Các Bài Kinh Tương Ưng về Thiền Niệm Xứ
Chương về Kỹ Nữ Ambapālī
SN 47.1 Tại Vườn Xoài của Ambapālī Kinh Ambapālī
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong Vườn Xoài của Ambapālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, "Này các Tỷ kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, bốn niệm xứ (the four kinds of mindfulness meditation / cattāro satipaṭṭhānā / tứ niệm xứ / bốn nơi để thực hành chánh niệm) là con đường duy nhất (path to convergence / ekāyano maggo / con đường độc nhất, trực tiếp dẫn đến mục tiêu). Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp (discover the system / ñāyassa adhigamāya / để đạt được phương pháp, con đường đúng đắn), và thực chứng Niết bàn (extinguishment / Nibbāna / sự dập tắt, chấm dứt khổ đau). Bốn pháp đó là gì?
Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm (quan sát và ghi nhớ về sự thật trên bốn đề tài thân, thọ, tâm, pháp), loại bỏ tham ái và phiền muộn (covetousness and displeasure / abhijjhā-domanassa / sự tham lam và buồn phiền đối với thế gian) trên đời.
Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Vị ấy an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Vị ấy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Các Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy.
SN 47.2 Chánh Niệm Kinh Sati
Một thời Đức Phật trú tại Vesālī, trong vườn xoài của Ambapālī. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, "Này các Tỷ kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm.
Và thế nào là một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng? Đó là khi một Tỷ kheo hành động với nhận biết rõ ràng khi đi ra và đi vào; khi nhìn thẳng và nhìn nghiêng; khi co và duỗi các chi; khi mang y bát; khi ăn, uống, nhai, và nếm; khi đi tiểu và đại tiện; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng. Đó là cách một Tỷ kheo hành động với nhận biết rõ ràng. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
SN 47.3 Một Vị Sư Kinh Bhikkhu
Một thời Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika.
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi sang một bên và thưa rằng: "Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần (Diligence / appamāda / chuyên cần, kỷ luật, tự chủ), nhiệt tâm, và quyết chí."
"Đây chính là cách một số kẻ ngốc nghếch yêu cầu ta. Nhưng khi giáo pháp đã được giải thích, họ chỉ nghĩ đến việc đi theo ta mà thôi."
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn! Xin Đấng Thiện Thệ hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn! Mong rằng con có thể hiểu được ý nghĩa lời Đức Phật dạy! Mong rằng con có thể trở thành người thừa kế giáo pháp của Đức Phật!"
"Vậy thì, này Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành (skillful qualities / kusala dhamma / các trạng thái tâm tích cực, có lợi). Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Đó là khéo giới đức trong sạch (khéo léo ứng dụng đạo đức để đạt sự trong sạch giới đức) và chánh kiến (tầm nhìn đúng). Khi giới đức (ethical conduct / sīla / hành vi đạo đức) của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ theo ba cách, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì?
Hãy an trú quan sát thân trên thân ở bên trong—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc an trú quan sát thân trên thân ở bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc an trú quan sát thân trên thân cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác ở bên trong... bên ngoài... cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát tâm trên tâm ở bên trong... bên ngoài... cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Hoặc an trú quan sát pháp trên các pháp ở bên trong... bên ngoài... cả bên trong lẫn bên ngoài—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ theo ba cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi.
Sau đó, vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Vị ấy hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này." Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / Arahant / bậc đã hoàn thiện, đã chấm dứt các lậu hoặc).
SN 47.4 Tại Sālā Kinh Sālā
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Kosala, gần làng Bà-la-môn tên là Sālā. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:
"Này các Tỷ kheo, những Tỷ kheo còn trẻ tuổi—mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự rèn luyện này—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Xin các vị tôn giả, hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật (liễu tri) về thân. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về các cảm giác (feeling / vedanā / thọ). Hãy an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về tâm (mind / citta / ý thức, trạng thái tinh thần). Hãy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để biết như thật về các pháp (principles / dhamma / các hiện tượng, các đối tượng của tâm, các lời dạy của Đức Phật).
Những Tỷ kheo là bậc hữu học (trainees / sekha / những người vẫn còn đang trên con đường tu học, chưa phải là A-la-hán)—những người chưa đạt được mục đích của tâm, nhưng sống với khát vọng hướng đến sự an ổn khỏi các khổ ách (sanctuary from the yoke / yogakkhema / trạng thái an toàn tối thượng, thoát khỏi gánh nặng của các ràng buộc) tối thượng—cũng an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn (complete understanding / pariññā / liễu tri) về thân. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về các cảm giác. Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về tâm. Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), để hiểu biết hoàn toàn về các pháp.
Những Tỷ kheo là bậc A-la-hán—những người đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / āsava / những ô nhiễm sâu kín làm rò rỉ năng lượng tâm linh), hoàn tất hành trình tâm linh, làm những gì cần làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục đích của mình, hoàn toàn chấm dứt xiềng xích của sự tồn tại (fetter of continued existence / bhavasaṃyojana / sự ràng buộc vào vòng luân hồi do mong muốn được tiếp tục tồn tại), và được giải thoát chân chánh nhờ giác ngộ (enlightenment / bodhi / sự tỉnh thức, sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của thực tại)—cũng an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi thân. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi các cảm giác. Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi tâm. Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, một hướng, với tâm trong sáng, ngăn nắp và bền vững (định tĩnh), tâm tụ trên một điểm (nhất tâm), tách rời khỏi các pháp.
Những Tỷ kheo còn trẻ tuổi—mới xuất gia, mới đến với giáo pháp và sự rèn luyện này—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong bốn niệm xứ này."
SN 47.5 Một Đống Bất Thiện Kinh Akusalarāsi
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Đức Phật dạy:
"Nói một cách đúng đắn, này các Tỷ kheo, các con nên gọi năm Phiền nhiễu (hindrances / nīvaraṇa / triền cái / chướng ngại, là trạng thái bất an, bồn chồn gây khó tập trung trong hiện tại) này là một 'đống bất thiện'. Vì năm Phiền nhiễu này hoàn toàn là một đống bất thiện. Năm pháp đó là gì? Đó là Phiền nhiễu của theo đuổi thú vui (dục tham), thù hận (sân hận), uể oải và buồn ngủ (Hôn trầm và thụy miên), bồn chồn và hối hận (trạo cử và hối quá), và hoài nghi (doubt / vicikicchā / sự nghi ngờ làm tê liệt, một trong năm phiền nhiễu). Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi năm Phiền nhiễu này là một 'đống bất thiện'. Vì năm Phiền nhiễu này hoàn toàn là một đống bất thiện.
Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một 'đống thiện'. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... Vị ấy an trú quan sát tâm trên tâm... Vị ấy an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một 'đống thiện'. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện."
SN 47.6 Chim Ưng Kinh Sakuṇagghi
"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, một con chim ưng bất ngờ sà xuống và bắt một con chim cút. Khi con chim cút bị tha đi, nó than khóc: 'Ta thật xui xẻo, thật bất hạnh, vì đã đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu hôm nay ta đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên ta, thì con chim ưng này đã không thể thắng được ta trong cuộc chiến.'
'Vậy, chim cút ơi, lãnh địa của ngươi, lãnh địa của tổ tiên ngươi là gì?'
'Đó là một cánh đồng đã cày, phủ đầy những cục đất.'
Tự tin vào sức mạnh của mình, con chim ưng không hề nao núng hay sợ hãi. Nó thả con chim cút ra và nói: 'Đi đi, chim cút. Nhưng ngay cả ở đó, ngươi cũng không thoát khỏi ta đâu!'
Rồi con chim cút bay đến một cánh đồng đã cày, phủ đầy những cục đất. Nó trèo lên một cục đất lớn, đứng đó và nói với con chim ưng: 'Đến bắt ta đi, chim ưng! Đến bắt ta đi, chim ưng!'
