3. Kinh Tương Ưng: nền tảng cho triết lý Phật giáo
Kinh Tương Ưng (Saṁyutta Nikāya / tập hợp các bài kinh được nhóm lại theo chủ đề) là bộ thứ ba trong bốn bộ chính của Kinh Tạng (Sutta Piṭaka / tập hợp các bài kinh) thuộc Tam Tạng Pāli (Pali Canon / bộ sưu tập kinh điển Phật giáo được bảo tồn bằng tiếng Pāli) (tipiṭaka / ba giỏ kinh điển: Kinh, Luật, Luận). Bộ này được dịch ở đây là Kinh Tương Ưng, và trước đây đã từng được dịch là Kinh Liên Kết hoặc Kinh Tương Quan. Đúng như tên gọi, các bài kinh của bộ này được nhóm theo chủ đề. Các nhóm văn bản theo chủ đề này được gọi là tương ưng (saṁyuttas / các nhóm kinh theo chủ đề), và Kinh Tương Ưng là tập hợp của các tương ưng này.
Kinh Tương Ưng bao gồm 56 tương ưng được tập hợp trong năm "tập" lớn (vagga / phẩm, chương hoặc phần lớn của một bộ kinh), chứa hơn một ngàn bài kinh. Văn bản Đại Kết Tập (Mahāsaṅgīti / cuộc kết tập kinh điển lớn) được sử dụng trên SuttaCentral chứa 2837 bài kinh; nhưng tổng số này có phần tùy ý, vì nó phụ thuộc vào cách các văn bản rút gọn được mở rộng, điều này khác nhau trong các bản dịch khác nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ áp dụng cho cách đếm các văn bản và không ảnh hưởng đến nội dung, vốn gần như giống hệt nhau trong mọi bản dịch.
Chính trong Kinh Tương Ưng mà chúng ta tìm thấy những giáo lý cốt lõi đã hình thành nền tảng cho tất cả triết lý Phật giáo sau này. Bộ này phần lớn được cấu trúc xung quanh các phần giáo lý chính tương ứng với khuôn mẫu của Tứ Diệu Đế (four noble truths / bốn sự thật cao quý).
Khổ: Ngũ uẩn (Aggregates / năm nhóm cấu thành nên một cá nhân) (SN 22); Lục nhập (six sense fields / sáu xứ hay sáu căn và sáu trần) (SN 35).
Khổ tập: Duyên khởi (Dependent origination / sự sinh khởi có điều kiện) (SN 12)
Khổ diệt: Duyên diệt (Dependent cessation / sự chấm dứt có điều kiện) (SN 12); Vô vi (unconditioned / không bị điều kiện hóa, không sinh diệt) (SN 43).
Khổ diệt đạo: Các chương của tập cuối, Đại Phẩm (Mahāvagga / chương lớn) (SN 45--54).
Bản thân Tứ Diệu Đế được trình bày trong chương cuối cùng, Tương Ưng Sự Thật (Sacca Saṁyutta / nhóm kinh về các sự thật) (SN 56).
Không phải tất cả các tương ưng đều dễ dàng phù hợp với sơ đồ này. Có nhiều tương ưng nhỏ, đôi khi được kết nối với một tương ưng lớn, và đôi khi thì không. Ngoài ra, tập đầu tiên, Phẩm Có Kệ (Sagāthāvagga / chương có các bài kệ), không được tổ chức theo chủ đề. Thay vào đó, sự liên kết theo chủ đề ở đây là loại người liên quan đến bài kinh. Các văn bản này cũng thống nhất về hình thức văn học; chúng được viết xen kẽ văn xuôi và thơ.
Bộ sưu tập này có một bản song song đầy đủ trong Tạp A-hàm (Saṁyuktāgama / tập hợp các bài kinh tạp) của trường phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda / trường phái Phật giáo cổ đại) trong bản dịch tiếng Trung. Ngoài ra, còn có hai bộ sưu tập một phần bằng tiếng Trung (SA-2 và SA-3) cũng như một số văn bản tạp hoặc rời rạc bằng tiếng Trung, tiếng Phạn và tiếng Tây Tạng. Phần lớn cấu trúc tổ chức của SN được chia sẻ với SA, cho thấy rằng cấu trúc này đã có trước sự phân chia giữa hai bộ sưu tập này.