Skip to content

100 NĂM QUA — BỐN NHÂN CÁCH CỦA CHÚNG TA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ

Bộ não của chúng ta tồn tại trong một trạng thái tiến hóa không ngừng, được định hình bởi cả bản chất tự nhiên và sự nuôi dưỡng. Có lẽ thật bất ngờ, sự phát triển của công nghệ đã hoàn toàn thay đổi cách chúng ta rèn luyện bộ não để học hỏi, và cuối cùng làm thay đổi những gì chúng ta coi trọng và cách chúng ta lựa chọn để sống. Ở đây, chủ đích của tôi là phác họa một cách khái quát bức tranh toàn cảnh về các xu hướng văn hóa và xã hội đã diễn ra tại Hoa Kỳ trong 100 năm qua, xét trên mối liên hệ với việc công nghệ đã tác động đến sự biểu hiện của Bốn Nhân Cách trong chúng ta như thế nào.

Tôi sẽ trình bày tài liệu này theo trình tự thời gian qua lăng kính của các thế hệ. Bất kể bạn lớn lên ở đâu trên thế giới, sự khác biệt thế hệ là có thật, và sự tiến bộ của công nghệ có lẽ đã tác động đến sự phát triển của bộ não nhiều hơn chúng ta tưởng. Trong các mối quan hệ, khi biết rõ hơn, chúng ta sẽ làm tốt hơn. Hy vọng rằng những hiểu biết sâu sắc này về lý do tại sao và làm thế nào chúng ta khác biệt sẽ giúp chúng ta định hướng các mối quan hệ cá nhân và công việc của mình với lòng trắc ẩn lớn hơn.

Để chuẩn bị cho chương này, tôi đã phỏng vấn hàng chục người đại diện cho các thế hệ khác nhau mà tôi đề cập ở đây. May mắn thay, trong thời gian viết bài này, một người bạn rất thân của tôi đang sống trong một cơ sở hỗ trợ sinh hoạt cho người cao tuổi, mang đến cho tôi vô số những người bạn trò chuyện cởi mở thuộc cả thế hệ G.I.("Greatest Generation" - thế hệ Vĩ Đại, trải qua và tham gia Thế chiến II, được ca ngợi là "vĩ đại nhất" vì đóng góp to lớn, sinh vào khoảng 1901–1927) và thế hệ Im Lặng (Silent Generation, lớn lên trong bối cảnh khắc nghiệt nhưng trưởng thành vào thời kỳ ổn định, ít nổi bật về phản kháng xã hội nên gọi là "im lặng", sinh vào khoảng 1928 – 1945). Từ đó, tôi đã tìm đến bạn bè ở mọi lứa tuổi, và các đồng nghiệp trong giới học thuật đã mở cửa lớp học của họ để tôi có được những cuộc trò chuyện tuyệt vời.

Do đó, cuộc trò chuyện này về Bốn Nhân Cách và mối liên hệ của chúng với các thế hệ khác nhau, cũng như ảnh hưởng của công nghệ đối với bộ não của chúng ta trong thế kỷ qua, sẽ bắt đầu bằng việc xem xét thế hệ G.I. đã chiến đấu trong Thế chiến II. Theo trình tự thời gian, tiếp sau thế hệ đó là thế hệ Im Lặng, một nhóm người tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng, được sinh ra trong thời kỳ khó khăn giữa cuộc Đại Suy thoái và Thế chiến II (1928 đến 1939).

Từ đó, chúng ta sẽ khám phá cuộc sống của nhóm người đông đảo thuộc thế hệ Bùng nổ Dân số (Baby Boomers) sinh ra ngay sau chiến tranh (1946 đến 1964), chủ yếu là con của thế hệ G.I. Tiếp theo là thế hệ X (Gen X) nhỏ hơn (sinh từ 1965 đến 1976), phần lớn là con của thế hệ Im Lặng. Sau đó, thế hệ Bùng nổ Dân số đã sinh ra một lượng lớn thế hệ Thiên niên kỷ (Millennials) (sinh từ 1977 đến 1996), theo sau là con cái của thế hệ X, được gọi là thế hệ Z (Gen Z) (sinh từ 1997 đến 2010), là những thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi tại thời điểm bài viết này ra đời. Trẻ em ngày nay được phân loại là thế hệ Alpha (sinh từ năm 2010 trở đi).

Các mốc thời gian cụ thể gắn liền với từng khung thời gian thế hệ này không phải là tuyệt đối, vì chúng có một chút khác biệt tùy thuộc vào nguồn bạn tham khảo. Ngoài ra, đối với những người sinh ra trong những năm chuyển giao giữa thế hệ này và thế hệ kế tiếp, nhóm thế hệ mà một cá nhân cụ thể thuộc về sẽ phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài nào có tác động lớn nhất đến cuộc sống của cá nhân đó.

THẾ HỆ G.I.: NHÂN CÁCH LÀ ĐOÀN KẾT VÌ MỘT SỰ NGHIỆP CHUNG

Thế hệ G.I. sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1901 đến 1927. Họ đã trải qua sự tàn phá về kinh tế và xã hội của Thế chiến I (1914 đến 1918), đại dịch Cúm Tây Ban Nha (1918), sự sụp đổ tài chính do thị trường chứng khoán sụp đổ (1929) và hậu quả của nó là cuộc Đại Suy thoái (1929 đến 1939).

Vào thời điểm Thế chiến II bắt đầu vào năm 1939, thế hệ G.I. này đã đến tuổi trưởng thành. Nhiều người đã gác lại mọi việc trong cuộc sống để gia nhập lực lượng lao động và hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh. Cả ở hải ngoại và trong các nhà máy ở quê nhà, những người đàn ông và phụ nữ của thế hệ G.I. đã cùng nhau đoàn kết vì một sự nghiệp chung bằng cách tổ chức các nỗ lực, học các kỹ năng mới, và chiến đấu cho những gì họ tin là đúng đắn. Với Nhân Cách 1 mạnh mẽ, thế hệ này đã hợp lực, củng cố phương tiện, phối hợp nỗ lực và hòa làm một thành một đội nhà, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì tình yêu gia đình và đất nước. Mục tiêu duy nhất của họ là chiến đấu cho tự do và thực sự cứu thế giới khỏi mối đe dọa vô lương tâm của chế độ Đức Quốc xã. Thật may mắn là thế hệ này đã đứng lên đối mặt với thử thách theo cách họ đã làm, để chúng ta có thể sống như những người Mỹ tự do.

Thế hệ G.I. đã học các kỹ năng của bán cầu não trái bằng các công cụ giảng dạy truyền thống bao gồm sách để đọc, viết và làm toán. Tuy nhiên, theo Cục Điều tra Dân số thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ, số liệu thống kê được liệt kê trong 120 năm Giáo dục Hoa Kỳ: Một bức chân dung thống kê, vào năm 1940, chưa đến 30% nam và nữ da trắng từ 25 tuổi trở lên đã học xong bốn năm trung học. [3] Tỷ lệ này đối với người da đen và những người thuộc các chủng tộc khác là dưới 10%. Điều này có nghĩa là, cho đến nay, phần lớn người dân ở Hoa Kỳ vào năm 1940 đã học các bài học cuộc sống không phải từ sách vở mà thông qua học tập thực tiễn, diễn ra ở bán cầu não phải. Do đó, bán cầu não phải của hầu hết mọi người đã được rèn luyện tốt để học các kỹ năng thông qua học nghề hoặc các chiến lược trải nghiệm khác. Nhờ vậy, thế hệ G.I. đã thiết lập một nền kinh tế và xã hội cân bằng, dựa trên các giá trị của cả bán cầu não trái Nhân Cách 1 và bán cầu não phải Nhân Cách 4 của họ.

THẾ HỆ IM LẶNG: CHỈ ĐƯỢC NHÌN THẤY CHỨ KHÔNG ĐƯỢC LẮNG NGHE

Một nhóm nhỏ những người quá trẻ để tham gia tích cực vào Thế chiến II đã được sinh ra trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1945, ngay khoảng thời gian diễn ra cuộc Đại Suy thoái. Những năm trước Thế chiến II là một thời kỳ ảm đạm, vì nhiều gia đình đã mất nhà cửa và tài sản, thậm chí thực phẩm cũng rất khó kiếm. Tiếp nối thời kỳ gian khổ này là nỗ lực chiến tranh, trong đó khoảng 400.000 người Mỹ đã thiệt mạng, và giáo dục không phải là ưu tiên xã hội. Do đó, cũng như thế hệ G.I., phần lớn việc học hỏi đến từ kinh nghiệm thực tiễn và lao động chân chính.

Một chủ đề xuyên suốt đối với những người sinh ra trong giai đoạn này là trẻ em chỉ nên được nhìn thấy chứ không nên được lắng nghe, do đó họ được phân loại là thế hệ Im Lặng. Củng cố thêm cho chủ đề về sự im lặng, vào đầu những năm 1950, Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy đã khuấy động nỗi sợ hãi trong công chúng về tình cảm chống Mỹ, do đó khiến người Mỹ gặp nguy hiểm khi công khai nói về suy nghĩ, ý tưởng hoặc niềm tin của mình ở nơi công cộng. Khi chủ nghĩa McCarthy ngày càng lan rộng, thế hệ Im Lặng vẫn thận trọng trong lời ăn tiếng nói, nhưng cuối cùng họ đã bùng nổ thành những tiếng nói nhiệt thành của phong trào dân quyền những năm 50 và 60.