Tự tin vào sức mạnh của mình, con chim ưng không hề nao núng hay sợ hãi. Nó gập cánh lại và bất ngờ sà xuống con chim cút. Khi con chim cút biết con chim ưng đã đến gần, nó liền lẩn vào dưới cục đất đó. Nhưng con chim ưng đã đâm thẳng ngực vào đó.
Đó là những gì xảy ra khi các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, đừng đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác, Ma vương (Māra / một vị thiên nhân tượng trưng cho các thế lực cản trở sự giác ngộ) sẽ tìm thấy điểm yếu và tóm lấy các con.
Và đâu không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm loại kích thích giác quan (sensual stimulation / kāmaguṇa / năm đối tượng của ham muốn giác quan: hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, và sự tiếp xúc). Năm loại đó là gì? Những hình ảnh được mắt biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Những âm thanh được tai biết đến... Những mùi được mũi biết đến... Những vị được lưỡi biết đến... Những sự tiếp xúc được thân biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Đây không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác.
Các con nên đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con. Nếu các con đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con, Ma vương sẽ không tìm thấy điểm yếu hay tóm lấy các con.
Và đâu là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên? Đó là bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên."
SN 47.7 Con Khỉ Kinh Makkaṭa
"Này các Tỷ kheo, ở dãy Himalaya có những vùng hiểm trở và khó đi. Ở một số vùng như vậy, cả khỉ và người đều không thể đến, trong khi ở những vùng khác, khỉ có thể đến nhưng người thì không. Cũng có những nơi bằng phẳng, dễ chịu mà cả khỉ và người đều có thể đến. Ở đó, những người thợ săn đặt bẫy nhựa đường trên các lối đi của khỉ để bắt chúng.
Những con khỉ không liều lĩnh và khinh suất sẽ nhìn thấy nhựa đường và tránh xa. Nhưng một con khỉ ngu ngốc và liều lĩnh lại đến gần nhựa đường và dùng một tay tóm lấy nó. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ tay ra, nó dùng tay kia tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay, nó dùng một chân tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay và một chân, nó dùng chân kia tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó. Nghĩ rằng sẽ gỡ cả hai tay và hai chân, nó dùng mõm tóm lấy. Nó bị dính chặt ở đó.
Và thế là con khỉ, bị mắc kẹt ở năm điểm, chỉ nằm đó la hét. Nó sẽ gặp phải bi kịch và thảm họa, và người thợ săn có thể làm gì tùy ý với nó. Người thợ săn đâm nó, gỡ nó ra khỏi khúc gỗ dính nhựa đường, và đi bất cứ đâu ông ta muốn.
Đó là những gì xảy ra khi các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, đừng đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác. Nếu các con đi lạc ra khỏi lãnh địa của mình để vào lãnh địa của kẻ khác, Ma vương sẽ tìm thấy điểm yếu và tóm lấy các con.
Và đâu không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác? Đó là năm loại kích thích giác quan. Năm loại đó là gì? Những hình ảnh được mắt biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Những âm thanh được tai biết đến... Những mùi được mũi biết đến... Những vị được lưỡi biết đến... Những sự tiếp xúc được thân biết đến, đáng yêu, đáng mong muốn, dễ chịu, thú vị, gợi cảm, và kích thích. Đây không phải là lãnh địa của một Tỷ kheo mà là lãnh địa của kẻ khác.
Các con nên đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con. Nếu các con đi trong lãnh địa của mình, lãnh địa của tổ tiên các con, Ma vương sẽ không tìm thấy điểm yếu hay tóm lấy các con.
Và đâu là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên? Đó là bốn niệm xứ. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là lãnh địa của một Tỷ kheo, lãnh địa của tổ tiên."
SN 47.8 Người Đầu Bếp Kinh Sūda
"Này các Tỷ kheo, giả sử một người đầu bếp ngu ngốc, bất tài, không khéo léo phục vụ một vị vua hoặc quan đại thần của họ với đủ loại cà ri xa hoa: cực kỳ chua, đắng, cay, và ngọt; nóng và dịu, mặn và nhạt.
Nhưng người đầu bếp đó không nhận ra gợi ý của chủ nhân mình: 'Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt này, hoặc ông ấy đã với lấy nó, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó. Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt chua hoặc đắng hoặc cay hoặc ngọt hoặc nóng hoặc dịu hoặc mặn. Hoặc ông ấy thích món sốt nhạt, hoặc ông ấy đã với lấy món nhạt, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó.'
Người đầu bếp ngu ngốc, bất tài, không khéo léo đó không được tặng quần áo, tiền lương, hay tiền thưởng. Tại sao vậy? Bởi vì họ không nhận ra gợi ý của chủ nhân mình.
Tương tự như vậy, một Tỷ kheo ngu ngốc, bất tài, không khéo léo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ không nhập Định (Immersion / samādhi / định / Trạng thái tâm tụ trên một điểm), và các phiền não phụ (corruptions / upakkilesa / những ô nhiễm của tâm trí, làm cản trở sự định tĩnh) của họ không được từ bỏ. Nhưng họ không nhận ra gợi ý. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm không nhập Định, và các phiền não phụ không được từ bỏ. Nhưng họ không nhận ra gợi ý.
Tỷ kheo ngu ngốc, bất tài, không khéo léo đó không có được những trạng thái thiền an lạc trong đời này, cũng không có được chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Tại sao vậy? Bởi vì họ không nhận ra gợi ý của tâm mình.
Giả sử một người đầu bếp sáng suốt, tài năng, khéo léo phục vụ một vị vua hoặc quan đại thần của họ với đủ loại cà ri xa hoa: cực kỳ chua, đắng, cay, và ngọt; nóng và dịu, mặn và nhạt.
Và người đầu bếp đó nhận ra gợi ý của chủ nhân mình: 'Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt này, hoặc ông ấy đã với lấy nó, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó. Hôm nay chủ nhân của ta thích món sốt chua hoặc đắng hoặc cay hoặc ngọt hoặc nóng hoặc dịu hoặc mặn. Hoặc ông ấy thích món sốt nhạt, hoặc ông ấy đã với lấy món nhạt, hoặc ông ấy đã lấy rất nhiều, hoặc ông ấy đã khen ngợi nó.'
Người đầu bếp sáng suốt, tài năng, khéo léo đó được tặng quần áo, tiền lương, và tiền thưởng. Tại sao vậy? Bởi vì họ nhận ra gợi ý của chủ nhân mình.
Tương tự như vậy, một Tỷ kheo sáng suốt, tài năng, khéo léo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ nhập Định, và các phiền não phụ của họ được từ bỏ. Họ nhận ra gợi ý. Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm của họ nhập Định, và các phiền não phụ của họ được từ bỏ. Họ nhận ra gợi ý.
Tỷ kheo sáng suốt, tài năng, khéo léo đó có được những trạng thái thiền an lạc trong đời này, và họ có được chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Tại sao vậy? Bởi vì họ nhận ra gợi ý của tâm mình."
SN 47.9 Bệnh Kinh Gilāna
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Vesālī, tại làng nhỏ Beluva. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, hãy vào mùa an cư mưa với bất kỳ bạn bè hay người quen nào các con có quanh Vesālī. Ta sẽ bắt đầu mùa an cư mưa ngay tại đây, trong làng nhỏ Beluva."
"Vâng, bạch Thế Tôn," các Tỷ kheo ấy đáp lời. Họ làm theo lời Đức Phật dạy, trong khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư mưa ngay tại làng nhỏ Beluva.
Sau khi Đức Phật bắt đầu mùa an cư mưa, Ngài bị bệnh nặng, phải chịu những cơn đau khủng khiếp, gần kề cái chết. Nhưng Ngài vẫn chịu đựng không phiền muộn, với chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Bấy giờ, Đức Phật khởi lên ý nghĩ:
"Sẽ không thích hợp nếu ta nhập diệt hoàn toàn trước khi thông báo cho các thị giả và từ biệt Tăng đoàn Tỷ kheo. Tại sao ta không dùng sức mạnh để trấn áp cơn bệnh này, ổn định sinh lực, và tiếp tục sống?" Và Ngài đã làm như vậy. Sau đó, cơn bệnh của Đức Phật lắng xuống.
