Phẩm Năm Pháp
AN 5.21 Không Kính Trọng (1) Paṭhamaagāravasutta
"Này các Tỳ kheo (mendicant / vị khất sĩ), một Tỳ kheo không kính trọng, không nể vì, có lối sống không hòa hợp thì không thể nào hoàn thành được pháp bổ túc (supplementary regulations / các quy định phụ trợ) đối với các vị đồng phạm hạnh (spiritual companions / bạn tu). Không hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy không thể hoàn thành được học pháp (practice of a trainee / pháp của bậc hữu học). Không hoàn thành được học pháp, vị ấy không thể hoàn thành được giới (ethics / đạo đức). Không hoàn thành được giới, vị ấy không thể hoàn thành được chánh kiến (right view / thấy biết đúng đắn). Không hoàn thành được chánh kiến, vị ấy không thể hoàn thành được chánh định (right immersion / sự tập trung đúng đắn).
Nhưng một Tỳ kheo có kính trọng, có nể vì, có lối sống hòa hợp thì hoàn toàn có thể hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy có thể hoàn thành được học pháp. Hoàn thành được học pháp, vị ấy có thể hoàn thành được giới. Hoàn thành được giới, vị ấy có thể hoàn thành được chánh kiến. Hoàn thành được chánh kiến, vị ấy có thể hoàn thành được chánh định."
AN 5.22 Không Kính Trọng (2) Dutiyaagāravasutta
"Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo không kính trọng, không nể vì, có lối sống không hòa hợp thì không thể nào hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Không hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy không thể hoàn thành được học pháp. Không hoàn thành được học pháp, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ giới uẩn (entire spectrum of ethics / toàn bộ giới). Không hoàn thành được toàn bộ giới uẩn, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ định uẩn (entire spectrum of immersion / toàn bộ định). Không hoàn thành được toàn bộ định uẩn, vị ấy không thể hoàn thành được toàn bộ tuệ uẩn (entire spectrum of wisdom / toàn bộ trí tuệ).
Nhưng một Tỳ kheo có kính trọng, có nể vì, có lối sống hòa hợp thì hoàn toàn có thể hoàn thành được pháp bổ túc đối với các vị đồng phạm hạnh. Hoàn thành được pháp bổ túc, vị ấy có thể hoàn thành được học pháp. Hoàn thành được học pháp, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ giới uẩn. Hoàn thành được toàn bộ giới uẩn, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ định uẩn. Hoàn thành được toàn bộ định uẩn, vị ấy có thể hoàn thành được toàn bộ tuệ uẩn."
AN 5.23 Các uế nhiễm Upakkilesasutta
"Này các Tỳ kheo, có năm uế nhiễm (corruptions / sự hư hỏng) này của vàng nguyên chất. Khi vàng nguyên chất bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo (pliable / dễ uốn), không dễ chế tác (workable / dễ làm), không sáng chói (radiant / chiếu sáng), mà trở nên giòn (brittle / dễ gãy) và không hoàn toàn sẵn sàng để chế tác (ready for working / sẵn sàng để làm). Năm thứ đó là gì? Sắt, đồng, thiếc, chì và bạc. Khi vàng nguyên chất bị năm uế nhiễm này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói, mà trở nên giòn và không hoàn toàn sẵn sàng để chế tác.
Nhưng khi vàng nguyên chất không còn năm uế nhiễm này, nó trở nên mềm dẻo, dễ chế tác, sáng chói, không giòn, và sẵn sàng để chế tác. Khi đó, người thợ kim hoàn có thể chế tác thành công bất kỳ loại trang sức nào họ muốn, dù là nhẫn, bông tai, vòng cổ hay vòng hoa bằng vàng.