Thế hệ G.I. và thế hệ Im Lặng tại nhà

Mặc dù người Mỹ sau chiến tranh vào khoảng năm 1945 có thể đã đánh mất sự ngây thơ khi chứng kiến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và diệt chủng mà Hitler và chế độ Đức Quốc xã có thể gây ra, nhưng bộ phận dân số còn sống sót của thế hệ G.I. đã xắn tay áo và xây dựng nền kinh tế Hoa Kỳ vững mạnh của những năm 50. Những người Mỹ lớn tuổi này là một lực lượng lao động tận tụy và trung thành của Nhân Cách 1, thường làm việc tại cùng một công ty trong nhiều thập kỷ. Với tư cách là một tập thể, họ tôn trọng chính quyền, tuân thủ luật pháp và sống dè dặt. Họ đã cùng nhau xây dựng một nền kinh tế báo hiệu một thời kỳ tăng trưởng và thịnh vượng kinh tế chưa từng có, và Hoa Kỳ sớm trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới.

Cùng với sự bùng nổ về cơ hội nghề nghiệp và xã hội, cũng có một sự bùng nổ về số trẻ sơ sinh, với khoảng 77 triệu trẻ em được sinh ra trong khoảng thời gian từ 1946 đến 1964. Tín điều xã hội của thời đại xoay quanh cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Mặc dù những người Mỹ sau chiến tranh này đã chứng kiến những mặt tồi tệ nhất của nhân loại, nhưng Nhân Cách 4 tập thể của họ đã ưu tiên gia đình, các mối quan hệ và các giá trị gia đình truyền thống tốt đẹp. Họ tận tâm với những người thân yêu và muốn con cái họ đạt được Giấc mơ Mỹ, nghĩa là chúng có thể làm hoặc trở thành bất cứ điều gì.

Theo góc nhìn tổng quát và lý tưởng hóa nhất của thời đại, chỉ có đài phát thanh và một chút TV làm xáo trộn sự yên bình trong cuộc sống hàng ngày của họ, những người này có thời gian, rất nhiều thời gian để tận hưởng cuộc sống với một nhịp độ dễ chịu. Nét chính trong cuộc sống của họ được định hình bởi Nhân Cách 4 của thế hệ G.I. sau chiến tranh, vốn khuyến khích mọi người dừng lại, tạm nghỉ, hít thở sâu và kết nối chân thành với nhau. Các mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa các thế hệ đã phát triển mạnh mẽ khi các buổi họp mặt gia đình chiếm vị trí trung tâm.

Những ngày trôi đi chậm rãi với một nhịp điệu thong thả, khuyến khích thời gian chất lượng bên người khác. Bữa tối được sắp xếp theo lịch trình và không thể bỏ lỡ. Hàng xóm ghé qua chơi là chuyện thường tình, vì cửa nhà luôn rộng mở đón khách. Các ông bố đưa con đi câu cá, đóng đồ nội thất cho vợ và nhà búp bê cho con gái nhỏ, trong khi các bà mẹ làm hài lòng mọi người bằng những công thức gia truyền yêu thích. Đàn ông tụ tập quanh bất cứ thứ gì liên quan đến máy móc để cập nhật tin tức, còn phụ nữ thì tụ tập để tán gẫu, may vá, đóng hộp thực phẩm và trò chuyện về con cái.

Với tư cách là một xã hội, người Mỹ có một ý thức cộng đồng về lòng biết ơn đối với nền tự do được phục hồi, sự trân trọng đối với cuộc sống hiện tại và hy vọng về một tương lai tươi sáng hơn. Tuy nhiên, âm ỉ bên dưới tất cả sự cộng đồng và sự yên bình của Nhân Cách 4 đó là một sự bất ổn về bất bình đẳng kinh tế và xã hội không chỉ giữa các chủng tộc khác nhau mà còn giữa các giới tính khác nhau. Những người thuộc Nhân Cách 2 của thế hệ G.I. và thế hệ Im Lặng, những người cảm thấy bị áp bức bởi hiện trạng đang diễn ra, có thể trông có vẻ bình tĩnh trên bề mặt nhưng giờ đây đã có tiếng nói. Sự bất mãn của họ cuối cùng sẽ bùng nổ thành phong trào dân quyền, theo sau là phong trào của phụ nữ đã có được động lực vào những năm 70.

Thế hệ G.I. và thế hệ Im Lặng tại nơi làm việc

Các lựa chọn nghề nghiệp cho Bốn Nhân Cách trong những năm hòa bình sau chiến tranh và biến động dân sự này đã trở nên tương đối dễ đoán. Những người đàn ông Nhân Cách 1 thiên về não trái coi trọng tiền bạc, theo đuổi những công việc đòi hỏi trình độ học vấn cao và khả năng lãnh đạo, và tích cực leo lên nấc thang thứ bậc của xã hội. Trong số các ngành nghề khác, những người đàn ông Nhân Cách 1 đã trở thành giám đốc điều hành kinh doanh, nhân viên ngân hàng, bác sĩ, luật sư, chính trị gia, sĩ quan quân đội, kỹ sư, kế toán, nhà quảng cáo và nhà tiếp thị. Nhóm người này phát triển mạnh mẽ cả về mặt xã hội và tài chính. Họ kết hôn và thường sinh trung bình ba người con, tùy thuộc vào tôn giáo của họ.

Những người đàn ông Nhân Cách 3 bỏ qua giáo dục chính quy đã theo đuổi các công việc lao động chân tay như thợ sửa ống nước, công nhân xây dựng, tài xế xe buýt, thợ cơ khí, thợ lắp ống, công nhân kho và nhà máy, thợ làm khuôn, nông dân, và bất cứ công việc nào liên quan đến xây dựng và vận hành giao thông vận tải. Những người đàn ông này khéo tay và thường làm người học việc dưới sự hướng dẫn của các bậc thầy trong ngành của họ. Lực lượng vũ trang hấp dẫn những người đàn ông Nhân Cách 3, những người coi trọng một nguồn cấu trúc bên ngoài, một cảm giác phiêu lưu và một khoản lương ổn định.

Nhiều phụ nữ Nhân Cách 1 trong những năm 50 và 60 là những người vợ và người nội trợ thành công, vì việc quán xuyến một ngôi nhà đầy trẻ em đòi hỏi khả năng tổ chức con người, địa điểm và lịch trình. Mặc dù theo truyền thống, phụ nữ Mỹ sau chiến tranh sẽ kết hôn và ở nhà với con cái, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là có một nhóm phụ nữ Nhân Cách 1 đặc biệt đã tìm kiếm con đường học vấn và lớn lên độc lập về tài chính và xã hội. Một số công việc ngoài gia đình tốt nhất cho phụ nữ Nhân Cách 1 trong giai đoạn này là giáo viên, thư ký, người tốc ký và y tá.

Mặc dù việc phụ nữ trẻ kết hôn và sinh con vẫn là chuẩn mực xã hội trong những năm 50 và 60, nhưng một số lượng kỷ lục phụ nữ ở Mỹ sau chiến tranh đã nộp đơn ly hôn vào những năm 70. Năm 1963, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Trả lương Công bằng, và năm 1964 là Đạo luật Dân quyền. Tiếp nối những hành động này là luật Title IX năm 1972, bảo vệ quyền được giáo dục bình đẳng giới, và cuộc chiến giới tính bắt đầu. Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, cả nam và nữ đều được vào đại học. Những phụ nữ Nhân Cách 1 có học vấn cao và năng lực bắt đầu tràn vào nơi làm việc và cạnh tranh thành công với các đồng nghiệp nam Nhân Cách 1 của họ cho những vị trí trước đây chỉ dành cho nam giới.

Đến những năm 70, những phụ nữ không theo đuổi con đường đại học cũng tham gia vào lực lượng lao động một cách ồ ạt. Nhiều người trở thành nhân viên phục vụ, công nhân nhà máy, trợ lý y tá, đại diện bán hàng, đại lý du lịch, tiếp viên hàng không, lao động nông nghiệp, nhân viên dịch vụ khách hàng, và/hoặc người chăm sóc trẻ em.

Nhân Cách 4 của người đàn ông Mỹ sau chiến tranh, người coi trọng sự kết nối, cộng đồng, gia đình và sự phục vụ, đã thiết lập và chi phối toàn bộ giai điệu của cuộc sống sau chiến tranh. Những người đàn ông Nhân Cách 4 này là những người có tư duy bao quát, họ suy nghĩ một cách hệ thống và xây dựng một nền kinh tế phản ánh các giá trị của họ. Họ tham gia vào các nỗ lực sau chiến tranh của Công binh Lục quân để xây dựng nền kinh tế, và nhiều người Nhân Cách 4 đã trở thành giáo sư đại học, những người đầu tư vào sự phát triển của những bộ óc trẻ tuổi tài năng. Những người đàn ông này đã cam kết tạo ra cơ sở hạ tầng của vùng ngoại ô nước Mỹ, và họ hoạt động như những mỏ neo vững chắc của bất kỳ hệ thống nào. Cuối cùng, những người đàn ông này đã xây dựng một thế giới thấm đẫm sự đổi mới, các giá trị gia đình và tầm nhìn về một ngày mai tươi sáng.