Ngay sau khi Đức Phật bình phục, Ngài rời khỏi nơi ở và ngồi dưới bóng hiên trên chiếc ghế đã được trải sẵn. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời khi Đức Phật cảm thấy dễ chịu, khi Ngài vẫn khỏe mạnh, và khi Ngài đang qua khỏi. Bởi vì khi Đức Phật bị bệnh, thân con cảm thấy như bị say thuốc. Con mất phương hướng, và các giáo pháp không hiện lên trong tâm trí. Tuy nhiên, ít nhất con cũng được an ủi bởi ý nghĩ rằng Đức Phật sẽ không nhập diệt hoàn toàn mà không nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn Tỷ kheo."
"Nhưng Tăng đoàn Tỷ kheo có thể mong đợi gì ở ta bây giờ, Ānanda? Ta đã dạy giáo pháp mà không có sự phân biệt nào giữa những lời dạy bí mật và công khai. Như Lai (Realized One / Tathāgata / một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là "người đã đến như vậy" hoặc "người đã đi như vậy") không có nắm tay của một người thầy khi nói đến các giáo pháp.
Nếu có ai nghĩ rằng: 'Ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn Tỷ kheo,' hoặc 'Tăng đoàn Tỷ kheo là dành cho ta,' thì hãy để người đó nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn. Nhưng Như Lai không nghĩ như vậy, vậy tại sao Ngài phải nói điều gì đó liên quan đến Tăng đoàn?
Bây giờ ta đã già, cao tuổi và là bậc trưởng thượng. Ta đã cao niên và đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Ta hiện đã tám mươi tuổi. Giống như một chiếc xe cũ nát tiếp tục chạy bằng cách dựa vào dây buộc, cũng vậy, thân của Như Lai tiếp tục tồn tại như thể dựa vào dây buộc.
Đôi khi Như Lai, không chú tâm vào bất kỳ hình tướng nào, và với sự chấm dứt của một số cảm giác nhất định, nhập và an trú trong Định Vượt qua hình tướng (Signless immersion / animitta-samādhi / Tập trung nhận thức về việc buông bỏ mọi dấu hiệu hay hình dạng của các hiện tượng (ngưng đọc nhãn hiệu)) của tâm. Chỉ khi đó thân của Như Lai mới trở nên thoải mái hơn.
Vì vậy, Ānanda, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
SN 47.10 Khu Ni Viện Kinh Bhikkhunupassaya
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đi đến khu ni viện, và ngồi xuống chiếc ghế đã được trải sẵn. Sau đó, một vài ni cô đến gặp Tôn giả Ānanda, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Thưa Tôn giả Ānanda, một vài ni cô thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ. Họ đã nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây."
"Đúng vậy, các chị em! Đúng vậy, các chị em! Bất kỳ vị tăng hay ni nào thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ đều có thể mong đợi nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây."
Sau đó, Ānanda đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy, và truyền cảm hứng cho các ni cô bằng một bài pháp thoại, sau đó ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi. Sau đó, Ānanda đi khất thực ở Sāvatthī. Sau bữa ăn, khi trở về từ chuyến khất thực, ngài đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và kể lại những gì đã xảy ra.
"Đúng vậy, Ānanda! Đúng vậy! Bất kỳ vị tăng hay ni nào thiền định với tâm trí vững chắc trong bốn niệm xứ đều có thể mong đợi nhận ra một sự khác biệt cao hơn so với trước đây.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, dựa trên thân thể, phát sinh sự căng thẳng thể chất, hoặc sự uể oải tinh thần, hoặc tâm bị phân tán ra bên ngoài. Tỷ kheo đó nên hướng tâm của mình đến một chủ đề truyền cảm hứng làm cơ sở cho thiền định. Khi họ làm như vậy, phấn chấn (joy / pāmojja / sự vui mừng kích thích mạnh) nảy sinh. Khi có phấn chấn, hân hoan (Rapture / pīti / Hỷ / niềm vui có thể cảm nhận được từ ngoài) nảy sinh. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên lắng dịu (Tranquility / passaddhi / khinh an / trạng thái dịu lại của hân hoan). Khi thân lắng dịu, người ta cảm thấy bình an (bliss / Sukhaṁ / lạc / hạnh phúc, bền vững và tinh tế). Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định (immersed in samādhi / Samāhitā / định tĩnh). Sau đó, họ suy ngẫm: 'Ta đã hoàn thành mục tiêu mà ta đã hướng tâm đến. Bây giờ hãy để ta rút lui.' Họ rút lui, và lặng im không suy nghĩ và không quan sát (without placing the mind or keeping it connected / avitakka-avicāra / không tầm không tứ / không còn suy nghĩ và không còn quan sát (chỉ có sự tồn tại ý thức mà không có nội dung)). Họ hiểu: 'Ta đang lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Chánh niệm trong chính mình, ta hạnh phúc.'
Hơn nữa, một Tỷ kheo an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, dựa trên các pháp, phát sinh sự căng thẳng thể chất, hoặc sự uể oải tinh thần, hoặc tâm bị phân tán ra bên ngoài. Tỷ kheo đó nên hướng tâm của mình đến một chủ đề truyền cảm hứng làm cơ sở cho thiền định. Khi họ làm như vậy, hân hoan nảy sinh. Khi hân hoan, phấn chấn nảy sinh. Khi tâm tràn đầy phấn chấn, thân trở nên lắng dịu. Khi thân lắng dịu, người ta cảm thấy bình an. Và khi bình an, tâm trở nên đắm chìm trong định. Sau đó, họ suy ngẫm: 'Ta đã hoàn thành mục tiêu mà ta đã hướng tâm đến. Bây giờ hãy để ta rút lui.' Họ rút lui, và lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Họ hiểu: 'Ta đang lặng im không suy nghĩ và không quan sát. Chánh niệm trong chính mình, ta hạnh phúc.' Đó là cách có sự phát triển có định hướng.
Và làm thế nào để có sự phát triển không định hướng? Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: 'Tâm ta không hướng ra bên ngoài.' Và họ hiểu: 'Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.' Và họ cũng hiểu: 'Ta an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.' Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: 'Tâm ta không hướng ra bên ngoài.' Và họ hiểu: 'Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.' Và họ cũng hiểu: 'Ta an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.' Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: 'Tâm ta không hướng ra bên ngoài.' Và họ hiểu: 'Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.' Và họ cũng hiểu: 'Ta an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.' Không hướng tâm ra bên ngoài, một Tỷ kheo hiểu: 'Tâm ta không hướng ra bên ngoài.' Và họ hiểu: 'Trước và sau, nó không bị gò bó, được giải thoát, và không định hướng.' Và họ cũng hiểu: 'Ta an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, chánh niệm; ta hạnh phúc.' Đó là cách có sự phát triển không định hướng.
Vậy, Ānanda, ta đã dạy con sự phát triển có định hướng và sự phát triển không định hướng. Vì lòng từ bi, ta đã làm những gì một người thầy nên làm, người muốn điều tốt nhất cho các đệ tử của mình. Đây là những gốc cây, và đây là những túp lều trống. Hãy thực hành thiền định, Ānanda! Đừng lơ là! Đừng hối tiếc sau này! Đây là lời chỉ dạy của ta cho con."
Đó là những gì Đức Phật đã dạy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy.
Chương tại Nālandā
SN 47.11 Bậc Đại Nhân Kinh Mahāpurisa
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'một bậc đại nhân (great man / mahāpurisa / một người vĩ đại, người có tâm giải thoát)'. Bậc đại nhân được định nghĩa như thế nào?"
"Sāriputta, người có tâm giải thoát là một bậc đại nhân, ta nói vậy. Nếu tâm của họ không giải thoát, ta nói họ không phải là một bậc đại nhân.
