QUYỂN 2
LỜI KỂ CỦA SOCRATES TIẾP TỤC: Sau khi tôi nói xong những lời đó, (357a) tôi cứ ngỡ cuộc tranh luận đã kết thúc. Nhưng thực ra, tất cả mới chỉ là khúc dạo đầu. Bạn thấy đấy, Glaucon – người vốn luôn cực kỳ can đảm trong mọi chuyện – lần này cũng không chấp nhận việc Thrasymachus đầu hàng dễ dàng như vậy. Anh ấy lên tiếng:
“Socrates này, ông muốn chúng tôi cảm thấy bị thuyết phục, hay ông thực sự muốn chúng tôi tin rằng: sống theo điều đúng (justice) thì tốt hơn mọi mặt so với sống sai (unjust)?”
(b) SOCRATES: “Tôi thực sự muốn thuyết phục các bạn, nếu tôi có thể.”
GLAUCON: “Vậy thì ông chưa làm được điều mình muốn đâu. Nghe này, ông có nghĩ rằng có một loại ‘tốt’ mà chúng ta đón nhận chỉ vì bản thân nó, chứ không phải vì kết quả nó mang lại không? Ví dụ như niềm vui, hoặc những sở thích vô hại chẳng để lại hậu quả gì ngoài việc khiến ta thấy hài lòng khi có chúng?”
SOCRATES: “Có chứ, tôi nghĩ có loại đó.”
GLAUCON: “Vậy có loại ‘tốt’ nào mà chúng ta vừa yêu vì bản thân nó, vừa vì (c) kết quả nó mang lại không? Ví dụ như sự hiểu biết, khả năng quan sát, hay việc có sức khỏe tốt? Tôi đoán là chúng ta trân trọng những điều đó vì cả hai lý do.”
SOCRATES: “Đúng vậy.”
GLAUCON: “Và ông có nhận ra loại ‘tốt’ thứ ba không? Như là tập thể dục, chữa bệnh khi ốm, ngành y, hay các cách kiếm tiền nói chung? Chúng ta gọi chúng là những việc nặng nhọc nhưng có lợi. Ta không chọn chúng vì bản thân chúng, mà vì (d) phần thưởng và những kết quả mà chúng mang lại.”
SOCRATES: “Phải, chắc chắn là có loại thứ ba đó. Nhưng thì sao nào?”
GLAUCON: “Ông xếp điều đúng vào loại nào?”
(358a) SOCRATES: “Tôi xếp nó vào loại cao quý nhất – loại mà bất kỳ ai muốn có được hạnh phúc viên mãn đều phải yêu mến, vì chính bản thân nó và vì cả kết quả nó mang lại.”
GLAUCON: “Đám đông không nghĩ thế đâu. Ngược lại, họ nghĩ nó thuộc loại nặng nhọc: thứ mà người ta buộc phải thực hành chỉ vì phần thưởng và danh tiếng đi kèm, nhưng bản thân nó thì đáng bị né tránh vì quá mệt mỏi.”
SOCRATES: “Tôi biết đó là cái nhìn chung. Thrasymachus nãy giờ cũng đã chỉ trích điều đúng và ca ngợi việc sống sai (injustice) dựa trên lý lẽ đó. Nhưng có vẻ tôi là một người học chậm.”
GLAUCON: “Vậy thì hãy nghe cả tôi nữa, để xem (b) ông có còn giữ quan điểm đó không. Tôi thấy Thrasymachus đã bỏ cuộc quá sớm, giống như một con rắn bị ông thôi miên vậy. Nhưng với tôi, cả hai bên vẫn chưa chứng minh được gì rõ ràng cả. Tôi muốn nghe xem bản chất của điều đúng và việc sống sai là gì, và sức mạnh thực sự của mỗi thứ khi nó tồn tại độc lập trong linh hồn (soul) ra sao. Tôi muốn gạt bỏ hết những phần thưởng hay kết quả sang một bên.
Vậy nên, nếu ông đồng ý, tôi sẽ khôi phục lại lý lẽ của Thrasymachus. Đầu tiên, (c) tôi sẽ trình bày quan niệm của mọi người về bản chất và nguồn gốc của điều đúng. Thứ hai, tôi sẽ lập luận rằng tất cả những ai thực hành nó đều làm một cách miễn cưỡng, coi đó là việc bắt buộc chứ không phải việc tốt. Thứ ba, tôi sẽ chứng minh họ có lý khi làm thế. Bởi vì theo họ, cuộc đời của một người sống sai (unjust person) tốt hơn nhiều so với người sống đúng (just man).
Này Socrates, không phải tôi tin vào những điều đó đâu. Thực sự tôi đang rất hoang mang và điếc cả tai khi nghe Thrasymachus cùng vô số người khác nói thế. Nhưng tôi vẫn chưa nghe được ai bảo vệ điều đúng theo cách tôi mong muốn – tức là chứng minh nó tốt hơn việc sống sai một cách tự thân. (d) tôi muốn nghe nó được ca ngợi vì chính nó, và tôi nghĩ mình có khả năng nghe được điều này từ ông nhất. Đó là lý do tôi sẽ nói dông dài để ca ngợi cuộc đời của kẻ sống sai: qua đó, tôi muốn chỉ cho ông thấy cách mà tôi muốn ông ca ngợi điều đúng và lên án việc sống sai.
Giờ ông thấy có muốn tôi làm như vậy không?”
SOCRATES: “Tôi muốn nhất đấy chứ. Có chủ đề nào mà một người có đầu óc lại thích bàn luận và nghe đi nghe lại nhiều hơn chủ đề này đâu?”
GLAUCON: “Tuyệt lắm. Vậy hãy nghe điều tôi định (e) nói đầu tiên – bản chất và nguồn gốc của điều đúng. Mọi người thường bảo rằng: làm điều sai với người khác thì tự nhiên là tốt, còn bị người khác làm điều sai với mình thì là xấu. Nhưng cái nỗi khổ khi bị hại thì lớn hơn nhiều cái sự sướng khi đi hại người. Vì thế, sau khi con người đã nếm trải cả việc đi hại và bị hại, những kẻ thiếu sức mạnh để vừa làm điều sai vừa tránh bị trả thù đã đi đến một quyết định: (359a) tốt nhất là thỏa hiệp với nhau để không ai làm hại ai cả. Kết quả là họ bắt đầu lập ra luật lệ và các giao ước; những gì luật pháp yêu cầu, họ gọi là hợp pháp và là điều đúng. Đó chính là nguồn gốc và bản chất của điều đúng. Nó nằm ở giữa cái tốt nhất và cái tệ nhất. Cái tốt nhất là làm điều sai mà không bị phạt; cái tệ nhất là bị hại mà không thể trả thù. điều đúng nằm ở giữa hai cực này. Người ta yêu chuộng nó không phải vì nó là điều tốt, mà vì họ (b) quá yếu để có thể làm điều sai mà không bị trừng phạt. Chứ một người có sức mạnh thực sự – một người đàn ông đích thực – sẽ chẳng bao giờ thỏa hiệp với ai để không làm điều sai hay không bị hại. Làm thế với anh ta là điên rồ. Socrates à, đó chính là bản chất của điều đúng theo lập luận này, và đó là nguồn gốc tự nhiên của nó.
Chúng ta có thể thấy rõ nhất rằng những người thực hành điều đúng là vì miễn cưỡng, do họ thiếu sức mạnh để làm điều sai, nếu chúng ta thử làm một (c) thí nghiệm tưởng tượng sau đây. Giả sử chúng ta cho cả người sống đúng và người sống sai quyền tự do làm bất cứ điều gì họ thích. Rồi ta đi theo họ để xem ham muốn (appetites) dẫn họ tới đâu. Chúng ta sẽ bắt quả tang người sống đúng cũng đi chung một con đường với kẻ sống sai. Lý do là vì lòng tham muốn được lợi hơn (do better) so với người khác. Đây là điều mà mọi sinh vật tự nhiên đều theo đuổi như một mục tiêu tốt đẹp. Nhưng do luật pháp và sự ép buộc, con người bị bắt phải đi chệch khỏi con đường đó để tôn trọng sự công bằng.
Họ sẽ có được quyền tự do mà tôi đang nói đến nếu họ sở hữu sức mạnh giống như tổ tiên của Gyges xứ Lydia. (d) Chuyện kể rằng ông ta là một người chăn cừu phục vụ cho vua xứ Lydia. Sau một trận bão lớn và động đất, đất nứt ra tạo thành một vực thẳm ngay nơi ông chăn cừu. Thấy lạ, ông xuống đó xem. Ngoài những thứ kỳ quái khác, ông thấy một con ngựa bằng đồng rỗng. Qua những lỗ nhỏ như cửa sổ trên con ngựa, ông nhìn thấy một xác chết có kích thước lớn hơn người thường, (e) trên ngón tay chỉ đeo một chiếc nhẫn vàng. Ông lấy chiếc nhẫn rồi leo ra ngoài. Trong buổi họp hàng tháng của những người chăn cừu để báo cáo tình hình đàn gia súc cho nhà vua, ông cũng tham gia và đeo chiếc nhẫn đó. Khi đang ngồi cùng mọi người, ông tình cờ xoay mặt nhẫn vào phía lòng bàn tay. Ngay lập tức, ông trở nên vô hình (360a) đối với những người xung quanh, và họ bắt đầu nói chuyện về ông như thể ông đã đi vắng. Ông rất kinh ngạc, chạm vào chiếc nhẫn và xoay mặt nhẫn ra ngoài, thế là ông lại hiện hình. Ông thử nghiệm vài lần nữa để xem chiếc nhẫn có thực sự có sức mạnh đó không – và đúng là vậy. Xoay vào trong thì vô hình, xoay ra ngoài thì hiện hình. Ngay khi nhận ra điều này, ông tìm cách để được chọn làm người đưa tin cho nhà vua. (b) Đến nơi, ông quyến rũ hoàng hậu, cùng bà ta sát hại nhà vua và chiếm lấy vương quốc.
Bây giờ, hãy giả sử có hai chiếc nhẫn như vậy, một chiếc cho người sống đúng, một chiếc cho kẻ sống sai. Theo lẽ thường, chẳng ai có thể giữ mình liêm khiết đến mức kiên trì đi theo con đường của điều đúng, hoặc đủ bản lĩnh để không chạm vào đồ đạc của người khác khi mình có thể tự ý lấy bất cứ thứ gì ngoài chợ mà không bị phạt, lẻn vào nhà bất kỳ ai để ngủ với người mình thích, giết chóc hay giải phóng bất cứ ai khỏi tù tội theo ý muốn, và làm mọi thứ (c) giống như một vị thần giữa loài người. Khi đó, hành vi của anh ta chẳng khác gì kẻ sống sai, cả hai sẽ cùng đi trên một con đường.
Một số người sẽ nói đây là bằng chứng đanh thép cho thấy chẳng ai tự nguyện sống đúng cả, chỉ vì bị ép buộc mà thôi. Không ai tin điều đúng là tốt khi nó mang tính riêng tư, vì bất cứ khi nào ai đó nghĩ mình có thể làm điều sai mà không bị phạt, anh ta sẽ làm ngay. Thực tế, mọi người đều tin rằng việc sống sai mang lại nhiều lợi ích cho bản thân hơn là sống đúng. (d) Và theo người ủng hộ lập luận này, niềm tin đó là đúng. Bởi vì nếu ai có cơ hội như thế mà không chịu làm điều sai, không chạm vào tài sản của người khác, thì những người biết chuyện sẽ coi kẻ đó là đáng thương và ngu ngốc nhất trên đời. Dù tất nhiên, trước mặt công chúng, họ vẫn sẽ ca ngợi anh ta để lừa dối nhau vì sợ mình sẽ bị hại. Đó là nội dung thứ hai của tôi.
(e) Còn về việc đánh giá cuộc đời của hai kiểu người này, nếu chúng ta so sánh hai thái cực của điều đúng và việc sống sai, chúng ta sẽ có quyết định chính xác; còn nếu không, chúng ta sẽ không làm được. Vậy sự so sánh mà tôi muốn nói là gì? Thế này: chúng ta sẽ không giảm bớt chút nào sự sai trái của kẻ sống sai, và không giảm bớt chút nào sự đúng đắn của người sống đúng. Ngược lại, chúng ta coi mỗi người đều đạt đến mức hoàn hảo trong lựa chọn của mình. Đầu tiên, hãy để kẻ sống sai hành động như một thợ thủ công khéo léo (craftsman). Ví dụ, một thuyền trưởng hay bác sĩ giỏi luôn biết rõ điều gì kỹ năng (craft) của mình có thể và (361a) không thể làm được. Anh ta nỗ lực làm cái có thể và bỏ qua cái không thể. Và nếu lỡ có sai sót, anh ta có thể sửa chữa được. Tương tự, nếu muốn hoàn toàn sai, kẻ sống sai phải thực hiện các hành vi sai trái một cách chuẩn xác mà không bị phát hiện. Kẻ nào bị bắt thì coi như kém cỏi. Bởi vì đỉnh cao của việc sống sai là dù mình làm sai nhưng vẫn được tin là sống đúng. Vì thế, chúng ta phải cho kẻ sống sai hoàn hảo này sự sai trái trọn vẹn – không được bớt đi chút nào. Chúng ta phải chấp nhận rằng, trong khi phạm những tội ác lớn nhất, anh ta vẫn tạo được danh tiếng lừng lẫy về điều đúng. (b) Nếu anh ta có lỡ sẩy chân, anh ta phải có khả năng dàn xếp ổn thỏa, hoặc bằng tài thuyết phục nếu hành vi bị bại lộ, hoặc bằng vũ lực nếu cần, vì anh ta can đảm, mạnh mẽ, lại có nhiều tiền bạc và bạn bè.