Cũng vậy, có năm uế nhiễm này của tâm (mind / tâm trí). Khi tâm bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói. Nó trở nên giòn, và không thể nhập định (immersed in samādhi / đi vào sự tập trung) đúng đắn để đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy). Năm thứ đó là gì? Dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc), tức giận (ill will / sự tức giận), uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự lờ đờ và buồn ngủ), bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / sự không yên và ăn năn), và nghi (doubt / sự nghi ngờ). Đây là năm uế nhiễm của tâm. Khi tâm bị những thứ này làm ô nhiễm, nó sẽ không mềm dẻo, không dễ chế tác, không sáng chói. Nó trở nên giòn, và không thể nhập định đúng đắn để đoạn trừ các lậu hoặc.
Nhưng khi tâm không còn năm uế nhiễm này, nó trở nên mềm dẻo, dễ chế tác, và sáng chói. Nó mềm dẻo có thể dễ dàng nhập định để đoạn trừ các lậu hoặc. Vị ấy trở nên có khả năng chứng ngộ (realizing/nhìn thấy, ý thức rõ ràng) bất cứ điều gì có thể chứng ngộ bằng thắng trí (insight / trí tuệ thấy biết đặc biệt, quan sát bằng não bộ) mà vị ấy hướng đến, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông (psychic power / năng lực siêu nhiên)---từ một thân hiện thành nhiều thân, từ nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua tường, thành lũy, núi non không bị ngăn ngại như đi trong hư không; độn thổ trồi lên như ở trong nước; đi trên nước như trên đất liền; ngồi kiết già bay giữa hư không như chim; dùng tay chạm và vuốt mặt trời mặt trăng, những vật đầy quyền năng và uy lực như vậy; điều khiển thân mình cho đến tận phạm thiên giới (realm of divinity / cõi trời Phạm thiên).' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Với thiên nhĩ (clairaudience / tai nghe được xa) thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Mong rằng ta có thể hiểu tâm có tham (greed / lòng tham) là "tâm có tham", và tâm không tham là "tâm không tham"; tâm có tức giận (hate / lòng căm ghét) là "tâm có tức giận", và tâm không tức giận là "tâm không tức giận"; tâm có si (delusion / sự mê lầm) là "tâm có si", và tâm không si là "tâm không si"; tâm co rút (constricted mind / tâm bị thu lại) là "tâm co rút", và tâm tán loạn (scattered mind / tâm bị phân tán) là "tâm tán loạn"; tâm quảng đại (expansive mind / tâm rộng lớn) là "tâm quảng đại", và tâm không quảng đại (unexpansive mind / tâm không rộng lớn) là "tâm không quảng đại"; tâm chưa vô thượng (mind that is not supreme / tâm chưa đạt đến cao nhất) là "tâm chưa vô thượng", và tâm vô thượng (mind that is supreme / tâm đạt đến cao nhất) là "tâm vô thượng"; tâm nhập định là "tâm nhập định", và tâm không nhập định là "tâm không nhập định"; tâm giải thoát (freed mind / tâm được tự do) là "tâm giải thoát", và tâm chưa giải thoát (unfreed mind / tâm chưa được tự do) là "tâm chưa giải thoát".' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều tiền kiếp (past lives / các đời sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn lần tái sinh; nhiều kiếp (eons / thời gian rất dài) thế giới thành, nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành và hoại. Mong rằng ta nhớ được: "Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta được tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời ở nơi đó, ta được tái sinh ở đây." Mong rằng ta nhớ lại nhiều tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Với thiên nhãn (clairvoyance / mắt thấy được xa) thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi và tái sinh---hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi đau khổ---và hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp (deeds / hành động có chủ ý) của họ: "Những chúng sinh thân thương này đã làm điều xấu qua thân, khẩu, ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh (noble ones / những vị đã giác ngộ); họ có tà kiến (wrong view / thấy biết sai lầm); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi dữ (place of loss / nơi khổ đau), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), đọa xứ (underworld / nơi sa đọa), địa ngục (hell / nơi khổ cùng cực). Tuy nhiên, những chúng sinh thân thương này đã làm điều tốt qua thân, khẩu, ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào thiện xứ (good place / nơi tốt lành), thiên giới (heavenly realm / cõi trời)." Và như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh chết đi và tái sinh---hèn hạ và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, ở nơi tốt lành hay nơi đau khổ. Và mong rằng ta hiểu được chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) vô lậu (undefiled / không còn ô nhiễm) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay."