Và làm thế nào một người có tâm giải thoát? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát thân trên thân, tâm của họ trở nên ly tham (dispassionate / virajjati / trạng thái không còn tham ái, dính mắc), và được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không bám giữ (not grasping / anupādāya / không chấp thủ, không dính mắc vào bất cứ điều gì). Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi họ an trú quan sát pháp trên các pháp, tâm của họ trở nên ly tham, và được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ không bám giữ. Đó là cách một người có tâm giải thoát.
Người có tâm giải thoát là một bậc đại nhân, ta nói vậy. Nếu tâm của họ không giải thoát, ta nói họ không phải là một bậc đại nhân."
SN 47.12 Tại Nāḷandā Kinh Nāḷandā
Một thời Đức Phật đang ở gần Nāḷandā trong vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, con có niềm tin vào Đức Phật đến nỗi con tin rằng không có vị tu sĩ khổ hạnh hay Bà-la-môn nào khác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà hiểu biết trực tiếp (direct knowledge / abhiññā / thắng tri) lại vượt trội hơn Đức Phật khi nói về sự tỉnh thức (awakening / sambodhi / sự giác ngộ, sự hiểu biết hoàn toàn)."
"Đó là một tuyên bố vĩ đại và ấn tượng, Sāriputta. Con đã rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết, rằng: 'Con có niềm tin vào Đức Phật đến nỗi con tin rằng không có vị tu sĩ khổ hạnh hay Bà-la-môn nào khác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—mà hiểu biết trực tiếp lại vượt trội hơn Đức Phật khi nói về sự tỉnh thức.'
Còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác đã sống trong quá khứ thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của họ để biết rằng những vị Phật đó có giới đức (ethical conduct / sīla / hành vi đạo đức) như vậy, hay phẩm hạnh (qualities / dhamma / các pháp, các đặc tính) như vậy, hay trí tuệ (wisdom / paññā / sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật) như vậy, hay thiền định (meditation / samādhi / sự tập trung tâm ý) như vậy, hay giải thoát (freedom / vimutti / sự thoát khỏi mọi ràng buộc và khổ đau) như vậy chưa?"
"Dạ chưa, bạch Thế Tôn."
"Và còn tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác sẽ sống trong tương lai thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của họ để biết rằng những vị Phật đó sẽ có giới đức như vậy, hay phẩm hạnh như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay giải thoát như vậy chưa?"
"Dạ chưa, bạch Thế Tôn."
"Và còn ta, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác ở hiện tại thì sao? Con đã thấu hiểu tâm của ta để biết rằng ta có giới đức như vậy, hay phẩm hạnh như vậy, hay trí tuệ như vậy, hay thiền định như vậy, hay giải thoát như vậy chưa?"
"Dạ chưa, bạch Thế Tôn."
"Vậy thì, Sāriputta, khi mà con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, hay hiện tại, thì chính xác con đang làm gì khi đưa ra một tuyên bố vĩ đại và ấn tượng như vậy, rống lên một tiếng rống sư tử dứt khoát, quả quyết như vậy?"
"Bạch Thế Tôn, mặc dù con không thấu hiểu tâm của các vị Phật quá khứ, tương lai, và hiện tại, nhưng con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp. Giả sử có một thành trì biên giới của vua với các bờ lũy, thành lũy, và cổng vòm được củng cố, và chỉ có một cổng duy nhất. Và nó có một người gác cổng sáng suốt, tài năng, và thông minh. Anh ta ngăn người lạ vào và cho người quen vào. Khi anh ta đi tuần tra quanh con đường, anh ta không thấy một lỗ hổng hay khe nứt nào trên tường, ngay cả một cái đủ lớn để một con mèo chui qua. Anh ta nghĩ, 'Bất kỳ sinh vật lớn nào vào hay ra khỏi thành trì, tất cả chúng đều đi qua cổng này.'
Tương tự như vậy, con hiểu điều này bằng cách suy luận từ giáo pháp: 'Tất cả các bậc A-la-hán, các vị Phật toàn giác—dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại—đều từ bỏ năm Phiền nhiễu, những phiền não phụ của tâm làm suy yếu trí tuệ. Tâm của họ được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Họ phát triển đúng đắn bảy yếu tố của giác ngộ (awakening factors / bojjhaṅga / giác chi). Và họ tỉnh thức để đạt được sự tỉnh thức hoàn hảo tối thượng.'"
"Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta! Vậy Sāriputta, con nên thường xuyên nói bài giảng giáo pháp này cho các vị tăng, ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Mặc dù sẽ có một số người ngốc nghếch có hoài nghi hay không chắc chắn về Như Lai, khi họ nghe bài giảng giáo pháp này, họ sẽ từ bỏ hoài nghi hay sự không chắc chắn đó."
SN 47.13 Với Cunda Kinh Cunda
Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Lúc đó, Tôn giả Sāriputta đang ở tại vùng Magadha gần làng nhỏ Nālaka, và ngài bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Và sa di Cunda là người chăm sóc ngài.
Sau đó, Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn do cơn bệnh đó. Rồi Cunda lấy bát và y của Sāriputta và lên đường đến Sāvatthī. Ngài đến gặp Tôn giả Ānanda tại Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Thưa Tôn giả, Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn. Đây là bát và y của ngài."
"Thưa Tôn giả Cunda, chúng ta nên đến gặp Đức Phật về vấn đề này. Nào, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và thông báo cho Ngài về việc này."
"Vâng, thưa Tôn giả," Cunda đáp.
Sau đó, Ānanda và Cunda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, sa di Cunda này nói rằng Tôn giả Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn. Đây là bát và y của ngài. Kể từ khi con nghe tin này, thân con cảm thấy như bị say thuốc. Con mất phương hướng, và các giáo pháp không hiện lên trong tâm trí."
"Vậy, Ānanda, khi Sāriputta nhập diệt hoàn toàn, ngài có lấy đi toàn bộ phạm vi giới đức, Định, trí tuệ, giải thoát, hay tri kiến về giải thoát của con không?"
"Dạ không, bạch Thế Tôn, ngài không. Nhưng Tôn giả Sāriputta là người cố vấn và khuyên bảo của con. Ngài đã giáo huấn, khuyến khích, khơi dậy, và truyền cảm hứng cho con. Ngài không bao giờ mệt mỏi khi giảng dạy giáo pháp, và ngài đã hỗ trợ các bạn đồng tu của mình. Con nhớ đến vị ngọt của giáo pháp, sự phong phú của giáo pháp, sự hỗ trợ của giáo pháp mà Tôn giả Sāriputta đã ban cho."
"Ānanda, ta đã không chuẩn bị cho điều này sao khi ta giải thích rằng chúng ta phải chia lìa và xa cách khỏi tất cả những gì chúng ta yêu quý và trân trọng? Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp (conditioned / saṅkhata / hữu vi / có hình thành và có biến mất), và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Giả sử có một cây lớn đứng vững với lõi gỗ, và cành lớn nhất bị gãy. Tương tự như vậy, trong Tăng đoàn vĩ đại đứng vững với lõi gỗ, Sāriputta đã nhập diệt hoàn toàn.
Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Vì vậy, Ānanda, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
SN 47.14 Tại Ukkacelā Kinh Ukkacela
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Vajji gần Ukkacelā bên bờ sông Hằng, cùng với một Tăng đoàn Tỷ kheo đông đảo. Đó là không lâu sau khi Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn. Bấy giờ, Đức Phật đang ngồi ngoài trời, được Tăng đoàn Tỷ kheo vây quanh.
Sau đó, Đức Phật nhìn quanh Tăng đoàn Tỷ kheo, những người đang im lặng. Ngài gọi họ:
"Này các Tỷ kheo, hội chúng này dường như trống rỗng đối với ta bây giờ khi Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn. Khi Sāriputta và Moggallāna còn sống, hội chúng của ta không bao giờ trống rỗng; ta không có mối bận tâm nào về bất kỳ vùng nào họ ở. Các vị Phật trong quá khứ hay tương lai có những cặp đệ tử thượng thủ không giỏi hơn Sāriputta và Moggallāna đối với ta.