Sau khi đã giả định về một người như vậy, giờ hãy đặt người sống đúng cạnh anh ta – một người đơn giản và cao quý, người mà như Aeschylus nói, không muốn có vẻ tốt mà muốn thực sự tốt. Chúng ta phải tước bỏ danh tiếng của anh ta. Vì nếu anh ta có danh tiếng là người sống đúng, anh ta sẽ nhận được (c) danh dự và phần thưởng, khi đó ta sẽ chẳng rõ anh ta sống đúng vì bản thân điều đúng, hay vì những danh dự và phần thưởng đó. Chúng ta phải lột sạch mọi thứ của anh ta trừ điều đúng, và khiến tình cảnh của anh ta đối lập hoàn toàn với kẻ sống sai. Dù anh ta chẳng làm gì sai, anh ta vẫn phải mang cái danh là kẻ tồi tệ nhất, để điều đúng trong anh ta được thử thách xem liệu nó có chịu đựng được tiếng xấu và những hậu quả của nó hay không.
Hãy để anh ta sống như thế, không thay đổi cho đến chết – cả đời sống đúng nhưng bị coi là kẻ sống sai. Bằng cách này, cả hai đều đạt đến thái cực, một bên là điều đúng và một bên là sự sai trái, và chúng ta sẽ có thể phán xét xem ai (d) hạnh phúc hơn.”
SOCRATES: “Ối chà! Glaucon thân mến, anh đã gột rửa hai nhân vật trong cuộc thi của chúng ta một cách mạnh mẽ quá, cứ như thể đang lau chùi hai bức tượng để đem đi dự thi nghệ thuật vậy.”
GLAUCON: “Tôi đang cố gắng hết sức đây. Dù sao đi nữa, vì hai người đã được mô tả như vậy, việc hình dung cuộc đời chờ đợi mỗi người cũng không khó, nhưng vẫn phải nói ra. Và Socrates này, nếu những gì tôi nói (e) nghe có vẻ thô bạo, hãy nhớ rằng đó không phải lời của tôi, mà là lời của những kẻ ca tụng sự sai trái và hạ thấp điều đúng. Họ sẽ nói rằng trong hoàn cảnh đó, người sống đúng sẽ bị quất roi, bị tra tấn trên giá, bị xích lại, bị nung đỏ sắt đâm mù mắt, và cuối cùng, sau khi đã chịu đủ mọi (362a) cực hình, anh ta sẽ bị đóng đinh và lúc đó mới nhận ra rằng: người ta không nên muốn sống đúng, mà chỉ nên muốn có vẻ sống đúng thôi. Thực ra, lời của Aeschylus ứng vào kẻ sống sai thì đúng hơn nhiều. Vì người ta sẽ bảo rằng chính kẻ sống sai mới là người thực sự không muốn có vẻ sai trái mà muốn thực sự sai một cách hiệu quả, vì anh ta hành động dựa trên thực tế cuộc đời chứ không để danh tiếng chi phối. Anh ta là người ‘thu hoạch những rãnh sâu trong tâm trí, nơi nảy mầm những kế sách khôn ngoan.’ (b) Đầu tiên, anh ta cai trị thành phố nhờ danh tiếng là người sống đúng. Tiếp theo, anh ta muốn cưới ai cũng được, gả con cho bất kỳ ai anh ta muốn, ký kết hợp đồng và làm ăn với bất cứ ai, và ngoài tất cả những lợi ích đó, anh ta còn giàu to vì không hề ngại ngần làm điều sai. Trong mọi cuộc tranh tài, dù là công hay tư, anh ta luôn là người chiến thắng và được lợi hơn kẻ thù. Nhờ thế, anh ta trở nên giàu có, (c) giúp đỡ bạn bè và trừng trị kẻ thù. Anh ta cúng tế các vị thần đầy đủ và dâng lên những lễ vật lộng lẫy, chăm sóc các vị thần – và cả những người anh ta ưu ái – tốt hơn nhiều so với người sống đúng. Vì vậy, anh ta có lý khi hy vọng rằng các vị thần, đổi lại, sẽ yêu quý anh ta hơn là người sống đúng. Đó là lý do họ nói rằng, Socrates ạ, các vị thần và con người đã sắp đặt một cuộc đời tốt đẹp cho kẻ sống sai hơn là cho người sống đúng.”
(d) LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Khi Glaucon nói xong, tôi định đáp lời, nhưng anh trai của anh ấy là Adeimantus đã xen vào: “Ông thực sự nghĩ rằng lập luận như vậy là đủ rồi sao?”
SOCRATES: “Sao lại không chứ?”
ADEIMANTUS: “Điểm quan trọng nhất vẫn chưa được nhắc đến.”
SOCRATES: “Vậy thì, như người ta thường nói, anh em phải giúp đỡ nhau thôi. Nếu Glaucon có bỏ sót điều gì, anh hãy giúp cậu ấy. Dù thực ra, với tôi, những gì cậu ấy vừa nói đã đủ để quật ngã tôi xuống sàn và khiến tôi không còn khả năng giúp gì cho điều đúng nữa rồi.”
(e) ADEIMANTUS: “Vớ vẩn. Hãy nghe thêm những gì tôi sắp nói đây. Để làm rõ ý của Glaucon, chúng ta cũng nên xem xét kỹ những lập luận đối lập với cậu ấy – tức là những lập luận ca ngợi điều đúng và chê bai việc sống sai.
Như ông đã biết, khi các ông bố khuyên bảo con cái, họ thường nói rằng con phải sống đúng, và những người có trách nhiệm dạy dỗ người khác cũng nói vậy. (363a) Nhưng họ không ca ngợi bản thân điều đúng, mà chỉ ca ngợi cái danh tiếng tốt mà nó mang lại: họ nhử rằng nếu chúng ta có tiếng là sống đúng, thì kết quả là chúng ta sẽ có được các chức vụ chính trị, những cuộc hôn nhân tốt đẹp, và tất cả những thứ mà Glaucon vừa liệt kê.
Nhưng những người này còn nói nhiều hơn thế về hậu quả của danh tiếng. Họ còn lôi cả sự ưu ái của các vị thần vào, kể ra vô số điều tốt đẹp mà các thần dành cho những người thành kính. Ví dụ, những nhà thơ cao quý như Hesiod và Homer đã nói như thế. (b) Hesiod bảo rằng các vị thần khiến cây sồi của người sống đúng ‘đơm đầy quả trên ngọn, có ong ở giữa, và những bầy cừu nặng trĩu lông,’ cùng nhiều điều tốt lành khác. Homer cũng nói tương tự:
Khi một vị vua tốt, lòng đầy thành kính,Giữ vững điều đúng, thì đất đen sẽ trổ sinh (c) Lúa mì và lúa mạch, cây cối trĩu quả,Cừu sinh con đều đặn và biển đầy ắp cá.
Musaeus và con trai ông ta còn cho rằng các vị thần ban cho những người sống đúng những phần thưởng còn thú vị hơn thế. Trong lời kể của họ, các thần đưa người sống đúng xuống cõi âm (Hades), cho họ ngồi trên ghế bành, tổ chức một bữa tiệc linh đình cho những người thành kính, đeo vòng hoa lên đầu họ và để họ dành toàn bộ thời gian để uống rượu – như thể (d) họ nghĩ rằng sự say sưa vĩnh cửu là phần thưởng cao quý nhất cho phẩm chất tốt (virtue/arete). Những người khác còn vẽ ra những phần thưởng xa hơn mà phẩm chất tốt nhận được từ các vị thần: họ nói rằng ai thành kính và giữ lời hứa thì sẽ để lại con đàn cháu đống cho đời sau.
Bằng những cách đó và các cách tương tự, họ ca ngợi điều đúng. Nhưng với những kẻ bất kính và (a) sống sai, họ bảo chúng sẽ bị chôn trong bùn lầy ở cõi âm, hoặc bị bắt đi gánh nước bằng sàng. Họ bôi nhọ danh tiếng của chúng ngay khi chúng còn sống. Tất cả những hình phạt mà Glaucon dành cho người sống đúng nhưng bị mang tiếng sai, (e) họ đều đổ hết lên đầu kẻ sống sai. Họ chẳng còn gì khác để nói cả.
Đó là cách người ta khen hay chê mỗi bên. Nhưng thêm vào đó, Socrates à, còn một kiểu lập luận khác về điều đúng và việc sống sai mà ông cần xem xét – kiểu lập luận của cả những người bình thường lẫn các nhà thơ. (364a) Tất cả họ đều đồng thanh hát bài ca rằng: điều đúng và sự chừng mực là những thứ tốt đẹp nhưng khó khăn và nặng nề, còn sự buông thả và sống sai thì ngọt ngào, dễ đạt được, và chỉ đáng xấu hổ theo dư luận và quy ước mà thôi.
Họ cũng nói rằng những hành vi sai trái, về phần lớn, mang lại nhiều lợi ích hơn là sống đúng; họ hoàn toàn sẵn lòng ban tặng danh dự công và tư cho những kẻ xấu – miễn là chúng giàu có và có quyền lực – và tuyên bố rằng chúng hạnh phúc. Trong khi đó, họ lại coi thường và lờ đi những ai yếu thế hoặc nghèo khổ, dù họ thừa nhận rằng (b) những người đó tốt hơn những kẻ kia.
Nhưng kinh ngạc nhất là những gì họ nói về các vị thần và phẩm chất tốt: rằng ngay cả các vị thần cũng dành những điều không may và một cuộc đời tồi tệ cho nhiều người tốt, và ban số phận ngược lại cho những kẻ xấu. Những thầy cúng và thầy bói đi đến cửa nhà người giàu, thuyết phục họ rằng bằng các lễ tế và bùa chú, họ có được sức mạnh trời ban: nếu người giàu đó (c) hay tổ tiên họ từng làm điều gì sai, họ có thể sửa chữa bằng những nghi lễ dễ chịu. Và nếu ông ta muốn hại kẻ thù, ông ta có thể làm hại người sống đúng hay kẻ sống sai như nhau với chi phí thấp, vì bằng những câu thần chú, họ có thể ép các vị thần làm theo ý mình.
Các nhà thơ cũng được đưa ra làm chứng cho tất cả những điều này. Một số người nhấn mạnh sự dễ dàng của cái xấu, dựa trên lý lẽ rằng:
Cái ác thì dễ có vô cùng, (d) Con đường trơn tru và ngay cạnh bên,Nhưng các vị thần đã đặt mồ hôi giữa ta và phẩm chất tốtVà con đường ấy thì dài, gồ ghề và dốc đứng.
Những người khác trích dẫn Homer để làm chứng rằng con người có thể tác động đến các vị thần, vì ông ta cũng nói:
Ngay cả các vị thần cũng có thể bị xoay chuyển bằng lời cầu nguyện.Bằng lễ tế và lời hứa xoa dịu,Hương trầm và rượu tế, con người có thể làm các ngài (e) Thay đổi ý định khi ai đó đã phạm lỗi.
Họ còn đưa ra một đống sách của Musaeus và Orpheus – những người mà họ tuyên bố là con của Mặt Trăng và các nàng Thơ – để làm cơ sở cho các nghi lễ của mình. Họ thuyết phục không chỉ các cá nhân mà cả các thành phố rằng thực sự có những lễ xá tội và tẩy rửa cho các hành vi sai trái. Đối với người sống, đó là các lễ tế và trò chơi vui vẻ. Nhưng (365a) cũng có những nghi lễ đặc biệt cho người chết. Những buổi lễ gia nhập này, như cách họ gọi, sẽ giải thoát con người khỏi những tai họa về sau, trong khi những điều khủng khiếp đang chờ đợi kẻ nào không thực hiện chúng.