THẾ HỆ BÙNG NỔ DÂN SỐ: GIẤC MƠ MỸ

Sau Thế chiến II, 77 triệu người thuộc thế hệ Bùng nổ Dân số đã được sinh ra bởi những người Mỹ sau chiến tranh (1946 đến 1964), những người đã ban tặng cho con cái họ tất cả những cơ hội mà chính họ đã không có được. Thế hệ Boomers, mà một số người còn gọi là thế hệ "Tôi", đã nhận được vô số cơ hội và được trấn an rằng họ có thể lớn lên để đạt được Giấc mơ Mỹ bằng cách có và trở thành bất cứ điều gì họ có thể mơ ước. Trong bức tranh lớn của cuộc sống, tất nhiên là nói chung, xã hội rất phong phú về sự đa dạng và sắc thái. Thế hệ Boomers có nhiều của cải hơn bất kỳ thế hệ nào trước đó, và họ đã nhiệt tình nhảy múa qua cuộc đời theo những thông điệp trữ tình của folk rock, tiếng guitar gào thét của rock 'n' roll, và cuối cùng là những dòng bass đảo phách của disco.

Những người lớn tuổi nhất của thế hệ Boomers bước sang tuổi 18 vào năm 1964, và trong khi nhiều người đón nhận giáo dục đại học và luận điệu phản văn hóa của những năm 60, lệnh quân dịch đã gửi nhiều người Boomers không mong muốn vào cuộc chiến ở Việt Nam. Khoảng 200.000 người hippie chính hiệu đã lạc lối trong các loại thuốc gây ảo giác, trong khi 200.000 người khác, quá trẻ để tham gia vào văn hóa ma túy tràn lan, đã say đắm và ngân nga theo những thần tượng tuổi teen và nhạc pop như những fan cuồng tuổi teen. Thế hệ Boomers đón nhận mọi hình thức giải trí, thời trang và chủ nghĩa vật chất. Họ là những người tiêu dùng cực đoan.

Đối với thế hệ Boomers, cái chết của Tổng thống Kennedy vào năm 1963 và việc con người đặt chân lên mặt trăng vào năm 1969 đã ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan của họ. Cũng như Chiến tranh Việt Nam, sự trở về của các cựu chiến binh Việt Nam và việc luận tội Tổng thống Nixon vào năm 1974. Mỗi sự kiện này đều làm gia tăng bất ổn và mất lòng tin chính trị lớn, bên cạnh những gì đã âm ỉ như phong trào dân quyền. Tuy nhiên, ngay cả giữa sự bất ổn xã hội này, vào thời kỳ đỉnh cao của nền kinh tế những năm 70, người Mỹ vẫn tiếp tục tin vào câu chuyện rằng thế hệ Boomers có thể, và nên, đạt được Giấc mơ Mỹ. Những người Boomers thuộc Nhân Cách 1 đã mua nhà, ổn định cuộc sống và theo chân cha mẹ vào nơi làm việc.

Phần lớn các công việc ở Hoa Kỳ dành cho thế hệ Boomers trong những năm 1970 và 80 là trong lĩnh vực sản xuất, cả trên dây chuyền lắp ráp và trong văn phòng quản lý. Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, vốn do các bang điều hành và sau đó được chính phủ liên bang tiếp quản vào năm 1954, đã đào tạo cho thế hệ Boomers ở mọi lứa tuổi các kỹ năng của bán cầu não trái thông qua việc sử dụng các công cụ giảng dạy truyền thống của bán cầu não trái, nhấn mạnh việc ghi nhớ các sự kiện và chi tiết hơn là sự sáng tạo.

Đối với thế hệ Boomers, tỷ lệ dân số học xong bốn năm trung học đã tăng từ 50% lên 70% đối với người da trắng và từ 25% lên 50% đối với người Boomers da đen và các chủng tộc khác, trong khoảng thời gian từ 1964 đến 1980. Do đó, phần lớn việc học của họ là thực hành, dẫn đến một tỷ lệ lớn người Boomers được đào tạo để trở thành những con ong thợ hơn là những nhà tư tưởng phản biện hay độc lập. Hàng triệu người Boomers ở mọi lứa tuổi, chủng tộc và giới tính đã chen chân vào những công việc cần được lấp đầy, và trong những năm 70, các giá trị của lực lượng lao động đã biến đổi thành một nền văn hóa Nhân Cách 1 của bán cầu não trái, ưu tiên thời gian làm việc hơn là thời gian chất lượng ở nhà.

Văn hóa của những năm 70 hoàn toàn xoay quanh chủ nghĩa vật chất, với sự bùng nổ của hiện tượng nhà thiết kế và các thương hiệu tên tuổi. Những người Boomers thuộc Nhân Cách 1 thiên về não trái sẵn sàng dành 60 đến 80 giờ một tuần cho công việc để giành được chiếc đồng hồ đắt tiền hoặc kỳ nghỉ ở Hawaii. Đối với người Boomer, sự cống hiến để hoàn thành tốt công việc và kiếm được những phần thưởng vật chất đã trở nên quan trọng hơn cả việc thiếu ngủ. Họ đã học cách coi quầng thâm dưới mắt như những tấm huy chương danh dự, và họ là nhóm người đầu tiên đặt giá trị cao hơn vào phần thưởng vật chất bên ngoài của Nhân Cách 1 so với giá trị của Nhân Cách 4 về các mối quan hệ giữa các cá nhân và gia đình. Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ ly hôn đạt mức kỷ lục trong thời gian này.

Những người Mỹ lớn tuổi cũng như thế hệ Boomers đều được đào tạo bởi một hệ thống giáo dục sử dụng các công cụ giảng dạy của bán cầu não trái để dạy các kỹ năng của bán cầu não trái, nhưng vì những người Mỹ lớn tuổi vẫn coi trọng sự sáng tạo của bán cầu não phải và các mối quan hệ chất lượng, họ đã xây dựng một xã hội và nền kinh tế cân bằng hơn giữa các cấu trúc giá trị của Nhân Cách 1 của bán cầu não trái và Nhân Cách 4 của bán cầu não phải. Những người Mỹ lớn tuổi đã xây dựng một thế giới bằng kỹ năng tổ chức của bán cầu não trái, nhưng họ điều hành cộng đồng và gia đình dựa trên các giá trị của Nhân Cách 4 của bán cầu não phải.

Thế hệ Boomers, những người được nuôi dưỡng trong những gia đình tử tế và chu đáo của Nhân Cách 4 của những người Mỹ lớn tuổi, đã đưa ra một lựa chọn, có lẽ là một lựa chọn vô thức, để dẫn dắt cuộc sống của họ và thế giới với cảm giác nghiễm nhiên được hưởng những gì họ có thay vì lòng biết ơn đối với những gì họ đã nhận được. Khi thế hệ Boomers chuyển sang coi trọng Nhân Cách 1 hơn Nhân Cách 4, họ đã bắt tay vào việc tạo ra một xã hội do Nhân Cách 1 thống trị mà chúng ta đang sống ngày nay.

Kết quả là, giá trị bản thân của chúng ta bây giờ được đo bằng những gì chúng ta có chứ không phải bằng con người chúng ta là ai. Trong bức tranh lớn, lòng tốt, lòng trắc ẩn, sự trung thực, cởi mở và việc coi trọng các mối quan hệ lành mạnh của bán cầu não phải của chúng ta đã bị hy sinh, thay thế bằng cuộc chạy đua của bán cầu não trái để có được ngôi nhà lớn, chiếc thuyền và chiếc xe hơi. Và tất nhiên, người vợ/chồng cũ khi không còn phù hợp nữa thì chúng ta sẽ cần tìm một người mới.

THẾ HỆ X: NHỮNG ĐỨA TRẺ CẦM CHÌA KHÓA

Sau thế hệ Boomers, một nhóm người tương đối nhỏ nhưng quan trọng đã được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1976: thế hệ X (Gen X). Bạn có nhớ số lượng kỷ lục những phụ nữ Nhân Cách 1 lớn tuổi ở Mỹ đã nộp đơn ly hôn vào những năm 70 không? Thêm vào nhóm đó tỷ lệ cao các cặp vợ chồng trở thành gia đình có hai thu nhập khi ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động, và bạn sẽ có một thế hệ trẻ em Gen X lớn lên mà không có ai ở nhà khi chúng đi học về. Những đứa trẻ cầm chìa khóa, như cách chúng được đặt biệt danh, sẽ tự làm việc nhà, hoàn thành bài tập và cho các em nhỏ ăn. Với tư cách là một thế hệ, chúng đã phát triển ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm và sự độc lập của Nhân Cách 1 từ khi còn rất nhỏ.