AN 5.24 Phá Giới Dussīlasutta
"Này các Tỳ kheo, một người phá giới (unethical / không giữ giới), thiếu giới hạnh, đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu (vital condition / yếu tố quan trọng) cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến (true knowledge and vision / thấy biết đúng như thật). Khi không có như thật tri kiến, người thiếu như thật tri kiến đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán (disillusionment / sự chán ngán thế gian) và ly tham (dispassion / sự lìa bỏ tham ái). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / thấy biết về sự giải thoát).
Giống như một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.
Cũng vậy, một người phá giới, thiếu giới hạnh, đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi không có như thật tri kiến, người thiếu như thật tri kiến đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã hủy hoại một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.
Một người trì giới (ethical / giữ gìn giới luật), đã hoàn thành giới hạnh, đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thành chánh định đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi có như thật tri kiến, người đã hoàn thành như thật tri kiến đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến.
Giống như một cái cây có đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ cây, giác cây và lõi cây của nó đều sẽ phát triển đầy đủ.
Cũng vậy, một người trì giới, đã hoàn thành giới hạnh, đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thành chánh định đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho như thật tri kiến. Khi có như thật tri kiến, người đã hoàn thành như thật tri kiến đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thành sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thành một điều kiện thiết yếu cho giải thoát tri kiến."
AN 5.25 Được Hỗ Trợ Anuggahitasutta
"Này các Tỳ kheo, khi chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố, nó sẽ có tâm giải thoát và tuệ giải thoát làm quả và lợi ích.
Năm yếu tố đó là gì? Đó là khi chánh kiến được hỗ trợ bởi giới, đa văn (learning / nghe nhiều học rộng), thảo luận, chỉ (serenity / sự tĩnh lặng của tâm), và quán (discernment / sự quán chiếu, thấy rõ). Khi chánh kiến được hỗ trợ bởi năm yếu tố này, nó sẽ có tâm giải thoát và tuệ giải thoát làm quả và lợi ích."
AN 5.26 Các Cơ Hội Giải Thoát Vimuttāyatanasutta
"Này các Tỳ kheo, có năm cơ hội giải thoát (opportunities for freedom / dịp để giải thoát) này. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần (diligent / siêng năng), nhiệt tâm (keen / hăng hái), và quyết tâm (resolute / ý chí vững chắc) vào những lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách (supreme sanctuary from the yoke / nơi an ổn tuyệt đối khỏi sự trói buộc). Năm cơ hội đó là gì?
Thứ nhất, Bậc Đạo Sư (Teacher / vị thầy dạy đạo) hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp (Dhamma / lời dạy của Đức Phật) cho một Tỳ kheo. Bất kể Bậc Đạo Sư hay vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp cho Tỳ kheo đó theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa (inspired by the meaning / vui mừng về ý nghĩa) và hân hoan về pháp (inspired by the teaching / vui mừng về lời dạy) trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích (joy / vui thích thích) khởi lên. Khi vui thích, vui thích (rapture /hỉ/ sự vui mừng phấn khích) khởi lên. Khi tâm tràn đầy hoan hỉ, thân trở nên khinh an (tranquil / nhẹ nhàng, an ổn). Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc (bliss / sự sung sướng, an lạc). Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ nhất. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần, nhiệt tâm, và quyết tâm vào lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách.
Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính giảng Pháp cho Tỳ kheo. Mà chính Tỳ kheo đó giảng Pháp chi tiết cho người khác như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó giảng Pháp chi tiết cho người khác như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ hai. ...
Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay ... Tỳ kheo giảng Pháp. Mà Tỳ kheo đó đọc tụng lại Pháp chi tiết như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó đọc tụng lại Pháp chi tiết như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ ba. ...
Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay ... Tỳ kheo giảng Pháp ... cũng không phải Tỳ kheo đọc tụng lại Pháp. Mà Tỳ kheo đó suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, xem xét nó bằng tâm trí như vị ấy đã học và ghi nhớ. Bất kể Tỳ kheo đó suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, xem xét nó bằng tâm trí như vị ấy đã học và ghi nhớ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ tư. ...
Hơn nữa, có thể không phải Bậc Đạo Sư hay ... Tỳ kheo giảng Pháp ... cũng không phải Tỳ kheo đọc tụng lại Pháp ... hay suy ngẫm về nó. Mà một định tướng (meditation subject as a basis of immersion / đề mục thiền định làm nền tảng cho sự tập trung) được nắm bắt đúng đắn, chú tâm vào, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết sáng suốt). Bất kể định tướng của một Tỳ kheo được nắm bắt đúng đắn, chú tâm vào, ghi nhớ trong tâm, và thấu hiểu bằng trí tuệ theo cách nào, vị ấy luôn cảm thấy hân hoan về nghĩa và hân hoan về pháp trong Pháp đó. Cảm thấy hân hoan, vui thích khởi lên. Khi vui thích, hân hoan khởi lên. Khi tâm tràn đầy hân hoan, thân trở nên khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm thấy hạnh phúc. Và khi hạnh phúc, tâm trở nên nhập định. Đây là cơ hội giải thoát thứ năm. ...
Đây là năm cơ hội giải thoát. Nếu một Tỳ kheo duy trì sự tinh cần, nhiệt tâm, và quyết tâm vào những lúc này, tâm của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn trừ, và vị ấy đạt đến vô thượng an ổn khỏi các ách."
AN 5.27 Định Samādhisutta
"Này các Tỳ kheo, hãy phát triển vô lượng định (limitless immersion / định không giới hạn), tỉnh giác (alert / nhận biết rõ ràng) và tỉnh thức (mindful / nhớ nghĩ đúng đắn). Khi các ngươi phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức, năm loại trí tuệ sẽ tự thân khởi lên nơi các ngươi. Năm loại đó là gì?
'Định này hiện tại mang lại hạnh phúc, và trong tương lai cũng đưa đến kết quả hạnh phúc.' ...
'Định này là thánh thiện (noble / cao thượng) và phi vật chất (not of the flesh / không thuộc về vật chất).' ...
'Định này không được kẻ ác (sinners / người làm điều xấu) tu tập.' ...
'Định này là tịch tịnh (peaceful / yên lặng), thù thắng (sublime / cao đẹp, vượt trội), an tịnh (tranquil / yên ổn) và nhất tâm (unified / tâm hợp nhất), không phải được duy trì bằng sự đè nén (forceful suppression / sự cố gắng ép buộc).' ...
'Ta nhập và xuất định này một cách tỉnh thức.' ...
Hãy phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức. Khi các ngươi phát triển vô lượng định, tỉnh giác và tỉnh thức, năm loại trí tuệ này sẽ tự thân khởi lên nơi các ngươi."
AN 5.28 Với Năm Chi Phần Pañcaṅgikasutta
"Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các ngươi cách phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần (noble right immersion with five factors / sự tập trung đúng đắn cao thượng có năm yếu tố). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Vâng, thưa Thế Tôn," các Tỳ kheo ấy đáp. Đức Phật dạy điều này:
"Và làm thế nào để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần?
Thứ nhất, một Tỳ kheo, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), ly bất thiện pháp (unskillful qualities / những điều xấu ác), nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Trạng thái có hỉ và lạc (sự vui thích và an vui) do ly dục sinh, cùng với tầm (placing the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng). Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do ly dục sinh. Giống như một người hầu tắm khéo léo hay đệ tử của họ đổ bột tắm vào một cái đĩa đồng, rưới nước từ từ. Họ nhào bột cho đến khi viên bột tắm ấy thấm đẫm và bão hòa với độ ẩm, lan tỏa cả bên trong lẫn bên ngoài; nhưng không có chút ẩm nào chảy ra ngoài. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do ly dục sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do ly dục sinh. Đây là cách thứ nhất để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.
