“… số chúng sinh kiêng cữ giường cao và sang trọng thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

82. II. Giường Nằm (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các giường cao, các giường lớn. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các giường cao, các giường lớn.

SN 56.83 Vàng và Tiền Tệ Kinh Jātarūparajata

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận vàng và tiền tệ thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

83. III. Bạc (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận vàng và bạc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận vàng và bạc.

SN 56.84 Ngũ Cốc Sống Kinh Āmakadhañña

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận ngũ cốc sống thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

84. IV. Lúa Gạo (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các lúa gạo sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các lúa gạo sống.

SN 56.85 Thịt Sống Kinh Āmakamaṁsa

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận thịt sống thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

85.V. Thịt (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận các thịt sống. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các thịt sống.

SN 56.86 Phụ Nữ và Thiếu Nữ Kinh Kumārika

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận phụ nữ và thiếu nữ thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

86. VI. Con Gái (S.v,471)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận đàn bà, con gái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận đàn bà, con gái.

SN 56.87 Nô Lệ Kinh Dāsidāsa

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận nô lệ nam và nữ thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

87. VII. Nữ Tỳ (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy các nô tỳ nữ, nô tỳ nam. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận các nô tỳ nữ, nô tỳ nam.

SN 56.88 Dê và Cừu Kinh Ajeḷaka

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận dê và cừu thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

88. VIII. Dê, Dê Rừng (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận dê và dê rừng. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận dê và dê rừng.

SN 56.89 Gà và Lợn Kinh Kukkuṭasūkara

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận gà và lợn thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

89. IX. Gà, Heo (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận gà, heo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận gà và heo.

SN 56.90 Voi và Bò Kinh Hatthigavassa

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

90. X. Voi (S.v,472)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận voi, bò, ngựa, ngựa cái.

Chương Thứ Tư Của Các Bài Kinh Tóm Tắt Về Ngũ Cốc Sống

SN 56.91 Ruộng Đất Kinh Khettavatthu

“… số chúng sinh kiêng cữ nhận ruộng đất thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

X. Phẩm Chúng Sanh Nhiều Hơn

91. I. Ruộng (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ nhận lấy ruộng đất. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ nhận lấy ruộng đất.

SN 56.92 Mua Bán Kinh Kayavikkaya

“… số chúng sinh kiêng cữ mua bán thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

92. II. Mua Bán (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ mua bán. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ mua bán.

SN 56.93 Việc Vặt Kinh Dūteyya

“… số chúng sinh kiêng cữ chạy việc vặt và đưa tin thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

93. III. Ðưa Tin Tức (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ không phái người môi giới hay tự mình làm môi giới. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ phái người làm môi giới, hay tự mình làm môi giới.

SN 56.94 Cân Gian Kinh Tulākūṭa

“… số chúng sinh kiêng cữ gian lận cân, kim loại, hoặc đo lường thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

94. IV. Cân Lường (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường.

SN 56.95 Hối Lộ Kinh Ukkoṭana

“… số chúng sinh kiêng cữ hối lộ, gian lận, lừa đảo, và hai mặt thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. …”

95. V. Hối Lộ (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ hối lộ, gian trá, lừa đảo.

SN 56.96–101 Cắt Xén, V.v. Kinh Chedanādi

"… số chúng sinh kiêng cữ cắt xén, giết người, bắt cóc, cướp bóc, cướp phá, và bạo lực thì ít, trong khi số không kiêng cữ thì nhiều. Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của nó, sự chấm dứt của nó, và con đường.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định …"

96-101. VI-XI. Sát Hại, Trộm Cắp, Cướp Phá (S.v,473)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Chương Tóm Tắt Về Năm Cõi

SN 56.102 Chết Làm Người và Tái Sinh Vào Địa Ngục Kinh Manussacutiniraya

“… số chúng sinh chết làm người và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm người và được tái sinh vào địa ngục thì nhiều …”

XI. Phẩm Năm Sanh Thú

102. I. Năm Sanh Thú (S.v,474)

1. …

2. Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:

3. − Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

− Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất. Và ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay, không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong địa ngục.

SN 56.103 Chết Làm Người và Tái Sinh Làm Súc Sinh Kinh Manussacutitiracchāna

“… số chúng sinh chết làm người và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm người và được tái sinh vào cõi súc sinh thì nhiều …”

103) II. Năm Sanh Thú (S.v,474)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh trong loài bàng sanh.