Mặc dù ly hôn là một điều khó khăn đối với gia đình, nhưng nó lại là một tác nhân kích thích tuyệt vời cho nền kinh tế. Phụ nữ ly hôn đã thúc đẩy ngành ngân hàng bằng cách mở tài khoản của riêng họ, và các gia đình đã phải mua hai món cho cùng một thứ vì Bố và Mẹ giờ đã sống ở những nơi riêng biệt. Trẻ em Gen X bị đưa đi đưa lại giữa hai thế giới khác nhau của cha mẹ. Những đứa trẻ này đã được rèn luyện để trở nên kiên cường, linh hoạt và là những nhà tư tưởng độc lập của Nhân Cách 1.

Từ khi còn nhỏ, trẻ em Gen X đã được cho các thiết bị điện tử nhiều hơn là sự quan tâm. Thiết bị giáo dục cầm tay Speak & Spell đã được giới thiệu cho trẻ em Gen X vào cuối những năm 70, và ngành công nghiệp trò chơi điện tử đã chiếm lĩnh thế giới vào đầu những năm 80. Những đứa trẻ này được nuôi dưỡng để trở nên sành sỏi về công nghệ, và chúng luôn sẵn sàng chinh phục những thiết bị cơ khí tiếp theo. Chúng trở thành những bậc thầy Nhân Cách 1 của bất cứ thứ gì có điều khiển từ xa, và thường dạy cha mẹ và ông bà cách lập trình đầu máy VCR, đôi khi trước cả khi chúng đủ tuổi để đọc.

Tuy nhiên, ngoài kiến thức công nghệ Nhân Cách 1 của họ, những đứa trẻ Gen X này đã sử dụng các công cụ hình ảnh của não phải qua máy tính và trò chơi điện tử để học các kỹ năng của não trái như đọc và toán, và điều này cuối cùng đã cách mạng hóa sự tiến hóa của bộ não của chúng. Có một sự khác biệt rất lớn giữa cách bán cầu não trái và phải học tài liệu mới. Ví dụ, bạn có thể rèn luyện bán cầu não trái của mình về bảng cửu chương thông qua việc học thuộc lòng bằng cách hỏi 4 X 3 bằng bao nhiêu, hoặc bạn có thể rèn luyện bán cầu não phải làm cùng một phương trình bằng cách hiển thị hình ảnh của 4 con khỉ + 4 con voi + 4 con đà điểu. Kết quả của loại hình đào tạo não phải này thông qua việc sử dụng trò chơi và máy tính, thế hệ Gen X đã học cách suy nghĩ không gian và trực quan hơn so với thế hệ Boomers, G.I., hay Im Lặng.

Hơn nữa, nền giáo dục mà thế hệ Gen X nhận được không chỉ qua các bài học từ các công cụ và trò chơi công nghệ mà họ học cách sử dụng, mà còn qua sự quyết tâm tuyệt đối mà họ thể hiện khi tìm hiểu cách làm cho công nghệ hoạt động ngay từ đầu. Những đứa trẻ này đã trở thành những nhà thám hiểm và học được từ khi còn nhỏ cách mày mò và nhấn các nút theo kiểu thử và sai, trong nỗ lực tìm ra cách để các trò chơi điện tử hoạt động. Các thế hệ trước, bao gồm cả thế hệ Boomers, thường sợ hãi khi nhấn ngẫu nhiên một loạt các nút vì sợ rằng họ sẽ làm hỏng máy hoặc mất dữ liệu. Hai nhóm dân số này hoàn toàn khác nhau không chỉ trong cách họ cảm nhận về công nghệ mà còn trong cách họ sử dụng nó. Thế hệ Boomers sẵn sàng tìm hiểu về các hệ thống và chương trình, nhưng chủ yếu là vì họ muốn sử dụng công nghệ để làm lợi cho mình. Thế hệ Gen X phát triển mạnh nhờ công nghệ, và ngoài việc trở thành bậc thầy của các cỗ máy, họ còn lập trình và tạo ra các công dụng mới cho những cỗ máy đó.

Điều này có ý nghĩa gì ở cấp độ bộ não là một sự thay đổi đáng kể trong cách chúng ta đang rèn luyện con cái mình suy nghĩ. Vào giữa những năm 90, trẻ em Gen X ở Hoa Kỳ đã sử dụng các công cụ học tập như hệ thống đào tạo giáo dục LeapFrog để học đọc. Do đó, chúng đang học cách sử dụng đồng thời cả hai nửa bộ não của mình một cách có tính xây dựng. Vào thời điểm Internet ra đời vào năm 1993, thế hệ Gen X đã nóng lòng và háo hức lao vào thế giới công nghệ mới đầy thú vị.

Khi thế hệ Gen X trưởng thành, nhìn chung, họ không tán thành các giá trị của thế hệ Boomers, họ xem cái gọi là nấc thang thành công là con đường hủy hoại gia đình họ. Trong mắt nhiều người Gen X, thế hệ Boomers là những người hời hợt, coi trọng tên thương hiệu và giá trị tài sản hơn là mối quan hệ của họ với mọi người. Thế hệ Boomers quan tâm đến vị trí của họ trong bầy đàn, trong khi thế hệ Gen X không muốn liên quan gì đến bầy đàn, và họ coi thường với bất kỳ người Boomer nào cố gắng mua chuộc họ.

Cũng như thế hệ Boomers theo đuổi yếu tố "WOW, hãy nhìn xem tôi có bao nhiêu thứ này", thế hệ Gen X lại theo đuổi yếu tố "WHOA, hãy nhìn xem tôi khác biệt và độc đáo thế nào này". Thế hệ Gen X là những cá nhân, và văn hóa của những năm 80 và 90 cũng mang tính cá nhân chủ nghĩa để phù hợp. Mọi thứ đều lớn và táo bạo, với các môn thể thao mạo hiểm và mái tóc đồ sộ, và grunge là phong cách thời trang. Các ban nhạc rock phát triển mạnh, và MTV là một hiện tượng toàn cầu đã nói chuyện trực tiếp với trái tim và tâm trí của thế hệ này theo một cách mà không có gì khác có thể làm được. Phấn mắt nhiều màu bổ sung cho quần áo neon, và ít thanh niên nào có giờ giới nghiêm vì không có ai ở nhà để giám sát họ. Đối với thế hệ này, cửa hàng cho thuê băng video không chỉ trở thành nơi tụ tập mà còn là nguồn giải trí chính.

Ngay cả khi thế hệ Gen X phát triển Nhân Cách 1 mạnh mẽ, Nhân Cách 3 sáng tạo và khám phá của họ đã đưa thể thao, và mọi thứ khác, đến mức cực đoan. Thế hệ Gen X được nuôi dưỡng bằng các trò chơi điện tử như Pong, Pac-Man và nhiều phiên bản kế nhiệm của chúng, đây là những trò chơi mang lại phần thưởng thăng cấp cho một công việc được hoàn thành tốt. Do đó, nhóm Gen X này đã học được thông qua chơi game rằng nếu họ tạo ra sự hợp tác giữa Nhân Cách 1 có trật tự và tư duy độc lập của họ và Nhân Cách 3 sáng tạo và đổi mới của họ, họ có thể đạt được thành quả lớn. Bằng cách này, thế hệ Gen X đã trau dồi khả năng cá nhân của mình để thăng tiến, thăng tiến, thăng tiến.

Vào thời điểm thế hệ Gen X thành thạo máy tính này tốt nghiệp đại học và gia nhập lực lượng lao động, Nhân Cách 1 của họ đã tiến bộ đến mức trong tư duy độc lập đến nỗi họ không phù hợp với khuôn khổ của thế giới Boomer yêu cầu họ phải làm thêm nhiều giờ và tuân theo một thói quen cứng nhắc. Thay vào đó, thế hệ Gen X đã tạo ra văn phòng tại nhà và lập trình máy tính của họ để tự động hóa những gì họ cho là hệ thống dựa trên người lao động đã lỗi thời. Thế hệ này tận hưởng sự độc lập của mình và có xu hướng sinh con muộn hơn cha mẹ của họ, và thời gian làm việc linh hoạt tại văn phòng đã trở thành một lựa chọn quan trọng tại nơi làm việc cho các bà mẹ Gen X trẻ tuổi.

Mặc dù thế hệ Gen X được nuôi dưỡng để tin rằng sở hữu một ngôi nhà là một ý tưởng tốt, nhưng không giống như cha mẹ của họ, họ có xu hướng sống dựa vào tiền lương tháng và tiêu nhiều tiền vào các cuộc phiêu lưu. Thế hệ Gen X bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi vụ ám sát John Lennon vào năm 1980 và vụ bắn Tổng thống Reagan vào năm 1981. Năm 1986, vụ nổ tàu con thoi Challenger đã làm rung chuyển thế giới đang hình thành của họ, và vụ bê bối tiết kiệm và cho vay đã củng cố sự thiếu tin tưởng của họ vào hệ thống. Nhóm Gen X này vẫn cam kết với sức mạnh của chủ nghĩa cá nhân Nhân Cách 1 của họ hơn là sức mạnh thế hệ tập thể của họ. Do đó, nhóm này vẫn thận trọng trong việc cam kết với các yêu cầu tài chính của Giấc mơ Mỹ.