Hơn nữa, khi tầm và tứ lắng dịu, một Tỳ kheo nhập và an trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai). Trạng thái này có hỉ và lạc do định sinh, với nội tĩnh nhất tâm (internal clarity / sự yên lặng và hợp nhất bên trong), không có tầm và tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do định sinh. Giống như một hồ nước sâu được nuôi dưỡng bởi nguồn nước suối. Không có lối nước vào nào ở phía đông, tây, bắc, hay nam, và trời cũng không ban mưa. Nhưng có dòng nước mát lạnh phun lên từ lòng hồ thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy khắp hồ. Không có phần nào của hồ không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỉ và lạc do định sinh. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi hỉ và lạc do định sinh. Đây là cách thứ hai để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.
Hơn nữa, với sự phai nhạt của hỉ, một Tỳ kheo nhập và an trú tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Vị ấy thiền với xả (equanimity / sự bình thản, không thiên vị, không vui buồn), tỉnh thức và tỉnh giác, tự thân cảm nhận hạnh phúc mà các bậc Thánh tuyên bố, 'Người thiền trong xả và tỉnh thức, thiền trong hạnh phúc.' Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc không hỉ. Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi lạc không hỉ. Giống như một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Một số cây mọc và lớn lên trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, phát triển mạnh dưới nước. Từ ngọn đến gốc, chúng được thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy nước mát lạnh. Không có phần nào của chúng không được thấm nhuần bởi nước mát lạnh. Cũng vậy, một Tỳ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không hỉ (sự an vui và không có sự vui thích). Không có phần nào của thân thể không được thấm nhuần bởi lạc thọ không hỉ ấy. Đây là cách thứ ba để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.
Hơn nữa, Tỳ kheo từ bỏ an vui và khổ đau (xả lạc xả khổ) và chấm dứt sự vui thích và nỗi buồn trước đó (diệt hỉ ưu đã cảm thọ trước), Tỳ kheo nhập và an trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Trạng thái này không có khổ đau hay hạnh phúc, với xả và tỉnh thức thanh tịnh (pure equanimity and mindfulness / sự bình tâm và tỉnh thức trong sạch). Vị ấy ngồi, làm tràn đầy thân mình với tâm thuần tịnh sáng suốt (pure bright mind / tâm trong sạch, sáng tỏ). Không có phần nào của thân thể không được tràn đầy bởi tâm thuần tịnh sáng suốt. Giống như một người ngồi quấn vải trắng từ đầu đến chân. Không có phần nào của thân thể không được phủ bởi vải trắng. Cũng vậy, vị ấy ngồi, làm tràn đầy thân mình với tâm thuần tịnh sáng suốt. Không có phần nào của thân thể không được tràn đầy bởi tâm thuần tịnh sáng suốt. Đây là cách thứ tư để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.
Lại nữa, đối tượng thiền làm cơ sở để quán chiếu (meditation that is a basis for reviewing) lại được vị Tỷ kheo nắm bắt đúng đắn, chú tâm đúng đắn, ghi nhớ đúng đắn và thấu hiểu bằng trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết sâu sắc). Ví như một người nhìn một người khác. Người đang đứng có thể nhìn người đang ngồi, hoặc người đang ngồi có thể nhìn người đang nằm. Cũng vậy, đối tượng thiền làm cơ sở để quán chiếu lại được vị Tỷ kheo nắm bắt đúng đắn, chú tâm đúng đắn, ghi nhớ đúng đắn và thấu hiểu bằng trí tuệ. Đây là cách thứ năm để phát triển chánh định thánh thiện gồm năm chi phần.
Khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Giả sử có một cái bình nước đặt trên giá, đầy đến miệng để con quạ có thể uống được. Nếu một người đàn ông mạnh mẽ nghiêng nó theo bất kỳ hướng nào, nước có chảy ra không?"
"Có, thưa Thế Tôn."
"Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Giả sử có một hồ sen hình vuông, có tường bao quanh trên mặt đất bằng phẳng, đầy đến miệng để con quạ có thể uống được. Nếu một người đàn ông mạnh mẽ phá vỡ bức tường ở bất kỳ phía nào, nước có chảy ra không?"
"Có, thưa Thế Tôn."
"Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Giả sử có một cỗ xe ngựa được thắng những con ngựa thuần chủng tại một ngã tư bằng phẳng, với cây roi thúc ngựa đã sẵn sàng. Một người huấn luyện ngựa khéo léo, một người đánh xe bậc thầy, có thể lên xe, tay phải cầm dây cương và tay trái cầm roi thúc ngựa. Ông ấy sẽ lái xe đi và về bất cứ nơi nào ông muốn, bất cứ khi nào ông muốn. Cũng vậy, khi chánh định thánh thiện gồm năm chi phần được phát triển và tu tập theo cách này, một Tỳ kheo hướng tâm đến việc chứng ngộ bằng thắng trí mỗi và mọi điều có thể chứng ngộ bằng thắng trí; và vị ấy có khả năng chứng ngộ những điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể vận dụng nhiều loại thần thông: từ một thân hiện thành nhiều thân ... điều khiển thân mình cho đến tận phạm thiên giới.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Với thiên nhĩ thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của loài người và chư thiên, dù gần hay xa.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể hiểu được tâm của các chúng sinh và cá nhân khác, thấu hiểu chúng bằng tâm của mình. Mong rằng ta có thể hiểu tâm có tham là "tâm có tham", và tâm không tham là "tâm không tham"; tâm có tức giận là "tâm có tức giận", và tâm không tức giận là "tâm không tức giận"; tâm có si là "tâm có si", và tâm không si là "tâm không si"; tâm co rút là "tâm co rút", và tâm tán loạn là "tâm tán loạn"; tâm quảng đại là "tâm quảng đại", và tâm không quảng đại là "tâm không quảng đại"; tâm chưa vô thượng là "tâm chưa vô thượng", và tâm vô thượng là "tâm vô thượng"; tâm nhập định là "tâm nhập định", và tâm không nhập định là "tâm không nhập định"; tâm giải thoát là "tâm giải thoát", và tâm chưa giải thoát là "tâm chưa giải thoát".' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều tiền kiếp, với các đặc điểm và chi tiết.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, mong rằng ta có thể thấy chúng sinh chết đi và tái sinh tùy theo nghiệp của họ.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay.
Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong rằng ta có thể chứng ngộ tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.' Vị ấy có khả năng chứng ngộ điều đó, vì mỗi điều và mọi điều đều nằm trong tầm tay."
AN 5.29 Kinh Hành Caṅkamasutta
"Này các Tỳ kheo, có năm lợi ích của việc kinh hành (walking meditation / đi thiền). Năm lợi ích đó là gì? Trở nên khỏe mạnh để đi đường xa, khỏe mạnh để siêng năng (striving / nỗ lực) thiền định, và ít bệnh tật. Những gì đã ăn, uống, nhai, nếm được tiêu hóa đúng cách. Và định có được trong khi kinh hành sẽ kéo dài. Đây là năm lợi ích của việc kinh hành."
AN 5.30 Với Ngài Nāgita Nāgitasutta
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo) đông đảo thì đến một ngôi làng của các Bà la môn xứ Kosala tên là Icchānaṅgala. Ngài trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Các Bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala nghe tin:
"Hình như sa môn (ascetic / người xuất gia) Gotama—một người thuộc dòng họ Sakya, xuất gia từ dòng họ Sakya—đã đến Icchānaṅgala. Ngài đang trú tại một khu rừng gần Icchānaṅgala. Ngài có tiếng tốt đồn xa như sau: 'Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời) đó là bậc A la hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, diệt hết phiền não), Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / bậc đi đến an lạc), Thế Gian Giải (knower of the world / bậc hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc cao nhất hướng dẫn người cần điều phục), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn.' Ngài đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này—với các vị trời, Ma vương (Māras / vua loài ma), và chư thiên (divinities / các vị trời), dân chúng này với các sa môn và Bà la môn (brahmins / giai cấp tu sĩ Ấn Độ cổ), trời và người—và Ngài tuyên bố điều đó cho những người khác. Ngài thuyết giảng một giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn từ hoàn hảo. Và Ngài tiết lộ một đời sống phạm hạnh (spiritual practice / đời sống tu tập thanh tịnh) hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành khi được gặp những bậc A la hán như vậy."