Socrates thân mến, với bấy nhiêu điều người ta nói về phẩm chất tốt và cái xấu, về cách con người và thần linh tôn trọng chúng, ông nghĩ nó sẽ có ảnh hưởng gì đến tâm hồn những người trẻ tuổi? Tôi đang nói về những người có năng khiếu thiên bẩm, có khả năng lướt từ ý kiến này sang ý kiến khác và gom nhặt cho mình ấn tượng về việc mình nên trở thành người thế nào, và làm sao để đi trên con đường đời tốt nhất. (b) Chắc chắn anh ta sẽ tự hỏi mình câu hỏi của Pindar: ‘Liệu tôi nên dùng điều đúng hay những mánh khóe quanh co để trèo lên bức tường cao hơn,’ và sống một cuộc đời được bao quanh bởi những hàng rào phòng thủ kiên cố? Và anh ta sẽ tự trả lời: ‘Theo những gì người ta nói, chẳng có lợi lộc gì khi tôi sống đúng nếu tôi không được tin là sống đúng, trong khi những rắc rối và hình phạt của việc sống đúng là rõ mười mươi; nhưng kẻ sống sai mà tạo được danh tiếng là sống đúng thì lại hưởng cuộc đời như một vị thần. Vì thế, nếu “dư luận đánh bại sự thật” và “quyết định hạnh phúc” như các bậc hiền triết nói, thì chắc chắn tôi phải hoàn toàn chạy theo nó. (c) Tôi nên vẽ một bức tranh giả tạo về phẩm chất tốt bao quanh mình để đánh lừa những ai đến gần, nhưng giấu đằng sau đó con cáo tham lam và xảo quyệt của Archilochus.’
‘Nhưng chắc chắn rồi,’ ai đó sẽ phản đối, ‘cái ác không dễ để giấu kín mãi mãi đâu.’ Chúng ta sẽ đáp lại rằng chẳng có việc gì lớn lao mà lại dễ dàng cả. Dù sao đi nữa, nếu muốn hạnh phúc, chúng ta phải đi theo nơi mà dấu vết của các lập luận dẫn dắt. (d) Để không bị phát hiện, chúng ta sẽ lập ra các hội kín và câu lạc bộ chính trị. Và có những bậc thầy thuyết phục sẽ dạy ta cách đối phó khéo léo trong các đại hội và tòa án. Vì vậy, một phần bằng thuyết phục, một phần bằng vũ lực, chúng ta sẽ tìm cách được lợi hơn người khác mà không phải chịu hình phạt.
‘Nhưng chắc chắn là chúng ta không thể trốn khỏi các vị thần hay dùng vũ lực áp đảo các ngài!’ Chà, nếu các thần không tồn tại, hoặc các ngài không quan tâm đến chuyện của con người, thì tại sao chúng ta phải lo lắng về việc trốn tránh các ngài? (e) Ngược lại, nếu các ngài có tồn tại và có quan tâm đến chúng ta, chúng ta chẳng biết gì về các ngài ngoại trừ những gì được học từ luật pháp và từ các nhà thơ đã chép lại gia phả của họ. Mà chính những người này lại bảo chúng ta rằng các vị thần có thể bị thuyết phục và tác động bởi các lễ tế, những lời cầu nguyện dịu dàng và lễ vật.
Vì vậy, chúng ta nên tin họ cả hai chuyện, hoặc không tin chuyện nào. Nếu tin họ, chúng ta nên sống sai và dùng những hoa lợi từ việc sống sai đó mà dâng lễ tế. (366a) Bởi vì nếu chúng ta sống đúng, cái lợi duy nhất là không bị các thần trừng phạt, nhưng ta sẽ mất trắng những lợi nhuận của việc sống sai. Còn nếu chúng ta sống sai, ta có được những lợi nhuận đó, rồi sau đó ta cầu khẩn các thần, thuyết phục họ, và thoát tội mà không bị trừng phạt.
‘Nhưng ở cõi âm, chẳng lẽ chúng ta không phải trả giá cho những tội lỗi đã phạm ở đây sao, nếu không phải bản thân ta thì cũng là đời con cháu ta?’ ‘Bạn tôi ơi,’ chàng trai trẻ sẽ nói theo cách tính toán lý trí của mình, ‘những nghi lễ huyền bí và các vị thần xá tội có sức mạnh ghê gớm lắm. Những thành phố lớn nhất đã nói với chúng ta điều này, (b) và cả những người con của các vị thần – những người đã trở thành nhà thơ và nhà tiên tri – cũng khẳng định như vậy.’
Vậy thì dựa trên lý lẽ nào mà chúng ta lại chọn điều đúng thay vì sự sai trái tột cùng? Vì nếu chúng ta sở hữu sự sai trái đó đằng sau một vẻ ngoài giả tạo, chúng ta sẽ được toại nguyện trước mặt thần linh và con người, cả khi sống lẫn khi chết, như đám đông và những người lỗi lạc vẫn khẳng định. Vậy nên, Socrates à, với tất cả những gì đã nói, có phương kế nào khiến (c) một người có chút quyền lực – dù là trí tuệ, tiền bạc, sức khỏe hay gia thế – lại sẵn lòng tôn trọng điều đúng, mà không cười phá lên khi nghe nó được ca ngợi?
Thực sự, nếu ai đó có thể chứng minh những gì chúng tôi vừa nói là sai, và có kiến thức đầy đủ rằng điều đúng là tốt nhất, thì cảm xúc của người đó đối với những kẻ sống sai sẽ không phải là giận dữ, mà là sự bao dung lớn lao. Suy cho cùng, anh ta biết rằng ngoại trừ những người có tính cách thần thánh, cảm thấy ghê tởm việc làm sai, hoặc những người đã đạt tới kiến thức và nhờ đó mà tránh xa việc sống sai, thì (d) chẳng ai tự nguyện sống đúng cả. Vì hèn nhát, vì tuổi già hay vì sự yếu ớt nào đó mà người ta phản đối việc sống sai. Nhưng rõ ràng là họ làm vậy chỉ vì họ thiếu sức mạnh để làm điều sai mà thôi. Bởi vì kẻ đầu tiên có được sức mạnh đó sẽ là kẻ đầu tiên làm điều sai nhiều nhất có thể.
Và tất cả những điều này chẳng có nguyên nhân nào khác ngoài cái lý do đã dẫn đến toàn bộ lập luận của Glaucon và tôi với ông, Socrates ạ. ‘Socrates, con người kỳ lạ,’ chúng tôi đã nói, ‘trong số tất cả các ông, những người tự nhận là ca ngợi điều đúng, từ những anh hùng thời xưa mà lời kể còn lưu lại cho đến những người thời nay, (e) chưa một ai từng chê trách việc sống sai hay ca ngợi điều đúng mà không nhắc đến danh tiếng, danh dự và phần thưởng đi kèm. Chưa ai mô tả đầy đủ việc mỗi thứ tự thân nó làm được gì, thông qua sức mạnh riêng của nó, khi nó hiện diện trong linh hồn của người sở hữu, ngay cả khi nó được giấu kín khỏi thần linh và con người. Chưa ai, dù trong thơ ca hay trong các cuộc thảo luận riêng tư, chứng minh được rằng việc sống sai là cái xấu lớn nhất mà một linh hồn có thể chứa đựng, và điều đúng là cái tốt lớn nhất. Nếu tất cả các ông đều nói theo cách này và cố gắng thuyết phục chúng tôi (367a) từ khi còn trẻ, chúng ta đã không phải canh chừng sự sai trái của nhau, mà mỗi người sẽ là người bảo vệ tốt nhất cho chính mình, vì sợ rằng bằng cách làm điều sai, mình sẽ phải sống chung thân với thứ tồi tệ nhất.’
Đó là những gì Thrasymachus (hoặc có thể là ai đó khác) có thể nói khi thảo luận về điều đúng và việc sống sai – theo tôi, họ đã đảo lộn sức mạnh của chúng một cách thô thiển. Nhưng tôi – vì tôi chẳng có lý do gì để giấu ông – (b) muốn nghe điều ngược lại từ ông, và đó là lý do tôi đang nói với tất cả sức lực mình có. Vì vậy, đừng chỉ chứng minh cho chúng tôi bằng lập luận rằng điều đúng mạnh hơn việc sống sai, mà hãy cho chúng tôi biết mỗi thứ tự bản thân nó làm gì cho người sở hữu, khiến cái này là xấu và cái kia là tốt. Hãy nghe lời khuyên của Glaucon và đừng tính đến danh tiếng. Bởi vì nếu ông không tước bỏ danh tiếng thực của điều đúng và việc sống sai, rồi gán cho chúng những danh tiếng giả, chúng tôi sẽ bảo rằng ông không ca ngợi điều đúng, mà là ca ngợi cái danh của nó; ông cũng không lên án việc sống sai, mà là lên án cái danh của nó; và rằng ông đang khuyến khích chúng tôi sống sai nhưng hãy giữ bí mật. Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ nói rằng ông đồng ý với Thrasymachus rằng điều đúng là cái tốt của người khác, là lợi ích của kẻ mạnh hơn, còn việc sống sai là lợi ích và lợi nhuận của chính mình, dù không phải là lợi ích của kẻ yếu hơn.
Ông đồng ý rằng điều đúng là một trong những cái tốt lớn nhất, những thứ đáng có vì kết quả của chúng, nhưng còn đáng có hơn vì chính bản thân chúng – như việc nhìn, nghe, hiểu biết, có sức khỏe, (d) và tất cả những cái tốt thực sự khác theo bản chất chứ không chỉ theo dư luận. Đây chính là điều tôi muốn ông ca ngợi về điều đúng. Làm thế nào mà nó – vì chính bản thân nó – mang lại lợi ích cho người sở hữu, và việc sống sai gây hại cho anh ta như thế nào? Hãy để những phần thưởng và danh tiếng cho người khác ca ngợi.
Tôi có thể chịu đựng được việc người khác ca ngợi điều đúng và chê bai việc sống sai theo cách đó – tức là tán dương danh tiếng và phần thưởng của cái này và hạ thấp cái kia. Nhưng tôi sẽ không chấp nhận điều đó từ ông (trừ khi ông nhất quyết làm thế). Bởi vì ông đã dành cả đời để nghiên cứu điều này và không gì (e) khác. Vì thế, đừng chỉ chứng minh cho chúng tôi bằng lập luận rằng điều đúng mạnh hơn việc sống sai, mà hãy chỉ ra mỗi thứ tự bản thân nó có tác động gì lên người sở hữu – cái này tốt, cái kia xấu – dù nó có được giấu kín khỏi thần linh và con người hay không.”
LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Tôi vốn luôn ngưỡng mộ tính cách tự nhiên của Glaucon và Adeimantus, nhưng lần này tôi đặc biệt hài lòng khi nghe những gì họ nói, và tôi đáp lại:
“Hỡi những người con của người đàn ông ấy, người tình của Glaucon đã không sai khi viết những dòng thơ ca ngợi sau khi các bạn lập chiến công trong trận Megara rằng: ‘Những người con của Ariston, dòng giống thần thánh của một người cha danh tiếng.’ (368a) Theo tôi, điều đó nói rất đúng. Bởi vì chắc chắn phải có điều gì đó mang tính thần thánh tác động đến các bạn, nếu các bạn không bị thuyết phục rằng việc sống sai tốt hơn điều đúng, mà vẫn có thể nói hùng hồn thay cho nó như vậy. Và tôi tin rằng các bạn thực sự không bị thuyết phục bởi chính lời lẽ của mình. Tôi suy ra điều này từ tính cách chung của các bạn, vì nếu tôi chỉ dựa vào những lập luận của các bạn, tôi sẽ không tin đâu. Nhưng càng tin các bạn, tôi (b) lại càng bế tắc không biết phải làm gì. Tôi không thấy cách nào mình có thể giúp được. Thực sự, tôi thấy mình bất lực.
Bằng chứng là đây: Tôi cứ ngỡ những gì mình nói với Thrasymachus đã chứng minh được điều đúng tốt hơn việc sống sai, nhưng các bạn không chấp nhận đó là một bằng chứng. Mặt khác, tôi không thấy cách nào mình có thể từ chối giúp đỡ. Vì tôi sợ rằng sẽ là tội lỗi nếu một người còn hơi thở và khả năng lên tiếng mà lại đứng nhìn bất lực, không bảo vệ điều đúng khi nó bị tấn công. (c) Vậy nên, cách tốt nhất là tôi sẽ dốc sức giúp đỡ điều đúng trong khả năng của mình.”
LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Glaucon và những người khác nài nỉ tôi đừng bỏ cuộc mà hãy giúp họ truy tìm bản chất của điều đúng và việc sống sai, cũng như sự thật về lợi ích của mỗi thứ. Vì vậy, tôi nói với họ những gì tôi đang nghĩ:
“Theo tôi, cuộc điều tra mà chúng ta đang thực hiện không hề dễ dàng, nó đòi hỏi một thị lực cực kỳ sắc bén. Vì vậy, do chúng ta không phải là những người quá thông minh, tôi nghĩ (d) chúng ta nên áp dụng phương pháp này: giống như một người có thị lực kém được bảo đọc những chữ nhỏ từ xa, rồi tình cờ nhận thấy những chữ đó cũng tồn tại ở một nơi khác với kích thước lớn hơn và trên một bề mặt rộng hơn. Chắc chắn họ sẽ coi đó là một vận may khi được phép đọc những chữ lớn trước, sau đó mới kiểm tra lại những chữ nhỏ xem chúng có thực sự giống như vậy không.”