Sau này, vào năm 2008 khi các ngân hàng Hoa Kỳ dễ dãi trong việc cho vay thế chấp và các khoản vay mà không có đủ tín dụng hoặc tài sản thế chấp, một số người Gen X đã bị cuốn vào vòng xoáy mua bất động sản và sống vượt quá khả năng của mình. Khi cuộc Đại Suy thoái năm 2008–2009 ập đến, nhiều người trong số những người Gen X này đã mất nhà cửa, cũng như sự an toàn tài chính của các quỹ 401(k) của họ. Điều đó có nghĩa là nhiều người Gen X, đã là người lớn ở độ tuổi cuối 20, 30, hoặc thậm chí hơn, đã phải dọn về sống chung với cha mẹ, và lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, việc chung sống nhiều thế hệ đã trở thành một chuẩn mực.

THẾ HỆ THIÊN NIÊN KỶ: MỌI NGƯỜI VÌ MỘT NGƯỜI, MỘT NGƯỜI VÌ MỌI NGƯỜI

Thế hệ Boomers và Gen X đã sinh ra 83,5 triệu người thuộc thế hệ Thiên niên kỷ (Millennials) trong khoảng thời gian từ 1977 đến 1996. Chưa bao giờ có một khoảng cách thế hệ dựa trên cơ sở sinh học lớn hơn khoảng cách giữa bộ não của thế hệ Thiên niên kỷ và bộ não của cha mẹ Boomer của họ. Mặc dù thế hệ Gen X lớn lên với công nghệ và sự phát triển của Internet, nhưng về mặt môi trường, họ đã phải hòa hợp bản chất toàn não của mình vào thế giới và lực lượng lao động do Nhân Cách 1 của bán cầu não trái thống trị mà thế hệ G.I. và Boomer đã thiết lập.

Trên quy mô rộng, hàng triệu người thuộc thế hệ Thiên niên kỷ là những đứa trẻ sơ sinh đầu tiên của loài người chia sẻ chiếc nôi của mình với một chú gấu hoạt hình có tên là Teddy Ruxpin. Kết quả là, đối với một số lượng lớn người thuộc thế hệ Thiên niên kỷ, người bạn đồng hành thường xuyên đầu tiên của họ là một chú gấu điện tử, hoạt động bằng pin, trở thành người xoa dịu cảm xúc và điều hòa thần kinh của họ. Nói cách khác, chuẩn mực xã hội vào thời điểm thế hệ Thiên niên kỷ ra đời là mối quan hệ quan trọng đầu tiên của họ sẽ là với các thiết bị điện tử, và điều này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến họ trong suốt phần đời còn lại.

Từ góc độ thần kinh học, thế hệ Thiên niên kỷ đã được nuôi dưỡng từ khi sinh ra bằng một công nghệ dạy cả các bộ kỹ năng tư duy và cảm xúc của bán cầu não trái và phải thông qua các kỹ thuật và công cụ học tập của bán cầu não phải là máy tính. Mức độ hòa nhập giữa thế hệ Thiên niên kỷ và công nghệ tương đối liền mạch. Những đứa trẻ này là thế hệ đầu tiên sử dụng máy tính ở nhà để học tập cũng như ở trường. Bán cầu não trái của chúng được rèn luyện cách sử dụng và tìm hiểu công nghệ, trong khi các trò chơi và công cụ giảng dạy ba chiều đã làm cho việc học trở nên vui vẻ và thú vị theo một cách mà các kỹ thuật truyền thống như sách vở và học thuộc lòng không thể cạnh tranh được.

Nhờ có thế hệ Gen X, thế hệ Thiên niên kỷ được giáo dục bằng não phải đã có cơ hội lớn lên trong một môi trường chào đón hơn một chút đối với cách suy nghĩ và tồn tại toàn não. Do đó, thế hệ Thiên niên kỷ đã phần nào tự do hơn để phát triển dựa trên cấu trúc giá trị của Nhân Cách 3, mặc dù họ cũng có Nhân Cách 1 mạnh mẽ làm dự phòng. Bởi vì thế hệ Thiên niên kỷ dẫn dắt bằng các giá trị Nhân Cách 3 của họ, vốn rất khác biệt so với các giá trị Nhân Cách 1 truyền thống của cha mẹ Boomer của họ, có một sự căng thẳng thú vị và chưa từng có giữa hai nhóm này trong môi trường làm việc. Do đó, các thế hệ G.I. và Boomer trong môi trường làm việc truyền thống đang phải vật lộn để tìm ra cách hoặc là thúc đẩy những người Thiên niên kỷ não phải này hoặc là bắt họ phải nhảy qua những vòng tròn của bán cầu não trái để hoàn thành công việc.

Trong khi hầu hết những người Boomer trụ cột gia đình thuộc Nhân Cách 1 thiên về não trái đều bận rộn với công việc và hiếm khi ở nhà, thì những bậc cha mẹ Boomer ở nhà, dù là nam hay nữ, đều xoay toàn bộ lịch trình của mình quanh việc quản lý lịch xã hội của những đứa con Thiên niên kỷ nhỏ tuổi bằng cách đưa đón chúng đến mọi nơi. Những bậc cha mẹ Boomer này, những người đã thời gian rảnh rỗi và không có người trông coi khi họ còn trẻ, giờ đây lại giám sát bảo vệ con cái của chính họ. Những biện pháp bảo vệ quá mức này đã nuôi dưỡng một nhóm trẻ em Thiên niên kỷ Nhân Cách 3 của não phải lo lắng, những người không có thời gian không bị giám sát của.

Do đó, thế hệ này gần như không thể phát triển đầy đủ ý thức an toàn của riêng mình trên thế giới. Tương ứng với bản chất não phải của họ, nhiều người Thiên niên kỷ lớn lên với cảm giác rằng họ không có quyền kiểm soát cuộc sống của mình. Khi trưởng thành, nhiều người Thiên niên kỷ hiện hoạt động theo một nhóm cùng Nhân Cách 3 của não phải thay vì hoạt động như những cá nhân Nhân Cách 1 vì họ cảm thấy an toàn hơn khi là một phần của tập thể.

Với tư cách cha mẹ, thế hệ Boomer sinh ra ý tưởng tốt. Mặc dù nhiều người trong số họ muốn con cái Thiên niên kỷ phát triển não trái và tham gia vào sự cạnh tranh lành mạnh, họ cũng không muốn bất kỳ đứa trẻ nào cảm thấy bị bỏ rơi hay kém cỏi. Để bù đắp và làm dịu đi nỗi thất vọng khi thua cuộc, cha mẹ, đội nhóm và nhà trường bắt đầu trao cho trẻ Thiên niên kỷ những dải ruy băng hay phần thưởng chỉ vì các em đã thử làm điều gì đó mới. Não phải của chúng ta coi trọng sự gắn kết của tập thể, khác với lối suy nghĩ kiểu được – thua của não trái. Cha mẹ Boomer muốn con cái Thiên niên kỷ nhận ra rằng chúng có giá trị, bất kể vị trí của chúng ở đâu trong tập thể khi so về thành tích.

Cách đối xử với mọi người như những người chiến thắng này càng khuyến khích trẻ em Thiên niên kỷ nhận thức bản thân là bình đẳng, giống nhau và là một phần của một tập thể chung của những người não phải. Điều đó cũng dạy chúng rằng tất cả những gì chúng phải làm là có mặt và xuất hiện là chúng sẽ được thưởng. Sự nuông chiều này có nghĩa là thế hệ Thiên niên kỷ không có cơ hội phát triển các phản ứng Nhân Cách 2 của bán cầu não trái một cách phù hợp và lành mạnh đối với những thành công và thất bại của họ. Đồng thời, nó gần như đã giết chết động lực cạnh tranh Nhân Cách 1 của bán cầu não trái, điều cần thiết nếu bạn hy vọng cạnh tranh trong một môi trường làm việc truyền thống.

Thực tế, môi trường làm việc truyền thống không phải là một nơi thoải mái cho những người Thiên niên kỷ não phải này. Nhiều doanh nhân Nhân Cách 1 thuộc thế hệ cũ của bán cầu não trái chưa bao giờ thấy ai giống như họ. Và thẳng thắn mà nói, họ có rất ít ý tưởng về cách thúc đẩy thế hệ này hoặc làm thế nào để họ ở lại để hoàn thành công việc. Đối với giới lãnh đạo lớn tuổi, thế hệ Thiên niên kỷ dường như không đủ khao khát để chịu đựng vì những công việc được trả lương cao hơn. Điều này một phần là đúng, bởi vì thế hệ Thiên niên kỷ không bị thúc đẩy bởi tiền bạc hoặc không quan tâm đến việc bỏ ra nhiều giờ làm việc vất vả để kiếm tiền. Nếu họ không hài lòng với công việc của mình, họ sẽ rời bỏ nó và đi tìm một công việc khác mà họ thích hơn.