Đó là một phẩm chất đáng kinh ngạc và tuyệt vời của những đệ tử như vậy khi họ hoàn thành các chỉ dẫn của Thầy và tuân theo lời khuyên của ngài. Và họ được bốn hội chúng yêu mến và chấp thuận, tôn trọng và ngưỡng mộ.
Và đó là một phẩm chất đáng kinh ngạc và tuyệt vời của Như Lai khi một cặp đệ tử như vậy nhập diệt hoàn toàn, ngài không đau buồn hay than khóc. Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Giả sử có một cây lớn đứng vững với lõi gỗ, và những cành lớn nhất bị gãy. Tương tự như vậy, trong Tăng đoàn vĩ đại đứng vững với lõi gỗ, Sāriputta và Moggallāna đã nhập diệt hoàn toàn.
Làm sao có thể xảy ra chuyện những gì được sinh ra, được tạo ra, do duyên hợp, và có thể hao mòn lại không hao mòn? Điều đó là không thể.
Vì vậy, này các Tỷ kheo, hãy sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Hãy để giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của con, không có nơi nương tựa nào khác.
Và làm thế nào một Tỷ kheo làm được điều này? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác. Đó là cách giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác.
Dù là bây giờ hay sau khi ta đã qua đời, bất kỳ ai sống như hòn đảo của chính mình, nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác; với giáo pháp là hòn đảo và nơi nương tựa của họ, không có nơi nương tựa nào khác—những Tỷ kheo của ta muốn rèn luyện sẽ là những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất."
SN 47.15 Với Bāhiya Kinh Bāhiya
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Bāhiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí."
"Vậy thì, Bāhiya, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Khéo giới đức trong sạch và chánh kiến. Khi giới đức của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi Tôn giả Bāhiya hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi. Sau đó, Bāhiya, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Ngài hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này." Và Tôn giả Bāhiya đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 47.16 Với Uttiya Kinh Uttiya
Tại Sāvatthī.
Bấy giờ, Tôn giả Uttiya đến gặp Đức Phật... và hỏi ngài: "Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí."
"Vậy thì, Uttiya, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Khéo giới đức trong sạch và chánh kiến. Khi giới đức của con đã được thanh lọc tốt và chánh kiến của con đã đúng đắn, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con sẽ vượt qua được sự thống trị của Thần Chết."
Và rồi Tôn giả Uttiya hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi. Sau đó, Uttiya, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Ngài hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này." Và Tôn giả Uttiya đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 47.17 Thánh Thiện Kinh Ariya
"Này các Tỷ kheo, khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng trở nên thánh thiện (noble / ariya / cao quý, thuộc về các bậc thánh) và dẫn đến giải thoát (emancipating / niyyānika / có khả năng đưa đến sự thoát khỏi khổ đau), và đưa người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Bốn pháp đó là gì?
Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng trở nên thánh thiện và dẫn đến giải thoát, và đưa người thực hành đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau."
SN 47.18 Phạm Thiên Kinh Brahma
Một thời, khi mới giác ngộ, Đức Phật đang ở Uruvelā tại cây bàng của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā.
Bấy giờ, khi đang ở một mình, ý nghĩ này nảy sinh trong tâm Ngài: "Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... hoặc tâm trên tâm... hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Bấy giờ, vị Phạm thiên Sahampati biết được ý nghĩ của Đức Phật. Dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt áo choàng qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:
"Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Đấng Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... hoặc tâm trên tâm... hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn."
Đó là những gì vị Phạm thiên Sahampati đã nói. Sau đó, vị ấy tiếp tục nói:
"Đấng từ bi,
- người thấy sự chấm dứt của tái sinh,
hiểu được con đường duy nhất.
Bằng con đường này, người ta đã vượt qua trước đây,
sẽ vượt qua, và đang vượt qua."
SN 47.19 Tại Sedaka Kinh Sedaka
Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Sumbha, gần thị trấn Sedaka của người Sumbha. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo:
"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, một người nhào lộn trên sào của bộ tộc làm nghề với xác chết đã dựng cây sào tre của bộ tộc mình lên và nói với người học trò Medakathālikā của mình: 'Nào, Medakathālikā thân mến, hãy trèo lên cây sào tre và đứng trên vai ta.'
'Vâng, thưa thầy,' cô bé đáp. Cô bé trèo lên cây sào tre và đứng trên vai thầy mình.
Bấy giờ, người nhào lộn trên sào của bộ tộc làm nghề với xác chết nói với Medakathālikā: 'Con hãy trông chừng ta, Medakathālikā thân mến, và ta sẽ trông chừng con. Bằng cách đó, bảo vệ và trông chừng lẫn nhau, chúng ta sẽ biểu diễn kỹ năng của mình, thu tiền công, và xuống khỏi cây sào tre một cách an toàn.'
Khi ông nói điều này, Medakathālikā nói với thầy mình: 'Không phải vậy đâu, thưa thầy! Thầy nên tự trông chừng mình, và con sẽ tự trông chừng mình. Bằng cách đó, tự bảo vệ và trông chừng chính mình, chúng ta sẽ biểu diễn kỹ năng của mình, thu tiền công, và xuống khỏi cây sào tre một cách an toàn.'
Đó là cách đúng," Đức Phật nói. "Giống như Medakathālikā đã nói với thầy mình. Nghĩ rằng 'Ta sẽ tự trông chừng mình,' các con nên tu tập thiền niệm xứ. Nghĩ rằng 'Ta sẽ trông chừng người khác,' các con nên tu tập thiền niệm xứ. Trông chừng chính mình, các con trông chừng người khác; và trông chừng người khác, các con trông chừng chính mình.
Và làm thế nào các con trông chừng người khác bằng cách trông chừng chính mình? Bằng cách phát triển, tu tập, và thực hành thiền định. Và làm thế nào các con trông chừng chính mình bằng cách trông chừng người khác? Bằng sự chấp nhận, sự vô hại, tình thương, và lòng từ bi.
Nghĩ rằng 'Ta sẽ tự trông chừng mình,' các con nên tu tập thiền niệm xứ. Nghĩ rằng 'Ta sẽ trông chừng người khác,' các con nên tu tập thiền niệm xứ. Trông chừng chính mình, các con trông chừng người khác; và trông chừng người khác, các con trông chừng chính mình."
SN 47.20 Người Phụ Nữ Đẹp Nhất Xứ Kinh Janapadakalyāṇī
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Sumbha, gần thị trấn Sedaka của người Sumbha. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo, "Này các Tỷ kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp lời. Đức Phật dạy rằng:
"Này các Tỷ kheo, giả sử khi nghe tin, 'Người phụ nữ đẹp nhất xứ! Người phụ nữ đẹp nhất xứ!' một đám đông lớn sẽ tụ tập. Và người phụ nữ đẹp nhất xứ sẽ nhảy múa và ca hát một cách vô cùng hấp dẫn. Khi nghe tin, 'Người phụ nữ đẹp nhất xứ đang nhảy múa và ca hát! Người phụ nữ đẹp nhất xứ đang nhảy múa và ca hát!' một đám đông còn lớn hơn nữa sẽ tụ tập.
Bấy giờ, một người muốn sống và không muốn chết, muốn hạnh phúc và ghê sợ đau khổ sẽ đến. Người ta sẽ nói với anh ta: 'Này người đáng kính, đây là một bát dầu đầy đến miệng. Ông phải mang nó đi giữa đám đông lớn này và người phụ nữ đẹp nhất xứ. Và một người đàn ông với thanh kiếm đã rút ra sẽ theo ngay sau ông. Bất cứ nơi nào ông làm đổ dù chỉ một giọt, anh ta sẽ chặt đầu ông ngay tại đó.'
Các con nghĩ sao, này các Tỷ kheo? Liệu người đó có mất tập trung vào bát dầu đó, và lơ là bị phân tâm ra bên ngoài không?"
"Dạ không, bạch Thế Tôn."