ADEIMANTUS: “Tất nhiên rồi. Nhưng ông thấy trường hợp đó giống với (e) cuộc điều tra về điều đúng của chúng ta ở chỗ nào?”
SOCRATES: “Tôi sẽ nói cho anh hay. Chúng ta nói rằng, có cái gọi là điều đúng thuộc về một cá nhân, và cũng có cái gọi là điều đúng thuộc về cả một thành phố (city), đúng không?”
ADEIMANTUS: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Và một thành phố thì lớn hơn một cá nhân chứ?”
ADEIMANTUS: “Đúng, nó lớn hơn.”
SOCRATES: “Vậy thì có lẽ, trong cái lớn hơn sẽ có nhiều điều đúng hơn, và sẽ dễ nhận ra hơn. Vì vậy, nếu các anh đồng ý, trước tiên chúng ta hãy tìm xem (369a) điều đúng trong các thành phố là gì, sau đó mới tìm kiếm nó ở cá nhân, để xem liệu cái thực thể lớn hơn có tương đồng về hình thái với cái nhỏ hơn hay không.”
ADEIMANTUS: “Tôi nghĩ đó là một ý kiến hay.”
SOCRATES: “Nếu trong cuộc thảo luận, chúng ta quan sát một thành phố đang hình thành, liệu chúng ta cũng sẽ thấy điều đúng và việc sống sai của nó hình thành theo không?”
ADEIMANTUS: “Có lẽ là có.”
SOCRATES: “Và một khi quá trình đó hoàn tất, chúng ta có thể hy vọng tìm thấy thứ mình đang tìm dễ dàng hơn không?”
(b) ADEIMANTUS: “Có chứ, dễ hơn nhiều.”
SOCRATES: “Vậy các anh có nghĩ chúng ta nên thực hiện việc đó không? Theo tôi, đây không phải là một nhiệm vụ nhỏ đâu. Hãy suy nghĩ kỹ đi.”
ADEIMANTUS: “Đã suy nghĩ kỹ rồi. Đừng làm gì khác ngoài việc thử xem.”
SOCRATES: “Vậy thì, tôi tin rằng một thành phố ra đời là vì không ai trong chúng ta có thể tự cung tự cấp, mà mỗi người đều có nhiều nhu cầu không thể tự mình đáp ứng. Hay anh nghĩ thành phố được thành lập dựa trên nguyên tắc nào khác?”
ADEIMANTUS: “Không, không có nguyên nhân nào khác cả.”
SOCRATES: “Vậy vì chúng ta có nhiều nhu cầu, và vì người này cần (c) người kia giúp việc này, cần người thứ ba giúp việc khác, chúng ta tập hợp nhiều người vào một nơi cư ngụ chung với tư cách là những đối tác và người trợ giúp. Và chúng ta gọi một nơi cư ngụ chung như thế là một thành phố. Có đúng vậy không?”
ADEIMANTUS: “Đúng, đúng vậy.”
SOCRATES: “Và nếu họ chia sẻ mọi thứ với nhau – nếu họ đưa thứ gì cho nhau hoặc nhận thứ gì từ nhau – chẳng phải họ làm thế vì mỗi người tin rằng điều đó tốt hơn cho chính mình sao?”
ADEIMANTUS: “Tất nhiên rồi.”
SOCRATES: “Vậy nào, chúng ta hãy dùng lời nói để tạo dựng một thành phố từ thuở ban đầu. Nhưng thực ra, kẻ tạo dựng thực sự của nó chính là nhu cầu của chúng ta.”
ADEIMANTUS: “Chắc chắn rồi.”
(d) SOCRATES: “Nhu cầu đầu tiên và lớn nhất của chúng ta là cung cấp thức ăn để duy trì sự tồn tại và sự sống.”
ADEIMANTUS: “Đúng, hoàn toàn đúng.”
SOCRATES: “Nhu cầu thứ hai là về chỗ ở, và thứ ba là về quần áo và những thứ tương tự.”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Nói tôi nghe xem, làm thế nào một thành phố cung cấp được tất cả những thứ này? Chẳng phải người này phải làm nông, người kia làm thợ xây, người nọ làm thợ dệt sao? Và chúng ta có nên thêm một thợ đóng giày, hoặc ai đó chăm lo cho các nhu cầu thân thể của ta không?”
ADEIMANTUS: “Tất nhiên là có.”
SOCRATES: “Vậy một thành phố với những nhu cầu tối thiểu nhất sẽ gồm bốn hoặc năm người?”
(e) ADEIMANTUS: “Có vẻ là như thế.”
SOCRATES: “Vậy thì, mỗi người trong số họ nên đóng góp công việc riêng của mình cho lợi ích chung của tất cả? Ý tôi là, một nông dân dù chỉ là một người, nhưng liệu anh ta có nên cung cấp thức ăn cho cả bốn người, và dành gấp bốn lần thời gian và công sức để sản xuất thực phẩm chia sẻ cho tất cả? Hay anh ta không cần quan tâm đến những người khác, mà chỉ dành một phần tư thời gian để sản xuất một phần tư thực phẩm cho riêng mình? Còn ba phần tư thời gian (370a) còn lại anh ta dùng để tự xây nhà, tự may áo, tự đóng giày? Liệu anh ta có nên tự mình làm hết mọi việc cho khỏe, thay vì mất công chia sẻ với người khác?”
ADEIMANTUS: “Cách thứ nhất có lẽ dễ dàng hơn, Socrates ạ.”
SOCRATES: “Lạy Zeus, điều đó chẳng có gì lạ. Vì khi anh đang nói, tôi chợt nghĩ rằng, trước hết, chúng ta sinh ra không ai giống ai cả. Ngược lại, mỗi người có một bản tính (nature) khác biệt đôi chút, người này hợp với việc này, người kia hợp với việc kia. Anh có nghĩ vậy không?”
(b) ADEIMANTUS: “Tôi nghĩ vậy.”
SOCRATES: “Vậy thì, một người sẽ làm việc tốt hơn nếu anh ta thực hành nhiều kỹ năng hay chỉ một?”
ADEIMANTUS: “Nếu anh ta chỉ thực hành một.”
SOCRATES: “Và tôi đoán là cũng rõ ràng rằng, nếu ai đó bỏ lỡ thời cơ thuận lợi trong bất kỳ công việc nào, công việc đó sẽ bị hỏng.”
ADEIMANTUS: “Rõ ràng rồi.”
SOCRATES: “Tôi cho rằng đó là vì việc cần làm sẽ không đợi cho đến khi người làm có thời gian rỗi. Không, thay vào đó, người làm nhất thiết phải (c) chú tâm sát sao vào việc cần làm và không được để mặc nó vào những lúc rảnh rỗi.”
ADEIMANTUS: “Đúng, anh ta phải làm thế.”
SOCRATES: “Kết quả là, hàng hóa sẽ được sản xuất nhiều hơn và chất lượng tốt hơn, nếu mỗi người làm một việc mà bản tính anh ta phù hợp nhất và làm đúng thời điểm, vì anh ta được giải phóng khỏi tất cả các công việc khác.”
ADEIMANTUS: “Hoàn toàn đúng.”
SOCRATES: “Vậy thì, Adeimantus à, chúng ta sẽ cần nhiều hơn bốn công dân để cung cấp những thứ chúng ta đã kể. Vì một nông dân sẽ không tự làm cày cho mình nếu muốn có một cái cày tốt, cũng như không tự làm cuốc, hay các công cụ làm nông khác. (d) Một thợ xây cũng vậy – và anh ta cũng cần rất nhiều công cụ. Thợ dệt và thợ đóng giày cũng thế, đúng không?”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy là thợ mộc, thợ rèn và nhiều thợ thủ công khác kiểu đó sẽ cùng chia sẻ thành phố nhỏ của chúng ta và làm nó lớn hơn.”
ADEIMANTUS: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Nhưng nó vẫn chưa phải là một nơi cư ngụ lớn lắm, ngay cả khi chúng ta thêm vào những người chăn bò, chăn cừu và những người chăn gia súc khác, để nông dân có bò đi cày, thợ xây có bò để (e) kéo vật liệu, còn thợ dệt và thợ đóng giày có da và lông thú để dùng.”
ADEIMANTUS: “Nếu chứa hết bấy nhiêu đó thì thành phố cũng không nhỏ đâu.”
SOCRATES: “Hơn nữa, gần như không thể thiết lập một thành phố ở một nơi mà nó không cần nhập khẩu thứ gì cả.”
ADEIMANTUS: “Đúng, điều đó là không thể.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta sẽ cần thêm những người khác để nhập khẩu những gì cần thiết từ thành phố khác.”
ADEIMANTUS: “Cần chứ.”
SOCRATES: “Và nếu người đại diện của chúng ta đi sang thành phố khác với bàn tay trắng, không mang theo thứ gì mà những người bên đó cần, thì anh ta cũng sẽ trở về tay trắng, đúng không?”
(371a) ADEIMANTUS: “Tôi cũng nghĩ thế.”
SOCRATES: “Vậy công dân của chúng ta không chỉ phải sản xuất đủ dùng cho mình ở nhà, mà còn phải sản xuất hàng hóa đúng chất lượng và số lượng để đáp ứng nhu cầu của người khác nữa.”
ADEIMANTUS: “Đúng, họ phải làm vậy.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta sẽ cần thêm nông dân và các thợ thủ công khác trong thành phố.”
ADEIMANTUS: “Đúng.”
SOCRATES: “Và cũng cần thêm những người khác, tôi đoán vậy, để lo việc nhập khẩu và xuất khẩu. Đó là các thương nhân, phải không?”
ADEIMANTUS: “Phải.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta cũng cần thương nhân nữa.”
ADEIMANTUS: “Tất nhiên rồi.”
SOCRATES: “Và nếu việc buôn bán được thực hiện bằng đường biển, (b) chúng ta sẽ cần thêm rất nhiều người giỏi chuyên môn về các công việc trên biển.”
ADEIMANTUS: “Rất nhiều, quả thực vậy.”
SOCRATES: “Lại nữa, trong chính thành phố, làm thế nào mọi người chia sẻ với nhau những thứ họ sản xuất ra? Suy cho cùng, lý do chúng ta kết hợp với nhau và lập ra thành phố là để chia sẻ mà.”
ADEIMANTUS: “Rõ ràng là họ phải làm việc đó thông qua mua và bán.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta sẽ cần một khu chợ và một loại tiền tệ để làm vật trao đổi.”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy nếu một nông dân hay bất kỳ thợ thủ công nào mang (c) sản phẩm của mình ra chợ, mà anh ta không đến cùng lúc với những người muốn trao đổi với anh ta, chẳng lẽ anh ta cứ ngồi không ở chợ, bỏ bê công việc của mình sao?”
ADEIMANTUS: “Không đâu. Ngược lại, sẽ có những người nhận thấy tình huống này và cung cấp dịch vụ cần thiết – trong những thành phố được tổ chức tốt, họ thường là những người có thân thể yếu nhất và không đủ sức làm bất kỳ công việc nào khác. Công việc của họ là đợi ở chợ (d) để đổi tiền lấy hàng của những người muốn bán, rồi lại đổi hàng lấy tiền của những người muốn mua.”
SOCRATES: “Nhu cầu này tạo ra những người bán lẻ trong thành phố của chúng ta. Những người đợi ở chợ và cung cấp dịch vụ mua bán này được gọi là người bán lẻ, đúng không? Còn những người đi lại giữa các thành phố thì là thương nhân?”
ADEIMANTUS: “Đúng, đúng vậy.”
SOCRATES: “Tôi nghĩ còn có những người phục vụ khác, những người mà trí óc của họ có lẽ không đủ điều kiện để gia nhập cộng đồng của chúng ta, nhưng (e) thân thể họ lại đủ khỏe để làm những việc nặng nhọc. Họ bán sức mạnh của mình để lấy một cái giá gọi là tiền công, và đó là lý do họ được gọi là người làm thuê. Đúng không?”
ADEIMANTUS: “Đúng.”
SOCRATES: “Vậy người làm thuê cũng góp phần hoàn thiện thành phố của chúng ta chứ?”
ADEIMANTUS: “Tôi nghĩ vậy.”
SOCRATES: “Vậy Adeimantus à, thành phố của chúng ta bây giờ đã phát triển đến mức hoàn chỉnh chưa?”
ADEIMANTUS: “Có lẽ là rồi.”
SOCRATES: “Vậy thì điều đúng và việc sống sai nằm ở đâu trong đó? Chúng xuất hiện cùng với ai trong số những người chúng ta vừa xem xét?”