Ở nơi làm việc, cam kết của thế hệ Thiên niên kỷ là với trải nghiệm của khoảnh khắc hiện tại hơn là với công việc. Họ là những người sáng tạo, vì vậy thay vì bảo họ phải làm gì, họ muốn bạn đưa ra một vấn đề và sau đó tin tưởng họ sẽ tự tìm ra giải pháp. Thế hệ Thiên niên kỷ là những pháp sư sáng tạo với công nghệ, và họ suy nghĩ theo hệ thống. Ví dụ, trong một môi trường làm việc truyền thống do các thế hệ cũ điều hành, có thể có 1.000 công việc do con người thực hiện được điều hành bởi 10 nhà quản lý là con người. Trong thế giới của thế hệ Thiên niên kỷ, có thể có 1.000 máy móc làm việc với 10 người quản lý thuộc thế hệ Thiên niên kỷ viết mã máy tính.

Vì cam kết của bán cầu não phải của thế hệ Thiên niên kỷ là với trải nghiệm chứ không phải với công ty họ làm việc, họ có thể gắn bó với một công việc trong hai đến ba năm và sau đó chuyển sang trải nghiệm tiếp theo trên hành trình của mình. Trong các công ty thiên về não trái do các thế hệ cũ điều hành, sự thiếu cam kết này đối với một tổ chức thường được coi là ý thức trung thành kém hoặc thiếu lòng trung thành với công ty. Nhưng đối với những người Thiên niên kỷ tự điều hành công ty, sự thay đổi ổn định và có thể dự đoán này của lực lượng lao động là một ý tưởng tốt. Họ thích khi có những người mới tham gia vào nhóm của họ, vì họ mang lại những hiểu biết, ý tưởng và bộ kỹ năng mới cho tổ chức. Sau đó, khi họ rời đi, một vị trí trong nhóm sẽ mở ra cho một người mới với những ý tưởng mới mẻ. Thế hệ Thiên niên kỷ coi sự tạm thời này của thế hệ họ là một điều tích cực, và họ hiểu rõ điểm mạnh của chính mình.

Đúng với các giá trị Nhân Cách 3 của họ, thế hệ Thiên niên kỷ thể hiện mức độ vui vẻ và hài lòng cao khi làm việc theo nhóm. Họ thích cùng nhau đưa ra quyết định, nhưng nhìn chung, Nhân Cách 2 của họ không được phát triển tốt và do đó họ rất nhạy cảm. Kết quả là, thế hệ Thiên niên kỷ có xu hướng coi những lời chỉ trích như một sự xúc phạm cá nhân hơn là sự hướng dẫn mang tính xây dựng. Việc tạo ra các mối quan hệ lành mạnh trong một môi trường làm việc đòi hỏi tự lực cánh sinh không hề dễ dàng đối với những tâm hồn mỏng manh này.

Đối với những người Thiên niên kỷ đang điều hành doanh nghiệp của riêng mình, họ nhận thấy sự khác biệt trong phong cách lãnh đạo não phải của họ là một phong cách lãnh đạo bằng tình yêu thương thay vì lãnh đạo bằng tâm lý chỉ huy và kiểm soát dựa trên nỗi sợ hãi của bán cầu não trái. Thế hệ Thiên niên kỷ lãnh đạo bằng lòng trắc ẩn và khoan dung khi mọi người mắc lỗi.

Khi nói đến việc tìm kiếm việc làm, thế hệ Thiên niên kỷ có những nguyên tắc chỉ đạo về những gì họ muốn đạt được, và họ đi tìm một công việc phù hợp với những giá trị đó. Không giống như các thế hệ cũ, thế hệ Thiên niên kỷ ít bị thúc đẩy bởi tác động mà Nhân Cách 1 của bán cầu não trái của họ có thể tạo ra trên thế giới và bị thúc đẩy nhiều hơn bởi một công việc phù hợp với sở thích và kỹ năng của Nhân Cách 3 của bán cầu não phải. Ở một thời điểm nào đó, có lẽ giống như tất cả các thế hệ, những đứa trẻ này đã được bảo rằng để thành công và đạt được thành tích cao, chúng cần phải chịu đựng. Chỉ có điều thế hệ Thiên niên kỷ Nhân Cách 3 là thế hệ đầu tiên chống lại hệ thống đó và không mua những gì mà Nhân Cách 1 của bán cầu não trái đang bán. Thế hệ Thiên niên kỷ muốn làm những gì họ muốn làm, và họ muốn làm theo cách của họ. Họ không sẵn sàng ở lại một công việc mà họ ghét và thỏa hiệp bản thân theo cách mà các thế hệ cũ đã làm.

Thế hệ Thiên niên kỷ biết về sự kết nối và cách làm việc với người khác, và họ hiểu rằng các mối quan hệ là hạt nhân của bất kỳ doanh nghiệp nào. Khi phong cách lãnh đạo là sự thống trị, các mối quan hệ rất mong manh, nhưng khi mọi người cảm thấy được hỗ trợ, họ sẽ nỗ lực vượt bậc để thực hiện công việc. Thế hệ Thiên niên kỷ đã nhận ra rằng bạn có thể vừa yêu thương vừa có trách nhiệm cùng một lúc, ngay cả ở nơi làm việc, bằng cách tạo ra một môi trường mà mọi người đều có thể phát triển.

Trẻ em thế hệ Thiên niên kỷ lớn lên trong một thế giới hoàn toàn khác với bất cứ điều gì chúng ta đã biết trước đây. Năm 2001, những người Thiên niên kỷ trẻ tuổi đã sống qua các cuộc tấn công khủng bố 11/9 và chứng kiến sự buồn bã, trầm cảm và sợ hãi bao trùm lên tất cả những người họ yêu thương và kính trọng. Thế hệ Thiên niên kỷ đã sớm học được rằng thế giới là một nơi nguy hiểm, và cảm giác này càng được củng cố khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 2008 và nhiều gia đình mất cả nhà cửa và sự an toàn tài chính. Sự bất ổn này trong cuộc sống của cha mẹ họ càng làm gia tăng sự lo lắng của thế hệ Thiên niên kỷ, và một số lượng chưa từng có trong số họ hiện đang phụ thuộc vào thuốc chống lo âu và/hoặc thuốc chống trầm cảm như một chuẩn mực đối phó của họ. Hơn nữa, một số lượng kỷ lục người Thiên niên kỷ hiện đang lạm dụng thuốc theo toa, điều này đang thúc đẩy đại dịch opioid hiện nay.

Những đứa trẻ này lớn lên với cảm giác lo âu và nguy hiểm luôn thường trực. Đồng thời, chúng cũng được nuôi dạy để tin rằng mình có thể làm và trở thành bất cứ điều gì. Nhưng thật khó để chúng nhận ra rằng trong xã hội này, điều đó đơn giản là không đúng. Không chỉ bị cha mẹ kiểm soát quá mức, không có cơ hội tự tìm hiểu thế giới, chúng còn lớn lên cùng với mạng xã hội. Cộng thêm những phần thưởng mang tính khích lệ tham gia, tất cả đã rèn cho chúng thói quen dựa vào sự công nhận từ bên ngoài để xác định giá trị bản thân. Cha mẹ Boomer đánh giá giá trị của mình qua việc so sánh với hàng xóm, trong khi thế hệ Thiên niên kỷ lại dựa vào số lượng “bạn bè, lượt thích và lượt nhấp” mà họ nhận được trên các nền tảng mạng xã hội.

Thế hệ Thiên niên kỷ gắn bó với công nghệ của họ như thể nó là một phần cơ thể của họ, và khi bị tách khỏi nó, họ trải qua cảm giác cai nghiện dữ dội và sự lo lắng của họ tăng vọt. Thế hệ Thiên niên kỷ nhận tin tức từ mạng xã hội, ứng dụng CNN, Twitter, NPR và bất kỳ ứng dụng nào khác có sức hấp dẫn. Họ sử dụng công nghệ của mình để gửi các tin nhắn ngắn qua văn bản hoặc Twitter, và họ gửi các đoạn video ngắn qua TikTok hoặc các hình thức nhắn tin khác như Instagram. Nếu bạn là một người Mỹ lớn tuổi dựa vào các cuộc trò chuyện qua điện thoại với cháu chắt Thiên niên kỷ của mình để cập nhật những gì đang diễn ra trong cuộc sống của chúng, bạn có thể muốn thử FaceTime, Zoom hoặc Skype để có kết nối nhanh hơn và dễ dàng hơn.

Không giống như các thế hệ cũ, thế hệ Thiên niên kỷ đã lớn lên quá đắm chìm trong thế giới công nghệ đến nỗi họ thấy bình thường với ý tưởng rằng các ứng dụng điện thoại của họ không chỉ theo dõi họ mà còn lấy và bán dữ liệu của họ. Những đứa trẻ này thậm chí không bận tâm khi biết rằng có những camera ẩn ở khắp mọi nơi, và rằng chúng ta đang sống trong một xã hội mà họ không có sự riêng tư thực sự. Đối với thế hệ Thiên niên kỷ, đây là chuẩn mực mà họ sinh ra đã có, và họ cảm thấy thoải mái với nó bởi vì đối với họ, "Mọi chuyện luôn là như vậy."