"Ta đã đưa ra ví dụ này để làm rõ một điểm. Và đây là ý nghĩa của nó. 'Một bát dầu đầy đến miệng' là một thuật ngữ chỉ niệm thân.
Vì vậy, các con nên rèn luyện như thế này: 'Chúng ta sẽ phát triển niệm thân. Chúng ta sẽ tu tập nó, biến nó thành phương tiện và nền tảng của chúng ta, duy trì nó, củng cố nó, và thực hiện nó một cách đúng đắn.' Đó là cách các con nên rèn luyện."
Chương về Giới Đức và Thời Gian
SN 47.21 Giới Đức Kinh Sīla
Tôi nghe như vầy. Một thời, các tôn giả Ānanda và Bhadda đang ở gần Pāṭaliputta, trong Tu viện Gà. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhadda ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên và nói với Ānanda:
"Thưa Tôn giả Ānanda, Đức Phật đã nói về thiện giới (skillful ethics / kusala sīla / ứng dụng đạo đức một cách khéo léo, mang lại lợi ích). Mục đích của chúng là gì?"
"Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: 'Đức Phật đã nói về thiện giới. Mục đích của chúng là gì?'"
"Vâng, thưa Tôn giả."
"Đức Phật đã nói về thiện giới đến mức độ cần thiết để phát triển bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đức Phật đã nói về thiện giới đến mức độ cần thiết để phát triển bốn niệm xứ."
SN 47.22 Lâu Dài Kinh Ciraṭṭhiti
Cùng bối cảnh.
"Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?"
"Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: 'Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?'"
"Vâng, thưa Tôn giả."
"Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn."
SN 47.23 Suy Tàn Kinh Parihāna
Một thời, các tôn giả Ānanda và Bhadda đang ở gần Pāṭaliputta, trong Tu viện Gà. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Tôn giả Bhadda ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Tôn giả Ānanda, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ngài ngồi sang một bên và nói với Ānanda:
"Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Ānanda, lý do gì khiến chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp không suy tàn?"
"Tốt lắm, tốt lắm, Tôn giả Bhadda! Cách tiếp cận và diễn đạt của ngài thật xuất sắc, và đó là một câu hỏi hay. Vì ngài đã hỏi: 'Nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp suy tàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp không suy tàn?'"
"Vâng, thưa Tôn giả."
"Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp suy tàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không suy tàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp suy tàn. Và chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không suy tàn."
SN 47.24 Phiên Bản Đơn Giản Kinh Suddha
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đây là bốn niệm xứ."
SN 47.25 Một Vị Bà-la-môn Nào Đó Kinh Aññatarabrāhmaṇa
Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī trong Vườn Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, một vị Bà-la-môn nào đó đến gặp Đức Phật, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi sang một bên và nói với Đức Phật:
"Nguyên nhân là gì, thưa Tôn giả Gotama, lý do gì khiến chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn? Và nguyên nhân là gì, lý do gì khiến chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn?"
"Này Bà-la-môn, chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Chính vì không phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp không tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn. Chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà chánh pháp tồn tại lâu dài sau khi Như Lai nhập diệt hoàn toàn."
Khi ngài nói điều này, vị Bà-la-môn nói với Đức Phật: "Tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời! ... Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy nhớ đến tôi như một người cư sĩ đã quy y trọn đời."
SN 47.26 Một Phần Kinh Padesa
Một thời, các tôn giả Sāriputta, Mahāmoggallāna, và Anuruddha đang ở gần Sāketa, trong Rừng Gai. Bấy giờ, vào cuối buổi chiều, Sāriputta và Mahāmoggallāna ra khỏi nơi ẩn tu, đến gặp Anuruddha, và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, họ ngồi sang một bên. Sāriputta nói với Anuruddha:
"Thưa Tôn giả, người ta nói về người được gọi là 'bậc hữu học'. Bậc hữu học được định nghĩa như thế nào?"
"Thưa các Tôn giả, bậc hữu học là người đã phát triển một phần bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bậc hữu học là người đã phát triển một phần bốn niệm xứ."
SN 47.27 Hoàn Toàn Kinh Samatta
Cùng bối cảnh.
"Thưa Tôn giả, người ta nói về người được gọi là 'bậc vô học (adept / asekha / người đã hoàn tất việc tu học, một vị A-la-hán)'. Bậc vô học được định nghĩa như thế nào?"
"Thưa các Tôn giả, bậc vô học là người đã phát triển hoàn toàn bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bậc vô học là người đã phát triển hoàn toàn bốn niệm xứ."
SN 47.28 Thế Giới Kinh Loka
Cùng bối cảnh. "Thưa Tôn giả Anuruddha, ngài đã phát triển và tu tập những điều gì để đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại?"
"Thưa Tôn giả, tôi đã đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi đã đạt được hiểu biết trực tiếp vĩ đại bằng cách phát triển và tu tập bốn niệm xứ này.
Và chính vì phát triển và tu tập bốn niệm xứ này mà tôi hiểu biết trực tiếp về ngàn thiên hà."
SN 47.29 Với Sirivaḍḍha Kinh Sirivaḍḍha
Một thời Tôn giả Ānanda đang ở gần Rājagaha, trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc. Bấy giờ, gia chủ Sirivaḍḍha bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông gọi một người đàn ông:
"Xin ông, người đáng kính, hãy đến gặp Tôn giả Ānanda, và nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài. Hãy thưa với ngài: 'Bạch Tôn giả, gia chủ Sirivaḍḍha bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Ông ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài.' Và sau đó nói: 'Bạch Tôn giả, xin ngài hãy đến thăm ông ấy tại nhà vì lòng từ bi.'"
"Vâng, thưa ông," người đàn ông đó đáp. Ông ta làm theo lời Sirivaḍḍha yêu cầu. Ānanda đồng ý bằng sự im lặng.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, đến nhà gia chủ Sirivaḍḍha, ngồi xuống chiếc ghế đã được trải sẵn, và nói với ông:
"Tôi hy vọng ông vẫn khỏe, gia chủ; tôi hy vọng ông ổn. Và tôi hy vọng cơn đau đang giảm dần, không tăng lên, rằng sự giảm của nó là rõ ràng, chứ không phải sự tăng của nó."
"Bạch Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua khỏi. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm của nó."
"Vậy ông nên rèn luyện như thế này: 'Tôi sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi sẽ thiền định về một khía cạnh của cảm giác... tâm... pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.' Đó là cách ông nên rèn luyện."
"Bốn niệm xứ này mà Đức Phật đã dạy đều có trong tôi, và tôi thể hiện chúng. Vì tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Và trong năm xiềng xích thấp (five lower fetters / pañca orambhāgiyāni saṃyojanāni / năm ràng buộc đầu tiên trói buộc chúng sinh vào các cõi thấp: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, và sân hận) mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ."
"Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn! Ông đã tuyên bố quả vị bất lai (non-return / anāgāmitā / quả vị không còn quay trở lại cõi dục, quả vị A-na-hàm)."
SN 47.30 Với Mānadinna Kinh Mānadinna
Cùng bối cảnh. Bấy giờ, gia chủ Mānadinna bị bệnh, đau đớn, bệnh rất nặng. Sau đó, ông gọi một người đàn ông:
"Xin ông, người đáng kính, hãy đến gặp Tôn giả Ānanda..." ...
"Bạch Tôn giả, tôi không khỏe, tôi không qua khỏi. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm đi; sự tăng của nó là rõ ràng, chứ không phải sự giảm của nó. Khi tôi trải qua những cảm giác đau đớn như vậy, tôi an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Tôi an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Và trong năm xiềng xích thấp mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ."
"Ông thật may mắn, gia chủ, thật vô cùng may mắn! Ông đã tuyên bố quả vị bất lai."
Chương về Không Học Từ Ai Khác
SN 47.31 Không Học Từ Ai Khác Kinh Ananussuta
Tại Sāvatthī.