(372a) ADEIMANTUS: “Tôi không biết, Socrates ạ, trừ phi nó nằm ở đâu đó trong nhu cầu mà những người này dành cho nhau.”
SOCRATES: “Có lẽ anh nói đúng đấy. Chúng ta phải xem xét kỹ và không được lùi bước. Trước hết, hãy xem những người được cung cấp đầy đủ theo cách này sẽ dẫn dắt cuộc sống ra sao. Họ sẽ làm thức ăn, rượu, quần áo và giày dép chứ? Và họ sẽ tự xây nhà. Vào mùa hè, (b) họ phần lớn sẽ làm việc trong tình trạng trần truồng và chân đất, nhưng vào mùa đông họ sẽ mặc quần áo và đi giày đầy đủ. Về dinh dưỡng, họ sẽ tự làm bột lúa mạch và bột mì, rồi nhào nặn và nướng thành những chiếc bánh và ổ bánh mì cao quý, bày trên những tấm liếp hoặc lá sạch. Họ sẽ nằm trên những chiếc giường rải lá thủy tùng và sim, yến tiệc cùng con cái, uống rượu, đeo vòng hoa và hát thánh ca ca ngợi các vị thần. Họ sẽ tận hưởng việc ân ái với nhau, nhưng sẽ không sinh (c) nhiều con hơn mức nguồn lực cho phép, để tránh rơi vào cảnh nghèo đói hoặc chiến tranh.”
LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Lúc này Glaucon ngắt lời: “Dường như ông đang cho mọi người ăn tiệc mà chẳng có đồ nhắm (relishes) gì cả.”
SOCRATES: “Đúng thật, tôi quên mất họ cũng sẽ có đồ nhắm – tất nhiên là muối, ô liu, phô mai, và họ sẽ luộc các loại củ và rau theo cách người ta vẫn làm ở nông thôn. Chúng ta cũng sẽ cho họ đồ tráng miệng nữa, tôi đoán vậy, gồm sung, đậu lăng và đậu hạt. Họ sẽ nướng hạt sim và hạt sồi bên bếp lửa và uống rượu chừng mực. Và nhờ đó (d) họ sẽ sống trong hòa bình và sức khỏe tốt, và khi qua đời ở tuổi già xế bóng, họ sẽ truyền lại một cuộc sống tương tự cho con cháu mình.”
GLAUCON: “Socrates này, nếu ông đang lập một thành phố cho lợn, chẳng phải ông cũng sẽ cung cấp đúng những thứ đó để vỗ béo chúng sao?”
SOCRATES: “Vậy anh muốn tôi phải làm gì đây, Glaucon?”
GLAUCON: “Thì cứ làm theo thói thường thôi. Nếu họ không muốn chịu khổ, tôi đoán họ nên được nằm trên những chiếc giường tử tế, ăn trên bàn, và có những đồ nhắm cũng như đồ tráng miệng mà người ta vẫn dùng ngày nay.”
(e) SOCRATES: “Được rồi, tôi hiểu. Có vẻ như chúng ta không chỉ xem xét nguồn gốc của một thành phố thông thường, mà còn của một thành phố xa hoa nữa. Và đó có lẽ không phải là một ý tồi. Vì bằng cách xem xét một thành phố như vậy, chúng ta có lẽ sẽ thấy điều đúng và việc sống sai nảy sinh như thế nào. Tuy nhiên, theo tôi, thành phố thực sự là thành phố chúng ta đã mô tả: một thành phố khỏe mạnh. Nhưng nếu các anh cũng muốn xem xét một thành phố đang ‘phát sốt’, thì cũng được thôi. Chẳng có gì ngăn cản chúng ta cả. Các anh thấy đấy, (373a) những thứ tôi kể trước đây và lối sống tôi mô tả sẽ không làm thỏa mãn một số người; họ sẽ muốn thêm giường, bàn và các đồ nội thất khác, và cả đồ nhắm, hương liệu, nước hoa, kỹ nữ, bánh ngọt – và đủ mọi chủng loại của mỗi thứ đó. Đặc biệt, chúng ta không thể chỉ cung cấp cho họ những thứ thiết yếu như nhà cửa, quần áo và giày dép nữa; không, thay vào đó chúng ta sẽ phải bắt đầu việc hội họa và thêu thùa, kiếm thêm vàng và ngà voi cùng đủ thứ loại đó. Đúng không?”
(b) GLAUCON: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy thì chúng ta sẽ phải mở rộng thành phố một lần nữa: thành phố khỏe mạnh không còn đủ chỗ nữa rồi. Ngược lại, bây giờ chúng ta phải tăng kích thước và dân số, lấp đầy nó bằng vô số thứ vượt quá những gì cần thiết cho một thành phố – ví dụ như thợ săn, và tất cả những kẻ chuyên bắt chước. Nhiều kẻ trong số đó làm việc với hình khối và màu sắc; nhiều kẻ với âm nhạc – các nhà thơ và trợ lý của họ, những người ngâm thơ (rhapsodes), diễn viên, vũ công, nhà sản xuất kịch. Và sẽ phải có thợ thủ công cho đủ loại thiết bị, bao gồm cả những thứ dùng để trang điểm cho phụ nữ. Đặc biệt, chúng ta (c) sẽ cần thêm nhiều người phục vụ – anh có nghĩ vậy không – như gia sư, vú em, bảo mẫu, thợ làm đẹp, thợ cắt tóc, thợ nấu đồ nhắm và thợ nấu thịt nữa? Hơn nữa, chúng ta cũng sẽ cần những người nuôi lợn. Loài vật này không tồn tại trong thành phố trước đây của chúng ta vì không có nhu cầu, nhưng trong thành phố này thì cần. Và chúng ta cũng sẽ cần số lượng lớn các loài động vật lấy thịt khác nữa, đúng không, nếu ai đó định ăn chúng?”
GLAUCON: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Và nếu chúng ta sống như thế, chẳng phải chúng ta sẽ có nhu cầu về (d) bác sĩ lớn hơn nhiều so với trước đây sao?”
GLAUCON: “Đúng, lớn hơn nhiều.”
SOCRATES: “Và vùng đất vốn dĩ đủ nuôi sống dân số trước đây, giờ sẽ trở nên nhỏ bé và thiếu hụt. Anh có đồng ý không?”
GLAUCON: “Tôi đồng ý.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta sẽ phải chiếm một phần đất của hàng xóm, đúng không, nếu muốn có đủ đồng cỏ và đất cày? Và hàng xóm cũng sẽ muốn chiếm một phần đất của chúng ta, nếu họ cũng đắm mình vào việc tích lũy tiền bạc vô hạn và vượt quá giới hạn của những nhu cầu thiết yếu?”
(e) GLAUCON: “Điều đó là không thể tránh khỏi, Socrates ạ.”
SOCRATES: “Và bước tiếp theo sẽ là chiến tranh, đúng không Glaucon?”
GLAUCON: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Bây giờ, chúng ta chưa bàn vội chuyện chiến tranh là tốt hay xấu, mà chỉ cần biết rằng chúng ta đã tìm ra nguồn gốc của chiến tranh: nó đến từ chính những yếu tố mà khi xuất hiện sẽ là nguồn cơn của những tai họa lớn nhất cho các thành phố và cá nhân trong đó.”
GLAUCON: “Chính xác là vậy.”
SOCRATES: “Thành phố phải được mở rộng hơn nữa, Glaucon thân mến, và không chỉ một chút đâu, mà mở rộng thêm bằng quy mô của cả một đội quân. Họ sẽ chiến đấu với (374a) những kẻ xâm lược để bảo vệ tài sản của thành phố và tất cả những thứ chúng ta vừa mô tả.”
GLAUCON: “Tại sao vậy? Chẳng lẽ chính những người dân ở đó không đủ sức làm việc đó sao?”
SOCRATES: “Không đâu, ít nhất là nếu thỏa hiệp mà anh và tất cả chúng ta đã thống nhất khi lập thành phố là đúng đắn. Tôi nhớ chúng ta đã đồng ý rằng một người không thể thực hành tốt nhiều kỹ năng cùng lúc.”
GLAUCON: “Đúng, chúng ta đã nói thế.”
(b) SOCRATES: “Vậy anh có nghĩ chiến trận cũng là một kỹ năng không?”
GLAUCON: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta nên quan tâm đến kỹ năng đóng giày hơn là kỹ năng chiến đấu sao?”
GLAUCON: “Không đời nào.”
SOCRATES: “Chà, chúng ta đã ngăn người đóng giày không được làm nông dân, thợ dệt hay thợ xây cùng lúc, mà chỉ được làm thợ đóng giày, để đảm bảo công việc đóng giày được làm tốt. Tương tự, chúng ta cũng giao đúng một công việc mà mỗi người có thiên hướng bẩm sinh cho họ, và bảo rằng họ phải làm việc đó suốt đời, (c) không được làm việc khác, để không bỏ lỡ thời cơ làm tốt việc đó. Nhưng chẳng phải việc chiến đấu được thực hiện tốt là điều quan trọng nhất sao? Hay là đánh trận dễ đến mức một nông dân, thợ đóng giày hay bất kỳ thợ thủ công nào cũng có thể làm lính cùng lúc, trong khi chẳng ai có thể trở thành một người chơi cờ đam hay chơi xúc xắc giỏi nếu chỉ coi đó là nghề phụ và không luyện tập từ nhỏ? Chẳng lẽ ai đó chỉ cần cầm một cái khiên, hay bất kỳ vũ khí hay (d) khí cụ chiến tranh nào là ngay lập tức trở thành một chiến binh thiện nghệ trong trận chiến bộ binh hay bất cứ trận chiến nào khác sao? Trong khi không có công cụ nào khác khiến người cầm nó trở thành thợ thủ công hay vận động viên, hay thậm chí chẳng có ích gì cho họ trừ phi họ đã có kiến thức về nó và được luyện tập đầy đủ?”
GLAUCON: “Nếu công cụ mà làm được thế thì chúng giá trị quá.”
(e) SOCRATES: “Vậy thì, vì công việc của những người bảo vệ (guardians) là quan trọng nhất, nên nó đòi hỏi sự giải phóng tối đa khỏi các việc khác, cũng như đòi hỏi kỹ năng và sự rèn luyện lớn nhất.”
GLAUCON: “Tôi cũng nghĩ vậy.”
SOCRATES: “Và chẳng phải nó cũng đòi hỏi một người có bản tính phù hợp với chính công việc rèn luyện đó sao?”
GLAUCON: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Vậy nhiệm vụ của chúng ta, dường như là lựa chọn, nếu có thể, những bản tính nào, những kiểu bản tính nào, phù hợp để bảo vệ thành phố.”
GLAUCON: “Đúng, đó là nhiệm vụ của chúng ta.”
SOCRATES: “Lạy Zeus, nhiệm vụ chúng ta nhận lấy không hề nhỏ mọn chút nào. Tuy vậy, chúng ta không được chùn bước, mà phải cố gắng hết sức mình.”
(375a) GLAUCON: “Không, chúng ta không được chùn bước.”
SOCRATES: “Anh có nghĩ có sự khác biệt nào, khi nói đến công việc bảo vệ, giữa bản tính của một con chó săn thuần chủng và bản tính của một thanh niên được giáo dục tốt không?”
GLAUCON: “Ý ông là sao?”
SOCRATES: “Ý tôi là cả hai đều phải có mắt sắc, nhanh nhẹn để bắt được những gì chúng thấy, và cũng phải khỏe mạnh nữa, đề phòng trường hợp chúng phải chiến đấu với thứ chúng bắt được.”
GLAUCON: “Đúng, chúng cần tất cả những thứ đó.”
SOCRATES: “Và họ phải can đảm, chắc chắn rồi, nếu thực sự muốn chiến đấu tốt.”
GLAUCON: “Tất nhiên.”
SOCRATES: “Vậy, một con ngựa, một con chó, hay bất kỳ động vật nào khác có thể can đảm nếu nó không có cảm xúc (spirit/thumos) mạnh mẽ không? Hay anh chưa nhận thấy rằng cảm xúc mãnh liệt và không thể khuất phục đến mức nào, đến nỗi sự hiện diện của nó khiến cả linh hồn trở nên không sợ hãi và không thể đánh bại trong mọi tình huống?”
(b) GLAUCON: “Tôi có nhận thấy điều đó.”
SOCRATES: “Vậy thì đã rõ những phẩm chất thể chất mà người bảo vệ nên có.”
GLAUCON: “Đúng.”
SOCRATES: “Và về phần linh hồn của họ, ít nhất họ phải có cảm xúc mạnh mẽ.”
GLAUCON: “Cả điều đó nữa.”
SOCRATES: “Nhưng với những bản tính như thế, Glaucon à, làm sao họ tránh được việc hành xử như những kẻ hung dữ với nhau và với các công dân khác?”
GLAUCON: “Lạy Zeus, không dễ cho họ đâu.”