Rồi, khi đêm đã qua, họ mang theo nhiều thức ăn tươi sống và đã nấu chín đến khu rừng gần Icchānaṅgala, nơi họ đứng bên ngoài cổng làm ồn ào khủng khiếp.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita là thị giả (attendant / người hầu cận) của Đức Phật. Bấy giờ Đức Phật nói với Nāgita, "Nāgita, ai đang làm ồn ào khủng khiếp thế kia? Cứ như là những người đánh cá đang kéo lưới vậy!"
"Bạch Thế Tôn, đó là những Bà la môn và gia chủ ở Icchānaṅgala. Họ đã mang theo nhiều thức ăn tươi sống và đã nấu chín, và họ đang đứng bên ngoài cổng muốn đặc biệt cúng dường lên Đức Phật và Tăng đoàn Tỳ kheo."
"Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được hạnh phúc của sự xuất ly (pleasure of renunciation / hạnh phúc của sự từ bỏ), hạnh phúc của sự viễn ly (pleasure of seclusion / hạnh phúc của sự sống một mình), hạnh phúc của sự an tịnh (pleasure of peace / hạnh phúc của sự yên tĩnh), hạnh phúc của sự giác ngộ (pleasure of awakening / hạnh phúc của sự giác ngộ) bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng cái hạnh phúc bẩn thỉu, lười biếng của lợi dưỡng, cung kính, danh vọng (possessions, honor, and popularity / của cải, sự tôn trọng, tiếng tăm)."
"Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chấp thuận ngay bây giờ! Xin Thiện Thệ (Holy One / bậc đi đến an lạc) hãy chấp thuận! Bây giờ là lúc Đức Phật chấp thuận. Bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các Bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Giống như khi trời mưa lớn và nước chảy xuống chỗ trũng. Cũng vậy, bất cứ nơi nào Đức Phật đi đến bây giờ, các Bà la môn và gia chủ, và người dân thành thị và nông thôn cũng sẽ hướng về như vậy. Tại sao vậy? Bởi vì giới hạnh và trí tuệ của Đức Phật."
"Nāgita, mong rằng Ta không bao giờ trở nên nổi tiếng. Mong rằng danh tiếng đừng đến với Ta. Có những người không thể có được hạnh phúc của sự xuất ly, hạnh phúc của sự viễn ly, hạnh phúc của sự an tịnh, hạnh phúc của sự giác ngộ bất cứ khi nào họ muốn, không khó khăn hay trở ngại như Ta có thể. Hãy để họ tận hưởng cái hạnh phúc bẩn thỉu, lười biếng của lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.
Những gì ngươi ăn, uống, nhai, và nếm cuối cùng cũng thành phân và nước tiểu. Đây là kết quả của nó.
Khi những người thân yêu suy tàn và qua đời, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Đây là kết quả của nó.
Khi ngươi theo đuổi thiền quán về bất tịnh tướng (feature of ugliness / tướng không đẹp, không sạch), sự nhàm chán (revulsion / sự chán ghét) đối với tịnh tướng (feature of beauty / tướng đẹp, sạch) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó.
Khi ngươi thiền quán sát vô thường (impermanence / sự không bền vững, luôn thay đổi) trong sáu xứ xúc (six fields of contact / sáu nơi phát sinh sự tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sự nhàm chán đối với xúc (contact / sự tiếp xúc giữa căn, trần, thức) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó.
Khi ngươi thiền quán sát sinh diệt (rise and fall / sự sinh khởi và hoại diệt) trong năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), sự nhàm chán đối với thủ (grasping / sự chấp giữ) trở nên ổn định. Đây là kết quả của nó."