"'Đây là sự quan sát một khía cạnh của thân.' Như vậy, này các Tỷ kheo, là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây. 'Sự quan sát một khía cạnh của thân này nên được phát triển.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của thân này đã được phát triển.' Như vậy là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây.
'Đây là sự quan sát một khía cạnh của cảm giác.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của cảm giác này nên được phát triển.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của cảm giác này đã được phát triển.' ...
'Đây là sự quan sát một khía cạnh của tâm.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của tâm này nên được phát triển.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của tâm này đã được phát triển.' ...
'Đây là sự quan sát một khía cạnh của pháp.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của pháp này nên được phát triển.' ... 'Sự quan sát một khía cạnh của pháp này đã được phát triển.' Như vậy là cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự chứng ngộ, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về những giáo pháp chưa từng được học từ ai khác trước đây."
SN 47.32 Phai Nhạt Kinh Virāga
"Này các Tỷ kheo, bốn niệm xứ này, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự nhàm chán (disillusionment / nibbidā / sự chán ngán, không còn hứng thú với các pháp hữu vi), sự ly tham (dispassion / virāga / sự phai nhạt và chấm dứt tham ái), sự chấm dứt (cessation / nirodha / sự diệt tận khổ đau và nguyên nhân của nó), sự an tịnh (peace / vupasama / sự lắng dịu, bình yên), hiểu biết trực tiếp, sự tỉnh thức, và Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này, khi được phát triển và tu tập, chỉ dẫn đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự chấm dứt, sự an tịnh, hiểu biết trực tiếp, sự tỉnh thức, và Niết bàn."
SN 47.33 Bỏ Lỡ Kinh Viraddha
"Này các Tỷ kheo, ai đã bỏ lỡ bốn niệm xứ thì đã bỏ lỡ con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ thì đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Ai đã bỏ lỡ bốn niệm xứ này thì đã bỏ lỡ con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Ai đã thực hành bốn niệm xứ này thì đã thực hành con đường thánh thiện dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau."
SN 47.34 Phát Triển Kinh Bhāvita
"Này các Tỷ kheo, khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi bốn niệm xứ này được phát triển và tu tập, chúng dẫn đến việc đi từ bờ bên này sang bờ bên kia."
SN 47.35 Chánh Niệm Kinh Sati
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm.
Và thế nào là một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng? Đó là khi một Tỷ kheo biết các cảm giác khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Họ biết các suy nghĩ khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Họ biết các nhận thức (perception / saññā / tưởng / nhận thức, suy nghĩ) khi chúng khởi sinh, khi chúng tồn tại, và khi chúng qua đi. Đó là cách một Tỷ kheo có nhận biết rõ ràng. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm và nhận biết rõ ràng. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
SN 47.36 Giác Ngộ Kinh Aññā
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây là bốn niệm xứ.
Nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ này, một trong hai kết quả có thể được mong đợi: giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn lại gì đó, thì là quả vị bất lai."
SN 47.37 Ham Muốn Kinh Chanda
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với thân. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với cảm giác. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với tâm. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ từ bỏ ham muốn đối với pháp. Khi ham muốn được từ bỏ, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết."
SN 47.38 Hiểu Biết Hoàn Toàn Kinh Pariññāta
"Này các Tỷ kheo, có bốn niệm xứ này. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về thân. Khi thân được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về cảm giác. Khi cảm giác được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát tâm trên tâm—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về tâm. Khi tâm được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết.
Họ an trú quan sát pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi làm như vậy, họ hiểu biết hoàn toàn về pháp. Khi pháp được hiểu biết hoàn toàn, họ chứng ngộ sự giải thoát khỏi cái chết."
SN 47.39 Phát Triển Kinh Bhāvanā
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về sự phát triển của bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe...
Và sự phát triển của bốn niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đây là sự phát triển của bốn niệm xứ."
SN 47.40 Phân Tích Kinh Vibhaṅga
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về thiền niệm xứ, sự phát triển của thiền niệm xứ, và thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ. Hãy lắng nghe...
Và thiền niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây được gọi là thiền niệm xứ.
Và sự phát triển của thiền niệm xứ là gì? Đó là khi một Tỷ kheo quan sát thân có khả năng khởi sinh, có khả năng biến mất, và có khả năng khởi sinh và biến mất—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Họ quan sát cảm giác... tâm... pháp có khả năng khởi sinh, có khả năng biến mất, và có khả năng khởi sinh và biến mất—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đây được gọi là sự phát triển của thiền niệm xứ.
Và thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo / con đường tám nhánh dẫn đến giải thoát) này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định (tầm nhìn đúng, suy nghĩ đúng, lời nói đúng, hành động đúng, sống đúng, nỗ lực đúng, niệm đúng, định đúng). Đây được gọi là thực hành dẫn đến sự phát triển của thiền niệm xứ."
Chương về Bất Tử
SN 47.41 Bất Tử Kinh Amata
Tại Sāvatthī.
"Này các Tỷ kheo, các con nên thiền định với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Đừng để sự bất tử thoát khỏi tay các con. Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Các con nên thiền định với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ. Đừng để sự bất tử thoát khỏi tay các con."
SN 47.42 Nguồn Gốc Kinh Samudaya
"Này các Tỷ kheo, ta sẽ dạy các con về nguồn gốc và sự chấm dứt của bốn niệm xứ. Hãy lắng nghe...
Và nguồn gốc của thân là gì? Thân bắt nguồn từ thức ăn. Khi thức ăn chấm dứt, thân cũng chấm dứt.
Cảm giác bắt nguồn từ sự tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc chấm dứt, cảm giác cũng chấm dứt.
Tâm bắt nguồn từ danh và sắc (name and form / nāmarūpa / các yếu tố tâm lý (danh) và vật lý (sắc) cấu thành một cá nhân). Khi danh và sắc chấm dứt, tâm cũng chấm dứt.
Pháp bắt nguồn từ sự chú tâm (application of mind / manasikāra / tác ý, sự hướng tâm đến một đối tượng). Khi sự chú tâm chấm dứt, pháp cũng chấm dứt."
SN 47.43 Con Đường Kinh Magga
Tại Sāvatthī.
Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, một lần nọ, khi ta mới giác ngộ, ta đang ở Uruvelā tại cây bàng của người chăn dê bên bờ sông Nerañjarā. Khi đang ở một mình, ý nghĩ này nảy sinh trong tâm: 'Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... hoặc tâm trên tâm... hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.'
Và rồi vị Phạm thiên Sahampati, biết được dòng suy nghĩ của ta, dễ dàng như một người mạnh mẽ duỗi hay co cánh tay, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt ta. Vị ấy vắt áo choàng qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói: 'Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Đấng Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.
Bốn pháp đó là gì? Một Tỷ kheo sẽ an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hoặc họ sẽ an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... hoặc tâm trên tâm... hoặc pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Bốn niệm xứ là con đường duy nhất. Con đường này nhằm thanh lọc chúng sanh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng ngộ chánh pháp, và thực chứng Niết bàn.'
Đó là những gì vị Phạm thiên Sahampati đã nói. Sau đó, vị ấy tiếp tục nói:
"Đấng từ bi,
- người thấy sự chấm dứt của tái sinh,
hiểu được con đường duy nhất.
Bằng con đường này, người ta đã vượt qua trước đây,
sẽ vượt qua, và đang vượt qua.'"
SN 47.44 Chánh Niệm Kinh Sati
"Này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con.
Và thế nào là một Tỷ kheo có chánh niệm? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Đó là cách một Tỷ kheo có chánh niệm. Một Tỷ kheo nên sống có chánh niệm. Đây là lời chỉ dạy của ta cho các con."
SN 47.45 Một Đống Thiện Kinh Kusalarāsi
"Nói một cách đúng đắn, này các Tỷ kheo, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một 'đống thiện'. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Nói một cách đúng đắn, các con nên gọi bốn niệm xứ này là một 'đống thiện'. Vì bốn niệm xứ này hoàn toàn là một đống thiện."