(c) SOCRATES: “Nhưng chắc chắn họ phải dịu dàng với người nhà và hung dữ với kẻ thù. Nếu không, họ sẽ chẳng đợi kẻ khác đến tiêu diệt mình đâu, mà chính họ sẽ tự tay làm việc đó trước.”
GLAUCON: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta phải làm gì đây? Tìm đâu ra một tính cách vừa dịu dàng vừa có cảm xúc mạnh mẽ cùng lúc? Vì tất nhiên, bản tính dịu dàng là đối lập với kiểu người nóng nảy.”
GLAUCON: “Rõ ràng là vậy.”
SOCRATES: “Nhưng chắc chắn nếu ai đó thiếu một trong hai phẩm chất này, anh ta không thể là một người bảo vệ tốt. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa chúng dường như là không thể. (d) Và hệ quả là, một người bảo vệ tốt là điều không thể có.”
GLAUCON: “Tôi e là vậy.”
LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Tôi chưa thấy lối thoát, và khi xem xét lại những gì đã qua, tôi nói: “Chúng ta xứng đáng bị bế tắc, Glaucon thân mến. Vì chúng ta đã mất dấu cái hình ảnh so sánh mà chúng ta đã đưa ra.”
GLAUCON: “Ý ông là sao?”
SOCRATES: “Chúng ta đã bỏ qua sự thật rằng có những bản tính kiểu như chúng ta vừa nghĩ là không thể, những bản tính bao gồm cả các phẩm chất đối lập này.”
GLAUCON: “Ở đâu cơ?”
SOCRATES: “Anh có thể thấy sự kết hợp đó ở các loài động vật khác, nhưng đặc biệt là ở loài mà chúng ta đã so sánh với người bảo vệ. Vì anh biết đấy, (e) những con chó săn thuần chủng tự nhiên có tính cách kiểu đó. Chúng dịu dàng hết mức với những người chúng quen biết, nhưng lại ngược lại với những người lạ.”
GLAUCON: “Đúng, tôi biết điều đó.”
SOCRATES: “Vậy sự kết hợp chúng ta muốn là khả thi, và những gì chúng ta tìm kiếm ở một người bảo vệ tốt không hề trái với tự nhiên.”
GLAUCON: “Không, tôi đoán là không.”
SOCRATES: “Bây giờ, anh có nghĩ rằng người bảo vệ tương lai của chúng ta, ngoài việc có cảm xúc mạnh mẽ, còn phải có bản tính yêu mến sự hiểu biết (philosophical) không?”
(376a) GLAUCON: “Ý ông là sao? Tôi không hiểu.”
SOCRATES: “Đó cũng là điều anh thấy ở loài chó, và nó nên khiến ta kinh ngạc về phẩm chất của con thú này.”
GLAUCON: “Theo cách nào?”
SOCRATES: “Ở chỗ khi một con chó thấy ai đó nó không biết, nó nổi giận ngay cả khi người đó chưa làm gì xấu với nó. Nhưng khi nó biết ai đó, nó chào đón họ, ngay cả khi nó chưa bao giờ nhận được điều gì tốt từ họ. Anh chưa bao giờ ngạc nhiên về điều đó sao?”
GLAUCON: “Tôi chưa bao giờ để ý cho đến tận bây giờ. Nhưng rõ ràng là chó có làm chuyện đó thật.”
(b) SOCRATES: “Chà, đó dường như là một phẩm chất tinh tế tự nhiên, và là một phẩm chất thực sự yêu mến sự hiểu biết.”
GLAUCON: “Theo cách nào?”
SOCRATES: “Ở chỗ nó phán xét bất cứ thứ gì nó thấy là bạn hay thù dựa trên cơ sở duy nhất là nó có biết người đó hay không. Và làm sao nó có thể là cái gì khác ngoài một kẻ yêu học hỏi nếu nó định nghĩa cái gì thuộc về mình và cái gì lạ lẫm với mình dựa trên kiến thức và sự thiếu hiểu biết?”
GLAUCON: “Chắc chắn nó không thể là cái gì khác được.”
SOCRATES: “Nhưng chắc chắn yêu học hỏi và yêu mến sự hiểu biết là một, đúng không?”
GLAUCON: “Đúng, chúng là một.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta có thể tự tin giả định rằng điều này cũng đúng với con người – rằng nếu anh ta muốn dịu dàng với người nhà (c) và những người mình biết, anh ta phải có bản tính là một người yêu học hỏi và yêu mến sự hiểu biết?”
GLAUCON: “Chúng ta có thể.”
SOCRATES: “Vậy thì sự yêu mến sự hiểu biết, cùng với cảm xúc, sự nhanh nhẹn và sức mạnh, tất cả phải được kết hợp trong bản tính của bất kỳ ai muốn trở thành một người bảo vệ thực sự tốt đẹp và tử tế cho thành phố của chúng ta.”
GLAUCON: “Hoàn toàn đồng ý.”
SOCRATES: “Vậy đó là những gì anh ta phải có từ lúc ban đầu. Nhưng làm thế nào chúng ta nuôi dưỡng và giáo dục những người này? Liệu việc tìm hiểu chủ đề đó có giúp chúng ta tiến gần hơn đến mục tiêu của cuộc điều tra, (d) đó là khám phá nguồn gốc của điều đúng và việc sống sai trong một thành phố không? Chúng ta muốn trình bày một cách đầy đủ, nhưng không muốn nó dài dòng hơn mức cần thiết.”
LỜI KỂ CỦA SOCRATES: Và anh trai của Glaucon đáp lại: “Tôi chắc chắn kỳ vọng rằng cuộc điều tra này sẽ giúp ích cho chúng ta.”
SOCRATES: “Lạy Zeus, trong trường hợp đó, Adeimantus thân mến, chúng ta không được bỏ dở nó, ngay cả khi nó hóa ra là một công việc khá dài dòng.”
ADEIMANTUS: “Không, chúng ta không được bỏ.”
SOCRATES: “Nào, vậy thì giống như những người kể chuyện ngụ ngôn lúc rảnh rỗi, chúng ta hãy dùng lời bàn luận để giáo dục những con người này.”
(e) ADEIMANTUS: “Được, hãy làm thế.”
SOCRATES: “Vậy, giáo dục sẽ là gì đây? Hay là khó mà tìm được phương pháp nào tốt hơn phương pháp đã được khám phá qua thời gian dài – rèn luyện thể chất cho thân thể và rèn luyện âm nhạc (musical training) cho linh hồn?”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Bây giờ, chẳng phải chúng ta sẽ bắt đầu rèn luyện âm nhạc trước rèn luyện thể chất sao?”
ADEIMANTUS: “Tất nhiên rồi.”
SOCRATES: “Và anh cũng xếp các câu chuyện vào mục rèn luyện âm nhạc chứ?”
ADEIMANTUS: “Tôi có.”
SOCRATES: “Nhưng chẳng phải có hai loại chuyện, một loại có thật và một loại giả dối sao?”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Và giáo dục phải sử cả hai, nhưng bắt đầu với những chuyện (377a) giả dối trước?”
ADEIMANTUS: “Tôi không hiểu ý ông.”
SOCRATES: “Anh không hiểu rằng chúng ta bắt đầu bằng việc kể chuyện cho trẻ em sao? Và chắc chắn phần lớn chúng là giả dối, dù trong đó cũng có chút sự thật. Và chúng ta dùng những câu chuyện cho trẻ em trước khi cho chúng tập thể dục.”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Đó là những gì tôi muốn nói khi bảo rằng rèn luyện âm nhạc nên được thực hiện trước rèn luyện thể chất.”
ADEIMANTUS: “Và ông đã nói đúng.”
SOCRATES: “Bây giờ, anh biết đấy, sự khởi đầu của bất kỳ công việc nào cũng là phần quan trọng nhất, đặc biệt là khi chúng ta đối phó với những gì (b) còn trẻ và non nớt? Vì đó là lúc nó đặc biệt dễ uốn nắn và dễ tiếp nhận bất kỳ khuôn mẫu nào mà người ta muốn khắc ghi lên đó.”
ADEIMANTUS: “Chính xác là vậy.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta có nên cứ thế để mặc cho con trẻ nghe bất kỳ câu chuyện cũ rích nào do bất kỳ ai tạo ra, rồi để chúng thu nạp vào linh hồn những niềm tin mà phần lớn là ngược lại với những gì chúng ta nghĩ chúng nên giữ khi trưởng thành không?”
ADEIMANTUS: “Chúng ta chắc chắn sẽ không cho phép điều đó chút nào.”
SOCRATES: “Vậy nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta, dường như là giám sát các người kể chuyện: nếu họ tạo ra một câu chuyện tốt, chúng ta phải chấp nhận; nếu không, chúng ta phải từ chối. Chúng ta (c) sẽ thuyết phục các vú em và các bà mẹ kể những câu chuyện được chấp nhận cho con cái họ, và dành nhiều thời gian để nhào nặn linh hồn chúng bằng những câu chuyện này hơn là họ dùng tay để nắn nót cơ thể chúng. Tuy nhiên, nhiều câu chuyện họ kể bây giờ phải bị loại bỏ.”
ADEIMANTUS: “Những loại nào?”
SOCRATES: “Trong những câu chuyện lớn hơn, chúng ta sẽ thấy cả những câu chuyện nhỏ hơn nữa. Vì chắc chắn cả chuyện lớn và chuyện nhỏ đều đi theo cùng một khuôn mẫu và có cùng tác động. Anh có nghĩ vậy không?”
(d) ADEIMANTUS: “Thực vậy, tôi nghĩ thế. Nhưng tôi hoàn toàn không hiểu những câu chuyện lớn mà ông ám chỉ là cái nào.”
SOCRATES: “Những câu chuyện mà Homer, Hesiod và các nhà thơ khác kể cho chúng ta. Suy cho cùng, chắc chắn họ đã sáng tác ra những câu chuyện giả dối, những chuyện họ đã và đang kể cho mọi người.”
ADEIMANTUS: “Ý ông là những câu chuyện nào? Và ông thấy chúng có lỗi gì?”
SOCRATES: “Cái lỗi đầu tiên và quan trọng nhất mà người ta nên thấy, đặc biệt là nếu sự giả dối đó không có đặc điểm gì tốt đẹp.”
ADEIMANTUS: “Đúng, nhưng đó là lỗi gì?”
(e) SOCRATES: “Dùng một câu chuyện để tạo ra một hình ảnh xấu về bản chất của các vị thần và các anh hùng, giống như một họa sĩ vẽ một bức tranh chẳng giống chút nào với thứ mà anh ta đang cố gắng vẽ.”
ADEIMANTUS: “Đúng, ông có lý khi chê trách điều đó. Nhưng cụ thể là những trường hợp nào, những kiểu trường hợp nào?”
SOCRATES: “Đầu tiên, lời nói dối lớn nhất về những điều quan trọng nhất chẳng có gì tốt đẹp cả – tôi muốn nói đến việc Hesiod kể về cách Uranus hành xử, cách Cronus trừng phạt ông ta, và cách chính Cronus lại bị con trai mình trừng phạt. (378a) Ngay cả khi những câu chuyện này là có thật, tôi vẫn nghĩ chúng nên được giữ kín trong im lặng, không nên kể một cách tùy tiện cho những kẻ khờ khạo và trẻ tuổi. Và nếu vì lý do nào đó chúng phải được kể, thì chỉ một số ít người được nghe – những người đã thề giữ bí mật và đã phải hiến tế không chỉ một con lợn, mà một thứ gì đó lớn lao và khan hiếm đến mức số người được nghe được giữ ở mức nhỏ nhất có thể.”
ADEIMANTUS: “Đúng, những câu chuyện đó chắc chắn gây rắc rối.”
(b) SOCRATES: “Và chúng không nên được kể trong thành phố của chúng ta, Adeimantus ạ. Không người trẻ nào được nghe rằng nếu mình phạm những tội ác tồi tệ nhất thì cũng chẳng có gì đáng kinh ngạc, hoặc nếu mình trừng phạt một người cha sai trái bằng mọi cách thì cũng chỉ là làm giống như vị thần đầu tiên và vĩ đại nhất đã làm mà thôi.”
ADEIMANTUS: “Không, lạy Zeus, chính tôi cũng nghĩ những câu chuyện đó không hợp để kể.”