SN 56.104 Chết Làm Người và Tái Sinh Làm Ngạ Quỷ Kinh Manussacutipettivisaya

“… số chúng sinh chết làm người và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm người và được tái sinh vào cõi ngạ quỷ thì nhiều …”

104. III. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ.

SN 56.105–107 Chết Làm Người và Tái Sinh Làm Trời Kinh Manussacutidevanirayādi

“… số chúng sinh chết làm người và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm người và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

105-107. IV-VI. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân người, phải tái sanh vào địa ngục… phải tái sanh vào loài bàng sanh… phải tái sanh vào cõi ngạ quỷ.

SN 56.108–110 Chết Làm Trời và Tái Sinh Làm Trời Kinh Devacutinirayādi

“… số chúng sinh chết làm trời và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm trời và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

108-110. VIII-X. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh giữa chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục… phải tái sanh trong loài bàng sanh… phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.111–113 Chết Làm Trời và Tái Sinh Làm Người Kinh Devamanussanirayādi

“… số chúng sinh chết làm trời và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm trời và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

111-113. XI-XIII. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục… phải tái sanh trong loài bàng sanh… phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.114–116 Chết Trong Địa Ngục và Tái Sinh Làm Người Kinh Nirayamanussanirayādi

“… số chúng sinh chết trong địa ngục và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết trong địa ngục và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

114-116. XIV-XVI. Năm Sanh Thú (S.v,475)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh ở loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.117–119 Chết Trong Địa Ngục và Tái Sinh Làm Trời Kinh Nirayadevanirayādi

“… số chúng sinh chết trong địa ngục và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết trong địa ngục và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

117-119. XVII-XIX. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi địa ngục, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh ở loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.120–122 Chết Làm Súc Sinh và Tái Sinh Làm Người Kinh Tiracchānamanussanirayādi

“… số chúng sinh chết làm súc sinh và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm súc sinh và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

120-122. XX-XXII. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4.− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.123–125 Chết Làm Súc Sinh và Tái Sinh Làm Trời Kinh Tiracchānadevanirayādi

“… số chúng sinh chết làm súc sinh và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm súc sinh và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

123-125. XXIII-XXV. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4.− Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, được tái sanh giữa chư Thiên. Và nhiều hơn là chúng sanh, sau khi chết từ các loài bàng sanh, bị tái sanh trong cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh trong cõi ngạ quỷ.

SN 56.126–128 Chết Làm Ngạ Quỷ và Tái Sinh Làm Người Kinh Pettimanussanirayādi

“… số chúng sinh chết làm ngạ quỷ và được tái sinh làm người thì ít, trong khi số chết làm ngạ quỷ và được tái sinh vào địa ngục, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ thì nhiều.”

126-128. XXVI-XXVIII. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm người. Và nhiều hơn là các chúng sanh, sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi địa ngục… bị tái sanh trong loài bàng sanh… bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ.

SN 56.129–130 Chết Làm Ngạ Quỷ và Tái Sinh Làm Trời Kinh Pettidevanirayādi

“… số chúng sinh chết làm ngạ quỷ và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm ngạ quỷ và được tái sinh vào địa ngục thì nhiều.”

“… số chúng sinh chết làm ngạ quỷ và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm ngạ quỷ và được tái sinh vào cõi súc sinh thì nhiều.”

129. XXIX. Năm Sanh Thú (S.v,476)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở địa ngục.

130. XXX. Năm Sanh Thú (S.v,477)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Và nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở loài bàng sanh.

SN 56.131 Chết Làm Ngạ Quỷ và Tái Sinh Làm Ngạ Quỷ Kinh Pettidevapettivisaya

"… số chúng sinh chết làm ngạ quỷ và được tái sinh làm trời thì ít, trong khi số chết làm ngạ quỷ và được tái sinh vào cõi ngạ quỷ thì nhiều. Tại sao vậy? Đó là vì họ chưa thấy được bốn sự thật cao quý. Bốn điều đó là gì? Các sự thật cao quý về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ.

Vì vậy, các vị nên thực hành thiền định để hiểu rằng: ‘Đây là khổ’ … ‘Đây là nguồn gốc của khổ’ … ‘Đây là sự chấm dứt khổ’ … ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ’."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tán thành những gì Đức Phật đã nói.

131. XXXI. Năm Sanh Thú (S.v,477)

1-2-3. …

4. − Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, được tái sanh làm chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ cõi ngạ quỷ, bị tái sanh ở cõi ngạ quỷ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5. Thánh đế về Khổ… Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Một cố gắng cần phải làm rõ biết: “Ðây là khổ diệt”. Một cố gắng phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”

− Hết −

-ooOoo-

Source: Con Đường Giải Thoát (http://www.budsas.org) Compiled into Acrobat format by: LotusMedia (http://www.lotusmedia.net)