SN 47.46 Giới Luật Tu Viện Kinh Pātimokkhasaṁvara
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí."
"Vậy thì, Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Hãy sống có giới luật trong tu viện, hành xử tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi lầm nhỏ nhất, hãy giữ gìn các giới luật con đã thọ nhận. Khi con đã làm được điều này, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Khi con phát triển bốn niệm xứ theo cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm."
Và rồi vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ và đồng ý với những gì Đức Phật đã dạy. Vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ một cách kính cẩn trước khi rời đi.
Sau đó, vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã đạt được bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của gia đình từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà.
Vị ấy hiểu rằng: "Tái sinh đã chấm dứt; hành trình tâm linh đã hoàn tất; những gì cần làm đã được làm; không còn gì nữa ở nơi này." Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 47.47 Hành Vi Xấu Kinh Duccarita
Bấy giờ, một Tỷ kheo đến gặp Đức Phật... và nói:
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy cho con giáo pháp một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, và quyết chí."
"Vậy thì, Tỷ kheo, con nên thanh lọc điểm khởi đầu của các phẩm chất thiện lành. Khởi đầu của các phẩm chất thiện lành là gì? Hãy từ bỏ hành vi xấu qua thân, khẩu, và ý và phát triển hành vi tốt qua thân, khẩu, và ý. Khi con đã làm được điều này, con nên phát triển bốn niệm xứ, dựa trên và có nền tảng từ giới đức.
Bốn pháp đó là gì? Hãy an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Hãy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Khi con phát triển bốn niệm xứ theo cách này, dựa trên và có nền tảng từ giới đức, con có thể mong đợi sự tăng trưởng, chứ không phải suy giảm, trong các phẩm chất thiện lành, dù là ngày hay đêm." ...
Và vị Tỷ kheo ấy đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.
SN 47.48 Bạn Bè Kinh Mitta
"Này các Tỷ kheo, những người mà các con có lòng từ bi, và những người đáng để lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự phát triển của bốn niệm xứ.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Những người mà các con có lòng từ bi, và những người đáng để lắng nghe—bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và gia đình—nên được khuyến khích, hỗ trợ, và thiết lập trong sự phát triển của bốn niệm xứ."
SN 47.49 Cảm Giác Kinh Vedanā
"Này các Tỷ kheo, có ba loại cảm giác này. Ba loại đó là gì? Dễ chịu, khó chịu, và trung tính (Pleasant, painful, and neutral feeling / sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā / lạc thọ, khổ thọ, và không khổ không lạc thọ). Đây là ba loại cảm giác. Bốn niệm xứ nên được phát triển để hiểu biết hoàn toàn về ba loại cảm giác này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để hiểu biết hoàn toàn về ba loại cảm giác này."
SN 47.50 Lậu Hoặc Kinh Āsava
"Này các Tỷ kheo, có ba loại lậu hoặc này. Ba loại đó là gì? Lậu hoặc của dục vọng (defilements of sensuality / kāmāsava / sự ô nhiễm sâu kín của ham muốn giác quan), lậu hoặc của sự tồn tại (desire to be reborn / bhavāsava / sự ô nhiễm sâu kín của việc mong muốn được tái sinh), và vô minh (ignorance / avijjā / sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, sự thiếu sáng suốt). Đây là ba loại lậu hoặc.
Bốn niệm xứ nên được phát triển để từ bỏ ba loại lậu hoặc này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để từ bỏ ba loại lậu hoặc này."
Chương về các Bài Kinh Tóm Tắt về Sông Hằng
SN 47.51--62 Mười Hai Bài Kinh về Sông Hằng, v.v. Phẩm Gaṅgāpeyyāla
"Này các Tỷ kheo, sông Hằng nghiêng, dốc, và hướng về phía đông. Tương tự như vậy, một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn.
Và làm thế nào một Tỷ kheo phát triển bốn niệm xứ lại nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Đó là cách một Tỷ kheo phát triển và tu tập bốn niệm xứ sẽ nghiêng, dốc, và hướng về Niết bàn."
Sáu bài về hướng về phía đông,
và sáu bài về hướng về đại dương;
hai lần sáu này là mười hai,
và đó là cách chương này được tụng đọc.
Chương về Tinh Cần
SN 47.63--72 Như Lai Phẩm Appamāda
"Này các Tỷ kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, vị Phật toàn giác, được cho là bậc cao nhất trong tất cả chúng sanh—dù là không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân..."
(Kể đầy đủ như trong SN 45.139–148.)
Như Lai, dấu chân, nóc nhà,
rễ cây, lõi gỗ, hoa nhài,
vua, mặt trời và mặt trăng,
và tấm vải là bài thứ mười.
Chương về Công Việc Khó Nhọc
SN 47.73--84 Công Việc Khó Nhọc, v.v. Phẩm Balakaraṇīya
"Này các Tỷ kheo, tất cả công việc khó nhọc được thực hiện đều phụ thuộc vào đất và có nền tảng trên đất. ..."
(Kể đầy đủ như trong SN 45.149–160.)
Công việc khó nhọc, hạt giống, và rồng,
cây, bình, và gai nhọn,
không khí, và hai bài về mây,
tàu, nhà khách, và sông.
Chương về Tìm Kiếm
SN 47.85--94 Tìm Kiếm, v.v. Phẩm Esanā
"Này các Tỷ kheo, có ba sự tìm kiếm này. Ba sự tìm kiếm đó là gì? Sự tìm kiếm thú vui giác quan, sự tìm kiếm sự tồn tại tiếp diễn, và sự tìm kiếm con đường tâm linh. ..."
(Kể đầy đủ như trong SN 45.161–170.)
Tìm kiếm, phân biệt, lậu hoặc,
các trạng thái tồn tại, ba loại khổ đau,
sự cằn cỗi, vết nhơ, và phiền não,
cảm giác, mong muốn tồn tại, và khát ái.
Chương về Lũ Lụt
SN 47.95--104 Các Xiềng Xích Cao Hơn, v.v. Phẩm Ogha
"Này các Tỷ kheo, có năm xiềng xích cao (five higher fetters / pañca uddhambhāgiyāni saṃyojanāni / năm ràng buộc cuối cùng trói buộc chúng sinh vào các cõi sắc và vô sắc: tham ái cõi sắc, tham ái cõi vô sắc, ngã mạn, trạo cử, và vô minh) này. Năm pháp đó là gì? Ham muốn tái sinh trong cõi sắc giới, ham muốn tái sinh trong cõi vô sắc giới, ngã mạn, bồn chồn và hối hận, và vô minh. Đây là năm xiềng xích cao.
Bốn niệm xứ nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao này.
Bốn pháp đó là gì? Đó là khi một Tỷ kheo an trú quan sát thân trên thân—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời. Vị ấy an trú quan sát cảm giác trên các cảm giác... tâm trên tâm... pháp trên các pháp—nhiệt tâm, biết rõ, và chánh niệm, loại bỏ tham ái và phiền muộn trên đời.
Bốn niệm xứ này nên được phát triển để hiểu biết trực tiếp, hiểu biết hoàn toàn, chấm dứt, và từ bỏ năm xiềng xích cao này."
::: small (Các Bài Kinh Tương Ưng về Thiền Niệm Xứ nên được kể đầy đủ như trong Các Bài Kinh Tương Ưng về Con Đường. Mười bài kinh này tương ứng với SN 45.171–179, với bài kinh trên là bài cuối cùng.) :::
Cơn lũ (floods / ogha / bộc lưu), khổ ách, bám giữ (grasping / upādāna / chấp thủ / dựa vào, khăng khăng vào),
các mối ràng buộc, và các ngầm hướng về (underlying tendencies / anusaya / tùy miên / ngủ ngầm, chiều hướng cơ bản),
các loại kích thích giác quan, Phiền nhiễu,
các uẩn, và các xiềng xích (The fetters / saṃyojana / kiết sử / cái cùm, xiềng xích, là các ô nhiễm gốc rễ sâu trong tâm) cao và thấp.