SOCRATES: “Thực vậy, chúng ta không được cho phép bất kỳ câu chuyện nào về các vị thần gây chiến, đánh nhau hay âm mưu chống lại nhau nếu chúng ta muốn những người bảo vệ thành phố nghĩ rằng thật xấu hổ khi dễ dàng bị kích động dẫn đến thù ghét lẫn nhau. (c) Dù sao thì những câu chuyện đó cũng không đúng sự thật. Càng không nên kể về những trận chiến giữa các vị thần và khổng lồ, hay nhiều sự thù địch khác của các vị thần và anh hùng đối với gia đình và bạn bè họ trong những câu chuyện mà người bảo vệ được nghe hoặc trong những bức tranh thêu họ thấy. Ngược lại, nếu chúng ta bằng cách nào đó thuyết phục được dân chúng rằng chưa có công dân nào từng ghét bỏ người khác, và làm vậy là bất kính, thì đó là những điều mà (d) các bậc trưởng bối nam và nữ nên kể cho họ ngay từ khi còn nhỏ. Và những nhà thơ mà họ nghe khi lớn lên cũng phải bị buộc phải kể những điều tương tự. Còn những chuyện về việc Hera bị con trai xích lại, hay việc Hephaestus bị cha hất văng khỏi thiên đình khi anh ta cố cứu mẹ khỏi bị đánh, hay về các trận chiến của các thần trong thơ Homer, không nên được chấp nhận vào thành phố chúng ta, dù là dưới dạng ẩn dụ hay không ẩn dụ. Vì người trẻ không thể phân biệt cái gì là ẩn dụ, cái gì không. Và những niềm tin mà họ hấp thụ ở tuổi đó rất khó xóa bỏ và có xu hướng (e) không thể thay đổi. Vì những lý do này, có lẽ chúng ta nên hết sức cẩn thận để đảm bảo rằng những câu chuyện đầu tiên họ nghe về phẩm chất tốt là những câu chuyện tốt nhất để họ nghe.”
ADEIMANTUS: “Đúng, điều đó rất có lý. Nhưng nếu lúc này ai đó lại hỏi chúng ta những câu chuyện đó cụ thể là gì, chúng ta nên trả lời thế nào?”
SOCRATES: “Adeimantus này, lúc này anh và tôi không phải là nhà thơ, mà là những người sáng lập một thành phố. Và việc của những người sáng lập là biết các khuôn mẫu (patterns) mà các nhà thơ phải dựa vào đó để sáng tác chuyện, và không được đi chệch khỏi đó. Nhưng họ không nên tự mình sáng tác thơ.”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy. Nhưng chính xác thì các khuôn mẫu cho những câu chuyện về các vị thần phải như thế nào?”
SOCRATES: “Đại loại là thế này: dù là trong sử thi, thơ trữ tình hay bi kịch, một vị thần phải luôn được mô tả đúng như bản chất của ngài.”
ADEIMANTUS: “Đúng, phải như vậy.”
SOCRATES: “Bây giờ, các vị thần tất nhiên là thực sự tốt, đúng không, và phải được mô tả như vậy chứ?”
(b) ADEIMANTUS: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Và chắc chắn không có gì tốt lại gây hại, đúng không?”
ADEIMANTUS: “Tôi đoán là không.”
SOCRATES: “Chà, cái gì không gây hại thì có thể làm điều gì xấu không?”
ADEIMANTUS: “Không bao giờ.”
SOCRATES: “Và cái gì không làm điều gì xấu thì có thể là nguyên nhân của bất kỳ điều gì xấu không?”
ADEIMANTUS: “Không, cũng không thể.”
SOCRATES: “Vậy còn cái gì tốt? Nó có ích lợi không?”
ADEIMANTUS: “Có chứ.”
SOCRATES: “Vậy nó là nguyên nhân của việc làm tốt?”
ADEIMANTUS: “Đúng.”
SOCRATES: “Vậy cái tốt không phải là nguyên nhân của mọi sự. Thay vào đó, nó là nguyên nhân của những điều tốt, còn với những điều xấu thì nó không phải là nguyên nhân.”
(c) ADEIMANTUS: “Chính xác.”
SOCRATES: “Vì vậy, do các vị thần là tốt, họ không phải là nguyên nhân của mọi sự như đám đông vẫn khẳng định. Thay vào đó, họ chỉ là nguyên nhân của một vài điều xảy đến với con người, còn với phần lớn các sự việc khác thì họ không phải là nguyên nhân. Bởi vì những điều tốt đẹp thì ít hơn những điều xấu xa trong đời sống của chúng ta. Với những điều tốt, chỉ có họ là nguyên nhân, nhưng chúng ta phải tìm một nguyên nhân nào khác cho những điều xấu, chứ không phải các vị thần.”
ADEIMANTUS: “Theo tôi thì điều đó hoàn toàn đúng.”
SOCRATES: “Vậy chúng ta sẽ không chấp nhận từ Homer – hay từ bất kỳ ai khác – (d) cái sai lầm ngớ ngẩn mà ông ta mắc phải về các vị thần khi nói rằng: ‘Có hai cái bình đặt ở ngưỡng cửa của Zeus, một bình chứa đầy những số phận tốt, bình kia chứa những số phận xấu,’ và ai được Zeus cho nếm cả hai thì ‘lúc thì gặp số phận xấu, lúc thì gặp số phận tốt.’ Nhưng ai nhận toàn bộ số phận từ cái bình thứ hai, thì ‘nạn đói ác nghiệt xua đuổi hắn khắp mặt đất thiêng.’ Chúng ta cũng không chấp nhận câu nói (e) ‘Zeus là người ban phát cả điều tốt lẫn điều xấu cho con người.’ Còn việc Pandarus vi phạm lời thề và thỏa thuận ngừng bắn, nếu ai nói rằng đó là do Athena và Zeus sắp đặt, hoặc rằng Themis và Zeus phải chịu trách nhiệm về sự xích mích và tranh chấp giữa các vị thần, chúng ta sẽ không tán thành. Chúng ta cũng không cho phép người trẻ (380a) nghe lời của Aeschylus: ‘Một vị thần khiến con người lầm lỗi khi ngài muốn hủy diệt hoàn toàn một gia đình.’ Và nếu ai sáng tác thơ về những đau khổ của Niobe, hay về gia tộc Pelops, hay chuyện thành Troy, hay bất kỳ điều gì tương tự, họ phải bị buộc phải nói rằng những điều đó không phải là tác phẩm của một vị thần. Hoặc nếu chúng là tác phẩm của một vị thần, thì nhà thơ phải đưa ra được kiểu giải thích giống như chúng ta đang tìm kiếm: anh ta phải nói rằng hành động của các vị thần là (b) tốt và đúng đắn, và những người bị các ngài trừng phạt là vì lợi ích của chính họ. Chúng ta sẽ không cho phép nhà thơ nói rằng những người bị trừng phạt là khổ sở, và chính một vị thần đã làm họ như vậy; nhưng chúng ta sẽ cho phép anh ta nói rằng những kẻ xấu là khổ sở vì chúng cần bị trừng phạt, và bằng cách trả giá cho tội lỗi, chúng được vị thần đó giúp ích. Nhưng còn việc nói rằng vị thần, vốn dĩ là tốt, lại là nguyên nhân của những điều xấu, chúng ta phải đấu tranh chống lại điều đó bằng mọi cách. Chúng ta sẽ không cho phép ai nói điều đó trong thành phố của mình nếu muốn nó được cai trị tốt, hoặc cho bất kỳ ai nghe – dù trẻ hay già, dù (c) có vần điệu hay không. Bởi vì những câu chuyện đó là bất kính, gây hại cho chúng ta và mâu thuẫn lẫn nhau.”
ADEIMANTUS: “Tôi thích quy luật của ông, và tôi sẽ bỏ phiếu tán thành nó.”
SOCRATES: “Vậy đây sẽ là một trong những luật hoặc khuôn mẫu liên quan đến các vị thần mà những người diễn thuyết và nhà thơ phải tuân theo: rằng các vị thần không phải là nguyên nhân của mọi sự, mà chỉ là nguyên nhân của những điều tốt lành.”
ADEIMANTUS: “Một quy luật hoàn toàn thỏa đáng.”
SOCRATES: “Bây giờ, còn quy luật thứ hai này thì sao? Anh có nghĩ các vị thần là những (d) phù thủy, những kẻ cố ý biến hình thành các dạng khác nhau vào những thời điểm khác nhau, khi thì tự mình thay đổi và biến hình hài của mình thành nhiều hình dạng, khi thì lừa dối chúng ta khiến ta nghĩ họ làm vậy? Hay các ngài là những thực thể đơn giản, và ít có khả năng từ bỏ hình hài riêng của mình nhất?”
ADEIMANTUS: “Tôi không thể trả lời ngay được.”
SOCRATES: “Chà, nếu một thứ gì đó từ bỏ hình hài riêng của nó, chẳng phải nó (e) tự gây ra sự thay đổi hoặc bị thứ gì khác làm thay đổi sao?”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Bây giờ, những thứ tốt nhất thì ít bị biến đổi hoặc thay đổi nhất, đúng không? Ví dụ, một thân thể bị biến đổi bởi thức ăn, thức uống và lao động, và tất cả cây cối bởi mặt trời, gió và những tác động tương tự – nhưng thứ khỏe mạnh và mạnh mẽ nhất là thứ ít bị biến đổi nhất, đúng không?”
(381a) ADEIMANTUS: “Tất nhiên rồi.”
SOCRATES: “Và chẳng phải một linh hồn can đảm nhất và hiểu biết nhất cũng sẽ ít bị xáo trộn hoặc biến đổi nhất bởi bất kỳ ảnh hưởng bên ngoài nào sao?”
ADEIMANTUS: “Đúng.”
SOCRATES: “Và điều tương tự chắc chắn cũng áp dụng cho cả những đồ vật được chế tạo, như dụng cụ, nhà cửa và quần áo: những thứ tốt và được làm khéo léo thì ít bị thời gian hay bất kỳ ảnh hưởng nào khác làm biến đổi nhất.”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy bất cứ thứ gì ở trong tình trạng tốt – dù là do tự nhiên hay (b) do kỹ năng hay cả hai – đều ít bị thay đổi bởi thứ khác nhất.”
ADEIMANTUS: “Có vẻ là vậy.”
SOCRATES: “Nhưng các vị thần, tất nhiên, cũng như những gì thuộc về các ngài, là tốt nhất về mọi mặt.”
ADEIMANTUS: “Chắc chắn rồi.”
SOCRATES: “Vậy theo quan điểm này, các vị thần ít có khả năng có nhiều hình dạng nhất.”
ADEIMANTUS: “Cực kỳ ít khả năng.”
SOCRATES: “Vậy các ngài có tự mình thay đổi hay biến đổi không?”
ADEIMANTUS: “Rõ ràng là có, nếu quả thực các ngài có thay đổi.”
SOCRATES: “Họ tự thay đổi mình thành một thứ tốt hơn và đẹp hơn, hay thành một thứ tệ hơn và xấu hơn chính họ?”
ADEIMANTUS: “Chắc chắn phải là thành thứ tệ hơn, nếu quả thực (c) các ngài có thay đổi. Vì chắc chắn chúng ta sẽ không nói rằng các vị thần thiếu hụt vẻ đẹp hay phẩm chất tốt.”
SOCRATES: “Anh hoàn toàn đúng. Và Adeimantus này, anh có nghĩ ai đó, dù là thần hay người, lại cố tình làm mình tệ đi theo bất kỳ cách nào không?”
ADEIMANTUS: “Không, điều đó là không thể.”
SOCRATES: “Vậy thì cũng không thể có chuyện một vị thần muốn biến đổi chính mình. Ngược lại, vì mỗi vị thần, dường như, đã đẹp đẽ và tốt đẹp hết mức có thể, nên ngài phải luôn giữ nguyên hình hài riêng của mình một cách tuyệt đối.”
ADEIMANTUS: “Theo tôi, ít nhất thì điều đó là hoàn toàn tất yếu.”
(d) SOCRATES: “Vậy thì, không nhà thơ nào của chúng ta được phép nói rằng ‘Các vị thần, giống như những người lạ từ phương xa, đội lốt đủ kiểu khi đến thăm các thành phố của chúng ta.’ Họ cũng không được nói dối về Proteus và Thetis, hay mô tả Hera trong các vở bi kịch hay bài thơ dưới dạng một nữ tư tế đi quyên góp cho ‘những người con ban sự sống của dòng sông Inachus xứ Argive,’ (e) hay kể bất kỳ lời nói dối nào khác tương tự. Các bà mẹ cũng không nên bị ảnh hưởng bởi những câu chuyện này – những chuyện làm trẻ con khiếp sợ – mà kể những chuyện xấu về các vị thần đi lang thang trong đêm dưới lớp vỏ của nhiều thực thể kỳ lạ và đa dạng, kẻo họ phạm thượng với các vị thần, đồng thời làm con cái mình trở nên hèn nhát.”
ADEIMANTUS: “Thực vậy, họ không nên làm thế.”
SOCRATES: “Nhưng, mặc dù bản thân các vị thần là những thực thể không thể thay đổi, liệu họ có làm chúng ta nghĩ rằng họ xuất hiện dưới nhiều lớp vỏ khác nhau, lừa dối chúng ta và dùng phù phép với chúng ta không?”
ADEIMANTUS: “Có lẽ là họ có làm vậy.”
(382a) SOCRATES: “Cái gì? Một vị thần lại sẵn lòng nói dối bằng cách trình bày qua lời nói hoặc hành động một thứ chỉ là ảo ảnh sao?”