Thế hệ Thiên niên kỷ là một thế hệ rất duyên dáng, sáng tạo, những người vốn là nghệ sĩ trong tâm hồn và trung thành với các giá trị của não phải. Họ thực sự quan tâm đến việc tách cà phê của mình trông phải giống như một tác phẩm nghệ thuật. Đây là một nhóm người thông minh. Nhiều người trong số họ thường xem các buổi nói chuyện TED để hiểu biết thêm về tình hình thế giới, và họ rất chú trọng đến việc mình có thể đóng góp như thế nào cho sức khỏe và hạnh phúc của nhân loại. tThế hệ Thiên niên kỷ muốn làm việc cho một công ty làm việc theo nhóm, quan tâm đến cộng đồng và sẵn sàng cho họ nghỉ một ngày để tham gia hoạt động thiện nguyện. Tuy nhiên, phần thưởng lớn nhất đối với họ là khi có thể chia sẻ việc tốt của mình lên mạng xã hội, bởi điều quan trọng là bạn bè phải biết họ đang làm gì. Điều khó khăn nhất với thế hệ Thiên niên kỷ là cảm giác bị cô đơn, không hòa nhập được với nhóm xã hội mà họ mong muốn. Với một Millennial đã lớn lên cùng sự đồng hành thường trực của công nghệ, việc bị tách biệt có thể gây ra mức độ lo âu và trầm cảm rất cao, cuối cùng dẫn đến tình trạng lạm dụng chất kích thích và tự tử như hiện nay. Cũng giống như các nơ-ron cần được kết nối chặt chẽ với mạng lưới các nơ-ron khác, Millennials phát triển mạnh mẽ khi họ có được những kết nối lành mạnh với người khác.

THẾ HỆ Z: BẢN CHẤT LÀ CÔNG NGHỆ

Tiếp theo sau thế hệ Thiên niên kỷthế hệ Z (sinh từ 1997 đến 2010), thường là con của thế hệ X có tư duy độc lập mạnh mẽ. Thế hệ trẻ Z này thậm chí còn toàn não và độc lập hơn cả cha mẹ của họ, vì một số lý do. Thứ nhất, những đứa trẻ này được thế hệ X nuôi dưỡng để có Nhân Cách 1 hoạt động hiệu quả cao. Thứ hai, thế hệ Z được dạy bằng các công cụ học tập của bán cầu não phải, dẫn đến tư duy toàn não mạnh mẽ. Và thứ ba, cũng như thế hệ X đã phải hòa trộn tư duy toàn não sành sỏi công nghệ của mình vào cơ cấu của thế hệ Boomers do bán cầu não trái thống trị, thế hệ Z đang hòa trộn tư duy toàn não của mình vào thế giới do bán cầu não phải thống trị của thế hệ Thiên niên kỷ. Kết quả là, thế hệ Z là thế hệ toàn não đầu tiên, cả về mặt sinh học và văn hóa.

Tương tự như thế hệ Thiên niên kỷ, thế hệ Z đã được nuôi dưỡng hoàn toàn gắn bó với công nghệ ngay từ trong nôi, và nhiều người trong số họ đã nói ngôn ngữ của Google từ rất lâu trước khi họ nói tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, không giống như thế hệ Thiên niên kỷ phát triển mạnh theo nhóm và muốn trở thành một phần của mạng xã hội, thế hệ Z tự chủ hơn về mặt xã hội và thích tương tác với công nghệ của họ hơn là với nhau.

Đi xa hơn một bước để nhận ra rằng thế hệ Z thực sự coi mối quan hệ của họ với công nghệ như một phần mở rộng của chính họ, vì họ tích hợp một cách có ý thức các công cụ công nghệ vào sinh lý của các thói quen hàng ngày của họ. Có những ứng dụng điện thoại sẽ theo dõi các chỉ số sinh tồn của họ, đếm số bước chân, đếm nhịp thở mỗi phút, theo dõi giấc ngủ, làm chậm nhịp tim, giảm lo lắng và làm họ phân tâm theo bất kỳ cách nào bạn có thể tưởng tượng. Ứng dụng điện thoại sẽ cho họ biết nên ăn gì, khi nào họ đã đạt đến giới hạn thời gian hàng ngày dành cho mạng xã hội, và khi nào đến giờ đi ngủ — và sau đó họ có những ứng dụng sẽ phát nhạc sóng delta để giúp họ tăng chất lượng giấc ngủ.

Khi tất cả những điều này xảy ra và giới trẻ của chúng ta trở nên tự động hóa và được điều hòa thần kinh bởi công nghệ của họ, khoảng cách giữa chúng ta ngày càng lớn. Những đứa trẻ này, và thế hệ Alpha sẽ theo sau, là độc nhất về mặt thần kinh khi so sánh với tư duy, giá trị và hành động truyền thống của thế hệ G.I. và Boomer. Trong vòng một thế kỷ, sự thống trị và các giá trị của bộ não chúng ta đã thay đổi, và mặc dù chúng ta đã biết trong nhiều thập kỷ rằng sự tiếp xúc của con người với những người khác giúp chúng ta xây dựng các mạng lưới thần kinh khỏe mạnh hơn, nhưng công nghệ đang gây ra một sự mất kết nối nghiêm trọng giữa chúng ta.

Mặc dù chúng ta có thể sử dụng công nghệ để tăng tần suất giao tiếp với người khác, nhưng nó không mang lại tia lửa kết nối của con người vốn kích thích bộ não của chúng ta một cách tích cực. Con người chúng ta được lập trình để trở thành những sinh vật xã hội, và mối quan hệ của chúng ta với công nghệ đang làm tổn hại đến sức khỏe của chúng ta. Nghiên cứu về tỷ lệ cô đơn ở các thế hệ khác nhau cho thấy mối tương quan trực tiếp giữa mức độ sử dụng công nghệ cao và mức độ cô đơn tự báo cáo cao hơn. Thế hệ G.I. và Boomers, những người không lớn lên với mối quan hệ thường xuyên với điện thoại, máy tính bảng và máy tính, có mức độ cô đơn thấp hơn so với các thế hệ trẻ hơn có cuộc sống đắm chìm trong công nghệ. Ngoài ra, các vấn đề về ranh giới không lành mạnh xung quanh việc sử dụng công nghệ liên tục đã trở thành lời phàn nàn số một của các cặp vợ chồng và gia đình tìm đến liệu pháp. Thêm vào đó là tác động chưa được biết đến của bức xạ điện từ đối với các hệ thống sinh học của chúng ta, và công nghệ đang bắt đầu trông giống như một con tàu mất lái không có người điều khiển.

Năm 2001, khi những đứa trẻ toàn não thuộc thế hệ Z của chúng ta còn rất nhỏ, hoặc thậm chí chưa được sinh ra, Hoa Kỳ đã trải qua chấn thương xã hội và hậu quả PTSD của vụ 11/9. Cộng thêm cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khi kỳ nghỉ ở Disney thu hẹp thành kỳ nghỉ tại nhà, và những đứa trẻ này đã nhanh chóng học được rằng thế giới là một nơi nguy hiểm và Nhân Cách 2 của chúng có lý do chính đáng để chìm trong sợ hãi. Thêm vào đó là sự chia rẽ chính trị đã trở thành một phần của lời lẽ hàng ngày của chúng ta, và không có gì ngạc nhiên khi chúng ta đang bị cuốn vào giữa một đại dịch quá liều ma túy và tự tử, đặc biệt là trong số các thế hệ trẻ hơn này, những người không cảm thấy mình là những thành viên có giá trị trong mạng lưới con người của chúng ta.

Nếu như vậy vẫn chưa đủ, hãy đặt những đứa trẻ này vào giữa đại dịch Covid-19 năm 2020, và có thể hiểu được vì sao chúng trở nên có phần “hoang dã”. Kết quả là, giống như Millennials, Gen Z dành rất nhiều thời gian để vận hành phản ứng “chiến đấu hoặc bỏ chạy” và không tích lũy nhiều tài sản. Thay vì an cư hay mua nhà, thế hệ trẻ này muốn tiếp tục di chuyển, bởi vì một mục tiêu đang chuyển động thì khó bị bắt hơn.

Thế hệ Z độc lập như cha mẹ của họ và coi trọng tính cá nhân của Nhân Cách 1 của bán cầu não trái, đến mức họ không có hứng thú với việc gò ép mình vào khuôn khổ của cơ cấu xã hội. Kết quả là, nhiều người thuộc thế hệ Z đang chọn bỏ qua hoàn toàn việc học đại học. Thế hệ này có một lượng thông tin khổng lồ trong tầm tay, và họ cùng tồn tại với công nghệ như những người có Nhân Cách 1 mạnh mẽ và sống theo các giá trị của Nhân Cách 3. Nếu họ cần thứ gì đó, họ đặt hàng qua Amazon và được giao hàng gần như ngay lập tức, bất kể họ ở đâu. Nhân Cách 3 yêu thích sự hài lòng tức thì mà công nghệ mang lại.