ADEIMANTUS: “Tôi không biết.”
SOCRATES: “Anh không biết rằng tất cả thần linh và con người đều ghét một lời nói dối thực sự (true lie), nếu ta có thể gọi nó như thế sao?”
ADEIMANTUS: “Ý ông là sao?”
SOCRATES: “Ý tôi là không ai cố tình muốn nói dối về những điều quan trọng nhất đối với cái phần quan trọng nhất trong chính mình. Ngược lại, họ sợ việc chứa đựng một lời nói dối ở đó hơn bất cứ điều gì.”
ADEIMANTUS: “Tôi vẫn chưa hiểu.”
SOCRATES: “Đó là vì anh nghĩ tôi đang nói điều gì đó cao siêu. Tôi chỉ đơn giản muốn nói rằng việc nói dối và đã lừa dối linh hồn mình về thực tại, (b) và việc thiếu hiểu biết, và việc chứa chấp và nắm giữ một lời nói dối ở đó là điều mà mọi người ít chấp nhận nhất; thực vậy, họ đặc biệt ghét nó ở nơi đó.”
ADEIMANTUS: “Họ chắc chắn ghét nó.”
SOCRATES: “Nhưng chắc chắn, như tôi vừa nói, sẽ là chính xác nhất khi gọi đó là một lời nói dối thực sự – sự thiếu hiểu biết trong linh hồn của người bị lừa. Vì một lời nói dối bằng ngôn từ chỉ là một kiểu bắt chước cái tình trạng đó trong linh hồn, một hình ảnh nảy sinh sau nó, chứ không phải là một lời nói dối hoàn toàn (c) thuần túy. Có đúng không?”
ADEIMANTUS: “Đúng vậy.”
SOCRATES: “Vậy một lời nói dối thực sự bị ghét không chỉ bởi các vị thần mà cả bởi con người.”
ADEIMANTUS: “Tôi cũng nghĩ thế.”
SOCRATES: “Vậy còn lời nói dối bằng ngôn từ thì sao? Chẳng phải có những lúc nó hữu ích, và vì thế không đáng bị ghét bỏ sao? Ví dụ như khi chúng ta đối phó với kẻ thù, hoặc với những người được gọi là bạn bè, những người do điên rồ hay thiếu hiểu biết mà định làm điều gì đó xấu? Chẳng phải nó là một liều thuốc hữu ích để ngăn chặn họ sao? Và hãy xem xét trường hợp của những câu chuyện chúng ta vừa bàn – (d) những chuyện chúng ta kể vì không biết sự thật về những sự kiện cổ xưa đó: bằng cách làm cho những lời nói dối trong đó giống với sự thật nhất có thể, chẳng phải chúng ta làm cho chúng trở nên hữu ích sao?”
ADEIMANTUS: “Chúng ta chắc chắn làm vậy.”
SOCRATES: “Vậy trong những cách này, lời nói dối có thể hữu ích cho một vị thần ở chỗ nào? Liệu ngài có nói dối bằng cách tạo ra những thứ giống như sự thật về các sự kiện cổ xưa vì ngài không biết rõ về chúng không?”
ADEIMANTUS: “Thật nực cười khi nghĩ như vậy.”
SOCRATES: “Vậy chẳng có chút gì của một ‘nhà thơ nói dối’ trong một vị thần sao?”
ADEIMANTUS: “Theo tôi là không.”
SOCRATES: “Vậy ngài có nói dối vì sợ kẻ thù không?”
(e) ADEIMANTUS: “Khó có khả năng đó.”
SOCRATES: “Vì sự khờ khạo hay điên rồ của người thân hay bạn bè ngài sao?”
ADEIMANTUS: “Chẳng có ai khờ khạo hay điên rồ mà lại là bạn của các vị thần cả.”
SOCRATES: “Vậy một vị thần không có lý do gì để nói dối?”
ADEIMANTUS: “Không có.”
SOCRATES: “Vậy cả những gì thuộc về thần thánh (daimonic) và thiêng liêng đều hoàn toàn không có sự dối trá.”
ADEIMANTUS: “Hoàn toàn đúng.”
SOCRATES: “Một vị thần, vì vậy, hoàn toàn đơn giản, chân thực trong cả lời nói và hành động. Ngài không tự thay đổi mình hay lừa dối người khác bằng các hình ảnh, bằng lời nói, hay bằng cách gửi các dấu hiệu, dù là lúc họ thức hay đang mơ.”
ADEIMANTUS: “Đó cũng là quan điểm của tôi – ít nhất là sau khi nghe những gì (383a) ông nói.”
SOCRATES: “Vậy anh đồng ý rằng đây là khuôn mẫu thứ hai mà mọi người phải tuân theo khi nói hoặc sáng tác thơ về các vị thần: các vị thần không phải là những phù thủy tự biến đổi mình, họ cũng không lừa dối chúng ta bằng cách nói dối trong lời nói hay hành động.”
ADEIMANTUS: “Tôi đồng ý.”
SOCRATES: “Mặc dù chúng ta ca ngợi nhiều thứ ở Homer, nhưng chúng ta sẽ không tán thành việc Zeus gửi giấc mơ cho Agamemnon, hay việc Aeschylus (b) làm cho Thetis nói rằng Apollo đã hát trong lời tiên tri tại đám cưới của bà:
Về sự may mắn mà các con tôi sẽ có,Không bệnh tật trong suốt cuộc đời dài,Và về tất cả những phước lành mà tình bạn của các vị thần sẽ mang lại cho tôi.Tôi đã hy vọng rằng miệng thần Phoebus sẽ không có lời dối trá,Được ban cho kỹ năng tiên tri như ngài vốn có.Nhưng chính vị thần đã hát, chính vị thần có mặt tại buổi tiệc,Chính vị thần đã nói tất cả những điều đó, chính ngàiLà kẻ đã giết con trai tôi.
Bất cứ khi nào ai đó nói những điều như vậy về một vị thần, chúng ta sẽ nổi giận với anh ta, từ chối cấp cho anh ta một đoàn hát (chorus), và không cho phép giáo viên sử dụng những gì anh ta nói để (c) giáo dục người trẻ – nếu chúng ta muốn những người bảo vệ mình phải thành kính và giống với thần thánh hết mức mà con người có thể đạt tới.”
ADEIMANTUS: “Tôi hoàn toàn đồng ý về những khuôn mẫu này, và tôi sẽ sử dụng chúng như những quy luật.”
Hiểu Plato trong đoạn này
Trong Quyển 2 của bộ Cộng Hòa, Plato thông qua nhân vật Glaucon và Adeimantus đã nâng cuộc tranh luận về điều đúng lên một tầm cao mới và thách thức hơn nhiều so với Quyển 1.
Thử thách của Glaucon (Chiếc nhẫn của Gyges): Glaucon không hài lòng với cách Socrates đánh bại Thrasymachus bằng các mẹo ngôn từ. Anh đặt ra câu hỏi cốt tử: Liệu ta sống đúng vì bản thân nó tốt, hay chỉ vì sợ hậu quả? Câu chuyện về chiếc nhẫn của Gyges là một ẩn dụ kinh điển về quyền lực và sự vô hình. Nó gợi ý rằng nếu không có sự giám sát của xã hội, con người tự nhiên sẽ hành xử sai để tư lợi. Glaucon yêu cầu Socrates chứng minh rằng người sống đúng dù bị tra tấn, nghèo khổ và mang tiếng xấu suốt đời vẫn hạnh phúc hơn kẻ sống sai nhưng có tất cả tiền bạc và danh tiếng. Đây là yêu cầu tách biệt hoàn toàn giá trị nội tại và giá trị ngoại lai của đạo đức.
Sự can thiệp của Adeimantus: Adeimantus bổ sung rằng ngay cả những người dạy về đạo đức (cha mẹ, nhà thơ) cũng chỉ dạy vì lợi ích (được thần linh phù hộ, được người đời trọng vọng). Điều này vô tình làm suy yếu điều đúng, vì nó biến đạo đức thành một công cụ giao dịch. Anh muốn Socrates chỉ ra tác động trực tiếp của điều đúng lên linh hồn.
Thành phố và Cá nhân: Socrates đề xuất một phương pháp tiếp cận mới: nhìn vào cái lớn để hiểu cái nhỏ. Thay vì phân tích trực tiếp linh hồn một người (vốn khó thấy), ông đề nghị xây dựng một thành phố trong lời nói để quan sát điều đúng hình thành từ đâu. Điều này dẫn đến khái niệm "Phân công lao động" (Division of Labor). Plato cho rằng mỗi người sinh ra với một bản chất riêng và thành phố chỉ hoạt động tốt nhất khi mỗi người làm đúng việc mình giỏi nhất.
Sự chuyển dịch từ Thành phố Khỏe mạnh sang Thành phố Phù hoa: Plato phân biệt giữa một xã hội tối giản (chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu) và một xã hội xa hoa. Xã hội xa hoa dẫn đến chiến tranh vì nhu cầu chiếm đất đai, từ đó nảy sinh nhu cầu về một tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp – những người bảo vệ.
Bản chất của Người bảo vệ và Giáo dục: Đây là phần quan trọng nhất về giáo dục. Người bảo vệ phải có "tính cách của loài chó săn": hung dữ với địch nhưng dịu dàng với bạn. Để đạt được điều này, họ cần giáo dục về âm nhạc và thể chất. Plato thực hiện một cuộc "thanh lọc" thơ ca táo bạo. Ông cho rằng các vị thần phải luôn được mô tả là thiện lành và không thay đổi. Theo ông, Chúa/Thần linh không thể là nguyên nhân của cái ác, và không bao giờ nói dối hay biến hình để lừa dối. Những câu chuyện của Homer hay Hesiod về các vị thần đánh nhau hay lừa lọc bị coi là gây hại cho đạo đức của thanh niên và phải bị cấm. Qua đó, Plato đặt nền móng cho việc dùng giáo dục chính trị để kiểm soát văn hóa, nhằm tạo ra những công dân có linh hồn trật tự.
Từ khóa/thuật ngữ
| English/Hy lạp | Vietnamese | Ghi chú/Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Justice / Dikaiosynē (δικαιοσύνη) | điều đúng | Trục cốt lõi của tác phẩm; sự công bằng, trật tự đúng đắn trong linh hồn và thành phố. |
| Unjust / Adikos (ἄδικος) | sai | Hành vi đi ngược lại trật tự tự nhiên hoặc xã hội; sự bất công. |
| Just Man / Dikaios (δίκαιος) | người sống đúng | Người mà linh hồn và hành động hài hòa với điều đúng. |
| Virtue / Arete (ἀρετή) | phẩm chất tốt | Sự xuất sắc của một vật hoặc một người trong việc thực hiện chức năng của mình. |
| Soul / Psuche (ψυχή) | linh hồn | Thực thể bên trong con người, bao gồm suy nghĩ, cảm xúc và ham muốn. |
| Appetite / Epithumetikon (ἐπιθυμητικόν) | ham muốn | Phần thấp nhất của linh hồn, hướng về ăn uống, tình dục và tiền bạc. |
| Spirit / Thumos (θυμός) | cảm xúc | Phần linh hồn liên quan đến lòng dũng cảm, sự giận dữ và khát vọng danh dự. |
| Craft / Techne (τέχνη) | kỹ năng/ thuật | Một loại kiến thức chuyên môn có mục đích cụ thể (như y thuật, kỹ thuật đóng tàu). |
| Craftsman / Demiurgos (δημιουργός) | thợ thủ công | Người thực hành một kỹ năng cụ thể trong xã hội. |
| Do better / Pleonektein (πλεονεκτεῖν) | được lợi hơn | Lòng tham, ham muốn có nhiều hơn người khác, vượt quá sự công bằng. |
| Musical training / Mousikē (μουσική) | rèn luyện âm nhạc | Bao gồm thơ ca, âm nhạc và giáo dục văn hóa nói chung cho linh hồn. |
| Physical training / Gumnastikē (γυμναστική) | rèn luyện thể chất | Các bài tập thể dục để rèn luyện sức khỏe và sự dũng mãnh cho thân thể. |
| Guardians / Phulakes (φύλακες) | người bảo vệ | Tầng lớp chiến binh và cai trị trong thành phố lý tưởng của Plato. |
| Philosophy/Philosophical / Philosophos (φιλόσοφος) | yêu mến sự hiểu biết | Ở đây dùng với nghĩa rộng là khao khát kiến thức và sự học hỏi. |
| Pattern / Tupos (τύπος) | khuôn mẫu | Các nguyên tắc cơ bản mà các nhà thơ hoặc nhà giáo dục phải tuân theo. |
| True lie / Alēthōs pseudos (ἀληθῶς ψεῦδος) | lời nói dối thực sự | Sự thiếu hiểu biết hoặc nhận thức sai lầm nằm ngay trong linh hồn về thực tại (đáng ghét nhất). |