Thế hệ Z là những lập trình viên máy tính bẩm sinh. Nhiều người trong số họ đang kiếm được những khoản tiền lớn với rất ít chi phí đầu vào vì các công ty công nghệ lớn hiện đang tuyển dụng kỹ năng của họ trực tiếp qua Internet. Trên thực tế, thế hệ Z đang được săn đón đến mức trong thế giới công nghệ mà các công ty lớn bao gồm Google và Amazon đã đi đến mức cực đoan là không còn yêu cầu nhân viên của họ phải có bằng cử nhân đại học (B.A. hoặc B.S.).

Thế hệ Z quan tâm đến những công việc được trả lương cao, và bạn sẽ thấy họ lái những chiếc xe hơi rất đẹp và mặc những bộ thời trang có logo mới nhất. Đối với thế hệ Z, giá trị bản thân của Nhân Cách 1 được phản ánh qua những gì họ sở hữu, nhưng điều quan trọng đối với họ là có thể nhanh chóng di chuyển, trong trường hợp Nhân Cách 2 cảm thấy bị đe dọa và Nhân Cách 3 thấy cần phải chạy trốn đến một địa điểm khác. Đây là những đặc điểm rất khác so với những người thuộc thế hệ Thiên niên kỷ điển hình, những người có xu hướng mua quần áo tại các cửa hàng đồ cũ và có xu hướng quyên góp từ thiện hơn là tiêu tiền vào một món đồ sở hữu.

Mặc dù thế hệ Thiên niên kỷ phát triển mạnh trên mạng xã hội, thế hệ Z sống và hít thở mạng xã hội. Vì mối quan hệ chính của họ là với điện thoại, iPad hoặc máy tính, nên việc luôn cập nhật các xu hướng văn hóa, những gì đang hot và những gì đang diễn ra là bản năng thứ hai của họ. Với bán cầu não phải mạnh mẽ, thế hệ này khoan dung hơn nhiều với các nền văn hóa, khuynh hướng tình dục, chủng tộc và tôn giáo khác nhau, bất chấp những lời lẽ thù hận không ngừng mà họ nghe được từ những người lớn tuổi. Với tư cách là một nhóm, những đứa trẻ này cảm thấy thoải mái khi dành thời gian làm những gì chúng thích hơn là làm những gì chúng nên làm. Chúng là những nghệ nhân, và lòng tự hào của chúng dựa trên những gì chúng tự tạo ra. Nhân Cách 4 của thế hệ Z muốn trồng một khu vườn xinh đẹp với thực phẩm lành mạnh mà họ có thể ăn. Họ quan tâm đến việc có không khí và nước sạch, và muốn bảo vệ hành tinh của chúng ta.

CHÚNG TA ĐANG Ở ĐÂU

Với tư cách là một xã hội, chúng ta đã đạt đến một bước ngoặt trong sự hòa quyện giữa nhân loại và công nghệ. Ý tôi là, mặc dù một bộ não được tạo thành từ hàng tỷ tế bào giao tiếp với nhau, sản phẩm phụ kỳ diệu của chúng là sự biểu hiện của ý thức con người cá nhân của chúng ta. Tương tự, hàng tỷ bộ não của chúng ta giao tiếp với nhau và cùng nhau chúng ta biểu hiện ý thức tập thể của nhân loại. Thêm vào đó sự hiểu biết rằng Internet được tạo thành từ hàng tỷ máy tính được liên kết với nhau thông qua ý thức của bộ não con người chúng ta, và chúng ta có được trình độ công nghệ toàn cầu vượt xa những tưởng tượng ngông cuồng nhất.

Ban đầu, trong mối quan hệ giữa con người và máy tính, chính chúng ta là những người xây dựng và ảnh hưởng đến máy tính. Tuy nhiên, khi thế hệ Millennial và Gen Z xuất hiện, việc Internet theo dõi hoạt động của chúng ta trên mạng đã trở nên phổ biến: vị trí và lộ trình di chuyển, các lần mua thực phẩm và hàng hóa, sở thích tài chính và chính trị, thậm chí cả khuôn mặt và mối quan hệ bạn bè, gia đình. Ứng dụng trên điện thoại giám sát và thu thập dữ liệu về các chỉ số sinh học của chúng ta, đồng thời đưa ra lời khuyên về cách sống. Sự tích hợp cuối cùng giờ đây không chỉ nằm ở chỗ chúng ta cho công nghệ quyền ảnh hưởng tới suy nghĩ, cảm xúc và sinh lý, mà còn ở chỗ chúng ta đã và đang thực hành nhiều dạng cấy vi mạch công nghệ và thần kinh. Điều này vừa thú vị vừa khiến lo sợ cùng lúc.

Hệ sinh học hoạt động như một tập hợp các vòng phản hồi âm. Ví dụ, tôi cảm thấy cơn đói ở bụng, nên tôi ăn và cơn đói biến mất. Trong hệ này tôi có một nhu cầu, tôi hành động để đáp ứng nhu cầu đó, và khi nhu cầu được thỏa mãn tôi cảm thấy hài lòng và hệ thống trở về trạng thái nghỉ. Điều hay của một hệ dựa trên vòng phản hồi âm là nó có thể phát hiện và truyền đạt một nhu cầu, và khi nhu cầu được đáp ứng hệ có thể trở về cân bằng nội môi. Khi ở trạng thái cân bằng, hệ sinh học có thể nghỉ ngơi và nạp lại năng lượng. Sự sống phát triển khỏe mạnh nhờ những vòng phản hồi âm này vì chúng dùng ít năng lượng để phát ra tín hiệu cảnh báo, và khi cảnh báo đã được xử lý, hệ tắt tín hiệu và quay về tiết kiệm năng lượng.

Mặt khác, công nghệ là một hệ thống phản hồi dương không bao giờ tạm dừng hoặc dừng lại. Càng chạy — bạn càng chơi game hoặc lướt web — càng có nhiều cám dỗ được đặt vào hệ thống để tăng số lượt nhấp chuột, thời gian và sự chú ý của bạn. Công nghệ hoạt động 24/7, tăng tốc và làm hao mòn các mạng lưới thần kinh của chúng ta. Máy tính và thế giới Internet chạy cho đến khi chúng hỏng và cần được sửa chữa hoặc thay thế, và sau đó hệ thống khởi động lại và tiếp tục từ nơi nó đã dừng lại. Máy tính thúc đẩy chúng ta làm việc hăng say hơn, chơi game chăm chỉ hơn và suy nghĩ nhanh hơn. Cả về mặt nhận thức và cảm xúc, công nghệ đang làm cạn kiệt các hệ thống sinh học của chúng ta và khiến chúng ta đi vào nghiện ngập.

Không thể phủ nhận công nghệ mang lại cho chúng ta sự tiện lợi, giúp chúng ta trở nên hiệu quả hơn, và khi được sử dụng một cách hợp lý, cho phép chúng ta tạo ra một sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống lành mạnh hơn. Tuy nhiên, tâm lý luôn tiến về phía trước mà công nghệ khuyến khích chúng ta tham gia có thể tàn phá sức khỏe não bộ của chúng ta, cũng như sức khỏe của các mối quan hệ của chúng ta với những người xung quanh. Bộ não của chúng ta về cơ bản là ổ cứng của cuộc đời chúng ta, và suốt cả ngày chúng ta đang tích lũy hàng tỷ "mảnh nhớ" công nghệ từ TV, điện thoại và mạng xã hội, lịch tập luyện theo công nghệ, và tất nhiên là máy tính của chúng ta tại nơi làm việc.

Ít nhất là hàng ngày, nếu không phải vài lần mỗi ngày, chúng ta nên “dọn thùng rác” và khởi động lại bộ não để có thể hoạt động ở trạng thái tốt nhất. Để khôi phục một hệ sinh học vận hành theo các vòng phản hồi âm, chúng ta phải thường xuyên nhấn nút tạm dừng và cho não cơ hội bắt kịp, hiệu chỉnh lại và tái tạo về trạng thái thiết lập lại hoàn toàn. Đây là một trong những lý do vì sao giấc ngủ quan trọng. Đây cũng là một lợi ích khi ta có ý thức chọn tham gia một “Họp Não” với Bốn Nhân Cách của mình vài lần trong ngày. Chúng ta có quyền chọn ta là ai và sẽ hành xử thế nào, và chúng ta có khả năng giúp chính mình, dù đang cần thiết hay chỉ muốn một khoảnh khắc tươi mới của lòng biết ơn.

Bất kể khác biệt giữa các thế hệ, trong buổi nói chuyện TED đó tôi đã nói: “Chúng ta là những sinh thể năng lượng, kết nối với nhau qua ý thức của bán cầu phải như một gia đình nhân loại. Ngay ở đây, ngay lúc này, chúng ta là anh em chị em trên hành tinh này, đến để làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Và trong khoảnh khắc này chúng ta hoàn hảo, chúng ta trọn vẹn, và chúng ta xinh đẹp.”


3 Thomas D. Snyder, ed., 120 Years of American Education: A Statistical Portrait (Washington, DC: National Center for Education Statistics, U.S. Department of Education, 1993), 7–8.